Search This Blog

Saturday, July 29, 2017

 Nguyễn Mạnh Côn, đem tâm tình viết lịch sử


 NGUYỄN MẠNH TRINH 


Ngày 1 tháng 6 năm 1979, ngày nhà văn Nguyễn Mạnh Côn tử tiết tại trại tù khổ sai Xuyên Mộc. Ông tuyệt thực phản đối việc ông bị cầm tù quá lâu. Cai tù trại Xuyên Mộc không cho ông uống nước và ông chết trong trại tù.

Nói đến nhà văn Nguyễn Mạnh Côn phải kể đến những tác phẩm như Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử, Lạc Đường Vào Lịch Sử, Mối Tình Mầu Hoa Đào,… biểu lộ tâm cảm băn khoăn của một lớp tuổi trẻ thanh niên của những thập niên 1940, 1950 trong ý hướng muốn đi tìm một con đường chỉ đạo cho công cuộc giải phóng quê hương tìm độc lập tự do cho dân tộc và đất nước. Có những lựa chọn ý thức hệ của những trí thức tiểu tư sản, từ Võ Nguyên Giáp đến Hồ Hữu Tường, từ Vũ Khắc Khoan đến Lê Quang Luật, từ Nghiêm Xuân Hồng đến Nguyễn Mạnh Côn…

Nhà văn Tuấn Huy đã viết về một người cầm bút đàn anh của mình: “Khách quan mà nhìn nhận có một luồng gió mới thổi vào văn học của chúng ta những năm giữa thập niên 1950 trở về sau. Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, theo tôi, luôn luôn tên tuổi ông đi sát với tên tuổi nhà văn Doãn Quốc Sỹ bởi những tác phẩm của hai nhà văn này gần như trọn vẹn đều có những nhân vật đầy ưu tư trước những thăng trầm đổi thay của đất nước. Họ là những người luôn luôn quằn quại thao thức vì bị lịch sử dày vò.

 Riêng Nguyễn Mạnh Côn, qua bút hiệu Nguyễn Kiên Trung đã phơi bày một cách thật ẩn dụ tình cảm và tâm trạng của cả một thế hệ thanh niên đã bị thất vọng sau cuộc kháng chiến chống Pháp. Từ những nao nức hăng say khi cuộc “cách mạng mùa thu” tràn đến rồi sự vỡ mộng ê chề khi thấy rõ tuổi xuân và xương máu của mình đã bị một nhóm người lừa gạt. Từ “Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử” đến “Lạc Đường Vào Lịch Sử” đến “Hòa Bình…Nghĩ Gì… Làm Gì” nhà văn Nguyễn Mạnh Côn đã mang hết cả những tâm cảm của ông để kể lể chuyện trò với chúng ta về những suy tư về những khao khát của một con người. Một con người có những dằn vặt có những vò xé có những đớn đau có những ước mong có những hy vọng. Một con người đôi khi tưởng như lạc lõng tưởng như cô đơn tưởng như nghịch lối tưởng như nghịch dòng. Nhưng là một con người thủy chung đi tới tận cùng cuộc hành trình về tư tưởng mà chính mình phác họa.

 Kể cả những thời điểm mà Sài Gòn đã có nhiều cán bộ văn hóa Cộng sản xâm nhập, nằm vùng hay ngnag nhiên thao túng; kể cả những thời điểm mà cuộc chiến dằng dai đã khiến mọi người hầu như rã rời thấm mệt thì Nguyễn Mạnh Côn vẫn hiên ngang đứng ở một chỗ cao, của một vị thế riêng, chống lại Cộng sản. Và một điều đáng nói khác với những cây bút “chống cộng ồn ào” khác, Nguyễn Mạnh Côn đã chống Cộng bằng tư tưởng và lý luận, bằng sự trầm tĩnh và nghiêm trang, bằng sự hòa nhã và đứng đắn, bằng những gì phát xuất ở con tim và bằng những gì phát khởi từ tấm lòng. Ông là nhà văn mà Cộng Sản coi là thù nghịch nhưng vẫn phải nể trọng…”

Nguyễn Mạnh Côn đã mang vào văn chương những ý thức chính trị. Những kinh nghiệm thực của cuộc đời ông được mang ra viết để thành những cống hiến cho thế hệ đi sau. Ông sinh năm 1920, là thế hệ lớn lên và trưởng thành trong một bối cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước. Năm 1930, cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân Đảng đã bắt đầu cho một thời kỳ khủng bố trắng của Thực dân Pháp. Lúc đó, cao trào tranh đấu đòi độc lập tự do đang ở tột đỉnh. Sau đó là thời kỳ suy vi của Đế quốc Pháp. Đức Quốc Xã chiếm chính quốc Pháp và dựng lên chính phủ bù nhìn thỏa hiệp của thống chế Petain. Ở Đông dương chính quyền thuộc địa đu dây giữa hai chính phủ một lưu vong và một ở chính quốc và sau đó bị quân Nhật đảo chánh. Thế giới chiến tranh lần thứ hai vừa chấm dứt và manh nha trên thế giới một cuộc chiến tranh lạnh tiếp theo. Việt Nam, khi trước là thuộc địa Pháp sau bị Nhật đảo chính rồi bị chia làm hai vùng chiếm đóng của quân Anh ở miền Nam và quân Quốc Dân Đảng Trung Hoa ở miền Bắc vào tước vũ khí của quân đội Nhật. Quân Anh vào miền Nam mang theo quân Pháp chiếm giữ các thành phố lớn rồi như vết dầu loang bành trướng các vùng chiếm đóng. Ở miền Bắc, quân Tàu vào và với nhiều đổi chác rút ra để quân Pháp đổ bộ lên Hải Phòng vào Hà Nội.

Chính phủ liên hiệp gồm Việt Cộng sản và các đảng phái quốc gia tuy kết hợp với nhau trong mục tiêu chống Pháp nhưng ở bên trong là những cuộc đảng tranh đẫm máu và khốc liệt. Nguyễn Mạnh Côn là một nhân chứng, là một đại diện của Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội trong quốc hội liên hiệp đầu tiên. Ông đã có nhiều kinh nghiệm chua chát. Và tạo thành chất liệu thực tế cho sáng tác.

Viết tác phẩm “1945. Lạc Đường Vào Lịch Sử” ông giãi bày: “tuổi trẻ nào cũng có nhiều phen sai lầm, tội lỗi và hoài nghi hối hận. Từ năm 1958 bắt đầu viết truyện này cho đến năm nay tôi vẫn theo đuổi một ước vọng là làm thế nào cho các bạn thanh niên hiện đại tin chắc rằng tuổi trẻ của chúng tôi không có gì hơn tuổi trẻ của các bạn. Chúng tôi có thể là những anh hùng: anh hùng lạc đường một cách bất đắc dĩ.

Và chúng tôi chỉ có nhiều đau khổ. Nhưng đau khổ, sẽ đến như đã đến, với tất cả, Cuốn truyện này là bằng chứng, sự chịu đựng của chúng tôi. Bây giờ đến lượt các bạn…”

Viết một tác phẩm khác: “Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử”, với những hồi ức đã có, đã sống, ông nhìn lại đoạn đường đã qua với nỗi ngậm ngùi nhưng vẫn có nhiều hy vọng:

“Lòng hỏi lòng, tôi thấy mình như con ngựa mệt mỏi dọc theo lối mòn kháng chiến quanh co, nay ra đến con đường mới vừa thẳng vừa rộng, thốt nhiên đâm sợ. Sợ, nhưng cũng có mừng; đàn ngựa trẻ đương phóng lên nước kiệu…Tôi linh cảm Việt Cộng lại đương nhầm, nhầm ở chỗ đánh giá anh em ta quá thấp…”

Lúc đó, trong hoàn cảnh đặc biệt của đất nước, cũng có nhiều cố gắng để tìm một con đường thực hiện công cuộc giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước đúng đắn nhất. Một thế hệ muốn tìm những kim chỉ nam hành động. Có người chọn chủ nghỉa Mác, dùng đấu tranh giai cấp theo sự hướng dẫn của Cộng Đảng Đệ Tam Quốc Tế Nga Xô Viết. Nhưng với Nguyễn Mạnh Côn ông đã chọn con đường khác, tạo một ý thức hệ đối đầu với tư tưởng của Karl Marx. Và có lẽ trong suốt cả cuộc đời ông, ông vẫn thao thức trong ý định đi tìm một con đường tốt đẹp nhất cho dân tộc. Sự xa lánh ý thức hệ Mác –Lênin có lẽ từ suy nghĩ tinh tế để có một nhận thức chính xác. Chống Marx và vượt Marx…

Với bút hiệu Nguyễn Kiên Trung ông đã viết, suy nghĩ và tâm sự của mình, dưới hình thức những lá thư gửi cho bạn đang sống ở Pháp. Tác giả thú thực đã hoàn tất xong tác phẩm khá lâu nhưng thật khó khăn khi viết bài tựa để mang toàn bộ tác phẩm đi in. Ông muốn bài tựa ấy phải là một bài tựa đầy tình cảm nhưng khi viết xong thì tình cảm đã lắng xuống đến nỗi không có đến một rung động nhỏ. Và ông đã khám phá rằng vấn đề không thu hẹp trong vấn đề văn nghệ hay kỹ thuật, vấn đề bao quát cả một niềm hy vọng tha thiết của quốc dân năm 1945, cả một cuộc phản bội của Mặt Trận Việt Minh, với không biết bao nhiêu người sống quằn quại, không biết bao nhiêu người chết thảm thê vì sự phản bội ấy. Và ông không viết được bài tựa ấy cũng là hợp lý, bởi lẽ nào mang chút tình cảm vụn vặt của mình làm mào đầu để khởi đi một giai đoạn lịch sử cao quý, hùng vĩ của cả dân tộc…

Nội dung của “Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử” là những tâm sự của một chiến sĩ đang tranh đấu trực diện trong công cuộc giải phóng đòi tự do độc lập cho đất nước trong những bức thư viết ở những thời điểm quan trọng của lịch sử Việt Nam. Những không gian và thời gian như Hà Nội ngày 3 tháng 9 năm 1945, như Hà Nội, nội thành, Liên khu 1, ngày 26 tháng 12 năm 1946, như Hà Đông ngày 3 tháng 2 năm 1947, như Phú Thọ ngày 29 tháng 11 năm 1952, như Hải phòng ngày 19 tháng 7 năm 1954, là những cột mốc đáng nhớ của một thời đại đầy biến động Việt Nam.

