Search This Blog

Saturday, December 16, 2017

TUỒNG BỊP MỚI:
ĐÒI LẠI TÀI SẢN Ở VIỆT NAM



Từ gần hai chục năm trước trong thời gian làm báo có một số độc giả hỏi chúng tôi về việc “Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản” có thể đòi lại tài sản ở Việt Nam được hay không?. Sau khi tham khảo  nhiều trường hợp của bạn bè trong đó có cả trường hợp của gia đình chúng tôi khi còn ở Việt Nam. Câu trả lời là đòi được nhưng đòi làm gì cho tốn thời gian, tốn công, tốn tiền vô ích. Nhà nước cộng sản Việt Nam hiện nay đã nhiều lần làm mới, thay đổi, bổ sung, điều chỉnh "Luật Đất Đai" để đáp ứng yêu cầu ổn định xã hội, đáp ứng yêu cầu  tiến bộ để hội nhập với cộng đồng thế giới nhưng nói đến chuyện đòi lại tài sản ngày xưa thì đúng là chuyện “mò trăng đáy nước, tìm chim lưng trời”.

Thực tế cho thấy, từ nhiều năm về trước có rất nhiều người tỵ nạn kinh tế chịu khó, chí thú làm việc đã xây dựng được đời sống gia đình ổn định ở những quốc gia tạm dung, tích lũy được tiền bạc, quay về Việt Nam đòi lại tài sản để tạo dựng cơ sở kinh doanh. Những người này hầu như đều được nhà cầm quyền Việt Nam đồng ý trả lại quyền sở hữu nhưng rốt cuộc chẳng ai nhận lại đất đai, nhà cửa trước đây vì giá trị thực tế của tài sản (nhà, đất đai) hiện tại, quy thành tiền không đủ để làm thủ tục thuế má, tiền trả cho cục quản lý đất đai và bồi hoàn cho người đang cư ngụ, chiếm hữu dọn ra (giải phóng mặt bằng).

Những chuyện người ở ngoại quốc về đòi nhà đất được trả lại mà không dám lấy xảy ra rất nhiều. Liệt kê ra vài trang báo chưa chắc đã hết. Hầu như ở những vùng đông người Việt Nam sinh cư, trong cộng đồng đều có truyền miệng nhiều trường hợp như nói trên.

Mấy tháng gần đây, câu chuyện “đòi lại tài sản ở Việt Nam” bỗng được Nguyễn Đình Thắng BPSOS ra sức quảng cáo thành  một tiêu đề rất kêu gọi là “Chương Trình Đòi Lại Tài Sản Bị Tịch Thu Ở Việt Nam.”

Theo như cách trình bày của Nguyễn Đình Thắng chương trình này nhằm giúp đòi lại toàn bộ tài sản, nhà cửa, đất đai cho Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản ở Hoa Kỳ từ sau 30-4-1975 và dường như chưa đủ nên đào sâu thêm tới sau trận Điện Biên Phủ 1954, thời Cải Cách Ruộng Đất dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam…

Nguyễn Đình Thắng thuê làm cả một trang web để đăng những tài liệu đã cũ trong việc thực hiện một đạo luật có từ năm 1949 về việc đòi lại tài sản cho công dân Hoa Kỳ bị tịch thu ở các nước chuẩn bị bình thường hóa ngoại giao như một điều kiện làm bằng chứng cho sự xuống thang của các quốc gia thù nghịch hoặc không có quan hệ tốt đẹp, thuận thảo với Hoa Kỳ.

Trên những trang web chuyên ngành của Bộ Tư Pháp, Bộ Ngoại Giao, Quốc Hội Hoa Kỳ. lịch sử về việc khiếu nại để đòi tài sản của người Hoa Kỳ tại một số quốc gia Đông Âu theo đạo luật International Claims Settlement Act of 1949” dẫn tới việc Bộ Tư Pháp thành lập một ủy ban “Foreign Claims Settlement Commission” tạm dịch là “Ủy ban Giải quyết Khiếu Nại Nước ngoài”..

Trong quá trình mấy chục năm từ 1949 đến nay có một số trường hợp khiếu nại được xét tới. Các cơ  sở kinh doanh, sản  xuất, bất động sản của các công ty sản  xuất, và tài sản của công dân Hoa Kỳ bị các quốc gia khác tịch thu phi pháp được bồi hoàn. Tuy nhiên những người khiếu nại  đều là công dân Hoa Kỳ từ trước thời điểm tài sản bị tước đoạt, tịch thu, quốc hữu hóa.

Riêng với trường hợp người Mỹ gốc Cuba tỵ nạn trở thành công dân việc khiếu nại đòi tài sản đã diễn ra từ ngày Fidel Castro lên cầm quyền cho đến nay đã gần hai phần ba thế kỷ. Năm 1998 Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật thứ hai gọi là đạo luậtHelms&Burton_Act và theo đó Cuba đồng ý xem xét trả lại tài sản của những công dân và công ty của Hoa Kỳ nhưng không đề cập tới những người gốc Cuba nhập quốc tịch Hoa Kỳ sau 1961.

Đối với Việt Nam từ khi chuẩn bị bình thường hóa quan hệ ngoại giao, Hoa Kỳ đã ép CHXHCN Việt Nam phải bồi hoàn toàn bộ tài sản công tư của những đương đơn Hoa Kỳ từ năm 1980.

Chúng tôi trích dịch nguyên văn bài viết trên báo Los Angeles Time và năm 1994 để quý vị tham khảo.

TRÍCH

Chính Phủ Mỹ tuyên bố rằng 1.300 đương đơn phải là công dân Mỹ vào thời điểm họ mất tài sản trong chiến tranh và phải xin bồi thường vào năm 1983.

