Search This Blog

Friday, March 10, 2017

Kinh Tế Chính Trị Học Donald Trump và Đối Lập

Kinh Tế Chính Trị Học Donald Trump và Đối Lập


Phải bất thường lắm mới mơ làm Tổng thống Mỹ...

Làm sao dung hòa quá nhiều mâu thuẫn bên trong?

Đa số lãnh đạo Âu Châu cho là Hoa Kỳ bị khủng hoảng nặng vì Donald Trump mà không thấy rằng Liên hiệp Âu châu mới bị khủng hoảng vì các động lực đã giúp ông Trump đắc cử: phản ứng quốc gia dân tộc chống trào lưu toàn cầu hóa, đả phá những giao kết quốc tế có thể đe dọa quyền lợi quốc dân và bất mãn về sự bất công trong chánh sách kinh tế do các chính quyền tả hữu đã áp dụng trong nhiều thập niên. Nhìn xa hơn giới lãnh đạo Liên Âu, các “học giả” Âu-Mỹ thì vội nói đến ngày tàn của đệ nhất siêu cường và dự báo thời “Hậu-Hoa Kỳ” – Post-America – là đặc tính của Thế kỷ 21. Ông Trump sẽ thúc đẩy sự suy nhược tất yếu này. Nữa!

Trước khi nói về kinh tế bên trong, hãy nhìn ra ngoài nước Mỹ đã.

Hoa Kỳ không “lên” hay “xuống” sau một cuộc bầu cử Tổng thống, dù là bầu cử có ảnh hưởng như năm 1932, 1952, 1976, v.v… và Tổng thống Mỹ không có toàn quyền như người ta tưởng. Chưa kể là có thể chỉ được một nhiệm kỳ nếu không thỏa mãn người dân…

Nhìn trong viễn cảnh xa thì thời đại gọi là “Trật Tự Hoa Kỳ” hay Pax-America đã khởi sự từ… 25 năm trước khi Liên Xô tan rã năm 1991, Liên Âu thành hình năm 1999 rồi đi vào phân hóa trong 17 năm. Từ đó, Hoa Kỳ là siêu cường độc bá có ảnh hưởng tỏa rộng như một Đế quốc, dù là một đế quốc bất đắc dĩ.

Muốn hiểu rõ điều ấy thì hãy lật ra tấm bản đồ. Trên cả đại lục địa Âu-Á kéo dài từ Pháp tới Viễn Đông, ngày nay ta trông thấy gì?

Khu vực ở hướng Tây là Liên Âu có 500 triệu dân và 27 quốc gia thì chưa thể thống nhất về kinh tế, với vụ khủng hoảng của khối Euro gồm 19 nước chỉ tăng chứ không giảm, lại chẳng muốn tăng chi cho nhu cầu an ninh và quốc phòng nên vẫn trông chờ vào Hoa Kỳ. Họ chỉ sợ Donald Trump lại lắc đầu và mô tả ông với hình ảnh méo mó được truyền thông Mỹ thuật lại như một xác nhận về “tai họa Donald Trump”.

Sự thật thì suốt 10 năm qua, Âu Châu già nua không giải quyết mà chỉ tích thêm vấn đề - như nhồi thuốc súng.

Khu vực trung ương của đại lục Âu-Á có Liên bang Nga với 150 triệu dân trên một lãnh thổ rộng tới 17 triệu cây số vuông và sản lượng kinh tế chưa bằng tiểu bang New York của Mỹ. Nước Nga lụn bại dần khi dầu thô sụt giá làm công quỹ kiệt quệ. Báo chí Mỹ và chính giới thiên tả bên đảng Dân Chủ cứ tri hô việc Vladimir Putin can thiệp vào cuộc bầu cử Tổng thống tại Hoa Kỳ, điều chưa ai chứng minh được qua ba cuộc điều tra của Quốc hội và cơ quan FBI trong Bộ Tư Pháp. Người ta không thấy nỗi khó của Putin ở bên trong vì sự suy sụp kinh tế và nạn tham nhũng dâng cao trong hệ thống quyền lực của bản thân ông.

Nga đạt thành tích ảo tại Syria là bảo vệ chế độ Bashar al-Assad (để làm gì cho quyền lợi của họ thì chẳng ai hỏi), lại bị hóc vì cái gân gà Ukraine khi lãnh đòn cấm vận kinh tế. Nga cũng chẳng thể liên kết với Trung Cộng như trong giai đoạn 1949-1979 mà còn e ngại sự bành trướng của nước láng giềng này tại miền Đông của mình. Liên minh Nga-Hoa chống Mỹ là chuyện chính trị giả tưởng.

Tại miền Đông của đại lục Âu Á, Trung Cộng có tham vọng lớn hơn thực lực.

Xứ này đã qua 30 năm khởi phát ngoạn mục như nhiều nền kinh tế khác rồi bắt đầu hụt hơi, với 400 triệu dân chưa kiếm đủ bốn đô la để sống một ngày. Lợi tức dân Tầu còn thua dân Venezuela hay Romania, mà xã hội bên trong thì chứa mầm bất ổn làm lãnh đạo mất ngủ vì nội an. Mặc dù ra sức bành trướng quân sự tại Đông hải, Trung Cộng chưa thể vượt rào cản của Nhật Bản, chứ đừng nói tới việc thách đố an ninh hay quyền lợi của nước Mỹ như Liên Xô ngày xưa.

Khi Bắc Hàn giả điên làm bậy mà bắn hỏa tiễn lung tung tại Đông Bắc Á, thiên hạ gọi ai? - Hoa Kỳ!

Khủng hoảng trong khối Hồi giáo có thể dẫn tới trào lưu Hồi giáo quá khích và nạn khủng bố. Nhưng không phải xứ Hồi giáo nào cũng dung túng khủng bố để phá hủy nền văn minh Thiên Chúa Giáo của các nước Âu-Mỹ-Úc, và phong trào Thánh Chiến không thể là mũi nhọn của khối Hồi giáo thống nhất để thách đố Hoa Kỳ và đánh tan ảnh hưởng toàn cầu của Mỹ.

