Search This Blog

Wednesday, March 20, 2019


Wednesday, March 20, 2019

Chết Sang Hay Chết Rẻ Tiền - Nguyễn Hữu Chi


Bài viết này đã được phổ biến nhiều lần . Nhưng đọc lại vẫn thấy hay và thấm thía . Nếu không nhiều thời giờ cũng ráng nên đọc các đoạn cuối .
Ðời này ai dại , ai khôn ? 
Sống mặc áo rách , chết chôn áo lành .

Ðược tin ông bạn già bất thình lình ra đi , tôi vội mang vòng hoa đến chào từ biệt . Ông bạn tôi mặc bộ đồ rất đẹp , bình thản nằm đó . Tôi mừng thầm cho ông bạn đã ra đi 1 cách nhẹ nhàng trong lúc đang ngủ ngon lành . Sau đó , trên đường lái xe về nhà , tôi suy tư về khoảng thời gian còn lại trong đời tôi . Dù sao năm nay tôi đã trên 70 tuổi đầu rồi . Theo thống kê ở Canada , người đàn ông trung bình có thể sống tới năm 76 tuổi mới được phép ngao du vùng tiên cảnh . Có nghĩa là tôi còn có thể sống được chừng 5 năm nữa . Vì thế , tôi nghĩ rằng đã đến lúc tôi phải phác hoạ ngay 1 chương trình ngũ niên cho tôi , kẻo lúc ra đi lại tiếc rẻ khôn nguôi .

Cũng may hiện nay tôi vẫn còn khoẻ mạnh, tiền hưu trí cũng đủ để phè phỡn với đời . Vấn đề quan trọng bây giờ là phải phè phỡn làm sao cho phải đạo ? Chuyện ong bướm ư ? Mục này tôi không còn khả năng để đụng tới . Những người đến tuổi sắp ra đi như tôi không nên quá tham lam . Chúng ta hãy để đám con cháu có dịp thi thố tài năng , không nên tranh dành với thế hệ trẻ . Biết nhường nhịn như vậy mới được người đời kính nể .

Ðối với tôi , ăn uống cũng không còn là 1 mục khoái lạc đáng để ý tới . Có mấy cái răng hàm thì rụng gần hết , huyết quản thì bị mỡ bám đầy , máu thì ngọt như mật ong . Theo tôi nghĩ , ông Trời cho mỗi người 1 số lượng đồ ăn nhất định để sinh sống trong suốt cả cuộc đời của mình . Người nào dùng hết khẩu phần của mình là phải ra đi . Ông Trời đâu có cho phép chúng ta kéo dài cuộc sống để ăn ké vào khẩu phần của người khác . Nói tóm lại , ăn nhiều , ăn nhanh , ăn mạnh , vét cho sạch nồi cơm , không phải là bí quyết trường sinh . Các bác sĩ ở các nước Âu Mỹ cũng đã nhận ra điều này , nên đã luôn luôn khuyên già trẻ cũng như nhớn bé phải ăn uống chừng mực . Hơn nữa , chúng ta cũng đã từng được nghe các cụ nhắc nhủ nhiều lần : Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn , hoặc tham thì cực thân , Phật đã bảo thầm thì chớ có tham [ ăn ] .

Thế là tôi đã mất 2 trong 4 mục khoái lạc mà người đời gọi là tứ khoái . Sau cùng , tôi chỉ còn thấy có 2 thú vui hợp với túi tiền và sức lực của tôi : đó là đọc sách , và đi du lịch . Tôi thấy , đi ngao du những nơi danh lam thắng cảnh là thuận tiện nhất : ban ngày thì đi viếng cảnh đó đây , tối về khách sạn ngồi đọc sách . Ðối với người có tuổi như tôi , thời giờ rất là cấp bách , làm công đôi ba việcnhư vậy mới tranh thủ được thời gian . Thế là 2 vợ chồng tôi bàn nhau đi ngao du vùng nắng ấm để trốn mùa lạnh ở Canada . Ôi , mùa Đông ở xứ tình nồng này , sao mà lạnh thế ! Càng về già , tôi càng cảm thấy lạnh , lạnh từ ngoài vào tới tận đáy lòng con người .

Tối hôm đó , tôi chui vào mền nằm nghĩ đến ngày mai tới Miami sưởi nắng … Ðang say sưa mơ màng thì vợ tôi đánh thức :
– Dậy đi anh . Ðến giờ ra phi trường rồi , máy bay không đợi anh đâu . Em đã chọn cho anh 1 bộ quần áo rất đẹp để mặc đi đường .
Bỗng nhiên tôi nhớ đến ông bạn già của tôi đã được Nhà Ðòn mặc cho 1 bộ quần áo rất đẹp trước khi lên xe ra đi . Tôi nhìn vợ tôi xếp quần áo của tôi vào va-li , tôi vội hỏi :
– Ủa , em không đi cùng với anh hay sao ?
– Em còn bận công việc nên đành phải ở lại . Anh đã đến tuổi có quyền được đi ngao du , nay đây mai đó . Anh cứ đi chơi thanh thản là em mừng rồi .

Cuối cùng tôi đành phải lên xe taxi ra phi trường 1 mình . Tôi quay đầu nhìn lại mái nhà thân yêu của tôi cho đến khi nó mờ dần sau màn tuyết trắng , mầu trắng tang tóc làm tôi khẽ rùng mình . Phải chăng kẻ ra đi thường nghĩ tới kẻ ở lại ?

Quả thiệt máy bay không đợi tôi . Tôi vừa ngồi xuống ghế thì máy bay bắt đầu cất cánh . Lòng tôi buồn rời rợi vì tôi đang bay về vùng nắng ấm trong khi họ hàng thân yêu tôi còn phải ở lại vật lột với băng tuyết từ Bắc Cực ù ù thổi về . Khi máy bay hạ cách xuống phi trường Miami , xe của hãng du lịch đã chờ sẵn để đưa tôi về khách sạn RIP ( Resort of International Peace , mà tôi tạm dịch làLưu Xá Hoà Bình Thế Giới ) . Mới nhìn thoáng qua tôi đã nhận thấy phong cảnh thành phố này quả có đẹp , đúng như những bích trương quảng cáo du lịch đã trình bày . Hai bên đường là những cây cao vời vợi , cành lá um tùm . Xung quanh khách sạn của tôi là những biệt thự xinh xắn nằm sau những hàng rào hoa đủ mầu đủ loại .

Ngồi uống trà trong vườn của khách sạn , tôi thoải mái nghe chim hót líu lô và nhìn mấy con bướm bay tung tăng trong nắm ấm . Một lát sau , người hướng dẫn du lịch mời tôi lên xe đi xem phong cảnh thành phố . Ðó là 1 chiếc xe buýt chở chừng 50 du khách đủ loại người . Ða số là người có tuổi như tôi , nhưng cũng có vài người rất trẻ . Ngoài 1 số người Mỹ ra , tôi còn nhận thấy vài người ngoại quốc mặc quần áo cổ truyền của nước họ . Ông tài xế cho biết là xe sẽ dừng nhiều nơi nổi tiếng trong thành phố , du khách có thể xuống bất cứ chỗ nào để tham quan , 1 giờ sau đó xe sẽ trở lại đón để đưa đi thăm viếng nơi khác , hoặc chở về khách sạn RIP .

Xe đi vòng vòng trong thành phố và vùng ngoại . Xe ngừng nhiều nơi nổi tiếng của vùng này : có những khu biệt thự sang trọng lộng lẫy , có những bãi cát vàng óng ả chạy dài xuống biển xanh mầu ngọc thạch , có những trung tâm thương mại xầm uất … Mỗi khi xe ngừng lại , thì có vài du khách tíu tít xuống xe . Khi xe tới Tropical Garden ( Vườn Bách Thảo Nhiệt Ðới ) , tôi bèn xuống xe vì muốn sống lại trong khung cảnh xanh tươi của Đất Nước tôi khi xưa . Tôi sung sướng khi thấy lại những cây đa cổ thụ cao ngất từng mây , những cành hoa phượng vĩ rực rỡ dưới nắng chan hoà , những con chuồn chuồn vui đùa giữa những cụm bông sen trên mặt hồ phẳng lặng …

Tôi đang thẩn thơ hưởng khung cảnh tĩnh mịch gần như thoát tục , thì bỗng nhiên nghe có tiếng người gọi tên tôi . Quay lại thì thấy anh Tùng , người bạn chí thân của tôi từ ngày học Đệ Thất . Ðã hơn 40 năm rồi bây giờ mới lại gặp nhau . Chúng tôi bắt tay nhau thiệt lâu , mừng mừng tủi tủi . Chúng tôi dạo chơi dưới bóng mấy cây liễu già bên hồ , kể lại cho nhau nghe những kỷ niệm vui buồn khi xưa . Sau khi học hết bậc Trung Học , anh Tùng đi động viên , nay đây mai đó , theo tiếng súng của thời cuộc ở nơi tiền tuyến . Còn tôi được may mắn được đi ngoại quốc du học . Tuy vậy , chúng tôi vẫn liên lạc mật thiết với nhau bằng thư từ . Lá thư cuối cùng của anh tôi nhận được hồi cuối năm 1967 . Trong thư anh cho tôi biết là anh đang hành quân ở Quảng Trị , và trong vài tuần nữa anh được nghỉ phép để về Cần Thơ ăn Tết và nhân tiện cưới vợ luôn 1 thể . Thế rồi trận Mậu Thân bất thình lình xẩy ra . Từ đó tôi không nhận được tin tức gì về Anh . Tôi cho rằng Anh đã bị tử trận . Bây giờ lại gặp được Anh , Tôi mừng muốn khóc . Trong khi đi bách bộ trong vườn , chúng tôi nói chuyện huyên thuyên , không để ý đến thời gian . Ðến lúc xe buýt tới , chúng tôi đành phải chia tay nhau . Tôi lên xe ra đi . Anh ở lại vì anh muốn tiếp tục cuộc du ngoạn trong vườn mà anh ví như vườn Tao Ðàn ngày xửa ngày xưa , nơi mà chúng mình thường tới chơi trong những giờ trốn học . Bắt tay anh , tôi hẹn với Anh ngày tái ngộ . Anh cười vui vẻ , rồi thốt ra 1 câu triết lý bâng quơ :
– Vũ trụ này thực ra bé nhỏ lắm , chúng mình đi loanh quanh , luẩn quẩn , mãi rồi sẽ có ngày cũng lại gặp nhau .

Ðến lúc lên xe chạy ra ngoài phố , tôi mới sực nhớ là đã quên hỏi địa chỉ của Anh . Tuổi già lẩm cẩm , hay quên . Thiệt là vô tích sự !
Xe chạy vào khu ăn chơi buôn bán nổi tiếng trong vùng . Tôi tò mò xuống xe đi xem cảnh ngựa xe như nước , áo quần như nêm . Ðường phố đông nghịt những người . Họ đi ngắm nhau , hoặc ngắm những hàng hoá đắt tiền bầy trong tủ kính . Tôi mỉm cười nhìn 1 bà Mỹ to béo đang chăm chú nhìn 1 bộ áo dạ hội mỏng dính với bảng giá Special Sale : 299,95 dollars . Tôi cảm thấy tội nghiệp cho cái cái cối xay đang bị thôi miên bởi cái áo hớ hênh , vừa hở lưng đằng sau , vừa hở rún đằng trước . Ðã thích ăn cho mập xù , lại còn thích mặc quần áo khiêu gợi ! Ðang ngẫm nghĩ về cái ham muốn quá đáng của con người , thì tôi đã bước tới trước cửa 1 tiệm kim hoàn . Tôi đứng ngắm những vòng ngọc đủ mầu , những dây chuyền vàng chạm trổ tinh vi , những chuỗi hạt trai sáng rực dưới ánh đèn trong tủ kính . Bỗng nhiên có tiếng ồn ào trong tiệm , rồi có bóng 1 thanh niên chạy vọt ra ngoài , đằng sau là những tiếng hô hoán ầm ĩ . Hai tiếng súng nổ liên tiếp làm tôi giật mình quay lại . Tôi thấy 1 cô Cảnh Sát cầm súng thản nhiên đứng nhìn người thanh niên đang nằm quằn quại trên vũng máu , tay còn nắm chiếc đồng hồ vàng nạm kim cương . Khách bộ hành tò mò nhìn cảnh chết chóc như đang xem chương trình Miami Vice trên ti-vi . May sao vừa lúc đó thì xe buýt của hotel tới , tôi vội chạy lên xe , để trốn cảnh si mê và tàn bạo .

