Search This Blog

Tuesday, October 16, 2018

BỘ "NHÌN LẠI SỬ VIỆT" CỦA TÁC-GIẢ LÊ MẠNH HÙNG RA ĐẾN TẬP 3

Tâm Việt

             
Gần đây, nhân dịp ra mắt cuốn Việt Nam thời lập quốc (Cali: Việt Nam ngày mai xb, 2011) của tác-giả Phạm Trần Anh, một cuốn sách trên 600 trang, tôi có dịp duyệt lại những bước khổng-lồ mà sử-học VN đã đi qua trong vòng hơn 100 năm qua.  Đành rằng trong một thời-gian ngắn ngủi ta không thể đi hết được vào trong chi-tiết những đóng góp rất đáng kể của các sử-gia (hiểu theo một nghĩa rất rộng, gồm rất nhiều ngành có thể giúp ta làm sáng tỏ kinh-nghiệm quá-khứ của dân-tộc ta) người Pháp, Mỹ, Anh, Nga, Úc, Nhật, thậm chí cả Đài-loan, Trung-hoa lục-địa, Đại-Hàn và các nước Bắc-Âu, bên cạnh các sử-gia VN trong một thế-kỷ vừa qua.  Song tôi cũng xin trích lại dưới đây mấy nhận xét tóm lược của tôi về những phát triển mới đó trong sử-học VN do nhiều nguồn mang lại:
        
    "Thứ nhất là nhu-cầu tìm hiểu về lịch-sử nước ta do người Pháp muốn biết để dễ bề cai trị thuộc-địa mới của họ.  Đó là động-cơ của những sử-gia đầu tiên của Pháp viết về VN như Eliacin Luro (1878), Charles Gosselin, Pierre Louis Philastre, Raymond Deloustal, hay Charles Maybon (1920) sau này.

          
  "Thứ hai là việc thiết-lập Trường Viễn Đông Bác Cổ (Ecole française d'Extrême-Orient) vào năm 1901, nơi đây đã là môi-trường tạo ra một số cổ-thụ về Á-đông và Việt-nam-học như Léonard Aurousseau, Paul Pelliot, Henri Maspero, Léopold Cadière, Georges Coedès, Maurice Durand, chưa kể những học-giả VN cũng phát sinh từ trường này như Nguyễn Văn Tố, Trần Văn Giáp, Nguyễn Văn Huyên, v.v.

            "Thứ ba là sự khai sinh ra ngành khảo-cổ-học với những học-giả như Henri Mansuy, Madeleine Colani, E. Patte, Saurin, Victor Goloubew, Olov Janse, Louis Malleret...  Sau năm 1954, miền Bắc đã có nhiều đóng góp vào ngành này với những khai quật trên khắp nước để đến được một sự phân kỳ khá vững chắc về các lớp văn-hoá tiếp nối nhau từ văn-hoá Hoà-bình (do người Pháp tìm ra) đến Sơn-vi, Bắc-sơn, rồi Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông-sơn (với các trống đồng nổi tiếng, do Olov Janse khai quật).

            "Thứ tư là việc đưa nhiều ngành khoa-học vào lịch-sử, nhất là trong những ngành như cổ-sinh-vật-học, cổ-nhân-chủng-học, chẳng hạn, để đo sọ (craniology và craniometry), rồi cách đo tuổi các hiện-vật bằng radiocarbon C14, và gần đây hơn cả là tìm cách phân chia các chủng-tộc qua DNA (deoxyribonucleic acid) và nhất là dự-án nghiên cứu chủng-tử của toàn-nhân-loại (the genome project).

            "Thứ năm là việc đưa xã-hội-học, dân-tộc-học, kinh-tế-học, địa-lý, địa-chất-học, tâm-lý-học, thậm chí cả bệnh-học, rồi lịch-sử văn-học, mỹ-thuật, tiền-tệ-học... vào việc nghiên cứu lịch-sử.  Nhất là các sử-gia Mác-xít đã cố gắng viết lịch-sử theo quan-điểm của Marx như là lịch-sử loài người đi qua những chặng như công-xã nguyên-thuỷ, xã-hội chiếm hữu nô-lệ dựa trên sản xuất nông-nghiệp, xã-hội phong kiến dựa trên chế-độ điền-chủ, rồi đến xã-hội tư-bản, để một ngày kia sẽ đến xã-hội cộng-sản trong đó 'không còn người bóc lột người' --một quan-niệm khá hoang đường nhưng cũng vẫn là động-cơ thúc đẩy việc nghiên cứu lịch-sử 'như là lịch-sử đấu tranh giai-cấp.'

            "Thứ sáu là việc quốc-tế-hoá, toàn-cầu-hoá việc nghiên cứu lịch-sử bắt đầu từ những sự so sánh giữa lịch-sử nước này với lịch-sử nước khác.  Nếu trước thế-kỷ XX lịch-sử VN chủ-yếu là do các sử-gia VN, dựa ít nhiều vào các sử-gia Trung-hoa viết về nước ta, rồi đến các sử-gia người Pháp thì ngày nay, có nhiều tác-phẩm sử VN rất giá trị do người Nhật, người Anh, người Úc, người Mỹ, người Nga, người các nước Bắc-Âu, thậm-chí cả người Đại-Hàn cũng cần được chúng ta chú ý.  Sử-học VN do người Mỹ đóng góp, chẳng hạn, là cả một chân trời mở rộng mà nếu ta không khéo sẽ bị họ vù vù vượt qua mặt lúc nào ta không hay.  Tỷ-dụ như những đóng góp của Wilhelm Solheim hay Stephen Oppenheimer vào cách đọc tiền-sử của nước ta.

            "Thứ bảy chính là việc xét lại sử của nước ta và dân-tộc ta do những bộ óc độc-lập của VN truy cứu.  Những bước đầu của việc làm này có thể nói là do một số sử-gia VN đi tiên-phong như Lê Quý Đôn, Ngô Thời Sỹ, Phan Huy Chú khởi-xướng, rồi sang thế-kỷ XX được thúc đẩy bởi một số học-giả tân-học ở nước ta.  Nhưng độc-đáo hàng đầu phải kể Lý Đông A trước tiên, xong đến Nguyễn Đăng Thục, và nhất là Linh-mục Kim Định, người đã hệ-thống-hoá cả một cách nhìn lại cổ-sử VN so với cổ-sử Trung-hoa.  Một số sử-gia ở miền Bắc cũng có những đóng góp nhất định, tỷ-dụ, vào việc nghiên cứu 'thời-đại Hùng Vương' dù như trong nghiên cứu của họ còn không ít những mâu thuẫn mà cho đến nay vẫn chưa được giải toả.

            "Cách nhìn lại lịch-sử của các học-giả miền Nam như L.M. Kim Định (hay Lê Mạnh Thát trong ngành Phật-học) ngày nay đã ảnh-hưởng sâu sắc vào một số tác-giả xuất thân từ miền Bắc CS như G.S. Trần Ngọc Thêm, thậm chí cả hai sử-gia Trần Quốc Vượng (như trong việc đánh giá lại chỗ đứng của nhà Nguyễn), Phan Huy Lê.  Hoặc những nghiên cứu về nhà Tây-sơn của Tạ Chí Đại Trường dần dần cũng chữa lại được một số nhận-định sai lệch về vấn-đề này.  Cũng như những cái nhìn mới mẻ của Bình Nguyên Lộc trong Nguồn gốc Mã-lai của dân-tộc VN (Sài-gòn: Bách Bộc, 1971) được tiếp nối ở ngoài này bằng một tác-phẩm vĩ-đại, không tiền khoáng hậu của B.S. Nguyễn Hy Vọng so sánh các tiếng Đông-Nam-Á với tiếng Việt mang tên Từ-điển đồng-nguyên tiếng Việt-Đông Nam Á trưng được ra trên 27 nghìn từ tiếng Việt mang gốc gác Đông-Nam-Á.

