Search This Blog

Friday, October 20, 2017


Ai vi phạm Hiệp định Genève (20-7-1954)?

Trần Gia Phụng 

 

...Trong khi chính phủ QGVN rồi VNCH tôn trọng hiệp định Genève, thi hành nghiêm túc tất cả những quy định trong hiệp định Genève, thì nhà nước VNDCCH đã có kế hoạch vi phạm hiệp định, ngay từ trước khi hiệp định được ký kết và cả sau khi hiệp định được ký kết. Đặc biệt VNDCCH vi phạm hiệp định có “biên nhận” do Trung Cộng cung cấp. Năm 1973, chuyện vi phạm hiệp định Paris lại tái diễn. Do đó, chẳng những “đừng tin những gì cộng sản nói” (lời tổng thống Nguyễn Văn Thiệu), mà còn đừng tin những gì cộng sản viết, và cũng đừng tin những gì cộng sản cam kết, dù cam kết trên giấy tờ như hiệp định Genève...

*

Gần đây, nhân chuyện phim The Vietnam War ra mắt, có nhiều người bàn luận sôi nổi. Có người còn đặt câu hỏi ai đã vi phạm hiệp định Genève để đưa đến chiến tranh?

Hiệp định Genève ngày 20-7-1954 chia hai Việt Nam ở vĩ tuyến 17. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) ở phía bắc, thường được gọi là Bắc Việt Nam (BVN). Quốc Gia Việt Nam (QGVN), đổi thành Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ngày 26-10-1955, ở phía nam, thường được gọi là Nam Việt Nam (NVN).

1.- Hiệp định Genève không đề cập chuyện thống nhất đất nước

Danh xưng chính thức đầy đủ của hiệp định Genève về Việt Nam là Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, được viết bằng hai thứ tiếng Pháp và Việt, có giá trị như nhau. Ngoài Pháp và VNDCCH tức Việt Minh, các nước khác cùng ký vào hiệp định Genève còn có Anh, Liên Xô, Trung Cộng, Lào, Cambodia. Hai chính phủ QGVN và Hoa Kỳ không ký vào bản hiệp định nầy.

Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam gồm có 6 chương, 47 điều, chỉ là một hiệp định có tính cách thuần túy quân sự, hai bên ngưng chiến đấu, rút quân về vị trí chỉ định trong hiệp định, thời biểu rút quân... Hiệp định không đưa ra một giải pháp chính trị nào cho tương lai Việt Nam, nghĩa là hoàn toàn không đề cập đến chuyện tổng tuyển cử thống nhứt đất nước.

Gần một năm sau, thủ tướng QGVN Ngô Đình Diệm tuyên bố trên đài phát thanh Sài Gòn ngày 6-7-1955 rằng chính phủ QGVN không ký các văn kiện Genève nên không bị ràng buộc phải thi hành hiệp định nầy. Chính phủ QGVN không phản đối nguyên tắc tổng tuyển cử, nhưng không có bằng chứng cho thấy VNDCCH đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi Quốc tế Cộng sản. (John S. Bowman, The Vietnam War, Day by Day, New York: The Maillard Press, 1989, tr. 17.)

Ngày 19-7-1955, thủ tướng VNDCCH là Phạm Văn Đồng gởi thư cho thủ tướng Ngô Đình Diệm yêu cầu mở hội nghị hiệp thương bắt đầu từ ngày 20-7-1955, như đã quy định trong hiệp định Genève ngày 20-7-1954, để bàn về việc tổng tuyển cử nhằm thống nhứt đất nước. Ngày 10-8-1955, thủ tướng Ngô Đình Diệm bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng, và xác nhận lại chủ trương của chính phủ QGVN đã được đưa ra ngày 6-7-1955. Quốc Gia Việt Nam được đổi thành Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ngày 26-10-1955.

Tuy chính phủ VNCH nhiều lần từ chối, thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng vẫn nhắc lại đề nghị nầy hằng năm vào các ngày 11-5-1956, 18-7-1957, và 7-3-1958, nhằm chứng tỏ VNDCCH quan tâm đến chuyện thống nhứt đất nước, và tuyên truyền với các nước trên thế giới. Lần cuối, tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm, bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng vào ngày 26-4-1958.

Hiệp định Genève hoàn toàn không đề cập đến chuyện tổng tuyển cử thống nhất đất nước, nên luận điệu của VNDCCH cho rằng VNCH không hiệp thương để tổng tuyển cử, vi phạm hiệp định Genève, là luận điệu vu cáo trắng trợn. Luận điệu vu cáo nầy được cộng sản lập đi lập lại nhiều lần, cho đến ngày nay trong nước vẫn còn tồn tại luận điệu vu cáo nầy.

2.- Việc tổng tuyển cử được đề cập trong bản tuyên bố không chữ ký

Sau khi Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam cùng các hiệp định đình chỉ chiến sự ở Lào và Cambodia được ký kết, các phái đoàn tham dự hội nghị Genève họp tiếp vào ngày 21-7-1954, nhằm bàn thảo bản "Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương".

Bản tuyên bố gồm 13 điều; quan trọng nhứt là điều 7, ghi rằng: "Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ phải làm cho nhân dân Việt Nam được hưởng những sự tự do căn bản, bảo đảm bởi những tổ chức dân chủ thành lập sau tổng tuyển cử tự do và bỏ phiếu kín. Để cho việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý nguyện, cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956 dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự. Kể từ ngày 20-7-1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó." (Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, Đông Dương 1945-1973, Sài Gòn: Trình Bày, 1973, tr. 53. Bản Pháp văn: google.com.fr., chữ khóa: Déclaration finale de la Conférence de Genève en 1954.)

Chủ tịch phiên họp là Anthony Eden (ngoại trưởng Anh) hỏi từng phái đoàn, thì bảy phái đoàn là Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Cộng, VNDCCH, Lào và Cambodia trả lời miệng rằng "đồng ý". Tất cả đều trả lời miệng, không phái đoàn nào ký tên vào bản tuyên bố, nghĩa là bản tuyên bố không có chữ ký.

Đây chỉ là lời tuyên bố (déclaration) của những phái đoàn, có tính cách dự kiến tương lai Việt Nam. Một văn kiện quốc tế không có chữ ký, thì không thể là một hiệp ước, vì không ai ký tên cam kết để thi hành những điều đã cùng nhau thỏa ước (nên mới gọi là hiệp ước). Bản tuyên bố không chữ ký chỉ có tính cách gợi ý, hướng dẫn mà thôi. Hơn nữa, những hiệp định với đầy đủ chữ ký mà còn bị CSVN vi phạm trắng trợn, huống gì là một bản tuyên bố không chữ ký? (Ở đây xin đưa ra một ví dụ đơn giản: hai người nam nữ tuyên bố kết hôn mà không ký kết hôn ước thì có hợp pháp hay không?)

Phái đoàn QGVN và phái đoàn Hoa Kỳ không ký vào Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày 20-7-1954 và cũng không đồng ý bản "Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương" ngày 21-7-1954. Hai phái đoàn QGVN và Hoa Kỳ đã đưa ra tuyên bố riêng của mỗi phái đoàn để minh định lập trường của mình.

Chính phủ QGVN dưới quyền quốc trưởng Bảo Đại và thủ tướng Ngô Đình Diệm thi hành đúng đắn hiệp định Genève ngày 20-7-1954, tập trung và rút toàn bộ lực lượng QGVN về miền Nam vĩ tuyền 17 đúng thời hạn và đúng theo quy định của hiệp định Genève. Điều nầy chẳng những báo chí lúc bấy giờ đã trình bày, mà cho đến nay, không có tài liệu nào cho thấy là chính phủ QGVN đã vi phạm hiệp định Genève.

Riêng bản "Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève..." ngày 21-7-1954 không có chữ ký, không ai ký tên cam kết sẽ thi hành, chỉ có tính cách khuyến cáo mà thôi, nên không bắt buộc VNCH phải thi hành. Vì vậy, cũng không thể vu cáo Việt Nam Cộng Hòa và Tổng Thống Ngô Đình Diệm không thi hành hiệp định Genève, rồi động binh gây chiến.

3.- Ai vi phạm Hiệp định Genève?

Muốn biết ai vi phạm hiệp định Genève, xin trở lại thời gian hội nghị Genève. Hội nghị khai mạc ngày 8-5-1954, kéo dài cho đến ngày 21-7-1954, có thể chia thành hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhứt từ ngày 8-5 đến ngày 20-6-1954; giai đoạn thứ hai từ ngày 10-7-1954 đến ngày 21-7-1954.

