Search This Blog

Tuesday, November 7, 2017

Tinh Thần và Thể Xác
Bác sĩ Nguyễn Ý Đức
Inline images 3

Khoa Tâm Thần Sinh Học có lẽ sẽ thấy những tiến bộ và thành công được hoàn thành trong vòng 30 năm nữa. Một hệ gene là tập hợp toàn bộ DNA của cơ thể, bao gồm tất cả các gene của người đó. Mỗi hệ gene chứa tất cả thông tin cần để xây dựng và duy trì cơ thể. Ở người, một bản sao của toàn bộ hệ gene có hơn 3 ngàn tỉ cặp được chứa trong nhân tế bào. Bản đồ này cho biết rõ các bất thường về di truyền nằm trong hội chứng phức tạp như co giựt không tự ý hoặc các bệnh khác như tâm thần phân liệt và loạn tâm thần hưng-trầm cảm. Chất đạm bị thiếu sót trong các bệnh này sẽ bị cô lập và sẽ có các điều trị để xác định và điều chỉnh trước khi xuất hiện trong đời sống hoặc ngay khi sinh. 

Những tinh xo và tiến bộ của chụp hình não sẽ vượt xa các kỹ thuật hiện có đặc biệt là những khám phá của chụp hình cắt lớp.Từ đó chúng ta sẽ biết rõ về tổ chức, cấu tạo và bất thường về chuyển hóa của nguyên nhân các bệnh tâm thần. Phát triển của điện lực trong thần kinh não sẽ định rõ vai trò của não trong khi dùng não điện  đồ và một lần nữa lại cho biết các bất thường về hoạt động của tâm thần và các bộ phận. 

Dược tâm trị liệu
Inline images 2

Mục đích của tâm dược lý là làm những gì hết sức tiến bộ. Bằng cách tinh khiết hóa cách điều trị đang áp dụng, dược phẩm sẽ an toàn hơn và dễ chịu khi dùng và từ đó khiến  cho bệnh nhân cảm thấy an toàn hơn và sẵn sàng dùng và bệnh nhân sẽ tuân theo lời dặn của y giới. Ngày nay, thiếu tuân theo này là một ngăn cản rất lớn cho điều trị và phòng ngừa bệnh trong thời gian lâu. Hơn nữa, giảm tác dụng phụ sẽ khiến dược phẩm không được dùng theo đúng cách và đó là điều ta sẽ gặp với các dược phẩm trị trầm cảm khi thuốc này được cho với một liều lượng gần như công hiệu vì các tác dụng phụ rất khó chịu. 

Các dược phẩm benzodiazepines, một loại an thần nhẹ, có cơ may tồn tại lâu dài hơn khi chúng ta biết rõ về tác dụng tích cực, tiêu cực và có lựa chọn tại thụ cảm thần kinh.Thí dụ dược phẩm cổ điển diazepam (Valium) vừa có tác dụng chống lo âu cũng là loại chống kinh phong và làm giảm trí nhớ cũng như tăng tác dụng của rượu. Một số benzodiazepines mới có thể gây ra vô cùng lo sợ và hoang mang trong khi các chất khác nhiều ưu điểm hơn là có thể tăng trí nhớ và chặn ngộ độc vì rượu.

Nootropics là những chất được coi như thuốc bổ mà thực ra chẳng có tác dụng gì, hình như cũng làm tăng sức khỏe và bảo vệ khi gặp căng thẳng. Đã được thông dụng ở Nhật Bản và nhiều nước tại Viễn Đông, nootropics nổi bật như là những chất có rất ít tác dụng nhưng lại bảo vệ cơ thể với kích thích có hại của môi trường. Chất này có thể trì hoãn sự hóa già và giảm hậu quả của bệnh lên con người.
Nhiều dược phẩm khác được tìm ra với tác dụng mới lạ như cho chúng ta hy vọng với nhiều công dụng khác và công hiệu điều trị hiệu quả hơn. Mặc dù một số sẽ không giữ được lời quảng cáo, các chất khác chưa chắc đã thành công khiến cho lợn lành chữa thành lợn què.

Tìm hiểu về rối loạn trí nhớ.

Inline images 1

Với sự gia tăng tuổi thọ của dân chúng, rối loạn trí nhớ của bệnh Alzheimer ngày một gia tăng và trở nên rất quan trọng. Thành ra tìm hiểu kỹ càng về bệnh lý  sẽ giúp chúng ta sớm tìm ra và điều trị như vậy có thể giảm bệnh. Dược phẩm Ondansetron tác dụng lên điểm tiếp nhận đã chứng tỏ rất tốt lên trí nhớ suy giảm vì tuổi già. Cũng nên nhắc lại là thuốc Ondansetron được dùng riêng rẽ hoặc cùng với các thuốc khác để ngăn ngừa buồn nôn và nôn mửa do dùng các thuốc điều trị ung thư hóa trị và liệu pháp xạ trị.Thuốc cũng được dùng để ngăn ngừa và điều trị buồn nôn và nôn mửa sau phẫu thuật.

Cần nhấn mạnh tới để sớm khám phá và phòng ngừa lâu dài các rối loạn tâm trí ( từ lo âu đến buồn phiền và tâm thần rối loạn) trong khi tình trạng kinh niên của các điều kiện này được hiểu rõ. Ngoài ra, sẽ có nhiều sự kiện mới trong hiểu biết của chúng ta về nguyên lý sinh học trong các vấn đề xã hội và rối loạn tâm lý như nghiện rượu và thuốc cấm. Và các dược phẩm sắp được chuẩn y để chữa các dấu hiệu của thèm thuốc và giảm ám ảnh đưa tới tái diễn.

Sự phát triển vế Tâm Lý Xã Hội.
Inline images 4

Đã có nhiều thay đổi về tổ chức trong thần kinh tâm lý học cho biết sự ra đời của Tâm Lý Xã Hội. Chuyển từ bệnh viện sang chăm sóc bởi cộng đồng sẽ tăng vì các bệnh viện tâm thần sẽ đóng cửa và cộng đồng cũng như dân chúng sẽ chịu trách nhiệm với nhiều người nằm cả tháng trong bệnh viện tâm thần.

Sự thay đổi này sẽ đưa đến nhiều thách đố  và hậu quả sẽ đưa ra cả điểm lợi và bất lợi. Chấn chỉnh sự chăm sóc từ cộng đồng sẽ mở rộng, cung cấp nhiều nhân lực và khu gia cư để bệnh nhân ở gần gia đình. ‘Bình thường hóa’, (trong đó cá nhân được khuyến khích sống bình thường với bất lực của mình)  sẽ đưa tới kết quả là tăng chất lượng cuộc sống cho nhiều bệnh nhân với các vấn đề tâm trí kinh niên. Khốn khó thay là nhiều bệnh nhân sẽ không thích nghi được nếu sự ốm yếu của mình bị đánh giá quá thấp. Họ sẽ là gánh nặng cho xã hội và sẽ bị tù đầy hoặc lang thang không chỗ ở, ngủ trước các cửa tiệm.

Để đối phó với sự đòi hỏi về nơi ở, trợ y và nhân viên chưa kịp huấn luyện phải được mướn để ban đầu coi như giảm chi tiêu nhưng thực ra đã giảm chất lượng và mức độ chăm sóc. Do đó, nhiều kiểu chăm sóc mới  thích hợp và hữu hiệu cần được lập pháp thông qua.
Tăng chi phí cho xã hội và tài chánh để cung cấp dịch vụ chăm sóc người bệnh tâm thần cùng với sự hiểu biết rằng tất cả các bệnh tâm thần có thể chữa khỏi đều đưa tới sự lật ngược vấn đề là trở lại các viện tâm trí nhỏ hơn.

Các tiến bộ Tâm Lý Liệu Pháp.
Inline images 5

Tâm lý liệu pháp có lẽ sẽ chuyển xa ý nghĩa nguyên thủy của thần kinh tâm trí cổ điển trong đó nó không còn được chữa các trường hợp rất buồn chán và tâm thần phân liệt và tăng chấp nhận vai trò  chăm sóc sơ khởi. Góp ý kiến sẽ tăng nhiều và có sẵn sàng khi mà dân chúng càng ngày càng giầu và để ý tới sức khỏe của mình hơn. Tâm lý trị liệu sẽ để ý tới điều trị ngắn hạn hơn là phân tâm lý cổ điển, dành cho những người hay mơ màng và những người được huấn luyện dài hạn.

Tương lai của tâm lý trị liệu được coi như để giúp những người có bệnh về thể chất hiểu rõ nguồn gốc tâm lý của triệu chứng. Hiện nay có nhiều bệnh nhân tới các bác sĩ gia đình và các nhà chuyên môn với các triệu chứng về cơ thể mà những triệu chứng này là dấu hiệu của bất đồng tâm lý hoặc do tâm lý làm trầm trọng hơn.
 Tiến bộ về liệu pháp nhận thức hành vi, nhất là trong điều trị lo âu sẽ đưa tới các phương pháp điều trị để giảm căng thẳng tâm lý và đưa tới các bệnh tâm thần như tâm thần phân liệt.
    
Vấn đề phí tổn.
Khi điều trị mỗi ngày mỗi đắt đỏ thì sẽ có các chương trình để chất lượng đời sống người bệnh khá hơn với phân tích chi phí tối đa. Bệnh nhân nhấn mạnh đến quyền lợi của người tiêu thụ sẽ yêu cầu pháp luật để đòi bồi thường vì tác dụng phụ của thuốc và sự lơ là của người hành nghề. Do đó ngành tâm lý bảo vệ sẽ phát triển hơn. 

Các bất hòa về chi phí sẽ còn mãi giữa những người tìm cách chữa cho nhiều rối loạn khác nhau và sự hy sinh cho tương lai sáng lạn và những người ám ảnh với điều trị bệnh tâm thần trong hoàn cảnh hiện nay đều có vẻ vô vọng.

Sự tăng vọt đáng kể trong khi tìm hiểu vế nguyên nhân của các bệnh tâm thần quan trọng, cách điều trị và chăm sóc sẽ tới. Quá khứ cho chúng ta hay rằng việc tăng vọt không lường trước và ít tiên đoán nhưng khi đã xẩy ra sẽ có những biện pháp để sửa sai. Mức nhẩy vọt này được tiếp theo bằng kéo dài thời gian điều trị và dưỡng bệnh. Nhưng trong việc phân tích cuối cùng, chúng ta không biết khi nào sẽ xẩy ra vì mọi cố gắng đều không được tưởng thưởng bằng sự thành công. 

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Làm Thinh

Tiểu Tử 

 

    Cái làng nhỏ đó nằm gần biển Manche, cách thành phố Etretat (miền bắc nước Pháp) độ 10 km. Trong làng có chừng năm chục nóc gia nằm chùm nhum lại thành một khu, trừ một cái nhà nằm rời xa một mình về phía biển. Người trong làng gọi cái nhà đó là "nhà ông Lê”.

    Cách đây mấy năm, ông Lê – người Việt Nam độ 40 tuổi – từ Paris ra đây mua lại cái nhà đó để làm nhà nghỉ mát. Mùa hè và các ngày lễ lớn, ông đưa vợ con – vợ người Pháp và hai con trai chín mười tuổi – ra đây đổi gió và lâu lâu ông cho bạn bè mượn năm bảy hôm. Ông có mướn một người trong làng – tên Jean Marie – trông nom nhà cửa và cắt tỉa vườn tược cây trái.