Ngày 3 tháng 9 năm 1945 tại Hà Nội, Việt minh cướp chính quyền hớt tay trên các đảng phái quốc gia. Ngày 26 tháng 12 năm 1946 ở Hà Nội, trong nội ô thành phố, Tự Vệ Thành đã nổ súng đánh Pháp bắt đầu cho cuộc kháng chiến giành độc lập. Ngày 3 tháng 2 năm 1947 ở Hà Đông, Đảng Cộng Sản Việt Nam chính thức thành lập và cuộc đảng tranh đẫm máu và gay gắt nhất đã tạo những vết thương đau đớn cho dân tộc. Ngày 29 tháng 11 năm 1952 tại Phú Thọ là ngày bắt đầu cuộc cải cách ruộng đất và đấu tố để thực hiện đấu tranh giai cấp. Ngày 19 tháng 7 năm 1954 tại Hải Phòng là ngày bắt đầu chia đôi đết nước ở vĩ tuyến 17 theo hiệp ước Genève.

Từ thời điểm ấy, Nguyễn Kiên Trung kể cho bạn đọc nghe về cuộc đời của mình và thế hệ mình theo ngõ đẩy đưa của thời cuộc. Và từ đó như tấm gương phản chiếu thấy được sự bội phản lường lọc của những người Cộng sản Việt Nam. Với kỹ thuật tranh đấu được huấn luyện từ hệ thống Cộng Sản thế giới, họ áp dụng vào thực tế và đã thành công trong việc nắm giữ chính quyền và thực hiện chính sách vô sản chuyên chính.

Tác giả “Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử” đã “trút ngay lên mặt giấy một sự cần thiết phải gào thét, phải nức nở cho số phận những người bạn tôi sắp phải chết, ngoài kia, bên trên vĩ tuyến Bắc 17 độ. Nói là bạn, nhưng chỉ có một số nhỏ là bạn của tôi thật, còn nhiều người mới quen biết sơ qua trên con đường kháng chiến, nhiều người chưa hề được gặp mặt, nhiều người tôi đáng tôn lên là bậc thầy, Phan Khôi, Đào Duy Anh, Văn Cao, Trần Dần, Hoàng Cầm, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, những người áy sắp bị Việt Cộng mang ra xử án…

Họ, như Phan Khôi, Đào Duy Anh, Hoàng Cầm chưa hề bao giờ là những người Cộng sản. Nhưng cùng nhau, họ đã chống lại Việt Cộng. Điều cần biết, đối với tôi, là trong hàng ngũ duy vật, một sự nứt nẻ trầm trọng đã được xác nhận. Một điều cần biết nữa, là thực tế đang chứng minh rằng những con người ấy, vốn dĩ Cộng Sản hay chỉ đầu hàng hoặc thỏa hiệp với Việt Cộng, cuộc tranh đấu của họ gần đây là cuộc tranh đấu tiểu tư sản. Dưới bất kỳ một nhãn hiệu chính trị nào do họ tự nhận lấy hoặc bị kẻ khác gắn cho họ, họ quả thật là những người tiểu tư sản, trí thức tiểu tư sản. Những người trí thức tiểu tư sản trong hòa bình và vì lý tưởng dám liều mình chống lại cường quyền và bạo lực, đó là câu kết cho cuốn “Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử”, câu kết tôi muốn viết mà trước kia không dám viết, e ngại rằng chưa đủ bằng chứng cho chúng ta tin cậy, thì bây giờ, những nhà trí thức của Hà Nội, của Hồ Gươm, và của Hồ Tây không bao giờ phai nhòa trong tâm tưởng kẻ lưu vong, những nhà trí thức anh dũng ấy, bằng tai nạn của họ đã cho phép chúng ta nói một lời quyết định…”

“Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử” được viết cách nay nửa thế kỷ và xem ra tới bây giờ, vẫn còn nhiều suy nghĩ đáng chú ý. Lịch sử, đã bị chế độ hiện hữu bôi xóa và những bài học để thế hệ sau hiểu biết chứa đầy những giả trá. Từ năm 1945, tới nay không xa, khoảng cách lịch sử vẫn còn gần để nhận thức, thế mà đã có nhiều sai lạc. Thậm chí, có những người được gọi là trí thức như Đặng Tiến, cũng viết phê bình văn học, cũng là người tự cho mình là người thông hiểu văn chương lịch sử, mà trong một buổi phỏng vấn của Đài BBC gần đây đã bóp méo lịch sử, ca tụng Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, với việc giết hại những chiến sĩ thuộc các đảng phái quốc gia. Thậm chí, ông ta còn cho rằng Đảng Cộng Sản đã phải chiến đấu với thực dân Pháp, quân phiệt Nhật, Quốc dân Đảng Tàu và các đảng phái quốc gia theo chân quân Tàu Tưởng. Ông ta gom gọn làm một các lực lượng quốc gia với cái nhãn hiệu là theo chân quân Tàu. Nếu Đặng Tiến đã đọc sách và viết phê bình về hai mươi năm văn học miền Nam thì chắc phải đọc “Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử” Không hiểu ông ta có gặt hái được suy nghĩ nào chính xác hơn không sau khi đọc tác phẩm này?

Một tác phẩm khác “1945, Lạc Đường Vào Lịch Sử” cũng lấy thời gian và không gian của những năm bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp với các nhân vật bị đẩy vào cuộc một cách bất đắc dĩ. Họ hoạt động trong những sự sắp xếp của các thế lực quốc tế thông qua các đơn vị tình báo của các cường quốc liên hệ đến tình hình htời sự Việt Nam. Có nhiều nguyên ủy để họ tham gia chính trị. Có thể vì bị lôi kéo vì tình cảm như Tuyết Lan, như Quang, như Trọng. Có thể vì thi hành những công tác tình báo như Tôn Xương Linh nhân viên OSS của Mỹ mang bí số SA 141 hay ông Tiến, một lãnh tụ quốc gia, cha của Tuyết Lan mang bí số SA 72. những nhân vật ấy có đặc tính cá tính riêng, như Trọng là một người con trong gia đình quan lại với suy nghĩ và hành động đặc sệt tiểu tư sản, như Tôn Xương Linh, người Tàu nhưng mang dòng máu của một qaun đại thần triều Nguyễn lưu vong Việt và có suy tư của người Việt Nam bị đẩy vào trong một vai trò tình báo quốc tế thành viên của phái đoàn OSS của đại tá Patti. Từ hoàn cảnh cá nhân riêng đến cảnh ngộ chung của dân tộc, mọi nhân vật đã đi vào trong những con đường bị làm tay sai cho các thế lực ẩn mặt của các siêu cường. Có thể họ có tâm tính của cách mạng lãng mạn như Trọng nhưng họ cũng có thể có cái máu lạnh lùng vô hồn vô cảm của Lâm Trọng Ngà, một chỉ huy công an Cộng sản. Những nhân vật ấy, trong những khúc quanh khốc liệt của lịch sử đã được mô tả với tư cách chứng nhân cho một thời kỳ mang nhiều bí ẩn và những hiện tượng khó có thể giải thích nhưng đã xảy ra.

Viết về những chặng đường mà tác giả đã sống, Nguyễn Mạnh Côn mang những kinh nghiệm của chính bản thân để gửi một thông điệp cho các thế hệ sau về những lỗi lầm của những người đi trước đã tạo ra những hậu quả về sau nghiêm trọng. Cái lạnh lùng vô cảm của những người theo chủ nghĩa Cộng sản duy vật có thể giúp họ chiến thắng trong đoản kỳ nhưng sẽ là cội nguồn thất bại về sau trong trường kỳ.

Khi miền Nam Việt Nam bị sụp đổ vào năm 1975, Nguyễn Mạnh Côn bị chế độ hiện hữu trả thù, bắt giam và ông chết trong tù sau khi bị hành hạ vô cùng dã man về cả tinh thần lẫn vật chất. Khi chống lại chế độ Cộng sản, ông là một người tiên đoán khá chính xác sự sụp đổ của chế độ ấy nhưng đáng tiếc là ông không còn sống để chứng kiến sự suọ đổ ấy trên toàn thế giới. Suốt cuộc đời ông, mải miết đi tìm con đường lý thuyết làm chủ đạo cho công cuộc tranh đấu từ những kinh nghiệm của mình. Chủ nghĩa Cộng sản không thể chấp nhận được vì với biện chứng pháp con người không còn là một con người nhân bản nữa mà chỉ là một phương tiện để vận động cho một mục đích không tưởng.