Xe ngừng bánh nhiều nơi cho du khách xuống du ngoạn . Nhưng tôi vẫn ngồi yên trên xe vì tôi thấy mất hết cảm hứng đi ngắm cảnh phồn hoa giả tạo . Cuối cùng xe cũng về tới khách sạn RIP khi thành phố bắt đầu lên đèn . Tôi mệt mỏi xuống xe và rất ngạc nhiên khi thấy bố mẹ tôi mừng rỡ chạy ra đón tôi , và ôm tôi vào trong lòng . Mẹ tôi vỗ về tôi , rồi nhẹ nhàng trách tôi :
– Con mải đi chơi ở đâu mà mãi bây giờ mới về , làm Bố Mẹ mong chờ .
Tôi cảm thấy hối hận vô cùng , tôi gục đầu vào vai Mẹ tôi khóc nức nở như ngày tôi còn bé …

Bỗng nhiên Tôi nghe văng vẳng có tiếng gọi Tôi :
– Dậy đi Anh . Anh nằm mơ cái gì mà khóc lóc thảm thê vậy ?
Tôi chợt bừng tỉnh , nước mắt hãy còn rỏ xuống gối . Sau đó , tôi nghĩ nhiều lắm . Tôi nghĩ đến ông bạn già của tôi mặc bộ quần áo rất đẹp đang nằm trong nhà quàn . Tôi nghĩ đến chuyến du ngoạn mà tôi đã thực hiện được trong giấc mơ . Tôi nghĩ đến giờ phút kỳ lạ cho phép tôi gặp lại những thân nhân của tôi đã bỏ tôi ra đi lâu lắm rồi . Tôi nghĩ đến cái sống và cái chết . Sau khi tôi ra đi ,tôi sẽ đi về đâu ? Là người trần mắt thịt , làm sao tôi biết được . Chỉ những chuyên gia nghiên cứu về linh hồn hay duyên kiếp mới biết rõ ràng những chuyện gì chắc chắn sẽ xẩy ra khi chúng ta sangbên kia thế giới . Những vị này thường cho chúng ta biết rằng : sau khi chết đi , con người sẽ khốn khổ lắm nếu không biết thành kính thờ phụng Chúa hoặc ra chùa tụng kinh giải oan . Có người lại nghĩ rằng sau khi chết đi , con người sẽ trở thành cát bụi , chứ không đi đâu hết . Trái lại , giấc mơ kỳ lạ mà tôi đã trình bày ở trên làm cho tôi nghĩ rằng cuộc sống cũng như sự chết không khác gì 1 cuộc ngao du . Linh hồn chúng ta có thể là 1 hành khách trên 1 chuyến xe buýt du ngoạn . Xe buýt tới thì ta phải lên xe ra đi . Làm sao mà biết được xe sẽ ngừng ở nơi nào . Khi xe tới trạm , ta phải xuống . Trạm xe bus có thể là 1 khu Vườn Nhiệt Ðới , có thể là 1 trung tâm thương mại phồn thịnh giả tạo đầy si mê và tội lỗi , có thể là 1 khu tối tăm , nghèo nàn , có thể là 1 ổ trộm cướp đầy sì ke , ma tuý …

Nếu cho sự chết là 1 du ngoạn , tại sao chúng ta không sửa soạn cuộc ra đi của chúng ta cho chu đáo . Khi chúng ta vượt biên , chúng ta sửa soạn rất kỹ càng . Nhưng khi chúng ta đến tuổi phải ra đi , chúng ta lại không tính toán như người vượt biên , dù rằng chúng ta vẫn còn đủ tỉnh táo để sửa soạn cuộc ngao du của chúng ta . Chúng ta không chịu sửa soạn trước khi ra đi vì chúng ta sợ chết , nên chúng ta không dám nghĩ đến cái chết cho đến khi chúng ta thở hơi cuối cùng . Thế là chúng tathẩy trách nhiệm đó cho những người thân thiết có nhiệm vụ cáng đáng thân xác của chúng ta . Trong lúc tang gia bối rối , người nào càng thân thiết với chúng ta bao nhiêu , thì lại càng bối rối bấy nhiêu . Khi bối rối như vậy , làm sao họ có thể tính toán 1 cách hợp lý được . Kết quả là người thương yêu của chúng ta sẽ bị các Nhà Ðòn lợi dụng triệt để . 

Chuyện này rất dễ hiểu : vì thương tiếc người ra đi , nên những người thân thích tưởng rằng càng tiêu nhiều tiền cho chuyện ma chay bao nhiêu , thì người ra đi càng sung sướng bấy nhiêu . Thiệt là nhầm to . Những bài kinh giải thoát , những sớ cầu siêu không hoá giải được những tội lỗi của con người . Một cuộc mai táng huy hoàng không làm cho người ra đi được mát mặt thêm 1 chút nào . 

Tuy vậy , những người thân thích luôn luôn muốn có 1 đám tang thiệt là linh đình và tốn kém để tỏ lòng thương tiếc của mình đối với người ra đi . Trong trường hợp này , người ra đi chỉ còn biết thở dài ( sau khi thở hắt ra ) . Rồi người đến viếng cũng muốn mua 1 vòng hoa thiệt to , thiệt đắt tiền để tỏ tình bạn hữu với người ra đi và nhất là để chứng minh cho bà con lối xóm biết rằng mình làngười đàng hoàng , có thuỷ , có chung . Thấy cảnh này , người ra đi cũng lại thở dài , chỉ muốn thốt ra câu từ biệt : Này bạn ơi , đã quá trễ rồi . Sẽ có ngày tái ngộ , và tức cảnh làm bài thơ như sau :
Khi một thằng nằm xuống
Lại có thằng luống cuống đứng lên
Vái lạy thằng nằm xuống
Hy vọng khi mình nằm xuống
Lại có thằng khác luống cuống đứng lên .

Ðiều mà chúng ta biết chắc là đa số những người sắp ra đi đều lo lắng thiết tha cho người ở lại , và nghĩ rằng mình còn có thì giờ thu xếp mọi việc trước khi ra đi . Tiếc thay , khi xe buýt bất thình lình tới đón đi ngao du , chúng ta vội vàng lên xe nên không giúp gì cho những người ở lại . Trong khi đó , người ở lại đau đớn muôn phần . 

Khi bố mẹ tôi lần lượt qua đời , 1 mình tôi ở lại , tôi lịm người đi vì thương tiếc . Rồi khi tôi loáng thoáng được tin anh bạn chí thân của tôi bị tử thương , tôi buồn ngẩn ngơ , tội nghiệp cho số phận long đong của người trai thời loạn . Tôi bối rối vì tôi cảm thấy hối hận vì tôi cho rằng mình đã cư xử không đầy đủ tình nghĩa đối với người ra đi , không có dịp tổ chức 1 đám táng trọng thể đưa người quá cố sang Bên Kia Thế Giới . Ngoài ra , trong thâm tâm , tôi cảm thấy lo sợ vì không biết những thân nhân của tôi sẽ đi về đâu : có được về với Chúa không ? có thoát khỏi vòng nghiệp chướng hay không ? Ðó là những phản ứng tự nhiên của những người ở lại . Vì thế , chúng ta thường thấy những vụ ma chay linh đình để người ở lại có dịp trả nghĩa đối với người ra đi ( thàtrả nghĩa trễ hạn , còn hơn là bị mang tiếng bạc tình , bạc nghĩa ) . Chúng ta lại còn thấy trong những cuộc cúng lễ nguy nga , mọi người thiết tha cầu xin Trời hay Phật giúp người ra đi được lên Thiên Ðàng hay vào Cõi Niết Bàn . Mọi tín đồ đều biết chắc chắn rằng 1 linh hồn đầy tội lỗi khó có thể siêu thoát được nếu thân nhân không thành khẩn cầu xin Ðấng Tối Cao nhủ lòng khoan hồng đại lượng với người ra đi ! Phải chăng vì chúng ta nghĩ rằng cái quá khứ của người ra đi thiếu đạo đức , nên chúng ta mới phải làm lễ cầu siêu cho người ra đi như vậy ? Thiệt là tội nghiệp cho ngườira đi : Ðã nằm xuống rồi mà còn bị người đời gán cho cái tội thiếu đạo đức .

Nói cho cùng , người ở lại đáng thương hơn người ra đi . Trong khi người ra đi thản nhiên nằm đó , thì người ở lại không những bị xúc động tinh thần mà còn phải xả thân cáng đáng công việc tiễn đưa người ra đi . Vì thế , tôi không thắc mắc về việc tôi sẽ ra đi , nhưng tôi nghĩ rất nhiều , và lo lắng rất nhiều cho người ở lại . Tôi muốn người ở lại khỏi phải quàng lên vai 1 gánh quá nặng nề về tinh thần cũng như vật chất khi tôi nằm xuống . Có lẽ ít người nghĩ như tôi và làm như tôi , vì đến lúc gần ngày tận số , mỗi người nghĩ 1 kiểu , và người nào cũng cố gắng làm những việc mà mình cho rằng thoả đáng nhất . Do đó , tôi không dám khuyên ai . Những điều tôi trình bày sau đây chỉ là 1 thí dụ không điển hình , 1 lối nhìn đời không giống ai .

Trước hết , tôi không muốn những bạn bè thân thuộc tôi quá u sầu về chuyến ngao du của tôi . Do đó , tôi đã trình bày cho mọi người biết rằng khi chuyến xe buýt tới , tôi sẽ thản nhiên ra đi như tất cả mọi người khác đã từng ra đi . Tôi sẽ đi về đâu ? Có lẽ tôi sẽ về với Bố Mẹ tôi . Có lẽ tôi sẽ ngao du vùng tiên cảnh cùng với bạn bè tôi . Dù sao đi chăng nữa , tôi không cần biết tôi sẽ đi đâu , vì có biết hay không biết thì tôi và những người thân thuộc của tôi cũng chẳng làm được gì cả .

Sau đó , việc tôi phải làm trước khi ra đi là sửa sang lặt vặt trong nhà , vì vợ tôi không phải là 1 người khéo tay biết sửa chữa nhà cửa . Ngoài ra , những gì của tôi mà tôi thấy không cần dùng cho bản thân tôi hoặc cho người ở lại , tôi mang đi cho người khác , hoặc đổ vào thùng rác . Khi tôi quẳng đi gần 2 ngàn quyển sách của tôi , tôi cảm thấy nhẹ nhõm trong người . Trái lại , vợ tôi rất xúc động , và hỏi tôi :
– Những cuốn sách này là kỷ niệm gần 40 năm dạy học , tại sao anh vất đi ?
– Anh không cần nữa .
– Thì cứ để đấy , đôi khi anh muốn đọc lại thì sao ?
– Ðọc đi , đọc lại làm gì ? Người ta lại tưởng rằng anh dốt , học mãi mà chưa thuộc bài .