            "Ra ngoài này, các học-giả VN một đằng thì tiếp-tục những con đường đã được khai phá trước ở trong nước.  Mặt khác, chung đụng với những cái học mới của sử-học thế-giới, ta sẽ lấy làm lạ vô cùng nếu các học-giả người Việt ngoài này lại không chịu ảnh-hưởng của những khám-phá mới lạ về mọi phương-diện của các sử-gia Tây-phương.  Tỷ-dụ như những nghiên cứu của Peter Bellwood, người Úc, về "Tiền-sử Đông-Nam-Á và Đại-dương-vực" (trong cuốn Man's Conquest of the Pacific: The Prehistory of Southeast Asia and Oceania, New York: OUP, 1979), trong đó ông đem vào cả đại-dương-học, mực nước biển lên xuống, ngôn-ngữ-học lịch-sử và so sánh, v.v.  Một trường-hợp điển-hình là báo Tư tưởng của nhóm ông Cung Đình Thanh ở Úc mà cuối đời, ông đúc kết được thành cuốn sách đồ sộ Tìm về nguồn gốc Văn minh Việt Nam dưới ánh sáng mới của khoa học (Sydney: Nhà xb Tư Tưởng, 2003)."

Nhu-cầu tổng-hợp

            Chẳng trách không ít người thấy sự thôi thúc của việc viết lại lịch-sử nước nhà để thay thế cuốn sử được coi như là "gối đầu giường" của không biết bao nhiêu thế-hệ cha anh chúng ta, cuốn Việt Nam sử-lược của cụ Trần Trọng Kim, viết ra vào năm 1919 (xuất bản lần đầu năm 1921).  Ở trong Nam, nỗ lực đồ-sộ nhất là bộ Việt-sử tân-biên của Phạm Văn Sơn (7 cuốn, gần 3000 trang, in ra ở Sài-gòn, 1955-1972) và ra ngoài này thì là bộ Việt-sử khảo-luận của cụ Hoàng Cơ Thuỵ ở Pháp (6 cuốn khổ lớn, gần 4000 trang, do nhà xb Nam Á in ra).  Gần đây, đáng kể nhất là bộViệt-sử đại-cương của sử-gia Trần Gia Phụng ở Canada (Toronto: Nhà xb Non nước, 2004- ), đã ra 5 tập và khi hoàn-tất chắc cũng phải trên 3000 trang.  Vậy thì tại sao ta lại cần một bộ thông-sử nữa?

            Câu hỏi này đã được phần nào trả lời trong "Lời nhà xuất bản" in ở đầu Tập I bộ Nhìn Lại Sử Việt ("Từ tiền sử đến tự chủ") của tác-giả Lê Mạnh Hùng do Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ in ra vào năm 2007:
            "Đã hơn 80 năm trôi qua kể từ ngày Lệ Thần Trần Trọng Kim, lúc bấy giờ còn là một nhà giáo trẻ, hoàn-tất và tung ra cuốn Việt Nam Sử Lược của ông.  Trong một thời-gian dài, cuốn này được xem như là một cuốn thông-sử đáng tin cậy nhất, được in đi in lại rất nhiều lần, nhất là ở miền Nam rồi ở hải-ngoại và giờ đây còn được in lại và bầy bán khá rộng rãi ngay ở trong nước.

            Những ưu-điểm của cuốn Việt Nam Sử Lược đã rõ: viết trong khi đất nuóc ta còn thuộc một ngoại-bang, tác-giả vẫn không ngần ngại đem tên chính-thức của quốc gia chúng ta dùng làm tên chính-thức cho cuốn sách.  Viết dưới thời Khải Định, một ông vua nhà Nguyễn, tác-giả vẫn không ngần ngại xem nhà Tây-sơn là một triều-đại chính-thống của Việt Nam mặc dầu dưới con mắt sử-gia nhà Nguyễn nhà Tây-sơn bị coi là một 'nguỵ-quyền.'  Viết trong buổi giao-thời giữa chữ Nho và chữ Quốc-ngữ, tiếng Việt của cuốn sách thật trong sáng, lại còn chú thêm chữ Hán bên các tên đất, tên người, tên sách được nêu ra trong tác-phẩm (đây là một đặc-điểm có thể xem như là một ưu-điểm so với nhiều sách sau này).  Tóm lại, Trần Trọng Kim đã tỏ ra can trường, cẩn trọng, không thiên-vị, đáng làm gương sáng cho những ai muốn đi vào con đường đầy hiểm hóc này.

            "Từ đó (1920), sử-học VN đã có những bước đi bảy dặm, ở cả hai miền (Nam-Bắc thời-gian 1954-75 và sau 75 ở trong và ngoài nước).  Nếu các sử-gia ở miền Bắc chịu ảnh-hưởng sâu đặm của 'ánh sáng Mác-Lê' giúp cho họ viết nên được những tác-phẩm đáng kể như Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam và đi mạnh vào trong ngành khảo cổ, ngành sử ở miền Nam lại khai thác được những hướng đi mới dưới sự hướng-dẫn của một số các thầy huấn luyện chính-quy ở Tây-phương, chủ-yếu là ở Pháp, về.  Nhờ vậy, sử-học miền Nam đi tiên-phong vào những lãnh-vực như liên-hệ Việt Nam - Đông-Nam-Á (mà ở trong nước mới chỉ phát triển từ thời-kỳ 'mở cửa' ra với thế-giới mà thôi).  Cũng do không bị một ý-thức-hệ đặt vòng kim-cô lên đầu nên ngay trong một lãnh-vực tưởng như độc-chiếm của miền Bắc là nhà Tây-sơn, các sử-gia miền Nam cũng đã tỏ ra khách-quan, cân nhắc hơn để sau này ảnh-hưởng ngược lại vào sử-học Mác-xít.  Tưởng cũng không nên quên là vào thời-gian này, ông Hoàng Xuân Hãn ở Pháp cộng-tác với Tập san Sử Địa ở Sài Gòn và chính nhóm Sử Địa này đưa ra được những nghiên cứu sâu sắc đầu tiên về Hoàng Sa-Trường Sa, để làm nền tảng cho đến bây giờ khi VN phải tranh chấp chủ-quyền trên hai quần-đảo này với Trung-quốc và các nước Đông-Nam-Á khác.

            "Song nếu sử-học VN đã có những bước tiến lớn trong nửa thế-kỷ qua, nó không khỏi bị giới-hạn bởi những yếu-tố chính-trị chi-phối trong cả hai miền, như trong sự phân chia Quốc-Cộng hay trong trường-hợp miền Bắc, bởi những cảm-tình nhất thời, khi thân Nga, khi thân Tầu, khi lại thân Mỹ, thân Tây, thân Nhật.  Có lẽ cũng vì thế mà ở Hà-nội, chính-quyền đã bảo trợ, khuyến khích hết dự-án lịch-sử này đến dự-án khác.  Cứ vài năm lại thấy xuất hiện một bộ thông-sử, đôi khi khá đồ-sộ (nhiều tập), nhưng hình như ít khi hoàn-tất.  Bởi lịch-sử là lịch-sử, nó không thể xoay chiều như chong chóng được.  (Cứ xem như quân-sử là một điều miền Bắc rất hãnh-diện nhưng cho đến nay, Hà-nội vẫn chưa có một bộ tổng-kết chính-thức về chiến-tranh 'chống Mỹ cứu nước' của họ, nói gì đến vai trò của quân dân miền Nam nhằm chống trả sự 'xâm-lăng từ miền Bắc.')

            "Thành thử cho đến nay, ở cả hai miền (giờ đây là trong và ngoài nước) vẫn chưa có được một bộ thông-sử tương-đương với cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, nghĩa là một cuốn sử mà chúng ta có thể chấp nhận được một cách phổ-biến và rộng rãi.  Song cuốn của Trần Trọng Kim thì không thể thoả mãn được cái khao khát đọc sử của hàng triệu người trong chúng ta, phần vì sang đến thời Pháp-thuộc cụ đã không thể hoàn-toàn khách-quan và hơn nữa, vì sách của cụ thì không có phần cận-hiện-đại.

            "Nỗ lực của tác-giả Lê Mạnh Hùng (Tiến-sĩ Sử-học, VĐH Luân-đôn) nhằm viết nên một bộ thông-sử VN nhiều tập tổng-hợp tất cả những tìm tòi của sử-học VN trong gần 100 năm qua, do đó phải xem là một việc làm cần được ủng-hộ và khuyến khích."

