Search This Blog

Friday, December 1, 2017

VN có nhượng bộ TQ về biên giới không?

Image captionHiệp ước Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc được ký năm 1999
Vấn đề biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc luôn thu hút sự quan tâm và tranh cãi trong dư luận người Việt trong và ngoài Việt Nam.
Cho đến hôm nay, Hiệp ước Biên giới trên đất liền được hai nước ký năm 1999 vẫn gây ý kiến trái ngược.
Một nhà nghiên cứu về tranh chấp Biển Đông, Dương Danh Huy, mới đây gửi cho BBC bài viết về chính sách thông tin của Việt Nam liên quan biên giới lãnh thổ và ranh giới biển. Bài viết đặt ra một số câu hỏi cho Tiến sĩ Trần Công Trục, cựu trưởng ban Biên giới Chính phủ Việt Nam, sau khi ông Trục, trên báo Việt Nam, kể lại những năm đàm phán biên giới với Trung Quốc.
Khi được Lê Quỳnh của BBC liên lạc, ông Trần Công Trục đồng ý trả lời những "băn khoăn" về cuộc đàm phán biên giới trên bộ và phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Xin giới thiệu với quý vị hai bài viết muốn giải đáp thêm các câu hỏi về quá trình đàm phán giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Ý kiến ông Dương Danh Huy

Cho đến nay vẫn có có nhiều ý kiến khác nhau về tính công bằng của hai hiệp định Việt-Trung về ranh giới trên bộ và về vịnh Bắc Bộ được ký vào năm 1999 và 2000.
Mới đây, trả lời phỏng vấn trên báo Giáo dục Việt Nam về hai hiệp định này, TS Trần Công Trục, nguyên trưởng ban Biên giới Chính phủ Việt Nam, nói:
“Điều đáng nói là không chỉ dư luận người dân mà ngay cả những người làm công tác nghiên cứu, các nhà khoa học lẫn những nhà quản lý, lãnh đạo vẫn còn nhiều người mơ hồ, lăn tăn về chuyện này. Thậm chí có người suy đoán “chắc là dư luận nói đúng” bởi vì họ nghĩ Việt Nam là nước nhỏ, nước yếu ở cạnh một nước mạnh, nước lớn như TQ thì phải có sự nhượng bộ không thể tránh khi đàm phán tranh chấp biên giới, lãnh thổ.”
Điều TS Trần Công Trục nói đến là do một khuyết điểm cơ bản trong chính sách của Việt Nam về thông tin liên quan đến biên giới lãnh thổ và ranh giới biển.
Nếu Việt Nam công bố minh bạch và đầy đủ thông tin thì đã không có nhiều người làm công tác nghiên cứu, nhà khoa học, nhà quản lý, lãnh đạo “mơ hồ, lăn tăn” về các hiệp định lãnh thổ và biển, mà dư luận người dân cũng đã đỡ xôn xao. Thông tin đó không thể dựa trên việc quan chức hé ra một phần, không thể được thay thế bằng thông tin hành lang, hay những lời khẳng định, trấn an. Ngược lại, Việt Nam phải có chính sách cung cấp cho nhân dân thông tin chính thức, minh bạch và đầy đủ, theo tư duy 3C, “Công khai, Công luận, Công pháp quốc tế”.
Không thể bác bỏ những suy đoán mà TS Trần Công Trục đề cập đến, hay những suy đoán khác, bằng những lời phủ định “chay”. Để bác bỏ chúng, cần công bố những thông tin như: trong đàm phán Việt Nam đã đòi gì, Trung Quốc đã đòi gì, mỗi bên đã đưa ra dẫn chứng và lập luận gì cho yêu sách của mình, và cuối cùng mỗi bên được gì với lý do gì. Người quan tâm sẽ dùng những thông tin đó để đánh giá giá trị pháp lý của chứng cứ của mỗi bên và tính công bằng của thỏa hiệp.
Nếu thay thế những thông tin đó bằng những lời trấn an thì nhân dân không thể biết có bên nào đã ngang ngược hay không, và bên kia có đã đành phải chấp nhận hay không; họ chỉ có thể lựa chọn giữa có tin lời trấn an hay không. Lãnh thổ là của nhân dân cho nên họ phải được hơn như thế: họ phải được có thông tin về đàm phán lãnh thổ và biển. Các lời khẳng định, các lời trấn an, tin hành lang và tin đồn là không đáp ứng đủ quyền được biết của nhân dân.
Nhưng cho tới nay, mặc dù tọa độ của các cột mốc đã được công bố, vẫn chưa có thông tin đầy đủ và minh bạch về cuộc đàm phán dẫn đến chúng.
Khu vực Núi Đất
Một thí dụ là khu vực Núi Đất, mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn và đánh chiếm vào tháng 4 năm 1984. Vào tháng 7 năm 1984 Quân đội Nhân dân Việt Nam đã mở chiến dịch kéo dài nhiều năm, chiến đấu quyết liệt để giành lại những vùng bị Trung Quốc chiếm đóng. Với xương máu của rất nhiều người lính, Việt Nam đã giành lại được nhiều phần.
Trên bàn đàm phán, Việt Nam cũng đã giành lại được một số mỏm núi. Theo thông tin không chính thức từ phía Trung Quốc và phía Việt Nam thì có một mỏm có vẻ như cả hai bên không chối cãi là của Việt Nam, nhưng Trung Quốc đã xây nghĩa trang quân đội trên đó và họ chủ trương là khu vực nghĩa trang là bất khả xâm phạm.
Image captionViệt Nam có cuộc chiến biên giới với Trung Quốc tháng Hai 1979
Có việc đó hay không? Nếu có thì vì ly do nào mà Việt Nam đã chấp nhận? Vì nhân đạo và địa chính trị, hay vì không có đủ chứng cứ pháp lý, hay lý do nào khác? Tại sao thông tin không được công bố?
Một thí dụ khác là ranh giới trong vịnh Bắc Bộ. Ban đầu Việt Nam chủ trương kéo dài đường phân định trong Hiệp định Pháp-Thanh 1887 để chia cả lãnh hải 12 hải lý và vùng đặc quyền kinh tế bên ngoài 12 hải lý, nhưng Trung Quốc đã không chấp nhận. Sau đó Việt Nam chủ trương chia theo luật quốc tế về phân định biển. Theo tài liệu đã công bố của nhân viên nhà nước có chức năng thì Trung Quốc chủ trương chia đều 50:50, không cần đến lập luận pháp lý. Cuối cùng hai bên đã thỏa hiệp bằng tỷ lệ 53:47 nghiêng về Việt Nam.