Sau khi dọn dẹp nhà cửa , tôi bắt đầu nghĩ đến phí tổn chôn cất . Tôi thấy ở Ottawa mấy gia đình mà tôi quen biết đã chi phí trên 15 ngàn dollars cho mỗi vụ ma chay . Tôi tính nhẩm trong đầu thì thấy rằng chỉ trong vài chục năm nữa , cộng đồng người Việt ở Ottawa ( hơn 4 ngàn nhân mạng ) sẽ phải chi cho Nhà Ðòn và nghĩa địa 1 tổng số vào khoảng 60 triệu dollars ( không kể tiền chi cho các vị tu sĩ cúng lễ , cùng tiền bạn bè bỏ ra mua hoa phúng viếng ) . Như vậy , phí tổn ma chay cho nửa triệu người Việt đang sinh sống ở Bắc Mỹ sẽ lên tới gần 8 tỷ dollars . Thiệt là oai hùng ! Thiệt là vĩ đại !

Ðể biết rõ chi tiết của vấn đề , tôi bèn mời 1 đại diện Nhà Ðòn quen biết ở Ottawa tới bàn chuyện ma chay cho tôi . Ông tiếp thị (salesman) , quần áo chỉnh tề , mặt trang nghiêm và đầy kính cẩn , ăn nói nhẹ nhàng và từ tốn trong khi trình bày giá cả cho tôi nghe . Tập tài liệu về giá biểu in rất đẹp như tờ thực đơn của 1 tiệm ăn sang trọng ở Paris (5 Sao) . Ðiều quan trọng mà mọi người nên biết là người mua không được kỳ kèo về giá cả , vì Nhà Ðòn làm ăn đàng hoàng trước sau như một .

Tôi đọc kỹ tờ giá biểu , rồi tham khảo với các bạn bè , tôi thấy rõ phí tổn nặng nề mà người ở lạiphải chi cho Nhà Ðòn ở Canada ( có lẽ cũng tương tự như ở bên Mỹ ) . Ðể có 1 thí dụ cụ thể , tôi xin liệt kê sau đây các món hàng căn bản mà Nhà Đòn Tubman đã trình cho tôi :
( 1 ) Dịch Vụ Chuyên Môn ( Professional Services )
• 900 USD – dịch vụ do các chuyên viên Nhà Ðòn cung cấp ( professional and support staff services ) ;
• 250 USD – giấy tờ lên quan đến vấn đề khai tử ( documentation ) ;
• 125 USD – dịch vụ ở nghĩa địa hoặc công việc trao lọ đựng tro cho thân nhân ( gravesides service or delivery of urn as arranged ) .

( 2 ) Dịch Vụ Chăm Lo Người Ra đi ( Prrofessional Care of Deceased )
• 200 USD – tắm rửa và làm vệ sinh cho người ra đi ( sanitary care of deceased ) ;
• 570 USD – ướp xác và trang điểm người ra đi ( embalming and cosmetology of deceased ) .

( 3 ) Phòng Ốc Và Dụng Cụ
• 400 USD – xử dụng Nhà Ðòn ( basic use of funeral home ) ;
• 990 USD – xử dụng phòng thăm viếng , phòng làm lễ và những dụng cụ ( visitation room , chepel , and/or service equipment ) ;
• 225 USD – xử dụng phòng sửa soạn và gìn giữ xác người ra đi ( use of facilities for preparation of deceased and/or shelter of remains ) .

( 4 ) Xe Cộ Và Vận Chuyển ( Automotiles & Transportation )
• 295 USD – chuyển xác về Nhà Ðòn ( transfer from place of death ố radius 40 km ) ;
• 200 USD – xe cộ cần dùng cho các nhân viên Nhà Ðòn ( vehicles required for administrative tasks , clergy , funeral director ) ;
• 270 USD – xe chở quan tài ra nghĩa địa ( funeral coach ) ;
• 125 USD – xe limousine chở thân nhân .
Chi phí căn bản cho Nhà Ðòn là  5 604,03 USD ( gồm cả thuế ) .

( 5 ) Chi Phí Cho Thành Phố
• 75 USD – khám nghiệm tử thi .
• 52 USD – thuế vệ sinh cho thành phố .

( 6 ) Phí Tổn Mai Táng
• 3 700 USD ( trung bình ) – Tiền mua quan tài tuỳ theo loại sang hay hèn , đúng theo giai cấp : từ thứ rẻ nhất là vải quấn xác ( 890 USD ) cho tới quan tài rẻ tiền bằng gỗ ván ép ( 1 ,695 USD ) , tới loại quan tài vừa đẹp vừa bền dành cho các nhà giầu thích sài sang ( 11 000 USD ) ;
• 5 500 USD – Tiền mua chỗ An Nghỉ Ngàn Thu ( RIP – Rest In Peace ) tại nghĩa địa : miếng đất to hơn cái giường đáng giá khoảng chừng 5 500 USD ;
• 1 000 USD – Tiền dựng mộ bia tuỳ theo túi tiền của mỗi người ( từ 1 000 USD cho tới 5 000 USD , hoặc nhiều hơn nữa ) .
Chi phí mai táng trung bình khoảng chừng 13 000 USD .
Tôi đọc tờ giá biểu thấy nhân dân ta bị Nhà Ðòn và Nhà Nước làm tiền 1 cách rất là quy củ . Không những thế , ông tiếp thị lại còn khuyến khích tôi mua nhiều món hàng khác vừa đắt tiền , vừa … vô dụng . Tôi bèn chặn lại với 1 câu hỏi rất ư là rẻ tiền :
– Mai táng kiểu nào rẻ tiền nhất ?
Hắn ngỡ ngang vì đang rao hàng thì bị cụt hứng . Nhưng ngay sau đó , hắn mỉm cười , rồi nhìn tôi 1 cách rất ư là đại lượng :
– Ông thích chơi trò rẻ tiền thì ông nên chọn con đường hoả táng , vì ông sẽ không mất tiền chi phí chôn cất và mua đất ở nghĩa địa .
– Ngoài tiền hoả táng ra , còn có mục chi phí nào khác nữa không .
– Có chứ . Thân xác của ông sẽ được tắm rửa , thoa son đánh phấn , và được đặt trong 1 cỗ quan tài thiệt đẹp . Chúng tôi sẻ tổ chức linh đình cho ông . Ai trông thấy nằm đó cũng phải thèm cái địa vị của ông .
– Nếu tôi thích đi con đường hoả táng , thì tôi đâu có cần mua quan tài làm gì cho tốn tiền ?
Lần này hắn nhìn tôi 1 cách khinh thường ra mặt , và nói với 1 giọng mỉa mai :
– Ông cũng cần phải được trang điểm và nằm trong 1 cỗ quan tài đàng hoàng khi bạn bè thân thuộc đến thăm viếng ông lần cuối cùng . Trưng bày thân xác ra như vậy mới là người đàng hoàng chứ ! Tuy nhiên , nếu ông thích bủn xỉn , thì cũng không sao . Chúng tôi cũng có thể chiều ông được . Ðáng lẽ ông mua 1 cỗ quan tài rẻ tiền , ông có thể thuê 1 cỗ quan tài sang nhất hạng . Cỗ này đáng giá 11 000 USD . Những người giầu sang mua loại này , rồi mang đi chôn hay đốt cùng với cái xác của họ . Nhưng nếu ông mướn cỗ quan tài này , để nằm vài ba bữa , lấy le với bà con lối xóm , thì ông chỉ phải trả tiền thuê là 2 850 USD . Thiệt là rẻ mạt ! Làm sao mà người đời biết được rằng ông là người hà tiện , đến lúc nằm xuống mà còn không dám bỏ tiền ra mua 1 cỗ quan tài để nằm cho thoải mái .
– Nhưng tôi không muốn trình làng nước cái thân thể xám ngắt của tôi cho mọi người chiêm ngưỡng thì sao ?

Hắn thở dài đến sượt 1 cái như 1 thầy giáo làng nhìn thằng học trò bướng bỉnh lại còn có tật cù nhầy :
– Làm như vậy cũng bớt được vài ngàn : tiền son phấn , tiền thuê quan tài , tiền thuê Nhà Ðòn … Mà ông cũng không cần phải chi cho các vị tu sĩ đến tụng kinh gõ mõ tùm lum trong Nhà Ðòn của chúng tôi làm gì . Thế là ông đỡ thêm được vài ba trăm nữa . Ðối với hạng người rẻ tiền như ông , đỡ được trăm nào hay trăm đó , có phải không ?

Thằng cha tiếp thị cho tôi là người bủn xỉn nên có vẻ bực mình lắm . Hắn chỉ muốn thu được nhiều tiền cho chủ Nhà Ðòn để được ăn nhiều tiền hoa hồng do gia đình người ra đi cung phụng . Vì thế , mỗi lần tôi bớt được món chi phí nào là hắn có vẻ đau đớn như đang bị bà nha sĩ nhổ 1 cái răng hàm bự trong mồm . Cuối cùng , tôi chọn 1 chương trình hoả táng hợp với ý tôi . Tổng số tiền tôi phải chi ra là 2 709,24 USD cho những mục như sau :
• tiền giấy tờ ( khám nghiệm xác chết , giấy khai tử … ) ;
• tiền xe đưa xác tôi từ nhà xác đến Nhà Ðòn ;
• tiền hòm bằng giấy cứng ( 50 USD ) đựng xác chết để mang đi hoả táng ;
• tiền đưa hòm xác tới lò đốt ( không có vụ bầy biện thân xác ra cho mọi người dòm ngó ) ;
• tiền đốt xác ;
• tiền hộp đựng tro để trao cho vợ tôi mang đi thả xuống biển ( tôi mua loại rẻ tiền nhất nên chỉ tốn có 20 USD ; còn loại sang và đẹp thì lên tới 500 USD ) ;
• tiền thuế trả cho thành phố , tiểu bang , và liên bang .
Người tiếp thị đại diện Nhà Ðòn Tubman và tôi cùng ký vào tờ khế ước ( bốn bản ) . Sau đó , tôi hân hoan trao cho hắn tấm ngân phiếu 2 709,24 USD . Tôi phải trả tiền trước . Ðối với tôi , điều này rất thuận tiện , vì sau này giá cả có gia tăng thì Nhà Ðòn ráng mà chịu , chứ những người ở lạikhông còn phải lo lắng điều gì cho người ra đi .

Khi vợ tôi đi làm về , tôi hý hửng đưa cho cô nàng xem tờ khế ước . Thế là cô nàng khóc bù lu bù loa , rồi hỏi tôi 1 câu mà tôi cho là lãng nhách :
– Trong cả cuộc đời của anh , anh chỉ thích chơi sang . Tại sao đến cuối cuộc đời , anh lại định chết 1 cách rẻ tiền như vậy ?
– Em hỏi 1 câu thiệt là lãng nhách ! Thế nào là chết rẻ tiền ? Chết sang thì đi đến đâu ? Mang tiền ra cúng Nhà Ðòn và Nhà Nước làm gì ? Chúng nó làm gì có quyền cấp visa cho anh vào Thiền Ðàng , hay vào Vùng Cực Lạc . Việc gì mình phải đút lót chúng nó ? Dù sao anh cũng save hơn 12 000 USD , chứ đâu có phải là ít .
– Em không cần món tiền đó đâu !
– Nếu em không cần số tiền đó , thì em mang nó đi giúp người nghèo , có sao đâu ? Ða số dân ta hiện đang sống trong cảnh nghèo túng . Em có biết rằng nếu Em mang 12 000 USD về Việt Nam , em có thể nuôi hơn 60 em mồ côi trong 1 năm . Như vậy , anh là người chết sang hay là người chết rẻ tiền ?

