Search This Blog

Wednesday, November 8, 2017

Viết cho Giáo sư Cao Thế Dung
Trường sơn lê xuân nhị 
 
Cao Thế Dung, thầy tôi
 
Đừng nghĩ thằng Mỹ nó yêu thương đất nước mình.  Chúng nó đến đây vì quyền lợi của chúng nó.  Một ngày nào đó, chúng nó sẽ ra đi.  Các em nên nhớ, không có ai yêu thương đất nước mình bằng người Việt Nam mình cả.  Nếu các em không yêu thương đất nước mình thì các em mong đợi ai sẽ yêu thương đất nước mình đây?
 
Lời thầy Cao Thế Dung dạy học sinh La San Ban Mê Thuột
 
Trường Sơn Lê Xuân Nhị
 
Tôi may mắn biết thầy Dung từ trước khi thầy trở thành nhà văn nổi tiếng ở Việt Nam. Khoảng năm 1965 hay 66 gì đó, trường Lasan Ban Mê Thuột chúng tôi có một giáo sư Việt Văn mới tên Cao Thế Dung. Thường thường thì các giáo sư mới hay bắt đầu vào dịp đầu năm, nhưng thầy Dung xuất hiện thật bất ngờ. Chẳng ai báo trước, chẳng được nghe tin. Chỉ thấy một buổi sáng, thầy mặc áo sơ mi trắng, thắt cà vạt, xách Samsonite bước vào lớp chúng tôi. Lúc ấy chúng tôi mới biết đó là giáo sư Việt văn mới của lớp mình. Nghe nói, thầy là dân Sài-gòn về đây.
Dân Sài-gòn quả có khác…
Thầy người Bắc, đẹp trai, tướng người mảnh khảnh, ăn mặt sang trọng, luôn luôn đeo cà vạt và sách cặp táp đi dạy học, hoàn toàn khác với các thầy địa phương ở Ban Mê Thuột lúc đó.
Tưởng cũng cần nhắc thêm ở đây, và nếu ai còn nhớ những tháng ngày ở trường trung học, chương trình gồm có nhiều môn học với nhiều hệ số. Hai môn quan trọng, thứ nhất là Toán, thứ nhì Lý Hóa đều lạ hệ số 4, và thứ ba Vạn Vật, hệ số 3.  Sau đó mới tới những môn khác như Việt Văn, Pháp văn, Sử Địa, hệ số 2, và mấy môn lẩm cẩm khác hệ số 1 là Công Dân Giáo Dục (Chúng tôi gọi là Công Rân Ráo Rục), môn thể thao, và Giáo Lý cho những người học trường thầy dòng như chúng tôi.  Chúng tôi gọi những giờ hệ số 1 này là giờ... giải trí. Giải trí cần thiết cho thần kinh bớt căng thẳng sau những giờ Toán Lý Hóa nhức đầu. Đặc biệt, môn Công Rân Ráo Rục là một môn dễ dạy nhất. Cứ lên bảng, mặt mày cần phải nghiêm trang một chút, không được cười, nói tía lia, nói thiên nói địa gì thì cũng thành... Công Rân Ráo Rục... ráo. Môn này hồi đó, với cái tài bốc hốt của tôi, nếu cho tôi lên dạy, tôi bảo đãm sẽ hay vô cùng.
Vì thế, có thể nói, những giáo sư dạy môn Toán, Lý Hóa, Vạn vật là những người mà chúng tôi sợ nhất và kính nể nhất. Ăn một con zero của mấy ông này thì đời tàn trong ngõ hẹp ngay. Mấy giáo sư dạy Việt Văn hay Pháp văn, vì là hệ số 2 cho nên chúng tôi cũng hơi nể nhưng... không nể lắm. Hệ số 2 ăn zero thì hệ số 4 vớt vát được mấy hồi. Còn nói đến những giáo sư dạy môn hệ số 1 như Công Rân Ráo Rục thì bị chúng tôi coi thường vô cùng. Lớp học vào giờ này luôn luôn ồn ào như một cái chợ, mạnh thầy nói thì nói, mạnh trò thì trò giỡn. Có lẽ, các thầy dạy Công Rân Ráo Rục cũng biết cái thân phận mình nên chẳng có thầy nào làm khó chúng tôi.  Đi qua các lớp, hễ nghe lớp nào vui vẻ náo nhiệt như ngày tết thì biết ngay giờ đó là giờ Công Rân Ráo Rục hay Sử Địa vớ vẩn. Bây giờ nghĩ lại, thấy tội cho những giáo sư dạy… Công Rân Ráo Rục thật. Đặc biệt, giờ Giáo Lý tuy hệ số 1 nhưng đếch có thằng học trò nào dám làm ồn vì giờ này luôn luôn được các ông thầy dòng phụ trách, lạng quạng là ốm đòn như chơi.