Theo bản đồ độ phân giải cao thì nhiều điểm trong đường phân định vùng đặc quyền kinh tế trong vịnh Bắc Bộ nằm gần lãnh thổ Việt Nam hơn lãnh thổ Trung Quốc. Nổi bật nhất là điểm 17 nằm gần bờ biển Hà Tĩnh hơn đảo Hải Nam khoảng 50 km, và điểm 14 nằm gần bờ biển Nam Định hơn đảo Hải Nam khoảng 37 km. Trong khi đó, không có điểm nào nằm gần lãnh thổ Trung Quốc hơn lãnh thổ Việt Nam. Nếu lấy một đường trung tuyến nào đó làm chuẩn (có thể có vài đường trung tuyến khác nhau đều tương đối hợp lý) thì có thể nói là Việt Nam được ít hơn đường trung tuyến ít nhất là nhiều trăm cây số vuông.
Vì vậy, mặc dù lời phê phán rằng Hiệp Định Pháp-Thanh 1887 đã chia toàn bộ vịnh Bắc Bộ là lời phê phán không hợp lý, nhưng quan điểm chính thức của Việt Nam, rằng Hiệp Định vịnh Bắc Bộ 2000 là công bằng, cũng là quan điểm chưa thuyết phục.
Có thể cho rằng hiệp định đó là đại khái công bằng ở một mức nào đó, nhưng mức đó có là công bằng đủ hay không thì là điều có thể tranh luận. Trong tranh luận đó, thể có người cho rằng trước một Trung Quốc vừa mạnh, vừa tham, bất chấp luật quốc tế, thì việc Việt Nam đạt được mức công bằng đó là khá rồi, và có thể có người có quan điểm ngược lại.
Cũng có thể có người cho rằng việc được ít hơn đường trung tuyến đó là giá phải chăng cho việc có một ranh giới ổn định trong vịnh Bắc Bộ, và có thể có người có quan điểm ngược lại.
Điều quan trọng ở đây là phải có thông tin chính thức và có tranh luận khoa học, duy lý. Đó cũng là nguyên tắc chung cho việc nhận định về các hiệp đinh biên giới, ranh giới.

Ý kiến ông Trần Công Trục

Image captionViệt - Trung ra Tuyên bố chung về hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên biên giới đất liền ngày 31/12/2008
Trước hết, tôi xin cảm ơn và hoan nghênh sự quan tâm và bày tỏ một số băn khoăn thắc mắc của học giả Dương Danh Huy sau khi đọc nội dung trả lời phỏng vấn của tôi đăng trên trang báo Điện tử Giáo dục Việt Nam gần đây.
Ông Dương Danh Huy là học giả quen biết của độc giả Việt Nam và quốc tế quan tâm đến lĩnh vực biên giới, lãnh thổ, đặc biệt là vấn đề biển, đảo, trong đó có tôi. Tôi đã đọc, nghiên cứu khá kỹ những nội dung mà ông Dương Danh Huy đã phát biểu trên một số phương tiện thông tin truyền thông và một số công trình nghiên cứu đã đăng tải trên trang mạng điện tử “Quĩ nghiên cứu Biển Đông”. Là một công dân Việt Nam luôn tâm huyết với vấn đề biên giới, lãnh thổ, biển, đảo của Tổ Quốc, hiện nay là một người nghiên cứu độc lập, tôi tâm đắc và đánh giá cao những công trình nhiên cứu của ông Dương Danh Huy, tôi cũng chia sẻ với những băn khoăn, trăn trở của ông có liên quan đến kết quả đàm phán giải quyết vấn đề biên giới trên bộ và phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc trong thời gian qua.
Đúng là sở dĩ cho đến nay trong dư luận vẫn còn tồn tại những băn khoăn, thắc mắc, thậm chí vẫn còn nghi hoặc về một số thành quả của quá trình đàm phán giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ với Trung Quốc, chủ yếu là do thiếu thông tin hoặc thông tin không rõ ràng, minh bạch, thậm chí mâu thuẫn nhau, chưa kể tới những thông tin thiếu trung thực, khách quan xuất phát từ những động cơ khác nhau. Đó là một thực tế ai cũng nhận ra. Dư luận đòi hỏi được cung cấp thông tin là hoàn toàn chính đáng, là nhu cầu cần kíp.
Tuy nhiên công bằng mà nói, sở dĩ còn tình trạng này là vì có những nguyên nhân chủ quan, khách quan mà chúng ta nên bình tĩnh xem xét. Là người trong cuộc, tôi có thể nói rằng đòi hỏi của công chúng nói trên mặc dù rất chính đáng, cần thiết, nhưng những người có trách nhiệm không thể có khả năng đáp ứng ngay, kịp thời được. Bởi vì đây là vấn đề hết sức hệ trọng, nhạy cảm và rất rất phức tạp, có liên quan đến nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội. Có những nội dung có thể công khai ngay được, cũng có những nội dung chưa thể công khai ngay được, nhất là trong thời gian đang đàm phán hoạch định biên giới và tiến hành phân giới cắm mốc trên thực địa.
Mọi người đều biết thời gian đàm phán hoạch định và phân giới cắm mốc kéo dài chí ít là từ năm 1993 cho đến năm 2008, trước đó nữa là thời gian nghiên cứu chuẩn bị phương án đàm phán, mọi hồ sơ tài liệu đều phải được bảo quản theo chế độ bảo mật. Từ sau khi hoàn thành về cơ bản phân giới cắm mốc cho đến nay mới chỉ khoảng 5 năm, lại còn tiếp tục đàm phán một số nội dung quản lý biên giới, mốc giới, cửa khẩu, sử dụng sông suối biên giới chung…Với thời gian đó và với khối lượng công việc đó, có lẽ khó có thể có ai đáp ứng ngay được những đòi hỏi của dư luận. Mặc dù vậy, các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm và có liên quan cũng đã cố gắng công bố nhiều ấn phẩm khá tốt về lĩnh vực này.
Có thể nói rằng thông tin ngày càng phong phú, rõ ràng, công khai, minh bạch hơn. Mọi người có thể tìm mua tại các cửa hàng sách hay truy cập trên các trang mạng những ấn phẩm này. Tôi tin rằng các Cơ quan có trách nhiệm của Việt Nam sẽ dần dần bổ sung cung cấp đầy đủ mọi thông tin có liên quan và cần thiết. Thiết nghĩ đó cũng là trọng trách của các tổ chức, cơ quan, cá nhân có liên quan trước đòi hỏi chính đáng của công luận. Bởi vì công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của các thế hệ người Việt Nam vẫn đang tiếp diễn.
