Search This Blog

Friday, January 11, 2019

Tiểu Tử ông là ai?

Nguyễn Ngọc Chính

         Nếu bạn là người thích đọc những cây bút người miền Nam trước 1975 như Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên của một thời đã qua… chúng ta vẫn còn bắt gặp một nhà văn đương thời với bút hiệu Tiểu Tử, nối tiếp thế hệ những nhà văn miền Nam. 

           Tuy “đương thời” nhưng Tiểu Tử năm nay đã gần 90, cái tuổi “gần đất, xa trời” nhưng vẫn còn sáng tác (từ nước ngoài) những truyện ngắn “rặc chất Nam bộ”. Ông sinh năm 1930 tại Gò Dầu, Tây Ninh, tên thật Võ Hoài Nam, con của Giáo sư Võ Thành Cứ, dạy tại trường Trung học Pétrus Trương Vĩnh Ký, Sài Gòn. 

          Ông tốt nghiệp kỹ sư tại Marseille (Pháp) năm 1955, về nước và cũng dạy tại trường Pétrus Ký, niên khóa 1955-1956. Cuối năm 1956, ông vào làm việc tại hãng xăng Shell Việt Nam cho đến ngày Sài Gòn đổi chủ. 

          Năm 1979, ông vượt biên và định cư tại Pháp. Sau đó, ông làm cho công ty Đường Mía tại Côte d’Ivoire, Phi Châu, từ 1979 đến 1982. Ông trở lại làm cho Shell Côte d’Ivoire và về hưu năm 1991 tại Paris.. 

          Trước 1975, ông phụ trách mục biếm văn “Trò Đời” trên nhựt báo Tiến, với bút hiệu Tiểu Tử. Bút hiệu nầy ông vẫn dùng cho những bài tạp văn và truyện ngắn của ông tại hải ngoại, sau 1975. Ông đã xuất bản tại nước ngoài tập truyện ngắn “Những mảnh vụn” (2004), “Bài ca vọng cổ” (2006), “Chuyện thuở giao thời” (2015)...

          Trong bài “Giới Thiệu Truyện ngắn “Nội” Của Tiểu Tử Võ Hoài Nam”, Lê Tấn Tài viết: 
          “Truyện của Tiểu Tử càng đọc càng thích thú, say mê, dìu độc giả về những kỷ niệm thân yêu của một thời trên quê hương Tây Ninh yêu dấu. Ông Vương Văn Ký, người cùng sanh trưởng tại quận Gò Dầu với Tiểu Tử, đã viết tặng ông câu đối, như sau:

 “Cố quốc đậm đà tình Tiểu Tử,
Trời tây thắm thía điệu Hoài Nam” 

Tiều Tử - Võ Hoài Nam

          Văn phong của Tiểu Từ là lối kể chuyện của người miền Nam, bình dị nhưng duyên dáng hay cũng có thể… “duyên dáng vì bình dị”. Tiểu Tử không “làm văn màu mè”, mà các nhà phê bình văn học gọi là “làm giáng với những từ ngữ bóng bẩy, chải chuốt”.

           Đó là cách viết, theo tôi nghĩ, chỉ có những tác giả người miền Nam chân chất mới viết được. Người đọc đôi khi có cảm giác tác giả không mấy bận tâm về kỹ thuật viết lách. Rõ ràng là ông viết với tấm lòng bình dị theo kiểu… “nghĩ sao viết vậy”.

           Trong tập truyện ngắn “Bài ca vọng cổ” có một truyện cùng tên kể lại cuộc gặp gỡ của hai người Việt tại Côte d’Ivoire tận Châu Phi. Đó là cuộc gặp “kỳ lạ” giữa tác giả với một thanh niên da đen:

           “Trong lúc tôi thiu thiu ngủ thì loáng thoáng nghe có ai ca vọng cổ. Tôi mở mắt nhìn quanh rồi thở dài, nghĩ: “Tại mình nhớ quê hương xứ sở quá nên trong đầu nghe ca như vậy”. Rồi lại nhắm mắt lim dim… Lại nghe vọng cổ nữa. Mà lần này nghe rõ câu ngân nga trước khi “xuống hò”: “Mấy nếp nhà tranh ẩn mình sau hàng tre rũ bóng… đang vươn lên ngọn khói… á… lam… à… chiều…”

            Hóa ra đó là một thanh niên da đen đang ca vọng cổ. Tác giả chào “Bonjour” và hỏi, vẫn bằng tiếng Pháp: “Anh hát cái gì vậy?”“Một bài ca của Việt Nam”. Anh ta tự giới thiệu mình là Jean, người ta thường gọi là “Jean le vietnamien” ở Borotou. Jean là “con lai”, có mẹ người gốc Nha Trang… Tiểu Tử cũng tự giới thiệu mình là người Việt Nam.   