Áy thế mà, khi thầy Dung vào dạy Việt văn thì mọi người đều nể sợ, dù thầy chẳng bao giờ la mắng hay đánh đập đứa nào cả. Trước hết, sợ vì chẳng có ai biết thầy là ai, gốc gác như thế nào. Không biết đến từ đâu, nhưng coi bộ tịch và cách ăn mặc sang trọng của thầy thì thấy... khiếp quá, đây nhất định phải là dân thứ dữ. Thầy còn hút thuốc lá hiệu Salem. Chẳng bao lâu, mọi thứ tiếng đồn được tung ra về thầy. Có thứ đúng có thứ trật.  Tiếng đồn quan trọng nhất, thầy là một lãnh tụ một đảng phái chính trị đối lập nào đó, đang bị Nguyễn Cao Kỳ lùng bắt nên phải tạm lên Ban Mê Thuột ẩn danh một thời gian. Cũng có thứ tiếng đồn ác ôn hơn như là thầy... giựt hụi ở Sài gòn, phải đi trốn.... vân vân
Riêng thầy, luôn luôn bí mật, không bao giờ nói về mình, cũng ít khi trò chuyện với ai. Thầy có giáng dấp của một kẻ sĩ sinh bất phùng thời, hoặc một Lệnh Hồ Xung chưa làm xong lời sư phụ dạy nên chưa muốn về chùa.
Ngày đầu tiên học thầy, chúng tôi ngạc nhiên thích thú khi nghe thầy Dung giảng bài. Phải công nhận thầy Dung có khoa ăn nói. Thầy nói thao thao bất tuyệt, hớp hồn tất cả bọn học trò chúng tôi. Và thầy dạy không cần theo chương trình của nhà trường, mà theo sách của bộ QGGD ấn hành. Thầy dở sách “Giảng Văn” lướt sơ qua một cái rồi đóng sách lại, quẳng lên bàn, bắt đầu thao thao bất tuyệt về một đề tài trong sách, tùy theo hứng của thầy. Hồi đó, giờ Việt văn có một môn mà ai cũng ngán tới cổ đó là “Truyện Kiều”.  Nhìn cái bìa cuốn sách đã thấy nản, lật vào trong còn thấy khiếp đãm hơn.
Hồi đó, chúng tôi, với đầu óc dốt nát mà lại mê ... tân thời, không thể nào nuốt trôi nổi những câu thơ của Truyện Kiều. Ông giáo sư trước thầy cũng dạy Kiều, nhưng hễ ông nói chừng vài phút là chúng tôi đứa nào cũng muốn ngủ gục. Để khỏi ngủ gục, phải bày ra những trò giải trí cho vui.
Nhưng đối với thầy Dung thì khác hẳn. Thầy đã biến một môn học khô khan nhất trở thành một môn hấp dẫn nhất. Thầy người Bắc, nên khi thầy đọc lên, một cách nhẹ nhàng trầm ấm, “Trăm năm trong cõi người ta... “ là chúng tôi cảm thấy nghe như nghe nhạc, không còn chán nữa. Nhưng lâu lâu, thầy bỗng ngừng giảng bài, chỉ một thằng chắc có lẽ đang ngủ gà ngủ gật, quát lên như sấm động:
- Anh kia, tôi vừa nói gì đấy?  Lập lại cho cả lớp nghe coi.
Lập lại… thế đếch nào nổi vì đang ngủ gà ngủ gật mà. Thằng khốn nạn chỉ biết đứng lên lí nhí cái gì chẳng ai nghe nổi.
Thầy lại chỉ tay vào góc nhà, quát tiếp:
- Anh lên đây đứng vòng tay lại trong góc này, xem cả lớp nghe giảng bài.  Học hành như thế mà cũng dám vác mặt đến trường làm tốn tiền bố mẹ.