Trở lại nội dung cụ thể mà ông Dương Danh Huy nêu lên, tôi mạn phép có đôi điều bình luận theo nhận thức và thông tin mà bản thân tôi tự nắm bắt được:
Trước hết, có lẽ xin được phép nhắc lại khái quát về tình hình biên giới đất liền Việt Nam-Trung Quốc.
Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc dài khoảng 1.400 km tiếp giáp giữa 7 tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh của Việt Nam với tỉnh Vân Nam và khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây của Trung Quốc. Biên giới này được hoạch định và phân giới cắm mốc lần đầu tiên trong lịch sử bằng Công ước hoạch đinh biên giới ngày 20 tháng 6 năm 1887 và Công ước bố sung ngày 20 tháng 6 năm 1895 ký kết giữa Pháp và nhà Thanh (Trung Quốc).
Image captionKim ngạch thương mại qua biên giới Việt - Trung đạt trên 8,6 tỷ USD năm 2012
Trong hơn 100 năm kể từ khi Công ước Pháp Thanh được ký kết, biên giới giữa 2 nước đã trải qua nhiều biến đổi trên thực địa do thời tiết, do biến đổi địa hình địa vật và do những biến động chính trị, xã hội ở mỗi nước cũng như trong quan hệ giữa 2 nước, đặc biệt là cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Vì vậy, đã nẩy sinh những tranh chấp hết sức phức tạp từ nhận thức khác nhau về hướng đi của biên giới cho đến lịch sử quản lý thực tế về biên giới…Chẳng hạn, lời văn mô tả và bản đồ có nơi không đầy đủ, chính xác, rõ ràng; các cột mốc biên giới được căm từ cuối thế kỷ XIX không được xác định bằng lưới tọa độ, nhiều mốc bị hư hỏng, bị mất, xê dịch, nhiều mảnh bản đồ gốc không còn; trên một số khu vực biên giới xảy ra sự chuyển dịch dân cư không theo biên giới pháp lý…
Từ tình hình nói trên, nhằm xác định lại chính xác biên giới để quản lý biên giới lãnh thổ tốt hơn, tránh những tranh chấp phức tạp xẩy ra làm ảnh hưởng đến quan hệ chính trị giữa hai nước, ảnh hưởng đến môi trường hòa binh, ổn định, hợp tác và phát triển của mỗi nước…, ngay sau khi bình thường hóa quan hệ tháng 11 năm 1991, hai bên đã thỏa thuận tiến hành đàm phán hoạch định biên giới mới thay cho Công ước Pháp - Thanh 1887, 1895 và tiến hành phân giới cắm mốc tại thực địa dựa trên nội dung của Hiệp ước hoạch định biên giới mới này. Quá trình đàm phán đã diễn ra như sau:
- Từ năm 1990, sau khi hai nước khôi phục quan hệ, từ 7-11-1991 đến 10-11-1991 đã ký hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc trên vùng biên giới: quản lý biên giới theo tình hình thực tế; thẩm quyền giải quyết biên giới cấp Chính phủ; giữ mốc biên giới.
- Từ năm 1992, đàm phán lần thứ 4 diễn ra ngày 19-10-1993 ký thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa 2 nước; trong thỏa thuận này, hai bên đã nhất trí mở ra 4 diễn đàn đàm phán về biên giới lãnh thổ (3 cấp chuyên viên và 1 cấp Chinh phủ) và đặc biệt đã thống nhất được căn cứ pháp lý để đàm phán là: “Hai bên đồng ý căn cứ vào Công ước hoạch định biên giới ký giữa Pháp và Trung Quốc ngày 26-6-1887 và Công ước bổ sung Công ước hoạch định biên giới 20-6-1895, cùng các văn kiện và bản đồ hoạch định, cắm mốc kèm theo đã được Công ước và Công ước bổ sung nói trên xác nhận hoặc quy định; đối chiếu xác định lại toàn bộ đường biên giới trên đất liền giữa VN và TQ…”
- Như vậy, mọi tư liệu lịch sử, bản đồ, sách giáo khoa, thậm chí cả các tài liệu chính thức đã xuất bản trước thời điểm này, nếu không được xác nhận là một bộ phận của Công ước nói trên, đều không có giá trị dùng làm căn cứ để xác định hướng đi của đường biên giới trong quá trình đàm phán lần này.
- Thực hiện Thỏa thuận nói tên, từ tháng 2/1994 đến tháng 12/1999, 2 bên đã họp 6 vòng cấp Chính phủ, 16 vòng nhóm công tác liên hợp, 3 vòng nhóm soạn thảo Hiệp ước.
- Tại vòng 2 (tháng 7/1994) nhóm công tác đã trao bản đồ chủ trương, qua đối chiếu có 870km/1360km đường biên giới trùng nhau (67%), 436km/1360km, 289 khu vực không trùng nhau với tổng diện tích 236,1km2 trong đó có 74 khu vực loại A (1,87km2) kỹ thuật vẽ chồng lấn nhau, 51 khu vực loại B(3,062km2) không vẽ tới, 164 khu vực loại C do quan điểm 2 bên khác nhau, trong đó có một số khu vực tranh chấp trên thực địa.
- Đàm phán cấp Chính phủ vòng 6 (25-28 tháng 9 năm 1998) thống nhất phân khu vực C thành 3 loại: khu vực Công ước đã quy định rõ ràng, khu vực một bên quản lý quá hoặc vạch quá đường biên giới, khu vực Công ước không qui định rõ ràng để xử lý theo nguyên tắc đã thỏa thuận, chẳng hạn:
1. Nguyên tắc các bên trao đổi vô điều kiện cho nhau những vùng đất quản lý quá đường biên giới: “Sau khi 2 bên đối chiếu xác định lại đường biên giới, phàm những vùng do bất kỳ bên nào quản lý quá đường biên giới về nguyên tắc cần trả lại cho bên kia không điều kiện” (Phần II, điểm 3, Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa CHXHCN VN và CHND TH, ngày 19 tháng 10 năm 1993).