Giữa hai giai đoạn là thời gian 20 ngày tạm nghỉ để các phái đoàn về nước tham khảo và nghỉ ngơi. Trong thời gian nầy, xảy ra ba sự kiện quan trọng: 1) Tại Pháp, Mendès France được cử làm thủ tướng ngày 17-6-1954. Ông hứa hẹn với dân chúng Pháp sẽ giải quyết vấn đề Đông Dương trong vòng bốn tuần lễ, và sẽ ký kết hiệp ước đình chiến chậm nhứt là ngày 20-7-1954, nghĩa là Pháp dứt khoát rời bỏ Việt Nam. 2) Tại Việt Nam, Ngô Đình Diệm được quốc trưởng Bảo Đại đề cử giữ chức thủ tướng QGVN. Ông Diệm nhận chức ngày 7-7-1954, thường được gọi là ngày “Song thất”. 3) Thủ tướng và là trưởng phái đoàn Trung Cộng tại hội nghị Genève, Châu Ân Lai về nước trong thời gian nghỉ họp, mời Hồ Chí Minh (HCM), chủ tịch VNDCCH, bí mật gặp nhau tại Liễu Châu thuộc tỉnh Quảng Tây (Trung Hoa), từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954. Lúc đó, dư luận thế giới hoàn toàn không hay biết đến hội nghị quan trọng nầy.

Hội nghị Liễu Châu giữa Châu Ân Lai và HCM diễn ra từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954, tức trước khi hiệp định Genève được ký kết. Tháp tùng theo HCM có Võ Nguyên Giáp và Hoàng Văn Hoan. Vào họp, Châu Ân Lai báo cho phái đoàn Việt Minh biết có ba cách để đối phó với tình hình mới: 1) Thượng sách là hòa. 2) Trung sách là đánh rồi hòa. 3) Hạ sách là đánh tiếp.

Châu Ân Lai khuyên HCM và Việt Minh chấp nhận thượng sách là hòa để tránh mở rộng chiến tranh, vì nếu mở rộng chiến tranh, Hoa Kỳ có thể can thiệp. Theo Châu Ân Lai, Việt Minh nên giải quyết riêng chuyện Việt, Miên, Lào, đồng thời chia hai Việt Nam ở khoảng vĩ tuyến 16. Với kinh nghiệm Trung Cộng qua chiến tranh Triều Tiên, Châu Ân Lai khuyên HCM không nên đòi hỏi thái quá, khiến Pháp sẽ ở vào thế phải nhờ Hoa Kỳ can thiệp. Cũng theo Châu Ân Lai, trong trường hợp Hoa Kỳ can thiệp vào chiến tranh Việt Nam, với binh lực hùng hậu, Hoa Kỳ có thể lật ngược tình thế như trong chiến tranh Triều Tiên trước đây. Như vậy, theo Châu Ân Lai, Việt Minh sẽ đuổi được kẻ địch yếu (Pháp), nhưng lại rước kẻ địch mạnh (Hoa Kỳ). Hơn nữa, cũng theo Châu Ân Lai, Việt Minh nên giúp thủ tướng Mendès-France để ông ta không bị quốc hội Pháp lật đổ. Nếu Mendès France không thành công, chính phủ Mendès France sẽ bị lật đổ, thì có thể bất lợi cho phía cộng sản. (Tiền Giang, Châu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Châu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, bản dịch của Dương Danh Dy, tựa đề là Vai trò của Châu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt". Nguồn: Internet).

Châu Ân Lai còn bàn thêm rằng sau khi chia hai Việt Nam, Việt Minh rút quân về phía Bắc Việt Nam (BVN), nhưng không có nghĩa là Việt Minh rút hết võ khí, mà võ khí nào cất giấu được, thì phân tán mà cất giấu để tránh bị phát hiện. Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt Minh chấp nhận thi hành kế hoạch của Châu Ân Lai.

Tại hội nghị nầy, Võ Nguyên Giáp đưa ra kế hoạch là sẽ chỉ rút những người làm công tác chính trị bị lộ diện; phần còn lại thì ở lại để chờ đợi thời cơ nổi dậy. Số ở lại có thể đến 10,000 người. Việt Minh cộng sản chẳng những chôn giấu võ khí, lưu 10,000 cán bộ, đảng viên ở lại Nam Việt Nam (NVN), mà còn gài những cán bộ lãnh đạo cao cấp ở lại NVN như Lê Duẩn, Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Cao Đăng Chiếm... (Huy Đức, Bên thắng cuộc, tập I: Giải phóng, New York: Osinbook, 2012, tt. 271-273).

Sau hội nghị Liễu Châu, trong báo cáo của HCM tại hội nghị Ban chấp hành Trung ương đảng Lao Động ngày 15-7-1954, HCM chỉ nhắc sơ là có gặp và trao đổi với thủ tướng Châu Ân Lai. Việt Minh không công khai loan báo kế hoạch của Châu Ân Lai cũng như kế hoạch mai phục cán bộ ở lại miền Nam của Võ Nguyên Giáp để chờ đợi thời cơ nổi dậy. Lý do đơn giản là nếu công khai, thì sẽ bị lộ ra âm mưu vi phạm hiệp định Genève. Về sau, khi ấn hành lại bản báo cáo nầy trong Hồ Chí Minh toàn tập tập 7, Nxb Chính Trị Quốc Gia, thì ban biên tập chỉ chú thích sơ lược cuộc gặp gỡ ở cuối trang 315.

Về phía Châu Ân Lai, sau khi hội nghị Genève kết thúc ngày 21-7-1954, thì Trung Cộng mới đăng lên Nhân Dân Nhật Báo ở Bắc Kinh ngày 8-8-1954 bản“Tuyên bố về cuộc hội đàm Trung-Việt của chính phủ Trung Quốc”, được dịch nguyên văn như sau:

“Thủ tướng nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa Châu Ân Lai và chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh đã cử hành hội đàm tại biên giới Trung-Việt từ ngày 3 đến ngày 5 tháng 7 năm 1954. Thủ tướng Châu Ân Lai và chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao đổi ý kiến đầy đủ về vấn đề khôi phục hòa bình tại Đông Dương và các vấn đề có liên quan khác. Tham gia hội nghị còn có: Hoàng Văn Hoan, đại sứ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại Trung Quốc và Kiều Quán Hoa, cố vấn đoàn đại biểu nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tại hội nghị Genève.” (Tiền Giang, sđd., bản dịch đã dẫn, chương: "Hội nghị Liễu Châu then chốt”. Nguồn: Internet) Bản tuyên bố nầy cũng chỉ xác nhận có cuộc hội họp giữa Châu Ân Lai và HCM mà không đề cập đến nội dung chi tiết, như việc chôn giấu võ khí, hay cài cán bộ ở lại NVN.

Kết luận

Như thế, rõ ràng trong khi chính phủ QGVN rồi VNCH tôn trọng hiệp định Genève, thi hành nghiêm túc tất cả những quy định trong hiệp định Genève, thì nhà nước VNDCCH đã có kế hoạch vi phạm hiệp định, ngay từ trước khi hiệp định được ký kết và cả sau khi hiệp định được ký kết. Đặc biệt VNDCCH vi phạm hiệp định có “biên nhận” do Trung Cộng cung cấp.

Năm 1973, chuyện vi phạm hiệp định Paris lại tái diễn. Do đó, chẳng những “đừng tin những gì cộng sản nói” (lời tổng thống Nguyễn Văn Thiệu), mà còn đừng tin những gì cộng sản viết, và cũng đừng tin những gì cộng sản cam kết, dù cam kết trên giấy tờ như hiệp định Genève.