Thấy tôi lý luận như vậy , cô nàng vừa lau nước mắt vừa cười đùa :
– Thôi , Anh muốn chết kiểu nào cũng được . Cái đó tuỳ Anh . Nếu Anh ra đi trước Em , Em sẽ chúc Anh theo kiểu Tàu : Thượng Lộ Bình An , và xin anh Bảo Trọng .
– Vậy , trước khi ra đi , Anh sẽ chào Em theo kiểu Mỹ : Hẹn Ngày Tái Ngộ – See You Later .

Nguyễn Hữu Chi
Tiến Sĩ Tâm Lý Chính Trị Học

Đưa Bắc Kinh vào khuôn khổ, Tổng thống Trump thắng lớn về chính sách với Trung Quốc

image.png

Tóm tắt bài viết

  • Chính sách thương mại của ông Trump đối với Trung Quốc đang mang lại thành công lớn, bất chấp những chỉ trích từ các nhà kinh tế học và giới truyền thông rằng chính sách cứng rắn này sẽ gây thiệt hại cho nền kinh tế Mỹ.
  • Những khẳng định của ông Trump về những hành động phi pháp của Trung Quốc trong các vấn đề thương mại, là không thể chối cãi.
  • Trong cuộc chiến thương mại với Trung Quốc, nền kinh tế Mỹ đã phát triển mạnh mẽ trong khi nền kinh tế Trung Quốc đang phát triển chậm lại và bắt đầu suy thoái.
  • Ông Greg Autry, tác giả cuốn sách ‘Chết bởi Trung Quốc’, cho rằng chính sách cứng rắn của Mỹ cần được duy trì cho đến khi Trung Quốc thực sự thay đổi hành vi, không còn ép buộc liên doanh, và ngừng ngay các chương trình gián điệp mạng rộng lớn, do nhà nước điều hành.
Chính sách của Tổng thống Trump đối với Trung Quốc là một thắng lợi lớn, đang buộc Bắc Kinh phải khuất phục, theo nhà nghiên cứu Greg Autry đăng trên tờ Foreign Policy ngày 28/11/2018.
Là đồng tác giả của cuốn sách cảnh báo về mối đe dọa từ Trung Quốc mang tên “Death by China” (Chết bởi Trung Quốc), ông Autry cho rằng cách tiếp cận cứng rắn của Tổng thống Mỹ Donald Trump đối với Trung Quốc là chính sách nhất quán và đáng tin cậy nhất, nhưng lại thường bị giới truyền thông Mỹ chỉ trích.
alt
Bài phân tích của tiến sỹ Greg Autry, đồng tác giả cuốn sách “Chết bởi Trung Quốc”, khẳng định chính sách của Tổng thống Trump thắng lớn về Trung Quốc, đăng trên Foreign Policy ngày 28/11/2018 (Ảnh chụp màn hình)
Những khẳng định của ông Trump về những hành động phi pháp của Trung Quốc trong các vấn đề thương mại, là không thể chối cãi. Ngay cả ông Fareed Zakaria của CNN, không phải là người hâm mộ đối với tổng thống, cũng nhận định: “Ông Donald Trump nói đúng: Trung Quốc là một kẻ gian lận thương mại”.
Ca ngợi bản Báo cáo toàn diện của Đại diện thương mại Mỹ về việc Trung Quốc không tuân thủ các qui định của Tổ chức Thương mại Thế giới, ông Zalaria cho rằng đó là một tài liệu quí, có chất lượng của chính quyền Mỹ.
alt
Greg Autry, Giám đốc tổ chức Sáng kiến Bay vào Vũ trụ (CSI) của Đại học Southern California, đồng tác giả cuốn sách ‘Death by China’ [Tạm dịch: Chết bởi Trung Quốc]. 
Theo ông Autry, bất chấp những cảnh báo nghiêm trọng từ các nhà kinh tế học và giới truyền thông rằng chính sách cứng rắn với Trung Quốc sẽ gây thiệt hại cho nền kinh tế Mỹ, người ta không thấy điều gì tương tự như vậy xảy ra.
Mỹ không chỉ đơn giản là tiếp tục tồn tại sau cuộc chiến thương mại, mà đã phát triển mạnh mẽ sau 2 năm kinh tế toàn cầu bị trì trệ. Trong khi đó, điều có thể dễ nhận thấy nhất từ những dữ liệu không đáng tin cậy và thường xuyên giả mạo, là sự suy thoái trong tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc.
Ông Autry cho rằng chính sách cứng rắn của Mỹ đã có hiệu quả, và cần được duy trì cho đến khi Trung Quốc thực sự thể hiện sự thay đổi hành vi đáng kể, như không còn ép buộc các nhà đầu tư nước ngoài phải liên doanh, và ngừng ngay các chương trình gián điệp mạng rộng lớn, do nhà nước điều hành. Việc chính quyền Mỹ yêu cầu Bắc Kinh phải chịu trách nhiệm trước những đối xử của họ đối với công dân của mình, cũng không phải là một đòi hỏi quá nhiều.
Tuy nhiên, theo ông Autry, quyết định gây tai họa của cựu Tổng thống Bill Clinton, khi không ràng buộc chính sách nhân quyền của Mỹ vào các thỏa thuận thương mại trong năm 1993, đã loại bỏ công cụ mạnh nhất của Mỹ để đem lại những lợi ích tốt đẹp trên thế giới. Khi các Tổng thống George W. Bush và Barack Obama sau đó làm theo chính sách “Kinh doanh là kinh doanh” của ông Clinton, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã lợi dụng giới truyền thông phương Tây để che đậy “chủ nghĩa độc tài, quân phiệt, sự đàn áp” của chính quyền Trung Quốc, cũng như tô vẽ cho tình trạng môi trường đang tồi tệ của nước này, theo ông Autry.
Ông Autry chỉ trích một số nhà báo Mỹ ‘lười biếng’, đã háo hức đăng lại những thông tin ‘nửa vời’ của các tổ chức tư vấn được tài trợ bởi các tập đoàn đa quốc gia, những công ty ngày càng trở nên giàu có nhờ thương mại với Trung Quốc. Các nhà báo cũng trích dẫn những ý kiến thiên lêch từ những giáo sư tại các đại học phụ thuộc rất nhiều vào tiền học phí của những sinh viên nước ngoài và các nhà tài trợ Trung Quốc giàu có.
Bên trong một Học viện Khổng Tử của Trung Quốc tại một trường đại học tại Mỹ. (Ảnh: japan-forward.com)
Bên trong một Viện Khổng Tử của Trung Quốc tại một trường đại học tại Mỹ. Viện Khổng tử bị nghi ngờ là tổ chức gián điệp của Trung Quốc
Ông Autry cho hay những người chỉ trích Trung Quốc, giống như ông đã làm, đã bị cô lập, bị phỉ báng và kiểm duyệt. Ngoài ra, những thông tin về những cuộc đàn áp kinh hoàng của Trung Quốc ở Tây Tạng, vụ Thảm sát sinh viên trên quảng trường Thiên An Môn đã bị ‘che khuất’ bởi lợi nhuận doanh nghiệp mà các công ty Mỹ kinh doanh ở Trung Quốc thu được. Ngày nay, người Mỹ thưởng thức các bộ phim từ các hãng phim Mỹ, có kịch bản được viết để tránh làm mất lòng ĐCSTQ, ông Autry cho biết. Rất ít người biết rằng hơn một triệu người dân tộc thiểu số Duy Ngô Nhĩ đang bị bạo hành trong “các trại cải tạo” ở Tân Cương, được thiết kế để ép buộc họ từ bỏ bản sắc tôn giáo của mình.
Ảnh chụp binh lính Trung Quốc đàn áp người Duy Ngô Nhĩ tại Tân Cương. (Ảnh: The Epoch Times)
Ảnh chụp binh lính Trung Quốc đàn áp người Duy Ngô Nhĩ tại Tân Cương.
Theo ông Autry, việc Tổng thống Trump buộc chính quyền Trung Quốc tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về phép tắc thương mại, là một hành động dũng cảm, và là một điều mà có lẽ chỉ một nhà lãnh đạo tâm huyết với đất nước và không hề nao núng trước áp lực của truyền thông, mới có thể thành công.
Ông Autry lưu ý việc chính quyền Trump công khai chỉ trích Trung Quốc trắng trợn đóng cửa thị trường, trung chuyển sản phẩm, trợ cấp xuất khẩu, lạm dụng quan hệ đối tác chung, làm gián điệp và trộm cắp công nghệ, đã cho thấy những tuyên bố của ĐCSTQ chỉ là một sự giả tạo. Tất cả những sự thật này được ghi lại một cách chi tiết trong Báo cáo của Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ nói trên và trong báo cáo của Văn phòng Chính sách Sản xuất và Thương mại của Nhà Trắng về sự xâm lược kinh tế của Trung Quốc.
Lời hứa của cựu Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Henry Kissinger và những cựu quan chức Mỹ khác, với ngụ ý rằng việc nhân nhượng và làm giàu cho những kẻ chuyên quyền tàn bạo của Trung Quốc, sẽ khiến Bắc Kinh hợp tác có lợi cho những lợi ích của Mỹ, hoặc sẽ giúp cho việc tự do hóa xã hội Trung Quốc, đã không còn biện hộ được nữa. Kết quả là hoàn toàn thất vọng.
Trong 2 năm qua, các học giả và giới chuyển thông đã chuyển từ việc nói ra những điều vô nghĩa về tiến bộ tất yếu của Trung Quốc tiến tới chủ nghĩa tư bản và dân chủ, sang việc căn vặn liệu việc áp thuế quan có phải là cách đúng đắn để đối đầu với một chế độ nguy hiểm mà tất cả chúng ta đều đồng ý là nó được xây dựng dựa trên sự dối trá và gian lận, ông Autry nhận xét.
Hiện đã có những kết quả ban đầu. Chính sách thương mại hiện tại của chính quyền Trump, đã chứng minh tính hiệu quả của nó, đang làm suy yếu nguồn hợp pháp duy nhất của ĐCSTQ, là sự tăng trưởng kinh tế nhờ những phương thức không công bằng và bất hợp pháp. Trái lại, về phía Mỹ, với chính sách thương mại cứng rắn, chính quyền Mỹ cũng sẽ dễ dàng duy trì sự tăng trưởng hơn so với suy nghĩ của rất nhiều người.
Rõ ràng, Mỹ vẫn là thị trường tiêu thụ lớn nhất trên thế giới. Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới, với GDP trong năm 2017 đạt 19,4 nghìn tỷ USD, ít nhất 60% lớn hơn so với GDP của Trung Quốc ở mức 12,2 nghìn tỷ USD, và có thể lớn nhiều hơn nữa, khi con số GDP đáng ngờ của Trung Quốc bị ‘bẻ cong’ sao cho phù hợp với các mục tiêu chính thức của ĐCSTQ.
Theo ông Autry, do mức tiêu thụ chiếm một phần lớn trong GDP của Mỹ, thị trường hàng hóa của Mỹ lớn hơn nhiều lần so với của Trung Quốc. Mỹ cũng là nền kinh tế lớn, lành mạnh nhất, với mức tăng trưởng GDP mạnh mẽ và tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất trong gần 50 năm qua. Trung Quốc có lẽ không thể bắt kịp nền kinh tế Mỹ. Ngoài ra, Mỹ có dân số nhỏ hơn rất nhiều, giúp cho các chỉ số tính bình quân đầu người, cũng rất lớn. Người dân Mỹ cũng bị đánh thuế ít hơn so với các đối tác trên thế giới, và có thể chi tiêu nhiều hơn nhiều so với công dân của bất kỳ quốc gia lớn nào.
Quan trọng nhất, Trung Quốc đang trả phần lớn thuế quan của Mỹ. Trong khi những người ủng hộ thương mại tự do đã cố gắng làm người tiêu dùng sợ hãi với các mối đe dọa về việc tăng giá khủng khiếp, nhưng điều đó đã không xảy ra. Điều này là do bất kỳ chi phí phát sinh thêm nào trong việc phân phối sản phẩm, có thể hoặc được phân bổ cho người tiêu dùng thông qua giá bán cao hơn, hoặc phân bổ cho nhà sản xuất, thông qua việc giảm bớt lợi nhuận doanh nghiệp.
Một nghiên cứu thị trường gần đây do công ty Econpol thực hiện, kết luận: “Khi thuế quan tăng 25 điểm phần trăm, khiến cho giá cả hàng tiêu dùng Mỹ, đối với tất cả các sản phẩm Trung Quốc bị áp thuế, tăng trung bình 4,5 điểm phần trăm, trong khi giá sản xuất của các công ty Trung Quốc giảm 20,5 điểm phần trăm”.
Hãy đừng quên rằng toàn bộ 25% thuế quan được nộp vào Kho bạc Mỹ, nuôi sống nền kinh tế của Mỹ, chứ không phải của Trung Quốc, ông Autry lưu ý.
Ngoài ra, nếu giá các sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc bị tăng lên do áp thuế, các nhà nhập khẩu Mỹ sẽ phải tìm hàng thay thế từ các nguồn khác, giúp cho người tiêu dùng Mỹ có được sự lựa chọn, không buộc phải mua hàng hóa giá quá cao từ Trung Quốc.
Ông Autry cho rằng sự thành công của chính quyền Tổng thống Trump không phải là điều bất ngờ. Khi một số các quan chức được bổ nhiệm bị chỉ trích vì không đáp ứng được sự kỳ vọng, Tổng thống Trump đã nhanh chóng loại bỏ. Thậm chí, ông Trump đã công khai bày tỏ sự hối tiếc về việc bổ nhiệm ông Steven Mnuchin làm bộ trưởng tài chính do ông này đã để cho chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang tăng lãi suất, một động thái mà ông Trump lo ngại sẽ gây nguy hiểm cho lợi ích kinh tế Mỹ.
Ngược lại, nhóm các quan chức tại Hội đồng Thương mại Quốc gia, Bộ Thương mại và Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ, là rất tài tình và khôn khéo, đã đứng vững trước một cuộc tấn công không ngừng vào chính sách thương mại, từ giới truyền thông, được Trung Quốc hậu thuẫn, ông Autry nhận xét.