    Mới đầu, người trong làng cứ tưởng ông Lê là người Tàu. Cho nên, họ hơi dè dặt. Chừng biết ổng là người Việt Nam, họ cởi mở hơn, thân thiện hơn. Làm như, đối với họ, người Tàu là người ngoại quốc xa lạ, còn người Việt Nam thì ít nhiều gì cũng đã từng được xem là người… trong nhà! Họ càng có cảm tình với ông Lê khi biết rằng ổng qua Pháp học từ hồi mười lăm tuổi, rằng ổng tốt nghiệp trường Arts et Métiers, rằng ổng làm chức lớn trong cơ quan Nhà Nước .v.v… Họ hay nói với nhau: "Vợ chồng ông Lê thật dễ thương".

Vùng này cao hơn mặt biển hai ba chục thước mà cuộc đất lại không lài lài xuống lần khi ra gần biển như ở những nơi khác, nên không có bãi. Ở đây, biển đâm thẳng vô bờ, loại bờ đá dựng thiên nhiên sừng sững như một bức tường cao thật cao. Những ngày biển động, sóng đập vào chân tường đá nghe ầm ầm.Vì nhà ông Lê nằm cách bờ đá dựng không xa, nên vào những ngày đó, từ trong nhà nghe âm vang tiếng sóng giống như những tiếng thở dài…

    Hè năm đó, ông Lê và gia đình ra đây nghỉ mát chỉ có ba tuần thay vì một tháng như thường lệ. Ông nói với ông Jean Marie – người quản gia – rằng phải trở về Paris để đón cha mẹ từ Việt Nam qua. Ông Jean Marie hỏi ông có định đưa ông bà cụ ra đây chơi không thì ông Lê trả lời rằng không, bởi vì ông bà cụ mới xuất ngoại lần đầu tiên nên phải đợi một thời gian cho quen với khí hậu phong thổ.

    Vậy mà chỉ mươi ngày sau, thấy ông Lê chở ra đây một ông già tóc trắng với hai va-ly hành trang. Người quản gia nghĩ: " Chắc định ở lâu nên mới mang hành trang nhiều như vậy ". Ông Lê giới thiệu: " Đây là cha tôi. Còn đây là Jean Marie, quản gia". Sau đó, ông nói: " Trong thời gian cha tôi ở đây, tôi xin nhờ bà Jean Marie lo dùm việc nấu nướng giặt giũ giống như những lúc gia đình tôi ra đây nghỉ mát. Có điều là cha tôi không thể đi chợ ở Etretat như chúng tôi vẫn làm lâu nay, nên tôi nhờ ông bà lo giùm luôn vụ này. Đổi lại, tôi sẽ tăng tiền thù lao của hai ông bà lên mười phần trăm. Tôi xin ông bà chấp nhận cho".

    Sau khi gọi điện thoại về nhà bàn tính với vợ, ông Jean Marie bằng lòng. Tiếp theo đó, ông Lê trao cho ông Jean Marie một số tiền và nói: " Đây, tôi gởi ông bà một tháng tiền chợ. Tôi dự trù dư dả phòng khi cha tôi cần mua những gì khác, nhưng nếu thấy thiếu thì điện thoại cho tôi hay để tôi gởi ra thêm. Mỗi cuối tháng , tôi sẽ gởi tiền để gối đầu cho tháng kế tiếp, ông bà yên tâm". Ông Jean Marie hỏi: " Còn bà cụ đâu? Sao không cùng ra đây với ông cụ?". Ông Lê trả lời như không trả lời: "Mẹ tôi ở Paris".

    Rồi sau khi nói mấy lời cám ơn ông Jean Marie, ông bắt tay từ giả người quản gia và ông già tóc trắng để trở về Paris, vội vã như không muốn vấn vương gì nữa! Thấy ông Lê đối xử với ông già tóc bạc như là một người quen thường, ông Jean Marie vừa ngạc nhiên vừa bất nhẫn, bởi vì ông nhận thấy rõ ràng ông già tóc bạc đó và ông Lê thật sự giống nhau như hai cha con…

    Ông già ở trong nhà ông Lê như một cái bóng. Ông không xem tê-lê, không nghe ra-đi-ô. Ông cứ ngồi ở xa long hút thuốc liên miên, mắt nhìn thẳng ra cửa kiếng hướng về phía biển, giống như đang coi một cái gì ở ngoài đó. Ở ngoài đó không có gì hết! Không có một cái cây, không có một lùm bụi. Cỏ dại cũng không mọc cao. Mặt đất trống trơn chạy thẳng ra bờ đá dựng. Từ chỗ ông ngồi, nhìn ra chỉ thấy đất và trời. Lâu lâu, vài con hải âu bay phớt ngang, và lâu lâu trên nền trời trong xanh của mùa hè, một sợi mây đi lạc… Chỉ có bao nhiêu đó, vậy mà ông cứ ngồi nhìn, nhìn đăm đăm…

    Mới đầu, ông bà Jean Marie cứ tưởng rằng ông già không biết nói tiếng Pháp. Nhưng sau mấy lần hỏi han thấy ông trả lời trôi chảy mạch lạc, ông bà mới yên tâm. Có điều là hỏi thì ông mới trả lời chớ không thấy bao giờ tự ông gợi chuyện. Suốt ngày, ông làm thinh. Cần dùng gì thì ông viết ít chữ rồi gắn trên mặt tủ lạnh. Ông bà Jean Marie thấy vậy cũng ráng giữ ý không làm tiếng động khi quét dọn hay đi ra đi vào. Nhiều khi, họ có cảm tưởng như trong nhà không có ai hết! Chỉ có mùi khói thuốc là nhắc đến sự hiện diện của ông già…

    Ông già đó tên Lê Tư. Hồi thời trước – cái thời mà miền nam Việt Nam chưa biết mùi cộng sản – ông Tư là một nhà thầu xây cất rất có bề thế ở Sàigòn. Ông giao du rộng, lại "biết cách giao du", thêm giỏi tính toán sắp xếp nên ông trúng thầu nhiều công trình lớn của Nhà Nuớc và của các công ty ngoại quốc. Do đó, càng ngày ông càng nổi tiếng và sự nghiệp thì cứ nhân lên gấp năm gấp mười. Dù vậy, ông không bao giờ chối bỏ cái gốc hàn vi của ông và rất tự hào đã bắt đầu bằng hai bàn tay trắng.

    Ông thường nói: " Hồi tôi từ Đà Nẳng vô Sàigòn, tôi chỉ có một chiếc xe đạp cũ và cái nghề thợ hồ. Ban ngày đạp xe đi làm, ban đêm đạp xe đi học thêm ở Trung Tâm Văn Hoá Pháp và hội Việt Mỹ. Hồi thời đó, quanh năm suốt tháng , tôi chỉ biết có thắt lưng buộc bụng, ăn uống kham khổ, để dành tiền gởi về cho cha mẹ ở Đà Nẳng và để đóng các học phí. Vậy mà tôi vẫn không ngã lòng.

    Lúc nào trong đầu tôi cũng nghĩ rằng phải cố gắng vương lên, bởi vì không ai giúp mình bằng mình hết. Nhờ vậy mà bảy tám năm sau, tôi đã có một cơ sở vững chắc để cạnh tranh với các nhà thầu khác. Rồi thì xây cất hết công trình này đến công trình khác, có khi hai ba công trình cùng một lúc, cơ sở cứ lớn lần lớn lần để trở thành bề thế như ngày hôm nay. Nghe tôi nói tôi bắt đầu sự nghiệp bằng con số không chẳng có mấy ai tin hết ".

    Khi đã khá giả, ông mới cưới vợ. Ông hay nói đùa: " Tình phải có tiền đi theo nó mới vững. Giống như bê-tông phải có cốt sắt nó mới bền!".
    Ông bà Lê Tư chỉ sanh có một người con trai đặt tên Lê Tuấn. Năm Tuấn được mười lăm tuổi, ông gởi con qua Pháp học. Ông muốn nó học ngành kiều lộ để sau này trở về nối nghiệp ông. Ông nói: " Việt Nam mình cạnh tranh không nổi với hãng thầu ngoại quốc bởi vì mình có binh mà thiếu tướng ". Và ông hy vọng trong tương lai, con ông sẽ thực hiện những công trình vĩ đại, vượt trội hẳn những gì ông đã làm. Để cho ông được nở mặt.

    Cái tương lai đó bỗng tắt ngúm chỉ trong một thời gian ngắn sau ngày 30 tháng tư, 1975… Trước cái ngày đen tối đó, một người như ông Lê Tư dư sức để di tản dễ dàng. Vậy mà không thấy ông nhúc nhích. Ông cứ điềm nhiên hút thuốc, uống trà, xem truyền hình, nghe ra-đi-ô. Giống như một kẻ bàng quan. Bà Lê Tư thì cứ đi ra đi vô, hết gọi điện thoại cho bà bạn này đến gọi cho bà bạn khác. Rồi thúc giục ông đi di tản. Bà nói:

    - Trời ơi! Mấy bả đi hết rồi kìa!

    Ông cười:

    - Thì ai sợ cứ đi. Bà yên tâm. Tôi bảo đảm không có sao hết. Nói thiệt với bà, "họ" đã liên lạc với tôi cách đây hơn tháng, nói rõ rằng họ cần dùng những người như tôi để xây dựng lại đất nước. Cho nên, bà thấy tôi không? Tôi bình chân như vại!

    Điều mà ông không nói cho bà biết là từ bao lâu nay, ông vẫn đều đặn gởi tiền giúp cách mạng qua ngả thằng cháu – cũng gốc liên khu năm như ông – đang hoạt động ở mấy tỉnh miền Đông. Chính người cháu đó đã cho người về gặp ông để giải thích rõ ràng chủ trương đường lối của cách mạng. Nhờ vậy, ông mới vững tâm tin tưởng.

    Đâu dè, sau khi cách mạng "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", cách mạng quay về đánh tư sản. Ông Lê Tư cũng "bị" mời đi "làm việc" như mọi người. Ông có xuất trình giấy chứng minh của liên khu bảy, là vùng ông đã giúp đỡ, nhưng lá "bùa" đó không linh! Ông cũng có nghĩ đến thằng cháu cách mạng, nhưng bây giờ ông không biết nó ở đâu để gọi nó đến làm chứng. Vì vậy, ông vẫn bị mời tới mời lui để "làm việc". Mỗi lần làm việc, họ quay ông như…con dế!

    Đến nỗi về sau, mệt mỏi quá, chán chường quá, thấy nói gì cũng vô ích, nên ông bèn làm thinh, mặc cho họ muốn nói gì thì nói, hỏi gì thì hỏi. Rồi đến lần "làm việc" cuối cùng , ông cũng làm thinh ký tên trên xấp giấy tờ họ đưa ra, ông ký mà không thèm đọc qua một chữ! Lần đó, ông bước ra khỏi cơ quan, có cảm tưởng như đang sống trong một thế giới khác, một thế giới…lộn ngược!

