Search This Blog

Monday, February 4, 2019

Chẳng cần khô hay ngọt cũng nhức đầu!

Vũ Thế Thành
alt
Mục “An toàn thực phẩm” này cả năm nói toàn chuyện ăn cái này có hại, uống cái kia có lợi. Mệt người viết, điếc người nghe. Bài báo cuối năm này, tiễn chó đón heo, phá lệ nói chuyện thưởng thức rượu chè cho thêm phần phong lưu tao nhã…
Rượu vang khô dịch từ tiếng Anh là “dry wine”. Dân Mỹ, dân Ăng Lê cũng chẳng hiểu chữ “khô” (dry) ở đây nghĩa là gì. Nhưng dân nhậu thì hiểu. Vang khô để chỉ rượu vang không ngọt. Nhưng đôi khi uống vang ngọt vẫn cảm thấy “khô”. Sao vậy?
Đơn giản, ngọt là do đường
Đúng, ngọt là do đường. Đường trong nho lên men thành rượu. Vì nhiều lý do, đường không thể chuyển hóa hết thành rượu, nên trong rượu vang vẫn còn đường, gọi là dư lượng đường (residual sugar). Rượu còn rất ít đường gọi là vang khô (dry wine), nếu còn nhiều đường gọi vang ngọt (sweet wine).
Như thế nào là nhiều, là ít? Mỗi nơi quy định mỗi khác. Theo kiểu châu Âu thì, rượu có dưới 4g đường/lít là vang khô, dưới 12g là khô trung bình (medium dry), dưới 45g là trung bình (nửa khô, nửa ngọt), và trên 45g là ngọt.
Vì sao vang lại nhiều đường, ít đường?
Có nhiều nguyên nhân làm dư lượng đường trong rượu vang còn nhiều hoặc ít. Tất cả chỉ để phục vụ cho khẩu vị con người.
  • Thêm đường: Đường được cho vào nước ép nho trước khi lên men, rượu có dư đường nên ngọt. Thêm đường không ảnh hưởng gì đến an toàn, nhưng một số nước cấm chơi trò bá đạo này vì sợ mất uy tín bồ đào tửu của họ.
  • Ức chế lên men: Lên men càng lâu, càng nhiều đường bị biến thành rượu. Do đó, nếu đang lên men giữa chừng rồi ức chế không cho lên men tiếp, thì trong rượu sẽ còn nhiều đường. Ức chế có thể bằng cách hạ nhiệt độ, hoặc thêm rượu vào.
  • Độ ngọt của nho tươi: Độ ngọt của nho, nghĩa là bản thân trái nho có nhiều đường hoặc ít đường. Điều này tùy thuộc giống nho và khí hậu nơi trồng. Nho trồng ở vùng ấm áp thường ngọt hơn, nên hay dùng để làm vang ngọt. Còn nho ở vùng lạnh hơn làm vang khô. Ngoài ra độ ngọt của rượu cũng còn phụ thuộc vào độ chín của nho. Nho chín chứa đường nhiều hơn, lên men sẽ cho rượu ngọt hơn. Còn nho chưa chín tới sẽ cho rượu vang khô.
  • Phơi khô nho tươi: Phơi khô nho làm nồng độ đường trong trái nho tăng lên. Khi lên men sẽ cho rượu ngọt.
Cảm giác bị đánh lừa
Không phải hễ rượu vang có nhiều đường là uống thấy ngọt. Những yếu tố sau đây trong rượu vang sẽ đánh lừa cảm giác khô và ngọt.
  • Độ acid của rượu cao, thì cảm giác “khô” nhiều hơn. Nói cách khác, hai loại rượu vang có nồng độ đường như nhau, nhưng loại nào có tính acid cao, cảm giác ngọt bị giảm đi, uống như vang “khô”. Một số giống nho trồng ở vùng khí hậu ấm áp, dù có nhiều đường, nhưng có độ acid cao, nên vẫn làm rượu vang khô được.
  • Hàm lượng tannin trong rượu: Tannin có chủ yếu ở vỏ nho và hạt. Khi chà xát nho lấy dịch nho để lên men, thì chất tannin lẫn vào, nên rượu vang ít nhiều đều có tannin. Tannin là chất tạo cảm giác chát trong khoang miệng. Rượu vang dù có nhiều đường, nhưng có hàm lượng tannin cao, uống vẫn có cảm giác khô (không ngọt).