            “Bỗng hắn trợn mắt có vẻ vừa ngạc nhiên, vừa mừng rỡ, rồi bật ra bằng tiếng Việt, giọng đặc sệt miền Nam, chẳng có một chút lơ lớ:
– Trời ơi!… Bác là người Việt Nam hả?
             Rồi hắn vỗ lên ngực:
– Con cũng là người Việt Nam nè!

             “Thiếu chút nữa là tôi bật cười. Nhưng tôi kềm lại kịp, khi tôi nhìn gương mặt rạng rỡ vì sung sướng của hắn. Rồi tôi bỗng nghe môt xúc động dâng tràn lên cổ. Thân đã lưu vong, lại “trôi sông lạc chợ” đến cái xứ “khỉ ho cò gáy” này mà gặp được một người biết nói tiếng Việt Nam và biết nhận mình là người Việt Nam, dù là một người đen, sao thấy quý vô cùng. Hình ảnh của quê hương như đang ngời lên trước mặt…

             (hết trích)

             Cười ra nước mắt cũng là một trong những yếu tố hài hước trong truyện của Tiểu Tử. Trong “Thầy Năm Chén”, ông thầy thuốc, suốt đời làm việc nghĩa, bị cách mạng hành hạ nên chuẩn bị cho con vượt biên. Khi giã từ con, ông đưa cho con, thằng Kiệt, “một cái gói mầu đỏ đã phai màu, cột làm nhiều gút”. Ông nói: “Cho con cái ni (ông già người gốc Huế). Con giữ trong người để hộ thân”..

              Kiệt vượt biên đến Canada an toàn. Một hôm dở cái gói của cha cho trong lúc ra đi và thấy rong đó có gói … ba cái răng vàng. Thầy Năm Chén đã trở thành vô sản nên chỉ còn biết cạy ba cái răng vàng cho con “làm của hộ thân” đi tìm đường sống ở xứ người. Độc giả bỗng hiểu tại sao từ ngày con đi, ông Năm Chén… chỉ húp cháo.

***
           
             Ông Tư, trong “Im lặng”, là người thuộc loại “tư sản mại bản” ở Saìgòn nhưng ông đã “bí mật đóng góp tài chánh cho Giải phóng”. Khi “giải phóng miền Nam”, ông không những không được trả ơn, mà bị hành hạ, gia sản bị lấy sạch. 

           “Bỗng nhiên ông Tư nhận thức rằng tất cả những gì thuộc về ông bây giờ chỉ còn lại người vợ của ông đang chờ đợi ông ở nhà”. Nhưng bà vợ tiếc cuả, uất hận vì bị cách mạng lừa gạt, suốt ngày đay nghiến, trách móc chồng. 

           Rốt cuộc hai vợ chồng tìm đường sang Pháp, nơi con trai ông đã được bố mẹ gởi đi du học, đã thành đạt, có nhà cửa sang trọng. Ông con hỏi bố ở chơi bao nhiêu ngày. Ông Tư nói ở lại luôn! Ông con nói, giọng đặc “Việt kiều yêu nước”: 
           - “Ủa, sao lại ở luôn. Bây giờ nước nhà độc lập rồi, không còn thằng nào ngồi trên cổ mình hết; vậy mà ba má bỏ qua đây luôn. Thiệt là vô lý”. 

           Ông Tư trở thành một người câm, không nói gì được với ai nữa. Cho đến một hôm ông lầm lũi lội xuống biển để cho nước cuốn đi. Ông hóa ra là một “thằng khôn” đã vượt biên, nhưng cái đau đớn bám ông già cho dù có trốn ở cuối chân trời, rốt cuộc chỉ có nước biển mới rửa sạch.