Một quốc gia thống nhất trên một lãnh-thổ thuần nhất

            Tập II của bộ Nhìn Lại Sử Việt mang tên "Tự chủ I: Từ Ngô Quyền đến thuộc Minh" duyệt lại lịch-sử nước ta trên gần năm thế-kỷ, từ sau chiến-thắng Bạch-đằng (939) của Ngô Quyền đến hết nhà Hồ (1407).  Thời-gian này là một thời-gian Việt Nam có được chính-quyền trung-ương mạnh vì lãnh-thổ tương-đối thuần nhất, tập trung vào châu-thổ phì nhiêu của sông Hồng được bao bọc bởi rừng núi trùng trùng điệp điệp.  Đây cũng là giai-đoạn của "một kỷ-nguyên rực rỡ trong lịch-sử dân-tộc, bởi nó gộp ở trong đó hai triều-đại lớn của Việt Nam, nhà Lý (1010-1225) và nhà Trần (1225-1400)...  Dù vào khúc cuối nhà Hồ có thất bại trước sự xâm-lược của nhà Minh bên Trung-quốc, thời-gian gần 500 năm độc-lập đã hun đúc cho dân ta một tinh-thần đủ mạnh để có thể sau này đánh đuổi được quân Minh về nước dưới sự lãnh-đạo bền gan và kiên trì của Lê Lợi và Nguyễn Trãi, mở đầu cho giai-đoạn 'Tự chủ II.'

            "Vẫn lối viết trong sáng, nói có sách mách có chứng, cuốn sách không chỉ lôi cuốn ta về những trận đánh lưu danh thiên cổ mà còn trình bầy được cặn kẽ những nỗ lực xây dựng các định-chế quốc-gia của các bậc minh-vương lỗi lạc như Lý Công Uẩn, người định đô ở Thăng Long (Hà Nội sau này), hay Trần Nhân-tông, vị vua biết dựa vào dân (Hội-nghị Diên Hồng) để thống nhất ý-chí chống ngoại-xâm.  Bởi vua là những bậc minh-quân nên phò vua ta mới có những đại-thần cỡ Lý Thường Kiệt hay, sang nhà Trần, những Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Hưng Đạo Đại-vương.

             "Vai trò tích-cực của Phật-giáo trong suốt giai-đoạn này là một điều không thể phủ-nhận.  Chính mấy cao-tăng như Ngô Chân Lưu (Khuông Việt Đại Sư), người đã giúp cả hai triều Đinh và Tiền-Lê, Pháp Thuận người giúp vua Lê Đại Hành, Vạn Hạnh bên cạnh Lý Thái-tổ, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Thông, Thông Biện, Không Lộ, Giác Hải là những bậc đại-trí-thức của thời-đại --xem như Thông Biện trả lời Ỷ Lan Phu-nhân-- để cho ta thấy là sự hiểu biết không những về Phật-pháp mà còn về nhiều vấn-đề quốc-sự đã nâng giới lãnh-đạo của ta lên ngang hàng các trí-thức Trung-nguyên.  Dù như sang thế-kỷ thứ 14, các nho-gia có quay ra chỉ-trích những quá-lạm của đạo Phật, song sự-kiện vẫn là: Mật-tông, Thiền-học (Vô Ngôn Thông, Quán Bích), Tịnh-độ-tông, đều phát triển rất mạnh trong thời-gian này, tạo cho dân-tộc ta những căn-bản tâm-linh và đạo đức còn vang vọng cho tới ngày hôm nay.  Thật vậy, chỉ có trong giai-đoạn này là ta mới có một phái riêng biệt của Việt Nam cho đến thế-kỷ thứ 20, đó là phái Trúc Lâm Yên tử dưới đời nhà Trần.

            "Dù như nho-học đã được định-chế-hoá từ đời Lý Thánh-tông với sự thiết-lập Văn-miếu (1070) và việc cho mở khoá thi minh kinh bác-học dưới thời Lý Nhân-tông (1075) song phải sang đến đời Trần, các nho-gia mới dần dần chiếm được ưu-thế; tuy-nhiên, tinh-thần rộng mở của đạo Phật đã cho phép dân-tộc ta tìm ra một giải-pháp hài-hoà, không tranh-chấp, trong quan-niệm 'tam giáo đồng-nguyên' ('ba đạo--Phật, Lão, Khổng--đều cùng một gốc mà ra').

            "Có lẽ chính vì thế mà về nhiều mặt, ta có thể nói đến một nền văn-minh Phật-giáo trong suốt thời-kỳ tự-chủ I này.  Văn-học Lý-Trần thấm nhuần Phật-giáo đã đành, ta còn thấy các mô-típ Phật-giáo ngập tràn trong âm-nhạc, điêu khắc, kiến-trúc (điển-hình là chùa Một Cột), thậm chí còn cả ở trong các đồ nhật-dụng như đồ thờ, đồ gốm v.v.  Có thể nói tính-cách Phật-giáo của thời-đại này đã hun đúc trong quần-chúng một ý-thức dân-tộc tách biệt với phương Bắc, dẫn đến những biểu-hiện của một cá-tính, một nhân-cách không thể nhầm lẫn được: ta là ta còn người phương Bắc là người phương Bắc.  Có lẽ vì thế mà ông cha ta đã đẻ ra chữ Nôm để tách biệt tiếng nước ta khỏi tiếng (và chữ) của người Hán, mà Nguyễn Thuyên là người đầu tiên dùng vào việc làm thơ bác-học (1282), Lê Văn Hưu viết bộ sử đầu tiên của nước nhà (1272), và các sĩ-phu Đại Việt bắt đầu ghi lại những truyền-thuyết của nước ta (Lĩnh Nam chích quái, Việt Điện u linh tập).

            "Có ý-thức dân-tộc tách-biệt thì ta mới thấy cần bảo vệ chỗ đứng của riêng ta ('Nam-quốc sơn hà Nam-đế cư...'), thì ta mới có được những tầm nhìn như của Lý Thường Kiệt 'phá Tống, bình Chiêm' để bảo vệ bờ cõi phía Bắc và mở rộng cương-vực về phía Nam, theo hướng sinh tồn của dân-tộc.  Phải có ý-thức dân-tộc thì cha ông ta mới dám chết cho lý-tưởng 'quốc-gia,' lý-tưởng 'non sông' cần bền vững mà không bị dụ dỗ, mê-hoặc bởi lý-tưởng 'quốc-tế' của quân Nguyên-Mông, muốn cho tất cả thiên-hạ thành một nhà --hiển-nhiên là dưới sự cai trị hà khắc của một đế-quốc lớn nhất thời bấy giờ.
           
"Bài học tự-chủ của giai-đoạn này, do đó, là một bài học lớn cho dân-tộc ta, cho ngay cả thế-hệ chúng ta.  Muốn bảo vệ đất nước, ta phải ý-thức hơn bao giờ hết ta là ai, không thể để cho bị đồng-hoá với người nước ngoài, không thể để cho sử nước người bị lầm thành sử nước ta (qua sách vở, phim bộ, tuyên-truyền...) để khi cần đứng lên, ta không còn rõ ta tranh đấu cho lý-tưởng nào nữa." (Trích "Lời Nhà Xuất Bản" nơi Tập II
Nhìn Lại Sử Việt, 2009)

Nước dài ra thành hai ba cực
           
     "Khác với thời-đại Lý-Trần, là hai triều-đại lớn trong lịch-sử Việt-nam với một chính-quyền trung-ương được tổ-chức vững vàng trên một lãnh-thổ tương-đối thuần nhất, giai-đoạn được đề cập trong tập này," tức Tập III của bộNhìn Lại Sử Việt mới ra lò (Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2011), mang tên "Tự chủ II: Từ thuộc Minh đến thống nhất" nghĩa là đến khi Gia Long thống nhất sơn hà, "là một giai-đoạn bành-trướng mạnh về phía Nam (trong cuộc gọi là “Nam-tiến” của dân-tộc ta), thâu nhận không những đất mới mà còn cả những dân-tộc mới, những nền văn-hoá mới và những trung-tâm quyền-lực mới vào trong lòng đại-dân-tộc như chúng ta có ngày hôm nay.  Không lạ là những xung-động đó đã gây ra nhiều cơ-hội cho các thế-lực tranh giành nhau ngay ở trong nội-địa Việt-nam, chưa nói đến những dòm ngó của các ngoại-bang.

     "Thành thử giai-đoạn 400 năm này chỉ có được 100 năm là thống nhất dưới chính-quyền nhà Lê (1427-1527), sau đó là một thời-gian dài tranh chấp không ngừng giữa 

     Lê và Mạc (1527-1593), rồi

     Lê-Trịnh và Mạc (1545-1683), song song đó là

     Trịnh-Nguyễn phân-tranh (1558-1786), rồi

     Nhà Tây Sơn chia làm 3 triều-đại (1786-1802)

chưa kể là trong suốt thời-gian sau này nhà Tây Sơn phải đối mặt với Nguyễn Ánh.