  • Độ cồn cao, làm cảm giác ngọt thành… khô: Điều này nghe rất… chói tai, vì lên men là biến đường thành rượu (cồn). Độ cồn càng cao thì đường phải ít đi. Ít đường thì rượu phải “khô” chứ. Thật ra vang loại này làm từ nho phơi khô rồi mới ép lấy dịch để lên men. Nho phơi khô thì lượng đường cao. Đường lên men thành rượu cao độ cồn, nhưng lượng đường vẫn còn nhiều. Đường nhiều nhưng uống vẫn thấy khô là do độ cồn cao. Vì sao? Rắc rối này là do… cảm giác. Rượu vang không chi có hương vị của nho, mà còn có mùi… rượu. Cả hai thứ khi vào khoang miệng tạo cảm giác “khô” (ẩm độ giảm). Cảm giác “khô” không nhận ra được vị ngọt.
Rõ ràng, chọn vang khô hay ngọt dựa trên dư lượng đường coi như trớt quớt. Một số tay bợm rượu vang rỉ tai nhau, Cabernet Sauvignon, Shiraz, Chianti… là vang khô, Merlot, Chardonnay, Rose, Sauvignon Blanc… là vang ngọt.
Thế thì thế nào?
Nhận diện “vẻ đẹp” của rượu vang cũng giống như nhận diện vẻ đẹp của hoa hậu… hoàn vũ, không thể đồng hóa cảm giác khô/ngọt, ai cũng giống ai, như mấy tay bợm được. Uống vang khô hay ngọt là tùy gout mỗi người. Với vang ngọt, đường làm chậm tốc độ chuyển hóa của rượu, nên uống vang ngọt mà lỡ quá chén thì dễ bị nhức đầu. Mà thiệt tình (chủ quan), đã nhâm nhi rượu ngẫm chuyện đời, mà đời thì đâu có ngọt, vớ phải vang ngọt thì thà nốc ly sinh tố cho lành. Vang ngọt dành cho mấy bà nhấm nháp để ra cái điều… hòa đồng, uống hoài ly rượu không cạn, hóng chuyện lỡ lời. Chẳng cần khô hay ngọt cũng nhức đầu!
Vũ Thế Thành

Hoa Kỳ rút lui khỏi thế giới?

Lê Phan

alt
Hoa Kỳ là cường quốc mạnh nhất của thế giới từ năm 1945, khi vai trò đó Luân Đôn đã hầu như trao cho Washington sau Đệ Nhất Thế Chiến, sau cùng rơi hoàn toàn vào tay Hoa Kỳ sau Đệ Nhị Thế Chiến.
Kể từ năm 1991, khi Chiến Tranh Lạnh kết thúc với sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết, Hoa Kỳ trở thành cường quốc duy nhất của thế giới, một thế lực mà không cường quốc nào khác có thể thách thức được.
Trong suốt 26 năm – gần một thế hệ – Hoa Kỳ đã có thể làm bất cứ điều gì mình muốn, ở bất cứ thời điểm nào, ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Bất chấp sự suy thoái của một số những khu vực quan trọng của nền kinh tế Hoa Kỳ, quân đội Hoa Kỳ có thể bao trùm thế giới với những cuộc triển khai lực lượng khi Ngũ Giác Đài chia hành tinh của chúng ta thành “những bộ chỉ huy theo địa lý” để chính thức hóa sự chế ngự của Hoa Kỳ.
Cũng phải nói là có nhiều nơi trên địa cầu này người ta vui mừng chào đón sự chế ngự của Hoa Kỳ. Tuy Hoa Kỳ không hoàn toàn là bất vụ lợi, Hoa Kỳ đã là một thế lực tích cực trên trường quốc tế so với bất cứ thế lực nào khác. Ngay cả những người không ưa gì sự chế ngự của Hoa Kỳ, khó thấy có ai muốn bị Bắc Kinh và các lãnh đạo độc tài của đảng Cộng sản Trung Hoa chế ngự.