25 Tháng 3 Năm 1994 | THUẬN LÊ VÀ LILY DIZON | NHÂN VIÊN TIMES STAFF

Gần 1.300 người Mỹ gốc Việt đã nộp hồ sơ trong tháng này nhằm khôi phục tài sản và tài sản ở quê nhà dường như không còn may mắn.
Theo Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, người yêu cầu bồi thường phải là công dân Hoa Kỳ vào thời điểm họ mất tài sản trong chiến tranh Việt Nam để đủ điều kiện để được bồi thường từ chính phủ Việt Nam. Quan trọng hơn, họ phải nộp đơn kiện vào năm 1983.
Các quan chức với cộng đồng người Việt Nam Nam California, cơ quan phi lợi nhuận đã đưa ra 1.285 đơn xin bồi thường mới trong hai tuần vừa qua, cho biết họ biết về thời hạn năm 1983 và luật lệ về quyền công dân nhưng vẫn tổ chức lái xe.
Ông Liên Nguyễn, người tổ chức ứng cử, cho biết nhóm này hy vọng gây áp lực lên Quốc hội để sửa đổi luật năm 1980 đưa ra các quy định và cho phép những người nhập cư Việt Nam gần đây hơn để nộp đơn xin bồi thường.
Tổ chức này cũng hy vọng đưa ra một "tuyên bố chính trị", ông nói.
"Chính phủ Cộng sản ở Việt Nam không tin vào quyền sở hữu tài sản cá nhân. Tất cả mọi thứ đều thuộc sở hữu của chính phủ", ông Nguyễn, người đứng đầu ủy ban bảo vệ tài sản của nhóm, nói.
"Nhưng nếu chúng ta có thể làm cho họ thậm chí chỉ ngồi xuống để thảo luận về điều này với chúng tôi, thì chúng tôi sẽ làm cho họ nhận ra rằng có một quyền như thế. Đó sẽ là một chiến thắng", ông nói.
Một phát ngôn viên của Văn phòng Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tại Liên Hợp Quốc ở New York cho biết cộng đồng người Việt Nam Nam Cali đang quá lạc quan.
"Tôi muốn nhấn mạnh rằng chính phủ Việt Nam không có kế hoạch nhận những yêu cầu từ những người chạy trốn năm 1975 nhưng không phải là công dân Hoa Kỳ vào thời điểm đó", ông Trần Quý Đức. "Những người đang cho họ hy vọng là không thực tế."
*
David Bradley, cố vấn cho cơ quan chính phủ Hoa Kỳ chịu trách nhiệm thương lượng các yêu sách với chính phủ Việt Nam, cho biết những người nộp đơn mới sẽ chỉ được bồi thường nếu "Chính phủ Việt Nam đồng ý làm như vậy ... hoặc nếu họ thuyết phục Quốc hội sửa đổi luật . "
Chỉ có 192 người yêu cầu bồi thường được coi là có đủ điều kiện để sở hữu tài sản cá nhân và tài sản công ty trị giá 99.5 triệu đô la theo các đơn nộp vào năm 1983.
Các công ty yêu sách bao gồm các công ty lớn như IBM World Trade Corp, Metro-Goldwyn-Mayer / United Artists Entertainment Co., Warner Bros. Inc. và General Electric Co.
Bốn cư dân Quận Cam - một trong những người gốc Việt - nộp trước thời hạn, yêu cầu khoảng $110,000 trong tài sản bị mất và tài sản khác, Bradley nói.
Họ là Robert J. Burns của Westminster, người đã chết; Cúc Pham Norris của Orange; và Pauline và Richard Wright thuộc Thung lũng Fountain. Tất cả đều tìm kiếm sự bồi thường cho sự mất mát của các doanh nghiệp.
Paul Sowa, luật sư của Tustin, đại diện cho bất động sản của Robert J. Burns, nói: "Tôi đã được nói rằng chắc chắn có một cơ hội tốt để khách hàng của tôi được bù đắp.
Burns là một doanh nhân của Westminster sở hữu Công ty Index, nơi cung cấp thực phẩm và nhà ở tại Việt Nam cho các thành viên của một ủy ban quốc tế.
Chính phủ Việt Nam nợ những người thừa kế của Burns khoảng $70,330, mà không quan tâm, Sowa nói. Các luật sư cho biết ông không thể dự đoán được khi nào bồi thường có thể được trả.
Bà Nga Nguyễn, 55 tuổi, người đã nộp hồ sơ cuối tuần tại Cộng đồng Việt Nam tại văn phòng Westminster ở Nam California, cho biết cô rất ngạc nhiên khi biết rằng cô không đủ điều kiện để lấy lại hai ngôi nhà cô đã mất ở Sài Gòn và Ban Me Thuot, một thị trấn ở vùng cao nguyên trung phần. Các tài sản đã bị chính quyền cộng sản tịch thu năm 1979, khi Nguyễn trốn sang Hoa Kỳ.
*
"Tôi không nghĩ rằng luật pháp là đúng," Nguyễn nói. "Trước hết, tôi chưa bao giờ nghe nói về sự tồn tại của đạo luật 1983 cho đến bây giờ và do đó không thể nộp đơn đòi lại những gì sự mất mát.
"Thứ hai, làm sao tôi có thể có được một công dân Mỹ vào thời điểm tôi bị mất nhà của tôi?"
"Tôi đoán luật pháp không quan tâm đến việc mất tài sản của  người Mỹ gốc Việt," ông Nguyễn nói thêm. "Tôi hy vọng cộng đồng Việt Nam bằng cách nào đó có thể thuyết phục chính phủ Hoa Kỳ giúp chúng tôi thu hồi một số tài sản đã bị cưỡng bức lấy đi khỏi chúng tôi".

Khi được thông báo rằng cộng đồng người Việt Nam ở miền Nam California đã biết luật pháp, ngay cả khi không có, ông Nguyễn nói: "Ít nhất họ cũng cố gắng, và tôi có thể nói nhiều hơn về luật pháp".

Bradley, luật sư của ủy ban, cho biết Quốc hội đã thông qua đạo luật năm 1980 cho phép Uỷ ban Giải quyết Yêu sách Nước ngoài, một cơ quan bán độc lập nằm trong Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, chấp nhận các khiếu nại về tài sản bị mất tại Việt Nam.
Luật được đưa ra vào tháng 2 năm 1983, là thời hạn cho tất cả các đơn đăng ký. Ủy ban này đã hoàn thành việc lập danh sách các khiếu nại vào năm 1986.