Nhà văn Tiểu Tử giới thiệu tác phẩm mới: "Chuyện thuở giao thời" năm 2015

          Trong số các truyện ngắn của Tiểu Tử, “Chiếc khăn mùi xoa” có thể coi là điển hình cho những tình cảm đầy nước mắt tình nghĩa của những người sống lưu vong nơi đất khách, quê người. Cũng có thể coi đây như một vở cải lương lãng mạn nhưng lại chân thực của người miền Nam. 

          Nhân vật chính là “con Huê”. Thoạt đầu, người đọc cứ tưởng đây là một con bé nào đó ở vùng quê Lục tỉnh. Thực ra, đây là một người đàn bà đã luống tuổi. Nhân vật nam là một người tỵ nạn ở Pháp, ông ta kể lại câu chuyện với một người bạn đồng hương:

          “Con Huê tiễn tao ra cổng, đứng ngập ngừng một lát rồi bỗng nói một mạch, là lạ, như tụi mình trả bài thuộc lòng thuở nhỏ: Anh qua bên Tây, gặp anh Cương nói em gởi lời thăm ảnh. Nó nói rồi bỏ chạy vội vào trong, tao thấy nó đưa tay quệt nước mắt mấy lần. Tao đứng chết trân, nhớ lại lời con Nhàn, em con Huê, nói với tao: Anh biết không, chị Huê thương anh Cương từ hồi còn nhỏ lận. Người con gái ở quê mình nó thật thà, trung hậu đến mức độ mà khi trót thương ai thì thương cho đến chết. Họ coi đó là tự nhiên như nước lớn, nước ròng”...

           “Con Huê” từ ngày còn đi học cho đến nay, trên đầu đã hai thứ tóc, chỉ biết có một người tên Cương. Sau năm 1975, Cương vượt biên rồi định cư ở Pháp. Con gái ông Cương, sống ở Bruxelles, kể lại cho Tiểu Tử hay bố mẹ cô đều đã qua đời. Trước khi chết, Cương dặn con gái: 

           “Con ráng tìm cách về Nhơn Hoà, Cầu Cỏ, trao cái này cho cô Hai Huê, nói ba không quên ai hết”.

           “Cái này” là một bao thư, trong đó có chiếc khăn mùi xoa cô Huê đã tặng Cương thời trẻ. Người con gái thương bố và cũng thương cô Hai Huê nên về Việt Nam, một đất nước hoàn toàn xa lạ với cô. Cô tìm về Nhơn Hoà tìm người đàn bà tên Huê để trao lại kỷ vật của bố. Cô Hai Huê ngất xỉu khi nghe tin người bạn xưa nay đã chết bên trời Tây. 

           Hai người đàn bà - một già, một trẻ - ôm nhau khóc. Truyện khiến người đọc ngỡ ngàng khi cô gái mang cô Hai Huê sang Bỉ, sống với nhau như hai mẹ con... Truyện khiến người đọc dù có tâm hồn sỏi đá cũng cảm thấy lòng mình xao xuyến. Người ta tự hỏi, cuộc đời của những người Việt sao mà éo le đến vậy?

           Người ta thường nói văn chương là hư cấu. Nhưng đọc truyện của Tiểu Tử, người ta thấy cái chân thực và có cảm tưởng không có chi tiết nào là kết quả của sự tưởng tượng. Tất cả đều là những chuyện tác giả đã sống, hay đã nghe kể lại. 

           Vả lại, ở Việt Nam, thực tế thường vượt xa tưởng tượng. Cái đau đớn, cái thảm kịch mỗi người Việt Nam đã và đang sống, không có người viết văn nào, giầu óc tưởng tượng tới đâu, có thể bịa ra.