    Ông không còn khái niệm không gian thời gian. Ông chỉ biết rằng sau cái phút ký tên đó, ông trắng tay. Và ông còn nghe trong đầu câu nói ơn nghĩa "nhờ ông đã sớm giác ngộ cách mạng nên không phải đi cải tạo". Ông lái xe về nhà như một người máy. Ông đâu biết rằng trong cuộc " đổi đời vĩ đại " này, con người đâu còn sống bằng lý trí: con người chỉ sống bằng bản năng thôi!

    Về đến trước cổng nhà, bỗng nhiên ông Lê Tư nhận thức rằng tất cả những gì trực thuộc về ông bây giờ chỉ còn lại người vợ đang đợi ông ở nhà… Xưa nay, mọi việc trong gia đình đều do ông quyết định. Bà Lê Tư luôn luôn làm theo ý của ông, không bao giờ thắc mắc. Bởi vì bà hoàn toàn tin tưởng vào người chồng mà lúc nào bà cũng cảm phục như một thần tượng. Bà nói: "Từ bàn tay trắng dựng nên sự nghiệp đồ sộ như vầy, không phải ai làm cũng được!". Và bà thường ví chồng bà như một cây cau vững chắc để bà bám vào đó như một giây trầu…Vậy mà bây giờ…bây giờ…Ông Lê Tư không biết ví mình như cái gì nữa.

    Cách mạng mà ông đã giúp từ ngày ông dựng nghiệp, hôm nay nhân danh gì gì đó, đã biến ông thành con số không. Dễ dàng như người ta cầm nùi giẻ bôi hết những hàng chữ phấn trên một bảng đen, bôi mà không cần biết những hàng chữ đó viết những gì! Chỉ trong có một khoảnh khắc, ông chẳng còn gì hết và bản thân ông cũng không là gì hết! Ông đã trở thành một "thứ gì" đó không có tên, một sản phẩm của cách mạng mà sách vở xưa nay chưa thấy có định nghĩa!

    Ông bước vào nhà mà cảm thấy mình lêu bêu như bọt nước, không làm chủ được gì hết, kể cả làm chủ chính bản thân mình! Cái biệt thự có hồ tắm vườn hoa, có năm ngăn bảy nắp, mà ngày xưa ông đã xây cất cho tương xứng với địa vị xã hội của ông…bây giờ bỗng trở nên ngạo nghễ, vô duyên. Nhà vắng teo. Một số gia nhân đã xin nghỉ việc từ những ngày sôi động, số còn lại đã được cho nghỉ ngay sau ngày 30 tháng tư. Bà Lê Tư chắc đang làm gì ở dải nhà sau nên ông không nghe tiếng động. Ông đốt điếu thuốc rồi ngồi xuống phô-tơi nhìn thẳng ra vườn. Ông nhìn mà không thấy gì hết! Yên lặng…

    Tiếng bà Lê Tư làm ông giựt mình:

    - Sao ông? Họ đòi gì nữa vậy?

    - Họ đâu có đòi. Họ lấy.

    - Lấy gì?

    - Lấy hết tài sản của mình.

    Giọng bà bỗng cao lên một nấc:

    - Lấy hết tài sản?

    Ông nhìn bà rồi trả lời bằng cái gật đầu. Giọng của bà lại cao thêm một nấc:

    - Gì lạ vậy? Tự nhiên rồi đòi lấy tài sản của người ta. Đó là ăn cướp chớ đâu phải lấy! Rồi ông trả lời làm sao?

    Ông thở mấy hơi thuốc, rồi mới nói:

    - Thì tôi giao hết lại cho họ chớ còn làm sao?

    - Bà chỉ kêu lên được một tiếng "Trời" rồi ngồi phịch xuống ghế, mắt nhìn thẳng ra vườn. Bà nhìn mà cũng không thấy gì hết! Yên lặng…

    Một lúc sau, ông nói, giọng thật trầm tĩnh:

    - Bà nghĩ coi. Bây giờ họ là kẻ chiến thắng. Quyền sanh sát nằm hết trong tay, họ muốn nói gì làm gì mà không được.

    - Còn luật pháp để đâu?

    - Luật pháp của ai?

    Bà làm thinh. Một lúc sau, bà nói:

    - Hôm trước ông nói họ đã móc nối với ông để ông ở lại giúp họ xây dựng gì gì đó. Sao bây giờ họ lột hết của ông vậy?

    Ông làm thinh. Khói thuốc trong miệng bỗng trở nên thật đắng. Ông nghe thèm một hớp trà hay một hớp nước lạnh, hay bất cứ một chất lỏng nào cũng được…để ông nuốt xuống " cái gì đó" đang nghẹn ngang ở cổ. Ông dụi điếu thuốc rồi đi lại bar ở góc xa-long rót một ly nhỏ Porto uống ực một cái, giống như người ta bị mắc xương. Xong ông trở lại phô-tơi ngồi xuống, đốt điếu thuốc. Chất rượu đang nồng trên mũi, nhưng sao khói thuốc vẫn còn nghe thật đắng!

    Giọng bà Lê Tư có vẻ trách móc:

    - Chớ phải ông nghe lời tôi đi di tản như thiên hạ thì đâu có sao.

    - Đi di tản cũng mất hết chớ hơn gì.

    - Sao mất hết được? Ông quen lớn nhiều mà không hốt được một mớ đem đi theo à? Có nhiều người còn gởi được bàn ghế và vô số đồ cổ nữa. Như anh X., như anh T., như ông tướng Z… toàn là bạn thân của ông không.

    Ông làm thinh. Bà vẫn nói, càng nói giọng càng gay gắt:

    - Thà rằng mình đi, cái gì không đem theo được là mình bỏ. Tụi nó có lấy, cũng là lấy những gì mình bỏ. Chớ còn bây giờ, tụi nó bóp họng ông để lấy, bộ ông không thấy tức sao?

    Ông làm thinh. Ngừng một lúc như để suy nghĩ, rồi bà nói một câu giống như bà đóng sập cánh cửa sắt để nhốt ông trong một nhà tù:

    - Chẳng bằng ông muốn ở lại để giúp cách mạng chớ gì? Phải không?

    Ông nuốt nước miếng mấy lần, rồi tiếp tục làm thinh. Bây giờ, ông thật sự thấy mình như bọt nước trôi lêu bêu, không bám được vào đâu hết…

    Chiều bữa đó, cách mạng đưa đến mười mấy thanh niên trai gái và một toán bảo vệ cầm súng để làm công tác kiểm kê. Họ bắt mở hết các hộc, các kệ, các tủ…để họ đem ra đếm từng món, không bỏ sót một nơi nào hết, một món nào hết. Đêm, họ ngủ lại trong nhà ông Lê Tư để sáng sớm hôm sau họ tiếp tục. Xong công tác kiểm kê, người cán bộ chỉ huy chỉ định một nhóm bốn người ở lại để canh giữ những gì đã kiểm kê, sợ ông bà Lê Tư…ăn cắp mang đi! Gã còn nói như ra lịnh:

    - Từ hôm nay trở đi, anh chị phải dọn ra nhà sau để ở, không được bước lên đây nữa. Anh chị cũng không được quyền sử dụng chiếc ô-tô bây giờ thuộc diện quản lý của Nhà Nước. Khi ra vào nhà, anh chị phải dùng cái cổng hậu, không được đi bằng cổng chánh. Rõ chớ?

    Ông Lê Tư làm thinh. Bà Lê Tư cũng làm thinh. Nhưng hai sự làm thinh đó không cùng một ý nghĩa: ông làm thinh vì biết rằng có nói gì cũng vô ích còn bà làm thinh là vì bà hận ông vô cùng!

    ...Từ ngày dọn xuống ở trong một nhà phụ – có ba dải nhà phụ trước đây dùng cho gia nhân – và từ ngày biết rằng văn phòng, các kho vật liệu, kho dụng cụ cơ giới, biệt thự ở Núi Lớn Vũng Tàu, các chương mục ở ngân hàng…v.v. đã hoàn toàn nằm trong tay Nhà Nước, bà Lê Tư ít nói chuyện với ông. Nhưng hầu như ngày nào bà cũng ngồi nói một mình, nói trổng, cố tình nói lớn tiếng để cho ông "phải" nghe. Bà cứ lải nhải với giọng trách móc chanh chua, hết chuyện tin lời cách mạng, đến chuyện mất hết của cải, rồi bắt qua chuyện di tản, chuyện ở "chui rút" trong nhà của bếp của bồi…Còn ông thì cứ làm thinh ngồi nghe, nghe riết mà tóc của ông càng ngày càng bạc trắng!

    Thời gian đi qua…Một hôm bà bỗng nói với ông:

    - Tôi đã nhờ người quen trong toà đại sứ liên lạc được với thằng Tuấn ở Paris. Nó sẽ lo giấy tờ cho mình qua bển.

    Bây giờ, mọi sự đều do bà quyết định, ông chỉ làm thinh đi theo. Bây giờ, người chồng " thần tượng" của thời trước chỉ còn là một cái bóng! Bây giờ, bà mới là thân cây cau, còn ông , ông chỉ là một thứ giây trầu... Đúng là một sự "đổi đời vĩ đại"!  Ít lâu lâu, chính bà đã chạy chọt đút lót để có xuất cảnh cho hai vợ chồng bay qua Paris, vào giữa mùa hè năm đó. Ông Lê, người con trai của ông bà Lê Tư, đến đón ông bà ở phi trường Charles De Gaulle.

    Gặp lại nhau, mừng mừng tủi tủi. Ông Lê Tư có cảm tưởng như mình vừa sống lại. Ông ôm con siết mạnh, rồi buông ra để nhìn. Lòng tràn sung sướng, ông vừa cung tay đấm nhẹ lên vai con, vừa chửi đổng: " Cha mày!". Rồi tiếp: " Ba tưởng không còn gặp lại con nữa chớ!" Trong một khoảnh khắc, ông tìm lại được lời nói và cử chỉ của một con người bình thường, con người của thời trước tháng tư 1975…

    Trên đường về nhà, ông Lê vừa lái xe vừa hỏi về những chuyện đã xảy ra ở Việt Nam trong những ngày sôi động của tháng tư, nhứt là ở đoạn "mấy thằng Mỹ kéo nhau chạy sút quần". Nghe lời nói và giọng điệu của con, ông Lê Tư cảm thấy có " cái gì không ổn", nhưng ông nghĩ: " Có lẽ tại nó ở bên nây lâu quá nên nó nói tiếng Việt không biết chọn lời". Rồi ông kể lại những điều mắt thấy tai nghe. Người con lâu lâu khoái chí, vỗ tay lên tay lái, gục gặc đầu: "Cho tụi nó chết!"

    Bỗng người con hỏi:

    - Còn mấy thằng tướng ngụy?

    Câu hỏi đó như một ánh sáng bật lên trong bóng tối để ông nhìn thấy rõ sự thật: không phải con ông không nói rành tiếng Việt mà là con ông nghiêng về phía bên kia, cái phía đã lật lọng, ăn cháo đá bát, cái phía đã lấy hết tài sản của ông một cách ngang nhiên trắng trợn! Trời đất chung quanh bỗng như sụp xuống! Tuy nhiên ông vẫn trả lời:

    - Mấy người đó thì ba không biết.