     "Bởi vậy mà có người cho rằng giải-thích lịch-sử Việt-nam bằng một sợi dây xuyên suốt là một việc bất khả, rằng ngay trong gốc gác của nó lịch-sử Việt-nam đã là một lịch-sử đa nguyên với sự đóng góp của nhiều tộc họ, địa-phương, dân-tộc, tóm lại một tổng-hợp phức hợp và đẹp đẽ hơn bất cứ một giải-thích đơn-phương hay đơn-nguyên nào.  Nói cách khác, để thực-sự hiểu Việt-nam, chúng ta phải có một cái nhìn khoáng đạt như của Nguyễn Bỉnh Khiêm, khi ông vừa làm quan cho nhà Mạc, vừa cố vấn cho Nguyễn Hoàng lại cũng vừa bỏ nhỏ để nhắc nhở Trịnh Kiểm 'giữ chùa thờ Phật thì [được] ăn oản.' 

     "Nếu giai-đoạn 400 năm được trình bầy trong Tập III này là một giai-đoạn thập phần nhiễu nhương trong 300 năm cuối thì đó cũng là một giai-đoạn phát triển rất mạnh trong nhiều lãnh-vực, không chỉ về chính-trị, kinh tế, ngoại-thương mà còn đặc-biệt về các mặt văn-học nghệ-thuật, như văn-học chữ Nôm (Thiên Nam ngữ lục, Song tinh bất dạ, Chinh-phụ-ngâm, Cung-oán, tuồng đồ), đồ gốm (Chu Đậu bên cạnh Bát Tràng), hội-hoạ (tranh Đông Hồ), điêu khắc (các La Hán chùa Tây Phương), kiến trúc (nhiều đình chùa nổi tiếng) v.v.

     "Những biểu-tượng đó vừa là sự quật khởi từ những mất mát to lớn sau những năm thuộc Minh (đập bia, đốt sách, lấy sách mang về Kim-lăng, bắt đem đi cả nghìn cả vạn các thợ giỏi của Đại-Việt), lại cũng là phải vượt lên do sự chung đụng với các nền văn-hoá khác (như nhạc và văn-học Chàm, kiến-trúc, điêu khắc Chàm, rồi Chân Lạp, Trung Hoa của người Minh-hương, thậm chí cả nghệ-thuật chiến-tranh của họ nữa).

     "Rồi cũng vì giai-đoạn này là Việt-Nam đi vào luồng thương mại quốc-tế, nhất là sau khi Trung-hoa tự-động rút lui khỏi thương-trường trên biển Đông trong gần nửa thế-kỷ (bắt đầu với một sắc-lệnh của Hồng Vũ vào năm 1371) thì về đồ gốm, chẳng hạn, có lúc Việt-nam đã cạnh tranh được với đồ gốm sứ Trung-hoa (và ít nhất vào thời đó ăn đứt cả đồ gốm Nhật) nên thuỷ-quân và thương-thuyền Việt-Nam cũng rất đáng nể.  Đó là những chuyện mà sử ta hãy còn nói quá ít hay chưa biết gì nhiều đòi hỏi những sử-gia tương-lai phải đào sâu thêm nữa.  Trường-hợp gốm Chu Đậu, mới được khám phá ra sau này, là một trường-hợp điển-hình, cho ta có quyền tin tưởng rằng còn nhiều điều sử-học Việt-Nam vẫn còn chưa biết.

     "Học sử, chúng ta có quyền hãnh diện về những thành tựu của cha ông nhưng chúng ta cũng cần phải biết xem lịch-sử như một tấm gương mà đem ra soi mặt.  Nếu chúng ta có thể tự-hào về cuộc kháng-chiến chống Minh đầy gian khổ của Lê Lợi thì ta cũng cần biết phẫn nộ về những hẹp hòi, ngu muội dẫn đến cái án 'chu di tam tộc' dành cho Nguyễn Trãi, một trong những con người trong sáng nhất trong lịch-sử nước nhà.  Cũng tựa như ta phục bao nhiêu tài điều quân khiển tướng của Nguyễn Huệ để phá tan quân xâm-lược nhà Thanh thì ta cũng cần hiểu sự thất bại của nhà Tây Sơn phần lớn là do những tranh chấp nội-bộ của ba bốn ông vua Tây Sơn chứ không phải là do Nguyễn Ánh 'rước voi về giầy mả tổ.'  Và sự thành công của Nguyễn Ánh, người lần đầu thống nhất được sơn hà từ ải Nam-quan cho đến mũi Cà Mau, không phải là do ngẫu-nhiên mà có.  Nó là kết-quả của một ý-chí cao cường, đúc kết từ bao nhiêu năm nằm gai nếm mật, biết dựa vào quần-chúng và lợi-thế của một vùng Đồng Nai-Gia Định.  

     "Lịch-sử, do đó, không thể chỉ là chủ-quan dựa vào những sự yêu ghét cá-nhân hay cái nhìn cục-bộ của một địa-phương hoặc giòng tộc mà có lúc đã làm nên lịch-sử.  Lịch-sử của một dân-tộc phải là sự tổng-hợp của tất cả những yếu-tố kia trong một cái nhìn công bằng, cân nhắc làm sao cho sự đóng góp của tất cả mọi người được công-nhận như những viên gạch xây dựng nên toàn-cảnh lâu-đài chung của cả một dân-tộc." (Trích "Lời Nhà Xuất Bản" Tập III Nhìn Lại Sử Việt, 2011)*   *

            Dựa vào những lời giới-thiệu trên đây của ba tập đã ra trong bộ Nhìn Lại Sử Việt(*) của Tiến-sĩ Sử-học Lê Mạnh Hùng, ta có thể mường tượng được những đóng góp thật độc-đáo của ông vào việc đọc lại sử Việt dưới một nhãn-quan rất mới, phù-hợp với những tiến-bộ vượt bực của ngành sử-học hiện-đại.

            Được biết là tác-giả Lê Mạnh Hùng đã hoàn-tất Tập IV, viết về nhà Nguyễn (1802-1945) trong bộ sử nhiều tập của ông.  Theo chỗ tôi được biết, chỉ trong nay mai là ông sẽ giao lại cho nhà xuất bản.  Riêng cá-nhân tôi mong là tập này của ông sẽ chữa lại được những lệch lạc và định-kiến chồng chất mà không ít người trong giới sử-học nước nhà đã, trong gần một thế-kỷ qua, vô tình hay cố-ý đem vào cách đánh giá một trong những triều-đại lớn của lịch-sử nước nhà.  Trong một cuốn sách của ông in ra ở hải-ngoại do nhà xuất bản Trăm Hoa (1993), cuốn Trong Cõi, chính một sử-gia hàng đầu của Hà-nội, ông Trần Quốc Vượng, đã phải viết là ông rất phiền lòng khi người ta đổ xô vào đánh và dè bỉu nhà Nguyễn (hiểu là theo chỉ-thị của "Đảng").  Tại sao?  Tại vì không thể bảo là nhà Nguyễn không có thành-tích gì đáng kể song lại đi van xin UNESCO công-nhận Huế là một di-sản văn-hoá lớn của nhân-loại!  Hay làm sao mà phủ-nhận được việc nhà Nguyễn bảo vệ chủ-quyền của VN trên ít nhất là quần-đảo Hoàng Sa (Gia Long đích-thân ra tận ngoài đảo để khẳng-định chủ-quyền, Minh Mạng cho xây chùa ở Hoàng Sa v.v.) một cách rất chặt chẽ!

            Thành thử hơn bao giờ hết, chúng ta có thể trông chờ là tác-giả Lê Mạnh Hùng sẽ hoàn-tất trong một tương-lai không xa bộ thông-sử Nhìn Lại Sử Việt rất giá trị của ông.