Cuộc thảo luận đầu tiên về tài sản này được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 28 tháng 2 và 1 tháng 3, chỉ vài tuần sau khi Tổng thống Clinton bãi bỏ lệnh cấm vận thương mại của Mỹ đối với Việt Nam. Các cuộc đàm phán dự kiến ​​sẽ tiếp tục vào tháng tới.
Ngừơi yêu cầu bồi thường cũng muốn hưởng 6% lãi phát sinh hàng năm, kể từ năm 1975, khi Việt Nam Cộng Hòa bị Cộng Sản đánh bại.

HẾT TRÍCH

Tính từ ngày 26 tháng 2 năm 1986, Uỷ ban Dàn Xếp Khiếu Nại đã hoàn thành một chương trình xác định tính hợp lệ và số tiền của người Hoa Kỳ yêu cầu Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam bồi hoàn phát sinh từ việc quốc hữu hóa hoặc thu giữ bất động sản. Chương trình này đã được luật công cộng 96-606 cho phép thêm vào tiêu đề VII của Đạo luật giải quyết các khiếu nại quốc tế năm 1949. Ủy ban đã đưa ra quyết định 534 tuyên bố cấp phép cho 192 nguyên đơn đòi tổng số tiền gốc là $99,471,983.51. Chương trình này đã đưa ra phán quyết trước khi yêu cầu bồi thường vì thời gian đó chưa đạt được thoả thuận giải quyết khiếu nại. Vào năm 1995, Hoa Kỳ đã ký kết một thỏa thuận với nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, giải quyết yêu sách của Unites States với một khoản thanh toán một lần của Việt Nam là 203.504.248,00 USD.
***

Nhìn lại vụ đòi tài sản do ông tiến sĩ Cò Mồi Nguyễn Đình Thắng đang quảng cáo rầm rộ, "diễn kịch "lói" phỏng vấn" với Thị Nở Nặc Nô Hoàng Lan Chi, bày trò Sơn Đông Mãi Võ khua chiêng đánh trống inh ỏi nhưng không có gì là mới mẻ.
Chẳng qua đó là hành động sao chép ý tưởng của một số người đã từng nuôi ảo vọng, những kẻ mộng du nuôi tâm lý trúng số.
Tiến sĩ đào mỏ Nguyễn Đình Thắng hết trò nên moi một sự kiện thất bại đã cũ tân trang lại để một đám luật sư ế khách, đói tiền bám sát thời cuộc hy vọng thiên hạ lớ ngớ nạp hồ sơ khiếu kiện để có cơ hội làm giàu qua trò bịp bợm, hợp pháp dưới hình thức dịch vụ pháp lý.

Chương trình tu bipđòi tài sản này chắc chắn có sự hợp tác chặt chẽ giữa Nguyễn Đình Thắng – Cao Quang Ánh và vài công ty luật vì nhắm vào số người mộng du, ảo tưởng tôi thường gọi là Việt Ngu. Tuy nhiên những người đã sống trên đất Mỹ mấy chục năm chắc chắn không ai lọt vào cái bẫy dởm của tiến sĩ Cò Mồi Nguyễn Đình Thắng đang cố gắng bằng mọi cách để rây máu ăn phần.

Sở dĩ chúng tôi gọi là trò bịp vì Nguyễn Đình Thắng đang cố tình "chính trị hóa dịch vụ pháp lý làm đơn đòi tài sản" trở thành chuyện vận động cho một chương trình đã có sẵn và hết thời hiệu từ năm 1983.

Mới hôm qua Nguyễn Đình Thắng diễn trò ra thông cáo về việc sẽ hội thảo với mấy thượng nghị sĩ ở Florida về vấn đề chàng Thắng đang cò mồi. Thực ra Thắng bày trò kiếm cớ để thu gom một số người Việt nhằm biểu dương với văn phòng Thượng Nghị Sĩ ở tiểu bang Florida. Thái độ làm việc như vậy không thành thực vì gần đây nhất cộng đồng Mỹ gốc Cuba đã thêm một lần thất bại trong việc "đòi lại tài sản" cho người Mỹ gốc Cuba. Lý do tình trạng ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Cuba không tiến triển khả quan.

Quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ đã bình thường từ hơn hai chục năm, chuyện bồi hoàn cho công dân và công ty Hoa Kỳ đã hoàn tất trước khi bỏ cấm vận. Việt Nam hiện nay đã là một đối tác chiến lược của Hoa Kỳ nên không có khó khăn gì để một người tỵ nạn trở về đòi lại tài sản bị tịch thu một cách phi pháp.
Ngày nay quý vị có thể đòi trực tiếp ở Việt Nam nhưng hãy suy nghĩ cho kỷ vì số tiền phải bỏ ra cho các thủ tục pháp lý chắc chắn không phải nhỏ. Thậm chí giá trị tài sản đòi được không bằng số tiền phải bỏ ra.

Đối với những thành phần trong triều đình VNCH có nhiều tài sản do cướp bóc của lương dân, tham nhũng mà có thì chớ nuôi ảo tưởng vì bản thân chúng tôi cũng thấy đó chỉ là của phi nghĩa, của ăn cướp, của vơ vét tham nhũng trên máu xương đồng bào chiến sĩ trong khi cầm quyền mà thôi. Vì thế nhưng người nào muốn đòi lại tài sản ở Việt Nam không việc gì phải làm chuyện ngu đần nộp tiền cho anh cò mồi Nguyễn Đình Thắng và đồng bọn của hắn.

Trước đây chúng tôi vẫn thường chỉ trích những trò hề đấu tranh dân  chủ nhân quyền cho Việt Nam ở hải ngoại và gọi  đó là "trò đấu tranh dân chủ cuội - nhân quyền dởm". Thực tế dởm đó vừa qua Nguyễn Đình Thắng đã diễn kịch lói với Thị Nở Nặc Nô Hoàng Lan Chi đã lộ rõ tính chất của những trò vận động đấu tranh đó đích thực là dối trá hơn "Cuội".