Một tác phẩm khác của Nguyễn Mạnh Côn cũng gây được sự chú ý của văn giới. Đó là “Kỳ Hoa Tử”, câu chuyện tình của một cô gái người Nhật Bản yêu một chàng trai Việt Nam đang lưu lạc ở Trung Hoa. Kỳ Hoa Tử theo người yêu về Việt Nam trong lúc đang có cuộc kháng chiến chống Pháp. Bề ngoài thì tất cả lực lượng quốc dân đều tham gia vào cuộc chiến giành độc lập tự do cho đất nước nhưng thật sự bên trong thì những người đi theo chủ nghĩa của những người quốc tế vô sản đang nắm quyền lực và dùng đủ mọi phương cách để thực hiện cuộc cách mạng đấu tranh giai cấp. Trong âm mưu ấy, họ phải quét sạch những người mà họ cho rằng sẽ làm trở ngại cho công việc mà họ đang thực hiện. Một chướng ngại cản đường ấy là Hồ Tùng Mậu và quyết định phải giải quyết bằng mọi giá. Họ kết tội phản động và tạo dựng những chứng cớ buộc tội. Một nhân chứng dùng để vu khống và kết tội là chàng trai yêu nước đó. Là một đảng viên trung kiên, chàng không thể nào trái lệnh dù biết rằng công việc ấy không hớp lý và vô đạo đức. Kỳ Hoa Tử thấy những hành vi như vậy và tình cảm thay đổi theo. Thế là cuộc tình bị tan vỡ. hai người xa nhau với tất cả nỗi đớn đau. Những tâm tình lãng mạn thơ mộng đã được thay thế bằng những tình cảm hận thù. Và, kết cuộc là tang tóc, đổ vỡ, chia ly…

Viết Kỳ Hoa Tử, ông cũng dùng những sự thực trải qua trong đời để tạo cho câu chuyện kể có sự sinh động và hợp lý. Tuy có lúc mang suy nghĩ chủ quan của mình vào trong sự kiện làm cho truyện chậm lại nhưng lại chuyên chở được những trao gửi kèm theo. Kỳ Hoa Tử là một cô gái Nhật và yêu một chàng trai người Việt trên đất Trung Hoa. Cô theo người yêu về nước và tham gia kháng chiến chống Pháp. Nhưng, định mệnh xui khiến, lúc đó Cộng Sản đang xúc tiến kế hoạch cách mạng vô sản bằng đấu tranh giai cấp và bằng mọi giá phải dẹp tan tất cả những người có thể là chướng ngại vật cho kế hoạch ấy. Một người cần phải dẹp bỏ là Hồ Tùng Mậu mà đảng coi là chướng ngại nguy hiểm nhất. Cộng đảng bèn ngụy tạo ra tội phản động và gán cho Hồ Tùng Mậu. Chàng trai Việt bị bắt buộc đứng ra tố cáo trước tòa án. Vì là một đảng viên trung tín nên phải tuân lệnh. Vì thế, cuộc tình trai Việt gái Nhật tan vỡ với bao nhiêu tang tóc thảm kịch.

Nguyễn Mạnh Côn là người có sở học rộng nên ông hay tìm kiếm những đề tài gây bất ngờ cho độc giả. Ông viết huyền truyện phối hợp vời truyện giả tưởng để đào sâu vào cõi tâm linh con người.

“Truyện Ba Người Lính Nhảy Dù Lâm Nạn” là một truyện khoa học giả tưởng mà tác giả đặt trên căn bản của thuyết tương đối của Einstein về kích thước thứ tư của không gian. Ông giải thích theo lập luận của ông: “cái nhầm của cổ nhân coi vạn vật chỉ có bề dài, bề rộng, bề sâu, tưc 1là chỉ có ba kích thước mà không biết rằng sở dĩ người ta chỉ trông thấy ba kích thước ấy là nhờ có ánh sáng. Tùy sức ánh sáng đi nhanh hay chậm, tùy con đường từ ta đến cảnh vật xa hay gần mà ta tức khắc trông thấy vạn vật hay chỉ trông thấy dần dần… Cảnh vật chung quanh ta tưởng rằng nhất định như thế mà thật ra có thể đổi khác (thấy không khác vì vận tốc ánh sáng ở cõi ta là một hằng số không đổi). Einstein đã biết rằng khi một vật di động càng nhanh càng tới gần tốc độ của ánh sáng thì thời gian và không gian hỗ tương ảnh hưởng vào nhau sẽ uốn cong lại chung quanh cái vật di động kia. Sự uốn cong này chính là cái kích thước thứ tư…”

Nhân vật trong truyện là bác sĩ Mai, nữ trợ tá Kiên Trinh và hạ sĩ Khang thuộc binh chủng nhảy dù trong một phi vụ ở gần biên giới Trung Hoa thì máy bay bị bắn hạ và đâm nhào xuống đất. Trong giây phút ấy họ bị bất tỉnh và tình cờ lọt vào một vùng không gian năng lực phi thường với vận tốc cao gần với tốc độ của ánh sáng. Và như vậy họ lọt vào vũ trụ có kích thước thứ tư. Ở nơi chốn này họ gặp Lưu Thần và Nguyễn Triệu của truyện tích từ ngàn năm xưa cũng vì một cơn bão có tốc độ khủng khiếp thổi tới và cùng lạc vào vũ trụ có không gian bốn chiều như ba người lính nhảy dù này. Và chốn này có thể gọi là Thiên Thai, với thời gian đứngbim bất động và cảnh sắc thì có nét của miên viễn nên rất tuyệt vời. Ở đây có những bộ máy kỳ diệu có thể điều chỉnh tốc độ ánh sáng để đưa con người vào quá khứ hay tương lai.

Bác sĩ Mai và nữ trợ tá Kiên Trinh muốn ở lại Thiên Thai trong khi hạ sĩ Khang thì muốn trở về qúa khứ. Anh trở lại thế kỷ thứ 18 ở thành Thăng Long và tình cờ cứu sống Vua Quang Trung. Sau Khang giúp Vua Quang Trung đánh quân Tàu đòi lại Lưỡng Quảng hai tỉnh. Với kiến thức của thế kỷ 20 đối đầu với quân tàu ở thế kỷ 18 nên Khang đã giúp vua Quang Trung chiến thắng. Nhưng quân dân Tàu áp dụng tiêu thổ kháng chiến cũng như du kích chiến nên chiến thắng không toàn vẹn và Khang thấy rằng tham vọng đất đai là mù quáng.

Khi tỉnh dậy, thì Khang mới biết rằng chỉ trong giây phút ở vũ trụ của không gian bốn chiều nhưng là mấy đời sống ở trần thế… Kiên Trinh cũng có lúc tìm về dương trần nhưng vô cùng đau khổ khi biết người chồng là hạ sĩ Khang đã lấy công chúa Ngọc Chân em công chúa Ngọc Hân. Bác sĩ Mai thì nhớ quê hương, tưởng vọng về những nơi chốn của Hà Nội đất Bắc xưa. Cả ba người lính nhảy dù này sống lạc lõng bên lề cuộc sống.

Trong truyện, Nguyễn Mạnh Côn đã dùng rất nhiều kiến thức về khoa học, về toán học, về lịch sử, về triết lý. Chính vì vậy, thành ra tác phẩm đâm ra nặng nề, nửa biên khảo nửa tiểu thuyết. Vì chứa đựng qúa nhiều chi tiết, dù rằng đã cố gắng dung hòa giữa khoa học và văn chương, nhưng bố cục truyện hơi nặng nề và diễn biến câu chuyện cũng ít có chất tự nhiên.

Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn còn có tham vọng lập thuyết, dùng văn chương để chuyên chở ý tưởng. Ông nghĩ về thuyết Tân Trung dung, viết “Mối Tình Mầu Hoa Đào” và “Hòa Bình… Nghĩ gì? Làm gì?”

“Mối Tình Mầu Hoa Đào” là truyện chàng thanh niên đi tìm lý tưởng say mê như tìm một người yêu quàng khăn mầu hoa đào. Chàng đi tìm mầu hoa đào trong mọi người và mọi cảnh. Thất vọng ngoài kháng chiến chàng về vùng quốc gia, để rời khỏi đơn vị của người Pháp. Công việc tìm kiếm vẫn tiếp tục. Chàng vào Nam, gặp người bạn trẻ, bàn luận chuyện lên đường. Những câu đối thoại, như một chia sẻ giữa hai thế hệ để gợi ý về những hành trang mang theo khi khởi sự đi vào con đường suy tưởng.

Mối tình mầu hoa đào tưởng chỉ giản đơn trong biên giới của địa lý hay những phạm vi thực tế gợi ra từ đời thường. Nhưng Chàng muốn đi xa ra khỏi những khuôn khổ chưa bao la ấy thành ra thất vọng và cô đơn đã dần dần chiếm lĩnh tâm hồn. Ngôn ngữ, có khi để biểu tỏ ý tưởng nhưng sự diễn dịch sai nên lời nói nhiều khi bị hiểu chệch hướng và không giúp gì cho cuộc đối thoại để tìm chân lý. Có lúc Chàng nói chuyện với tiếng vọng, không biết xuất xứ từ đâu để quên đi những rối loạn và cô đơn khi đối thoại với con người. Nguyễn Mạnh Côn lập thuyết như Hồ Hữu Tường lập thuyết, có phải tận dụng những kiến thức khoa học và toán học để mong lý giải một cách có hệ thống những quy luật của cuộc sống hầu có thể áp dụng để tạo một đường hướng chủ đạo cho cuộc sống. Xem ra, cũng chỉ là một cố công…

Viết “Hòa Bình… Nghĩ Gì? Làm gì?” để phổ biến lý thuyết Tân Trung Dung cũng là một cố công khác với những tượng hình lý thuyết có vẻ nhiều chất lãng mạn mà ít chất thực tế. Đem một lý thuyết để áp dụng vào thực tế Việt Nam khi chiến tranh vẫn còn ác liệt và hòa bình chỉ là những hình tượng giả tạo, là một sửa soạn cho một cuộc chiến cuối cùng khốc liệt. Và ông cũng chưa làm cho độc giả hiểu rõ rệt và mạch lạc lý thuyết Tân Trung Dung như thế nào dù ông đã viết trong đoạn cuối của “Hòa Bình… Nghĩ gì? Làm gì?”: “Như vậy, bạn đọc dù không đọc được cả phần lý thuyết thì ít ra cũng kiểm chứng được qua những căn bản về Trời, Đất, về Cha, Mẹ, về đào tạo lương thực, về cách kết hợp lứa đôi và nuôi dạy con cái, về sự xây dựng sự nghiệp bằng cách trau dồi kiến thức không ngưng nghỉ về nghệ thuật, khoa học và kỹ thuật, về suy tư triết học và xây dựng tương lai…”