Chỉ một vài lần như thế thì đếch có thằng học trò nào dám ngủ gà ngủ gật nữa…
Nhưng cái tuyệt chiêu của thầy là Thơ Mới. Thầy chẳng những giảng thơ và còn kể luôn tiểu sử của những nhà thơ. Có lẽ thầy giang hồ tứ xứ và quen biết nhiều nên kể chuyện về những tác giả của người bài thơ mới như Phan Khôi, TTKH, Đinh Hùng vân vân thật là hay...
Một điều đặc biệt, thầy dạy Việt văn nhưng giảng qua luôn những vấn đề thời sự và chính trị. Thầy gieo rắc vào lòng chúng tôi những hột mầm của sự yêu nước. Thầy thường nói, không ai thương đất nước Việt Nam mình bằng người Việt Nam mình cả.  Ngay hồi ấy, lúc quân đội Mỹ có đến nửa triệu người ở Việt Nam, nhưng thầy tiên đoán rồi Mỹ sẽ ra đi. Thầy không ưa Mỹ, ghét Pháp thậm tệ. Còn Cộng sản là kẻ thù không đội trời chung. Thầy chửi luôn cả bọn tướng lãnh bất tài hồi đó. Rồi thầy còn dạy chúng tôi luôn cả đạo làm người. Thầy thường nêu câu sau này để dạy dỗ chúng tôi cách làm người, “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất.”
Nghe những lời thầy dạy, những tấm lòng son trẻ của chúng tôi bỗng nổi dậy lòng yêu thương tổ quốc, rạt rào và bừng bừng như sóng vỗ.
Nhưng rồi một ngày năm Đệ Tam, thầy Dung biến mất thật bất ngờ cũng như lúc thầy đã đến. Không kèn không trống, không báo trước, không có lễ tiễn đưa, chẳng một ai trong chúng tôi biết. Một buổi sáng, giờ Việt văn, một giáo sư lạ bước vào lớp, hỏi thầy Dung đã dạy đến đâu. Chẳng có đứa nào trả lời được vì thầy hứng đề tài nào thì dạy đề tài đó, chúng tôi làm sao biết được. Lúc ấy chúng tôi mới thấy tiếc thầy, nhưng ai cũng tưởng thầy bị đau, chỉ nghỉ vài ngày. Nào ngờ, thầy biến mất thật. Từ hôm đó trở đi, chúng tôi chẳng còn bao giờ gặp được thầy Dung nữa...
Ôi, tiếc nối thôi là tiếc nối...
Chỉ không đầy một năm sau, chúng tôi đọc được những bài thầy viết trên các tờ báo lớn như Chính Luận, Xây Dựng vân vân. Mãi cho đến lúc đó, chúng tôi mới biết rằng mình may mắn được một người có tên tuổi như Cao Thế Dung dạy. Thật đáng hãnh diện biết bao.  Sau đó, thầy viết cả những cuốn sách nổi tiếng khác như “Làm thế nào để giết một Tổng Thống”, “Nhật Ký Đỗ Thọ” vân vân. Cuốn nào cũng hay, làm tôi đọc say mê.
Rồi tôi vào lính.  Rồi mất nước...
Ngay từ những năm đầu tiên ở Mỹ, tôi bắt đầu được đọc thầy viết trên những tờ báo ở Hoa Thịnh Đốn với bút hiệu Hà Nhân Văn, và thầy có xuất bản cả sách nữa. Mãi đến năm 1992, thầy có dịp về New Orleans, ngụ tại nhà Lê Hồng Thanh, khu bộ trưởng của LMDCVN, tôi có dịp đến gặp thầy và dự vài buổi tiệc với thầy. Nhớ mãi hôm đó, có cả nhà thơ Nguyễn Lập Đông. NLĐ và thầy ngồi bàn về thơ Lục Bát làm mọi người ngồi nghe thật sướng.  Thầy bảo thơ Lục Bát coi tuy dễ làm, nhưng làm hay thì thật là khó. Thầy lại đem Nguyễn Du ra dẩn giải làm tôi lại nhớ đến những buổi chiều vàng ở trường La San Ban Mê Thuột năm nào. Cuối cùng, thầy khen thơ lục bát của Nguyễn Lập Đông rất hay, làm cu cậu sướng rên người.  Làm tôi cũng ... sướng theo vì có một thằng bạn làm thơ tới quá.
Tôi biết thầy khen thật vì thầy là con người thẳng thắn, chẳng cần lấy lòng ai.