    - Tụi nó chạy ra đảo Guam hết. Thằng chủ chạy thì thằng tớ phải chạy theo chớ dám ở lại đâu. Tưởng ba biết gì kể lại nghe chơi chớ ở bên nây báo chí tê-lê nói đầy đủ. Trên tê-lê thấy nhiều thằng tướng ngơ ngác như bầy gà nuốt giây thun!

    Người con nói xong cười lên khoái trá. Ông Lê Tư nghe giận phừng lên mặt! Ông đưa tay định xáng cho thằng con một cái, nhưng ông kềm lại kịp. Ông bỏ tay xuống mà nghe ngực mình tức ran. Tự nhiên, ông ứa nước mắt. Từ phút đó, ông làm thinh. Thấy như vậy, tưởng cha bị mệt vì cuộc hành trình quá dài nên ông Lê cũng không hỏi tiếp.

    Bà Lê Tư ngồi ở băng sau, không chen vô một lời. Bà cảm thấy rồi đây sẽ không thể nào ở chung với một thằng con như vậy được. Bà đã tưởng đi ra khỏi xứ để khỏi phải thấy hằng ngày những chuyện trái tai gai mắt, nào ngờ qua đây gặp thằng con không biết học ở đâu mà ăn nói giống "tụi nó" y chang! Nhưng không sao. Rồi bà sẽ mua nhà ở riêng. Bà dư sức. Với số hột xoàn mà bà đã cất giấu sau 1975 và bây giờ đang nằm an toàn trong cái giỏ mây hai đáy bà ôm trong lòng, bà dư sức. Cho dù bà phải cưu mang suốt phần đời còn lại ông chồng mà bà đã không còn coi là thần tượng nữa, từ lâu…

    Về đến nhà – ở Neuilly Sur Seine, khu nhà giàu – ông Lê giới thiệu vợ con rồi đưa cha mẹ lên phòng trên lầu, nói:

    - Ba má nghỉ một chút rồi xuống ăn trưa.

    Bữa ăn được dọn lên từng món theo phong cách tây phương. Vợ ông Lê hỏi han lễ độ và kín đáo chăm sóc ông bà Lê Tư. Hai thằng con ông Lê – giống mẹ hơn giống cha nên ít thấy lai Việt – không biết một tiếng Việt. Chúng ăn nhanh nhanh. Xong món thứ nhì, chúng không đợi món kế tiếp, vội vã rút lên phòng. Suốt bữa ăn, câu chuyện chỉ vây quanh mấy món ăn nấu theo tây, bởi vì ông Lê khoe có bà bếp giỏi. Bà bếp, người Pháp, có bước ra chào ông bà Lê Tư…

    Nhờ vậy, không khí trong bữa ăn không đến nỗi nào tẻ lạnh.

    Sau bữa ăn, vợ ông Lê vì tế nhị, muốn để cho chồng và cha mẹ nói chuyện riêng với nhau, nên xin phép lên lầu. Bà dặn chồng:

    - Anh không nên nói chuyện nhiều. Ba má chắc cần phải ngủ vì sai giờ giấc. Mình còn nhiều thì giờ mà…

    Khi bước qua xa long để uống cà phê, ông Lê hỏi:

    - Ba má định qua đây ở chơi bao lâu?

    Ông Lê Tư châu mày, nhìn bà. Bà trả lời:

    - Ba má định qua ở luôn chớ đâu phải ở chơi.

    Người con ngạc nhiên:

    - Ủa? Sao lại ở luôn? Bây giờ nước nhà độc lập rồi, không còn thằng nào ngồi trên đầu trên cổ mình hết. Tất cả đều thuộc về mình, không còn sợ thằng ác ôn nào cướp giựt nữa. Như vậy mà ba má định bỏ xứ qua đây ở luôn. Thiệt là vô lý!

    Hồi nãy, trên xe về đây, ông Lê Tư còn nghĩ rằng thằng con ông chỉ nghiêng về phía bên kia. Bây giờ thì quá rõ ràng: nó đã đứng hẳn về phía bên đó. Ông nghe lòng quặn thắt: chẳng những cách mạng đã cướp hết tài sản của ông, mà tụi nó còn cướp luôn thằng con duy nhứt của ông, cướp từ hồi nào rồi…

    Ông Lê Tư làm thinh. Bà Lê Tư hơi mất bình tĩnh:

    - Tại con không biết. Tụi nó lấy hết tài sản của ba má rồi còn đuổi xuống ở căn nhà của bồi, rồi lại bắt không được đi cổng chánh phải đi cổng hậu. Bây giờ tụi nó sợ mình không chấp hành chỉ thị nên kéo kẽm gai cô lập căn nhà ba má ở. Con nghĩ coi sống làm sao?

    - Buổi đầu lúc nào chẳng có chuyện sai sót. Rồi cách mạng sẽ trả lại hết cho ba má, yên tâm đi! Điều mà con muốn nói là chưa chi mà ba má đã muốn bỏ xứ ra đi giống như bè lũ đĩ điếm trộm cắp tháo chạy mấy ngày ****…làm con thấy không hãnh diện chút nào hết!

    Câu nói chưa dứt, ông Lê Tư đã đứng phắt dậy, làm thinh đi thẳng lên lầu. Bà Lê Tư cũng nối gót, nhưng bước chân bà nặng chình chịch. Đứa con máu mủ mà bà mới ôm hun thắm thiết hồi nãy trên phi trường, bây giờ bỗng giống như người xa lạ. Bà cảm thấy hụt hẫng đến độ bà không biết phải làm gì, nói gì. Đến giữa cầu thang, kềm không được, bà ôm mặt khóc tức tưởi…

    Suốt buổi chiều, ông Lê Tư ngồi trong phòng làm thinh hút thuốc. Ông không nghe buồn ngủ, ông chỉ nghe mệt – thật mệt – và chán chường – thật chán chường. Ông bắt gặp lại tâm trạng của ông vào những ngày cuối cùng của thời ông bị cách mạng quay hằng bữa để ông kê khai tài sản một cách "đầy đủ và trung thực"!

    Bà Lê Tư cũng không ngủ. Bà điện thoại để liên lạc mấy bà bạn đã định cư ở Pháp, nhứt là ở vùng phụ cận Paris. Rồi bà hẹn hò…Sung sướng như thấy chân trời đang mở rộng. Sau bữa ăn tối, đợi bà Lê và hai con lên lầu, bà Lê Tư nói:

    - Chị bác sĩ A sáng mai lại rước má về nhà chỉ chơi vài bữa. Sau đó, có lẽ sẽ qua nhà bà dược sĩ L . Ở đây, má có nhiều bạn bè lắm, con đừng lo cho má. Con chỉ cần lo cho ba thôi.

    Ông Lê Tư nhìn thẳng mặt con, giọng nghiêm trang:

    - Ba nói thật: ba với con không hạp nhau. Ba không thể ở chung với con được. Ba xin con cho ba ở một nơi nào khác, ở một mình cũng không sao.

    Ông nói "xin con cho ba" , đó là sự thật. Bởi vì bây giờ ông hoàn toàn trắng tay. Xưa nay, tiền dư ra, ông cho bà một phần để mua hột xoàn, còn bao nhiêu ông chuyển hết qua chương mục của người con…

    Ông Lê ngồi làm thinh, không biết ông đang nghĩ gì. Cũng là làm thinh, nhưng sự làm thinh của ông khó hiểu hơn sự làm thinh của ông bà Lê Tư!  Vậy rồi sáng hôm sau, bà bác sĩ A lái xe lại rước bà Lê Tư. Tiếp theo là ông Lê chở người cha ra ở cái nhà nghỉ mát ở gần bờ đá dựng. Suốt cuộc hành trình dài mấy tiếng đồng hồ, hai cha con không nói với nhau một lời!

    Từ ngày ra đây ở, ông Lê Tư cảm thấy cuộc đời mình như đang đi vào một ngõ bí. Không sống được với cách mạng, đã đành. Còn lại bà vợ thì bây giờ bả coi mình như cục bứu trên lưng. Rồi đến thằng con, đối với mình, nó còn lạ hơn người xa lạ! Cứ nghĩ quẩn nghĩ quanh như vậy hết ngày này qua ngày khác mà con người ông sa sút thấy rõ.

    Bây giờ, ông ốm nhom. Đi đứng đã phải chống ba-toon và đêm đêm cứ phải nằm trằn trọc tới khuya lơ mới dỗ được giấc ngủ. Thấy tội nghiệp, ông bà Jean Marie hay thừa dịp đưa nước trà hay cà phê để ngồi lại gợi chuyện vẩn vơ. Họ cũng ngạc nhiên tự hỏi sao không thấy ai gọi điện thoại hỏi thăm ông già này hết. Làm như ông không có mặt trong cuộc đời này…Cho nên họ tận tình chăm sóc ông từng chút. Đến nỗi, về đêm, bà Jean Marie thường đợi ông lên giường nằm đàng hoàng mới tắt đèn đóng cửa đi về nhà! Ông Lê Tư rất cảm kích nên lâu lâu ông phá lệ làm thinh để nói hai tiếng " cám ơn", nhẹ như hơi thở…

    Một hôm, ông Lê Tư bỗng thèm nhìn mặt biển, cái biển mà từ hôm ra đây – đã gần hai tháng – ông chỉ nghe tiếng của nó rì rào ngoài kia thôi. Ông bèn chống ba-toon bước từng bước run run đi lần ra hướng đó. Cứ đi vài bước là ông phải dừng lại một lúc để thở, nhưng ông vẫn cố bước đi…

    Bây giờ thì ông đã đứng trên mép bờ đá dựng. Dưới chân ông, rất sâu phía dưới, là biển. Biển xanh dờn, kéo dài ra chân trời. Trời nước mênh mông. Gió muối và mùi thơm thơm của rong rêu nhắc ông nhớ cái biệt thự ở mỏm núi lớn Vũng Tàu. Ông đã xây cất biệt thự đó để làm nơi tiếp tân nên có một sân gạch thật rộng hướng về phía biển. Ông hay đứng ở đó nhìn chân trời như ông đang đứng nhìn chân trời bây giờ. Cũng trời, cũng nước, cũng một đường gạch ngang.

    Hồi đó, lúc nào ông cũng thấy chân trời đang mở rộng cho ông, cái hồi mà ông làm chuyện gì cũng thành đạt. Bây giờ, cũng trời, cũng nước, cũng một đường gạch ngang nhưng sao ông không thấy nó mở rộng cho ông một chút nào hết! Ông chỉ thấy toàn là bế tắc. Chân trời là đường chấm dứt một cái gì: trời cao nghiêng xuống đến đó là hết, biển rộng vươn dài đến đó cũng là hết! Giống như cuộc đời của ông bây giờ…Của cải: hết! Vợ con: hết! Sức khoẻ của ông rồi cũng sẽ hết! Hết! Hết!