Nguyễn Mạnh Côn (1920-1979) mất ngày 1 tháng 6 năm 1979. Cộng sản đã hạ đòn thù và hành hạ ông cho tới lúc chết. Nhà văn Nguyễn Triệu Nam đã kể lại về cái chết của ông:

“Trước hết nhà văn của chúng ta đã không đáp ứng đúng yêu cầu của Cách mạng(?) Anh chỉ ôn lược những việc đã làm. Kể lại nội dung từng sáng tác. Chớ không tự lên án mọi hoạt động nói chung của mình. Có nghĩa là anh không nhận tội. Một tên quản giáo nó hỏi anh: “Mày viết phản động đến như vậy mà còn cho là không có tội ư? Vậy mày có biết rằng Cách Mạng chỉ giam giữ mày một thời gian nào đó thôi rồi tha cho mày về hay không? Chứ giữ mày ở lại làm cái gì cho tốn cơm tốn gạo “Vậy các ông muốn tôi phải làm cái gì đây?”- Sẽ có người hướng dẫn cho mày. Y nói xong là bỏ đi. Hôm sau có một tên làm dịch vụ đả thông. Nom lạ hoắc. Không biết gã ta làm nghề ngỗng gì ở ngoài đời. Gã cầm trên tay một bịch ni lông trong suốt. Cố ý giơ lên cho đối tượng nhìn thấy bên trong có những gói mỏng nhỏ. Thì ra là thuốc phiện quết, cô lại như thế thuốc cao. Chỉ nuốt chửng, xài đỡ khi thiếu bàn đèn. Gã lải nhải bên tai nhà văn một chập lâu. Đại ý thuyết phục như vầy: “Anh nên thành khẩn viết một bài kiểm điểm nhận mình có tội. Giờ ăn năn hối hận, hứa với Đảng sẽ đổi mới tư tưởng, sẽ chuyển hướng sáng tác. Nếu anh chịu tuân hành nghiêm chỉnh pháp lệnh của nhà nước thì chác chắn anh được trả tự do đúng thời hạn. Thuốc đây hãy xài tạm hầu phục hồi sự minh mẫn cho trí óc. Đừng khí khái hão mà chuốc họa vào thân làm khổ cho vợ con. Ngộ biến tòng quyền là cách xử lý khôn ngoan của người biết tùy thời lựa thế mà sống, anh ơi! Gầy còm tong teo như anh chịu đòn sao thấu… Nguyễn Mạnh Côn đã thẳng thắn trả lời: “Ông cứ việc báo cáo lại với chúng nó về tất cả những gì tôi nói. Tôi không tôn thờ cái chủ nghĩa Cộng sản mà tôi đã dí xuống chân ấy được. Tôi không bẻ cong ngòi bút, tôi không làm văn nô được. Đừng hòng dùng á phiện mà lung lạc tôi.” Việc gì phải đến đã đến. Nhà văn của chúng ta đã tự sát. (1)

 Bằng cách nào, không nghe rõ chi tiết. Chỉ biết, trước ngày anh quyên sinh, anh gặp Trưởng Trại mà hỏi y: “Cách Mạng công bố là chỉ giam tôi có thời hạn. Sao đã qúa hạn mà không thả?” tên cai ngục cười gằn và bảo: “Nói dễ nghe nhỉ? Mày ngoan cố quá, cứng đầu quá mà. Mày đã nhận tội đâu mà đòi nhà nước tha cho mày”.

Kẻ thù chưa kịp hạ thủ thì anh đã chết rồi. Anh đã chết vinh và bảo toàn được tiết tháo và danh dự của kẻ sĩ. Là một kẻ sĩ uy vũ bất năng khuất anh đã không” lạc đường vào lịch sử” như một nhân vật của một truyện anh viết. Trái lại anh đã đi thẳng vào lịch sử với tư cách của một chiến sĩ tiền phong chống Cộng trên mặt trận văn hóa.”

Nguyễn Mạnh Trinh.

 


(1) Nguyễn Mạnh Côn bị hạ nhục bắt kiểm điểm trước toàn trại và đưa sang đội hình sự, sau chết bệnh ở đó theo nhân chứng Đặng Hoàng Hà tiết lộ

Friday, July 28, 2017

 Việt Nam ngưng hoạt động khai thác dầu-khí tại Bãi Tư Chính thuộc chủ quyền Việt Nam

CTV Danlambao - Nhà cầm quyền CSVN đã ra lệnh công ty Repsol ngừng hoạt động khai thác dầu-khí tại biển Đông sau khi Bắc Kinh gia tăng áp lực quân sự để đe dọa. 

Hoạt động khoan dầu của Talisman-Vietnam, một chi nhánh của Repsol (Tây Ban Nha), mới khởi sự vào ngày 21/06/2017, đã bị ngưng hoạt động chỉ trong vòng một tháng. Việc chấm dứt hoạt động này cũng xảy ra một ngày sau khi một lượng dầu khí rất lớn được xác nhận tìm thấy ở vùng biển này.

Repsol đã bỏ ra 300 triệu USD để xây dựng dự án khai thác dầu-khí.

Từ một tuần trước, Bắc Kinh đã hăm doạ Hà Nội là sẽ tấn công những căn cứ của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa nếu Hà Nội và Respol không chấm dứt hoạt động khai thác dầu-khí.

Khu vực khoan dầu này cách bờ biển Việt Nam khoảng 400km, nằm trong Bãi Tư Chính thuộc chủ quyền của Việt Nam. Khu vực khai thác được đặt tên là Lô 136-03 bởi nhà nước Việt Nam. Việt Nam đã cho Talisman-Vietnam, một chi nhánh của Repsol (Tây Ban Nha) thuê lại. PetroVietNam đã hợp tác với Repsol để cùng tiến hành dự án khai thác dầu Cá Rồng Đỏ tại đây.


Trong chính sách xâm lược để bành trướng ảnh hưởng và quyền lợi trên toàn Biển Đông, Bắc Kinh đã tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với vùng biển rộng lớn của biển Đông với khoảng cách hơn 1600 Km tính từ bờ biển phía Nam của Trung Quốc. Với cái gọi là "Đường Lưỡi Bò", Bắc Kinh đã tuyên bố chủ quyền của gần 3,5 triệu km2 biển Đông là thuộc về Trung Quốc.



Bắc Kinh gọi khu vực khai thác dầu-khí Lô 136-03, thuộc chủ quyền của Việt Nam, là Wanan Bei-21 và tuyên bố đã bán quyền khai thác cho một công ty Hong Kong có tên là Brightoil. Tuy nhiên, Brightoil đã phủ nhận tin này.

Việc Bắc Kinh dùng áp lực quân sự để buộc CSVN phải ngưng hoạt động khai thác dầu khí tại Biển Đông cũng là một cái tát đối với Hoa Kỳ. Trong 6 tháng qua, chính quyền Donald Trump đã đặt nặng mục tiêu giảm thiểu tranh chấp tại khu vực biển Đông và chống lại mọi hoạt động quân sự hóa trong vùng biển tranh chấp này.

Vào ngày 20/07/2017, Breitbart News cho biết Tổng thống Trump đã phê chuẩn một kế hoạch của Bộ trưởng Quốc Phòng Jim Mattis để thường xuyên đối phó với những hành vi bành trướng quá đáng của Bắc Kinh tại Biển Đông.

Đối với Việt Nam, việc CSVN chấm dứt mọi hoạt động khai thác dầu-khí tại bãi Tư Chính không chỉ là một thiệt hại về kinh tế mà còn là một thất bại to lớn trong việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở vùng biển này.

Cho đến giờ phút này, Bộ Ngoại giao CSVN vẫn chưa có một tuyên bố hay thông báo chính thức gì về việc này.

Nguồn tham khảo:







Tưởng Niệm Nhà Văn Nguyễn Mạnh Côn

ĐẶNG HÀ


MỘT

Năm 1967, lúc đó tôi đang vận động Chương Trình Lập Ấp Kiểu Mẫu Thạnh Đức cho đồng bào thiểu số Miền Bắc di cư vùng Cao Nguyên Tuyên Đức/Đà Lạt. Nhân dịp về Sài Gòn, tôi có ghé nhà anh Trần Dạ Từ và trình bày cho anh về chương trình này (Anh Từ là bạn nối khố của anh ruột tôi từ lúc còn học trường Trung Học Kiến An năm 1952. Nên anh coi tôi như em ruột). Lúc đó anh Trần Dạ Từ đang làm ở Đài Phát Thanh Sài Gòn. Anh cho tôi được lên Đài phát biểu 15 phút trong chương trình “Tiếng Chuông Tự Do” do anh phụ trách. Ngày hôm sau anh dẫn tôi đi gặp Nhà Văn Nguyễn Mạnh Côn, nhà ở hẻm Nguyễn Cư Trinh, Gần ngã tư Phú Nhuận. Sau khi nghe tôi trình bày hết chương trình, rất may mắn anh vui vẻ nhận lời ủng hộ chương trình cùa tôi ngay. Lúc đó anh Côn đang viết một số lý thuyết cho Ông Nguyễn Cao Kỳ, hiện là “Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương” tức Thủ Tướng. Anh hẹn sáng hôm sau sẽ dẫn tôi và anh Từ vào gặp Ông Đào Xuân Dung bạn thân của anh hiện đương là Phó Đổng Lý Văn Phòng Phủ Chủ Tịch đặc trách Đất Đai toàn Quốc. Anh đề nghị chúng tôi nên có thêm một người nữa cho thêm phần hùng hậu. Anh Trần Dạ Từ quyết định rủ G.S Phan Văn Phùng, Tổng Thư Ký CPS viết tắt của chữ “Chương Trình Sinh Hoạt Thanh Niên Học Đường “Nhóm này gồm “Đỗ Ngọc Yến, Lê Đình Điểu, Đỗ Qúi Toàn, Hà tường Cát, Trần Đại Lộc, Phạm phú Minh. Sau năm 1975 qua Mỹ đều làm ở tờ Nhật Báo NGƯỜI VIỆT.
Như đã hẹn chúng tôi đợi ở cánh trái Dinh Độc Lập Đường Nguyễn Du, đợi chừng 5 phút, chưa được vào, anh Côn có vẻ khó chịu, anh yêu cầu người gác cổng gọi điện vào văn phòng cho anh trực tiếp nói chuyện với Ông Đào Xuân Dung. Có lẽ người gác cổng thấy anh thường ra vào Phủ Chủ Tịch, cũng đồng ý cho anh nói chuyện trực tiếp. Anh cầm máy nói lớn tiếng tỏ vẻ rất giận dữ “Sao, mày có tiếp không? tao chờ gần 10 phút rồi đấy, nếu bận thì chúng tao đi về, chứ mày để tao chờ lâu thế này à.” Nói xong anh bỏ điện thoại xuống nói với chúng tôi “Từ trước tới giờ chưa bao giờ tôi đợi qúa 5 phút, kể cả gặp Nguyễn Cao Kỳ, sau 5 phút không tiếp là “Moi” (Anh Côn thường dùng moi, toi, để nói chuyện) đi ngay. Sau đó ít phút thì Cảnh Sát gác cổng cho biết là ông Phó Đổng Lý mời chúng tôi vào văn phòng để tiếp kiến.
HAI