Mới gặp tôi, thầy nhớ ra tôi ngay, hỏi thăm bố mẹ và gia đình tôi. Tôi được ngồi tâm sự với thầy khá lâu. Tôi hỏi thầy viết như thế nào, đánh máy hay sử dụng computer. Thầy cười, trả lời, thầy vẫn còn viết bằng tay và sẽ không bao giờ đổi. Thầy bảo, ở Việt Nam có lần thầy đã viết thử bằng bàn đánh máy, nhưng không thể nào viết được vì ... chữ trong đầu nó không chịu bò ra bàn đánh máy.
Hình như đó là năm 1992 thì phải. Sau đó, tôi chằng còn bao giờ được gặp lại thầy. Không được gặp nhưng tôi luôn luôn theo dõi những vài viết, những cuốn sách thầy viết. Khi phong trào internet thịnh hành, tôi vẫn theo dõi những bài của thầy đăng trên net.
Nhưng mấy năm sau cùng đây, sức làm việc của thầy bắt đầu thấy yếu dần. Lâu lâu tôi mới thấy một bài của thầy...
Cho đến hôm nay, khi được tin của anh Trương Sĩ Lương cho biết thầy đã ra đi, tôi ngậm ngùi. Ngậm ngùi nhưng không buồn vì biết rằng, cuộc đời này, ai trong chúng ta rồi cũng sẽ đến một ngày như thế cả. Một trong những bi kịch to lớn nhất của con người là sự rũ áo ra đi mà. Ra đi trong hoàn cảnh nào cũng thế. Hễ ra đi là buồn rồi. Có khác chăng là sớm hay muộn. Khác chăng là ra đi mà được người người nối tiếc hay bị nguyền rủa thống hận. Khác chăng là con cái mình sẽ được hưởng cái danh thơm tiếng tốt của mình hay phải tủi nhục suốt đời vì những chuyện mình đã làm. Khác chăng là khi xuống dưới Suối Vàng, mình còn có can đãm nhìn mặt tổ tiên mà rập đầu quỳ lạy hay phải hỗ thẹn bỏ đi trốn vì mình đã làm thằng bán nước, bán bạn bè anh em. Cuối cùng, khác chăng là, những ngày mình còn sống, mình đã làm được gì cho tổ quốc, cho đồng bào, cho anh em, hay chỉ là một thằng ăn nhậu nói phét, cướp vợ đàn em, trở về quỳ lạy kẻ thù cũ, làm ô danh giòng họ đến muôn đời muôn  kiếp...
Thầy Dung kính mến,
Thầy ra đi, em ngậm ngùi tiếc nhớ thầy. Nhớ lại những hạt mầm yêu nước thầy đã gieo vào lòng chúng em ở trường La San Ban Mê Thuột năm nào.  Đừng nghĩ thằng Mỹ nó yêu thương đất nước mình.  Chúng nó đến đây vì quyền lợi của chúng nó.  Một ngày nào đó, chúng nó sẽ ra đi.  Các em nên nhớ, không có ai yêu thương đất nước mình bằng người Việt Nam mình cả.  Nếu các em không yêu thương đất nước mình thì các em mong đợi ai sẽ yêu thương đất nước mình đây?”  Thầy dạy chúng em nhiều lần như vậy.
Cuộc đời của thầy là một cuộc đời tranh đấu chống Cộng sản bạo tàn và chống luôn cả những bất công tham nhũng. Trước sau như một, thầy đã thể hiện tấm long trung trinh với tổ quốc. Thầy không đi lính nên không bắn được một viên đạn nào để giết kẻ thù, nhưng sự nghiệp văn chương của thầy, sự tận tâm dạy dỗ của thầy, đã vạch rõ và báo động cho nhân dân miền Nam biết sự tàn bạo dối trá của bọn Cộng sản, làm cho chúng em biết yêu thương tổ quốc và tin tưởng vào tương lai của dân tộc.
Chiều nay, sau khi được tin thầy Dung mất, tôi có chuyện cần phải lái xe đi. Dừng xe ở một trạm đèn đỏ, tôi tự dưng nghiêng người ra cửa và đưa mắt lên nhìn trời, và chợt trông thấy những đám mây trắng đang chập chùng trên cao...