Vì vậy trên thế giới, không cường quốc nào có đủ khả năng đe dọa quyền lợi, hoặc ảnh hưởng của nước Mỹ hay “Trật tự Hoa Kỳ”. Đế quốc này chưa có đối thủ và vẫn chi phối toàn cầu ít ra trong nhiều thập niên nữa. Thế kỷ 21 vẫn là “Thế kỷ Hoa Kỳ”.

Đấy là về bối cảnh quốc tế. Bây giờ ta mới trở lại nội bộ của nước Mỹ.

Một bài toán ưu tiên của Mỹ là kinh tế. Đây là một trong nhiều động lực khiến đa số tiểu bang ủng hộ ứng cử viên Donald Trump trước sự kinh ngạc của giới học giả, truyền thông và đa số cử tri. Với hơn 137 triệu người đi bầu, Trump chỉ được gần 63 triệu phiếu so với gần 66 triệu của Hillary Clinton và gần 12 triệu của Bernie Sanders. Nhưng ông thắng cử nhờ phiếu Đại cử tri tại các tiểu bang có vấn đề - nằm chơ vơ ở giữa mà bị đảng Dân Chủ lãng quên.

Làm sao giải quyết bài toán kinh tế của toàn quốc mà không mất hậu thuẫn của các tiểu bang chơ vơ ấy trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, vào năm tới? Cách đặt vấn đề quái đản như vậy mới cho thấy những khó khăn của kinh tế chính trị học kiểu Donald Trump.

***

Khi tranh cử, ứng cử viên nào cũng nêu đường nét chính của chủ trương kinh tế, vì vậy, tất cả chỉ là những tóm lược có đặc tính đại tượng hay vĩ mô (macro) để kiếm phiếu, chứ không thể là một kế hoạch có chương trình và dự án chi tiết để thực hiện. Tổng thống Donald Trump gây ngạc nhiên vì sau khi đắc cử, ông chọn nội các và ban tham mưu để thực hiện những gì đã hứa. Tưởng rằng hứa cuội mà chơi, ông đòi làm thật!

Về kinh tế, ông tính làm những gì?

Với triết lý chính trị nhuốm mùi chủ nghĩa quốc gia, Donald Trump đề nghị phục hồi tiềm lực kinh tế Mỹ, tạo ra việc làm cho dân qua kế hoạch cải tổ thuế khóa, giản lược hành chánh và đàm phán lại các hiệp định thương mại nhằm tăng xuất cảng, giảm nhập cảng và thu hẹp thiếu hụt ngoại thương. Ông chủ trương thay đạo luật bảo dưỡng sức khỏe ObamaCare bằng một hệ thống khác trong tinh thần cái gì tốt thì giữ, cái gì xấu thì sửa. Song song, ông đề nghị cải thiện hạ tầng cơ sở mục nát của Hoa Kỳ để tạo ra việc làm và nâng cao hiệu suất kinh tế trong khi không cắt giảm phúc lợi hưu liễm và y tế….

Vì kinh tế cũng là chính trị, ba chủ trương khá hấp dẫn của Donald Trump – rà soát hiệp ước thương mại, không cắt phúc lợi xã hội và y tế, tăng chi cho hạ tầng cơ cở - lại đối chọi với quan điểm truyền thống của đảng Cộng Hòa trong khi được sự ủng hộ của nhiều cử tri thuộc cánh tả đã phất cờ cho Nghị sĩ Sanders trong cuộc tranh cử.

Tổng thống không có toàn quyền, nhất là về kinh tế và nội chính, vì phải thỏa hiệp với Quốc hội và bị Ngân hàng Trung ương chi phối, nên những gì Hành pháp thống nêu ra chỉ là đề nghị cho dân biểu nghị sĩ trong Quốc hội, với hậu thuẫn của quần chúng khi mọi người đều không quên tấm lịch chính trị là kỳ bầu cử tới. Donald Trump tác động mạnh vào khối cử tri của mình trong ý nghĩa đó, với phong thái quá đặc biệt nhiều khi tới kỳ cục.

Chuyện thứ hai, Hoa Kỳ mắc nợ quá lớn do bội chi ngân sách quá nhiều quá lâu, lại còn quả bom nổ chậm là sự phá sản của hai quỹ An sinh Xã hội và Bảo dưỡng Y tế sẽ thu ít hơn chi vì những chuyển dịch mãnh liệt của dân số. Người ta sống lâu hơn nên cần nhiều chi phí hơn sau khi hồi hưu và hết đóng góp cho hai quỹ này. Vì vậy, giải pháp tăng chi hay giảm thuế cho nhu cầu kích thích kinh tế và tạo ra việc làm có những giới hạn nhất định. Còn việc không cắt phúc lợi về Social Security hay Medicare là điều ăn khách về chính trị nhưng nan giải về kinh tế.

Đã thế, nhiều đề nghị kinh tế của Tổng thống không chỉ mâu thuẫn với Quốc hội mà mâu thuẫn với nhau: mỗi chương trình sẽ dẫn tới nhiều hậu quả, và hậu quả trái ngược là gây ra mâu thuẫn, như người ta đã có thể thấy về dự luật cải tổ chế độ ObamaCare của Hạ viện Cộng Hòa lại bị chính phe bảo thủ trong đảng chống đối khi vừa được trình làng.

Thí dụ tương đối dễ hiểu hơn là Mỹ bị nhập siêu vì nhập nhiều hơn xuất cảng hàng hóa. Thiếu hụt cán cân thương mại gây hậu quả là là làm đồng bạc sụt giá so với các ngoại tệ khác. Nếu muốn giảm nạn nhập siêu và bán nhiều hơn mua thì hậu quả là đồng bạc lên giá, mà đồng bạc đắt hơn sẽ làm hàng hóa đắt hơn và khó bán hơn. Chính quyền Donald Trump đã than phiền rằng Mỹ kim lên giá quá cao nên bị thiệt hại về ngoại thương vì xuất cảng đắt hơn nhưng nhiều chánh sách kinh tế của ông sẽ làm Mỹ kim lên giá! Mâu thuẫn giữa ngoại thương và ngoại tệ chỉ là một, chúng ta sẽ tìm hiểu vào một kỳ khác.