           Tiểu Tử hiện sống tại Pháp nhưng văn của ông “không Tây chút nào”! Trái lại, rất Việt Nam, hay nói chính xác hơn là “Nam Việt”. Lối viết của ông tựa như người ta kể chuyện bên ly la-de, bên tô hủ tíu… với những chữ “nghen”, “héng”, “nghe”… 

           Trong truyện ngắn “Ngụy”, bà Năm cháo lòng nói với bà H có chồng đi “học tập cải tạo” một câu thật cảm động và cũng rất nhân bản: “Cần gì cứ nói nghe cô Hai, đừng ngại. Mình với nhau mà…”. Tiểu Tử viết:

           “Lạ quá! Chỉ có mấy tiếng “mình với nhau” mà sao nghe ấm cúng vô cùng. Nhứt là trong hoàn cảnh này, trong giai đoạn này. “Mình với nhau” là sự nhận diện của những người cùng đứng về một phía. “Mình với nhau” nói lên sự cảm thông của những người cùng cảnh ngộ, cần nương tựa vào nhau, nâng đỡ nhau để sinh tồn. “Mình với nhau” là tình người không dị biệt giai cấp. Cho nên, khi mở rộng vòng tay, bà Năm cháo lòng chỉ cần nói có mấy tiếng đó thôi là quá đầy, quá đủ...” 

            Kể cũng lạ. Dưới ngòi bút của một tác giả người miền Bắc, miền Trung, gọi người đàn bà là “con” Huê, “con” Nhàn nghe có vẻ hỗn… nhưng ở Tiểu Tử, nó chỉ có sự thân mật. Ở ngoài đời cũng vậy, nghe ông gọi “con nhỏ này, con nhỏ kia”, người nghe chỉ cảm thấy sự thân tình. 

            Ngay cả tên những nhân vật cũng “đặc sệt” miền Nam. Không hề có Lan, Cúc, Hồ Điệp, Giáng Hương, như trong tiểu thuyết miền Bắc, cũng không có Nga My, Diễm My, Công Tằng Tôn Nữ như Huế, chỉ có những con Huê, con Nhàn, con Lúa, thằng Rớt, thầy Năm Chén, thằng Lượm, bà Năm Chiên, bà Năm Cháo lòng. 

            Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên, Tiểu Tử (và cả cây bút Nguyễn Ngọc Tư ở trong nước) đã chứng tỏ ngôn ngữ địa phương, cách diễn tả địa phương đã làm giàu cho văn hoá dân tộc. 

           Thật đáng mừng là ngày nay chúng ta vẫn còn những cây bút như Tiểu Tử. Dù đang sống trong môi tường sinh hoạt của Phương Tây nhưng ông vẫn còn giữ được “bản sắc Việt” nói chung và ngôn ngữ miền Nam nói riêng.

           Nói cho cùng, mọi bắt chước theo lối diễn tả “không phải là của chính mình” sẽ là một sai lầm, nó chỉ làm cái vốn văn hoá của ta nghèo đi. Thậm chí, đến một mức độ nào đó, nó còn hủy hoại những gì ta vốn có. 

Tiểu Tử còn là một họa sĩ nghiệp dư
        Nguyễn Ngọc Chính
tôi là… người khác
Trần Doãn Nho
image.png
Tất cả những di dân từ mọi phương trời, khi đến Mỹ, đều lần lượt được đổ vào cái được gọi là “The Melting Pot”, một nồi nấu hỗn hợp để, sau một thời gian “đun sôi”, trở thành một công dân mới. 