    Bỗng, ông Lê Tư liệng mạnh cây ba-toon xuống biển, giống như ông dứt khoát không cần dùng đến nó nữa. Rồi ông hít một hơi dài, nhắm mắt bước thẳng vào khoảng không trước mặt, giống như bước qua một lằn ranh tưởng tượng. Từ bây giờ, ông Lê Tư làm thinh vĩnh viễn…

    Chiều hôm đó, ông Jean Marie gọi điện thoại về Paris. Không có người bắt máy, nhưng có máy nhắn tin nên ông nhắn: "A lô! Tôi là Jean Marie. Tôi xin báo tin buồn: ông cụ đã từ trần. Ông đi dạo gần tường đá dựng chẳng may rơi xuống biển. Nhà chức trách đã vớt được xác đem về nhà xác bịnh viện Etretat. Yêu cầu ông bà ra gấp. Vợ chồng tôi xin chia buồn. Thành thật chia buồn…"  Không biết, khi hay tin, vợ con ông có nhỏ cho ông một giọt nước mắt?
Tiểu Tử
Chữ Nghĩa Văn Chương .....
Lại Thị Mơ
 
Khi thấy con cháu cứ thích đàn đúm với đám bạn bè, mà các bậc ông bà cha mẹ không ưa, nhưng chẳng biết làm sao. Chúng ta thường nghe các cụ than thở: ngưu tầm ngưu, mã tầm mã.
Thật sự ra câu tục ngữ đó chỉ ngụ ý những người cùng sở thích đi tìm lẫn nhau. Tuy nhiên đã từ lâu, con người vốn có ý khinh miệt loài vật, ngu như bò, làm như trâu, chạy như ngựa. Vì thế hễ cái gì xấu xa thì mang thú vật ra ví.
Bà mẹ về không thấy cô con gái lớn ở nhà, hỏi ra thì biết cô  đang say sưa hát Karaoke với đám bạn đầu ngõ, chẳng lo cơm nước gì cả. Nhà cửa lạnh tanh, con trai thì đang sát phạt bài cào bên nhà hàng xóm. Chồng thì chưa tới nửa đêm là chưa về nhà, ông còn đang ngất ngưởng nhậu với các bạn ở các quán vỉa hè. Bà vợ chỉ biết chép miệng than:ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Cha nào con nấy.
Trong văn chương người ta gọi những người cùng sở thích là những người cùng hội cùng thuyền. Hội nhà văn, hội nhà báo, hội tao đàn… những người trong những hội này chắc chắn không phải là những người vai u thịt bắp, ăn no vác nặng. Những người phải dùng tim óc để cho ra những bài thơ, bản nhạc hay những áng văn tuyệt tác, những người mình hạc xương mai, trói gà không chặt.
Cha mẹ nào cũng muốn con mình sau này có cuộc sống đỡ vất vả. Mà muốn đỡ vất vả thì phải có công ăn việc làm cụ thể, thực tế như Bác Sĩ, Kỹ Sư, chứ đàn ca hát xướng thì không khá được.
Thành văn sĩ, nhạc sĩ, thi sĩ, họa sĩ, dĩ nhiên sẽ được rất nhiều người ngưỡng mộ, với điều kiện phải thật giỏi, xuất sắc mới kiếm được tiền. Còn làm thợ, y tá, kỹ sư, bác sĩ cỡ nào cũng vẫn có người thuê mướn.
Bởi vậy thi sĩ Vũ hoàng Chương được xưng tụng là Thi Bá, vẫn sống bằng nghề dạy học. Nguyên Sa nhà thơ, cũng là ông thầy dạy triết, và là Hiệu Trưởng trường Văn Học ở Sàigon. Nhạc sĩ Lê Vân Tú bảo rằng mê nhạc từ bé, nhưng cha mẹ không cho. Ông cũng phải học cho thành Giảng Sư toán lý của Đại Học Khoa Học. Qua Úc thành Khoa Trưởng một trường đại học. Ông bảo rằng bây giờ (đã qua tuổi cổ lai hy ông mới tha hồ viết nhạc.
Cơm áo gạo tiền là cái thực tế mà mấy ông làm thơ, viết văn cứ lơ mơ như ở trên mây, bởi vậy mới chật vật về cuộc sống hàng ngày. Trong khi văn chương hạ giới rẻ như bèo.Thi sĩ Tú Xương chẳng có làm bất cứ việc gì ngoài chuyện làm thơ. Vợ thì quanh năm buôn bán ở mom sông, nuôi đủ năm con với một chồng. Cái gì cũng phó mặc cho “mẹ đĩ”.Ông cũng biết một đàn rách rưới con như bố. Thế mà nhất định không làm gì hết, chỉ có làm thơ, thảnh thơi thơ túi rượu bầu. Tài thật, hèn chi khi nghe ông hỏi, bà cũng trả lời “rằng hay thì thật là haykhông hay sao lại đậu ngay tú tài”. Thời xưa không có “mục” li dị, chứ như bây giờ, ông chẳng   tối rượu Sâm Banh, sáng sữa bò nữa đâu. Cứ xem như nhạc sĩ Trúc Phương làm biết bao nhiêu bản nhạc tình ca tụng tình yêu, xúc động hàng vạn  trái tim. Nhưng cũng chẳng có trái tim nào mủi lòng cho ông ở nhờ, đành lê lết ngủ ở bến xe đò. Nhạc sĩ tài hoa mà sao cuộc đời cơ cực.
Những người thực tế đã khuyên các cô ĐỪNG YÊU NGƯỜI LÀM THƠ, thà lấy anh bán phở, nói năng dùi đục chấm mắm cáy, vậy mà no bụng.
Nhà văn Nguyễn Vỹ đã từng than thở “nhà văn An Nam khổ như chó”, bởi vì tiền kiếm được không nuôi nổi bản thân. Còn Tản Đà thì bảo “văn chương hạ giới rẻ như bèo”.Thưa cụ, câu này không còn hợp thời nữa rồi, trong nước bây giờ họ nói bèo cũng chẳng còn. Sông rạch ô nhiễm, mọi thứ đã chết hết cả, chẳng có lục bình hay bèo bọt nữa đâu. Đừng ví cuộc đời em như lục bình trôi giạt nơi nào. Tất cả bèo và lục bình trôi tuốt qua bến Hàn    (Quốc) Đài (Loan) cả rồi.
Các anh trai làng bây giờ đều mang tâm trạng như Nguyễn Bính, cùng một nỗi niềm:
Hôm qua em đi tỉnh về,
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.
Cứ đếm xem có bao nhiêu ca sĩ trong nước lấy chồng Mỹ. Vì tiếng gọi của con tim? hay đó là cách duy nhất để vào Mỹ bằng tờ hôn thú. Diện con cái thì các cụ chết hết cả rồi, diện anh em lấy đâu ra. Kiếm một chàng mắt xanh tóc vàng là nhanh nhất. Cái cột đèn còn muốn đi nữa là.
Chủ nghĩa thực dụng bây giờ đã lan tràn khắp chốn, người ta không còn thích có con trai nữa. Có con gái gả cho Đài Loan, Hàn Quốc kiếm tiền xây nhà, mua xe le lói với bà con chòm xóm. Biết bao nhiêu anh chàng đã đau khổ vì bị  sinh ra làm thân con trai: trai tài gái sắc. Vậy là đua nhau chuyển giới để thành những cô gái mỹ miều, họ cho rằng cứ là con gái là kiếm tiền bằng nghề không vốn.Lòng tự trọng và liêm sỉ là cái gì đó thật mơ hồ.Đừng hãnh diện và cũng đừng mặc cảm về những cái không do mình làm ra: có cha mẹ giàu, có vẻ đẹp mỹ miều… Ngày xưa khi còn bé, tôi đã ngẩn ngơ khi thấy cô Nha Sĩ “đẹp ơi là đẹp”, tôi về kể lại cho các bạn. Cô đẹp đến độ tôi cứ líu ríu nghe lời cô, há miệng cho cô nhổ răng, mà chả kêu khóc gì cả. Để rồi được nghe cô khen với lời dịu ngọt và cái vuốt má êm dịu làm tôi đê mê. Còn anh chàng  Nick Vujicic bên Úc sinh ra chẳng có tay chân, anh chẳng đổ thừa cho ai cả, đã tự cứu mình, chứng minh mình vẫn còn ích lợi, ít nhất cho bản thân ngay từ khi còn rất bé. Anh vẫn cám ơn Chúa, dù sao anh cũng có được bộ óc thông minh hơn người. Anh đã chứng tỏ mình tàn mà không phế cũng  học xong đại học, cũng bơi chơi đàn như người bình thường. Chu du diễn thuyết để giúp cho giới trẻ và những người khiếm khuyết hãy tự tin, vươn lên tự giúp mình và giúp đời.
Có một tác phẩm mà tôi đã quên tên. Nói về một người nô lệ có bộ mặt gớm ghiếc nhưng rất thông minh. Một bữa kia có ông Hầu Tước, mua được anh nô lệ này, mang về làm người hầu cho vợ. Khi vừa thấy anh, bà vợ che mắt rú lên kinh hãi như vừa thấy ma quỷ hiện hình. Nhưng sau đó bà chợt nhận ra sự lố bịch của mình. Nhưng anh nô lệ vẫn ôn tồn: thưa bà, ai khi trông thấy tôi, họ cũng cùng phản ứng như bà thôi, tôi đã quen rồi. Sợ rằng ông chồng sẽ trả lại món hàng. Anh nô lệ năn nỉ xin bà cho tôi được hầu hạ bà. Tôi tin rằng bà sẽ không chọn lầm đâu.
Anh nô lệ không dám nhận mình là người, xã hội lúc đó không công nhận anh là người. Anh chỉ là món đồ cho những người được gọi là người đổi chác.
Sau một thời gian ngắn, bộ mặt gớm ghiếc của anh đã hầu như mờ nhạt, bà Bá Tước chỉ thấy hình ảnh một con người thông minh duyên dáng. Bà chỉ muốn nói chuyện với anh nô lệ cả ngày. Còn ông chồng thì xấu xí, ngớ ngẩn, nói năng thì “ngữ bất đồng tâm, bán cú đa”.
Một bữa kia ông chồng hoảng hốt chạy về nhà, bên ngoài dân chúng la ó bắt ông phải giữ lời hứa. Ông không biết làm sao, vì trước kia ông đã nói rằng: nếu ông không giúp dân ngăn chận được ngoại xâm, thì ông sẽ uống hết nước biển. Nay quân thù đang vượt qua biên giới. Dân chúng bắt ông phải giữ lời hứa, trước khi toàn dân cùng đồng lòng đoàn kết chống lại quân thù. Bà vợ thở dài, bây giờ người ngoài mới biết ông là đồ vô dụng. Còn bà thì đã nhìn thấy từ lâu, một thứ tốt mã rẻ cùi.
Bà chợt nhớ ra anh nô lệ. Khi hiểu ra câu chuyện, anh nô lệ nói rằng anh sẽ cứu ông thoát chết, với điều kiện ông phải trả tự do cho anh. Dĩ nhiên Bá Tước phải đồng ý. Anh nói rằng ông cứ bình tĩnh nói với đám đông đang la ó: ông đồng ý uống hết nước biển, nhưng với điều kiện phải chận các con sông lại.
Như giao ước từ nay anh nô lệ đã được tự do, bà Bá Tước tan nát cả cõi lòng, bà đã yêu anh tự bao giờ.
Bên VN các bà các cô đua nhau qua Nam Hàn sửa sắc đẹp. Họ khoác lên người đủ thứ hàng hiệu, họ khoe đủ thứ tiện nghi vật chất từ xe đến nhà. Họ giống như những con búp bê, đầu óc rỗng tuểch. Toàn đồ giả! Mọi thứ đều nghi ngờ.
Khi làm ra đồ giả, có nhà sản xuất nào ghi chú: đây là đồ copy.  Nhưng lúc ra sân khấu lại  được giới thiệu ca sĩ chuyển giới. Chỉ có xem youtube thôi, mà tôi đã thấy nhột. Tội nghiệp cho cái cô imitate đó quá. Nếu khán giả xem tắc lưỡi hít hà khen đẹp, thì cũng an ủi cho người đã chấp nhận giảm bớt tuổi thọ, và chịu bao đau đớn của dao kéo để có ngày hôm nay, đằng này cứ oang oang “đồ giả, không phải đồ thiệt” đâu. Vô nhân đạo, bất lịch sự!
Tìm hiểu cuộc đời của các nhà văn nhà thơ tiền chiến. Những người chết trong nghèo khó vì không có nghề tay trái, phương tiện sinh nhai của họ chỉ bằng văn chương chữ nghĩa. Thơ văn chỉ viết được khi có cảm hứng, bởi vậy thi sĩ Tản Đà rất  ngông. Thơ của ông dĩ nhiên là tuyệt tác, vì vậy mấy ông chủ báo sẵn sàng đưa nhuận bút trước khi đưa bài. Người ta mua báo chỉ để đọc thơ của Tản Đà.
Tiền thì tiêu hết, báo đã lên khuôn, chỉ chờ bài của ông là cho ra lò. Năm lần bẩy lượt cũng chẳng thấy bài, cuối cùng ông nói thẳng làm thơ không phải chẻ củi, nên không phải lúc nào làm cũng được. Ông có cái lý của ông, đứa con tinh thần của ông không thể là những đứa con èo uột. Giá trị ở phẩm chứ không phải ở lượng. Nhạc sĩ Đặng thế Phong chỉ có 5 bản nhạc để lại cho đời, nhưng tất cả đều là tuyệt tác.
Bây giờ người ta phải sống bằng hai con người khác nhau. Ngày thường thì là người trần mắt thịt, để lo cho cuộc sống cơm áo gạo tiền. Vì thế đừng ngạc nhiên nếu thấy ông thi sĩ này làm chủ tiệm phở, bà văn sĩ kia làm chủ tờ báo. Các cụ đã bảo phi thương bất phú, không buôn bán làm sao giàu. Nhưng buôn bán thì  phải mánh lới mưu mẹo vi phú bất nhân. Khi làm thương mại, họ hiện rõ bản chất, chửi nhau vì quyền lợi, cãi nhau như mổ bò, khẩu chiến, bút chiến, đưa nhau ra tòa cho thân bại danh liệt.
Nhà văn nhà thơ tiền chiến như Nguyễn Bính, Vũ trọng Phụng chết trong nghèo đói vì chỉ sống bằng ngòi bút. Bây giờ nếu chỉ sống bằng thơ văn thì đời tàn trong ngõ hẹp.Thời đại Internet có mấy ai mua sách, mấy ai có nhuận bút. Nhạc có hay mà không có đất dụng võ thì cũng không ai biết. Nói thế không có nghĩa không có người đột nhiên nổi tiếng như trường hợp tác giả loạt sách giả tưởng Harry Potter.
Nhưng độc giả Âu Mỹ khác với dân mình, họ trân quý nhân tài, mọi thứ tốt đẹp họ vinh danh cho tác giả khi họ còn sống. Chứ không đợi tới khi nhắm mắt mới làm lễ tuyên dương tưởng niệm. Cỗ bàn dẫu có long trọng thì cũng người sống hưởng.
Văn thơ nhạc họa bây giờ coi như nghề tay trái. Tổng Thống khi về hưu mới viết sách. Hàng ngày phải sống bằng nghề tay phải: Bác Sĩ, Kỹ Sư, Luật Sư…
Làm chủ tiệm nước mắm, tuy mùi hương tưởng nhớ có khó chịu, nhưng tiền thu vào thì dễ chịu. Dẫu khi chất nước mắm lên xe cho khách, vẫn nhớ đến câu “Câu thơ thi xã, con thuyền Nghệ An (chở nước mắm)”.
Ban ngày làm Bác Sĩ mổ tim (thiệt), rồi ban đêm thành thi sĩ mở cửa trái tim. Con tim (Bác Sĩ) sẽ vui trở lại. Muốn mơ mộng      (không ai cấm), nhưng vợ con và ngay bản thân mình cũng phải có thực mới vực được đạo.
Như vậy thơ văn là mộng, mưu sinh là thực. Mộng và thực bồng bềnh xen kẽ trong đời sống con người. Lúc mộng lúc thực, có thế đời mới thăng hoa đáng sống.
Ngày xưa tôi vẫn nhớ hoài những bài Études de texts của Thầy Rock Cường dạy Pháp Văn, nói về ý nghĩa của sách, cờ, bếp lửa, tấm màn che. Sách là người bạn tốt, sách giúp ta hiểu mọi điều, đưa ta đến chân trời góc bể, vì vậy người không biết chữ, không đọc được sách được ví như người mù. Cờ là biểu tượng cho quê hương mình, ý nghĩa của cờ vô cùng thiêng liêng: tung bay dẫn đầu đoàn quân khi chiến thắng trở về quê nhà, cờ như mẹ hiền ôm ấp hình hài những đứa con khi gục ngã nơi chiến trường, chiến đấu để bảo vệ màu cờ tổ quốc. Bếp lửa còn có nghĩa là gia đình, hình ảnh mọi người quây quần quanh bếp lửa, là hình ảnh gia đình, nơi đó cho ta cảm giác ấm áp yêu thương. Mỗi người đều có một tấm màn che vô hình bao quanh, sự cảm thông hay thái độ của ta với người đối diện, tùy thuộc vào bức màn. Có người chỉ được phép thấy một chút ít phía trên, còn người tri kỷ, tâm giao là những người mà bức màn đã hạ xuống hoàn toàn.
Tất cả mọi cách đối nhân xử thế, chúng ta đều được học qua sách vở, qua văn chương báo chí, qua phim ảnh, qua tiếng nhạc lời ca.
 