_________________

(*)  Bộ Nhìn Lại Sử Việt của Lê Mạnh Hùng đã ra được ba tập (với nhiều bản-đồ và tranh hình minh-hoạ):
       Nhìn Lại Sử Việt I (Từ tiền-sử đến tự chủ)
       Nhìn Lại Sử Việt II (Tự chủ I: Từ Ngô Quyền đến thuộc Minh)
       Nhìn Lại Sử Việt III (Tự chủ II: Từ thuộc Minh đến thống nhất)
Độc-giả nào muốn mua ba tập đã ra có thể gởi ngân-phiếu (US$18 + $18 + $22 = US$58) và cước-phí bưu-điện về cho Tổ Hợp Cành Nam, 2607 Military Road, Arlington, VA 22207 (ĐT: 703 525-4538, E-mail: canhnam@dc.net).
Ở Canada trong ba thập niên cuối của thế kỷ trước và thập niên đầu của thế kỷ 21, dính vô cần sa mệt lắm. Trồng, chia sẻ (có nghĩa là có thể cho và cũng có thể bán) và tiêu thụ (tức là hít vô, nhả khói ra) cần sa là một hình tội (VN bi giờ kêu bằng tội hình sự). Nặng thì tù lâu, nhẹ thì tù ít tháng, bị phạt tiền, và mang án tích trọn đời.
Thời đó, nghề trồng cỏ nếu gặp hên là mau khá, khá hơn đi cày trong các hãng xưởng nhiều, lại chỉ cần có gan, không cần tiếng Anh tiếng u gì nhiều. Không giấu gì bạn, đám dân Mít mình tham gia vô “ngành công nghiệp’” nầy khá nhiều. Một số là “dân chơi không sợ mưa rơi”, một số là những cha mẹ chủ trương “hy sinh đời bố củng cố đời con”, nghĩ rằng bỏ ra chừng chục năm, kiếm được một mớ vốn kha khá rồi dẹp, bỏ qua một tỉnh khác sang một cái tiệm tạp hóa góc đường, ung dung nuôi dạy con cái. (Coi vậy chớ con cái mấy vị nầy nay đều có bằng cấp, công ăn việc làm ngon lành trong xã hội). Xui xẻo, lãnh ít cuốn lịch cũng không tới nỗi, bởi trồng cỏ không phải là tội gì ghê gớm cho lắm (và các sắc dân khác nó cũng làm chớ đâu phải chỉ có phe ta).
(Nói thêm chút, còn có màn móc điện chùa hydro, vì trồng cỏ trong nhà đồng hồ điện quay như chong chóng trực thăng, trả bill cho Hydro thì lỗ nặng).
Ngày đó, nói thiệt báo chí tiếng Việt đầy các quảng cáo cung cấp dụng cụ, trang bị, phân bón …làm vườn, bảo đảm “hoa to, lá bự” (bên cạnh đó là các quảng cáo của các luật sư “chuyên đảm nhận “beo” và biện hộ).
Từ ít năm nay, hổng hiểu sao “nghề” nầy ít thấy được nhắc tới nhiều trên báo chí tiếng Anh và trong cộng đồng Mít ở Canada mà chỉ thấy ồn ào bên Âu châu – đặc biệt là Anh quốc, và Úc.)
Thời đó, Vancouver là thánh địa của cỏ, có thể vì thời tiết thuận lợi. Các tỉnh khác cũng có, nhưng không nhiều bằng.
Nhưng rồi thời thế đổi thay, việc sử dụng cần sa được nhìn với con mắt dễ dãi hơn. Chánh phủ cho phép sử dụng cần sa vào mục đích trị bịnh, và tới năm nay, “cỏ” không còn được coi là một thứ đồ quốc cấm nữa, chơi cần sa để tiêu khiển trở thành hợp pháp.
Luật hợp pháp hóa cần sa sẽ chánh thức có hiệu lực vào ngày 17 tháng 10 này, tức là thứ Tư tuần tới.
Cái chuyện tức cười mà Ký Gà muốn kể cùng bạn đọc là chuyện cần sa và cảnh sát.
Việc hợp pháp hóa cần sa đang là một chuyện nhức đầu và nhức mình cho những cơ quan thực thi pháp luật, đặc biệt là với cảnh sát.
Khỏi phải nói, bạn cũng biết rằng trước khi cần sa được hợp pháp hóa, việc bắt những người buôn bán, sản xuất và sử dụng cần sa là nhiệm vụ của lực lượng “thực thi pháp luật” nầy.
Hồi đó, trắng đen rõ ràng. Phú-lít phải bắt cần sa. Nhưng nay, chuyện trở nên phức tạp.
Bởi mỗi tỉnh bang lại có những quy định khác nhau về “hợp pháp hóa” như thế nào.
Tỷ như tuổi nào được chơi, nơi nào được bán, chỗ nào được hút, say cần sa lái xe phải xử ra sao.
Nhưng chuyện nhức đầu hơn, và đang được chính hiệp hội cảnh sát quốc gia đặt vấn đề, là chuyện …cảnh sát được chơi cần sa như thế nào!
Luật cho phép công dân được xài cần sa để giải trí, mà cảnh sát cũng là công dân, vậy cảnh sát được quyền giải trí bằng cần sa. Tam đoạn luận nầy không thể nào trật được. (Nói thẳng ra, hồi trước, làm gì tránh được chuyện các thầy đã chơi rồi.)
Nhưng cần sa không giản dị như thuốc lá, bởi nó…phê, và ảnh hưởng tới khả năng hành sự của quý thầy phú lít.
Ngày trước, các thầy / cô phú lít còn bị kiểm tra định kỳ và bất ngờ xem có “chơi thuốc” hay không, trong danh sách các thứ “thuốc” đó có cần sa.
Bởi vậy, các thầy / cô bị ràng buộc bởi điều lệ của các sở cảnh sát, được chơi khi nào và không được chơi khi nào, cũng như những điều lệ về việc sử dụng rượu vậy. Đúng thôi. Bạn nghĩ sao khi mình kêu cứu kêu cứu, hoặc khi tuần tra, khi cấp cứu, khi bắt cướp nhà băng, khủng bố mà mấy ông cớm chạy xe lạng quạng tới đang trong tình trạng mơ mơ màng màng! Hồi tháng 8, có hai ông cảnh sát đã bị xỉn phải kêu 911 khi ăn nhằm sô-cô-la có cần sa khi đang hành sự tại một tiệm bán cần sa ở Toronto.
(Nhiều tổ chức khác, nơi nhơn viên cần phải giữ cái đầu cho tỉnh táo cũng có đã và đang đặt ra những điều lệ. Tỷ như trong lính, quân nhơn được quyền xài cần sa mua một cách hợp pháp, nhưng phải ngừng trước khi bắt đầu nhiệm vụ 8 tiếng đồng hồ, quân nhơn sử dụng vũ khí hay lái xe trước 24 giờ và trước 28 ngày với các ông lính sẽ có các hoạt động nguy hiểm như nhảy dù, làm việc ở những nơi có áp suất không khí cao, hoặc điều khiển/ đi trên máy bay.)
Canada có nhiều lực lượng cảnh sát khác nhau.
Liên bang có RCMP, nhiều tỉnh bang có cảnh sát tỉnh, và nhiều thành phố có cảnh sát thành phố.
Bởi vậy, chuyện mỗi lực lượng ra điều lệ tùy theo luật của địa phương đó (và tùy hứng của người chỉ huy?) đã làm cho các vị bạn dân …phân bì. (Nói cho vui chớ, mấy ổng chỉ phàn nàn và đòi hỏi phải có một quy định chung cho công bằng, giống như quy định về việc uống rượu và thuốc theo toa bác sĩ.)
RCMP và Sở cảnh sát Toronto cùng quy định không được sử dụng cần sa trong thời gian 28 ngày trước khi vô làm việc.
Sở cảnh sát Calgary còn găng hơn, cấm đại đa số nhơn viên cảnh sát tiêu thụ cần sa cả ngoài giờ làm việc.
Trong lúc đó, Sở cảnh sát Ottawa (thủ đô) và Vancouver (cũng thủ đô, nhưng là thủ đô cần sa) thoải mái hơn, miễn là khi tới sở phải ở trong tình trạng sẵn sàng và đủ năng lực để làm việc (cái nầy khó à nghe, làm sao chắc được?).
Người lên tiếng phàn nàn là ông Tom Stamatakis, chủ tịch hiệp hội cảnh sát quốc gia (Canadian Police Association) và ông McCormack, chủ tịch hiệp hội cảnh sát Toronto.
Ông Stamatakis chỉ trích điều lệ của RCMP, lịnh không cho xài trong thời gian 28 ngày trước ngày vô làm việc coi như là cấm luôn rồi.
Nhơn nói chuyện mấy thầy cảnh sát, cũng cần nhắc lại một chuyện ngồ ngộ khác, cũng liên quan tới cảnh sát.
Đó là chuyện có ông từng là cảnh sát với chức vụ rất cao trong giai đoạn cần sa bị coi là món ngoài vòng pháp luật hiện nay đang là những thành viên cao cấp, thậm chí là chủ, những công ty sản xuất cần sa.
Ông Julian Fantino, người từng lớn tiếng chống hợp pháp hóa cần sa, đang là Chủ tịch điều hành Công ty Aleafia ở Vaughan.
Ổng từng là chỉ huy trưởng cảnh sát London, York Region, rồi Cảnh sát Tỉnh bang (OPP).
Và Chủ tịch kiêm tổng giám đốc của công ty nầy là ông Raf Souccar, từng là chỉ huy phó RCMP!
Thời…thế!
Chắc họ đang nói mình đó!
Trên tờ báo The Province bữa 9 tháng nầy có một bài nhận định khá thú vị.
Nhà bình luận Douglas Todd dẫn một văn kiện phổ biến nội bộ của Bộ Di trú Canada nói rằng sau 25 năm ở Canada, một người tỵ nạn điển hình có thu nhập cao hơn người Canada không phải là di dân hay tỵ nạn.
Ông Todd nói văn kiện nầy là kết quả nghiên cứu trên các người tỵ nạn vào Canada trong những năm cuối của thập niên 1980 và các năm đầu đầu thập niên 1990.
Theo đó, bộ Di trú thấy sau 25 năm, những người nầy có mức thu nhập chừng 45 ngàn đô la Canada một năm.
Một giới chức của bộ nhận xét “đó là quỹ đạo mà chúng tôi mong đợi từ những người tỵ nạn được chính phủ giúp và những người tỵ nạn do tư nhân bảo trợ”
Dữ liệu của bộ Di trú và bộ Thuế, theo dõi thu nhập của người tỵ nạn từ năm 1981 đến 2014, cho thấy những người tỵ nạn được chính phủ bảo trợ trung bình kiếm được dưới 20.000 đô la một năm trong mười năm đầu tiên ở Canada, giai đoạn mà nhiều gia đình dựa vào trợ cấp của tỉnh và các phúc lợi khác của chính phủ để sống.
Tuy nhiên, sau 25 đến 30 năm ở Canada, người tỵ nạn trung bình kiếm được khoảng 50.000 đô la một năm, cao hơn khoảng 5.000 đô la so với người Canada trung bình.
Cuộc nghiên cứu nầy cũng cho thấy khoảng cách thu nhập giữa những người tỵ nạn được chính phủ giúp, ban đầu làm tồi tệ hơn những người tỵ nạn do tư nhân bảo trợ, đã dần giảm đi và cuối cùng biến mất.
Điều làm cho Ký Gà thấy khoái chí là nhà báo nầy sau đó viết thêm chi tiết: Các nhóm người tỵ nạn đông nhứt đến Canada trong những năm cuối của thập niên 1980 và các năm đầu đầu thập niên 1990 là từ Việt Nam, Cam bốt, Châu Mỹ Latin, Đông Âu và Phi châu.
Xin chú ý, Việt Nam đứng ở đầu danh sách nầy.
Vui thiệt chớ!
(Bài báo sau đó viết thêm rằng vào năm 2014, khi ông Tổng trưởng Di trú Liên bang hồi đó là Jason Kenney quyết định hủy bỏ chương trình di dân đầu tư, ổng đã tiết lộ rằng những người tỵ nạn đóng thuế lợi tức cho Canada nhiều hơn những người giàu có “đã mua passport Canada” – tức là các di dân đầu tư.)
Ký Gà
__._,_.___