20.10.2017


Trần Gia Phụng
__._,_.___

Vụ Trần Kiều Ngọc : tri ân khách tri âm

BS.Trần Văn Tích

 
Tôi hơi bất ngờ vì không dè bài viết của tôi liên quan đến nhóm Trần Kiều Ngọc-Nancy Nguyen lại được nhiều người đọc và nhất là được nhiều người góp ý. Chúng ta suy tư ra sao thì viết ra như thế, đương nhiên phải có kẻ bênh người chống và chúng ta hẳn đều cùng đồng ý với nhau là trong thảo luận, phải dùng lý luận để phản bác lý luận. Tôi ghi nhận là có một số bài viết bày tỏ sự bất đồng ý kiến với tôi nhưng không dùng lý luận để phản bác lý luận của tôi. Trái lại, hoặc người lên tiếng đưa ra những bình luận không dính dáng gì đến lý luận do tôi trình bày, hoặc nêu lên những ý kiến không rành mạch khiến tôi rất tiếc không thể lĩnh hội được. Tôi xin nêu trường hợp cụ thể của Ông Đỗ Xuân Sơn qua trích dẫn ba ngữ đoạn do Ông Đỗ Xuân Sơn chấp bút.
Ông Đỗ Xuân Sơn bình luận câu văn của tôi “trách cứ thế hệ cha ông đã thua trận để cho con cháu phải lưu vong là trách oan“ như sau :
Câu này có 3 phần: 1.- Thua trận, chúng ta có “thắng trận không”? Tính từ 4-75 đến 2017. 2.- Lưu Vong, chúng ta không trốn ra ngoài để tái chiến đấu hay đấu tranh chính trị, thử hỏi có phải là Lưu Vong không? 3.- Trách oan, hơi đúng. Các cháu trách móc như trẻ con trách cha mẹ không cho tiền mua kẹo cũng đâu phải là hư hỏng gì.
Bản thân tôi khi thai nghén ra câu văn trên chỉ trình bày nó thành một khối hoàn chỉnh duy nhất, tôi không hiểu sao Ông Đỗ Xuân Sơn lại chẻ nó ra thành ba phần. Tôi càng không hiểu câu hỏi liên quan đến sự kiện chúng ta lưu vong do Ông Đỗ Xuân Sơn nêu ra. Cuối cùng tôi chứng minh qua lịch sử dân tộc và qua lịch sử thế giới là trách cứ cha ông đã thua trận khiến con cháu phải lưu vong là trách oan thì ông Đỗ Xuân Sơn cho là “hơi đúng“. Đối với phần thứ ba này thì tôi xin thành thật cám ơn Ông Đỗ Xuân Sơn.
Tôi nhận thức rằng “Giới trẻ trong nước thừa biết rằng họ cần một sinh viên vô danh đứng thẳng người ưởn ngực chống chiếc xe tăng đang lù lù nghiến xích lăn bánh tiến tới tại Công trường Thiên an môn vào mùa xuân 1989“ thì được Ông Đỗ Xuân Sơn giảng giải thêm rằng “(và nay là 2017, Tàu cộng vẫn mạnh, và mạnh hơn khi tiến chiếm xây căn cứ quân sự ngoài Trương Sa).“. Lại một lần nữa, xin cám ơn Ông Đỗ Xuân Sơn đã chỉ dẫn thêm cho kẻ viết bài biết về sức mạnh quân sự hiện thời của Tàu cộng tuy rằng Ông lạc đề; đã thế Ông lại có phần lãng trí không cho biết giới trẻ trong nước có cần một sinh viên vô danh chống xe tăng hay không, như tôi lập luận.
Tôi tâm tình rằng không biết hai cô thanh nữ có biết đến chân lý “Không ai đem thành bại luận anh hùng“ hay không nhưng những người cao tuổi đang ủng hộ hai cô thì chắc chắn phải biết.“ Ông Đỗ Xuân Sơn bèn nêu thắc mắc : “Xin hỏi BS “chân lý của BS ở đâu, là cái gì?”. Tôi đâm hoảng vì không thể hiểu nổi là mình viết văn ra làm sao mà khi mình nhắc đến chân lý “không ai đem thành bại luận anh hùng“ thì có người đọc lại nêu ngay câu hỏi chân lý của mình là cái gì! (Tôi không dùng hai chữ “chân lý“ như một khái niệm triết học trừu tượng nhằm mô tả sự phản ảnh sự vật, hiện tượng của hiện thực vào nhận thức con người đúng như chúng tồn tại trong thực tế khách quan mà chỉ dùng hai chữ “chân lý“ một cách dung dị, thô sơ theo kiểu trình bày cái lẽ thiệt của sự vật, tương tự như khi Nguyễn Bá Học nói :"Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi...“ hoặc như khi Bà Thủ tướng Đức Angela Merkel bảo “Chế độ cộng sản làm cho con người trở thành gian dối“. Tôi đánh giá rằng hai danh ngôn, một của người Việt chúng ta, một của người Đức là hai chân lý vì cả hai câu đều thật, đều đúng).

 
Có độc giả hỏi tôi : tôi có kết án cô Luật sư Trần Kiều Ngọc hay không. Tôi không kết án bất cứ ai, chỉ kết án kết tội cộng sản mà thôi. Với hai cô Trần Kiều Ngọc và Nancy Nguyen, tôi e ngại rằng hai cô sẽ khó thành công khi sử dụng ngôn ngữ, áp dụng văn phong, vận dụng lý luận như hai Cô đang làm.
Cô Nancy Nguyen xếp hạng cha chú là chỉ có trình độ “di dân tư tưởng“ trong khi tuổi trẻ lớn lên nơi hải ngoại được cô đề cao là “bản xứ tư tưởng“. Cách dụng ngữ của Cô tưởng rằng sáng tạo nhưng thực chất thì Cô đã dùng tiếng Việt sai văn phạm khiến ai còn nghĩ đến tiếng nói dân tộc đều phải thở dài, kể cả những người không quen thở dài. Huống chi khi Cô Nancy Nguyen đặt đầu đề cho bài tham luận chính trị của mình là “Thư cuối gửi cô chú bác của Nancy Nguyen“ thì Cô lại chứng tỏ rằng cái gọi là “bản xứ tư tưởng“ mà Cô từng thấm nhuần không hề dân chủ chút nào cả : Cô mạnh mẽ gián tiếp khép tổ tiên vào tội thua giặc Tàu giặc Pháp để cho dân tộc trầm luân; Cô bốp chát trực tiếp phỉ báng thế hệ cha chú là thua giặc cộng để cho thế hệ hậu sinh phải lưu vong. Kết tội và phỉ báng tha nhân nhưng Cô lại ngang nhiên tuyên bố rằng thư Cô viết gửi cô chú bác là thư cuối cùng, như thế có nghĩa là Cô độc quyền nguyền rủa, xỉ vả tha nhân nhưng đồng thời Cô cũng tự dành cho mình đặc quyền tiên nghiệm là bản văn kết án qui tội của Cô là bản văn chung kết, chớ có ai hòng nói năng gì thêm nữa!
Chuyện nhóm Trần Kiều Ngọc-Nancy Nguyen thực ra không có gì mới lạ. Từng có kẻ rêu rao không chống cộng chỉ chống mafia. Từng có người đòi dẹp quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà nền vàng ba sọc đỏ, đòi xoá quốc ca Việt Nam Cộng Hoà Tiếng gọi Công dân để dễ gần gụi giới trẻ. Những chủ trương như vậy chỉ mang tính lửa rơm, gây xáo trộn cộng đồng một thời gian ngắn rồi tắt lịm.
Không thể bảo chỉ chống ác chứ không chống cộng vì nói như vậy nghe vô lý; có thế thôi. Chỉ chống ác thì chẳng lẽ lại đi dốc sức chống Hồi giáo quá khích chuyên khủng bố, thì chẳng lẽ lại nhè quay sang chống các định chế bất nhân như án tử hình, thì chẳng lẽ lại lo bao quát chống những nghi thức bán khai như cắt bỏ âm vật ở phụ nữ? Nói “chỉ chống cái ác“ là nói vu vơ, nói bao đồng, nói lung tung trong khi chống cộng lại phải dứt khoát, phải rành mạch, phải rõ ràng.
Cuối cùng, tôi xin cảm tạ các Diễn đàn và các Cá nhân đã chuyển tiếp rộng rãi bài viết của tôi, khiến nó gây được phần nào tiếng vang trong cộng đồng người Việt tỵ nạn chống cộng. Đáng lẽ tôi phải có lời tri ân đến từng vị đã ngỏ lời khích lệ nhưng quả sức người có hạn, tôi không thể nào lên tiếng đáp ứng những lời tán đồng của mỗi người. Thôi thì đành nhờ internet chuyển lời tri ân đến tất cả khách tri âm, cho dù người khách tri âm liên hệ có không đồng ý với lập trường của bản thân tôi đi nữa.
20.10.2017

Quỹ công lý cho ký giả Nguyễn Đạm Phong

 
 
 
 
 
 
Rate This

Những điểm mới xung quanh cuộc họp báo ở Houston của con trai cố ký giả Đàm Phong