Đồng thời qua bài viết này chúng tôi muốn nhắc quý đồng bào chớ nuôi ảo tưởng chính phủ hay quốc hội Hoa Kỳ can thiệp đòi lại được tài sản cho những người tỵ nạn trở thành công dân Hoa Kỳ sau 1975.  Chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra, những lời hứa hẹn nếu có chỉ là bánh vẽ vì luật của Hoa Kỳ chỉ có hiệu lực trong lãnh thổ Hoa Kỳ không có hiệu lực phổ quát toàn cầu. Can thiệp vào công việc nội bộ, luật pháp của các quốc gia khác là điều tối kỵ trong bang giao quốc tế. Chính phủ Hoa Kỳ không có nghĩa vụ và quyền hạn  để làm những chuyện ngoài thẩm quyền do Hiến Pháp- Pháp Luật Hoa Kỳ quy định.

Và quý vị hãy thử tưởng tượng một ngày nào đó bọn Mafia Đỏ sụp đổ, trước sự phẫn nộ của quốc dân, những tên đứng đầu triều đình của chúng cũng "bỏ của chạy lấy người", bôn tẩu sang Hoa Kỳ, Trung Quốc như bọn gia nô,  tham quan, ô lại của triều đình Nguyễn văn Thiệu năm 1975. Chúng sẽ trở thành công dân Hoa Kỳ không lẽ nhà cấm quyền lúc đó ở Việt Nam cũng phải nghe theo lời "bố Mỹ, mẹ Tầu" để trả lại của ăn cướp, của phi nghĩa cho chúng hay sao?




Kim Âu

DEC17/2017



Ngày nay có thể những người cao tuổi không đọc được Anh văn nhưng trong gia đình nào cũng có con cháu thuộc thế hệ hai thừa khả năng giải thích các văn bản pháp  lý cho người lớn tuổi . Chuyện đòi sản quý vị có thể bấn vào cách links đính kèm  để hiểu rõ sự thật




Nghĩ vụn bên cốc cà phê sáng:
SỬA …SAI

. Nguyễn Hữu Nghĩa



Mấy hôm nay trên Internet có vụ bàn cãi về văn tự khá thú vị: “sử dụng” hay “xử dụng”, khi nhà xuất bản Tiếng Quê Hương (Virginia) lấy ưu thế của nhà xuất bản, sửa chữ “sử dụng” của một tác giả gửi sách tới nhờ in thành ra “xử dụng”, theo “chỉ tiêu” (tiêu chuẩn) của họ.
Đối với tôi, đây là một biến cố văn học, tuy rằng nhỏ (giữa một tác giả và một nhà xuất bản), nhưng thuộc về nguyên tắc, và liên quan tới một nền văn học đang chết già ở hải ngoại sau gần nửa thế kỷ mất nước.

Sửa như vậy đúng là “sửa …sai”, nghĩa là sửa cho sai, không phải “sửa lại cho đúng”.

Tôi kèm dưới đây bài viết của học giả Trần Văn Tích, trong đó có trích đầy đủ phần biện dẫn của nhà xuất bản Tiếng Quê Hương để người đọc theo dõi quan niệm của cả hai khuynh hướng “sử dụng” và “xử dụng”.

Riêng tôi, tôi hiểu:

Sử  là họ Sử, là sử (sử ký), sử học, quan chép sử (sử quan), sử gia (nhà chép sử), sử liệu (tài liệu lịch sử),..
Thêm cái gạch ngang và bộ nhân vào 使 (vẫn đọc là sử, cũng có khi đọc là “sứ), nghĩa là sai khiến, là lệnh. Người xưa có câu “sử công bất như sử quá”: sai khiến người có lỗi dễ hơn sai khiến người có công. Chữ “sử” trong “sử dụng” chính là chữ “sử” này.
Còn xử  (có khi đọc là “xứ”) bây giờ người Tàu viết gọn theo giản thể, thành  có nhiều nghĩa và cách dùng: ở, ăn ở, đối đãi, vị trí, phán đoán, nhưng không có nghĩa nào là sai khiến hay “xử” dụng. Chữ xử “x” này thường thấy trong các chữ: xử đoán, xử hình, xử lý, xử nữ, phân xử, xử quyết, xử sĩ, xử sự, xử thế, xử trảm, xử trí, xử tử.
Giản dị vậy thôi, và đó là chuẩn mực tôi theo trong mấy mươi năm viết lách và làm chủ bút, biên tập cho một tờ báo văn học và nhà xuất bản. Tôi “theo”, không phải do tôi đặt ra, căn cứ vào ý kiến của những học giả có nghiên cứu. Chuẩn mực đó còn căn cứ vào mấy chục bộ tự điển liên hệ, từ Từ Hải tới Khang Hi, từ các nhà tây học hay thâm nho Việt Nam (học giả Trần Văn Tích đã liệt kê phần lớn). Tôi tìm mối nhất quán để theo. Nói cách khác, tôi dùng tự điển để “bỏ phiếu”: nếu tất cả hay hầu hết các tự điển đồng ý với nhau thì tôi theo; nếu “sai” thì đành sai theo tự điển hơn là sai theo một số tác giả hay sai theo đại chúng, dù người “sai” có là thầy tôi hay một bậc trưởng thượng khác, tôi cũng đành không theo!
Sáng nay, bên cốc cà phê, đầu óc tôi còn lan man với một vài ý kiến phát biểu ngộ nghĩnh của các đương sự. Có vị bảo rằng Việt Nam chưa có hàn lâm viện nên ai muốn sao đó thì viết. Đúng là Việt Nam chưa có hàn lâm viện để quyết định thế nào là đúng, nhưng giả sử CSVN đặt ra hàn lâm viện để định chuẩn mà vẫn sai lè ra đó, tôi cũng không theo!
Có vị, vốn là người miền Bắc, nói rằng bà nói là /x/, (xử dụng) thì cứ viết /x/. Giản dị thế thì người Bắc có thể xóa luôn phụ âm /s/ trong bộ mẫu tự Việt Nam, vì chẳng người Bắc nào dùng tới! Từ đó, cảnh sát viết thành cảnh xát, sản phụ thành xản phụ, sinh đẻ thành xinh đẻ, v.v. Và cũng từ khái niệm đó (nói sao viết vậy), người Hành Thiện sẽ thoải mái bỏ phụ âm kép /tr/ vì họ nói: con tâu tắng tong bờ te tụi (con trâu trắng trong bờ tre trụi). Người đồng bằng miền Bắc thì bỏ /l/, khi viết thì cứ “ngọng níu ngọng no”? Người Quảng Ninh thì “lói sao viết vậy”? Rồi đồng bào miền vùng trung Trung phần giải quyết làm sao câu “nam nữ đủ rồi thì đi xúc cát” (trong truyện cười dân gian) nếu viết theo âm đọc? Và miền Nam “trường học”, chỉ cần viết “trườn học” là đủ; và miền Tây Nam phần: phải viết “con cá gô nó nhảy gột gột trong gổ?” mới là đúng!
Cũng vẫn vị này, bảo rằng thầy dạy viết thế nào thì cứ như thế mà viết, rồi lôi cả tên thầy và cả tên… con thầy ra làm chứng, rồi chê bai các bạn của bà, tuy học Sư phạm ra mà vẫn cứ viết sai chính tả, vì là người miền Trung và Nam! Tôi tò mò xem lại bài bà ta viết, thấy chỉ chừng nửa trang giấy mà bôi ra cả mớ lỗi, cả chính tả, văn phạm lẫn dụng ngữ, chưa kể hai chữ “thức giả” mà bà cho vào ngoặc kép khi xin ý kiến người khác. Tôi đoán rằng thầy chưa kịp dạy bà cách dùng ngoặc kép trong trường hợp này! Với tất cả những lỗi ấy hợp lại, quả đáng tội cho ông thầy và ông con thầy đã bị dựng ra làm bia!
Tôi không biết là ông thầy sai hay bà học trò thiếu khả năng lãnh hội. Đối với tôi, khi lớn lên, nếu biết thầy dạy sai, tôi sửa, ít nhất là phần tôi. Đó là kính thầy, trọng thầy và thương thầy; nếu tôi cứ tiếp tục truyền bá điều sai, tôi không xứng đáng là học trò của thầy!
Tiếp theo, một vị ký thiệt (không phải ký… giả) phân giải nước đôi rằng viết “sử dụng” hay “xử dụng” cũng chẳng chết thằng… Việt Cộng nào. Hãy đoàn kết, tranh đấu lấy lại tự do dân chủ cho đất nước trước đã, đó mới là chuyện ưu tiên cần làm, phải làm và nên làm. Cãi vào đâu được! Anh nào cãi thì đúng là đồ phản quốc, đánh lạc hướng công luận, nối giáo cho giặc.
Nhưng… (lại còn nhưn với nhị!) vừa hát vừa đánh răng thì không được, nhưng vừa đi bộ vừa nhai kẹo cao su thì ai cũng làm được. Trong khi lo đòi lại đất nước, biển đảo, ta không thể bảo vệ chữ Việt được sao? Miễn là đừng tự ái xằng, đừng có ta (và bạn ta) thì đúng, ngoài ra, sai tuốt; hay thay vì bàn bạc đứng đắn, bảo rằng anh là bác sĩ thì anh chỉ được cầm ống chích, đừng có xổ nho; hay anh là luật sư thì chỉ được cãi trước tòa, đừng có ngu mà cãi với nhà văn!
Viết tới đây thì cốc cà phê vừa nguội vừa đắng. Hết ngang!
(nhn)
Tiếng Việt nạn nhân của Tiếng Quê Hương
Trần Văn Tích
Tôi vốn nhất mực chủ trương phải viết sử dụng mà không thể viết xử dụng vì viết xử dụng theo tôi là sai, do đó tôi mới được một anh bạn ở Úc gửi cho đọc tài liệu “Thư gửi bạn trước khi vào sách” do Tủ sách TQH chấp bútTQH là viết tắt ba chữ Tiếng Quê Hương và tủ sách do nhà văn Uyên Thao phụ trách.