DƯ SẮC TÍM ĐẸP HOA BẰNG LĂNG

Võ Quang Yến

image.png
Một chiều hè ở Aix-les-Bains, miền trung nước Pháp, không đi dạo quanh bờ hồ như mọi khi, tôi thẳng tiến rặng núi. Chưa ra khỏi thành phố, tôi ghé vào viếng một nhà hàng bán cây cảnh vì là một dịp để chụp hình, học thêm những cây hoa chưa biết tên. Trên đường ra về tôi thấy trong vườn có trồng một cây không lớn lắm nhưng vừa tầm mắt. Sẵn có máy, tôi chụp ngay ảnh chùm hoa đỏ nhụy vàng đẹp. Tôi hỏi cô bán hoa thì cô cho biết cây Lilas des Indes chỉ trồng để xem nhưng không bán. Không can gì vì tôi vào xem chứ không có ý mua hoa. Cây nầy rất lạ đối với tôi nên về nhà chỉ ngắm nghía để hưởng màu dỏ vàng đẹp của hoa rồi xếp vào trong máy tính, vô tình để quên mấy năm.
Vừa rồi nghe mấy bản nhạc về hoa bằng lăng, tò mò tôi vào internet tìm xem cây bằng lăng là cây gì, thì ra là cây Lilas des Indes chụp hình mấy năm trước, đem ra so thật chính là nó tuy màu sắc có khác. Thì ra tình cở tôi đã bắt gặp quê hương cách xa đất nước gần 10.000 km, dưới chân rặng núi Alpes cao vời vợi, trên bờ hồ Bourget thơ mộng của Lamartine.
alt
Thảo nào thơ văn cũng như nhạc điệu về hoa băng lăng đầy dẩy các mạng : Hoa Bằng lăng (Hồ Quang Hiểu, Lãng Ngọc Trâm, Hải Đăng và Phạm Công Khanh, Cảm Phong, J.C.Lâm), Bằng lăng tím (Bùi Anh Tôn, Võ Long Điền, Vũ Hoàng, Thanh Sơn, Tôn Huy, Phú Cường, Mạnh Quỳnh)….
alt
‘‘Hẳn ai cũng biết hoa bằng lăng: màu tím lúc hoa mới nở luôn làm lòng ta xao xuyến, một màu tím đến nôn nao như ai đó đã từng nói, khiến ta tưởng tượng ra những câu chuyện tình yêu học trò dịu dàng, lãng mạn, trong sáng. Còn có một loài hoa bằng lăng, tuy bề ngoài không đẹp nhưng chứa đựng bên trong nó ý chí thật kiên cường, bằng lăng nâu. Nhắc đến hoa bằng lăng tím người ta thường nhắc đến cái tình yêu trong veo, cái tình yêu dễ thương nhẹ nhàng nhưng ngây thơ trong sáng tuổi học trò, cái tuổi không lo lắng nhiều về cuộc sống, chưa phải bận tâm về tiền bạc’’.
‘‘Một câu hát mộc mạc và bộc trực của người Nam Bộ khiến hoa bằng lăng thành biểu tượng của tình yêu với màu hoa phơn phớt tìm chung thủy và sắt son. Con trai con gái phải lòng nhau thường hái hoa bằng lăng cẩm bằng làm tin. Màu hoa tím ngây thơ nói hộ trái tim một lời yêu dấu. Với màu hoa tím trác tuyệt, cây bằng lăng ngày nọ ở trong rừng bắt chợt ra phố thóat một đời cây rừng để làm cây có bóng che và hoa đẹp. Khó mà nói hết cái màu tím của hoa bằng lăng. Nó là một chút của hoa sim mà không phải là hoa sim, là màu tím mực học trò mà không phải là màu học trò. Một ngày, hoa bằng lăng khoe có đến một chục dư sắt tím. Buổi sơm, hoa có màu tím non ướt sau sương mù. Mặt trời lên màu tím chuyển sang tím hồng như có ai đó đánh nhẹ lên hoa một lớp phấn nụ mỏng. Đúng ngọ bằng lăng ôm tròn lấy gốc, lúc này màu hoa tím gay gắt như vừa xong một cuộc cải vã với mặt trời. Vào giấc chiều hoa chuyển sang màu tím than che dấu một đời sống nội tâm dữ dội. Giữa màu xanh của lá, màu hoa kết lại như một vùng mây tím âm ấm đôi bàn tay ai chừng đã lẻ loi. Sắc tím hoa bằng lăng khi có làn gió mỏng đi qua cơ hồ như có tiếng tà áo dài thơn nhè nhẹ trên ngõ phố xưa chừ đã vắng người’’.
alt
Bằng lăng hay bằng lăng nước là môt loại thực vật thuộc chi Tử vi Lagerstroemia, tiếng Pháp gọi Lilas des Indes, tiếng Anh thông dụng Giant Crappe-myrtle, Pride of India,…Banaba theo tiếng Talagog, dân tộc lớn nhất Philippin, đặc thù của Ấn Độ. Tên Lagerstroemia được Linné kê trong hệ thống phân loại để kỷ niệm ông bạn Magnus Van Lageström đầu tiên khám phá cây thế kỷ XVII trong rừng Ấn Độ. Nguồn gốc vùng Nam Á, hiện nó mọc nhiều ở Đông Nam Á, Ấn Độ và các nước nhiệt đới. Thân cây thẳng và khá nhẵn nhụi. Lá màu xanh lục, dài từ 8 đến 15 cm, rộng từ 3 đến 7 cm, hình thuẩn, rụng theo mùa. Hoa màu tím hoặc tím nhạt mọc thành chùm dài từ 20 đến 40 cm, thường thấy vào giữa mùa hè. Ngoài hoa tím còn có hoa các màu đậm, lợt trắng, hồng, đỏ,… và cuối thu nhiều giống cũng rụng lá vàng, lá đỏ như cây phong xứ lạnh. Quả lúc tươi màu tím nhạt pha xanh lục. Quả già có đường kính 1,5 đến 2 cm, khô trên cây. Bằng lăng hiến bóng mát và hoa đẹp nên được trồng làm hoa cảnh. Vài giống lùn, lùm bụi, cũng được chọn làm cây kiểng, mùa hoa nở đầy chậu. Cây gỗ lớn cao đến 20m, phân cành cao, thẳng, tán dày, lá hình bầu dục hay hình giáo dài, cụm hoa hình tháp ở ngọn các cành, mọc thẳng, nụ hoa hình cầu, hoa lớn có 6 cánh, mỗi cánh dài chừng 2 đến 3,5 cm, có móng ngắn, răng reo màu tím hồng. Cây mọc khỏe, thân thẳng, tán cao, cây trồng chủ yếu bằng hạt, ươm gieo như các cây khác.