Vụ án tiêu diệt Việt Tân và các vòi bạch tuộc của ông Nguyễn Thanh Tú, con trai cố ký giả Đạm Phong đã đi đến hồi kết. Cuộc họp báo ở Houston ngày 2/10/2017 vừa qua đã được truyền thông KBCHN, Bolsa TV… và bản thân ông Nguyễn Thanh Tú đã công bố trên blog cá nhân đã cho thấy, họ đã đạt được kỳ vọng và bước ngoặt lớn trên con đường đòi lại công lý cho cha ruột – cố nhà báo Đạm Phong, một trong 5 nhà báo người Việt bị tổ chức sát thủ K9 của Việt tân giết hại.
Trong clip kể về chặng đường đến với vụ kiện này, nhà báo Nguyễn Phương Hùng đã tiết lộ, tình cờ ông AC Thompson trên chặng đường tìm công lý cho một nhà báo phương Tây bị giết hại đã được một người Việt tiết lộ, có 5 nhà báo người Mỹ gốc Việt bị tổ chức khủng bố Việt Tân giết hại chưa tìm được công lý suốt mấy chục năm qua, lập tức đã thu hút ông Thompson quyết tâm vào cuộc. Đây là con đường dẫn ông nhà báo BPS đến với Nguyễn Thanh Tú, con trai một trong 5 ký giả và sự ra đời của bộ phim “Terror in Little Saigon” được ông Hùng ví như “báo hiệu cái chết của Việt tân” đã thu hút chính giới và người dân Hoa Kỳ ủng hộ con đường lấy lại công lý cho 5 nhà báo bị sát hại ngay trên đất Mỹ này.
Xem các clip của nhà báo Nguyễn Phương Hùng:
(1) Ông Nguyễn Phương Hùng tường thuật và bình luận về buổi họp báo Nguyễn Thanh Tú kiện Việt Tân https://www.youtube.com/watch?v=vel_u8x9mCk
(2) Việt tân Hoàng Cơ Minh đã lừa FBI và Bộ Quốc phòng Mỹ
https://www.youtube.com/watch?v=E7L1XwfxmJ0
Từ khi công bố bộ phim đến nay, ông Nguyễn Thanh Tú đã chính thức bắt tay vào điều tra về Việt tân và các vòi bạch tuộc của nó, tìm cho mình con đường để “bóp chết” cái đầu của con bạch tuộc hiệu quả nhất. Chặng đường đó, rất may mắn cho ông Tú, ông được sự giúp đỡ nhiệt tình từ những người “đồng nghiệp” của cha mình ở FBI, CIA, được sự vào cuộc của CPJ và sự ủng hộ của các hãng truyền thông lớn ở Mỹ như NewYork Times, Washington Post, Propublica….
Bàn về cách thức “bóp chết” Việt tân, ông Nguyễn Thanh Tú đã được cựu nhân viên FBI từng theo đuổi vụ án đã tư vấn ông Tú nên chọn đánh vào vấn đề trốn thuế, gian lận thuế của Việt tân. Về mặt pháp lý, trốn thuế là “lập trình” hành pháp hiệu quả nhất để huy động cả bộ máy hành chính rất nặng nề của Mỹ vào cuộc và bộ máy đó sẽ làm việc tích cực để thu hồi tiền thuế đó. Về mặt chính trị, ai cũng hiểu Việt Tân tồn tại và công khai hoạt động thao túng cộng đồng người Việt ở hải ngoại phải có sự hậu thuẫn của Bộ Quốc phòng, CIA, FBI và hệ thống truyền thông “tâm lý chiến” bằng tiếng Việt của Mỹ và phương Tây nuôi dưỡng, nên kiện về ám sát nhà báo hay kiện về tổ chức khủng bố đối với Việt tân là “BẤT KHẢ THI”.
Năm 2016, dư luận đã xôn xao về “đòn hiểm”, ông Nguyễn Thanh Tú đã đăng ký với chính quyền liên bang Mỹ cái tên “Việt Tân” hay “Chính phủ Canh tân cách mạng đảng” hợp pháp và yêu cầu tất cả các hãng gây quỹ, các cơ quan truyền thông nước ngoài không được sử dụng cái tên “Việt tân” hay “Chính phủ Canh tân cách mạng đảng” bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh nếu không nhận được sự cho phép của ông. Lập tức bộ phận truyền thông, đầu não của Việt Tân nhạy dựng lên “đòi trả lại tên cho em”, tuyên bố kiện ông Tú ra tòa án Mỹ và ông Tú đã “tự nguyện” chấp nhận thua cuộc. Tại cuộc họp báo tại Houston, ông Tú đã tiết lộ lý do thua kiện của mình: Việt tân đã ra đời cùng với Mặt trận Hoàng Cơ Minh, Mặt trận đó chỉ là một trong những hoạt động nhất thời của Việt tân (kiểu Việt tân là “bộ máy lãnh đạo”, Mặt trận chỉ là một bộ phận hoạt động vũ trang chống Việt Nam của Việt Tân); tuy nhiên nó lại không đăng ký hoạt động pháp lý cũng như chịu sự kiểm soát của luật pháp Mỹ ở Mỹ để trốn thuế, để làm giàu cho nhân sự điều hành của nó, bởi vậy trước khi chính thức “ra đòn” với Việt tân ông Tú phải chứng minh “Việt tân là có thật, đang tồn tại và hoạt động ở Mỹ” nên phải kích cho bộ máy của nó ra mặt, biến Tòa án Mỹ là người làm chứng cho sự tồn tại của Việt Tân, và hiện luật sư của ông Tú phải đòi bằng được Quyết định “thua cuộc” của phiên tòa này để làm căn cứ cho vụ kiện Việt tân và tất cả các vòi bạch tuộc của nó là SBTN, VOICE, PAC đều đã bị ông Tú nộp đơn ra Tòa điều tra về tội trốn thuế. Chính phủ Hoa Kỳ và các cơ quan hành pháp của nó đã vào cuộc điều tra về các cáo buộc của ông Tú.
Một số nội dung bên lề khác của cuộc họp báo, đó là bộ phim 3 phần về việc ông Tú trở về Việt Nam tiếp xúc, phỏng vấn các nhân chứng từng là “kháng chiến quân” của Mặt trận Hoàng Cơ Minh đã bị Nhà nước Việt Nam kết án. Hai trong số nhân chứng được ông Tú tung ra bằng phỏng vấn đã xác nhận: trước khi xâm nhập vũ trang về nước, họ đã buộc phải tuyên thệ làm đảng viên Việt tân! Đồng thời kể về các “tội ác” của Hoàng Cơ Minh ở “chiến khu” và sự rũ bỏ trách nhiệm của Việt tân với các thành viên – nạn nhân của mình. Những nhân chứng này sẽ được ông Tú đưa đến Mỹ để làm chứng trước tòa án trong vụ kiện của ông để chứng minh Việt tân tồn tại, ra đời cùng Mặt trận, đã trốn thuế hơn hơn 30 năm qua và bản án xử lý tội phạm trốn thuế sẽ nhằm vào nhân sự nòng cốt của Việt tân đang là công dân Mỹ hiện nay.
Ông Tú cũng đã kết tội toàn bộ hệ thống truyền thông tiếng Việt như BBC, VOA, RFA, Người Việt đều hậu thuẫn và bảo vệ những việc làm vi phạm pháp luật của Việt Tân với bằng chứng xác thực nhất. Chắc chắn ông Tú sẽ không bỏ qua cho thế lực này sau vụ kiện Việt tân và các vòi bạch tuộc kia kết thúc, bởi theo ông, đây mới là thế lực tiêu tiền thuế của dân Mỹ và Chính phủ Mỹ đi nuôi dưỡng, bảo kê cho tổ chức khủng bổ Việt Tân và tay sai, các vòi bạch tuộc của nó hãm hại, thao túng cả cộng đồng người Việt, bóp nghẹt tự do ngôn luận, bất lương nhất sau tập đoàn tội ác kia.
Hiện ông Tú đang kêu gọi tài trợ cho vụ kiện với rất nhiều chi phí khủng khiếp “để đòi công lý” ở Mỹ, ví dụ như chi phí để đưa những nhân chứng từ Việt Nam sang Mỹ, chi phí cho luật sư,…Nếu giả sử thắng kiện, ông sẽ trả lại toàn bộ tiền quyền góp cho xã hội bằng tiền thắng kiện, bản thân ông chỉ cần công lý cho cha ruột.
Nhà báo Nguyễn Phương Hùng đã liên tục lên tiếng chỉ trích: Nhà nước và người dân Việt Nam trong nước hưởng lợi nhiều nhất từ vụ kiện, ám chỉ sự bất bình của ông khi chính quyền Việt Nam dường như không hề “hậu thuẫn” gì để giúp đỡ ông Tú và kêu gọi cộng đồng người Việt có trách nhiệm giúp ông Tú thực hiện vụ kiện. Bởi chúng ta phải nhìn thấy rằng, vụ kiện không chỉ tiêu diệt Việt Tân và đám tay sai đã chống Việt nam hơn 30 năm qua, tiêu tốn bao nhiêu nhân vật lực (tiền thuế của dân) phục vụ cơ quan công an điều tra, xử lý cũng như cả hệ thống chính trị phải giải quyết các hậu quả xã hội do Việt tân và đám tay sai gây ra. Mức chi có thể lên tới hàng tỷ tỷ USD nếu cộng các phí tổn cho nhân sự, cho bộ máy, cho giải quyết hậu quả….như chúng ta nhìn thấy qua vụ nổi loạn của giới linh mục ở miền Trung hậu Formosa, các vụ biểu tình khắp cả nước nhiều năm qua của các tổ chức mang danh “xã hội dân sự” như Diễn đàn XHDS của ông Nguyễn Quang A, Mạng lưới blogger Việt Nam của Phạm Đoan Trang và Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Con đường Việt Nam của Hoàng Dũng và Nguyễn Hồ Nhật Thành, No-U của đám Nguyễn Lân Thắng, Hội nhà báo độc lập của Nguyễn Tường Thụy, Phạm Chí Dũng, …đều sống nhờ tiền của Việt tân, VOICE, SBTN cả.
Tôi thiết tha mong cộng đồng yêu nước ủng hộ ông Nguyễn Thanh Tú thực hiện vụ kiện – dù có thắng hay bại (điều này phụ thuộc vào bộ máy chính trị nước Mỹ, nhưng chắc chắn sẽ cho công luận cả thế giới thấy được bản chất của Việt Tân và hệ thống vòi bạch tuộc, hệ thống truyền thông quốc tế, hệ thống các tổ chức nhân quyền quốc tế..đã nuôi dưỡng, bảo kê cho Việt tân hơn 30 năm qua).
Được biết, cuối tháng 10 này, ông Nguyễn Phương Hùng sẽ về nước để truyền thông về sự kiện APEC 2017, nếu chúng ta không gửi được tiền ủng  hộ ông Nguyễn Thanh Tú qua paypal thì có thể thông qua ông Nguyễn Phương Hùng mang tiền về Mỹ hoặc chuyển khoản giúp chúng ta. Khẩn thiết kêu gọi cộng đồng người Việt có lương tâm, có trách nhiệm hãy tự lập ra các quỹ công khai, minh bạch cho vụ việc này.
Tài khoản nhà băng PVComBank: Nguyễn Phương Hùng 104000412166
Võ Khánh Linh
Tội ác của Việt Tân và cuộc đấu tranh đòi công lý ngay trên đất Mỹ
CAND 29/04/2017 07:29 GMT+7
Sự thực cho thấy, không có chuyện cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ ủng hộ Việt Tân mà chỉ có một số ít, còn lại đều coi Mặt trận Hoàng Cơ Minh (Việt Tân) là “băng đảng mafia” với các hoạt động khủng bố, giết người, buôn bán vũ khí cùng những chiêu trò lừa đảo, rửa tiền...
Kỳ 1: Vụ thảm sát 35 năm trước và hành trình đòi công lý cho cha