Nhưng từ năm 2017, những dấu hiệu bắt đầu xuất hiện cho thấy sự chế ngự của Hoa Kỳ, vốn đã từ từ đi xuống, đã đến hồi mà Hoa Kỳ không còn chế ngự hay không muốn chế ngự thế giới nữa. Một thời đại mới đang hình thành, tuy vẫn còn quá sớm nên chưa biết rồi sẽ ra sao.
Là tổng tư lệnh của một lực lượng vẫn còn chế ngự thế giới, trong năm đầu tiên ở Văn Phòng Bầu Dục, Tổng thống Donald Trump đã nổi giận và bực tức trên Twitter hầu như mỗi ngày, với không có ảnh hưởng gì ngoại trừ việc làm cho các đồng minh của Hoa Kỳ rối trí về chuyện gì đang thực sự xảy ra ở Washington. Trên thực tế, Hoa Kỳ có hai chính sách ngoại giao và quốc phòng: những điều mà tổng thống nói và những điều mà các quan chức trong bộ máy an ninh quốc gia làm. Sự tách rời giữa những tuyên bố của tổng thống, hầu hết toán loạn, và chính sách thực sự với thế giới gia tăng trong suốt năm 2017.
Chả trách Bắc Hàn không sợ, mặc dầu một năm tổng thống xỉ vả Bình Nhưỡng. Triều đại Kim tiếp tục diệu võ dương oai khả năng hạt nhân, bắn hỏa tiễn trên Thái Bình Dương để chứng tỏ sức mạnh của họ, và những đòi hỏi của Washington buộc họ phải ngưng chả có ảnh hưởng gì cả.
Trong khi chính phủ Hoa Kỳ vẫn tiếp tục nói là Bắc Hàn sẽ không bao giờ trở thành một cường quốc hạt nhân, cái quốc gia khó chịu đó quả là rõ ràng có vũ khí hạt nhân rồi. Chính sách ngoại giao không dựa trên thực tế này có thể kết thúc rất tệ hại cho tất cả mọi người – ngay cả một cuộc chiến quy ước ở bán đảo Triều Tiên cũng có nghĩa là nhiều triệu dân tị nạn và thương vong – là chuyện hiển nhiên và trở thành một trong những chữ nếu lớn nhất cho năm sau. Cuộc gặp gỡ đầy kịch tính ở Singapore năm 2018 thực ra không giải quyết được gì cả ngoại trừ việc Bắc Hàn vẫn tiếp tục sở hữu khả năng hạt nhân.
Cũng phải nói là Tổng Thống Trump thừa hưởng một Hoa Kỳ mà sức mạnh bắt đầu suy yếu. Những vị tiền nhiệm của ông đã gây nhiều thiệt hại cho uy thế đó trước khi ông Trump quyết định tấn công thêm. Sự can thiệp với ý định tốt của Tổng Thống Bill Clinton vào vùng Balkan đã tạo ảo tưởng là Hoa Kỳ biết “xây dựng quốc gia” từ những xã hội đổ vỡ mà không tốn kém bao nhiêu.
Phản ứng quá mức của Tổng Thống George W. Bush đối với đại vùng Trung Đông đã tạo nên một vùng rối loạn đầy vấn đề, và trao Iraq cho Iran trong khi để cho Saudi Arabia hoành hành trong vùng thuộc Hồi Giáo Sunni. Ảnh hưởng xấu đến uy tín của Hoa Kỳ liên quan đến những cuộc chiến thất bại ở Iraq và Afghanistan thật to lớn. Đa số thế giới sẵn sàng chấp nhận sự chế ngự của Hoa Kỳ nếu hữu hiệu. Nhưng sự thất bại ở hai mặt trận này cho thấy là Hoa Kỳ đã mất khả năng hữu hiệu.