Nhóm chữ “The Melting Pot”, xuất hiện từ cuối thế kỷ thứ 18, là ẩn dụ ám chỉ những thành phần khác nhau “hòa tan vào nhau” (melting together) trong một toàn thể hòa hợp (harmonious whole). Nhưng mãi đến đầu thế kỷ thứ 20, ẩn dụ này mới được sử dụng một cách phổ biến để diễn tả ý niệm đó (hòa tan văn hóa và chủng tộc) trong một vở kịch có cùng tên do Israel Zangwill (1864-1926) sáng tác và được trình diễn lần đầu tiên vào năm 1908 ở New York. Dựa trên câu chuyện tình Romeo và Juliet của Willian Shakespeare, vở kịch kể mối tình trắc trở của một di dân Do Thái từ Nga với một cô gái Nga theo Chính Thống Giáo Hy Lạp. Họ vượt qua những trở ngại về chủng tộc và tôn giáo để cuối cùng được sống hạnh phúc với nhau. Vì thế, theo tác giả, “Hoa Kỳ là Thử Thách của Thượng Đế, cái Nồi Nấu Tan Chảy vĩ đại, nơi mà tất cả những chủng tộc của Âu Châu tan chảy ra và kết hợp lại.” (America is God's Crucible, the great Melting-Pot where all the races of Europe are melting and re-forming). Trong câu trích dẫn này, tác giả chỉ đề cập đến người đến từ Âu Châu. Sở dĩ thế là vì, tác phẩm được viết ra vào đầu thế kỷ thứ 20, thời điểm mà dân Hoa Kỳ đang có sự kỳ thị chống lại các sắc dân Phi Châu và Á Châu, hơn nữa, vốn là người Do Thái gốc Anh, nên không lạ gì, Israel Zangwill chỉ đề cập đến sự hội nhập của người Âu Châu da trắng. Tuy nhiên về sau này, khi Hoa Kỳ mở cửa tiếp nhận di dân từ khắp nơi trên thế giới, “Melting Pot” được dùng để chỉ sự hội nhập của mọi sắc dân. Zangwill kết luận vở kịch bằng cách mong muốn, “Hòa bình, hòa bình cho tất cả hàng triệu đứa trẻ sẽ được sinh ra, mà số phận của chúng là trám đầy lục địa vĩ đại này.” 

Từ đó, về phương diện lịch sử, “The Melting Pot” có nghĩa là sự đồng hóa của người di dân vào Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ, hoặc về chủng tộc (hôn nhân hợp chủng) hoặc về văn hóa. Trong lúc sự hợp chủng thường không mấy phổ biến, nên hầu như ý niệm này được hiểu chủ yếu là sự đồng hóa về mặt văn hóa (cultural assimilation). Di dân, một khi đã đến Mỹ, sẽ mất đi hoặc bị yếu đi căn cước tôn giáo và văn hóa riêng của họ để hội nhập vào văn hóa Mỹ.

Tóm lại, dù hình ảnh cái nồi nấu như được minh họa trong tấm tranh quảng cáo kèm theo bài viết này trông có vẻ “dễ sợ”, thực ra,“The Melting Pot” cho ta một cái nhìn lạc quan về chuyện hội nhập. Thế nên, là di dân, cũng như mọi người, ngay lúc vừa đến Mỹ, tôi hăng hái và thích thú tự lùa mình vào “the Melting Pot” để được trộn chung với mọi người, với hy vọng nhanh chóng hội nhập, hay nói cho có vẻ triết lý một chút, hóa thân thành một người…Mỹ. Nghĩa là americanize, biến thành Mỹ. Là không còn Việt Nam nữa (!) Nói tiếng Mỹ, làm như Mỹ, ăn, chơi kiểu Mỹ, tiêu tiền kiểu Mỹ, lịch sự kiểu Mỹ, tóm lại đi, đứng, nằm, ngồi vân vân và vân vân đều y như Mỹ. Hồi trước khi còn ở Việt Nam, dù thân Mỹ, thích Mỹ đến mấy, mà nói như thế là xúc phạm. Nhưng qua đây rồi, nói như thế lại nghe khác hẳn, là văn minh, là phải đạo. Ấy thế mà, rồi có lúc, nói thật, bỗngnhư có cái gì làm khựng lại. Mọi điều không dễ dàng và đơn giản như mình tưởng. Trong quá trình hóa thân, dường như ai cũng chịu một phản động lực: chống cự lại sự hóa thân. Nói cho hình tượng một chút, dù vui thích được nằm chen chúc nhau trong “the melting pot”, dường như ai cũng, ít hay nhiều, cố vùng vẫy ngoi ra ngoài để khỏi…ngột! Có khi, còn muốn nhảy luôn ra khỏi cái “melting pot.” 