Duy Minh

Tại sao Nhật Bản bị ám ảnh bởi việc đến đúng giờ?

image.png
Tháng trước, phe đối lập ở Nhật Bản đã tổ chức một cuộc biểu tình kéo dài 5 giờ để lên án ông Yoshitaka Sakurada, bộ trưởng thế vận hội quốc gia do ông này đến muộn 3 phút trong một cuộc họp quốc hội. Mấy ngày sau, ông Sakurada đã phải nói lời xin lỗi.
Năm 2018, một chuyến tàu của tuyến đường sắt JR-West đã khởi hành sớm 25 giây, khiến nhiều người chỉ trích và hãng đường sắt đã phải lên tiếng xin lỗi. Vụ việc được đưa tin rộng rãi ở Nhật Bản và bị coi là một sai lầm lớn của công ty đường sắt JR-West.
“Sự bất tiện mà chúng tôi gây ra cho khách hàng của mình thật sự là không thể tha thứ được”, công ty cho biết.
Ngay từ nhỏ, người Nhật đã được dạy là cần phải đúng giờ. “Cha mẹ tôi luôn nói với tôi rằng điều quan trọng là đừng đến muộn, hãy nghĩ về những người mà vì con đến muộn họ sẽ gặp phiền phức, thậm chí con chỉ chậm một chút so với lịch trình và điều đó đã khắc sâu trong tôi”, Issei Izawa, 19 tuổi, sinh viên đại học cho biết.
Kanako Hosomura, một bà nội trợ 35 tuổi sống ở quận Saitama, cho biết cô ghét việc đến muộn, ngay cả khi chỉ trong 1 phút, “tôi rất thích đến sớm trong cuộc hẹn vì thà tôi đợi họ còn hơn là bắt ai đó đợi tôi”.
Nhưng đối với nhiều người, văn hóa đúng giờ đến từng giây ở Nhật Bản có thể gây nên sự căng thẳng. Một người đàn ông giấu tên cho biết: “Bạn gái của tôi làm việc tại tổng đài của công ty đường sắt JR. Tuần trước, khi cô ấy trở lại làm việc sau kỳ nghỉ, người giám sát đã nói ‘cô đến muộn 10 giây’. Và tôi thấy rằng điều này thật cực đoan”.
Theo SCMP, việc đi làm muộn có thể gây ra những thiệt hại lớn cho nền kinh tế. Theo báo cáo năm 2017 của Heathrow Express, những người đi làm muộn tại Anh khiến nền kinh tế nước này thiệt hại lên tới 9 tỷ bảng (11,7 tỷ USD). Ở Hoa Kỳ, tại tiểu bang New York, những người đi làm muộn đã gây thiệt hại 700 triệu USD mỗi năm, và tại tiểu bang California, thiệt hại do đi làm muộn trong 1 năm lên đến 1 tỷ USD.
Tuy nhiên, vào cuối những năm 1800, người Nhật Bản có thái độ thoải mái hơn nhiều với thời gian. Willem Huyssen van Kattendijke, một sĩ quan hải quân Hà Lan đến Nhật Bản vào những năm 1850, đã viết trong nhật ký của mình rằng người dân Nhật Bản không bao giờ đúng giờ. Vào thời điểm đó, các chuyến tàu thường chạy chậm hơn 20 phút so với lịch trình.
Cho đến thời điểm cai trị của hoàng đế Meiji (1868-1912), khi hoàng đế thực hiện các cải cách quân sự và công nghiệp hóa, đúng giờ mới trở thành một chuẩn mực văn hóa.
Đến thập niên 1920, sự đúng giờ được ghi nhận trong tuyên truyền của quốc gia. Các hình ảnh hướng dẫn tạo kiểu tóc trong 5 phút vào dịp bình thường và tối đa 55 phút vào dịp trang trọng dành cho phụ nữ được dán khắp đường phố.
Nhật Bản
Hình ảnh hướng dẫn về kiểu tóc nhanh nhất cho phụ nữ Nhật năm 1920.
Kể từ đó, sự đúng giờ đã trở nên tỉ lệ thuận với năng suất trong các công ty và tổ chức. Makoto Watanabe, phó giáo sư truyền thông và đa phương tiện tại đại học Hokkaido Bunkyo, cho biết: “nếu công nhân đến muộn, công ty và tổ chức sẽ phải chịu tổn thất. Ở góc độ cá nhân, nếu tôi không đúng giờ, tôi không thể hoàn thành mọi việc cần làm”.
Mieko Nakabayashi, giáo sư khoa học xã hội tại đại học Waseda và là một nhà lập pháp trước đây của đảng Dân Chủ Nhật Bản, cho rằng điều quan trọng đối với các nhân viên công ty là phải tuân thủ kỷ luật và đúng giờ. Cô nói thêm: “Nếu bạn không thể làm điều đó thì bạn sẽ nhanh chóng bị mang tiếng xấu trong công ty”.
Tuy nhiên, theo cô Mieko, việc đúng giờ không phải lúc nào cũng tốt.
Năm 1990, bi kịch xảy ra ở quận Hyogo khi một học sinh 15 tuổi bị chấn thương đến tử vong do cố chen qua cổng trường cấp 3 của mình khi cổng bắt đầu đóng vào lúc 8h30. Giáo viên nhấn nút đóng cổng đã bị sa thải và vụ việc đã gây ra nhiều cuộc tranh luận công khai vào thời điểm đó.
“Nhìn lại vụ việc, việc đóng cổng đúng giờ là điều rất phổ biến. Và việc trừng phạt những học sinh đến trễ bằng cách bắt chúng chạy 1 hoặc 2 vòng quanh trường cũng phổ biến”, Yukio Kodata, 33 tuổi, một người đàn ông Canada gốc Nhật cho biết.
Và những lần đi học muộn sẽ được ghi vào bảng điểm của học sinh, điều này có thể ảnh hưởng đến cơ hội vào đại học của họ.
Kodata, người Canada gốc Nhật cho biết: “Ở Nhật Bản mọi người có tâm lý rằng nếu mọi người khác đang làm điều đó, họ cũng phải làm việc tương tự. Về cơ bản, bạn đang bị đưa vào thế không thể làm gì khác… Rất nhiều bạn bè của tôi ở Nhật Bản đến Canada, họ không bao giờ muốn quay lại. Họ thích Nhật Bản về giải trí và ẩm thực nhưng họ sẽ không muốn quay lại và làm việc ở đó”.
Kodata nói: “Thật buồn cười vì ở đây, tại Canada, nếu bạn tan làm vào lúc 5 giờ chiều, mọi người sẽ chào bạn bằng câu ‘chúc tốt lành, hẹn gặp lại sau’. Nhưng ở Nhật Bản thì không”. 
Băng Thanh
__._,_.___