Mâu thuẫn cao hơn và rắc rối hơn thế là nhu cầu gia tăng nhập cảng và tiết giảm nhập cảng của Tổng thống sẽ gây tác dụng bất lợi cho một số tiểu bang Cộng Hòa hay đã bỏ phiếu cho Trump!

Người ta quen nói chung chung về “kinh tế Hoa Kỳ” mà không thấy rằng đấy là tổng hợp của nhiều nền kinh tế khác biệt trong từng tiểu bang. Thực tế là nhu cầu bảo vệ quyền lợi của người dân về ngoại thương có thể gây thiệt hại cho các địa phương sống nhờ xuất cảng. Khỏi nói tới sự miệt mài chống phá từ đảng Dân Chủ và báo chí, một số chủ trương của ông Trump đôi khi lại gây khó cho đảng Cộng Hòa và cho Tổng thống khi cần thuyết phục Quốc hội.

Vì đề tài quá dài, và rộng, bài này xin chỉ tập trung vào lãnh vực xuất cảng. Nói qua các địa hạt khác như hối đoái, thuế khóa hay đầu tư, chúng ta cần nhiều kỳ sau.

***

Nền kinh tế của siêu cường bị khinh thường có nhiều đặc tính… vĩ đại.

Đứng đầu thế giới về sản lượng, khoảng 18 ngàn tỷ đô la một năm, nước Mỹ chỉ xuất cảng chừng 12,6% Tổng sản lượng. Dù tỷ lệ rất thấp nếu so với Đức, Nam Hàn hay Trung Quốc thì lượng xuất cảng đó cũng trị giá hai ngàn 200 tỷ, chỉ kém Trung Quốc là bán ra hai ngàn 400 tỷ. Chi tiết khỏi nói ở đây là Hoa Kỳ cũng nhập cảng rất ít so với Tổng sản lượng GDP vì có khả năng tự sản xuất rất cao cho thị trường nội địa, nổi tiếng là tiêu thụ nhiều, lên tới 70% GDP. Những tranh cãi về ngoại thương, khiếm hụt mậu dịch hay toàn cầu hỏa chỉ liên hệ tới khoảng 700 tỷ đô la nhập siêu về hàng hóa và dịch vụ thôi, chưa bằng 4% GDP. Riêng về hàng hóa thì chỉ thiếu chừng 500 tỷ đô la. Nhưng vài trăm tỷ cũng ảnh hưởng tới lá phiếu cử tri nên là nội dung của đàm phán và đấu võ trong một xứ quá dân chủ.

Từ đại thể nói trên, khi đào sâu xuống nội tình từng tiểu bang thì ta thấy ra nhiều mâu thuẫn. Trong 50 tiểu bang, chỉ có 10 tiểu bang là xuất cảng hơn 10% tổng sản lượng địa phương. Trong 10 tiểu bang này, có tám tiểu bang tại vùng Trung Tây và miền Nam đã bỏ phiếu cho Trump. Cũng trong 10 tiểu bang khá lệ thuộc vào xuất cảng theo tiêu chuẩn 10% đó, có bốn tiểu bang tập trung xuất cảng vào một quốc gia: Michigan và North Dakota tại miền Bắc thì bán hàng qua Canada, Texas tại miền Nam thì làm ăn với Mễ, còn Washington ở miền Tây thì cần bán cho Tầu

Bây giờ Donald Trump đòi thương thuyết lại Hiệp ước Tự do Mạu dịch Bắc Mỹ NAFTA với Canada và Mexico thì Michigan miền Bắc và Texas miền Tây giật mình. Nếu Mỹ giảm xuất cảng và tăng nhập cảng với hai láng giềng đó thì hai tiểu bang này sẽ bị hậu quả thế nào? Bên bờ Thái Bình Dương, tiểu bang Washington có thể coi chuyện NAFTA là vấn đề của làng bên, nhưng chẳng yên tâm khi thấy ông Trump đòi khai chiến mậu dịch với bạn hàng xa xôi mà chí thiết của mình, là Trung Quốc. Chúng ta gọi xứ này là Trung Cộng cho chính xác, chứ các bạn hàng của Tầu đều biết phép lý tài mà dùng tên Trung Quốc!

Tình hình còn rắc rối hơn nữa nếu so sánh hai tiểu bang có cùng sản lượng kinh tế mà lại khác về ngoại thương hay ngân sách. Ủng hộ Trump, tiểu bang South Carolina xuất cảng gấp đôi thành lũy Dân Chủ là Connecticut nhưng xuất cảng tới 15% Tổng sản lượng địa phương và nhiều nhất qua Tầu, trong khi Connecticut chỉ xuất cảng có 6% mà nhiều nhất là qua… Pháp! Sống nhờ khu vực chế biến, South Carolina là nạn nhân của toàn cầu hóa, nhưng không bị khốn đốn về ngân sách như Connecticut, một trong các tiểu bang hào phóng và thiên tả nhất và (nên?) bị bội chi tới độ mấp mé phả sản!

Khi họ lo ngại, Thống đốc hay Dân biểu Nghị sĩ của các tiểu bang này đều muốn thuyết phục Tổng thống và cách hay nhất là cho báo chí địa phương biết rõ thực hư. Hậu quả là “Ông Trump bị chống ở các tiểu bang đã bầu cho mình”! Rồi truyến thông khắp nơi loan tiếp lập luận đó….

Loạt bài kinh tế này có tham vọng trình bày sự tình cụ thể để không trụ vào khẩu hiệu của chính khách. Sự tình đó rắc rối hơn tựa đề trên mặt báo và nó giải thích sự khác biệt quan điểm hay thái độ về “quốc kế dân sinh”. Trong nền cộng hòa Hoa Kỳ, yếu tố then chốt của giới dân cử là làm sao tái đắc cử. Siêu cường này không chỉ giải quyết thiên hạ sự mà còn phải tìm ra sự đồng thuận bên trong một nước có quá nhiều dị biệt.

Phải bất thường lắm mới mơ làm Tổng thống Mỹ, làm bác thợ hàn kinh niên chứ không nắm quyền lực trùm đời như Tổng thống Nga hay Chủ tịch Tầu! Nhờ vậy dân mới dễ thở.