Đã hơn bốn chục năm rồi, kể từ khi không còn được lái tàu bay, tôi đâm ra ghét mây kinh khủng. Ngày xưa, tôi luôn luôn nhìn chúng nó trước khi cất cánh để ước lượng xem thử mình sẽ lái tàu, bay bên trên chúng nó, xuyên qua chúng nó, hay bay dưới chúng nó để tới mục tiêu. Ai đã từng lái tàu bay thì phải biết là Mây có tới 9 loại và nhiều màu sắc, nhiều cao độ. Mây luôn luôn thay đổi biến hóa và nhiều khi cũng nguy hiểm tàn độc như con người. Phi công nào coi thường mây, liều lĩnh xách tàu chui vào thì có ngày sẽ chết mất xác. Đã 40 năm tôi không còn nhìn mây nữa—dù ngày xưa chẳng ưa gì chúng nó nhưng ít nhất chúng nó cũng còn là bầu bạn, gặp gỡ nhau hằng ngày, trong những bầu trời bập bùng lửa đạn hay những ngày lặng im tiếng súng. Nhưng bây giờ thì đã “nghìn trùng xa cách”, cho nên, mỗi lần nhìn lên chúng nó là mỗi lần thấy xót xa đau đớn trong lòng vô cùng vô tận.  Cuối cùng thì đừng thèm nhìn chúng nó là tốt hơn cả.
Nhưng hôm nay, thầy Dung chết, tôi bỗng lơ đãng nhìn lên những áng mây thật trắng, bay rất là đà và hiền lành dễ thương trong bầu trời xanh của nước Mỹ, nơi chưa bao giờ có đạn bom và hận thù như quê hương mình. Và tôi thấy, trong một đám mây nào đó, làm như có hình ảnh của một Cao Thế Dung, thầy tôi ngày xưa...
Thầy bình dị nhưng cao cả làm sao. Thầy hiền lành nhưng bất khuất làm sao...
 
Viết cho thầy,
Trường Sơn Lê xuân Nhị, Học Sinh La San Ban Mê Thuột
New Orleans những ngày vào thu
11/5/2017
 
Mỹ, lá bài Caravelle và cuộc Đảo Chánh 1960
Lữ Giang
Về cuộc đảo chánh ngày 11.11.1960 chúng tôi đã viết nhiều bài đăng trên trên báo Saigon Nhỏ cũng như phổ biến trên các diễn đàn trong các năm 2004 và 2007, căn cứ vào các tài liệu khác nhau. Nay một số độc giả trên Facebook đã yêu cầu chúng tôi nói rõ thêm về vai trò của Mỹ và nhóm Caravelle trong biến cố này. Điều này cho thấy độc giả bắt đầu nhận ra rằng chính Mỹ đã đứng đàng sau lèo lái toàn bộ cuộc chiến Việt Nam. Nếu không nắm vững chiến lược và chiến thuật của Mỹ, không thể hiểu được những chuyện đã xảy ra.
Image result for images of ambassador elbridge durbrow
Đại sứ Durbrow, người lèo lái cuộc đảo chánh 1960 thất bại
TÀI LIỆU CĂN BẢN CẦN THAM KHẢO
Chúng tôi có khá đủ tài liệu của phía Mỹ cũng như Việt Nam liên hệ đến cuộc đảo chánh ngày 11.11.1960, kể cả phúc trình điều tra của Đại tá Trần Khắc Kính, và đã viết một bài tổng kết 30 trang về biến cố này. Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài được đưa ra, chúng tôi sẽ trình bày tóm lược dựa trên ba tài liệu chính sau đây:
(1) Foreign Relations of the United States, 1958-1960, Vietnam, Volume I, của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ.
(2) Bản cáo trạng (actes d’accusasion) mang số TTL 38.036 ngày 4.7.1963 của Ủy Viên Chính Phủ Tòa Án Quân Sự Cách Mạng. Đây là bản cáo trạng được Luật sư Hoàng Cơ Thụy, một bị cáo, nhìn nhận rắng “phần trần thuật vụ án có lẽ dúng nhiều nhất với thực tế” (tr. 2818). Và phán quyết của tòa.
(3) Bộ “Việt sử khảo luận” của Luật sư Hoàng Cơ Thụy, người tự nhận là một trong ba lãnh tụ của cuộc đảo chánh ngày 11.11.1960 gồm Nguyễn Triệu Hồng, Vương Văn Đông và Hoàng Cơ Thụy. Bộ sách này xuất bản ở Pháp gồm 5 cuốn, dày đến 3238 trang nên rất ít người “vớ tới”, kể cả những người viết sử. Biến cố 1960 được nói đến trong cuốn 5.