Đất trồng cây bằng lăng phải có tầng mặt tơi xốp, dễ thoát nước, nếu đất có độ pH thấp, cần bón vôi thêm. Trước khi trồng tiến hành đào hố trước ít nhất một tháng, kích thước hố và lượng phân bón lót tùy thuộc vào đất giàu hoặc nghèo dinh dưỡng, thông thường 50 x 50 x 50 cm, trộn đều lớp đất mặt với phân hữu cơ, NPK, phân bón lót, phân lân, vôi…… Sau đó phai dồn hỗn hợp đất phân cho xuống hố. Công việc trên cần thực hiện trước khi trồng cây ít nhất là một nửa tháng tháng. Cây được trồng vào đầu mùa mưa (tháng 5, 6) và được trồng dặm trước tháng 9 hàng năm. Mật độ trồng thích hợp từ 500 đến 834 cây/ha. Cây cách cây 3m, hàng cách hàng 4m, hoặc cây cách cây 4m, hàng cách hàng 5m. Sau khi trồng cần làm cỏ, xới đất kết hợp tủ gốc giữ ẩm cho cây 4-5 lần mỗi năm. Trong ba năm đầu khi cây chưa kép tán cần trồng thêm cây che bóng giữa các hàng để bảo vệ đất, nhằm tăng cường chất hữu cơ và giảm công làm cỏ. Lượng phân bón trong những năm nầy là phân chuồng 5–10 kg, phân NPK 150g/gốc/năm. Các năm sau tăng dần lượng phân lên, nên bón phân vào lúc làm cỏ và vun gốc vào đầu, giữa và cuối mùa mưa. Loài hoa bằng lăng nước ở vùng nhiệt đới đã được dùng trong y học để trị bệnh tiểu đường. Lá láng bóng loài bằng lăng này chứa corosolic axit ở mức cao (corosolic axit là một hóa chất thực vật nổi tiếng làm hạ mức đường trong máu). Trong y học truyền thống châu Á dùng lá bằng lăng nước làm nước trà để trị đau bao tử và bệnh tiểu đường. Các chất trích ly được thương mại hóa đôi khi cũng được dùng làm bớt mập phì. Chất trích lá bằng lăng nước thường tìm thấy trong các thuốc bổ sung đa thành phần để làm giảm cân, tỉ như Cortislim. Nồng lượng thay đổi tuỳ sản phẩm bán, nhưng thường chứa vài millirgam đến vài tá milligam một ngày. Lá bằng lăng nước khó kiếm hơn nhưng được bán dưới dạng nước trích lỏng hoặc thể viên. Ở nước ta cây bằng lăng nước mọc nhiều nhất ở các rừng vùng Đông Nam Bộ, đặc biệt là rừng cây gỗ toàn bằng lăng gần thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông.
alt
Tục truyền Ngọc Hoàng có mười hai nàng công chúa, mỗi người một vẻ, không ai thua ai. Ngọc Hoàng rất thương mười hai nàng công chúa của mình, một hôm bảo : Ta sẽ cho các con làm chúa của các loại hoa dưới nhân gian. Cô công chúa đầu thì đòi làm chúa của loài Hoa Hồng, cô kế làm chúa loài hoa Mẫu Đơn, rồi Hoa Lan, Hoa Huệ,…. Chỉ riêng cô công chúa Út không biết mình phải làm chúa hoa gì. Cô lặng lẽ âm thầm đứng yên mãi đến khi nhìn tà áo tím thướt tha của mình, cô đã thích màu tím từ nhỏ. Vì thế cô xin với Ngọc Hoàng: Dạ tâu phụ hoàng, con rất thích màu tím ngây thơ, xin Phụ Hoàng cho con làm chúa loài hoa mang màu tím. Ngọc Hoàng suy nghĩ mãi mới quyết định cho nàng công chúa Út làm chúa hoa Bằng Lăng Tím. Lúc đó ở dương gian có chàng thư sinh nghèo, thấy loài hoa tím Bằng Lăng vừa xinh lại dịu dàng. Chàng liền lấy về nhà trồng rồi mỗi ngày chàng đều ngắm loài hoa tím. Mỗi năm đến mùa hoa nở, chàng thư sinh mê mệt với sắc màu tím và dần dần đem lòng yêu thương hoa Bằng Lăng Tím. Đúng vào lúc nàng công chúa Út của chúng ta cũng đem lòng say mê văn tài của chàng thư sinh. Công chúa xin Ngọc Hoàng được xuống dương gian làm vợ chàng thư sinh. Ngọc Hoàng cương quyết không cho. Cô Công Chúa Út từ đó suy tư và không biết bao nhiêu chàng công tử trên trời đến cầu hôn nàng điều khước từ. Và ai cũng hiểu loài hoa Bằng Lăng ngày càng phai nhạt màu tím đi. Chàng thư sinh vẫn một lòng si tình hoa Bằng Lăng Tím. Thế nên từ đó loài người cho Hoa Bằng Lăng là loài hoa chung thủy, sự ngây thơ của màu tím đã tượng trưng cho tình đầu thuở học trò.
Cây bằng lăng Lagerstroemia thật ra có nhiều giống. Theo Gs Phạm Hoàng Hộ trong cuốn Cây cỏ Việt Nam, Bằng lăng nước mang tên Gmelina lecomteiP.Dop (cuốn II, trang 1046). Bằng lăng cũng còn được kê trong một bản họ Bănglăng Lythraceae gồm có 20 chi Lagerstroemia (cuốn II, trang 23-30): L indica((tửvi, sẻ, báttừkinh)), L. ovalifolia, (xoan), L. quinquevalvis (mảnh), L. crispa (ổi), L. regina (tiên), L. speciosa (nước), L costa-draconis, L. macrocarpa, L. micrantha, L. duperreana (láng), L. gagnepainii (nhẳn, Tàu vang), L. tomentosa (săng lê), L. londonii (vàng), L. calyculata (ổi), L. cochinchinensis (nambộ), L.noei (Nô), L. balansae (Balansa), Llecomtei (Lecompte), L. floribunda (nhiều-hoa), L.anisoptera (dịdục), L. venusta (sùng). Bằng lăng nước hay bằng lăng tímcó thân gỗ, nhẵn nhịu, phân nhánh cao, tán cây rộng, dày, lá đan xen vào nhau có màu xanh dài từ 8-15 cm, rộng từ 3-7 cm, có hình thuẩn hoặc dọp thường rụng lá vào mùa mưa, đặc biệt hoa có màu tím, cánh mỏng nở xòe thành chùm. Bằng lăng ổi hoa trắng còn gọi bằng lăng cườm L.calyculata Kurz, có thân bạnh, vỏ có mang bong tròn, to 2-3cm, tán lá rộng, hình mâm xôi, lá dày dài tới 20cm, có lông dày ở mặt dưới, hoa mọc thành chùm có màu trắng, đài có lông dày cánh dài khoảng 5-6mm với 6 cánh, cây này được nhiều người ưa thích vì màu sắc của hoa trắng tinh, khác với màu tím chúng ta thường gặp. Bằng lăng rừng mọc hoang dại, ,thường mọc rải rác khắp sườn đồi, núi, góp phần bảo vệ đất dốc, sói mòn rất tốt, ổn định môi trường sinh thái. Tuy nhiên chúng có hoa đẹp nên sử dụng để thiết kế thi công cảnh quan, chúng nở hoa vào tháng 6 tới tháng 7 âm lịch vì thế trái với mùa hoa các loại bằng lăng nước. Hoa bằng lăng rừng không giống các loại khác có bông chùm cánh to màu hồng phấn, điểm vàng nhạc trông rất lạ, độc đáo và đặc trưng như tô thắm thêm vẻ đẹp núi rừng hung vĩ, tạo nên cảnh quan núi non đẹp khi sử dụng cho việc thiết kế tiểu cảnh sân vườn.