Khi vào đến văn phòng, sau khi anh Nguyễn Mạnh Côn giới thiệu chúng tôi và ông Đào xuân Dung mời chúng tôi an tọa, tôi trình bày sơ lược về kế hoạch và chương trình chúng tôi dự định thực hiện trên vùng cao nguyên Tuyên Đức. Sau khi nghe xong, không biết có phải nhờ sự giới thiệu của anh Côn hay không? Nhưng Ông Đào Xuân Dung vui vẻ nhận lời giúp đỡ ngay. Nhưng ông cho biết rằng, tất cả các dự án, trước khi chuyển đến văn phòng ông, phải được địa phương thông qua. Vì thế chúng tôi vận động thông qua được Tỉnh, khi chuyển đến văn phòng, ông sẽ phê duyệt ngay. Đây là lần đầu tiên tôi gặp anh qua sự giới thiệu của anh Trần Dạ Từ, với sự sốt sắng vô vụ lợi, dù lúc đó tôi còn rất trẻ, vô danh tiểu tốt. Tôi không muốn viết nhiều về chương trình này, vì đó không phải là mục đích của bài viết.

Trong thời gian ở Sài Gòn, anh Trần Dạ Từ giao cho tôi trông coi hai nhà Xuất Bản “Thương Yêu và Hải Âu” nằm trong nhà in Nguyễn Bá Tòng. Thỉnh thoảng anh Từ có chở tôi lại thăm anh vài lần, có lần gặp nhạc sĩ Phạm Duy nhờ anh sửa giúp lời bài ca chuyển qua tiếng Pháp (Anh Nguyễn Mạnh Côn rất giỏi Pháp Văn). Anh nói với anh Phạm Duy để đó về đi, khi nào xong anh sẽ cho người mang qua. Tôi đâu có thể làm nhanh như ông được. Sau đó tôi thấy anh Phạm Duy ra về. Một lần khác đến gặp anh, thấy anh Đỗ Ngọc Yến ̣(Sau này là Chủ Nhiệm nhật báo Người Việt ở Cali) đang ngồi nói chuyện, thấy chúng tôi đến anh cáo từ ra về, vì anh ta nói đã nói chuyện với anh Côn lâu rồi. Khi chúng tôi đã ngồi xuống, anh bắt đầu nói là anh đang viết cuốn “Hòa Bình, Làm Gì, Nghĩ Gì”, đã viết được hơn 100 trang, Anh Côn không viết văn bằng máy chữ như nhiều nhà văn khác, anh viết bằng bút máy trên giấy perlure khổ dài, rất đều và đẹp, anh nói hôm nọ Hoàng Hải Thủy đến đây đọc và có phê bình một vài đoạn, moi (anh Côn thường dùng từ moi, toi, để nói chuyện với những người quen) thấy đúng nên đã xé đi viết lại từ đầu. Hôm nay Đỗ Ngọc Yến cũng vừa phê bình một vài chỗ, để moi nghĩ, nếu đúng moi sẽ xé đi viết lại từ đầu. Tôi hỏi “Sao anh không chỉ sửa phần sai thôi?” anh nói không muốn thế. Có lần anh Từ bệnh nặng, vừa khỏi thì anh Nguyễn Mạnh Côn đến thăm. Lúc ấy nhà anh Từ ở trong con hẻm gần nhà thờ Ba Chuông. Anh Từ đọc cho anh Côn nghe bài thơ anh vừa sáng tác sau khi ốm dậy. Anh cười nói “Moi chắc toi vừa khám phá ra điều gì đó”. Lúc đó anh Côn vừa xuất bản xong cuốn sách “TÌNH CAO THƯỢNG” rất thành công. Hình như anh Côn có tặng cho anh Từ chút ít tiền thì phải, tôi nhớ không chắc lắm.

BA

Thế rồi thời gian lặng lẽ trôi, cho đến ngày định mệnh của dân tộc. 30 tháng 4 năm 1975, ngày Miền Nam VNCH sụp đổ. Sau khi Nhà cầm quyền Cộng Sản VN đã lừa được các Quân, Cán, Chính của VNCH vào “trại tập trung”. Ngày 1 tháng 4 năm 1976, bọn cộng sản vn mở chiến dich càn quyét toàn bộ văn nghệ sỹ, trí thức Miền Nam. Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn bị bắt ngày 2 tháng 3 năm 1976. Chúng tôi toàn bộ gia đình 4 người gồm “Anh Trần Dạ Từ, Nhà văn Nhã Ca, anh tôi Đặng Hải Sơn và tôi, Đặng Hoàng Hà”, lúc đó chị Nhã Ca có cháu út “cu Toe” chưa đầy 1 tuổi, và bé “Long Nghi” con gái đầu lòng của anh Sơn vừa đầy tháng còn đỏ hỏn. Sau khi khám nhà và đọc án lệnh chúng tôi can tội “Tuyên Truyền Phản Động”, lúc ấy đang ở tại số nhà 155 Hoàng Hoa Thám, Gia Định. Họ chở chúng tôi đến trụ sở “An Ninh Nội Chính” (Nha Cảnh Sát Đô Thành cũ). Trong 4 người thì có 2 người bị nhốt vào cachot (phòng biệt giam), tôi và chị Nhã Ca. Sau vài tuần hỏi cung xong, chúng chuyển tôi ra phòng Tập Thể 2. Bất ngờ tôi lại gặp anh Nguyễn Mạnh Côn và anh Trần Dạ Từ cùng buồng. Anh Côn mặc bộ bà ba nâu, đeo cặp kính trắng gọng lớn, tối đó tôi và anh cũng nói chuyện rất nhiều, anh kể người chấp pháp có hỏi thời kỳ anh học với các ông Võ Nguyên Giáp và Đặng Thái Mai ở trường “Thăng Long” Hà Nội, Anh nói “Họ biết tôi là đệ tử của nàng tiên nâu, nên trong thời gian làm việc (tức hỏi cung) để tôi có đủ sức khỏe, họ sẽ cung cấp thuốc và cho tôi được hút.” nhưng tôi đã từ chối đặc ân đó. Rồi bỗng nhiên anh hỏi tôi “Trong nhóm” toi”,ý nói (Anh Trần Dạ Từ, Chị Nhã Ca, Anh Đặng Hải Sơn và tôi) Cộng Sản nó sợ nhất là ai không? Tôi nói có lẽ là anh Trần Dạ Từ và chị Nhã Ca, vì cuốn “GIẢI KHĂN SÔ CHO HUẾ” của chị đã được giải “Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc” có ảnh hưởng rất lớn, Tôi nói với anh “Lúc em bị hỏi cung, họ cũng hỏi em về tác phẩm này, vì em đã ở trong nhà anh chị Từ, Nhã một thời gian dài, từ lúc còn ở nhà số “99/1B Ấp Tân Canh Gia Định” cho đến khi chuyển về Nhà số “155 Hoàng Hoa Thám Gia Định” nên họ hỏi có biết nguyên nhân nào chị Nhã Ca đã viết tác phẩm trên Em đã nói với tên chấp pháp rằng: “Áp tết Mậu Thân, chị Nhã Ca nhận được điện tín của gia đinh từ Huế điện vào cho biết ba chị bệnh nặng nói chị về gấp. Lẽ ra anh Trần Dạ Từ lúc đó cũng phải đi nhưng vì đang bệnh nặng, không thể đi được, vì thế chị Nhã Ca đành đi một mình. Khi về đến Huế thì ba chị mất, vì phải ở lại chịu tang, thì xảy ra vụ tổng tấn công tết Mậu Thân nên chị bị kẹt lại Huế hơn 1 tháng, chứng kiến toàn bộ những gì đã xảy ra, chị chỉ viết những sự thực mà chị đã nhìn thấy, Chị là chứng nhân của lịch sử. Tên chấp pháp này sừng sộ với em, hắn nói: “Thế cách mạng làm bao nhiêu điều tốt đẹp sao chị ấy không viết? Chị viết như vậy khiến mọi người trên thế giới lầm tưởng Cách mạng chỉ có biết chém giết, tàn ác.” Em nói điều đó ông nên hỏi chị ấy, vì chị Nhã Ca cũng bị các ông giam tại đây. Sau khi tôi nói xong, anh Nguyễn Mạnh Côn lắc đầu nhìn thẳng vào mặt tôi nói “Trong nhóm của cậu cộng sản nó sợ nhất là “toi” đấy”. Tôi hơi khựng và ngạc nhiên không hiểu anh căn cứ vào đâu mà nói như vậy, vì đang trong tù, có nhiều vấn đề không nên đào sâu. Chuyện vãn một hồi chúng tôi nằm nghỉ, vì trong tù mọi người không được nói chuyện sau 10 giờ đêm. Tôi, anh Côn và anh Từ chỉ ở với nhau được một đêm, sáng hôm sau họ đọc tên một số người phải chuyển trại, trong số đó có anh Nguyễn Mạnh Côn và anh Trần Dạ Từ. Sau đó nghe nói là các anh đã chuyển về “Đề Lao Gia Định” ở số 4 Phan Đăng Lưu. Tôi nằm ở “An Ninh Nội Chính” (Sau này là Sở Công An Thành Phố). Rồi sau đó họ cũng chuyển tôi về trại T20 số 4 Phan Đăng Lưu, khu C2 phòng 7, tại đây tôi ở chung với các anh Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh (Cựu Tổng Giám Đốc Việt Tấn Xã, G.S Đại học Vạn Hạnh). Nhà văn Lê Xuyên thường gọi đùa là “Chú Tư Cầu”. Tác phẩm nổi tiếng của anh, Kịch tác gia Lê Văn Vũ Bắc Tiến, ký giả Đoàn Kế Tường (Sau này ra tù Tường đã cộng tác với Huỳnh Bá Thành Phó Giám Đốc Công An Thành Hồ, viết cho tờ Công An Thành Phố ký tên Đoàn Thạch Hãn, Đã qua đời). Trong đó còn có ông Nguyễn Văn Trương, chủ nhà sách và nhà xuất bản “Khai Trí” nằm trên đường Lê Lợi Q.1 S.G lừng danh, cả Miền Nam ai cũng biết. Vừa vào trong phòng thì anh Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh kéo tôi đến bên anh chỉ chỗ năm bên cạnh, anh nói tôi và anh sẽ ăn chung, phong ngay tôi làm thư ký buồng vì anh đương là Trưởng Buồng chưa có thư ký. Anh Trần Dạ Từ ở cạnh buồng tôi, Anh Nguyễn Mạnh Côn và chị Nhã Ca lúc đó ở Khu B.