Nhiều người nghĩ rằng, sở dĩ Việt Tân (một tổ chức khủng bố) tồn tại, hoạt động được là nhờ sự ủng hộ của cộng đồng người Việt tại Mỹ. Khi Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) công bố tài liệu đã lộ diện những hoạt động tội ác của Việt Tân và ngay trên đất Mỹ đã dấy lên làn sóng yêu cầu FBI tiếp tục điều tra làm rõ, buộc kẻ ác phải đền tội và yêu cầu Việt Tân chấm dứt những hành động tương tự.

Sự thực cho thấy, không có chuyện cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ ủng hộ Việt Tân mà chỉ có một số ít, còn lại đều coi Mặt trận Hoàng Cơ Minh (Việt Tân) là “băng đảng mafia” với các hoạt động khủng bố, giết người, buôn bán vũ khí cùng những chiêu trò lừa đảo, rửa tiền...

Nguyễn Thanh Tú là con trai ông Nguyễn Đạm Phong, một ký giả người Việt có tiếng của tờ nhật báo Tự Do đã bị tổ chức tội phạm có tên Mặt Trận (hiện nay gọi là Việt Tân) giết chết năm 1982.

Toi ac cua Viet Tan va cuoc dau tranh doi cong ly ngay tren dat My - Anh 1

Ông Nguyễn Thanh Tú tại cuộc họp báo ngày 17-3-2017 đòi công lý cho cha.

Sự việc được ghi lại trong bộ phim tài liệu có tên “The terror in the Little Saigon” (Nỗi kinh hoàng ở Sài Gòn nhỏ) do ProPublica và Frontline của PBS sản xuất và tài liệu “bị bịt miệng – những vụ sát hại ký giả di dân chưa được giải đáp” (Silenced – The Unsolved Murders of Immigrant Journalists) của tổ chức Ủy ban Bảo vệ ký giả (CPJ: Committee to Protect Journalists). Bốn nhà báo khác cũng bị cáo buộc do Việt Tân giết chết.

Trong thông báo về cuộc họp báo diễn ra ngày 29-4-2017 tại San Jose – Bắc California, Hoa Kỳ, ông Tú viết trên trang cá nhân của mình về bản chất bỉ ổi của tổ chức khủng bố Việt Tân: “Thường thì người ta hay so sánh một tổ chức phạm tội ác trong xã hội giống như con bạch tuộc, bởi vì nó thường dùng hàng chục cái vòi bung ra để che chắn cái đầu nó; chặt vòi này thì còn vòi khác. Bạch tuộc còn tự làm thay đổi màu sắc của hình thể hay thải chất dơ có màu tối để che giấu các dấu vết của nó, giống như lối tuyên truyền láo xạo để xã hội lầm tưởng băng đảng tội phạm là dân chủ, yêu nước.

Thực ra là dân chủ giả, họ chỉ yêu đô la. Hiện nay, toàn thân con bạch tuộc đã bị trói chặt cứng bằng dây thép, luật pháp Mỹ, không khác hình ảnh cá nằm trên thớt, chờ giây phút...”.

Ông cho biết, trong cuộc họp báo vào ngày 29-4, phía nạn nhân đã chọn địa điểm San Jose là nơi tổ chức. San Jose nằm ở miền Bắc California, nơi quy tụ nhiều đảng viên, các tổ chức (những cái vòi) ủng hộ băng đảng. Đây cũng là nơi có nhiều kẻ cầm đầu sinh sống từ hàng chục năm qua như Hoàng Cơ Định.

“Vào tháng 12-1994, tại San Jose, trong phiên tòa dân sự do một số người cầm đầu như Hoàng Cơ Định, Trần Xuân Ninh… kiện báo chí Việt ngữ tội vu khống, phỉ báng họ, nhiều thành phần tay sai được huy động tới tòa để hù dọa phía bị đơn. Lần này, họp báo tại San Jose, tay chân băng đảng có dám kéo đến để hù dọa đồng hương nữa hay không? Nếu bị đe dọa, các nạn nhân cần chụp hình, quay phim đưa lên mạng xã hội để đồng bào khắp nơi được biết, dùng đó làm vật chứng để làm đơn khởi tố hành vi khủng bố” – ông Nguyễn Thanh Tú nêu quan điểm.

Trước đó, hôm 17-3, tại Thư viện Việt Nam Toàn Cầu, địa chỉ ở 14550 Magnolia St., Room 204, Westminster, CA 92683, Mỹ, nhiều người đã tới dự cuộc họp báo do ông Nguyễn Thanh Tú chủ trì. Nhiều phóng viên các hãng thông tấn lớn cùng tham dự sự kiện này như phóng viên đài SBTN, đài BBC tiếng Việt, đài RFA, KBCHN...

Đáng chú ý một số người là nạn nhân của Việt Tân cũng có mặt như Đặng Văn Âu, Bùi Anh Thư, gia đình bà Nguyễn Ngọc Hoa... Tại cuộc họp báo này, Nguyễn Thanh Tú thông báo quá trình điều tra của mình và đồng sự về vụ án 5 ký giả (nhà báo) người Việt bị sát hại tại Mỹ.

Ông Tú khẳng định “đã biết thủ phạm là ai” và cho biết ông cùng 3 đồng sự đang làm việc với 2 đơn vị thuộc Bộ Tư pháp Mỹ để tập hợp thông tin nhằm vô hiệu hóa hoạt động của tổ chức Việt Tân. Ông nói trước mọi người có mặt rằng Việt Tân là một băng đảng bất hợp pháp, chưa hề đăng ký pháp luật tại Mỹ cũng như chưa đóng thuế.

Toi ac cua Viet Tan va cuoc dau tranh doi cong ly ngay tren dat My - Anh 2

Một nhóm thân tín của Hoàng Cơ Minh (ảnh chụp tại Thái Lan năm 1981).

Ông cung cấp một số thông tin cho rằng, Việt Tân có mạng lưới hoạt động rộng, móc nối với nhiều cá nhân, tổ chức khác nhau như VOICE, Trịnh Hội, Nguyễn Văn Khanh, Mặc Lâm thuộc Ban Việt ngữ Đài châu Á tự do (RFA), đài SBTN... và khẳng định có tài liệu chứng minh vấn đề này.

Chia sẻ với báo chí lý do vì sao có cuộc họp báo của ông Nguyễn Thanh Tú vào thời điểm sau một thời gian khá dài bộ phim “The terror in the Little Saigon” được công bố có liên quan tới cố ký giả Đàm Phong, nhà báo Trần Nhật Phong, người hiện diện tại cuộc họp báo hôm 17-3 cho biết: “Anh Tú có mặt tại California mở ra một cuộc họp báo để tường trình với mọi người về mục tiêu của anh là tìm hiểu cái chết của cha anh, ai là người giết.

Thứ hai, thực hiện chí nguyện của cha anh là tiếp tục làm sao cho cộng đồng được khỏe mạnh, được trong sạch hơn và làm rõ hơn những chuyện ở trong quá khứ. Thứ ba là anh cho biết tiến trình anh đi tìm công lý cho cha anh đã đến mức độ nào, đó là ý nghĩa của cuộc họp báo”.

Nhà báo Đạm Phong, tên đầy đủ là Nguyễn Đạm Phong từng là chủ biên của tờ báo Tự Do, một tờ báo địa phương trong cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ gần bốn thập niên về trước. Ông bị sát hại năm 1982 tại nhà riêng ở Houston, Texas. Vụ việc của ông đã được FBI điều tra, tuy nhiên hồ sơ đã được khép lại mà theo phản ánh của truyền thông Mỹ là do “chưa đủ chứng cớ” đối với các cơ quan, tổ chức nghi can”.