NATO và Tối Hậu Thư của Donald Trump

NATO và Tối Hậu Thư của Donald Trump
 
 Trần Trung Tín
 
Tháng Hai vừa qua, ông James Mattis, Bộ trưởng Bộ quốc phòng Hoa Kỳ, đã sang Brussels, Bỉ để tham dự buổi họp đầu tiên của chính quyền Tổng thống Trump với tổ chức Minh Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO).  

Trong buổi họp ngày 15 tháng Hai, 2017, ông Mattis đã chính thức thông báo lời yêu cầu của chính quyền Trump về việc NATO phải thực sự gia tăng chi tiêu quốc phòng để đạt đến mức tối thiểu là 2% tổng sản lượng quốc gia (GDP) như đã được cả liên minh đồng ý trong năm 2014.
 
Sang ngày 17 tháng Hai, 2017, ông Mattis tham dự hội nghị an ninh tại Munich, Đức cùng với Phó Tổng thống Mike Pence, Bộ trưởng Bộ Nội An (Homeland Security) John Kelly và hơn mười thành viên của Quốc hội Hoa Kỳ - chính yếu là để trấn an NATO là Washington vẫn duy trì những cam kết với họ.

Hiện tại, mối tương quan địa lý chính trị phức tạp giữa Hoa Kỳ, Trung Hoa và Nga đang thay đổi.  Vì vậy, những vận động của Hoa Kỳ nhắm vào các đồng minh NATO để tái hiệu chỉnh các lực lượng tại Âu châu cũng đáng là điều để chúng ta tìm hiểu thêm.

Sơ lược về sự hình thành của NATO

Để đối phó với Liên Xô và khối cộng sản Đông Âu trong Chiến tranh Lạnh, NATO được thành lập vào năm 1949 với 12 quốc gia thành viên gồm Hoa Kỳ, Canada và 10 quốc gia Âu châu.

Sau này NATO mở rộng và đón nhận thêm một số quốc gia Đông Âu. Hiện nay NATO đang có 28 thành viên gồm Hoa Kỳ, Canada và 26 quốc gia Âu châu.

Trong hiệp ước NATO, Điều khoản thứ 5 (Article 5) được xem là cột trụ: Khi một hay nhiều thành viên bị tấn công, xem như toàn khối NATO bị tấn công. Thành viên bị tấn công có thể đơn phương hoặc kết hợp với tập thể để có biện pháp tự vệ.

Căng thẳng giữa Hoa Kỳ và NATO

Từ thập niên 1970s, nhiều Tổng thống Hoa Kỳ đã than phiền về tình trạng "đi xe chùa" (free-riding) của nhiều đồng minh NATO.  Hoa Kỳ cũng đã thúc đẩy các quốc gia trong khối để gia tăng chi tiêu quốc phòng. Tuy nhiên kết quả cũng chỉ là những lời than phiền suông vì Washington đã không có một biện pháp cụ thể nào để giải quyết tình trạng "đi xe chùa" này.

Nhưng đến Tổng thống Trump thì sự thể đã thay đổi. Ngay từ lúc tranh cử, ông đã ngỏ ý rằng sự hỗ trợ của Hoa Kỳ dành cho NATO phải có điều kiện và ông còn công khai chỉ trích NATO là đã lỗi thời. Tuy vậy, sau khi nhậm chức, Tổng thống Trump tuyên bố tiếp tục ủng hộ NATO, dù vẫn phàn nàn là Âu châu đã không công bằng với Hoa Kỳ về mặt chi tiêu quốc phòng.

Thực ra NATO cũng đã có kế hoạch gia tăng chi tiêu quốc phòng vào năm 2014, chỉ vài tháng ngay sau khi Nga sáp nhập bán đảo Crimea của Ukraine.  Khi đó, NATO đã tổ chức một hội nghị thượng đỉnh tại Wales.  

Tại hội nghị này, các quốc gia thành viên đã đồng ý chấm dứt việc cắt giảm ngân sách quốc phòng vì như vậy đã khiến châu Âu không còn khả năng chiến đấu. Chỉ nói riêng việc tiếp nhiên liệu các chiến đấu cơ trên không, thì nhiều quốc gia Âu châu trong NATO cũng không có chi phí thực hiện.

Kết quả của hội nghị Wales, NATO đồng ý là đến năm 2024, tất cả quốc gia hội viên phải đạt đến mức chi tiêu cho quốc phòng là 2% GDP. Tuy nhiên, mục tiêu ghi trên không chính thức bị ràng buộc theo tính cách pháp lý (not legally binding).

“Lời Yêu Cầu” của Chính quyền Trump

Dù rằng trước một hiểm họa bị xâm lăng bởi một nước Nga có tham vọng bành trướng và chính NATO đã đồng ý gia tăng từ năm 2014, nhưng đến 2016, chỉ có 5 trong 28 quốc gia thành viên của NATO là đạt đến mức chi tiêu quốc phòng ở mức quy định - tối thiểu là 2 phần trăm tổng sản lượng quốc gia.
Http://i2.cdn.turner.com/cnn/2016/images/04/15/nato-3_custom1.jpg?iid=EL

Nhìn vào “Bảng phần trăm chi tiêu của NATO - 2016”, nhất là tại thời điểm hai năm sau khi Nga đã sáp nhập Crimea, thì mới dễ hiểu được tại sao Hoa Kỳ lại gửi sang Âu châu một phát đoàn hùng hậu để truyền đạt “lời yêu cầu” đến NATO.

Tổng thống Trump lần này gửi “sứ giả” James Mattis đến Tổng hành dinh của NATO chính yếu là để thúc đẩy họ phải thực sự làm điều mà từ lâu nay đã miễn cưỡng không chịu làm: Gia tăng kinh phí quốc phòng.

Thứ Tư, ngày 15 tháng 2, 2017, Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis đã gửi ra một “tối hậu thư” đến các đồng minh khi ông cảnh cáo NATO rằng nếu họ không gia tăng chi tiêu quốc phòng như đã được đề ra, thì Hoa Kỳ có thể thay đổi mối quan hệ của mình đối với NATO.