Những văn nghệ sĩ đã để lại cho đời những câu thơ tuyệt tác, những chữ khi nói lên nao nao tấc dạ:
Nước non ngàn dặm ra đi.
 
Vâng chúng ta đã xa lìa nước non chúng ta ngàn dặm. Chẳng phải chỉ cách nửa quả địa cầu, hai mươi giờ bay. Mà là:
Nhìn về đường cố lý, cố lý xa xôi.
 
Mỗi năm cứ đến ngày 30 tháng Tư, tôi thấy lòng chùng xuống. Chạnh lòng nhớ về những người đã khuất: các tướng lãnh, các văn nghệ sĩ tài hoa. Những Vũ hoàng Chương, Nguyễn mạnh Côn, Thục Vũ, Minh Kỳ.
Tôi chẳng sung sướng gì khi thấy trẻ con sống lê la đầu đường xó chợ, những cụ già sống ngắc ngoải thoi thóp vì miếng cơm manh áo.
Ở hải ngoại này, chúng ta được gọi là những người “đẻ bọc điều”... những  đồng  bào cùng cội nguồn...nhưng niềm vui không bao giờ trọn vẹn. Khi đồng bào, những người cùng cộ
 
Bố tôi tuy không viết sách, nhưng đọc rất nhiều sách. Di cư vào Nam ông chẳng mang gì ngoài mấy rương sách báo. Vì vậy khi lớn lên tôi cũng cầm được những tờ Nam Phong tạp chí cũ ơi là cũ. Bạn bè của bố tôi toàn văn nghệ sĩ, mà đã là văn nghệ sĩ thì trò chuyện cũng khác người thường. Tôi là đứa để sai vặt mỗi khi bố có khách. Mà cái tật, tuy còn nhỏ nhưng tôi rất hóng chuyện, thích nghe các cụ khề khà bàn chuyện thơ văn. Trong khi mẹ tôi không thèm để ý mấy ông nói chuyện gì, bổn phận của bà là lo dọn thức nhắm cho tôi mang ra.
 
Bố tôi làm ở kho bạc Gia Định, nhà văn Bình nguyên Lộc cũng vậy.
 
Hai ông khi gặp nhau đã khoe rằng trong tay tao lúc nào cũng có  bạc triệu. Nhưng mà, nhà văn Bình nguyên Lộc nói:
Đời buồn như người ngồi đếm giấy bạc... KHÔNG PHẢI CỦA MÌNH.
 
Nghe vậy, tôi xoè tay ra bác ơi! vậy tiền này…
Tôi nheo nheo mắt nhìn những tờ giấy bạc, bác nhờ tôi ra đầu ngõ mua thuốc lá. Bác BNL vội vàng để riêng ra một tờ cái này là của cháu, cái này để mua thuốc cho bố và bác.Nói rồi bác củng nhẹ đầu tôi, khen con bé lém lỉnh.
 
Không lém lỉnh sao được. Tôi đã từng mang học bạ khoe với các bạn lời phê của thầy Bàng bá Lân: biết cách học. Ý nói tôi chỉ học cái gì cần học, bởi vì trong xóm tôi có một cô thi Tú Tài I ba năm không đậu: ba năm tức là 6 lần.Khi tôi đã học năm thứ hai đại học, cô bưng một chồng sách đủ cả 8 môn thi. Cô hỏi tôi mỗi chương học phần nào? Tôi bảo rằng tôi không thể, vì điều này thuộc sự cảm nhận của mỗi con người. Cũng như khi ta tiếp xúc với bất kỳ người nào, linh tính hay trực giác sẽ cho ta biết người đó đối với ta ra sao. Ai cũng có cá tính, nếu người đó có nhiều điểm khó hòa hợp, thì ta hạn chế qua lại. Đừng có tham vọng  nghĩ ai cũng như ai. Hãy chỉ nhìn những điều tốt của họ, ta sẽ không sầu não than van. Xã hội là một bức tranh nhiều màu, phải có trắng lẫn đen. Không hợp nhau thì lặng lẽ rút lui, không giận hờn trách móc, coi như duyên của mình và họ tới đây là hết. Nếu nghĩ vậy thì làm sao chúng ta nghe được ca khúc nửa hồn thương đau. Làm sao có câu thơ người đi một nửa hồn tôi chết, một nửa hồn kia bỗng dại khờ.
 
Văn nghệ sĩ có trái tim dễ xúc cảm như vậy, bảo sao bà mẹ nào muốn con mình là thi sĩ nghĩa là mơ với gió, yêu theo trăng và vơ vẩn cùng mây.
 
Xin can, đừng yêu người làm thơ. Yêu anh bán phở tiền tiêu dài dài!
 