Sự việc đã được làm nóng trở lại sau khi chương trình phóng sự điều tra Front Line và hãng truyền thông ProPublica công bố bộ phim “The terror in the Little Saigon” sau hàng chục năm sự việc lắng xuống.

Theo bộ phim này, trong giai đoạn 1981 – 1992, FBI đã thẩm vấn, thu thập thông tin, điều tra về “Biệt đội K9” do các thành viên cốt cán của Mặt trận Hoàng Cơ Minh cầm đầu, chuyên thực hiện nhiệm vụ tìm, thủ tiêu những nhà báo gốc Việt có quan điểm đối lập hoặc đưa tin vạch mặt hoạt động lừa đảo kiều bào của Hoàng Cơ Minh và đồng bọn.

Bộ phim cũng liệt kê Mặt trận Hoàng Cơ Minh vào danh sách các tổ chức khủng bố. Trong bản báo cáo về “Tình trạng hiện nay của cộng đồng Việt Nam ở Hoa Kỳ: Những hoạt động chính trị và tội ác gia tăng như sóng trào với Mặt trận Hoàng Cơ Minh…”, tài liệu này có chú thích rõ: “được phân phát trong buổi họp của FBI tại San Francisco, kéo dài từ ngày 6 đến ngày 8-1-1992”.

Theo tài liệu của FBI, trên cơ sở phân tích tổng quan tình hình người Việt di cư sang Mỹ trước 1990 đã nêu khá rõ thực trạng đời sống, sinh hoạt của cộng đồng người Việt tại các khu vực trên lãnh thổ Mỹ. FBI đánh giá “Mặt trận Hoàng Cơ Minh đã được cộng đồng người Việt Nam coi là một băng đảng mafia có nhiều thế lực nhất dưới chiêu bài chính trị giải phóng”.

Như vậy, những quan điểm lâu nay cho rằng, ngay từ giai đoạn thành lập (1982) và quá trình hoạt động, Mặt trận Hoàng Cơ Minh được sự dung dưỡng, ủng hộ của cộng đồng người Việt tại Mỹ là sai lầm. Chính FBI qua điều tra, khảo sát đã xác định cộng đồng người Việt tại Mỹ coi tổ chức này là “một băng đảng mafia có nhiều thế lực”.

Ông Tú cho biết, trong 35 năm qua, họ (Việt Tân) tìm cách thủ tiêu quyền tự do ngôn luận của đồng hương tỵ nạn, sát hại một cách dã man vì khối tiền khổng lồ riêng tư của họ nhưng khi có chuyện thì Việt Tân kêu gọi họp cộng đồng để cứu giúp. “Đúng là những kẻ cầm đầu băng đảng quá coi thường trí óc cộng đồng Việt hải ngoại, họ coi cộng đồng như cục bột muốn nhào nắn thế nào thì tùy thích” – ông nói.

Kỳ 2: Khui lộ những tảng băng ngầm

Với sự kiên nhẫn đi tìm công lý, ông Nguyễn Thanh Tú đã nhiều lần tổ chức họp báo và đề nghị FBI làm rõ thủ phạm đã giết cha mình cũng như những ký giả mà anh nói rõ là thủ phạm là những tay giết người trong tổ chức Việt Tân.

Khi phim tài liệu “Terror In Little Saigon” được công chiếu và được phổ biến qua mạng internet vào ngày 3-11-2015, trong suốt năm 2016, phía nạn nhân đã kiên trì nỗ lực trong công việc điều tra, thu thập chứng cứ, xúc tiến sự liên lạc, tích cực hợp tác hành động với nhiều cơ quan công quyền Hoa Kỳ. Đầu năm 2017, phía gia đình nạn nhân đã tiến gần hơn trong việc đưa các nghi trọng phạm hình sự ra trước vành móng ngựa để kết thúc một hồ sơ đen kéo dài quá lâu.

Toi ac cua Viet Tan va cuoc dau tranh doi cong ly ngay tren dat My (ky 2) - Anh 1

Vợ chồng ký giả Lê Triết.


Đáng chú ý, cổ súy cho những hành động của Việt Tân có sự trợ giúp đắc lực của một số hãng thông tấn báo chí. “Đặc biệt trong trường hợp của ký giả Nguyễn Đạm Phong ở Houston và ký giả Lê Triết cùng với vợ ông ta, tôi có sự tin tưởng rõ rệt là Mặt Trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam (tức Việt Tân - PV) chịu trách nhiệm về những vụ giết người đó” - bà Tang-Wilcox, một cựu nhân viên FBI nói.

Về trường hợp ký giả Đạm Phong, bà khẳng định: “Không có bất cứ động lực nào khác hơn là những bài viết của ông nói về Mặt trận (Việt Tân) được phổ biến trên tờ báo, dẫn tới việc ông bị ám sát. Và rồi cách thức mà vụ sát hại được thực hiện, các vỏ đạn đã được sát thủ nhặt lên và thu gom. Đó là người được huấn luyện thuần thục, biết mình phải làm những gì và không lưu lại bất cứ chứng cứ nào sau khi thi hành tội ác. Một thư cảnh cáo đã được để lại với nạn nhân. Đó là một vụ ám sát”.

Tội ác của Việt Tân còn được chính quan chức là ông Nguyễn Xuân Nghĩa, một cựu lãnh đạo cao cấp của Việt Tân thừa nhận rằng “việc đó hoàn toàn là có khả năng” (ý chỉ việc giết người, khủng bố của Việt Tân) và nêu những đoàn viên của Việt Tân là thủ phạm ám sát ký giả Đạm Phong cùng nhiều tội ác khác. Ông ta nói rằng có một bộ phận bạo lực trong tổ chức này và ông đã tham gia một buổi họp của Việt Tân, trong đó các đảng viên bàn luận kế hoạch ám sát một biên tập viên nổi tiếng ở quận Cam.

Ông Nghĩa phải thuyết phục các đồng đảng không thi hành cuộc ám sát. “Đây là trang sách đen tối trong cuộc đời tôi” - cựu lãnh đạo Việt Tân nói. Thêm vào đó, ông Đỗ Thông Minh, một trong số người đồng sáng lập Việt Tân cũng từng thổ lộ với con trai ký giả Đạm Phong rằng, ông Đạm Phong bị giết vì là nạn nhân của chính sách khủng bố của Việt Tân.

Tháng 12-1994, Ủy ban Bảo vệ nhà báo (CPJ) công bố báo cáo “Silenced - The Unsolved Murders of Immigrant Journalists in the United States” (Các vụ sát hại nhà báo nhập cư chưa được điều tra và bị rơi vào quên lãng tại Mỹ). Theo đó, trong phần Targeted by Terrorists (Mục tiêu của những kẻ khủng bố), báo cáo liệt kê các vụ ám sát nhằm vào Dương Trọng Lâm (bị giết năm 1981), Nguyễn Đạm Phong (1982), Phạm Văn Tập (1987), Đỗ Trọng Nhân (1989) và Lê Triết (1990).

Trong đó, ông Dương Trọng Lâm bị bắn chết trên đường phố Little Saigon (San Francisco) ngày 21-7-1981 và tay súng đã tẩu thoát ngay sau đó. Ông Phạm Văn Tập, biên tập viên tờ tạp chí giải trí Mai, chết trong một vụ cháy văn phòng ở Garden Grove, cũng là nơi ông cư ngụ ngày 7-8-1987. Theo CPJ, ông Tập nhận được thư đe dọa ngăn ông đăng các quảng cáo của các công ty đặt tại Canada muốn thúc đẩy việc chuyển tiền và các kiện hàng về Việt Nam.

Năm ngày sau đó, VOECRN (tổ chức tiền thân của Việt Tân) nhận trách nhiệm vụ giết ông Tập. Ông Đỗ Trọng Nhân, nhân viên thiết kế trình bày của tờ Văn nghệ Tiền Phong, một tờ thường có nhiều bài viết gay gắt về cộng đồng người Việt, bị bắn chết trong xe hơi ngày 22-11-1989.

Theo cảnh sát, ông Nhân đến Mỹ năm 1981, bị giết vì thường xuyên tự giới thiệu sai mình là một nhân viên cấp cao của tờ báo trong khi các đồng nghiệp của ông cho rằng cái chết của ông là lời đe dọa đến các biên tập viên của tờ báo. Một năm sau, những kẻ ám sát tiếp tục nhắm vào tờ Văn nghệ Tiền Phong bằng vụ ám sát ông Lê Triết, một cây viết có nhiều bài gây tranh cãi, và vợ ông. Cả hai bị bắn chết trong xe hơi khi đậu xe trước nhà ở Baileys Crossroads, Virginia.

Trường hợp giết ký giả Lê Triết cũng cho thấy tính tàn độc của băng đảng này. Tài liệu FBI đánh giá, trong vụ tàn sát Lê Triết và vợ, những tên giết người của mặt trận quả thật đã làm việc rất giỏi vì làm việc giỏi là một đòi hỏi hàng đầu mà một tay thiện xạ của mặt trận có trách nhiệm phải đáp ứng khi thi hành mệnh lệnh của “lãnh tụ”.