Nội dung “Thư gửi bạn trước khi vào sách”
Thư gửi bạn trước khi vào sách” là lời mở đầu của cuốn Nhân văn Giai phẩm với tác giả là nữ sĩ Thụy Khuê nhưng tài liệu không giới thiệu mục đích sáng tác, nội dung nghiên cứu, hoàn cảnh ra đời, tôn chỉ chính luận v.v..của Bà Thụy Khuê mà lại có phần phân trần về cách viết chữ sử dụng. Nguyên Bà Thụy Khuê viết sử dụng nhưng Tiếng Quê Hương bác bỏ lối viết này và tự cho phép sửa lại thành xử dụngSở dĩ có hành động không theo lệ thường như thế là vì “Tủ sách Tiếng Quê Hương phải tự định một chuẩn hướng theo các chỉ tiêu do cân nhắc chủ quan với mong mỏi không gây hỗn loạn thêm cho cách viết và cách dùng từ.”
Dựa vào “chuẩn hướng” định sẵn, Tiếng Quê Hương trình bày lý do viết “xử dụng” thay vì “sử dụng” như sau : (Trích) “Như chúng ta đều biết, đa số từ Việt ngữ là Hán Việt tức có gốc Hán tự. Chẳng hạn chữ “sử” hoặc “xử” của ta là 5 chữ Hán viết theo các bộ Khẩu, Nhân, Mã, Hô, Mộc. Trước đây, các học giả Thiều Chửu, Đào Duy Anh đã phiên âm 3 chữ viết theo các bộ Khẩu, Nhân, Mã là “sử” và 2 chữ viết theo các bộ Hô, Mộc là “xử”. (…) Từ viết theo bộ Nhân được phiên âm là “sử” có nghĩa “sai khiến” (…) Riêng từ viết theo bộ Hô phiên âm là “xử” bao gồm nhiều nghĩa như “thu xếp” (...) Theo cách phân tích này, chúng tôi thấy không thể viết “sử dụng” vì ở đây không hàm nghĩa “sai khiến” (…) Chữ “xử” ở đây chỉ đơn thuần mang nghĩa “thu xếp” (…) những thứ gì đang có trong tay mà thôi nên phải viết là “xử dụng”. (Hết trích)
Ai muốn bàn bạc về bệnh tật với chút ít thẩm quyền thì phải theo học ngành y khoa trong bảy năm, sau đó còn phải học thêm năm bảy năm nữa mới có thể góp ý về các vấn đề y khoa vì y học là một khoa học. Tay ngang muốn lên tiếng về một vấn đề y học nào đó, không ai cấm hết nhưng không ai dám đặt tin tưởng hoàn toàn vào tay ngang. Ngôn ngữ cũng là một khoa học. Nó có những qui luật, những nguyên tắc. Nó có những phương tiện từ vựng và các phương tiện ngữ pháp. Người không thành thạo ngôn ngữ học, người đứng bên đường, người ở ngoài nghề muốn phát biểu về ngôn ngữ cũng không bị ai cấm đoán nhưng thực rất khó lòng thuyết phục được người đọc người nghe.
Phép phiên thiết
Chữ viết tiếng Hán là loại chữ biểu ý, chữ viết tiếng Việt là loại chữ biểu âm. Khi nhìn vào mặt chữ mà đọc thì chữ viết tiếng Việt cung cấp ngay âm đọc. Nhưng khi nhìn vào mặt chữ Hán thì không thể đọc được. Muốn ghi âm chữ Hán, muốn chỉ cách đọc chữ Hán, phải dùng lối phiên thiết. Nguyên tắc phép phiên thiết là ghép phụ âm (consonne) hay khung của chữ thứ nhất với nguyên âm (voyelle) hay khung của chữ thứ hai thành cách đọc của từ được phiên thiết. Nói chung, có thể xem phiên thiết là một hình thức nói lái.
Phiên thiết chỉ được sử dụng trong các từ điển, tự điển đơn ngữ Hán-Hán. Cho nên điều kiện tiên quyết nhưng cần và đủ là phải biết đọc chữ Hán mới vận dụng được phép phiên thiết (không cần phải hiểu nghĩa chữ vì đây chỉ là vấn đề phát âm, không phải vấn đề lĩnh ý).
Ví dụ tên tôi chữ Hán viết là . Tra chữ này trong Khang Hy, bộ kim, mục tám nét, sẽ thấy ghi như sau : tiên đích thiết (…) âm tích 先的切 (…)音裼. Phụ âm ở đây do chữ thứ nhất cung cấp, đó là chữ t; nguyên âm do khung của chữ thứ hai cung cấp, đó là ích. Ghép vào với ích (t + ích), chúng ta có cách đọc tên tôi : tích. Ngoài ra, sau khi đã cho cách phiên thiết, Khang Hy còn sử dụng lối chú âm bằng cách dùng một chữ đồng âm, gọi là phép trực âm. Trong trường hợp tên tôi, Khang Hy ghi thêm “âm tích 音裼nhằm chỉ rõ rằng tên tôi đọc giống như chữ tích bộ .
Tôi xin nêu một ví dụ khác hơi rắc rối hơn một chút. Đó là trường hợp chữ tôn trong tôn giáo. Khang Hy ghi ở phần phiên thiết là tác đông thiết. Tác + đông = tông (chứ không phải tôn) và như vậy là do kỵ húy. Cho nên – vẫn căn cứ theo phép phiên thiết! – Đào Duy Anh mới ghi : “Nguyên chữ này trước Nguyễn-triều vẫn đọc là tông, sau khi kiêng tên húy đời vua Minh-mạng, mới đọc là tôn. “Vua Thiệu Trị có đến ba tên khác nhau : Tuyền, Dung, Tông. Vì vậy đến đời vua Minh Mạng, dân chúng kỵ huý phát âm chữ chúng ta đang bàn thành tôn, từ đó Sài gòn có đường Lê Thánh Tôn ở gần chợ Bến Thành; còn Tuyền thì biến âm thành Toàn, Dung thì biến âm thành Dong. Như vậy do tên vua là Tông theo phép phiên thiết nên quần chúng dân gian tránh tên húy của nhà vua và đọc trại đi thành tôn.