Tôi rất phục các nhà văn nhà thơ, trong đầu họ đầy ắp chữ, mà không phải chữ thường, mà là những chữ rất riêng biệt. Những chữ trong thơ rất cô đọng, chứ đâu có nói tràng giang đại hải. Dẫu có bằng cử nhân, tiến sĩ cũng chẳng nghĩ ra được một câu thơ. Trong khi nhiều nhà thơ, nhà văn nổi tiếng đâu có học xong trung học. Một số nhạc sĩ cũng vậy, đọc tiểu sử toàn là con nhà nghèo, không được đi học tới nơi tới chốn, vậy mà khi viết nhạc họ tìm ra những chữ thật tuyệt vời, diễn tả thật đúng nỗi lòng, khiến người nghe bồi xúc động.
 
Văn nghệ sĩ họ nhìn sự vật khác người thường. Không giống người trần mắt thịt, một cộng một là hai, nhưng em với ta tuy hai mà một. Bởi vậy chữ nghĩa của họ đôi khi phải chính tác giả giải thích người nghe mới hiểu.
 
Cũng là nơi ở khiêm nhường, trên căn gác lửng, thưở còn được tự do làm thơ họa với bạn bè, thi sĩ Vũ hoàng Chương gọi là Gác mây, vì ở trên cao, tha hồ đi mây về gió. Sau 75, ông đổi thành Gác bút. Nhưng gác này là động từ: ông đã bị cấm viết.
 
Còn Nguyễn Tuân khi đi họp, mọi người chuyền cho ông tờ giấy, hàng cuối có chữ Bút Ký. Ông bảo bỏ bớt chữ Bút, vì khi ký tên, ai cũng phải dùng bút, có ai dùng chổi mà ký bao giờ. Nhà văn có khác, nói và nhìn sự vật khác người thường. Chẳng hạn khi họ nói:
-  Sách vở ích gì cho buổi ấy,
-  Mười người đi học chín người thôi.
 
Theo bạn, có mấy người đi học? Chín người hay một người?
Trong các tác phẩm văn chương ngày xưa (coi như trước 75), nhà văn nhà thơ hay dùng điển tích như Bá Nha Tử Kỳ, nàng Trác văn Quân …vì họ đọc rất nhiều sách kim cổ.
 
Ngày nay văn chương chữ nghĩa trong nước cũng có thêm rất nhiều tiếng mới. Những tiếng này người ở hải ngoại không thể nào hiểu được, nếu không có người diễn giảng. Ví dụ buôn dưa lê, hay làm bà Tám là ngồi lê đôi mách. Bà Tám là người nhiều chuyện. Đôi khi người ta bỏ luôn chữ bà: lại đi tám nữa rồi.
 
Muốn cười (ra nước mắt), cứ xem hình ảnh nhan nhản ngoài đường phố. Từ các bích chương quảng cáo nơi công cộng, hay thông cáo ở các cơ quan chính phủ, tới cách ăn mặc quái đản của các cô gái thời thượng (cổ). Nhất là tư duy sáng tạo khắc phục khó khăn trong giao thông. Cả một xã hội bát nháo, ai muốn làm gì thì làm. Trật tự là chữ lạ, tiên học lễ là gì? Không ai hiểu. Đói cho sạch là câu mơ hồ.
 
Ngày xưa các nhà giáo lão thành, cả đời tận tụy dạy học, viết sách để lại cho con cháu, lúc nào cũng nhắc nhở tới luân thường đạo lý.
-  Trai thời trung hiếu làm đầu.
-  Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình.
 
Hồi xưa nghe nói những người theo chủ nghĩa hiện sinh, đã coi là ghê gớm. Bây giờ lối sống trong nước, không biết phải gọi là chủ nghĩa gì cho đúng.
 
Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi.
Trọng thầy mới được làm thầy
Những phường bội bạc sau này ra chi.
 
Ngày xưa thầy phải coi trọng hơn cha: Quân Sư Phụ. Vậy mà bây giờ toàn nghe trò đánh chết thầy. Thầy dụ dỗ trò. Nhà văn Nguyễn thị Hoàng chỉ viết truyện Vòng tay học trò,đâu có tả cảnh nào về sex đâu, chỉ có mỗi tội đưa ra một ý tưởng quá mới mẻ: cô giáo yêu học trò. Đã bảo tình yêu không phân biệt tuổi tác, con tim có những lý lẽ của nó.Có điều truyện đã vượt qua giới hạn của lễ giáo phong kiến nên bị kết tội, chỉ trích um sùm. Cậu học sinh trong truyện cũng đâu phải vị thành niên, nhưng cấm là cấm. Trong khi ở Mỹ có cô giáo dụ dỗ cậu học sinh chỉ 14 tuổi,khi cô có bầu mới bị phát giác. Đẻ xong, giao con gái cho bố mẹ “bạn trai”, rồi vô tù. Hết hạn, vừa lúc cậu học sinh đủ tuổi kết hôn.Cả hai chính thức làm đám cướicon gái lúc trước nay thành cô phù dâu nhí.
-  Yêu nhau mấy núi cũng trèo.
-  Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua.
 
Mấy năm tù chỉ là cái lẻ tẻ. Đó là chuyện bên Tây, chứ bên ta chưa ai dám ngang nhiên tỉnh  coi thường dư luận như vậy.
Chẳng biết trong nước bây giờ trẻ con được học những gì, mà khi hỏi về lương tâm và liêm sỉ chẳng em nào biết. Truyện Kiều, Chinh phụ Ngâm, Nguyễn Khuyến, Nguyễn công Trứ… Không biết có được đưa vào chương trình giáo khoa hay không?
 
Thơ văn nhạc họa… là những món ăn tinh thần của con người. Khác với thú vật, sự sống chỉ có nhu cầu ăn uống. Đối với con người, đôi khi món ăn tinh thần còn quan trọng hơn cả đồ ăn thức uống. Phật ngồi im thiền định 49 ngày dưới gốc cây bồ đề, Ngài có ăn uống gì đâu, vậy mà đâu có chết. Trong khi những người ăn uống ngồm ngoàm, vô độ, thì bị gọi là những đứa phàm phu tục tử, võ dõng vô mưu, vai u thịt bắp.
Các cụ còn nói kẻ sĩ ba ngày không đọc sách, mặt mày khó coi!
Như vậy rõ ràng, đối với con người, món ăn tinh thần quan trọng hơn món ăn vật chất. Hãy nghĩ xem, trong 24 giờ/ ngày, bạn dành bao nhiêu thời gian cho việc ăn uống để nuôi cái xác phàm. Thời gian còn lại bạn làm gì? Học hành, nghiên cứu, nghe nhạc, xem phim… và mơ mộng.
Hãy tưởng tượng một buổi sáng thức dậy, không có truyền thanh, truyền hình, sách báo. Cả một không gian im lìm, bạn sẽ hoảng hốt hơn là khi thấy điện cúp, nước không chảy.
Với con người món ăn tinh thần cần thiết hơn món ăn vật chất. Bằng cớ là mỗi lần bạn bè của bố tôi gặp nhau. Thời buổi kinh tế kiệm ước, đồ ăn thức uống có chút xíu, mà sao mọi người nói cười rộn rã. Mặt mày ai cũng hớn hở, bình văn bình thơ nghe đã làm sao. Tôi là con bé để sai vặt, nhưng tôi vô cùng thích thú vì được nghe các bạn thơ văn của bố nói chuyện. Quả thật, ngay từ bé, tôi đã nhìn ra những nét đặc biệt của cả ba miền: Trung, Nam, Bắc của nước. Phong thổ của mỗi miền ảnh hưởng vào nếp sống, tâm tính và cách suy nghĩ của con người nói chung, và văn nghệ sĩ nói riêng của miền đó.
Miền Nam ruộng lúa mênh mông, sông rạch chằng chịt nên đời sống dễ chịu. Các món ăn cũng vì thế được chế biến đơn giản, nhanh gọn: cá lóc nướng trui. Con cá to đùng bọc đất sét, chất củi nướng. Chỉ nhấp nháy là bửa con cá ra, bỏ đầu, xương, da (vì đã dính vào đất sét), ăn phần thịt trắng nõn. Ăn như vậy, mẹ tôi bảo ăn phí của Giời! Bắc Kỳ hả? Không có đâu, với một con cá như vậy. Nó sẽ được luộc lên, gỡ thịt để riêng. Xương và đầu giã nhuyễn, lọc lấy nước ngọt, đem nấu canh hay nấu cháo (gọi là nấu ám). Mẹ tôi rất nghiêm khắc trong chuyện dạy con. Không có kiểu hầu con như hiện nay đâu, con trai con gái gì cũng phải làm việc nhà. Khi mẹ đi chợ về là tất cả đứa lớn (trên 10 tuổi) là phải đứng dậy ra đón mẹ: đứa thì xách giỏ vào bếp, đứa cao thì treo nón (lá) vào chỗ cũ.Sau đó soạn giỏ, dao thớt, đặc biệt mẹ chỉ ngồi xuống là một đứa phải đẩy ngay cái ghế con cho mẹ ngồi xuống. Sau đó thì nhặt rau hoặc xé cua.Anh tôi chuyên làm việc này, vì tôi là con gái sợ bị cua kẹp. Anh tôi giã nhuyễn, để đó cho mẹ tôi lọc.Còn tôi nhặt rau xong, rửa sạch rồi thu dọn rác. Sau khi mọi thứ đã sẵn sàng để nấu, lúc đó chúng tôi mới được phép lên nhà, rồi muốn làm gì thì làm, với điều kiện không được làm ồn. Khi dọn cơm chỉ thấy có tô canh rau đay nấu với cua đồng, và đĩa tép riu nhỏ xíu. Vậy mà ồn ào xúm lại cả nhà, làm cho tôi nhớ tới truyện Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng. Khi đi thăm chùa, khách nghe dưới nhà bếp lách cách tiếng dao tiếng thớt, tiếng người lao xao, tưởng như đang chuẩn bị một bữa ăn thịnh soạn, chứ có đâu khi dọn lên, chỉ thấy bát cà, đĩa rau. Nhà tôi cũng vậy thôi, mọi người lăng xăng vào bếp nào có cơm gà cá gỏi gì đâu.Chỉ vì mẹ tôi là thế đấy, mẹ về là phải đứng dậy, không phải chào mẹ đã về, mà để biết bổn phận làm con.Có đâu như bây giờ, chẳng quan tâm đến ai, ai đi ai về cũng mặc, đang mải chơi game nên mắt cứ dán vào màn hình, chẳng cần biết chuyện gì khác.Đói thì vào bếp lục thức ăn, đồ uống. Coi như chuẩn bị bữa ăn không phải là chuyện của tụi nó.
 
Vì được tập tành từ nhỏ, nên năm tôi 13 tuổi, em gái tôi thua tôi một giáp. Mẹ tôi đi làm từ sáng sớm, về nhà khi chập choạng tối. Ngày xưa các lớp học chỉ có một buổi nên anh em chúng tôi thay phiên nhau trông em. Riêng tôi là con gái nên đảm thêm việc chợ búa cơm nước. Có một chuyện tức cười làm tôi nhớ mãi. Cô bạn hàng xóm là dân Nam Kờ chính gốc, ông bà nội ngoại ở Cần Thơ rất giàu có. Dĩ nhiên cô được ăn uống toàn món ngon, hàng ngày cô qua chơi với tôi. Hôm đó tôi nhờ cô bóc vỏ một lạng (100g) tép bạc để nấu canh rau cải. Cô vừa bóc vừa hỏi sao có chút xíu dzậy? Tôi ậm ừ, đủ nấu canh rồi. Khi bóc xong, cô cầm cái rổ nhỏ đựng vỏ và đầu tôm định trút vào thùng rác.May sao tôi thấy, la lên: đâu có bỏ. Cô bạn ngạc nhiên hết “thịch” rồi! Tôi trả lời chưa xong mà.
 