alt
Nhắc đến cố đô Huế, thật là thiếu sót nếu không nhắc tới sắc tím mộng mơ và quyến rũ. Huế rất thơ mộng vơi những tà áo tím (Hoa trắng thôi cài trên áo tím,Kiên Giang) của nữ sinh Đồng Khánh phấp phới mỗi chiều chủ nhật sắp hàng đi dạo dọc sông Hương, với những hoa sim màu tím ẩn núp trên đồi cát trắng Phong Điền thể hiện qua bài hát của Hữu Loan (Màu tím hoa sim, Tím cả chiều hoang biền biệt,…) ‘‘Vốn nổi tiếng với những con đường rợp bóng cây xanh, cố đô Huế luôn đầy chất thơ và lãng mạn, ngỡ ngàng như miền cổ tích trong giấc mơ. Cứ mỗi mùa hè về, những con đường đó lại được tô điểm thêm với sắc màu rực rỡ của muôn loài hoa như hoa phượng, hoa hoàng yến nhưng chính gam màu tím của bằng lăng mới là màu sắc mùa để lại ấn tượng sâu sắc nhất. Hằng năm, bằng lăng nở độ giữa tháng 4 và tháng 5. Những ngày này, bằng lăng nở rộ khắp các con đường ở Huế. Có những con đường như Đống Đa, hai bên là hai dãy bằng lăng thẳng tắp, màu tím của bằng lăng như những cuộn bông điểm xuyết trong nắng hè tạo nên một khung cảnh tuyệt vời cho những người tham gia giao thông hay những bạn trẻ tản mạn trên hè phố. Bằng lăng còn được trồng rải rác trên những con đường khác như Đống Đa, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, quanh các bờ hồ và thành nội HuếCó những cây nở rộ như một đóa hoa khổng lồ nổi bật giữa phố phường Ở mỗi nơi có cây bằng lăng, mọi người thường rất thích thú tới ngắm và chụp ảnh, đặc biệt là giới trẻ Những quán nước vỉa hè bày ra ngay dưới gốc bằng lăng ven đường để tận hưởng vẻ đẹp tím Hoa bằng lăng thường được người ta ví và tượng trưng cho sự chung thủy, ngây thơ. Cố đô Huế đã tím với nhiều sắc màu mây nước, nay càng thêm tím vì sắc bằng lăng chung thủy’’.
Tuy là quê tôi, Huế không có ưu tiên dành độc quyền màu tím thân thương. Vào những ngày tháng năm, Hà Nội khoác lên mình tấm áo rực rỡ bằng sắc tím của hoa bằng lăng, một trong những loài hoa đặc trưng của mùa hè. Nhiều năm nay, người Huế đã quen thuộc với những cánh hoa bằng lăng tím ngắt, trải đầy trên từng con phố mỗi khi hè sang. Hoa bằng lăng có màu tím và nở trong tiết trời nắng nóng nên hiện nay thường được trồng làm cây bóng mát. Từng hàng bằng lăng đồng loạt đơm bông, tô điểm cho phố phường cố đô thêm rực rỡ và nổi bật. Tán cây có tác dụng che bóng mát cho người đi đường. Bằng lăng tô điểm lên nền trời xanh ngắt, cánh hoa tím duyên dáng, bé nhỏ gợi lên bao cảm xúc. Hoa màu tím hoặc tím nhạt, mọc thành chùm dài từ 20 đến 40 cm. Mỗi bông hoa có 6 cánh, mỗi cánh dài chừng 2 đến 3,5 cm. Cùng với hoa phượng, bằng lăng gợi rất nhiều kỷ niệm khó quên của những cô cậu học trò cuối cấp. Đi giữa phố phường đất chật người đông, dù sáng sớm mưa phùn hay chiều hè oi ả, giữa những chùm bằng lăng nở tím khiến lòng người nao lòng hoặc lặng lẽ suy tư về những ký ức, kỷ niệm đã qua. Bằng lăng tím cũng nở rộ trên đường phố Sài Gòn, làm dịu đi cái nắng gay gắt. Dọc theo tuyến đại lộ đông tây (quận 2) Lê Trọng Tấn, Tây Thạnh (quận Tân Phú), Huỳnh Tấn Phát (quận 7), Cộng Hòa (Tân Bình)…. vào những ngày này những chùm hoa bằng lăng đua nhau nở, khoe sắc nhuộm tím một khoảng trời. Đường phố Sài Gòn bỗng trở nên lãng mạn, nồng nàn hơn bao giờ hết, xua tan cái oi ả và nóng bức.  Hoa bằng lăng là nét đặc trưng của đường phố Hà Nội, Huế nhưng chớ quên đường phố Sài Gòn cũng có. Mỗi sáng đi làm ngắm nhìn hoa rực tím trên đường là mỗi lần sung sướng có hạnh phứ trên ngay đất nước mình. Hoa bằng lăng lãng mạn và thơ mộng trên mọi đường phố. Nhưng cũng rực rỡ về đêm dưới ánh đèn. Cây bằng lăng được trồng trên vỉa hè đường phố, nơi công viên, hoặc ở dọc các con đường Sài Gòn Hà Nội, Huế và chắc chắn trên các thành phố khác đất nước chúng ta. Chúng không chỉ cho bóng mát, mà còn đặc biệt cống hiến sắc hoa tím thơ mộng. Hoa bằng lăng khi nở đẹp nhất có màu tím đậm, khi gần tàn thì chuyển dần thành màu tím nhạt hơn. Do có màu đẹp nên các tỉnh thành ở Việt Nam hay trồng nhiều làm cảnh quan đô thị. Màu sắc của hoa bằng lăng thường khiến người đi đường phải ngừng lại xem.
alt
Hoa bằng lăng ở Aix-les-Bains
Bằng lăng rụng tím lối về
Đường xưa còn đó câu thề chưa phai
Mưa chiều giọt nước chia hai
Bằng lăng tím mãi cùng ai ước thề
Hoàng Trọng Lợi
alt
ảnh và tài liệu internet
Thành Xô mùa hè 2018
alt
Đọc thêm
Bách khoa toàn thư Vikipedia

Cây Xanh Gia Nguyễn, Vì sao người dân thường chọn Cây Bằng Lăng Tím cho khu dân cư, liquedin.com 26.01.2018

-Xuân Thu, Hoa tím bằng lăng, baotintưc.vn. 31.05.2012

-Mai Trâm, Ngắm hoa bằng lăng rực sắc tím giữa trời Hà Nội, dantri.com.vn 13.05.2015

-Mỹ Thuận, Hoa bằng lăng nhuộm tím góc trời Sài thành, mytour.vn 14.02.2015

 Nguyễn Thị Hậu, Hành cây lá xanh gần vói nhau, thesaigontimes.vn 2106.2014