Các cường quốc trong chiến tranh Việt Nam

Trần Gia Phụng

alt
Trong chiến tranh 1954-1975, Liên Xô và Trung Cộng là hai nước viện trợ chính cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) ở Bắc Việt Nam (BVN), và Hoa Kỳ là nước viện trợ chính cho Quốc Gia Việt Nam (QGVN), đổi thành Viêt Nam Cộng Hòa (VNCH) năm 1955 ở Nam Việt Nam (NVN). Các cường quốc đến giúp Bắc và Nam Việt Nam đều có những tính toán riêng của mỗi nước.
LIÊN XÔ VÀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM
Sau khi cướp chính quyền năm 1917, đảng Cộng Sản (CS) Nga do Vladimir Lenin lãnh đạo, thành lập Đệ tam Quốc tế Cộng sản (ĐTQTCS) (The Third International) tại Moscow năm 1919, gọi là Communist International hay COMINTERN.
Trong đại hội kỳ 2 ĐTQTCS từ 24-7 đến 7-8-1920, Vladimir Lenin công bố bản “Sơ thảo lần thứ nhứt luận cương về vấn đề Dân tộc và Thuộc địa” (Draft Thesis on the National and Colonial Questions), thường được gọi là bản luận cương của Lenin, theo đó Lenin nêu cao quyền dân tộc tự quyết, kêu gọi các nước bị đô hộ (các thuộc địa) đứng lên chống lại các đế quốc thực dân, giải phóng dân tộc bằng cách dựa vào sự ủng hộ của đảng CS các nước, rồi gia nhập khối Liên Xô.
Để thực hiện chủ trương nầy, ĐTQTCS tổ chức tại Liên Xô những cơ sở đào tạo cán bộ tuyên truyền, sách động và tổ chức quần chúng, rồi tung những cán bộ nầy về nước hoạt động. Hai trường nổi tiếng là trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông (Communist University of the Toilers of the East), thành lập năm 1921. Năm 1926, Liên Xô lập thêm trường Quốc tế Lenin (International Lenin School).
Nước Nga, đổi thành Cộng Hòa Liên Bang Xô Viết tức Liên Xô ngày 30-12-1922, tuyên truyền chủ nghĩa CS và phát triển ĐTQTCS nhằm xuất cảng cách mạng, bành trướng thế lực ra nước ngoài, tiến đến thành lập một khối các quốc gia theo chủ nghĩa CS do Liên Xô lãnh đạo, cạnh tranh với các đế quốc Tây Âu. Đảng CSLX khuyến khích các nước bị đô hộ, tức thuộc địa của các nước Tây phương, nổi lên chống các đế quốc, giải phóng dân tộc, giành độc lập, rồi gia nhập khối Liên Xô. Nói cách khác, ĐTQTCS là công cụ bành trướng đế quốc CS của Liên Xô.
Người Việt Nam đầu tiên xuất thân từ Trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông ở Moscow, được ĐTQTCS gởi qua Trung Hoa hoạt động gián điệp năm 1924 là Nguyễn Ái Quốc (NAQ, đã được nhiều người viết.) Trên đường hoạt động, NAQ thay đổi tên họ nhiều lần. Năm 1942, NAQ chiếm dụng tên Hồ Chí Minh (HCM) của Hồ Học Lãm năm 1942. Dầu đã được ĐTQTCS đào tạo, nhưng khi HCM cùng đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD) cướp chính quyền ở Hà Nội năm 1945, Liên Xô vẫn không giúp đỡ, vì hai lẽ: 1) Joseph Stalin, nhà độc tài Liên Xô, vốn đa nghi, không tin tưởng những nước CS không do Liên Xô thành lập. Hơn nữa HCM lại đã từng cộng tác với cơ quan tình báo OSS (Office of Strategic Services) của Hoa Kỳ. 2) Việt Nam nằm quá xa Liên Xô và Liên Xô không có quyền lợi ở Đông Nam Á.
Năm 1950, khi HCM qua Liên Xô cầu viện, Stalin ủy nhiệm cho Trung Cộng (TC) giúp HCM chống Pháp và sau đó Liên Xô viện trợ võ khí hạng nặng cho VNDCCH qua đường TC, vì lúc đó CSVN chưa có lãnh thổ nhất định.
Hiệp định Genève (1954) chia hai nước Việt: VNDCCH ở BVN; QGVN đổi thành VNCH năm 1955 ở NVN. Liên Xô chỉ chú trọng đến BVN khi xảy ra cuộc tranh chấp Nga-Hoa do viêc Nikita Khrushchev đưa ra chủ trương “sống chung hòa bình” (peaceful coexistence) giữa các nước không cùng chế độ chính trị năm 1956. Liên Xô viện trợ cho BVN nhằm lôi kéo BVN về phía Liên Xô, nhiều nhất là viện trợ võ khí hạng nặng. Sau hiệp định Paris (27-1-1973), Hoa Kỳ không oanh tạc BVN nên Liên Xô dễ dàng viện trợ trực tiếp cho BVN, và tăng gấp 4 lần số viện trợ để BVN tấn công NVN.
TRUNG CỘNG VÀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM
Năm 1949, đảng CS thành công ở Trung Hoa. Ngày 1-10-1949, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH), thường được gọi là Trung Cộng (TC). Đầu năm 1950, HCM, chủ tịch VNDCCH, vội vàng qua Bắc Kinh cầu viện. Lúc đó, Mao Trạch Đông và Châu Ân Lai không có mặt ở Bắc Kinh và đang viếng thăm Liên Xô. Tài liệu của một tác giả trong nước cho biết khi HCM đến Bắc Kinh, thì HCM làm kiểm thảo trước Lưu Thiếu Kỳ về tất cả những chủ trương của CSVN từ năm 1946. (Trần Đĩnh, Đèn cù, California: Người Việt Books, 2014, tr. 49.)
Sau Bắc Kinh, HCM đến Moscow tối 6-2-1950. Có thể trước đó Stalin và Mao Trạch Đông đã thỏa thuận chia vùng ảnh hưởng, nên khi tiếp HCM, Stalin nói: “Đảng Cộng Sản Liên Xô và nhân dân Liên Xô hoàn toàn nên viện trợ cho cuộc đấu tranh chống Pháp của các đồng chí. Song, chúng tôi đã trao đổi với các đồng chí Trung Quốc, công việc viện trợ chiến tranh chống Pháp của Việt Nam chủ yếu do Trung Quốc phụ trách thích hợp hơn…” (Một nhóm tác giả, Hồi ký của những người trong cuộc, ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, bài của Trương Quảng Hoa, Bắc Kinh: Nxb Lịch sử đảng Cộng Sản Trung Quốc, 2002, Trần Hữu Nghĩa, Dương Danh Dy dịch, Dương Danh Dy hiệu đính. Montreal: Tạp chí Truyền Thông số 32 và 33, Hạ-Thu 2009, tr. 45.)
Ngày 17-2-1950, Mao Trạch Đông cùng Châu Ân Lai rời Moscow, trở về Bắc Kinh bằng tàu hỏa. Hồ Chí Minh tháp tùng theo đoàn tàu nầy. Một hôm HCM tìm đến toa tàu của Mao Trạch Đông và dùng tiếng Tàu xin Mao Trạch Đông viện trợ. Mao Trạch Đông đồng ý nhưng còn đợi ý kiến trung ương đảng CSTH. (Trương Quảng Hoa, bđd., sđd. tr. 47.)
Tại Bắc Kinh, một hiệp ước phòng thủ hỗ tương giữa VNDCCH và CHNDTH được ký kết, theo đó hai bên hợp tác để tiễu trừ thổ phỉ. (Bernard Fall, Le Viet-Minh, Paris: Max Leclerc et Compagnie, 1960, tr. 119.) Thổ phỉ ở đây ám chỉ biệt kích Pháp và tàn quân Quốc Dân Đảng Trung Hoa, đã trốn tránh ở biên giới Việt Hoa sau khi Tưỏng Giới Thạch thất bại. Từ đó, TC viện trợ tối đa cho CSVN, không phải chỉ vì tình nghĩa xã hội chủ nghĩa, mà còn vì TC nhờ CSVN bảo vệ an ninh biên giới phía nam của TC.
Hiệp định Genève ngày 20-7-1954 chia hai Việt Nam ở vĩ tuyến 17. Trước khi ký hiệp định Genève, Châu Ân Lai triệu HCM hội họp tại Liễu Châu (Liuzhou), tỉnh Quảng Tây (Kwangsi) ở TC, từ 3 đến 5-7-1954, để bàn về việc ký kết hiệp định. Bên cạnh đó, Châu Ân Lai đưa ra cho HCM hai kế hoạch: 1) Trước khi rút quân từ NVN ra BVN, CS chôn giấu võ khí, cài người ở lại NVN để chuẩn bị tái chiến. 2) Sử dụng chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” tức chống Hoa Kỳ để kích động quân đội và lôi kéo quần chúng.
Chống Hoa Kỳ là chủ trương của TC từ sau thế chiến thứ hai vì TC đụng độ với Hoa Kỳ nhiều lần ở nhiều nơi. Trong cuộc chiến Quốc-Cộng ở Trung Hoa, Hoa Kỳ viện trợ cho Trung Hoa Dân Quốc do Tưởng Giới Thạch lãnh đao. Khi THDQ thất bại, di tản ra Đài Loan (Taiwan) năm 1949, Hoa Kỳ giúp THDQ duy trì ghế đại diện Trung Hoa ở Liên Hiệp Quốc, dầu Đài Loan rất nhỏ, ít dân so với TC. Trung Cộng còn đụng độ trực tiếp với Hoa Kỳ trong chiến tranh Triều Tiên từ 1950 đến 1953. Tại hội nghị Liễu Châu, chắc chắn Châu Ân Lai đã rỉ tai cho HCM biết về những biến cố nầy.
Từ năm 1956, mối bang giao Trung Cộng – Liên Xô rạn nứt vì TC chống lại chủ trương “sống chung hòa bình” do Khrushchev đưa ra. Liên Xô bao vây TC ở phía bắc và phía tây. Phía tây nam, Ấn Độ chận TC. Phía đông là Thái Bình Dương với ba nước đồng minh của Hoa Kỳ là Nam Triều Tiên, Nhật Bản và Trung Hoa Dân Quốc. Bị bao vây gần như ba mặt, TC rất lo ngại bị cô lập và nhất là lo ngại bị Hoa Kỳ chận luôn ở phía nam, nên TC tận lực giúp BVN.
Ngày 4-9-1958, Quốc vụ viện TC (chính phủ) ra tuyên cáo về ranh giới biển của TC là 12 hải lý kể từ bờ biển, áp dụng cho toàn thể lãnh thổ TC, bao gồm cả các hải đảo mà TC cho là của TC, trong đó TC kể luôn cả Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông. Bản tuyên cáo nầy không gởi riêng cho nước nào và không cần trả lời, nhưng để lấy lòng TC nhằm mưu cầu viện trợ từ TC, Phạm Văn Đồng, thủ tướng BVN, với sự đồng ý của HCM và bộ Chính trị đảng Lao Động, ký quốc thư ngày 14-9-1958, tán thành tuyên cáo của TC ngày 4-9-1958, nghĩa là mặc nhiên thừa nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc TC.
Một năm sau, Phạm Văn Đồng qua Bắc Kinh tháng 10-1959 để cầu viện. Đáp lại, tháng 11-1959, TC đưa một phái đoàn sang BVN trong hai tháng, nghiên cứu tất cả những nhu cầu của BVN. Tháng 5-1960, các nhà lãnh đạo BVN và TC hội họp liên tiếp ở Hà Nội và Bắc Kinh để thảo luận chiến lược tấn công NVN. (Qiang Zhai, China & the Vietnam Wars, 1950-1975, The University of Carolina Press, 2000, tt. 82-83.)