  • Trong quá trình phân giới cắm mốc, đối với một số khu vực nhạy cảm do có sự tồn tại của dân cư vượt qua biên giới pháp lý mới được hoạch định thì hai bên thỏa thuận thực hiện nguyên tắc giảm tối đa tác động đến khu dân cư, điều chỉnh biên giới sao cho cân bằng về diện tích, giữ nguyên hiện trạng khu dân cư, như nhà cửa, ruộng vườn, nghĩa trang mồ mả…Thực hiện nguyên tắc này, hai bên đã thỏa thuận xử lý thỏa đáng các khu vực có dân cư sinh sống; chẳng hạn, 4 khu vực loại C( 66c, 81c, 127c, 260c) diện tích khoảng 7,2 km2 có dân cư Việt Nam sinh sống quá đường biên giới pháp lý mới về phía Trung Quốc vẫn được giữ nguyên; 5 khu vực loại C với diện tích khoảng 5,7 km2 dân TQ ở quá đường biên giới pháp lý về phía Việt Nam cũng được giữ nguyên hiện trạng.
  • Đối với khu vực điểm cao có chốt quân sự, thì các điểm cao nằm trong lãnh thổ của nước nào thì thuộc nước đó. Đối với các điểm cao nằm ngay trên đường biên thì không bên nào được phép đóng quân hay không được xây dựng bất kỳ công trình quân sự nào trên đó, phù hợp với thông lệ quốc tế.
2. Nguyên tắc giải quyết đường biên giới trên sông suối: “Đối với những đoạn biên giới đi theo sông, suối, hai bên đồng ý sẽ tính đến mọi tình hình và tham khảo tập quán quốc tế, thông qua thương lượng hữu nghị để giải quyết” (Phần II, điểm 4, Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới Việt – Trung 19 tháng 10 năm 1993). Tại vòng 5 đàm phán cấp Chính phủ, hai bên đã đạt được thỏa thuận về nguyên tắc giải quyết đường biên giới trên sông suối giữa 2 nước: Đối với những đoạn biên giới đã được Công ước 1887, 1895 xác định rõ ràng thì căn cứ vào các quy định của Công ước để xác định biên giới, cũng như sự quy thuộc các cồn bãi trên sông suối biên giới; đối với những đoạn biên giới theo sông suối chưa được Công ước xác định rõ ràng thì 2 bên sẽ áp dụng nguyên tắc phổ biến của Luật pháp và Tập quán quốc tế để xác định:
  • Trên các đoạn sông, suối tàu thuyền đi lại được đường biên giới sẽ đi theo trung tâm luồng chính tàu thuyền chạy.
  • Trên các đoạn sông suối tàu thuyền không đi lại được đường biên giới sẽ đi theo trung tâm của dòng chảy hoặc dòng chính.
    Lễ hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền ngày 23/2/2009 tại cửa khẩu Hữu Nghị, tỉnh Lạng Sơn
    Image captionLễ hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền ngày 23/2/2009 tại cửa khẩu Hữu Nghị, tỉnh Lạng Sơn
- Hiệp ước hoạch định biên giới được hai nước Việt Nam, Trung Quốc chính thức ký ngày 30 tháng 12 năm 1999 và được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn ngày 6 tháng 6 năm 2000 và Quốc hội Trung Quốc phê chuẩn ngày 29 tháng 4 năm 2000. Hiệp ước này mô tả hướng đi của đường biên giới bằng lời văn và thể hiện bằng đường màu đỏ trên bản đồ tỷ lệ 1/500.000. Dựa vào Hiệp ước này, từ tháng 12 năm 2001, hai bên đã tiến hành phân giới, cắm mốc.
- Đến ngày 31 tháng 12 năm 2008, công tác phân giới cắm mốc đã cơ bản hoàn thành. Kết quả là: Chiều dài biên giới chính xác là 1.449,566 km, trong đó có 383, 914 km đường biên giới đi theo sông suối; cắm được 1970 cột mốc, trong đó có 1548 cột mốc chính, 422 cột mốc phụ. Toàn bộ công việc này được tổ chức thực hiện để phân vạch đường biên giới trên thực địa một cách chính xác, cụ thể, rõ ràng, hoàn chỉnh và dược đánh dấu bằng một hệ thống mốc quốc giới chính quy , bền vững và đủ về số lượng trên thực địa. Khi tiến hành phấn giới cắm mốc, hai bên đã vận dụng các nguyên tắc đã thỏa thuận để xử lý những trường hợp có liên quan đến dân cư, tài sản, thực tế quản lý, thậm chí cả đến vấn đề tâm linh, tín ngưỡng…làm sao đảm bảo lợi ích chính đáng cho nhân dân hai bên biên giới.
Thiết nghĩ với những thông tin này có lẽ cũng có thể giúp giải đáp được phần nào những băn khoăn, thắc mắc nói trên.
Ông Dương Danh Huy đặt vấn đề rằng: “Khu vực Núi Đất, mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn…và theo thông tin không chính thức từ phía Trung Quốc và phía Việt Nam thì có một mỏm có vẻ như cả hai bên không chối cãi là của Việt Nam, nhưng Trung Quốc đã xây nghĩa trang quân đội trên đó và họ chủ trường là khu vực nghĩa trang là bất khả xâm phạm. Có việc đó hay không? Nếu có thì vì lý do nào mà Việt Nam đã chấp nhận? Vì nhân đạo và địa chính trị, hay vì không có đủ chứng cứ pháp lý, hay lý do nào khác? Tại sao thông tin không được công bố?
Theo thông tin mà tôi được biết thì đúng là có việc Việt Nam đã đồng ý điều chỉnh chút ít hướng đi của đường biên giới ở khu vực có nghĩa trang do Trung Quốc đã xây dựng trước đây, mặc dù về pháp lý đường biên giới mà 2 bên đã xác định là phải đi qua khu vực nghĩa trang này.
Theo tôi, đây là nhân nhượng tự nguyên, thỏa đáng, hợp tình hợp lý. Bởi vì đây là nhân nhượng vừa mang tính nhân văn, nhân đạo, vừa phù hợp với nguyên tắc mà hai bên đã thỏa thuận khi xác định đường biên giới đi qua khu vực có sự tồn tại của dân cư khu vực biên giới…như tôi đã đề cập ở phần trên.
Tôi đã đọc bài viết trên BBC của ông Dương Danh Huy có liên quan đến việc phân định Vịnh Bắc Bộ, “Nhìn lại Hiệp định Vịnh Bắc Bộ sau 10 năm”.