KHI MỸ THAY ĐỔI CHIẾN LƯỢC
Như chúng tôi đã nói trong bài “Khi Mỹ vẽ lại lịch sử cuộc chiến VN”, tháng 7 năm 1954, khi ông Diệm mới trở vế chấp chánh, Mỹ đã đưa Trung Tá Lansdale, một viên chức OSS, đến giúp ông Diệm hình thành một chính quyền bản xứ mạnh (a strong indigenous government) để ổn định tình hình và loại bỏ chế độ cộng sản (to rid the country of communists). Những tiết lộ của Đại sứ Frederick Reinhardt và Trung Tá Lansdale cho thấy Mỹ muốn ông Diệm hình thành một chế độ độc đảng gióng Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan, Park Chung Hy ở Nam Hàn, Sukarno ở Nam Dương hay Lý Quang Diệu ở Singapore.
Đến năm 1957, Mỹ thay đỏi chiến thuật, muốn đổ quân vào miền Nam để thực hiện mục tiêu của các nhóm tài phiêt quốc phòng là tiêu thụ hết các vũ khi tồn động từ Thế chiến thứ II và thử nghiệm các vũ khi mới. Khi ông Diệm không đồng ý, Mỹ liền đưa ông Elbridge Durbrow đến làm Đại sứ thay thế ông Frederick Reinhardt để làm áp lực buộc ông Diệm phải thay đổi. Các tài liệu cho thấy một cuộc tranh luận gay cấn đã xầy ra giữa Đại tá Lansdale và ông Durbrow, nhưng ông Durbrow cứ làm vì đó là lệnh của Washington.
HÌNH THÀNH CÁC TỔ CHỨ “XÃ HỘI DÂN SỰ”
Khi Mỹ muốn làm áp lực về vấn đề gí hay muốn thay đổi một chế độ, công tác đầu tiên là hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” (civil society). Nghĩa thông thường của “tổ chức dân sự” là “nơi người dân kết hợp hoạt động nhằm thăng tiến các lợi ích chung”. Nấp dưới danh nghĩa đó, Mỹ yềm trợ thành lập và phát triển các tổ chức đối lập chống lại chính quyền sở tại. Ngày nay, các chính phủ có liên kết với Mỹ khi nghe Mỹ kêu gọi thành lập "xã hội dân sự" đều ở trong thế phòng vệ.
Sự xuất hiện của Đại Sứ Durbrow làm giới đối lập tại miền Nam lên tinh thần. Ngày 6.5.1957, nhóm Hoàng Cơ Thụy, Phan Quang Đán, Nghiêm Xuân Thiện và một số chính khách đã mở cuộc họp báo, tuyên bố thành lập Khối Liên Minh Dân Chủ và xác định đây là một tổ chức đối lập hợp pháp với chính quyền. Sau đó tiến tới thành lập thành lập Khối Tự Do Tiến Bộ quy tụ những chính khách nổi tiếng của miền Nam bất đồng ý kiến với chế độ.
1.- Hình thành Khối Tự Do Tiến Bộ (nhóm Caravelle)
Ông Trần Văn Văn cho biết vào tháng 3 năm 1960, theo lời mời của Bác sĩ Hồ Văn Nhựt, ông có đến hội kiến với một thương gia trong American Trading là ông Gouder. Đây là một nhân viên tình báo Mỹ hoạt động dưới hình thức một thương gia.
Cuộc hội kiến xoay quanh vấn đề thành lập những cơ cấu đối lập với chính phủ hiện hữu theo sáng kiến của ông Gouder. Tuy mọi người chưa biết nhiều về ông Gouder, nhưng biết ông ta quen biết nhiều ký giả và đại diện các hãng thông tấn ngoại quốc, nên muốn lợi dụng ông ta để phổ biến bản điều trần gởi Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Ông Gouder có giới thiệu một số ký giả ngoại quốc. Ông Trần Văn Văn cũng có đi gặp một Mỹ kiều tên là Edward Chere để nhờ ông này vận động với chính quyền Mỹ tiếp tế cho dân chúng Đô Thành và tìm cách kiềm chế bớt nhóm quân nhân.