"Tôi sẽ mắc nợ với tất cả quý vị nếu không trình ra đây thực tại chính trị tại Hoa Kỳ một cách rõ ràng và nêu ra các đòi hỏi hợp lý của người dân nước tôi qua những điều khoản thiết thực," Mattis nói. "Hoa Kỳ sẽ chu toàn trách nhiệm của mình. Nhưng nếu không muốn thấy Hoa Kỳ tiết giảm sự cam kết dành cho liên minh, thì mỗi quý quốc cần phải thể hiện sự hỗ trợ của mình cho sự phòng thủ chung của chúng ta."(2)

Mattis, cựu Tướng 4 sao của Thủy quân Lục chiến, nhắc nhớ lại chuyện xưa khi ông còn là chỉ huy tối cao lực lượng đồng minh của NATO từ tháng 11/2007 đến 5/2009. Khi đó Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ là ông Robert Gates đã cảnh cáo các quốc gia NATO rằng Quốc Hội và người dân Hoa Kỳ "sẽ mất kiên nhẫn vì đã phải gánh vác một gánh nặng không cân xứng" trong việc bảo vệ đồng minh.

Sự thiếu kiên nhẫn đó ngày nay đang là một "thực tế của chính quyền" ông Mattis nói.   Và ông còn trình ra một sự thực, "Không thể có chuyện người dân Hoa Kỳ phải đóng thuế để cưu mang một gánh nặng không cân xứng trong việc bảo vệ các giá trị của Tây phương."

Nhất là "Hoa Kỳ không thể quan tâm đến an ninh của con em của quý vị nhiều hơn là sự quan tâm từ chính quý vị. Việc xem thường sự sẵn sàng về mặt quân sự đã chứng tỏ chúng ta thiếu sự tôn trọng đối với chính mình, đối với liên minh và đối với sự tự do chúng ta được thừa hưởng, mà rõ ràng là hiện nay đang bị đe dọa."

Qua những sự việc này, nhiều quốc gia Âu châu xem ra đã bị rúng động khi cho rằng ông Trump đã có nghi vấn về những điều cốt lõi trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ đối với Âu châu kể từ sau Thế Chiến thứ Hai và như vậy có thể sẽ thay đổi mối liên hệ đã có từ lâu với NATO.

Nhiều người Âu châu cũng lo ngại rằng chính quyền của Trump sẽ không còn cấp tốc chạy ào đến để che chở họ khi cần đến (rush to their defense if needed).

Mặt khác, khi lượng định về triển vọng của sự an ninh quốc gia họ để bị lệ thuộc quá nhiều vào một Hoa Kỳ hay thay đổi, thì đối với một số các nhà hoạch định chính sách, đó cũng là một điều rất đáng sợ.

Ngân sách quốc phòng của các quốc gia NATO

Theo “Bảng phần trăm chi tiêu của NATO - 2016” (1), trong 28 quốc gia NATO chỉ có 5 quốc gia đáp ứng được quy định trong mức chi tiêu quốc phòng: Hoa Kỳ (3.62%), Hy Lạp (2.46%), Ba Lan (2.18%), Estonia (2.04%) và Anh (2.07%).  

Những thành viên có thực lực đã đóng góp ít hơn mức quy định gồm có Pháp (1.8%), Thổ Nhĩ Kỳ (1.69%), Đức (1.18%), Canada (1%) và Ý (0.95%).

Theo ước tính của tập san The Economist, chi phí quốc phòng của Hoa Kỳ trong năm 2016 là 664.1 tỉ Mỹ kim, và con số mà toàn thể NATO chi ra là 918.3 tỉ Mỹ kim. Những con số trên cho thấy Hoa Kỳ đã chi ra hơn 70.3% tổng số chi phí quốc phòng của cả khối - như được trình bày trong “Biểu đồ đối chiếu chi phí quốc phòng giữa Hoa Kỳ và NATO” phía bên dưới.

chỗ trống

Nguyên do của sự yếu kém về ngân sách quốc phòng

Theo Anders Fogh Rasmussen, cựu Tổng thư ký NATO, "Những gì đã xảy ra là do châu Âu chúng ta đã quá vội vã thu hoạch kết quả  hòa bình (peace dividend) quá sớm" sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, đã loại bỏ ngay nhu cầu cần duy trì những đạo quân lớn.  Ông Rasmussen cũng là người đã dẫn đầu nỗ lực trong năm 2014 để đạt được sự cam kết của các thành viên NATO đồng ý chi ra 2% tổng sản lượng quốc gia hàng năm cho quốc phòng.

Chi phí quốc phòng đã bị cắt xén quá nhanh sau khi Liên Bang Xô Viết tan rã. Làm như thể các mối đe dọa về quốc phòng của NATO sẽ có thể được giải quyết bằng những lực lượng cơ động nhẹ.  Tính từ 2006, chi phí nghiên cứu quốc phòng của Liên minh Âu châu (European Union) bị mất đi 1/3, hoặc hơn 20 tỉ Euros vì các quốc gia trong khối đã cắt giảm chi tiêu quốc phòng.(4)

Kết quả là khả năng quân sự của NATO càng ngày càng tồi tệ. Trong năm 2015, khi được điều động để đối phó với cuộc tấn công của khủng bố ngay tại Paris và Brussels, thì quân đội Bỉ cũng phải yêu cầu Hoa Kỳ cung cấp cho binh sĩ của họ áo giáp đã dùng rồi (hand-me-down flak jackets).(5)

Vấn đề còn trầm trọng hơn về phía biên giới phía đông NATO, nơi Tổng thống Nga Vladimir Putin đang gây lo sợ cho các nước lân bang về một cuộc chiến tranh trên bộ sau khi Nga đã sáp nhập bán đảo Crimea của Ukraine vào năm 2014.

Bởi đó, ông Mattis nói "Quý vị Bộ trưởng, khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, tất cả chúng ta đều hy vọng. Biến cố năm 2014 đã đánh thức chúng ta thức dậy trước một thực tế mới: Nga dùng vũ lực để thay đổi biên giới của một nước lân bang có chủ quyền; trên biên giới Thổ Nhĩ Kỳ xuất hiện và nẩy sinh ra một loại khủng bố tàn ác, với ý định chiếm đoạt lãnh thổ và thiết lập một Caliphate (luật của đạo Hồi). Trong khi những biến cố này xảy ra ngay trước mắt chúng ta, thì một số trong liên minh này đã quay mặt nhìn sang chỗ khác, chối bỏ sự thực đã xảy ra."