Tôi đánh giá cao những nhận xét của ông Dương Danh Huy về bản chất của “đường biên giới trong Vịnh Bắc Bộ” theo Công ước Pháp Thanh 1887. Nội dung của Công ước là:
“Các đảo phía đông kinh tuyến Paris 105 °43, kinh độ đông, tức là đường bắc-nam đi qua điểm cực đông của đảo Tch'a Kou hay Ouan-chan (Trà Cổ) và làm thành biên giới cũng được cho là của Trung Hoa. Các đảo Go- tho và các đảo khác phía tây kinh tuyến này thuộc về An Nam.
Những người Trung Hoa phạm pháp hoặc bị cáo buộc phạm pháp tìm nơi trú ẩn tại các đảo này, sẽ được, theo quy định của điều 27 của Hiệp định ngày 25 tháng Tư năm 1886, tìm kiếm, bắt giữ và dẫn độ bởi Chính quyền Pháp.”
Theo đánh giá của ông Dương Danh Huy thì Công ước không nói rằng kinh tuyến 105°43’ Paris, tức là kinh tuyến 108°3’13’’ Greenwich, là ranh giới phân định biển cho toàn bộ Vịnh Bắc Bộ. Bản đồ đính kèm công ước vẽ ranh giới dọc kinh tuyến 105°43’ Paris từ cực đông đảo Trà Cổ ra biển và ngừng cách đảo khoảng 5 hải lý, tức là chỉ cho một phần rất nhỏ của Vịnh.
Image captionTrong chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch Trương Tấn Sang năm 2013, hai nước nói sẽ thăm dò dầu khí chung trong khu vực thỏa thuận ngoài khơi vịnh Bắc Bộ
Theo tôi, nhận xét của ông Dương Danh Huy là rất chuẩn xác. Bởi vì, “những điều trên cho thấy, vào năm 1887, trong Vịnh Bắc Bộ, Pháp không cho rằng họ có chủ quyền hay quyền chủ quyền trong vùng biển cách bờ hơn 12 hải lý. Cũng không có chứng cớ là vào thời điểm đó Trung Quốc cho rằng họ có chủ quyền hay quyền chủ quyền trong vùng biển này” và “Sẽ hợp lý hơn nếu cho rằng kinh tuyến 108°3’13’’ trong Công ước chỉ phân chia đảo và phân chia lãnh hải ven bờ. Như vậy, công ước Pháp-Thanh chưa phân định phần lớn Vịnh Bắc Bộ, và việc phân định Vịnh Bắc Bộ là cần thiết”.
Chính chúng tôi cũng đã có nhận định như vậy trước khi xây dựng phương án đàm phán phân định Vịnh Bắc Bộ. Trên tinh thần thật sự khách quan, cầu thị, chúng tôi cũng đã mạnh dạn đề nghị từ bỏ chủ trương khẳng định rằng trong vịnh đã có biên giới theo Công ước Pháp Thanh 1887. Thay vào đó, khi đàm phán phân định Vịnh Bắc Bộ, Việt Nam sẽ theo nguyên tắc của Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982. Đó là nguyên tắc thỏa thuận, có tính đến mọi hoàn cảnh liên quan, để phân định Vịnh Bắc Bộ đảm bảo tính công bằng mà hai bên có thể chấp nhận được.
Đây thật sự là một bài học quý giá cho những ai đang và sẽ tiếp tục lãnh trọng trách tham gia đàm phán giải quyết các tranh chấp về biên giới lãnh thổ, nhất là những tranh chấp trên các vùng biển và hải đảo trong tình hình hiện nay.
Kết quả là Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được ký kết vào ngày 25 tháng 12 năm 2000. Hiệp định này gồm 11 điều với nội dung chủ yếu là xác định rõ tọa độ địa lý của 21 điểm trên đường phân định lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế, vùng thềm lục địa giữa hai nước; quy định hai bên tôn trọng chu quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi bên tại các vùng biển trong vịnh Bắc Bộ; quy định việc thăm dò khai thác tài nguyên thiên nhiên nằm vắt ngang đường phân định và giải quyết các tranh chấp liên quan đến Hiệp định thông qua đàm phán thương lượng. Hiệp định có hiệu lực ngày 15 tháng 6 năm 2004.
Từ tình hình nói trên, tôi cũng xin có bình luận thêm về những băn khoăn có liên quan đến cách vạch đường phân định đã được thể hiện trên bản đồ kèm theo Hiệp định này mà ông Dương Danh Huy gọi là “Đường trung tuyến”.
Đúng là “trong phần lớn vùng biển hữu quan trong Vịnh Bắc Bộ, bờ biển Việt Nam và Trung Quốc đối diện nhau. Vì vậy, theo luật quốc tế thì đường trung tuyến có điều chỉnh là nguyên tắc phân định công bằng nhất”.
Tôi không phản bác điều này. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của tôi qua một số bản án của Tòa án Trọng tài quốc tế, nhất là vụ xét xử việc phân định biển Manche giữa Pháp và Anh, các thẩm phán có bình luận rằng trung tuyến là phương pháp thường được sử dụng trong phân định, nhưng không phải lúc nào phương pháp này cũng đảm bảo được nguyên tắc công bằng. Bởi vì, trung tuyến sẽ được xác định tính từ các điểm cơ sở nhất định mà những điểm này thì hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiện hữu của các vị trị địa lý được thống nhất lựa chọn nằm dọc theo bờ biển của mỗi bên để tính toán xác định, thông thường thì phải điều chỉnh do phải tính đến các hoàn cảnh, điều kiện có liên quan…
Cho nên, có thể nói rằng khó có thể có một “trung tuyến” duy nhất và đích thực là trung tuyến theo đúng đinh nghĩa khoa học. Trong một khu vực biển có thể có nhiều trung tuyến có điều chỉnh thích hợp, phụ thuộc vào phương pháp tính toán xác định của các chuyên gia kỹ thuật.