Trước con mắt ngạc nhiên của cô bạn, tôi lôi chày cối ra giã nát mớ vỏ và đầu tôm, sau đó dùng rây lọc nước. Nấu xong tôi giải thích cho cô bạn NK, phún và thịt  khác nhau chỗ nào, người Bắc đã tận dụng vỏ tôm, đầu cá, ngay cả những con cáy chẳng có bao nhiêu thịt. Nhưng khi giã nát lọc lấy nước, chất ngọt cũng có từ  thịt cá, cua,tôm còn sót lại tụ thành phún.
 
Hứng chí tôi còn kể cho cô chuyện vui: bạn Nam Kỳ mời bạn ăn cơm. Món tôm rang của NK không có cắt râu, nên mỗi lần gắp là được cả chùm. Còn khi Bắc Kỳ mời lại, tôm rang được cắt râu gọn ghẽ, nên mỗi lần gắp chỉ được một con thôi.
Tôi còn khoe, chỉ có một con gà, má tao làm được mấy món: thân luộc, lòng xào dứa, cổ cánh bằm nhuyễn viên lại, nấu giả chim, còn lông thì để bán cho người ta mang về làm chổi lông gà.
 
Tôi còn “tự hào”, xứ tao nghèo, nhưng không đến nỗi như miền Trung sỏi đá,có chuyện  một anh học trò nghèo đi thi. Anh đẽo một con cá bằng gỗ, khi vào quán ăn, anh chỉ mua cơm và xin một chút nước mắm. Anh chấm con cá vào nước mắm, ung dung như đang ăn cơm với cá. Sau đó con cá gỗ lại được cất đi, để dùng cho bữa sau. Chuyện thật hay tưởng tượng, nhưng chắc chắn anh học trò này không phải là dân Nam Kờ với toàn những món nguyên con: cá nướng trui, gà đút lò. Tự ái dân tộc nổi lên khi còn ở trong trại định cư, đám con nít Nam Kờ chọc anh em tôi là Bắc Kỳ ăn cá rô cây!
 
Phong thổ tạo ra ẩm thực, bạn bố tôi về xứ Quảng ăn tết. Khi trở lại saigon, ông cho bánh tổ, bánh rế, bánh men, kẹo gừng, kẹo mạch nha… nguyên liệu chỉ là đường phổi, khoai, nếp, đậu, cá tôm đâu chẳng thấy ở xứ khô cằn sỏi đá. Cuộc sống khó khăn đã khiến người ta cố gắng vươn lên. Miền Trung đã sản sinh ra biết bao nhân tài, điển hình là các ông vua triều Nguyễn, ngay cả Tổng Thống Ngô đình Diệm cũng là người dân xứ Huế.
Văn thi nhạc sĩ gồm đủ người ở cả ba miền: Trung Nam Bắc.
Văn sĩ miền Nam như Hồ biểu Chánh, Sơn Nam, Hồ Trường An, Bình nguyên Lộc…
Thi sĩ miền Bắc như Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính…
Nhạc sĩ miền Trung như Hoàng Thi Thơ, Châu Kỳ…
Những dí dỏm, thâm trầm, đơn  mộc mạc đặc trưng của mỗi miền đều thể hiện trong các tác phẩm của họ. Văn là người. Khi cho ra những món ăn tinh thần, ít nhiều gì chúng ta cũng thấy bàng bạc hình ảnh con người tác giả. Từ quan niệm sống cho tới cá tính của mỗi người.
 
Mặc dù vợ của mấy ông nhà văn nhà thơ ít khi được nhắc đến. Họ như những bóng mờ, chỉ biết Tú Xương có năm con, nhà thì ở gần sông, bà vợ buôn bán lặt vặt (bởi vậy mới nghèo): quanh năm buôn bán ở mom sông, nuôi đủ năm con với một chồng. Tuy vậy Tú Xương cũng biết cám ơn người bạn đời, chứ Tản Đà đọc thơ của ông, không nghe nói đến vợ con, toàn nghe than thở văn chương hạ giới rẻ như bèo. Còn làm thơ thì toàn ca tụng những ai ở đâu đâu, trong khi các bà vợ một nắng hai sương hầu như không ai nhớ đến.
 
Sau 75, bắt gặp hình ảnh của những nhà văn nhà thơ miền Bắc sống chui rúc ở những căn nhà ổ chuột. Cuộc sống cơ cực, tôi cảm thấy chạnh lòng.Văn nghệ sĩ miền Nam đâu có khốn khổ như thế. Tài hoa của đất nước bị đối xử thế sao? Lê Xuyên chú Tư Cầu bán vé số, Trúc Phương ngủ ở bến xe cũng chỉ khi nước mất nhà tan. Trước kia vốn truyền thống trọng nghĩa khinh tài, họ cũng đã có thời gian huy hoàng, xứng đáng với những cống hiến của họ.
Chẳng tham ruộng cả ao điền,
Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.
 
Anh đồ kẻ sĩ là hình ảnh tượng trưng cho những văn nghệ sĩ. Những người dùng tim óc để cho ra những món ăn tinh thần cho mọi người. Họ được ví như kiếp con tằm: nhả hết tơ rồi chết. Dốc hết mọi tinh hoa làm đẹp cho đời chỉ vì: cái nghiệp của họ. Đã mang cái nghiệp vào thân, cũng đừng trách móc trời gần trời xa.
 
Mẹ tôi thường nói ăn no hóa lú. Khi no nê người ta chẳng muốn làm gì, những người giàu có sung sướng hình như tài năng ít phát triển. Trong khi cuộc đời của những danh nhân,  nhân toàn là những người có cuộc sống khó nghèo, không phải lúc tuổi thơ thì cũng lúc trưởng thành. Vũ trọng Phụng chết khi chưa tới tuổi ba mươi. Đặng thế Phong cũng thế, chết bởi những bệnh không đáng chết. Sự thiếu thốn làm thành mơ ước. Nguyễn Bính mồ côi mẹ từ nhỏ, nhưng ai cấm ông mơ ước: tết đến mẹ tôi vất vả nhiều. Chị đi em ở lại nhà, vườn rau em giữ mẹ già em thương.
 
Khuôn mặt không đẹp trai, nhà nghèo, học ít, nhưng ông mơ mộng có bao người con gái yêu ông, hay ông yêu. Nguyễn Bính đã làm bao nhiêu con tim thổn thức, ông làm thơ cho tha nhân hay cho chính mình.
 
Sau khi bức màn sắt được vén lên do biến cố mất nước 1975, mọi người mới thấy được bằng xương bằng thịt những con người tài hoa: Văn Cao, Nguyễn Tuân… cuộc sống của họ ở miền Bẳc sao mà thê thảm thế. Nhà không phải là nhà, quần áo đồ đạc của họ trông thật nhếch nhác. Nhà văn Dương thu Hương đã ngồi sụp ở chợ Bến Thành khóc nức nở khi biết mình bị lừa. Đoàn Chuẩn với bản nhạc Gửi người em gái miền Nam âm điệu du dương. Nhạc quá hay, ý thật tuyệt, nhưng lời thì làm cho các người trẻ tuổi viết Comment bên dưới: sao mà tuyên truyền láo khoét vậy. Thương cho em vào miền Nam phải sống trong nghèo đói, cúi đầu mà đi!
 
Những thương tiếc cho văn nghệ sĩ miền Bẳc chưa kịp nguôi, thì tới lượt văn nghệ sĩ miền Nam, những người bị gọi là bọn biệt kích cầm bút chịu cảnh tù đầy: Vũ Hoàng Chương, Dương Hùng Cường, Nguyễn Mạnh Côn, Minh Kỳ, Thục Vũ... Thi hào thi bá còn đâu. Những con người chỉ sống bằng ngòi bút, nhả ngọc phun châu. Những mình hạc xương mai, trói gà không chặt nay chịu cảnh đọa đầy.
Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ.
Xuân đời chưa hưởng kịp, mây mùa Thu đã sang.,
                                                                     VHC
Ngày xưa khi còn đi học, không phải chỉ có mấy ông già mới bình thơ, bọn nữ sinh chúng tôi cũng chuyền tay nhau những tập thơ tình. Để rồi tấm tắc:  thi nhạc sĩ sao mà tài thế. Trong bồ chữ nghĩa, mình thò tay vào thì toàn lôi ra sỏi đá. Còn tới lượt mấy ổng, chẳng cần mở mắt, cứ bỏ tay vào bồ chữ, là lôi ra toàn ngọc trai, cẩm thạch, hột xoàn.
-  Có phải em yêu tôi thành thật
-  Hay là tinh nghịch nói cho vui.
Con bạn tôi oang oang, lời thơ dịu dàng ngọt ngào quá chừng. Chữ dùng thì khỏi chê. Thắc mắc mà không dám hỏi, rụt rè dò ý   phải cho mình đỡ quê, nếu bị bé cái lầm.Vẫn hy vọng người ta đâu có ác, nên chỉ trách nhẹ nhàng  tinh nghịch. Chỉ là đùa thôi mà.
Khen xong, con nhỏ nói, cỡ tao chắc chỉ dám hỏi:
-  Cô có thương tui thiệt lòng không?
-  Hay cô làm bộ giỡn chọc tui.
Bọn con gái chúng tôi đã hét lên thơ con cóc, nghe cù lần. Lại còn hăm dọa này kia, thiệt là cú mà đứng bên cạnh công.
Nhiều khi tụi tôi còn dám tấm tắc khen phò mã tốt áo, mang thơ Vũ hoàng Chương, Đinh Hùng ra bàn.
Những bài thơ chuyện chúng mình của Nhất Tuấn hay thơ  Nguyễn Bính lúc nào cũng có trong cặp.
Ngày xưa văn nghệ sĩ chỉ sống bằng ngòi bút. Viết báo thì có nhuận bút, viết sách thì có nhà xuất bản trả tiền cho bản quyền. Đời sống của văn nghệ sĩ trong miền Nam đâu có thê thảm như những văn nghệ sĩ miền Bắc. Nhà văn Xuân Vũ vốn người miền Nam tập kết ra Bắc. Khi biết sự thật sau bức màn sắt, ông đã tìm cách trở về hồi chánh, cũng như ca sĩ Đoàn Chính. Họ là những nhân chứng nói ra những sự thật đau lòng về thân phận của những văn nghệ sĩ miền Bắc sau năm 54.
Nguyễn Bính chết trong nghèo nàn khủng khiếp. Không cho nằm bệnh viện, không cáo phó. Một đám tang buồn tẻ lạnh lẽo thê lương cho con người tài hoa, ông đã qua sông đắm đò. Như NB đã nói cuộc đời của ông là hình ảnh của người con gái Lỡ bước sang ngang. Xót xa cho kiếp con tằm. Những sợi tơ óng ánh từ những vần thơ của ông, ở lại với chúng ta mãi mãi.
Lại Thị Mơ