Bên cạnh những điều ông Mattis nói, còn phải kể đến thái độ “quý tộc tháp ngà”, thờ ơ, và thụ động về an ninh quốc phòng của một số quốc gia Âu châu, như Bỉ là một điển hình.

Trong năm 2015, khủng bố Hồi giáo tấn công vào Paris làm rúng động thế giới với 130 người thiệt mạng và hàng trăm người bị thương. Pháp ra sức truy lùng thủ phạm. Hai ngày sau đó, một trong những kẻ khủng bố, Salah Abdeslam, đã thoát sang Bỉ và ẩn náu trong một ngôi nhà ở Brussels.

Nhưng Bộ trưởng Bộ Tư pháp của Bỉ, Koen Geens sau đó cho biết cũng có thể vì một đạo luật của Bỉ cấm cảnh sát không được phép lục soát tư gia từ 09:00 giờ tối đến 05:00 sáng hôm sau mà tên khủng bố này đã trốn thoát được.(6)

Và  Eric Van der Sijpt, phát ngôn viên của công tố viên liên bang ở Brussels, cũng cho biết Salah Abdeslam sẽ bị bắt nếu còn trong nhà, nhưng ông thừa nhận rằng "các khu vực và đường phố xung quanh đã không bị niêm phong trong đêm.”(6)

Tại ngay thủ đô của mình mà khi đối phó với chuyện an ninh nội địa còn như đang "ngủ gục" trong hàng quân, thì làm sao có thể tin cậy vào khả năng của những quốc gia như vậy trong những giờ phút sinh tử trước quân xâm lăng ngoại nhập?

Cũng nên biết, Brussels không những là thủ đô của Bỉ mà còn là Tổng hành dinh (Headquarters) của NATO và được xem là Thủ đô (the de facto capital) của Liên minh Âu châu.

Phản ứng từ các thành viên NATO tại Âu châu

Liên quan đến "tối hậu thư" của Hoa Kỳ, Tổng thư ký NATO ông Jens Stoltenberg đã tìm cách làm nhẹ đi bất cứ gợi ý nào cho rằng thông điệp của Mattis đã hình thành một mối đe dọa.  Ông nói rằng Hoa Kỳ đã chỉ thúc đẩy các đồng minh để giữ đúng theo cam kết. "Đây không phải là việc Hoa Kỳ bảo châu Âu gia tăng chi tiêu quốc phòng," ông Stoltenberg phát biểu tại một cuộc họp báo sau cuộc họp căng thẳng với Hoa Kỳ. "Đây là 28 đồng minh, toàn là những người đứng đầu nhà nước, mà tất cả đã ngồi vào cùng bàn trong năm 2014, và nhìn thẳng vào mắt nhau và đồng ý rằng chúng ta sẽ tăng chi tiêu quốc phòng.  Tôi hoan nghênh mọi áp lực, mọi hỗ trợ để bảo đảm điều đó xảy ra."(2)

Tuy nhiên có những người khác thấy thông điệp của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Mattis có mang một ý nghĩa khác. "Chúng tôi đã nhận được thông điệp. Trả tiền đầy đủ hoặc bị" đẩy ra, một nhà ngoại giao Âu châu, không muốn cho biết tên, đã nói. Ông đã dùng chữ tục để tả những gì mà Hoa Kỳ có thể làm. "Nếu hiểu theo nghĩa đen những gì ông ta (Mattis) nói, thì thực sự không có chuyện bảo đảm vô điều kiện về an ninh nữa."

Nhưng không phải mọi nhà lãnh đạo đều cảm thấy thông điệp của ông Mattis là khởi đầu cho một sự thay đổi lớn lao trong chính sách lâu nay của Hoa Kỳ là vẫn muốn các nước đồng minh gia tăng chi tiêu quốc phòng.

"Phải thành thực mà nói, chuyện đó cũng chẳng mới lạ gì," Bộ trưởng Quốc phòng Hoà Lan bà Jeanine Hennis-Plasschaert nói trong một cuộc phỏng vấn. "Chẳng qua là Mattis yêu cầu phải có định mức thành công (milestones). Vậy thì tất cả chúng ta sẽ về nhà và lo làm cho xong công việc." Theo bà, công luận ở Hoà Lan có ý kiến rất thuận lợi cho việc gia tăng kinh phí quốc phòng.

Đồng minh lâu đời là Anh thì đồng ý với đòi hỏi của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Anh quốc vẫn kêu gọi ông Trump tiếp tục duy trì sự cam kết với NATO.

Nhưng nỗ lực để gia tăng chi tiêu quốc phòng không chỉ là quyết định đơn phương của các chính quyền. Mà còn tùy thuộc rất nhiều vào cử tri, vốn ít dành ưu tiên cho quốc phòng.  Nhất là đối với các nước kinh tế yếu kém, thất nghiệp cao và phải cắt giảm ngân sách, thì tối hậu thư này còn là mối đe dọa cho họ.

Tại Tây Ban Nha, ngân sách quốc phòng còn kém hơn một nửa của mức đã cam kết với NATO là 2% GDP, nhưng con số thanh niên thất nghiệp đứng ở mức 42.9%. Nước Ý cũng phải đương đầu với những vấn đề tương tự.(9)

Tại Pháp, lãnh đạo phe cực hữu, Marine Le Pen, người có lần đã vọt lên hàng đầu trong cuộc thăm dò ý kiến cho cuộc tranh cử tổng thống Pháp vào tháng Tư sắp đến, cho biết bà ta muốn rút ra khỏi Bộ chỉ huy Quân sự Liên hợp của NATO (NATO’s integrated military command) "để Pháp không bị lôi cuốn vào những cuộc chiến tranh mà không phải là của riêng mình."(9)

Riêng Đức, mặc dù giàu có và kinh tế tăng trưởng đều đặn, chỉ tiêu quốc phòng vẫn ở mức 1.18% sản lượng kinh tế hàng năm, tính thành tiền là 39 tỉ Mỹ kim.  Chính quyền Đức đồng ý sẽ tăng đến mức 2% vào năm 2024. Dù vậy nhiều giới chức Đức cho rằng cũng khó thực hiện vì sau Thế Chiến thứ Hai, nhiều dân Đức bị "dị ứng" với việc quốc phòng.