Ở đây, FBI sử dụng ngôn từ “việc rất giỏi” để chỉ những tay giết người có kỹ nghệ được đào tạo bởi mặt trận, cho thấy hành vi giết người không phải là chuyện tức thời của một vài cá nhân nào đó trong mặt trận mà đã được tổ chức phản động này đào tạo bài bản để thực hiện các kế hoạch tàn sát phục vụ cho mưu đồ của mình. Số này là cựu quân nhân thuộc lực lượng đặc biệt của Việt Nam Cộng hòa trước đây và người nhái của hải quân.

Toi ac cua Viet Tan va cuoc dau tranh doi cong ly ngay tren dat My (ky 2) - Anh 2

Sơ đồ cho thấy sự liên kết của Việt Tân và một số hãng thông tấn báo chí moi tiền người Việt hải ngoại dưới danh nghĩa “vận động nhân quyền”.

Trong quá trình điều tra vụ giết vợ chồng Lê Triết, FBI nhận thấy có sự thay đổi về thái độ trong những người Việt ở Mỹ, đó là họ không ngần ngại “né” Việt Tân nữa mà đã hợp tác tích cực và kín đáo để tố giác, cung cấp thông tin cho cơ quan điều tra. Theo FBI, đây là sự thay đổi thái độ trước đây chưa từng xảy ra. Việc điều tra tích cực của cơ quan FBI trong vụ ám sát vợ chồng Lê Triết đã làm cho cộng đồng người Việt ở Mỹ yên tâm về sự quyết tâm của FBI và các nhân viên công quyền trong việc duy trì luật lệ và trật tự cho những cộng đồng Việt Nam, mặc dù danh tính chưa được tiết lộ.

Tại thời điểm đó, Lê Triết bị giết bởi ông đã gia nhập cao trào Nhân Bản do bác sĩ Nguyễn Đan Quế cầm đầu. Bởi vì việc Lê Triết gia nhập cao trào Nhân Bản là một chướng ngại cho mặt trận Hoàng Cơ Minh, Mặt trận muốn tham dự vào cao trào này.

Trước sự tẩy chay của cộng đồng Việt Nam hải ngoại, Mặt trận Hoàng Cơ Minh bị mất tín nhiệm và danh dự, cho nên phương thức tốt nhất cho Mặt trận là gia nhập cao trào và sử dụng nó để che đậy hoạt động của mình. Lê Triết đã gia nhập cao trào và giữ vai trò quan trọng ở đó, do vậy ông ta đã trở thành chướng ngại cho Mặt trận và đây là căn nguyên ông bị sát hại.

Từ vụ Lê Triết, FBI đã được sự hỗ trợ lớn của cộng đồng người Việt trên khắp Hoa Kỳ. Theo quan điểm của một nhóm người Việt ở đây thì họ chỉ còn việc là cộng tác với FBI trong việc tìm ra ai đã ra lệnh giết vợ chồng Lê Triết. Họ cho rằng, những tổ chức tội ác ở trong cộng đồng người Việt tại Mỹ không bị triệt hạ trừ khi những kẻ chủ mưu giết vợ chồng Lê Triết phải được nhận diện và truy tố trước tòa. Khi mà kẻ phạm tội vẫn ngoài pháp luật, những tổ chức tội phạm vẫn tiếp tục gây ra tội lỗi dưới những chiêu bài “chống cộng” của Mặt trận Hoàng Cơ Minh thì vẫn còn là mối đe dọa nguy hiểm cho cộng đồng người Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Thời gian gần đây, ngày càng có nhiều cá nhân, tổ chức người Việt tại Mỹ đứng lên tố cáo tội ác của Việt Tân. Qua nhiều thông báo đã viện dẫn thông tin và chứng cứ, họ cáo buộc Việt Tân đích thực là một băng đảng tội ác đã khai thác để trục lợi trên lòng yêu nước của đồng bào trong mấy chục năm qua. Thoạt đầu tổ chức này lấy tên Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam (Mặt trận) để gây quỹ nuôi 30 nghìn tay súng mà họ rêu rao là đang hoạt động vũ trang ở Việt Nam. Sau khi sự dối trá và lừa gạt này đổ bể, Mặt trận bị cộng đồng người Việt ở hải ngoại tẩy chay.

Năm 2004, băng đảng này xóa sổ tên gọi Mặt trận và tự giới thiệu như một tổ chức mới “Việt Tân” (tức Việt Nam canh tân cách mạng Đảng). Người Việt hải ngoại vạch trần bản chất không đổi của Việt Tân: Thực ra mèo vẫn là mèo, chỉ bỏ tên này để trá hình. Và cái tên khác ấy - Việt Tân, cũng không hề mới. Nó đã được dựng lên cùng lúc với Mặt trận nhưng được giữ kín cho đến năm 2004 mới được trình làng cho dư luận biết đến.

Nhiều hình ảnh và phim ảnh cũ cho thấy cờ Việt Tân đã được treo trong “khu chiến” ở Thái Lan của Mặt trận. Như vậy cái tên “Việt Tân” cũng không thể tách lìa ra khỏi thủ đoạn lừa đảo và dối trá của băng đảng tội ác lúc ấy trình diện ra ngoài dưới tên Mặt trận hoặc khỏi các hành vi khủng bố, xử bắn đồng đội, trốn thuế, rửa tiền của chúng. (Còn nữa)

An Nhi

Về cái chết của ký giả Nguyễn Đạm Phong
 
Bùi Văn Phú

Tuần trước ở Little Saigon, Quận Cam, California, ông Nguyễn Thanh Tú đã có cuộc họp báo về việc đi tìm công lý cho người cha, là ký giả Nguyễn Đạm Phong, chủ báo Tự Do ở Houston, Texas bị ám sát chết năm 1982 mà tới nay thủ phạm vẫn còn lẩn trốn, cho dù Cục Điều tra Liên bang FBI đã bỏ ra nhiều năm điều tra nhưng vẫn chưa tìm ra được hung thủ.

Cái chết của ký giả Nguyễn Đạm Phong, và của bốn người làm báo Việt ngữ khác tại Hoa Kỳ từ năm 1981 đến 1990, là chủ đề của phóng sự “Terror in Little Saigon” do ký giả A.C. Thompson thực hiện và chiếu trên hệ thống truyền hình PBS vào đầu tháng 11/2015.

Phóng sự đưa ra những dấu chỉ cho rằng Mặt trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam – thường được gọi là “Mặt trận” – do cựu Phó Đề đốc Hải quân Việt Nam Cộng hòa Hoàng Cơ Minh lãnh đạo là tổ chức gây ra những cái chết của nhà báo Việt tại Hoa Kỳ.

Sau khi phim được chiếu đã có những phân tích, mổ xẻ cuốn phim cũng như phản ứng khen chê trong cộng đồng người Việt.

Sau đó đài PBS đã phổ biến một tường trình do ông Michael Getler viết để trả lời những chỉ trích và phản ứng từ cộng đồng người Việt cũng như từ tổ chức Việt Tân, mà trong phim cho rằng đó là cánh tay nối dài của Mặt trận.

Tuy thừa nhận những thiếu xót trong phim, ông Getler tin tưởng vào việc điều tra của A.C. Thompson và đặc biệt là những gì mà bà Katherine Tang-Wilcox, một cựu nhân viên FBI, đưa ra liên quan đến mặt trận. Ông cũng nhìn nhận là phim mang nhiều tính chít-chát và nhiều cảnh quay từ phía sau lưng, không như những phóng sự điều tra thường có trong chương trình Frontline của đài PBS.

Riêng đối với ông Nguyễn Thanh Tú, hơn một năm kể từ sau khi phim “Terror in Little Saigon” được phổ biến, ông dồn nỗ lực thúc đẩy việc tìm ra thủ phạm đã giết thân phụ nên đã tìm gặp nhiều dân cử, giới chức chính quyền và truyền thông Hoa Kỳ.

Ông cũng lập ra trang mạng damphong.com để cập nhật thông tin về những việc ông đang theo đuổi.

Khi biết được Việt Tân là một tổ chức chưa bao giờ đăng ký hoạt động tại Mỹ, ông gọi đó là “Việt Tân ma” và chính ông đã đứng tên đăng ký làm chủ danh hiệu “Việt Tân” và từ nay cấm những ai muốn dùng tên này mà không có sự đồng ý của ông.

Cuộc họp báo ngày 17/3 vừa qua là dịp để ông tường trình cùng cộng đồng người Việt về một số việc ông đã làm.

Có hai điều gây nhiều chú ý trong cuộc họp báo. Thứ nhất, ông xác nhận cha ông làm việc với Cơ quan Tình báo Trung ương của Hoa Kỳ, tức CIA, từ trước năm 1975. Sau khi di tản gia đình qua Mỹ năm 1975, theo lời ông Tú thì cha của ông không còn làm việc cho CIA nữa.