Tổng Thống Barack Obama cũng chả làm gì tốt hơn. Đối phó với một Iraq kinh hồn mà ông thừa hưởng, ông đã chỉ tìm cách bỏ chạy. Chưa kể cố gắng không đủ ở Afghanistan, cố gắng nửa vời của ông ở Libya, lật đổ chế độ Gadhafi nhưng không có gì thay thế, rồi sự thất bại của ông trước lằn đỏ mà ông đã đặt ra ở Syria, một hành động dẫn đến Hoa Kỳ trao vấn đề Syria cho Nga. Sự ngần ngại của ông trước sự hung hăng của ông Vladimir Putin ở Ukraine đã thúc đẩy thêm cho ông này ngày càng dấn tới. Một phần nào sự ngần ngại của ông Obama đối đầu với Nga đã khuyến khích sự can thiệp của Nga vào cuộc bầu cử tổng thống năm 2016. Ông Putin và những kẻ xấu khác đã nhận được thông điệp là Hoa Kỳ của Tổng Thống Obama sẽ không chống lại những kẻ gây rối. Sự bận tâm của ông trước đe dọa của Trung Cộng đã làm ông ngần ngại can thiệp vào những nơi khác.
Ngược lại, nếu ông Obama không muốn can thiệp thì ông Trump đi đường khác, với những lời tuyên bố hung hăng về sức mạnh của Hoa Kỳ và sẵn sàng độc hành, bất cứ lúc nào Washington muốn, bất chấp hệ quả.
Cái chính sách ngoại giao bất chấp thế giới của ông Trump có rất nhiều thí dụ. Từ việc đơn phương công nhận Jerusalem làm thủ đô của Israel đến việc coi thường các đồng minh trong liên minh Bắc Đại Tây Dương NATO, thế giới sửng sốt nhìn một Hoa Kỳ không còn tin cậy được nữa. Khi người lúc đó là đại sứ Hoa Kỳ ở Liên Hiệp Quốc Nikki Haley, công khai đe dọa các thành viên phải bỏ phiếu chống lại một nghị quyết ở Đại Hội Đồng lên án việc Hoa Kỳ dời tòa đại sứ về Jerusalem, Hoa Kỳ đã thất bại nặng nề. Kết quả là hầu như toàn thể thế giới bỏ phiếu chống lại Hoa Kỳ, với hầu như toàn thể đồng minh trong Liên Minh NATO.
Tổng Thống Trump thích nói về “sức mạnh” của Hoa Kỳ và ông thích tweet về quân đội, mặc dầu ông chưa từng một ngày trong quân ngũ. Nhưng quả là ngày nay sự chế ngự của Hoa Kỳ chỉ còn trên lãnh vực quân sự. Với một xã hội chia rẽ, chính trị đảng phái, và suy thoái trong sản xuất công nghiệp, Ho 
Nhưng mặc dầu tổng thống ưa khoe khoang về quân đội, những năm dài chiến tranh du kích ở Afghanistan đã xói mòn khả năng của quân đội Hoa Kỳ. Trong nhiều năm đổ nhiều ngàn tỷ đô la ở Iraq và Afghanistan, quân đội Hoa Kỳ đã không có tiền và thời giờ để canh tân và tinh thần ngày càng suy yếu.
Không quân ngày càng mất phi công đến mức báo động vì sự hấp dẫn của các hãng hàng không dân sự, trong khi có quá ít chiến đấu cơ F-22 để chế ngự bầu trời. Hải quân trong khi đó bị bỏ rơi vì những cuộc chiến trên bộ. Khi tính đến sự việc là hải quân Hoa Kỳ đã là người bảo đảm cho tự do hải hành trên toàn thế giới từ năm 1945, bảo vệ cho mậu dịch quốc tế và là chủ lực của quyền lực Hoa Kỳ, sự suy yếu của hải quân là một điều đáng lo. Ngay cả lục quân cũng không khá gì hơn. Nhiều năm thiếu đầu tư cho pháo binh và chiến tranh điện tử đã đe dọa sức mạnh của bộ binh.
Nhưng trên hết là chính sách độc hành của Tổng Thống Trump vốn đang xói mòn hệ thống toàn cầu mà Hoa Kỳ đã dày công dựng lên từ Đệ Nhị Thế Chiến. Sức mạnh của Hoa Kỳ vốn không phải chỉ là sức mạnh của nòng súng mà còn là sức mạnh của một cường quốc dân chủ tự tin và sẵn sàng chia sẻ. Khi Hoa Kỳ trở thành ích kỷ thì sức mạnh đó cũng khó duy trì. (Lê Phan)