Theo thăm dò trong tháng Hai, 2017, chỉ có 22% dân Đức tin rằng họ có thể tin tưởng Hoa Kỳ - so với 55% vào tháng Mười Một, 2016. Con số không chấp thuận chính sách của ông Trump lên đến 69%. Nhưng 80% vẫn tin rằng Liên minh Âu châu phải cộng tác mật thiết với ông Trump.(7)  

Tuy vậy dân Đức rất lo ngại trước việc Nga đã sáp nhập Crimea vào năm 2104. Trong một thăm dò vào cuối tháng 12, 2015, phần trăm số người trả lời ủng hộ việc gia tăng kích thước của quân đội Đức là 56%.(8)

Cũng nên ghi nhận, trước khi sang Âu châu, vào ngày 07/02/2017, ông Mattis đã họp riêng với bà Ursula von der Leyen, Bộ trưởng Bộ quốc phòng Đức, tại Pentagon. Sau khi họp, bà von der Leyen cho biết điều Hoa Kỳ đòi hỏi "là một yêu cầu hợp lý (fair request). Mọi người đều phải đóng góp.”(9)

Một Âu châu Tái quân bình và Tái phối trí

Trong năm 2016, Estonia và Ba Lan là 2 trong 5 quốc gia đạt mức ấn định chi tiêu quốc phòng. Và theo NATO, thì Latvia, Lithuania và Romania là các quốc gia cũng gần đạt đến mức quy định sau khi đã hoàn tất tổng kết của năm 2016.(10) Nhìn vào bản đồ Âu châu thì đa số các quốc gia này có chung bên giới với Nga.

Theo như phát biểu của ông Artis Pabriks, cựu Bộ trưởng Quốc phòng của Latvia, hiện đang trong Nghị viện châu Âu, thì "Trong trường hợp của Latvia, sẽ không cần phải chi tiền cho y tế và giáo dục nếu quốc gia của bạn không còn tồn tại.(9)   

Có lẽ đây là lý do chính yếu đã thúc đẩy các quốc gia nói trên phải rất chú trọng vào quốc phòng.  
chỗ trống

Nhìn từ quan điểm này, thì nếu Hoa Kỳ không còn hỗ trợ vô điều kiện và vì thế NATO sẽ không còn là một phòng tuyến vững chắc để che chở Âu châu, như hơn 50 năm qua, thì quốc gia đầu tiên phải lo chuyện "trang bị chuẩn bị" để đối đầu với một nước Nga hung hãn, có thể nói, sẽ phải là nước Đức.

Giữa Đức và Nga có một số "nước đệm" như Ba Lan, Ukraine. Nhưng trong lịch sử cận đại, các quốc gia này không có khả năng ngăn chận được sự xâm lăng từ Nga.  Vì vậy, trước viễn ảnh xe tăng của quân Nga sẽ lại có thể vượt qua các nước đệm láng giềng và tiến vào Bá Linh, chắc chắn sẽ làm cho nước Đức phải nghĩ đến chuyện tăng cường sức mạnh quân sự - hoặc theo một cách nói khiêu khích khác là “tái võ trang” - một khi NATO không còn là một rào chắn an toàn cho Đức.

Tại cao điểm của Chiến tranh Lạnh, quân đội Tây Đức có lúc lên đến hơn 500,000 người. Nhưng kể từ khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, quân đội Đức đã bị cắt giảm tới mức thấp nhất là 166,500 quân trong năm 2015.(12)  Tính đến ngày 09 tháng 2, 2017, quân đội Đức có 177,956 quân nhân.(13)

Hiện thời, chỉ nói đến tối hậu thư Mattis, thì xem ra cũng đã có ảnh hưởng. Vào ngày 21/02/2107, một ngày sau khi phó tổng thống Mike Pence lên tiếng thúc đẩy NATO gia tăng chi phí quốc phòng, Đức thông báo sẽ gia tăng quân số lên đến mức 198,000 quân trong vòng 7 năm sắp đến. Khi đó quân số của Đức sẽ lớn hơn quân số của Anh hiện đang có là 196,410 quân.(12)

Ngoài ra, trong tương lai một khi đáp ứng đúng theo như NATO quy định, ngân sách quốc phòng của Đức sẽ vọt lên đến khoảng 75 tỉ Mỹ kim mỗi năm, đưa đến kết quả là Đức có một quân đội lớn hơn cả Anh.(2)  Trở thành một thế lực quân sự mới tại Âu châu, Đức có rất nhiều tiềm năng sẽ là một đối trọng với Nga.

Tương tự, vì cách xa Nga, nước Pháp cũng không bị đe dọa nhiều trước việc bị Nga xâm lăng. Nhưng với một láng giềng đang gia tăng quốc phòng và lại có một quân sử oai hùng như Đức quốc, cũng như nhiều “thành tích” về chiến tranh với Pháp, thì việc Pháp quốc phải lo chỉnh bị khả năng phòng thủ của họ cũng không phải là việc quá xa vời.    

Việc lo tăng cường khả năng quốc phòng cho Pháp lúc đó sẽ không còn là việc "để Pháp không bị lôi cuốn vào những cuộc chiến tranh mà không phải là của riêng mình" như bà Le Pen, một lãnh tụ cực hữu của Pháp, đã tuyên bố. Mà đó chính là để lo cho quyền lợi thiết thân của nước Pháp, trước một nước Đức đang phục hồi sức mạnh quân sự.

Như đề cập bên trên, bắt đầu từ sự "tái võ trang" của Đức - dù trong một quy mô có giới hạn, vẫn có thể sẽ tạo ra một phản ứng dây chuyền đưa đến việc tăng cường khả năng quân sự của các quốc gia khác tại Âu châu.  