Đó là song quan luận của người di dân, ngay cả đối với những người thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba. Chả thế mà tôi, thế hệ di dân thứ nhất, phải sống trong hai thế giới. Với một đầu óc ăm ắp tiếng Việt, tôi nói tiếng Anh như người ngọng, broken English, hay đúng hơn là Vietnaminglish; với một tâm hồn ngập tràn kỷ niệm Việt Nam của hai phần ba đời người và với một hoài vọng được trở về quê hương Việt Nam, tôi lại tuyên thệ nhập quốc tịch Mỹ và làm đêm làm ngày để nuôi sống mình và phục vụ nước Mỹ. Lắm khi quên bẵng cả chuyện về. Quả là nghịch lý. Trong nhà, từ bức tranh treo tường đến món ăn cất trong tủ; từ băng nhạc giải trí cho đến sách, báo, cái gì cũng Việt Nam, Việt Nam. Nhưng ra ngoài đường, bất cứ ở đâu, ngay cả ở nơi có vẻ Việt Nam nhất là Little Sài Gòn, vẫn là một thế giới đầy Mỹ. Diễn hành Tết trên đường Bolsa chẳng hạn, trong cái không gian đầy cả Mỹ, vẫn đậm đà mùi vị Việt Nam và ngược lại, trong lúc cố sức bày tỏ truyền thống Việt Nam, diễn hành Tết vẫn hao hao không khí Hoa Kỳ. Chưa kể đến các tượng danh nhân Việt được dựng nhiều nơi trên đất Mỹ, lại để nhắc cho con cháu nhớ đến những anh hùng dân tộc…Việt Nam. 

Cái song quan luận đó chi phối quan hệ cha mẹ-con cái trong gia đình. Tôi ca ngợi nước Mỹ, văn minh Mỹ, trường học Mỹ, thúc đẩy chúng trở thành những người Mỹ thực thụ trong giòng chính, nhưng đồng thời vẫn bó buộc chúng theo những phong tục Việt Nam, vẫn răn dạy chúng y như thể đang ở Việt Nam. Trường dạy cho con cái tôi những Washington, Columbus, Lincoln, Kennedy, nội chiến Nam Bắc…, tôi lại dạy cho chúng về Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Ngô Quyền, Nguyễn Huệ. Một mặt, thích chúng thành tài trên đất Mỹ, nhưng mặt khác, vẫn muốn giữ truyền thống Việt Nam và không muốn chúng kết hôn với người Mỹ (trắng) hay với người của các sắc tộc khác. Từ chối sự hợp chủng lắm khi trở thành một nỗi sợ hãi: sợ con lấy Mỹ. Chẳng những thế, còn sợ con nhiễm nếp sống luông tuồng, tự do của văn hóa Mỹ, đâm ra lai căng, mất gốc (!) Đúng là tiến thối lưỡng nan! 

Thực ra, chẳng trách gì và trách ai. Đó là nét rất chung của mọi di dân. Michael Walzer, trong bài viết có tựa đề “What does it mean to be an "American?”, cho rằng,“người Mỹ” nói chung, không bao giờ nói về đất nước [Mỹ] của họ như là một tổ quốc. Những người di dân, dù biết ơn xứ sở Mỹ đến đâu đi nữa, cũng không bao giờ quên nơi chốn cũ. Con cái họ, cũng thế, biết rằng gốc gác của chúng là ở một nơi khác. Bởi vậy, theo ông, “Không còn nghi ngờ gì nữa, con cái họ, tuy sinh trưởng ở đây, một số cảm giác ngượng ngịu với cái mới ở đây hoặc với cái cũ xa xôi, đã khiến họ cố cưỡng chống lại việc gọi đất nước này là quê hương.” (They, no doubt, are native grown, but some awkward sense of newness here, or of distant oldness, keeps the tongue from calling this land "home”.) 

Nhận xét đó, theo tôi, khá chính xác. Với bản thân tôi, nỗ lực hội nhập lại kéo theo nỗ lực chống-hội-nhập. Sự mâu thuẫn nhau đó không chỉ diễn ra một lúc nào đó, ở một thời điểm nào đó, mà tràn đầy trong đời sống hàng ngày. Từ miếng ăn, cách mặc cho đến sự suy nghĩ. Vì thế, tuy đã ở khá lâu trên đất Mỹ, mà tôi vẫn sống trong cảm giác tạm dung, kể cả những lúc hãnh diện đặt tay lên ngực khi chào cờ Mỹ.Và được trở về Việt Nam vẫn là giấc mơ nóng bỏng trong tâm hồn. 