Và cũng đúng như luật sư Brice Clagett đã nhận xét, việc vạch ranh giới phải dựa trên cơ sở địa lý, và nguyên tắc tỷ lệ chiều dài bờ biển chỉ là một thước đo phỏng chừng cho sự công bằng. Tác giả bài này cho rằng dù tỷ lệ diện tích bằng tỷ lệ chiều dài bờ biển, vẫn có thể tồn tại những sự bất công mà nguyên tắc tỷ lệ chiều dài bờ biển không phát hiện được. Vì vậy cần phải xét đến các khía cạnh địa lý, quan trọng nhất là đường trung tuyến được vạch giữa những điểm nào và ảnh hưởng của các đảo của Việt Nam và Trung Quốc trong việc vạch và điều chỉnh đường trung tuyến…
Và vì vậy, kết quả phân định đã cho thấy: Ranh giới trong Vịnh Bắc Bộ là một đường trung tuyến có điều chỉnh; Đảo Cồn Cỏ được 50% hiệu lực, đảo Bạch Long Vĩ được khoảng 25% hiệu lực; Tỷ lệ diện tích Việt Nam, Trung Quốc đạt được, 1.135:1, gần bằng tỷ lệ chiều dài bờ biển Việt Nam, Trung Quốc, 1.1:1. Cho nên, theo đánh giá của tôi, với tư cách là một chuyên gia pháp lý, Hiệp định Vịnh Bắc Bộ đã được phân định phù hợp với nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế, hợp tình hợp lý vì nó đảm bảo được sự công bằng mà hai bên chấp nhận được. Đi vào chi tiết kỹ thuật khi tính toán xác định đường phân định này có lẽ phải nhờ đến các chuyên gia kỹ thuật bản đồ mới đủ điều kiện để giải đáp chuẩn xác.
Miến Điện xử dụng lá bài tôn giáo để cướp đất?
Lữ Giang

Tạp chí “Đối thoại” (Cenversation) ở Massachusetts đã đăng bài “Tôn giáo không phải là lý do duy nhất khiến người Rohingya bị bắt cuộc phải rời bỏ Miến Điện”, ba giáo sư Đại Học Newcastle là Giuseppe Forino, Jason von Meding và Thomas Johnson đã phân tích vụ người Hồi Giáo Rohingya ở bang Rakhine, Miến Điện, bị ngược đãi phải bỏ nước ra đi, cho rằng những quyền lợi về chính trị và kinh tế là những yếu tố góp phần vào biến cố này, rõ nét nhất là vụ chính quyền Miến Điện đã ký hiệp ước cho phép Trung Quốc khai thác dầu khí ở bang Rakhine và đặt ông dẫn dầu từ các hải cảng của bang này chuyển số dầu mua được từ Trung Đông và Phi Châu về tỉnh Vân Nam của Trung Quốc thay vì phải đi qua eo biển Malacca của Mã Lai.
 Image result for rakhine, myanmar map,
Bang Rakhine ở Miến Điện (màu đỏ)
Phóng viên Damir Sagolj của hãng Reuters nói về “Kinh tế dầu mỏ và chính sách cưởng chiếm đất đàng sau cuộc khủng hoảng di dân của người Rohingya ở Miến Điện”,còn trên tạp chí “The South China Morning Post” ở Hồng Kông, bình luận gia David Dodwell cho rằng những vấn đề của Miến Điện đi xa hơn cuộc khủng hoảng về di dân của người Rohingya, trong đó những quyền lợi về kinh tế, chiến lược và chính trị của Trung Quốc đã lấn xa trên đất nước này.
Có thể nói, nhà cầm quyền quân sự Miến Điện đang xử dụng lòng hận thù tôn giáo để đẩy người Hồi Giáo Rohingya ra khỏi bang Rakhine, cướp đất của họ và cho Trung Quốc khai thác.
KHÁI NIỆM VỂ BANG RAKHINE
Miến Điện được chia thành 7 bang và 7 vùng hành chính. Bang Kakhine nằm ở bờ biển phía Tây Miến Điện, trên môt giải đất hẹp kéo dài từ Banglasdesh xuống dọc theo theo vịnh Bangal, có chiều dài 640 km và chiểu ngang 145 km, diện tích là 36.762 km2 và thủ phủ là Sittwe. Phía đông là dãy núi Arakan có đỉnh Victoria Peak cao 3,063 metres , chia cắt bang này với phần đất chính của Miến Điện.
Theo tài liệu chính thức, dân số bang Rakhine có 3.118.963 người, gồm nhiều sắc tộc khác nhau. Tính đến năm 2013, sắc tộc đa số là Rohingya có khoảng 1,23 triệu người, cư trú chủ yếu ở các thị trấn phía Bắc Rakhine tiếp giáp với Bangladest, cũng như các đảo Ramree và Manaung (Cheduba), nơi đây họ chiếm 80-98% dân số. Còn các sắc tộc thiểu số khác như Kamein, Chin, Mro, Chakma, Khami, Dainet, Bengali, Hindu và Maramagri sống ở vùng cao nguyên.
Bang Rakhine trước đây có tên là Nhà nước Arakan, và chỉ mới được sáp nhập vào Miến Điện vào năm 1785. Trong khoảng thời gian từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVII, Arakan là một vương quốc Hồi giáo, được các vị vua mang tước hiệu Hồi giáo Shah cai trị. Đa số người Rohingya đã sống trong Nhà nước Arakan từ trước khi lãnh thổ này được sáp nhập vào Miến Điện. Chỉ có một thiểu số đến từ Bangladesh trong 20 năm gần đây. Cư dân vương quốc này gồm cả người theo đạo Hồi lẫn đạo Phật và họ chung sống với nhau một cách tương đối hài hòa.
Sau khi Miến Điện được độc lập và đặc biệt là sau khi quân đội lên nắm quyền vào năm 1962, người Rohingya đã bị kỳ thị. Nhiều đạo luật đã được ban hành buộc người Rohingya phải chứng minh được rằng họ sống trên đất Miến Điện kể từ trước 1824 nếu muốn có quốc tịch Miến Điện. Dĩ nhiên, rất ít người có thể trình ra loại bằng chứng này, và như vậy họ không được coi là công dân Miến Điện. Vì thế, họ không có quyền tự do đi lại, và gặp nhiều khó khăn trong quan hệ với các viên chức Miến Điện, nhất là về vấn đề như hôn nhân, sở hữu đất đai, v.v... Gia đình người Rohingya bị cấm không được sinh quá 2 con. Bang Rakhine trở thánh một bang nghèo nhất của Miến Điện, với tỉ lệ nghèo đói lên tới 78%, cao hơn gấp 2 lần tỉ lệ nghèo đói bình quân của cả nước.
SỰ XUẤT HIỆN CỦA TRUNG QUỐC
Theo Dân biểu Sein Win của Miến Điện, nạn chiếm đoạt đất của nông dân đã xảy ra từ hai thập niên 1990 và 2000. Năm 2011 khi Tổng thống Thein Sein đã bắt đầu mở các cuộc điều tra, tiếp nhận 17.000 đơn khiếu nại, nhưng chưa giải quyết tới 1000 vụ. Như vây, việc chiếm đất của nông dân không phải là chuyện mới mẻ ở Miến Điện. Nhưng sự xuất hiện của Trung Quốc đã làm cho vấn đề trở nên nghiêm trọng.