Đến đầu năm 1978 thì chúng tôi lưu lạc tứ tán, họ chuyển tôi về khám “Chí Hòa” Khu AH, các anh Trần Dạ Từ và anh Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh đã bị chuyển đi “Lao Động Khổ Sai” ở trại Gia Trung, trên cao nguyên trung phần. Ở Khu AH một thời gian, trước khi đi “Lao Động Khổ Sai” chúng chuyển tôi về khu FG, tại đây tôi lại gặp anh Nguyễn Mạnh Côn, đúng là định mệnh trớ trêu, gặp anh trong hoàn cảnh nghiệt ngã, không mong đợi. Trong chuyến đi “Lao Cải” kỳ này, ngoài anh Côn Còn có anh ruột tôi Đặng Hải Sơn, nhà văn Duyên Anh Vũ Mộng Long, Họa sĩ Đằng Giao Trần Duy Cát (Nguyên Tổng Thư Ký Nhật Báo SỐNG của nhà văn Chu Tử, anh cũng là con rể của nhà văn này). Chúng tôi được chở bằng xe bít bùng, còng tay hai người làm một. Chuyến đi đó vào khoảng 100 người lâu quá không nhớ chắc chắn. Đến Trại “XUYÊN MỘC” Khu A vào lúc xế chiều, trại trưởng, (thường gọi là Ban Giám Thị) lúc đó tên Bến, hắn nói với chúng tôi tổng quát về “20 Điều nội qui, 38 Điều nếp sống văn hóa mới Và 4 Tiêu chuẩn cải tạo”. Chúng tôi đi đường xa mệt mỏi, ngồi trong xe chật chội, đói khát, tinh thần đâu để nghe hắn ta nói tràng giang đại hải như vậy. Cho nên hắn ta cứ nói, chúng tôi chẳng ai quan tâm Sau khi tên thiếu tá công an Bến trưởng trại cải tạo “Xuyên Mộc” nói xong, họ chuyển chúng tôi vào ở chung buồng với những anh em cải tạo khác, trong buồng đủ mọi thành phần sỹ quan, công chức cao cấp chế độ cũ như “Thẩm Phán, Chánh Án, Đại Học Quốc Gia Hành Chánh, như: Phó Quận, Phó Tỉnh, các Trưởng Phó Ty, Sở vân….vân… Lẽ ra chúng tôi sẽ ở lại Khu đó để chuẩn bị lao động, nhưng biến cố bất ngờ xảy ra chiều hôm đó là có 3 sỹ quan trại viên trốn trại. Mặc dù chúng tôi vừa chân ướt chân ráo mới tới chẳng biết ất giáp gì. Nhưng tất cả mọi người trong trại đêm đó đều phải họp kiểm điểm, lên án 3 người vừa trốn trại thành công. Sáng hôm sau, toàn thể anh em chúng tôi tất cả gồm 82 người lại được lệnh lếch thếch chuyển trại vào Khu B vừa đang xây dựng. Từ Khu A vào Khu B tuy chỉ khoảng 2 Km 5, nhưng không có đường, toàn phải đi bộ băng rừng rất vất vả. Khu này lúc đó Ban Giám Thị là Thượng úy công an tên Hiểu. Chúng chia (họ gọi là biên chế.) tất cả chúng tôi thành 3 đội, 12, 13 và 14. Duyên Anh ở đội 12 được cử làm đội trưởng. Tôi, Anh Đặng Hải Sơn (Anh Sơn nguyên là Chủ Tịch Hội Đồng Tỉnh Tuyên Đức kiêm Chủ Tịch Hội Đồng Thanh Niên Tuyên Đức/Đà Lạt năm 1970-1971, Năm 1974 về làm chuyên viên cho Bộ Trưởng Kinh Tế Nguyễn Đức Cường, Chức vụ sau cùng năm 1975 là Giám Đốc Bộ Kinh Tế cho đến ngày đứt phim, chức này do anh Trần Dạ Từ vận động), và anh Nguyễn Mạnh Côn, họ tống chúng tôi vào đội 14 do Họa Sỹ Đằng Giao Trần Duy Cát làm đội trưởng. Mỗi buồng ở đây chứa khoảng 4 hoặc 5 đội, mỗi đội trên dưới 40 người.Trong buồng có 2 tầng, Tôi, Anh Côn và anh Sơn ngủ sát vách tầng dưới ở ngay cửa buồng bước vào. Vậy là số phận của tôi và anh Nguyễn Mạnh Côn có lẽ do trời xếp đặt phải ở cạnh nhau. Hàng ngày hai buổi sáng, chiều chúng tôi phải đi “Lao động Vinh Quang”, thứ bảy phải “Lao Động Xã Hội Chủ Nghĩa”. Riêng anh Côn được trại đặc ân khỏi đi lao động vì tuổi già sức yếu. Chúng tôi nằm tầng dưới, Duyên Anh và Đằng Giao nằm tầng trên. Anh Côn ăn chung với hai anh em tôi, Duyên Anh và Đằng Giao là một cặp. Anh Côn ăn xong thường không rửa chén dù chỉ có 1 cái duy nhất, tôi đòi rửa cho anh thì anh không chịu, anh nói “Rửa làm gì cho mất công, để đó chiều ăn tiếp.” Thỉnh thoảng tối đến. Chúng đã khóa chúng tôi trong buồng anh thường kể những chuyện vui buồn của đời anh đã trải qua.