Nhưng… 

Về Việt Nam, những tưởng là nơi tôi có thể sống lại toàn diện căn tính Việt của mình. Hóa ra là không. Sau gần 20 năm chen chúc trong cái “nồi tan chảy”, khi về lại thăm quê, sau những xúc động ban đầu, tôi cảm thấy có cái gì dửng dưng nơi cỏ cây, thành quách, đường sá. Bầu trời, áng mây, chừng như cũng nhuốm vẻ thờ ơ. Mà dường như tôi cũng vậy. 

trở về, tôi, chốn cũ 
quê hương ơi quê hương 
trăng bạc lòng không tỏ 
tôi bạc lòng, nín thinh 

Bà con, bạn bè, tôi thấy khác. Họ cũng nhìn tôi khác. Giữa lòng quê hương, tôi trở thành kẻ khác. Không những thế, thành người lạ. Chúng tôi đều lạ lẫn nhau! Trong xác thân một người Việt đã ghi lên dấu ấn của một phong cách sống khác Việt Nam; tôi đã mang theo ít, nhiều những nét …Mỹ. Hóa ra, vì đã được nấu – cách này hay cách khác – trong cái “The Melting Pot” mà tôi đã bị chuyển hóa, Việt mà vẫn không phải là Việt. Còn công an Cộng Sản thì có lẽ xem tôi là “người khác” đến hai lần: một, tôi là người của chế độ cũ và hai, tôi ở nước Mỹ về. Và cả hai loại người đều không phải làngười Việt (theo cách hiểu của họ.) Trong không khí và cảm thức đó, trở về quê cũ, mà lòng lại mang mang một cảm giác lạ lùng: quê người. Là chốn tạm dung. 

Trời ơi, tôi có đến …hai chốn tạm dung! 

Trong một bài đi trên đài VOA trước đây, tản mạn chuyện đi/vềgiữa Việt Nam và Mỹ, tôi có viết: 

Về [Việt Nam]. Rồi lại đi [Mỹ]. Sau hàng chục tiếng trên máy bay, khi đáp xuống phi trường Houston, tôi cảm thấy mình vừa VỀ NHÀ. Và yên tâm. Ô hay! Sao lại VỀ? Sao lại NHÀ? Tôi đã chẳng vừa VỀ thăm NHÀ ở Việt Nam sao! Đi, về, về, đi. Rốt cuộc, tôi treo tôi giữa hai sợi đi/về. Lơ lửng. 

Đó là một thứ biện chứng: biện chứng đi/về. Mà cũng là biện chứng hội nhập/chống hội nhập. Hai mươi lăm năm sau ngày chân ướt chân ráo đến Hoa Kỳ, bây giờ tôi mang hai quê hương, tôi đứng dạng chân giữa hai nền văn hóa, tôi đi dây giữa hai truyền thống. Mới đây, tôi đọc một bài viết rất cảm động và rất sống thực của một đứa con lai trên tờ Người Việt. “Tôi lớn lên không giống những đứa trẻ chung quanh. Bởi tôi là một đứa con lai. Do má tôi chửa hoang [với một anh lính trẻ Mỹ] mà có.” (Minh Minh)Và cảm thấy, tôicũng làmột người…lai, lai văn hóa, hybrid culture. Thì lai nào cũng là lai. Tôi là một công dân lai. 

Ngày rời đất nước ra đi, tôi có ghi lại cảm xúc của mình trong một ca khúc với đoạn cuối khá nỗi niềm: 

Tôi đã đi nhưng vẫn mong 
Mong một ngày đất nước tự do 
Khắp phố phường anh em hội ngộ 
Người gặp người ca khúc trùng tu. 

Mong ước tôi vẫn còn như cũ. Nhưng nếu có ai đó hỏi tôi: Nếu chế độ Cộng Sản bỗng nhiên sụp đổ, và đất nước trở nên tự do, dân chủ, bạn có sẵn sàng trở vềđể làm một người Việt Nam như cũ hay không? 

Tôi bùi ngùi, không biết trả lời làm sao. 

Chao ôi, thưa bạn, phải chăng tôi đã là một…người khác mất rồi! 



TDN 

(11/2018) 

__________________ 

Tài liệu tham khảo: 

- Wikipedia 
- Encyclopedia 
- Tâm sự một đứa con lai, Minh Minh, Người Việt 13/5/2018 
- What Does It Mean to Be an "American?”, Michael Walzer. 
__._,_.___