1.- Thiết lập ống dẫn dầu thô và khí đốt
Đại diện của Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc (China National Petroleum Corporation, CNPC) cho biết từ trước đến nay, có khoảng 80% số dầu Trung Quốc mua từ Trung Đông đã phải từ Ấn Độ Dương đi qua eo biển Malacca của Mã Lai để vào Thái Bình Dương và đến Trung Quốc. Con đường này khá xa và có nhiều bất trắc, nên năm 2009 Trung Quốc đã ký với Miến Điện một hiệp ước thiết lập một hệ thống ống dẫn dầu thô và khí đốt từ bang Rakhine chạy đến tỉnh Vân Nam của Trung Quốc. Đường ống này dài khoảng 2.500 km, trong đó có 800km nằm trên lãnh thổ Miến Điện. Công ty PetroChina sẽ nhập khẩu dầu thô từ nước ngoài thông qua vịnh Bengal rồi bơm vào đường ống chuyển sang nhà máy lọc dầu ở tỉnh Vân Nam có công suất 260.000 thùng/ngày.
 Image result for Pipelines in Myanmar map
Ống dẫn dầu và khí đốt Miến Điện – Trung Quốc
Năm 1998, Miến Điện đã có thể xuất khẩu khí đốt tự nhiên và từ năm 2000 Miến Điện đã trở thành nước xuất khẩu nhiều khí đốt tự nhiên nhất vùng châu Á – Thái Bình Dương. Trung Quốc trở thành khách hàng chính về dấu khí của Miến Điện.
Hệ thống ống dẫn dầu thô và khí đốt khởi đầu từ bang Rakhine đi qua vùng Magway, vùng Mandalay và bang Shan, qua 18 thành phố lớn nhỏ và điểm cuối là thành phố Muse ở sát biên giới Miến Điện - Trung Quốc, đối diện thành phố Ruili thuộc tỉnh Vân Nam. Với hệ thống này, mỗi năm sẽ có 22 triệu tấn dầu thô và 12 tỷ mét khối khí đốt sẽ được chuyển đến Trung Quốc. “Công ty Đường ống dẫn Đông Nam Á” đã được thành lập với sự góp vốn của 4 quốc gia là Trung Quốc, Miến Điện, Ấn Độ và Nam Hàn. Số tiền đầu tư ban đầu là 2,54 USD.
Theo sự tính toán của Trung Quốc, sau khi hoàn thành, đường ống dẫn sẽ thu ngắn đường vận chuyển dầu thô của Trung Quốc từ Trung Đông và Châu Phi đến 1200 kilomet. Nó sẽ giảm chi phí vận chuyển so với đường qua eo biển Malacca và có khả năng đảm bảo an ninh năng lượng hơn.
Ngày 28.7.2013, các ngọn đuốc dầu khí bùng sáng trên những giàn khoan khổng lồ ngoài khơi miền Tây Bắc Vịnh Bengal ở Miến Điện đã gây ra một hiện tượng khác lạ. Cùng lúc đó, các đại diện bốn quốc gia Trung Quốc, Myanmar, Hàn Quốc và Ấn Độ cùng mở van đưa khí đốt từ Vịnh Bengal vào các đường ống dẫn dầu ở trạm phân phối đầu tiên là trạm Kyaukpyu.
2.- Thiết lập vùng kinh tế đặc biệt
Ngoài ra, Trung Quốc còn thiết lập Vùng kinh tế đặc biệt Kyauk Pyu nằm ở đảo Ramree, bang Rakhine. Vùng này rộng 1.600 hecta do công ty quốc doanh Trung Quốc CITIC phát triển, bao gồm một cảng biển trị giá 7,3 tỉ USD và một khu công nghiệp quy mô 2,3 tỉ USD, hứa hẹn sẽ đem lại 100.000 việc làm cho tiểu bang Rakhine..
3.- Phong trào chống đối nổi lên
Dĩ nhiên, khi lập một hệ thống ống dẫn dầu và khí đốt như vậy, quân đội Miến phải chiếm rất nhiều đất đai của dân chúng. Ngoài ra, hệ thống này cũng đang gây nguy hiểm cho vấn đề môi sinh nên các phong trào chống đối đã nổi lên ở các nơi có hệ thống ống dẫn đi qua, nhất là tại bang Rakhine.
 duong ong dan dau myanmar trung quoc co buoc dot pha moi
Ống dẫn dấu và khí đốt trên đất Miến Điện
Ông Wong Aung, người phát ngôn của Phòng Trào chống ống dẫn khí đốt Shwe, cho rằng tác động của công trình sẽ lan rộng khắp Miến Điện. Bà Lway Aye Nang nói Miến Điện đã triển khai hơn 6000 binh sĩ để tăng cường an ninh và ngăn chận các cuộc biểu tình của các cộng đồng ở địa phương.
Quân đội Độc lập Kachin (Kachin Independence Army, KIA) ở miền Bắc Miến Điện đã dùng lực lượng võ trang để chống lại kế hoạch của chính phủ. Ngày 23.10.2011, lấy danh nghĩa bảo đảm an toàn cho việc xây dựng đường ống dẫn dầu khí, quân đội chính phủ đã tấn công vào lãnh địa của KIA ở bang Shan. Đường ống dẫn đi ngang qua vùng này dài hơn 50 kilomet
Theo hãng Reuters, vào đầu tháng 9/2017, gần 400 người đã thiệt mạng trong vụ xung đột bạo lực ở vùng Tây Bắc Miến Điện. Những người thiệt mạng chủ yếu là người Hồi giáo Rohingya. Làn sóng bạo lực nổ ra từ ngày 25/8 khi những phần tử Hồi giáo thuộc cộng đồng người Rohingya thiểu số tấn công 24 đồn cảnh sát và đột nhập một căn cứ quân sự tại bang Rakhine.
Ông Antonio Guterres, Tổng Thư ký LHQ, cảnh báo về nguy cơ xảy ra thảm họa nhân đạo tại miền Tây Miến Điện do tình trạng xung đột bạo lực tại bang Rakhine.
XỬ DỤNG LÒNG HẬN THÙ TÔN GIÁO
Trước tình trạng chống đối nói trên, Miến Điện quyết định dùng là bài tôn giáo để loại người Rohingya ra. Xử dụng lá bài tôn giáo vốn là sở trường của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đã từng dùng lá bài này để tạo ra các biến loạn dưới thời VNCH trước 1975 và trong những năm vừa qua ở Trung Đông. Miến Điện cũng chỉ bắt chước Hoa Kỳ.