Ông Tú biết được điều này, và bây giờ mới tiết lộ là vì sau khi cha của ông bị ám sát chết, người của CIA đã xác nhận với ông và có chia buồn cùng gia đình.

Ngạc nhiên thứ hai là khi ông Nguyễn Thanh Tú nói ông biết rõ thủ phạm là ai, do CIA cung cấp, nhưng khi chuyển hồ sơ qua cho FBI thì cơ quan này đã không làm đến nơi đến chốn, vì không hiểu văn hóa Việt, vì thiếu nhân viên biết tiếng Việt, nên giờ ông không còn tin tưởng vào FBI và ông chỉ hợp tác với Bộ Tư pháp, là cơ quan cấp cao hơn FBI.

Việc hợp tác với Bộ Tư pháp, theo lời ông vì nếu đưa chứng cứ cho FBI, thủ phạm có bị truy tố, bị giam tù rồi cũng chết trong tù vì tuổi già, còn tổ chức Việt Tân, mà ông Tú gọi là một tổ chức ma, sẽ vẫn còn sống. Ông muốn cắt những chiếc vòi bạch tuộc của tổ chức này để diệt tận gốc rễ.

Để thực hiện điều này, ông hợp tác với Sở Thuế vụ IRS để tiến hành điều tra về hoạt động kinh tài mờ ám của “Việt Tân ma” và đã đưa ra một số tài liệu làm chứng cứ trên mạng damphong.com.

Trong buổi họp báo ông Tú cũng nêu đích danh một số tổ chức và người làm truyền thông mà ông mô tả là bị "Việt Tân ma" ảnh hưởng hay len lỏi vào.

Chủ đích của phim tài liệu trên là muốn tìm ra công lý cho những nhà báo gốc Việt bị giết chết là các ông Dương Trọng Lâm (1981), Nguyễn Đạm Phong (1982), Phạm Văn Tập tức Hoài Điệp Tử (1987), Đỗ Trọng Nhân (1989) và Lê Triết tức Tú Rua (1990).

Trong thập niên 1980 còn những vụ bạo động khác nhắm vào một số người vì liên quan đến chính trị Việt Nam mà trong phim không nhắc đến.

Giáo sư Ngô Vĩnh Long bị ném bom xăng khi đến nói chuyện tại Đại học Harvard năm 1981. Người ném bom bị bắt, bị đưa ra tòa xử với một bản án rất nhẹ. Giáo sư Long nổi tiếng là sinh viên Việt đầu tiên được nhận vào Đại học Harvard và đã tham gia các phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Ông Nguyễn Văn Lũy, chủ tịch Hội Việt kiều Yêu nước tại Mỹ, một tổ chức thân Hà Nội, và cũng là người chủ trương báo Thái Bình của hội. Năm 1984 hai ông bà bị bắn trước cửa nhà ở khu Sunset, San Francisco. Bà Lũy chết tại chỗ, ông Lũy bị thương. Kẻ nã súng đến nay vẫn còn lẩn trốn.

Cũng cần nhắc lại là báo của Hội Việt kiều Yêu nước được đặt tên “Thái Bình” là để tưởng nhớ sinh viên Nguyễn Thái Bình, người đã tham gia các phong trào phản chiến tại Mỹ. Năm 1972, trên đường về nước vì hết học bổng, ông Bình cướp máy bay của hãng PanAm đòi phi công bay ra Hà Nội nên đã bị an ninh bắn chết trước khi máy bay đáp xuống Sài Gòn.

Trong năm 1984 có một vụ giết người nữa vì liên quan đến Việt Nam. Giáo sư Edward Cooperman bị một sinh viên gốc Việt là Minh Văn Lâm, từng học môn vật lý với ông, gây ngộ sát với súng khiến ông tử thương ngay trong văn phòng tại Đại học California State University, Fullerton.

Giáo sư Cooperman dạy vật lý, nói được tiếng Việt, có những chương trình hợp tác và trao đổi kỹ thuật với chính quyền Hà Nội sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt. Tình tiết vụ án liên quan đến nhiều mặt, từ CIA đến chuyện đồng tính và bồi thẩm đoàn đã không thể đưa ra một bản án trong lần xét xử đầu. Qua lần xử thứ hai, ông Minh bị kết án 3 năm tù với tội ngộ sát. Tuy nhiên bạn bè và gia đình của giáo sư Cooperman tin rằng cái chết của ông là vì lý do chính trị.

Nhà văn Duyên Anh, sinh sống tại Pháp từ năm 1983, trong một chuyến thăm Hoa Kỳ năm 1988 ông đã bị đánh trọng thương khiến bán thân bất toại. Đến nay vẫn chưa tìm ra kẻ hành hung. Có dư luận cho rằng vì ông làm ăng-ten trong trại tù cải tạo nên bị trả thù.

Năm 1989 ông Đoàn Văn Toại bị bắn nhưng thoát chết. Ông là một lãnh đạo của sinh viên Sài Gòn trước năm 1975, sau đó qua Pháp đoàn tụ rồi định cư tại Mỹ. Tại hải ngoại ông đã viết tác phẩm “Vietnamese Gulag” về nhà tù dưới chết độ cộng sản Việt Nam. Có giả thuyết cho rằng ông bị bắn vì kêu gọi người Việt hải ngoại hợp tác với Hà Nội.

Giai đoạn đó, tình hình làng báo hải ngoại rất e dè với quyết định có nên đăng quảng cáo gửi hàng, gửi tiền, gửi thuốc về Việt Nam hay quảng cáo bán vé máy bay về quê nhà. Việc đăng hình cờ đỏ sao vàng, các lãnh tụ cộng sản Việt Nam, đặc biệt là Hồ Chí Minh cũng là một vấn đề gây tranh cãi.

Với những tờ báo chống đối Mặt trận như Văn nghệ Tiền phong, trụ sở ở Arlington, Virginia của ông Hồ Anh tức Nguyễn Thanh Hoàng; Việt Nam Hải Ngoại, trụ sở ở San Diego, California của luật sư Đinh Thạch Bích thì tòa soạn luôn có những biện pháp đề phòng an ninh.

Một người đã viết nhiều bài tố cáo Mặt trận, đăng trên Văn nghệ Tiền phong, và đã bị Mặt trận kiện ra tòa vì tội phỉ báng là nhà báo Cao Thế Dung. Nhưng Mặt trận thua kiện trong một vụ xử ở San Jose. Nơi cư ngụ của ông Dung ở Virginia cũng đã từng bị kẻ lạ mặt bắn đạn vào.

Không khí ám sát mang tính chính trị liên quan đến Việt Nam ngày nay không còn. Tuy nhiên những cái chết của những người làm báo, như cố ký giả Nguyễn Đạm Phong, mà người con của ông đã dồn công sức đi tìm công lý là điều đáng hoan nghênh và trân trọng.

Nhưng qua cuộc họp báo vừa qua, ông Nguyễn Thanh Tú đã đưa ra những sự kiện hết sức ngạc nhiên. Thứ nhất là việc CIA biết ai giết cha ông và đã cho ông biết. Thứ nhì là quyết định của ông không cho FBI mở lại hồ sơ, vì ông không còn tin tưởng vào cơ quan này và ông chỉ hợp tác với Bộ Tư pháp và Sở Thuế vụ Hoa Kỳ để chặt đầu con bạch tuộc và vây cánh của “Việt Tân ma”.

Sau họp báo, ông Nguyễn Thanh Tú và cựu thám tử Douglas Zwemke đã trả lời phóng viên Quốc Phương của BBC Tiếng Việt và cũng không đưa ra điều gì mới hơn. Thám tử Zwemke của sở cảnh sát San Jose sau nhiều năm điều tra liên quan đến thu nhập và thuế nhưng cũng không đưa đến được việc kết tội bất cứ người nào của Mặt trận.

Trong Thông Báo 19 ngày 31/8/2016 ông Nguyễn Thanh Tú yêu cầu tổ chức “Việt Tân ma” kể từ ngày 26/8/2016 phải xóa bỏ và ngưng xử dụng bất kỳ tài liệu nào mang tên “Việt Tân”. Nếu không ông sẽ nhờ đến pháp luật can thiệp.

Thông Báo 22 ngày 6/12/2016 ông Tú viết: “việc ghìm đầu con bạch tuộc Việt Tân ma sắp hoàn tất. Ngày tàn của Việt Tân ma đang gần kề.”

Có vẻ như ông Tú không còn muốn đi tìm thủ phạm đã giết cha mình, mà đang nhắm vào “Việt Tân ma” và những cơ quan hay những người ông cho rằng có dính dáng, hoạt động cho tổ chức này.

Sau cuộc họp báo, tìm trên FB thì trang của Việt Tân vẫn còn và ghi đó là một tổ chức cộng đồng (community organization).

Hội chợ Tết Đinh Dậu 2017 vừa qua ở San Jose vẫn có gian hàng Việt Tân kỷ niệm 30 năm hoạt động.

© 2017 Buivanphu