Được TC hứa hẹn viện trợ, ngay trong năm 1960, tại Hà Nội, đại hội III đảng Lao Động từ 5-9 đến 10-9-1960, đưa ra hai mục tiêu lớn là xây dựng xã hội chủ nghĩa ở BVN và giải phóng NVN bằng võ lực, nghĩa là động binh tấn công NVN, tức BVN công khai vi phạm (xé bỏ) hiệp định Genève năm 1954.
Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Văn Tiến Dũng liên tục qua TC hội họp và thương lượng với các lãnh tụ TC. Ngoài quân viện, từ tháng 6-1965 đến tháng 3-1968, TC gởi sang BVN 320,000 quân, trú đóng ở các tỉnh và thành phố phía bắc Hà Nội, điều khiển các súng phòng không, sửa chữa đường sá, cầu cống, đường xe lửa, bảo vệ các tỉnh phía bắc, nhằm giúp BVN kéo hết lực lượng xuống tấn công NVN. (Qiang Zhai, sđd., tr. 135. Tuy nhiên, theo Henry Kissinger, On China, Toronto: Penguin Group (Canada), 2011, tr. 342, thì Trung Cộng chỉ gởi 100,000 quân.)
HOA KỲ VÀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM
Về phía Hoa Kỳ, sách vở tài liệu Hoa Kỳ đều cho rằng Hoa Kỳ giúp VNCH hay NVN nhằm chống lại sự xâm lăng của BVN, nhứt là sự bành trướng của TC. Tuy nhiên, kết cuộc bi thảm của VNCH năm 1975 đặt ra một câu hỏi: Liệu Hoa Kỳ có thật tâm giúp VNCH tự bảo vệ và chống cộng sản không?alt
Vũ khí dùng trong chiên tranh Việt Nam
Khi Bắc Triều Tiên xâm lăng Nam Triều Tiên (NTT) năm 1950 thì Hoa Kỳ hưởng ứng lời kêu gọi của Liên Hiệp Quốc, đưa quân qua giúp NTT chống BTT. Tại đây, Hoa Kỳ đụng độ với Trung Cộng, và cuối cùng hai bên NTT và BTT ký hiệp ước đình chiến Bàn Môn Điếm (Panmunjom) ngày 27-7-1953. Để bảo vệ NTT, Hoa Kỳ ký với NTT ngày 1-10-1953 Hiệp định Phòng thủ Hỗ tương giữa Hoa Kỳ và Cộng Hòa Triều Tiên (Mutual Defense Treaty Between the United States and the Republic of Korea).
Tháng 9-1954, TC đe dọa Trung Hoa Dân Quốc (THDQ tức Đài Loan), pháo kích hai quần đảo Kim Môn – Mã Tổ (Kinmen-Mazu). Hai quần đảo nầy nằm cách hải cảng Hạ Môn (Xiamen), tỉnh Phúc Kiến (Fujian) của TC khoảng 15 Km, và nằm cách bờ biển Đài Loan khoảng 270 Km, nhưng thuộc chủ quyền của Đài Loan. Hoa Kỳ liền ký với THDQ ngày 2-12-1954 Hiệp định Phòng thủ Hỗ tương Hoa-Mỹ (Sino-American Mutual Defense Treaty) còn gọi là Hiệp định Phòng thủ chung giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa Dân Quốc (Mutual Defense Treaty between the United States of America and the Republic of China). Năm 1972, Hoa Kỳ ký thông cáo chung Thượng Hải với TC, công nhận CHNDTH hay TC là nhà nước hợp pháp duy nhất của Trung Hoa, nhưng Hoa Kỳ vẫn bảo vệ nền độc lập và tự trị của THDQ (Đài Loan) bằng “Đạo luật quan hệ Đài Loan” (Taiwan Relations Act, 10-4-1979).
Với Nhật Bản, sau các hiệp ước 1951 và 1954, Hoa Kỳ ký thêm ngày 19-1-1960 Hiệp định Hợp tác và An ninh Hỗ tương giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản (Treaty of Mutual Cooperation and Security between the United States and Japan).
Trong khi đó, lúc đầu giữa Hoa Kỳ và VNCH không ký kết một hiệp ước quân sự vì điều 19 chương III hiệp định Genève (20-7-1954) ghi rằng: “Hai bên cam đoan rằng vùng thuộc về họ không gia nhập một liên minh quân sự nào và không bị sử dụng để gây lại chiến tranh hoặc phục vụ cho một chính sách xâm lược”. Tuy nhiên sau khi đảng Lao Động công khai vi phạm (xé bỏ) hiệp định Genève tại đại hội III ở Hà Nội vào tháng 9-1960, thì tổng thống Ngô Đình Diệm hai lần đề nghị Hoa Kỳ ký với VNCH một hiệp ước phòng thủ hỗ tương giữa hai nước, nhưng phía Hoa Kỳ cũng từ chối. Tổng thống Diệm đề nghị lần thứ nhứt ngày 29-9-1961 với đô đốc Harry D. Felt, tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương. (Stanley Karnow, Vietnam, a History, New York: The Viking Press, 1983, tr. 251.) Tổng thống Diệm đề nghị lần thứ hai với đại tướng Maxwell Taylor, tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ, đến Sài Gòn từ 18 đến 24-10-1961. (John S. Bowman, The Vietnam War, Day by Day, New York: Mallard Press, 1989, tr. 22.)
Thêm nữa, khi đem bộ binh vào Nam Việt Nam (NVN) năm 1965, thì đại sứ Hoa Kỳ tại VNCH Maxwell Taylor vận động với thủ tướng Phan Huy Quát và các tướng lãnh, và hai bên Việt Mỹ “thỏa thuận miệng” (không ký văn bản) để cho Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đổ bộ vào Đà Nẵng ngày 8-3-1965. Sau đó, khi muốn rút quân, thì Hoa Kỳ tự động rút quân, và chỉ thông báo cho tổng thống VNCH biết.
Như thế Hoa Kỳ không ký một hiệp ước nào với VNCH. Phải chăng đây là dấu hiệu cho thấy Hoa Kỳ không cương quyết giúp đỡ VNCH chống CS như Hoa Kỳ đã giúp đỡ NTT, Nhật, Đài Loan, dầu lúc đó VNCH được mệnh danh là “tiền đồn chống cộng”? Phải chăng Hoa Kỳ chỉ muốn kết hợp với VNCH thành một liên minh không văn bản, khỏi bị ràng buột chặt chẽ với VNCH, để Hoa Kỳ rộng đường hành động và xoay xở khi đối đầu với TC trong lúc tình hình thế giới đang thay đổi.
Quả thật tình hình quốc tế đang biến chuyển mạnh vì Trung Cộng chống đối chủ trương “sống chung hòa bình” giữa các nước không cùng chế độ chính trị do bí thư thứ nhất đảng CSLX Nikita Khrushchev đưa ra năm 1956. Càng ngày TC càng cứng rắn, nhứt là từ khi TC thử nghiệm thành công bom nguyên ngày 16-10-1964. (Google: “China Nuclear Forces”.) Ngày 2-3-1969 bùng nổ chiến tranh biên giới Nga-Hoa tại sông Ussuri (Ô Tô Lý Giang), phía bắc TC.
Khi TC lên hàng cường quốc nguyên tử, Hoa Kỳ bắt đầu quan ngại. Richard Nixon, cựu phó tổng thống thời tổng thống Dwight D. Eisenhower, trên báo Foreign Affairs số tháng 10-1967, viết rằng không nên để cho TC sống biệt lập ngoài đại gia đình thế giới. (Henry Kissinger, On China, Toronto: Penguin Group (Canada), 2011, tr. 202.) Vì vậy Hoa Kỳ bắt đầu muốn nói chuyện với TC, vừa vì thế lực nguyên tử mới xuất hiện, vừa vì muốn gây chia rẽ trong khối CS sau vụ TC và Liên Xô đánh nhau.
Về phía TC, khi cuộc tranh chấp Nga-Hoa đưa đến chiến tranh, thì TC phát sinh nhu cầu làm bạn với một cường quốc nguyên tử để tạo thế cân bằng với Liên Xô. Lúc đó cường quốc mà TC nhắm đến không nước nào khác hơn là Hoa Kỳ, vì Hoa Kỳ có võ khí nguyên tử và Hoa Kỳ cũng chống Liên Xô. Về địa chính trị, Hoa Kỳ ở xa TC, trong khi Liên Xô nằm sát biên giới TC. Do đó, TC cũng có nhu cầu muốn nói chuyện với Hoa Kỳ. Sau một thời gian dọ dẫm, hai bên bắt đầu xích lại gần nhau.
Tại Hoa Kỳ, sau khi thắng cử và lên làm tổng thống ngày 20-1-1969, Richard Nixon đưa ra kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” (Vietnamization), chuyển gánh nặng quân sự qua cho quân lực VNCH, rút quân đội Hoa Kỳ về nước. Tháng 2-1972, Richard Nixon thăm TC, mở đầu một thời kỳ mới trong bang giao Hoa Kỳ-TC. Bắt tay được với TC, quân cờ VNCH không còn cần thiết, nên Hoa Kỳ bỏ rơi VNCH.
Chính sách của Hoa Kỳ trong thời gian tham chiến ở NVN là chiến tranh giới hạn, không tấn công BVN để tránh sự can thiệp của TC như ở Nam Triều Tiên. Trước khi đưa bộ binh vào NVN, ngày 30-4-1964 ngoại trưởng Hoa Kỳ là Dean Rusk nhờ J. Blair Seaborn, trưởng đoàn Canada trong Ủy ban Kiểm soát Quốc tế (International Control Commission), báo cho Hà Nội biết chủ trương nầy của Hoa Kỳ và đề nghị Hà Nội ngưng ủng hộ CS miền Nam để đổi lấy viện trợ. Seaborn trình bày lại với Phạm Văn Đồng ngày 18-6-1964 nhưng BVN không chấp thuận. (John S. Bowman, sđd. tr. 37.)
Ngoải chính sách chiến tranh giới hạn, Hoa Kỳ còn áp đặt trong quân đội Hoa Kỳ những quy tắc tham chiến (rules of engagement) mà một tác giả Hoa Kỳ đã nhận xét rằng: “Những quy tắc nầy bảo đảm rằng quân đội chúng ta [Hoa Kỳ] không thể thắng mà cộng sản không thể thua.” (Steve Farrell, Why We Lost in Vietnam – The Untold Story, University of Toronto, School of Continuimg Studies, The Moral Liberal.) Thượng nghị sĩ Barry Goldwater, đảng Cộng Hòa bang Arizona, gọi đây là “no win policy” (chính sách không thắng). (The Bryan Times, Thursday April 17, 1975, tr. 6. http://news.google.com/newspapers.)
Đánh trận mà không thắng không thua để làm gì thì chưa biết, nhưng chắc chắn chiến tranh sẽ kéo dài và Hoa Kỳ có thời gian tiêu thụ cho hết số võ khí tồn kho của Hoa Kỳ từ thời thế chiến thứ hai còn lại. Các cựu quân nhân VNCH đều cho biết cho đến năm 1968, quân đội VNCH vẫn sử dụng các loại súng cũ như Carbine M1 hay Garand M1, máy bay AD5, AD6 … thời thế chiến thứ hai.
Trên chiến trường Việt Nam, Hoa Kỳ còn thử nghiệm một số võ khí mới, mà dễ thấy nhứt là súng AR15 (tức M16) xuất hiện khoảng năm 1965, và quân nhân Việt Nam sử dụng từ năm 1968; thiết giáp xa Patton 48; phản lực cơ F4-Phantom; oanh tạc cơ B52 lần đầu tiên trên thế giới xuất chiến ở Bình Dương ngày 17-6-1965 trong chiến dịch Arc Light; bột khai quang màu da cam; loại bom bi khi phát nổ phóng ra những chùm bi nhỏ sát thương. (Về việc B52 xuất chiến lần đầu ở Bình Dương, theo John S. Bowman, sđd. tr. 72. Tài liệu về các loại võ khí mới của Hoa Kỳ sử dụng ở Việt Nam, theo các website: HISTORY: Weapons of the Vietnam War: và Vietnam Equipment)