Khi biên soạn các bộ từ điển, tự điển Hán-Việt, các tác giả như Đào Duy Anh, Thiều Chửu, Trần Trọng San, Nguyễn Văn Khôn, v.v. đã lấy cách đọc những từ Hán từ đâu? Chẳng lẽ quí vị ấy đã rút cách phát âm những từ đó từ trên Trời xuống hay moi chúng từ đất đen ra? Chư vị đã dùng phép phiên thiết. Cuốn Thiều Chửu biên soạn rất sát theo qui cách của cuốn Khang Hy, cũng từng ấy bộ, cũng cùng thứ tự sắp xếp theo số nét, thậm chí theo cả trật tự các chữ nữa. Có chữ Khang Hy ghi vào chỗ chót, sau ghi chú với chữ tăng  (thêm) thì Thiều Chửu cũng dành cho chữ liên hệ vị trí cuối cùng. Có thể nói mà không sợ quá đáng là cách phát âm một từ Hán-Việt như thế nào là do phép phiên thiết muốn thế, bắt thế, qui định như thế, áp đặt như thế. Và không chỉ riêng Khang Hy mới có phần phiên thiết, Từ Nguyên cũng trình bày mục phiên thiết giống Khang Hy; đó là chưa kể đến các bộ bách khoa đại từ điển chữ Hán như Hán văn đại Từ điển, Trung văn đại Từ điển.
Chữ Hán gia nhập vào tiếng ta không phải chỉ từ đời Đường. Sau khi Triệu Đà xưng đế, sau khi Mã Viện thắng Hai Bà thì tiếng Hán đã có cơ hội và thời gian để “chiếm lĩnh” phần nào ngôn ngữ nòi Việt. Nhưng tiếng Hán thuở bấy giờ chỉ len lén vào, qua hình thức khẩu ngữ. Đó là chữ Hán cổ. Đến thời Bắc thuộc lần thứ hai, Trung văn, Trung ngôn chính thức gia nhập gia đình ngôn ngữ Việt, qua chữ viết, qua thi cử. Đó là chữ Hán đời Đường. Cuối cùng, có một số chữ Hán đã Việt hoá. Như vậy, những từ Hán vào tiếng Việt thuộc ba loại.
1) Chuông là âm cổ của chung; kim hay ghim là chữ châm đọc theo âm cổ.
2) Từ gốc Hán mượn của đời Đường chính là những từ mà nay ta gọi là từ Hán-Việt. Hệ thống vần Hán-Việt là hệ thống vần tiếng Hán đời Đường-Tống biến đổi theo qui luật ngữ âm tiếng Việt, kể cả và nhất là thay đổi về thanh điệu. Chẳng hạn trong y học, chúng ta có thương tích, thương hàn, chướng khí, tiêm nhiễm, v.v. Trong ngôn ngữ gốc (tiếng Hán), chúng được biểu thị bằng chữ khối vuông, khi chuyển sang ngôn ngữ đích (tiếng Việt), hiện nay chúng được ghi chép bằng hệ thống chữ cái la-tinh. Sự chuyển dịch đó dựa theo, tuân theo, phục tùng, vâng lệnh phép phiên thiết. Chính vì thế mà nếu Khang Hy ghi nhiều vận luật (Quảng vận, Tập vận, Vận hội, Chính vận) bên cạnh Đường vận thì các từ điển, tự điển Đào Duy Anh, Thiều Chửu, Trần Trọng San, Nguyễn Văn Khôn, v.v..hầu như chỉ chọn Đường vận để phiên thiết, tức là để đọc lên, để phát âm các từ Hán-Việt.
3) Nhóm các từ Hán đã Việt hoá khá đông, chúng ta không còn nhớ gốc gác của chúng nữa. Xin thử liệt kê làm bằng : đại - đời, kính – gương, các – gác, bổn - vốn, long - rồng, thanh – xanh, v.v.
Âm tiếng ta nhiều khi vốn rất gần âm tiếng Tàu. Phiên âm Hán-Việt tương ứng với chú âm Trung văn lắm lúc rất gần gụi, có khi giống nhau như hai giọt nước : ai : ai, ái, ải; ban : ban, bản, bán, bạn, biện, v.v. Xem các từ điển Hán-Hán có phần pin yin rồi đối chiếu với các từ điển Hán-Việt sẽ thấy. Cho nên phiên thiết không hề thuộc lĩnh vực hàn lâm, không hề là món trang sức. Phiên thiết là hơi thở, là mạch sống của một thành phần tiếng nước ta.
Sử dụng hay xử dụng?
Muốn biết sử dụng đúng hay xử dụng đúng thì, như đã trình bày, phải dùng phép phiên thiết chứ không có cách nào khác, lại càng không thể dùng lối lý luận theo kiểu của nhóm Tủ sách Tiếng Quê Hương. Từ điển Từ Hải phiên thiết hai chữ “sử” trong “sử dụng” và “xử” trong “xử sự” như sau :
  • sử, 使 : sảng sĩ thiết; sư chỉ thiết tinh âm sử  (phiên thiết là sư + sĩ = sĩ; hoặc phiên thiết là sư + chỉ = sỉ, âm giống như sử).
  •  
  • xử,  : xương dữ thiết (xương + dữ = xử).
(Phép phiên thiết chỉ cho cách đọc và cách viết nhưng khi chuyển từ Hán sang Việt-Hán thì có thể thay đổi âm từ i sang ư hoặc thay đổi hai dấu hỏi, ngã).
Những người không thông thạo ngôn ngữ học nhưng thích chủ trương viết “xử dụng” thay vì “sử dụng” đưa ra các kiến giải sau đây nhằm biện minh cho chủ trương của mình :
Có người nại cớ rằng phép phiên thiết là dành cho chữ Hán, sao lại có thể áp dụng cho tiếng Việt được? Họ cố tình quên rằng chẳng có ai mang phép phiên thiết áp dụng cho chữ nôm, cho các từ Việt thuần túy; phép phiên thiết chỉ có hiệu lực đối với các từ Hán-Việt vì lẽ giản dị các từ nôm na, các từ thuần Việt không thể nào được các tự điển, từ điển đơn ngữ chữ Hán ghi nhận. Không ai tìm cách phiên thiết hai chữ trùm chăn chẳng hạn vì các tài liệu tham khảo chữ Hán không ghi từ trùm cũng như từ chăn. Có người lại hồn nhiên bảo tôi nói sao thì tôi viết vậy, tôi nói “xử dụng” thì tôi viết “xử dụng”. Họ quên rằng khi họ phát âm “xử dụng” là họ đã phát âm sai! Có người Việt Nam gốc Hà nội đọc là riệu nên phát âm không đúng nhưng đương sự ý thức được là mình sai và tự giác viết thành rượu.