Hiểm họa to lớn trước đây của NATO là một đế quốc Liên Xô, thì nay đế quốc này đã bị sụp đổ.  Hậu thân của Liên Xô là Nga vẫn còn là một đe dọa đáng kể cho NATO. Nhưng chính Nga cũng đang trong tình trạng khó khăn, nhất là về kinh tế.
Riêng Âu châu ngày nay không còn bị thương nặng như thời năm 1949 sau Thế Chiến thứ Hai. Mà là một Âu châu cường thịnh. Một khi khả năng quốc phòng của Âu châu được gia tăng đúng mức, và nếu không hoàn toàn kềm giữ được Nga, thì Âu châu cũng phải có đủ khả năng tự vệ và giảm thiểu được sự phụ thuộc quân sự vào Hoa Kỳ.

Mặt khác, với những khó khăn nan giải trong nội bộ, Hoa Kỳ ngày nay cũng không còn đủ khả năng để gánh vác phần lớn việc bảo vệ các đồng minh.

Gộp chung các yếu tố này lại để lượng định, thì việc Hoa Kỳ muốn "tái quân bình" cán cân đóng góp với đồng minh NATO cũng là một chuyện sẽ phải xẩy ra.

Có thể nói khi NATO hoàn tất việc tái hiệu chỉnh trách nhiệm của họ tại Âu châu, thì điều đó sẽ giúp cho Hoa Kỳ tránh được việc phải mang vác một hành trang quá tải trong một cuộc hành quân dài hạn.

Hoa Kỳ và những thách đố mới

Nhằm tạo thêm áp lực lên những thành viên còn miễn cưỡng, hôm 20 tháng 2, 2017, Phó Tổng thống Pence đã nói là NATO có đến cuối năm nay để cho thấy "tiến bộ thực sự" về mặt chi tiêu.  Đồng thời ông cũng nói rằng tối hậu thư của Trump cũng vẫn còn mang tính cách "giả thuyết" (hypothetical).(10)

Khi được hỏi chuyện gì sẽ xẩy ra nếu Âu châu không chi tiêu nhiều hơn vào quốc phòng, Phó Tổng thống Mike Pence, cũng chỉ nói: "Tôi không biết sẽ trả lời như thế nào cho phần (không chi phí thêm) ‘thì sẽ ra sao (or else)’. Nhưng tôi biết rằng sự kiên nhẫn của người dân Hoa Kỳ sẽ không kéo dài vô giới hạn.”(10)  

Chắc chắn sẽ có những luận bàn về việc Hoa Kỳ có dám thay đổi chính sách ngoại giao đối với châu Âu qua NATO, hay vẫn cũng chỉ là hù dọa suông như những năm qua? Hoặc bi quan hơn nữa là liệu Hoa Kỳ có dám bỏ rơi NATO hay không?

Vấn đề đáng được đặt ra sẽ phải nên là: Liệu Hoa Kỳ có còn đủ khả năng (và thiện chí) để gồng gánh mãi một NATO càng ngày càng cồng kềnh, kém hiệu năng và có không it thành viên thờ ơ với sự an ninh của chính quốc gia họ?

Những cọ sát căng thẳng đang xẩy đến giữa Hoa Kỳ và NATO, có thể tóm gọn lại qua lời phát biểu vào ngày 21 tháng Hai, 2017 của Bà Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc, Nikki Haley, là Washington đang làm việc để làm cho NATO được "hiệu quả hơn"!

Tưởng cũng nên nhắc đến bài diễn văn đầu tiên của Tổng thống Trump trình bày trước lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ vào ngày 28 tháng 02, 2017. Trong đó, ông Trump đã nói rõ: “Công việc của tôi không phải là đại diện cho thế giới. Công việc của tôi là đại diện cho Hoa Kỳ.” (My job is not to represent the world. My job is to represent the United States of America.)

Với một Trung Hoa càng ngày càng phát triển và đang trở thành một thách đố cho Hoa Kỳ trong vài trò lãnh đạo thế giới, thì phần khá chắc chắn là Hoa Kỳ sẽ phải đặt thêm rất nhiều sự chú tâm vào quốc gia này.

Ngày 17/01/17, tại Hội nghị hàng năm của World Economic Forum, tại Davos-Klosters, Thụy Sĩ, trong bài diễn văn đọc vào ngày khai mạc, Chủ tịch Tập Cận Bình đã miêu tả Trung Hoa như là quốc gia lãnh đạo của một thế giới được toàn cầu hóa, nơi chỉ có sự hợp tác quốc tế mới có thể giải quyết những vấn đề lớn.

Ngày 23/1/2017, tại cuộc họp với giới báo chí ngoại quốc về chuyến thăm viếng Thụy Sĩ của Tập Cận Bình trong tuần trước đó, một viên chức cao cấp của Bộ Ngoại giao Trung Hoa Zhang Jun cho biết Trung Hoa không muốn lãnh đạo thế giới, nhưng có thể bị bắt buộc phải giữ vai trò này nếu những người khác lùi trở lại từ vị trí đó.(14)

Những luận cứ như vậy chỉ là một cách nói "gợi ý" trên mặt ngoại giao để bày tỏ ý muốn lên giữ vai trò lãnh đạo thế giới của Trung Hoa. Không chỉ qua lời nói mà còn bằng những hành động trong lãnh vực kinh tế và quân sự, Trung Hoa đã cho thấy, mặc dù chưa dám ngang nhiên thách thức Hoa Kỳ, họ vẫn đang nỗ lực xây dựng sức mạnh để thay thế Hoa Kỳ trong vai trò lãnh đạo thế giới.

Hơn bao giờ hết Hoa Kỳ phải tập trung vào Á Châu và Á Châu Thái Bình Dương.

Và những vấn đề chiến lược này sẽ không còn chỉ bị giới hạn vào Tổng thống Donald Trump, với tối đa là hai nhiệm kỳ tổng thống, mà đó sẽ là một vấn đề của cả toàn thể quốc gia Hoa Kỳ phải đối phó và thực hiện lâu dài trải qua nhiều thời tổng thống.
 Trần Trung Tín
Ngày 07/3/2017

Tài liệu tham khảo:
  1. Http://www.dw.com/en/merkel-germany-to-heavily-increase-bundeswehr-budget/a-36054268

NOTE: Tác giả Trần Trung Tín là cộng tác viên thường trực của đặc san Lâm Viên online tại www.dslamvien.com.