Một nhà sư cực đoan bài Hồi giáo là Ashin Wirathu đã xuất hiện với Phong Trào 969. Ông giải thích ba con số 969 là Tam Bảo, tức Phật, Pháp, Tăng. Trong một buổi “thuyềt pháp” tại làng Meiktila, trước hàng trăm tín đồ, nhà sư hỏi: «Lấy chó hay lấy người Hồi giáo?»… Theo nhà sư, «chó không bao giờ buộc người khác phải cải đạo như Hồi giáo». Tại ngôi làng này, khoảng năm chục người theo đạo Hồi đã bị thảm sát hai năm trước đó. Người ta gọi ông là Hitler của Miến Điện.
 Các vụ đụng độ giữa các nhóm Phật tử cuồng tín và người Hồi Giáo đã khiến cho 650 người thiệt mạng và hàng ngàn người phải di tản, nhiều hàng quán bị cướp phá, và nhiều làng mạc bị tàn phá bình địa.
 Image result for Images of Rohingya refugees
Người Rohingya"Những kẻ bị ngược đãi nhất trên hành tinh" !
Vào ngày 3.6.2017, 10 người Hồi giáo ở ngoài địa phận tới hành hương, đã bị kéo lôi ra khỏi xe bus ở phố Rakhine, Taunggoke, chừng 200 dặm về phía tây Rangoon (thủ đô cũ), và họ bị đánh đập cho tới chết bởi một nhóm hơn 100 thanh niên Phật tử. Tội ác xảy ra giữa thanh thiên bạch nhật, trước mắt của công chúng và nhân viên cảnh sát địa phương…
Liên Hiệp Quốc và Mỹ đã mô tả các hành động của quân đội Miến Điện là "thanh lọc sắc tộc," và các tổ chức nhân quyền cáo buộc lực lượng an ninh Miến Điện đã thực hiện những hành vi tàn bạo, bao gồm hãm hiếp, phóng hỏa và giết người. Báo chí quốc tế gọi người Rohingya là "Những kẻ bị ngược đãi nhất trên hành tinh" (The most persecuted people on the Earth).
Lá bài tôn giáo của các tướng lãnh Miến Điện xem ra đã thành công: Hàng loạt người Rohingya đã phải bỏ nước chạy qua Bangladesh vừa bằng đường biển vừa bằng đường bộ, số người bị chết rất cao. Con số người tị nạn đã lên trên 650.000 người, đang phải sống trong một tình trạng rất tồi tệ.
GIẢI PHÁP NÀO CHO VẤN ĐỀ?
Vào cuối tháng 9/2017, Liên Hiệp Quốc nói bạo lực ở Miến Điện nhằm vào người sắc tộc Rohingya trở nên "tình trạng tị nạn khẩn cấp nhất thế giới" và là "cơn ác mộng nhân đạo". Có lẽ người lo lắng nhiều cho vấn đề người Rohingya là Trung Quốc, vì nếu không có giải pháp ổn thỏa nào, Liên Hiệp Quốc và Mỹ có thể sẽ áp dụng các biện pháp chế tài đối với Miến Điện và Trung Quốc sẽ bị vạ lây. Tình trạng bất ổn và những cuộc biểu tình phản đối của dân địa phương đã làm chậm tiến trình của dự án, khiến số tiền đầu tư ban đầu là 2,54 tỉ đang tăng lên tới hơn 5 tỉ USD.
Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị đã đến thăm Myanmar và đề xuất chương trình giải quyết xung đột biên giới giữa Miến Điện với Bangladesh. Hôm 23.11.2017, Bà Cố vấn Aung San Suu Kyi và Ngoại trưởng Bangladesh Abul Hassan Mahmood Ali đã ký kết một bản ghi nhớ (memorandum) về vấn đề hồi hương người tỵ nạn Rohingya. Nhưng ít ai tin chương trình này sẽ được thực hiện nghiêm túc.
 Thông tín viên Sarah Bakalogou của RFI từ Rangoon cho biết theo quy định, để quay trở về Miến Điện, chính quyền buộc những người tị nạn Rohingya phải trình giấy tờ chứng minh họ đã cư trú tại Miến Điện. Rất ít người có thể chứng minh được các giấy tờ này. Vấn đề thứ hai là họ sẽ trở vê đâu và cuộc sống sẽ như thế nào, an ninh của họ có được bảo đảm không? Đa số nhà cửa của họ đã bị quân đội đốt sạch, đất đai của họ đã bị cướp..., họ sẽ ở đâu và làm gì để sinh sống, có được đi lại tự do hay không? Liên Hiệp Quốc có thể làm được gì tại đây?
Chính quyển Miến Điện tuyên bố lơ lửng: “Miến Điện sẽ nhờ Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn giúp đỡ nếu cần, và vào một thời điểm thích hợp”. Nói cách khác, Miến Điện không muốn LHQ kiểm soát hay theo dõi chương trình “hồi hương” người tỵ nạn Rohingya, họ chỉ muốn được cấp một số trợ cấp, còn họ muốn làm gì thì làm. Nhiều người tin rằng chương trình này chỉ là một chiêu bài trấn an dư luận quốc tế, một kế hoãn binh của Miến Điện.
Trước khi đến Miến Điện, ngày 18.11.2017 Đức Giáo Hoàng Francis đã gởi dến người dân Miến Điện một thông điệp trong đó nhấn mạnh: “Tôi sẽ đến để loan báo Tin Mừng của Đức Kitô, một thông điệp của hòa giải, tha thứ, và hòa bình.” Hôm 28.11.2017, tại Naypyidaw, Miến Điện, Đức Giáo Hoàng kêu gọi «cố gắng chấm dứt bạo động, tạo dựng lòng tin và bảo đảm tôn trọng quyền lợi của tất cả những ai coi mảnh đất này là ngôi nhà của mình."
Mặc dầu tự xưng là theo đạo “thanh tâm tịnh” nhưng các nhà lãnh đạo Miến Điện hiện nay đang hành động theo “ác tâm động”, bất chấp Luật Nhân Quả, nên người Rohingya rất khó thoát khỏi nạn diệt chủng. Liệu rồi LHQ và Mỹ sẽ làm được gì để cứu những người Rohingya?
Ngày 30.11.2017
Lữ Giang