BỐN

Thời gian gần đến tháng 4 năm 1979, tức gần đủ 3 năm như Bản Án cải tạo chế độ cộng sản đã đọc cho chúng tôi nghe trước khi lên trại. Những đêm đó anh thường tâm sự với tôi. Anh nói “Chúng ta phải làm gì khi đủ 3 năm chứ? Không lẽ để họ giam mình suốt đời sao?” Anh cũng chỉ tâm sự đến đó, không nói sẽ làm thế nào?l úc nào sẽ hành động? Tôi cũng không dám đi sâu vào vấn đề, vì tai mắt của bọn “An Ten” ở trong phòng, mà chúng tôi là những thành phần chúng luôn theo dõi. Thế rồi việc gì đến phải đến. Như thường lệ, sáng ngày 2 tháng 4 năm 1979. Khi tiếng kẻng vang lên để báo cho mọi người trong trại chuẩn bị ra sân xếp hàng đi lao động như thường lệ. Chúng tôi đang sắp đi thì bất ngờ anh Nguyễn Mạnh Côn cũng đòi đi theo ra xếp hàng để đi lao động, nên nhớ trong trại đi lao động là cưỡng bách, muốn khai bệnh để nghỉ 1 ngày cũng rất khó, huống chi anh được trại cho miễn lao động là một đặc ân không ai có được. Tôi, anh Sơn, anh Đằng Giao Trần Duy Cát nghĩ là anh Côn hôm nay muốn đi lao động để cho biết thế nào là “Lao Động Khổ Sai” chăng? Nên hết mực khuyên anh ở nhà nghỉ ngơi cho khỏe, ra hiện trường cuốc đất nắng nôi vất vả lắm. Nhưng anh nhất định không nghe. Anh cương quyết ra đi xếp hàng.Tuy gọi là xếp hàng, nhưng tất cả mọi người đều phải ngồi theo đội. Khi nào cán bộ trực trại gọi đến đội nào thì đội đó mới đứng dậy, đội trưởng báo cáo tổng số người trong đội, bệnh mấy người, bao nhiêu người lao động, rồi mới xuất trại đi làm. Vì cùng đội nên hôm đó anh Nguyễn Mạnh Côn xếp hàng sau tôi, ngồi hàng cuối cùng của đội. Trong khi toàn trại đã ngồi vào hàng đầy đủ, chờ cán bộ trực trại gọi từng đội để đi lao động. Bỗng nhiên anh Nguyễn Mạnh Côn đứng lên giữa trại nói lớn: “Tôi Nguyễn Mạnh Côn, Nhà văn Chế Độ Cũ, lãnh án 3 năm tập trung cải tạo. Hôm nay ngày 2 tháng 4 năm 1979 đã thụ án đủ 3 năm. Tôi yêu cầu Ban Giám Thị viết giấy ra trại trả tự do cho tôi, để tôi về với gia đình. Kể từ hôm nay tôi không còn là người tù. Tôi sẽ không ăn cơm của trại nữa”. Anh vừa nói xong, toàn thể hàng ngàn tù nhân và công an trại giam im phăng phắc, không một tiếng động. Bỗng tên công an quản chế (lâu quá quên mất tên) hai hàm răng rít lại nói: “Anh Nguyễn Mạnh Côn ra gốc cây phía sau ngồi chờ. Sự việc xảy ra sáng hôm đó, đã làm rúng động toàn trại, không những cho các tù nhân mà còn cho cả bon công an trại giam từ Giám Thị trại cho đến bọn công an tép riu. Lúc đầu chúng đối xử mềm mỏng, như là nhượng bộ những đòi hỏi của anh. Họ yêu cầu anh đừng tuyệt thực, hãy ăn uống bình thường, họ cung cấp thịt cá cho anh ăn hàng ngày, trong khi chờ đợi họ gửi hồ sơ của anh về bộ để cứu xét thả, vì ở trại chỉ có quyền giữ, không có quyền thả. Anh Nguyễn Mạnh Côn cương quyết không chịu, yêu cầu họ phải thả ngay tức thì, vì anh đã thụ án cải tạo 3 năm tròn đầy đủ. Không thể viện bất cứ lý do gì để giam anh. Chúng thấy mua chuộc cho ăn thịt cá (Tù đến muối cũng không có mà ăn, đừng mơ đến cá thịt) không xong. Chúng lên kế hoạch sắt máu. Vỗ về, nhượng bộ không hiệu quả. Lúc đầu anh còn ở trong phòng bên cạnh tôi, vẫn nói cười vui vẻ. Những điều tôi vừa kể là do chính miệng anh nói với tôi. Vài hôm sau, khi chúng tôi đi lao động về thì thấy anh không còn ở trong phòng nữa,họ đã chuyển anh sang phòng khác. Phòng này cách phòng tôi không xa, mới làm xong chưa có người ở. Chúng nhốt anh một mình ở đó, công an canh gác ngày đêm không cho ai đến gần. Chúng tôi mỗi lần đi lao động về có nhìn từ xa vào, nhưng không thấy gì nên không biết tình trạng của anh ra sao? Hỏi trật tự trại cũng không biết rõ, vì họ cũng không được đến gầ̀n. Vài hôm sau vào những buổi chiều khi đi lao động về. Nghe tiếng anh kêu rống lên thảm thiết “Khát quá, khát quá “. Thì ra bọn cộng sản thật dã man, thấy anh tuyệt thực, chúng không cho anh uống nước luôn. Tức là vừa đói vừa khát. Chúng ta có thể nhịn đói 1, 2 tuần không sao, miễn là vẫn uống nước đầy đủ. Tôi đã từng quen những người vì nhu cầu chữa bệnh có khi phải nhịn đến thất tuần, tức 7 nhân 7 là 49 ngày. Anh bị bỏ đói bỏ khát, mặc cho anh kêu gào ngày đêm cho đến lúc suy kiệt. Chúng tôi không thể nào giúp gì cho anh được, tuy cách không xa. Tiếng kêu rên của anh nghe rất rõ. Nhưng vì bọn công an bảo vệ canh gác rất nghiêm ngặt. Không cách tiếp tế nước uống cho anh được. Sau một thời gian khoảng một tháng, không biết bọn cộng sản trại giam, dụ dỗ, uy hiếp bằng cách nào? Chúng đã bắt anh phải khuất phục và hạ nhục anh bằng cách bắt anh phải ra đứng trước toàn trại, đọc bản kiểm điểm nhận lỗi. Hôm đó tôi thấy anh như người mất hồn, không còn chút sinh khí. Lúc đó có nhiều người cho anh như vậy là hèn hạ, không xứng danh bản lãnh của một kẻ sỹ, trong số đó có nhà văn Duyên Anh, một đàn em của anh Nguyễn Mạnh Côn. Anh Côn là người đã nâng đỡ Duyên Anh từ một người vô danh cho đến khi trở thành nhà văn nổi tiếng. Từ truyện ngắn đầu tiên “Con Sáo Của Em Tôi “đăng trên tờ “CHỈ ĐẠO” do nhà văn Nguyễn Mạnh Côn làm chủ bút. Trong suốt thời gian dài ở trại Xuyên Mộc, Duyên Anh nhà giàu, thăm nuôi đều đặn và rất khẳm. Anh Côn không bao giờ có thăm nuôi, nhưng không bao giờ Duyên Anh chia xẻ cho anh bất cứ thứ gì, dù chỉ là tán đường hay hạt muối, trong khi Duyên Anh đã dùng những thứ đó cho tù hình sự để sai khiến chúng lấy nước, lấy củi v…v… Nhưng tôi thấy anh Côn vẫn vui vẻ không hề phiền trách. Chúng tôi lúc đó rất nghèo, chỉ có thể chia xẻ với anh chút muối đậu. Vì cả nhà chúng tôi 4 cột trụ gia đình đều bị bắt. Anh Trần Dạ Từ và tôi mỗi người đều đang là Chủ Nhiệm của một Hợp Tác Xã Ván Sàn Xuất Khẩu, chị Nhã Ca có chung với chị Như Hảo vợ G.S kiêm Nhạc Sỹ Phạm Mạnh Cương một quầy bán quần áo trên lầu thương xá TAM ĐA S.G. Anh Đặng Hải Sơn chuyên nhuộm vải cho cửa hàng của chị Nhã Ca. Cho nên khi công an cộng sản vào bắt 4 người chúng tôi, toàn bộ cột trụ gia đình bị gãy. Ở nhà lúc đó chỉ còn lại toàn đàn bà con nít. Mẹ chị Nhã, đã ngoài sáu mươi lo cho một đàn cháu, đứa con gái đầu lòng của anh chị Từ Nhã, bé NANA, Lê thị Sớm Mai mới 13 tuổi, Hono, Lê phương Đông 10, Nina Lê thị Hòa Bình 6, Lulu, Lê Thị Sông Văn 5, Tina Lê thị Vành Khuyên 3 và cu Toe Lê Hưng Chấn chưa được 1 tuổi. Vợ anh Sơn, Trần Thị Thu Hà em ruột chị Nhã Ca vừa tốt nghiệp ngành Kinh Thương, Trường Đại Học Minh Đức S.G. mới sinh con đầu lòng bé Long Nghi vừa tròn thôi nôi. Khi chúng tôi bị bắt ít lâu sau đó thì căn nhà 155 Hoàng Hoa Thám G.Đ bị chúng tịch thu làm hợp tác xã mây tre xuất khẩu. Trong tình cảnh như vậy. Cửa nát nhà tan. Bên ngoài bương chải để lo cho lũ trẻ còn hụt hơi, làm sao có thể lo cho 4 mạng ở trong tù được. Do đó chúng tôi không có gì ngoài muối đậu. Anh Côn đã sống với chúng tôi trong hoàn cảnh như thế. Khi bọn chúng đã làm nhục anh trước toàn thể tù nhân và công an trại giam xong. Chúng đưa anh đến ở chung trong buồng giam hình sự, tức ở chung với bọn côn đồ, trộm cướp, hiếp dâm không cho anh trở về ở chung với chúng tôi nữa. Xin nhớ trong trại cải tạo, các buồng không được liên lạc với nhau, nếu bắt gặp sẽ bị kỷ luật, nhẹ thì cảnh cáo cắt thăm gặp, nặng thì cùm tay chân, cắt tiêu chuẩn ăn còn 9kg, tức chỉ húp cháo loãng cầm hơi. Do vậy, chỉ biết anh Côn đang ở buồng đó, nhưng hoàn toàn biệt vô âm tín. Cho đến một buổi sáng ngày 1 tháng 6 năm 1979 thì chúng tôi nhận được tin anh qua đời. Sáng hôm đó trời mưa, nên chúng tôi không phải đi lao động. Tôi nhìn qua song cửa, thấy mấy người tù hình sự chở quan tài của anh trên xe cải tiến, mang ra ngoài nghĩa địa ở bìa rừng để chôn. Trời có lẽ cũng khóc tiếc thương cho một nhân tài, một nhà văn lớn của đất nước đã vĩnh viễn ra đi.

Thưa anh Nguyễn Mạnh Côn, không biết hậu thế sẽ đánh giá anh thế nào? Riêng em, anh là một đàn anh em luôn luôn kính trọng. Anh đã từng hỗ trợ và nâng đỡ rất nhiều người dù không quen biết, trong đó có em. Anh đã làm một việc mà tất cả hàng triệu người tù lúc đó không ai dám làm, dám nói. Bọn cộng sản lúc đó chỉ kêu gọi đi học tập 10 ngày, 1 tháng. Nhưng đã ai có can đảm dám đứng trước toàn trại dõng dạc tuyên bố như anh? Nếu lúc đó toàn thể mọi người đều đồng loạt đứng lên hưởng ứng lời tuyên bố của anh, có thể tình hình đã đổi khác. Đây là định mệnh, Anh là anh hùng cô đơn giữa bầy lang sói, chúng sẵn sàng lóc da xẻ thịt, hạ nhục anh. Anh đã bắn phát súng đầu tiên vào sự dối trá và bịp bợm của bọn cộng sản gọi là 3 năm cải tạo. Nhưng đúng hạn, chúng chẳng thả ai cả, chẳng ai dám lên tiếng ngoài anh. Như vậy anh không xứng đáng là anh hùng sao? Định mệnh đã cho em có cơ hội quen biết anh, ở tù cùng phòng. Đã cùng đôi, cùng buồng, nằm cạnh nhau ở trại giam XUYÊN MỘC. Chứng kiến tận mắt anh hiên ngang dõng dạc tuyên bố đòi bọn cộng sản phải thả anh đúng như mức án chúng đã tuyên đọc. Anh đã ra đi nhưng khí phách của anh, mãi mãi vẫn còn đọng lại trong tim của em.
Vĩnh biệt anh Một Nhà Văn Lớn, một tù nhân lương tâm bất khuất, một kẻ sỹ thời đại. Trước vong linh, em kính xin được khóc thắp nén nhang tiễn đưa anh về cõi vĩnh hằng.