Trên internet, cách đây vài ba năm còn xảy ra chuyện rất khôi hài liên quan đến một nhà ngôn ngữ học tài tử. Anh ta thuộc thế hệ thứ hai trong cộng đồng người Việt tỵ nạn ở Hoa Kỳ và phụ trách dạy tiếng Việt cho một lớp Việt ngữ ở bậc đại học. Anh ta không biết viết “sử dụng” là đúng hay viết “xử dụng” mới đúng. Một số người không chuyên nghiệp về ngôn ngữ học hăng hái góp ý với anh bạn trẻ; người thì bảo “sử dụng” là đúng, kẻ lại cho rằng “xử dụng” mới đúng. Tôi chỉ bảo cho anh bạn này biết rằng “sử dụng” mới đúng chính tả tiếng Việt. Tôi không đá động đến phép phiên thiết vì biết rằng anh bạn không đủ trình độ để hiểu tôi muốn nói gì. Sau một thời gian thu góp ý kiến, anh bạn bèn tổng kết; kết quả số người bảo “xử dụng” là đúng nhiều hơn số người bảo “sử dụng” mới đúng. Người thầy giáo dạy tiếng Việt bất đắc dĩ bèn quyết định dạy cho học trò viết “xử dụng” theo như đa số quyết định! Tôi chỉ biết thở dài và tự dưng nhớ đến chuyện cán ngố dạy tiếng Pháp. Trong một buổi sinh hoạt tập thể, “nhân dân” băn khoăn không biết tiếng Pháp gọi cái bàn là la table hay le table. Tranh luận mãi, cuối cùng cán ngố lấy biểu quyết và số người bảo cái bàn là le table đông hơn! Thế là cái bàn biến thành giống đực trong Pháp ngữ!
*
Tủ sách Tiếng Quê Hương còn trình bày suy tư về cách viết nhiều chữ Việt khác như dòng/giòng, dấu/giấu, dây/giây v.v. Nhóm chủ trương còn bác bỏ từ “toàn trị” của nữ tác giả Thụy Khuê. Nhóm nại lý do nhóm phải theo đuổi và tôn trọng “chủ hướng” riêng, nhóm phải dựa vào những “chỉ tiêu” riêng. (Chữ “chỉ tiêu” dùng không đúng, lẽ ra phải là “tiêu chuẩn”.  “Chỉ tiêu” là một mức định ra để đạt tới, thường được biểu hiệu bằng con số).
Rất tiếc trong ngôn ngữ học, người chuyên môn nghiên cứu theo khoa này phải chấp nhận những qui tắc, những nguyên tắc khách quan, khoa học chứ không thể tùy tiện, tùy hứng đưa ra những “chủ hướng”, những “chỉ tiêu” chủ quan, cá biệt.
Tủ sách Tiếng Quê Hương dường như còn có một khuyết điểm khác: nhóm không để ý đến cách viết từ sử dụng trong nhiều tài liệu tham khảo phổ thông và phổ biến – trong số các tài liệu này có tài liệu mang tính quan phương. Đó là các từ điển, tự điển, tự vị đơn ngữ Việt-Việt và song ngữ Hán-Việt, Pháp-Việt, Anh-Việt, Đức-Việt, Việt-Đức. Các tài liệu sau đây đều viết sử dụng, nghĩa là viết với chữ (“ét”) :
Đại Nam Quốc âm Tự vị, Huỳnh Tịnh Paulus Của, Imprimerie Rey, Curiol & Cie, 1896, Saigon, mục từ sử dụng.
Pháp-Việt Tự-điển, Đào Duy Anh, Nhà Xuất bản Trường Thi, 1957, Sàigòn, mục từ emploi.
Việt-ngữ Chánh-tả Tự vị, Lê Ngọc Trụ, Nhà Xuất bản Trường Thi, 1960, mục từ sử, số 2.
Anh-Việt Từ điển, Nguyễn Văn Khôn, Nhà sách Khai Trí, 1968, Sàigòn, mục từ employ.
Việt-Nam Tự-điển, Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ, Nhà sách Khai Trí, 1970, Sàigòn, mục từ sử-dụng.
Hán Việt Từ-điển, Nguyễn Văn Khôn, Nhà sách Khai Trí, 1960, Sàigòn, mục từ sử dụng.
Vietnamesisch-Deutsches Wörterbuch, Otto Karow, Otto Harrassowitz, 1972, Wiesbaden, mục từ sử dụng.
Từ điển tiếng Việt, Văn Tân chủ biên, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, 1977, Hànội, mục từ sử dụng.
Sổ tay từ Hán Việt, Phan Văn Các, Nhà Xuất bản Giáo dục, 1989, Hànội, mục từ sử dụng.
Từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Văn Đạm, Nhà Xuất bản Văn hoá Thông tin, 1993, Hànội, mục từ sứ dụng.
Từ điển Hán-Việt, Hầu Hàn Giang chủ biên, Thương vụ Ấn thư quán, 1994, Thượng Hải, mục từ sử dụng.
Từ điển Hán-Việt Hiện đại, Nguyễn Kim Thản chủ biên, Nhà Xuất bản Thế giới, 1994, TPHCM, mục từ shiyè và shiyòng.
Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, 1994, TPHCM, mục từ sử dụng.
Hán Việt Từ điển, Trần Trọng San, Bắc đẩu, 1997, Canada, mục từ sử.
Từ điển Đức-Việt, Nguyễn Văn Tuế, Nhà Xuất bản Văn hoá Thông tin, TPHCM, 2000, mục từ benutzen, Benutzer, Benutzung.
Chữ nho trong đời sống mới, Nguyễn Ngọc Phách, Tác giả xuất bản, 2004, Melbourne, mục từ sử dụng quyền tiên mãi.
Trong tủ sách cá nhân, tôi hiện có hai từ điển viết xử dụng, nghĩa là viết với chữ (“ích-xì”) :
Pháp-Việt Tân Từ điển, Thanh Nghị, Nhà Xuất bản Thời Thế, 1961, Sàigòn, mục từ emploi, employer.
Anh-Việt Từ điển, Nguyễn Văn Khôn, Nhà sách Khai Trí, 1968, Sàigòn, mục từ usage. Tuy nhiên ở hai mục từ employ và employable thì cũng cùng chính từ điển này lại viết sử dụng!
Tủ sách Tiếng Quê Hương đã phát hành sách của một số tác giả quen thuộc như Hoàng Hải Thủy, Cung Trầm Tưởng, Hồ Trường An. Tôi chưa được đọc thành quả trí tuệ nào do Tủ sách ấn loát và phát hành nhưng tôi tự hỏi chẳng rõ những tác giả khác cộng tác với Tủ sách Tiếng Quê Hương có ai phải chịu cảnh phải “thông cảm” với Tủ sách Tiếng Quê Hương như trường hợp nữ sĩ Thụy Khuê không, khi bà viết đúng chính tả tiếng Việt mà lại bị cho là sai một cách vô cùng oan ức!
04.12.2017