Cũng trên chiến trường Việt Nam, Hoa Kỳ lại có cơ hội theo dõi, nghiên cứu những loại võ khí mới của Liên Xô viện trợ cho quân đội CS sử dụng ở Việt Nam. Ngoài các loại súng của CS như AK-47, Hoa Kỳ còn nghiên cứu các loại xe thiết giáp của Liên Xô và các loại hỏa tiển phòng không của Liên Xô.
Điểm quan trọng là khi đến Việt Nam, Hoa Kỳ chỉ hành động theo chủ trương chính sách của Hoa Kỳ, quan điểm của Hoa Kỳ, cho lợi ích của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ ít quan tân đến đề nghị, nguyện vọng và quyền lợi của phía VNCH. Ví dụ cố vấn Hoa Kỳ huấn luyện quân sự theo lý thuyết chiến tranh của Hoa Kỳ, dựa trên hỏa lực tối tân và dồi dào mà không dựa trên điều kiện Việt Nam, hoặc Hoa Kỳ không tìm ra đối sách chống lại du kích, mà Hoa Kỳ bác bỏ các đề nghị bắc tiến của các tướng lãnh VNCH để chận đứng du kích CS ở NVN; và Hoa Kỳ cản trở kế hoạch của VNCH sản xuất đạn dược để VNCH tự cung ứng nhu cầu chiến tranh…
Người Hoa Kỳ tính toán tinh vi đến nỗi vào nắm 1972, BVN tràn quân qua vĩ tuyến 17, tấn công VNCH. Viện dẫn lý do nầy, Quân đoàn I đưa ra đề nghị đánh thẳng qua sông Bến Hải, nhằm đe dọa hậu cứ địch, nhưng cố vấn Mỹ không đồng ý. Lo ngại Quân đoàn I có thể tự ý tiến quân ra BVN, các cố vấn Mỹ giới hạn việc cấp bổng tiếp vận cho Lữ đoàn 1 Kỵ binh 20 gallons xăng mỗi ngày cho một xe, đạn pháo binh chỉ được bắn 5 quả mỗi ngày cho một khẩu và ngưng tiếp tế lương khô cho Lữ đoàn. (Hà Mai Việt, Thép và Máu, Thiết giáp trong chiến tranh, Texas: 2005, tr. 103.)
Khi quyết định rút lui khỏi NVN, Hoa Kỳ vận động ký hiệp định Paris ngày 27-1-1973 gọi là 4 bên, nhưng thật sự chỉ giữa Hoa Kỳ và BVN trong khi NVN bị ép phải ký. Trong hiệp định nầy, chương II về “Chấm dưt chiến sự – Rút quân”, điều 2, quy định rằng Hoa Kỳ sẽ rút hết quân về nước, nhưng qua điều 3 khoản b, thì bộ đội BVN vẫn đóng lại ở NVN. Phía BVN hớn hở xem đây là một thắng lợi của CS vì Hoa Kỳ dứt khoát bỏ rơi NVN, và CS tin rằng sẽ dễ dàng tiếp tục tấn công NVN.
Sau đó điều 21 (chương VIII) viết như sau: “Theo chính sách truyền thống của mình, Hoa Kỳ sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và toàn Đông Dương.” Hai bên thương lượng và thỏa thuận Hoa Kỳ sẽ giúp BVN 3,25 tỷ Mỹ kim để tái thiết. Richard Nixon gởi thư cho Phạm Văn Đồng ngày 1-2-1973 xác nhận điều nầy. Trong thư, phần phụ lục ghi thêm rằng việc giúp đỡ “sẽ được thực hiện bởi mỗi bên theo các điều khoản hiến pháp của mỗi nước.” (Lê Quỳnh, “Lá thư mật Nixon và quan hệ Việt-Mỹ”, BBC Việt ngữ 11-5-2008.)
Khi BVN cưỡng chiếm được Sài Gòn, vi phạm hiệp định Paris, thì không có lý do gì Hoa Kỳ phải tôn trọng những cam kết giúp đỡ nhân đạo cho BVN. Thế là sau khi rút về nước tất cả tù binh Hoa Kỳ bị CS bắt giam, Hoa Kỳ xù luôn một cách hợp lý chuyện 3,25 tỷ Mỹ kim, khỏi cần bồi thường gì cả.
Về phía VNCH, dầu bị Hoa Kỳ bỏ rơi, quân đội VNCH vẫn tiếp tục chiến đấu, nên ngoại trưởng Hoa Kỳ là Henry Kissinger đã trù ẻo: “Tại sao họ không chết lẹ đi cho rồi? Điều tệ nhất có thể xảy ra là họ cứ sống dai dẳng hoài.” (Lời của Henry Kissinger nói với Ron Nessen. Ron Nessen thuật lại trong sách It Sure Looks Different from the Inside, Chicago: Playboy Press, 1978, tr. 98. Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L. Schecter trích dẫn, Hồ sơ mật dinh Độc Lập, Los Angeles: C & K Promotions, Inc., 1987, tr. 512.) Đến giúp nhau mà sao trù ẻo nhau như thế?
Tuy nhiên điều tệ hại nhất cho VNCH là vào tháng 2-1975, các loại đạn dược tồn kho chỉ đủ dùng trong khoảng 30 ngày. (Cao Văn Viên, Những ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa, Virginia: Vietnam Bibliography, 2003, tr. 92.) Hết đạn thì làm sao mà chiến đấu, nên cuối cùng quân đội VNCH phải hạ khí giới. Xin chú ý là cho đến năm 1973, khi quân đội VNCH còn được trang bị đầy đủ, thì bộ đội CS không thắng được trận nào, kể cả vụ CS bất ngờ đánh lén nhân Tết Mậu Thân (1968).
Chẳng những trù ẻo, truyền thông Hoa Kỳ, giới phản chiến Hoa Kỳ lớn tiếng cố tình đổ lỗi, gán ghép sự thất bại của VNCH năm 1975 hoàn toàn do lỗi VNCH, do hành chánh VNCH “tham nhũng”, do quân đội VNCH “bất tài”, nhằm khỏa lấp chính sách “bất phân thắng bại” (no win policy) và chủ trương “chiến tranh giới hạn” (limited war), rồi bỏ rơi VNCH để bắt tay với TC.
Khi cần thì tung hô VNCH là “tiền đồn chống cộng”, tổng thống Ngô Đình Diệm là “Winston Churchill of Asia” (lời của phó tổng thống Lyndon Johnson tại Sài Gòn ngày 12-5-1961). Khi không cần thì thảm sát ngày 2-11-1963, rồi sau đó thì “Việt Nam hóa chiến tranh” để mưu cầu một nền “hòa bình trong danh dự” riêng cho Hoa Kỳ, bỏ xó “tiền đồn chống cộng” “sống chết mặc bay”, cúp viện trợ, cúp võ khí, rồi còn trù độc “chết lẹ đi cho rồi.”
Trong khi đó, vào cuối tháng 4-1975, Graham Martin, đại sứ Hoa Kỳ cuối cùng tại VNCH, đến mời tổng thống Trần Văn Hương di tản qua Hoa Kỳ, thì tổng thống Hương từ chối và nhã nhặn đáp rằng: “Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó.” (Trần Đông Phong, Việt Nam Cộng Hòa 10 ngày cuối cùng, California: Nxb. Nam Việt, 2006, tr. 353.)
KẾT LUẬN
Tóm lại, trong cuộc chiến 1954-1975, Liên Xô (LX) và Trung Cộng (TC) viện trợ cho BVN tấn công NVN. Còn Hoa Kỳ viện trợ cho NVN chống lại BVN.
Từ năm 1920, Nga rồi Liên Xô sử dụng ĐTQTCS làm công cụ để xuất khẩu cách mạng nhằm thành lập một đế quốc kiểu mới gồm các nước CS thuộc quyền Liên Xô. Đệ tam QTCS đã đào tạo HCM thành một gián điệp phục vụ cho mưu đồ nầy của Liên Xô. Liên Xô ở xa Việt Nam, ít có quyền lợi ở Đông Á, giúp BVN vì: 1) HCM được LX đào tạo để làm gián điệp cho LX, du nhập chủ nghĩa CS vào Việt Nam, thi hành chủ trương bành trướng của ĐTQTCS. 2) Tranh chấp với TC nên LX viện trợ cho BVN, lôi kéo BVN về phía LX. 3) Giúp BVN chống Hoa Kỳ, kẻ thù của LX từ sau 1945.
Bành trướng là bản chất cố hữu của những nhà lãnh đạo Trung Hoa. Thời hiện đại cộng thêm tính hiếu chiến và bạo động của chủ nghĩa CS. chiến và bạo động của chủ nghĩa CS. Trung Cộng đã góp phần rất lớn giúp CSVN thành công trong cả hai cuộc chiến 1946-1954 và 1954-1975. Trung Cộng giúp BVN vì: 1) Bảo vệ an ninh biên giới phía nam TC. 2) Bành trướng và tìm đường tiến xuống ĐNA. 3) Ngăn chận ảnh hưởng của Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ trở thành cường quốc nguyên tử từ năm 1945, đứng đầu khối tư bản sau thế chiến thứ hai, đến giúp NVN vì: 1) Muốn xây dựng NVN thành tiền đồn chống cộng, bảo vệ Hoa Kỳ từ xa. 2) Chống Liên Xô và sự bành trướng của chủ nghĩa CS. 3) Bao vây TC, ngăn chận TC xuống ĐNA. Tuy nhiên, do tính thực dụng, cấp tiến, sẵn sàng thay đổi để tiến bộ và phát triển, nên sau khi liên lạc và thỏa hiệp với TC, thì Hoa Kỳ bỏ rơi NVN và rút ra quân về nước.
Trong khi đó, BVN nhờ viện trợ Liên Xô và TC, xâm lăng NVN nhằm bành trướng quyền lực và phủ sóng CS lên toàn cõi Việt Nam. Nam Việt Nam yếu thế, không lẽ ngồi chờ chết, đành phải nhờ Hoa Kỳ giúp đỡ để tự vệ. Hai bên có hai cách viện trợ khác nhau: Đảng CS Liên Xô và TC độc tài đảng trị, bí mật viện trợ không cần thông qua quốc hội, và viện trợ cho BVN từ đầu đến cuối cuộc chiến (1975). Hoa Kỳ là nước dân chủ, viện trợ cho NVN phải công khai thông qua quốc hội; và đến năm 1972 thì quốc hội Hoa Kỳ ra lệnh giảm thiểu và chấm dứt viện trợ.
Hai bên Bắc và Nam Việt Nam đánh nhau bằng võ khí của ngoại bang. Dân chúng cả hai bên đều chết vì võ khí của ngoại bang. Hàng trăm ngàn thanh niên cả hai bên đã nằm xuống, nhưng ý nghĩa khác nhau:
-Thanh niên Trung Cộng chết vì âm mưu của tập đoàn CS Bắc Kinh, số lượng không đáng kể.
– Trên 58,000 thanh niên Hoa Kỳ tử trận ở Việt Nam là ân nhân của NVN vì bảo vệ nền tự do của NVN, đồng thời vừa vì sứ mệnh ngăn chận CS từ xa của Hoa Kỳ.
– Hàng trăm ngàn thanh niên Bắc Việt Nam thiêu thân trong cuộc xâm lăng NVN vì tham vọng bành trướng chủ nghĩa CS và giấc mộng quyền lực của giới lãnh đạo BVN. Nữ văn sĩ Dương Thu Hương, vào đến Sài Gòn năm 1975, đã ngồi khóc bên vệ đường vì bà nghĩ rằng tuổi thanh xuân của bà “bị hy sinh một cách uổng phí” (nguyên văn lời của Dương Thu Hương).
– Hàng trăm ngàn thanh niên Nam Việt Nam hy sinh vì lý tưởng tự do dân chủ, bảo vệ nền độc lập và sự sống còn của miền NVN, và bảo vệ nền văn hóa dân tộc cổ truyền còn được bảo lưu ở NVN.
Cuối cùng người Việt Nam ở cả hai bên lãnh đủ bom đạn ngoại bang. Nước Việt Nam bị tàn phá trầm trọng. Cả hai bên, Nam và Bắc Việt Nam, đều bị các thế lực ngoại bang dùng viện trợ chi phối theo quyền lợi của ngoại bang. Đây là kinh nghiệm xương máu đau thương nhớ đời cho người Việt Nam ở cả hai bên, không thể tin tưởng bất cứ ngoại bang nào, dù cộng sản hay tư bản.
(Houston, 17-3-2019)
TRẦN GIA PHỤNG