Philadelphia, ngày 23 tháng 7 năm 2017

ĐẶNG HÀ

Wednesday, July 26, 2017

Tôi không tin Hồ Chí Minh, Hồ Tập Chương là một!


Ts. Đặng Huy Văn


Kính gửi ông Hồ Tuấn Hùng, Đài Loan. Cách đây hơn một năm, tình cờ tôi đọc được cuốn "Hồ Chí Minh sinh bình khảo" của ông trên internet, tôi đã bị sốc thực sự. Vị "cha già dân tộc" mà hàng chục triệu nông dân Việt Nam trong đó có cả các anh em của tôi đã tận tụy hi sinh theo tiếng gọi của ông ấy vác súng ra chiến trường trong cuộc chiến nồi da xáo thịt 20 năm, hóa ra lại là một người ngoại quốc! Tôi đã bàng hoàng đau đớn và căm ghét cuốn sách đó vì nghĩ rằng ông đã dựng chuỵện để phỉ báng hàng chục triệu nông dân Việt Nam! Nhiều lúc tôi đã trăn trở, phải chăng ông là một kẻ viết thuê cho bè lũ cộng sản Bắc Kinh đang âm mưu thôn tính nước Việt Nam của chúng tôi?

Nhưng sau một thời gian dài bình tâm lại, tôi nghĩ dân tộc Hẹ của ông cũng chỉ là nạn nhân của bè lũ Mao Trạch Đông trong quá khứ, nên tôi đã đọc lại cuốn sách của ông. Và chợt nghĩ, đã là lịch sử thì mọi cái đều có thể. Một kẻ lái buôn hèn hạ Lã Bất Vi của nước Triệu còn có thể là cha đẻ của một vị hoàng đế lừng danh của nước Tần, thì cớ sao một ông Hồ Tập Chương tài giỏi, được học hành đến nơi đến chốn trong cái thời mù mờ tranh tối tranh sáng ấy, lại không thể làm vua ở một nước láng giềng bé nhỏ hơn?

Tuy nhiên, một số chứng lý mà cuốn sách của ông dẫn ra chưa đủ thuyết phục. Đặc biệt chưa có xét nghiệm ADN của các nhân vật liên quan để kiểm chứng, nên cuốn sách đó chưa có giá trị lịch sử ông ạ! Cuốn sách của ông chưa đủ cứ liệu để làm mọi người tin rằng, Hồ Tập Chương và Hồ Chí Minh là một. Nếu ông thật sự thành tâm với lịch sử, tôi mong ông tiếp tục nghiên cứu, tìm thêm sử liệu và đặc biệt thêm xét nghiệm ADN của các cá nhân liên quan để có thể làm sáng tỏ một mảng tối của lịch sử Viêt Nam đang bị một tập đoàn lãnh đạo vì quyền lợi ích kỷ của họ mà cố tình che dấu. Xin cám ơn ông!

Tôi không tin Hồ Chí Minh, Hồ Tập Chương là một!
(Kính gửi tác giả cuốn sách "Hồ Chí Minh sinh bình khảo")

Tôi không tin Hồ Chí Minh, Hồ Tập Chương là một!
Như sách của ông năm 2009 đã xuất bản tại Đài Loan(1)
Tôi không tin một người Hán cổ Trung Hoa dân tộc Hẹ
Mà lại dám tự xưng là "cha già của dân tộc Việt Nam"!(2)

Ông đọc "Những mẫu chuyện..." Trần Dân Tiên khắc biết(3)
Cụ Hồ Chí Minh nhận là Nguyễn Ái Quốc của Việt Nam
Một thanh niên yêu nước đã từng qua năm châu bốn bể
Mẹ mất sớm, cha bị thải hồi nên sự học quá dở dang!

Dù cuốn sách đó xuất bản lần đầu năm Bốn Tám
Bằng tiếng Hoa, chứ không như lời tác giả lúc đầu
Rằng sách viết để đồng bào Việt Nam hiểu về lãnh tụ
Mà chục năm sau mới xuất bản bằng tiếng Việt là sao?

Ông đã so sánh người này "mắt hiền", người kia "mắt ác"
Người này Nguyễn Ái Quốc, người kia là Hồ Tập Chương
Theo tôi nghĩ, mắt là cửa sổ tâm hồn nên luôn luôn thay đổi
Có thể tâm Nguyễn Ái Quốc đã đổi thay vì đau nhớ cố hương?

Ông có biết, hồi CCRĐ, mới chỉ lỡ "giết nhầm" vài vạn
Mà cụ đã đăng đàn lau nước mắt để xin lỗi đồng bào(4)
Thế mới biết cụ Hồ là một người "rất từ bi phật độ"
Vậy Hồ Tập Chương mà "đạo đức" đến thế sao?

Cụ là một người Việt "yêu Việt Nam" chảy bỏng
Thề hi sinh cả dân Nam, để thống nhất quê hương
Tết 68 Mậu Thân, cụ đọc thơ hô quân vào tắm máu(5)
Hàng vạn đồng bào Miền Nam, hay Hồ Tập Chương?

Ông còn trích dẫn "Nhật Ký Trong Tù" của cụ Hồ ra để viết(6)
Rằng cụ Hồ chính là Hồ Tập Chương, dân tộc Hẹ của ông
Bởi cái lý, Nhật Ký Trong Tù dùng Khách Gia khẩu ngữ
Nếu không là người Khách Gia, liệu có viết thế không?

Ông còn viết, suốt 134 bài thơ không nói về cảnh Việt
Thưa, cụ lấy Tăng Tuyết Minh là một phụ nữ Trung Hoa(7)
Khi nhớ vợ, nhớ nhà trên đất Hoa thì lấy đâu ra cảnh Việt
Chỉ khi thơ chữ Hán viết hay, may mới có thể là người Hoa!

Đã có rất nhiều người bình luận về Nhật Ký Trong Tù của cụ
Và cũng đã có một số nhà phê bình thận trọng đã nghi ngờ
Nhưng, khoan thấy người "sang" mà bắt quàng làm họ
Bởi dân tôi chưa thể tin, vì chưa xét nghiệm ADN!

Thưa ông, tôi nghĩ cụ Hồ là một người Việt Nam thứ thiệt
Nhưng cụ đã có cách cư xử với dân giống hệt kẻ ngoại bang?
Đã ép dân tôi thực hiện các đường lối của Liên Xô, Trung Quốc
Rồi bắt nhà nhà phải bài trừ các thuần phong mỹ tục của Việt Nam!

Và thưa ông, đầu thập niên 1930, Nguyên Ái Quốc đã bị Stalin coi rẻ
Nên chắc gì QTCS đã chủ trương cho đóng thế Nguyễn Sinh Cung
Chỉ trừ trường hợp Hồ Tập Chương của ông có mưu đồ chính trị
Biết Nguyễn Ái Quốc đã qua đời, tự xin đóng thế để lập công!

Xin cám ơn và gửi ông Hồ Tuấn Hùng lời chúc phúc sức khỏe
Kính nhờ ông trả lời đồng bào Việt Nam những trăn trở trên đây
Dù sao "Hồ Chí Minh sinh bình khảo" cũng là cuốn sách phản biện
Về một lãnh tụ Việt Nam đã bị người ta thần thánh hóa bấy lâu nay…

Hà Nội, 18/11/2013
Ts. Đặng Huy Văn

Chú thích & Tài liệu tham khảo:

(1). e-ThongLuan - Hồ Chí Minh sinh bình khảo (Hồ Tuấn Hùng)
(2). Trong lịch sử Việt Nam, chưa từng có một người Việt Nam nào dám tự xưng mình là "cha già dân tộc". Các vua chúa cũng chỉ xưng là "cha mẹ của dân" chứ không xưng là "cha già của dân tộc" vì danh xưng đó đến các Vua Hùng sống lại cũng không dám nhận!
(3). Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch 6/6 
(4). Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam – Wikipedia tiếng Việt
(5). Tội Ác Cộng Sản Tết Mậu Thân 1968 - YouTube
(6). Nhật ký trong tù, Nhật ký trong tù - Việt Nam thư quán
(7). Tăng Tuyết Minh – Wikipedia tiếng Việt

Nguồn: danlambaovn.blogspot.com

Đọc thêm:

Trần Việt Bắc, Hồ Chí Minh: "Đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi", 2013
Nguyễn Duy Chính, Nhận xét về cuốn Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo, 2008.
Phạm Quế Dương, Đề nghị làm sáng tỏ vụ việc: Chủ tịch HCM là người VN hay Đài Loan, 2013
Thiên Ðức, Vụ án buôn vua Việt Nam Hồ Chí Minh, 2009
Vũ Thư Hiên, 'Tác phẩm giả tưởng' về Hồ Chí Minh, 2013
Vũ Quang Hiển, VN 'thiếu tư liệu về Hồ Chí Minh', 2013
Nhóm Hành Khất, Nhận định về Hồ Tập Chương trong tác phẩm "Sinh bình Khảo", 2013
Tạ Nhất Linh, Bàn về Hồ Chí Minh - Hồ Tập Chương, 2013
Thiên Nam, Quả lừa lịch sử: HCM / CSVN-CSTQ cướp chính quyền VN, 2011
Trần Bình Nam, Một nghi án lịch sử Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh: một hay hai người? 2013
Bùi Tín, Những luận điệu hoang tưởng, bịa đặt, 2009.

Hồ Tuấn Hùng, Hồ Chí Minh sinh bình khảo, 2008



www.geocities.ws/xoathantuong