Luật sư Trần Văn Tuyên cho biết vào khoảng tháng 5 năm 1960, ông Trần Văn Văn có mời một số người đến dự một cuộc họp tại nhà hàng Sinh Ký để thành lập Khối Tự Do Tiến Bộ và bầu Ban Thường Vụ của khối. Vì nhóm này thường họp tại nhà hàng Caravelle nên được gọi là Nhóm Caravelle. Thành phần của Ban Thường Vụ được bầu gồm những nhân vật sau đây: Phan Khắc Sửu, Trần Văn Văn, Trần Văn Đỗ, Trần Văn Hương, Trần Văn Lý, Phan Huy Quát và Trần Văn Tuyên. Ông Phan Khắc Sửu được bầu làm đại diện tinh thần của nhóm, thường được gọi là Trưởng Khối. Hàng tuần Ban Thường Vụ họp một lần tại nhà ông Phan Huy Quát hay ông Nguyễn Lưu Viên.
2.- Hoạt dộng của Khối Tự Do Tiến Bộ
Do sự vận động của Khối Tự Do Tiến Bộ, ngày 26.4.1960, 18 nhân vật miền Nam họp tại nhà hàng Caravelle và đưa ra một bản tuyên ngôn yêu cầu “chính quyền thay đổi gấp chính sách để cứu vãn tình thế...” và xây dựng một quốc gia “thanh bình và thịnh vượng trong Tự Do và Tiến Bộ”. Nhóm này gồm các nhân vật chính sau đây: Trần Văn Văn, Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Nguyễn Lưu Viên, Huỳnh Kim Hữu, Phan Huy Quát, Trần Văn Lý, Nguyễn Tiến Hỷ, Trần Văn Đỗ, Lê Ngọc Chấn, Lê Quang Luật, Lương Trọng Tường, Nguyễn Tăng Nguyên, Phạm Hữu Chương, Trần Văn Tuyên, Tạ Chương Phùng, Trần Lê Chất và LM. Hồ Văn Vui.
Trên đây chỉ là mặt nổi. Bên trong, Nguyễn Bảo Toàn và một số đàn em, nhất là Tạ Chí Diệp, Phan Thông và một số đảng viên VNQDĐ đã đưa ra kế hoach lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm. Trong cuộc họp tại nhà hàng Caravelle nói trên, Tạ Chí Diệp là người thuyết trình và điều khiển chương trình.
Tháng 6 năm 1960, Khối Tự Do Tiến Bộ đã đệ trình Tổng Thống Diệm hai bản kiến nghị yêu cầu ban hành tự do báo chí và chấm dứt việc bắt người trái phép. Sau đó, khối đã mở một cuộc họp báo tại nhà ông Trần Văn Đỗ để phổ biến bản kiến nghị này. Cuối tháng 7 năm 1960, Khối Tự Do Tiến Bộ lại trình lên Tổng Thống thư điều trần yêu cầu ngưng việc thành lập Khu Trù Mật.
Vào tháng 8 năm 1960, một số nhân vật trong Khối gồm các ông Trần Văn Văn, Trần Văn Đỗ, Phan Huy Quát và Trần Văn Tuyên đã góp tiền cho Phan Thông tổ chức một cuộc biểu tình chống chính phủ vào ngày 22.8.1960 tại Sài Gòn.
ÂM MƯU ĐẢO CHÁNH
Luật sư Hoàng Cơ Thụy tiết lộ rằng một hôm vào cuối tháng 10 năm 1960, ông có ướm hỏi ông George Carver, một nhân viên trung cấp Mỹ của CIA“Nếu một nhóm người quốc gia chống cộng lật dổ được ông Diệm, thì chính phủ Hoa Kỳ sẽ có ủng hộ chính phủ Việt Nam mới đó hay không?” Sau khi về hỏi thượng cấp, ông Carver đã trả lời: “Nếu nhóm ấy cướp hẵn được chính quyền ở Sài Gòn và thiết lập một chế độ thật sự dân chủ, thì Hoa Kỳ sẽ ủng hộ.”
Theo Luật sư Thụy, Trung Tá Nguyễn Triệu Hồng, Trung Tá Vương Văn Đông và ông được coi như là nhóm tổ chức và lãnh đạo cuộc đảo chánh. Đại Tá Nguyễn Chánh Thi chỉ mới được kéo vào sau khi cuộc đảo chánh đã được tiến hành. Trung Tá Nguyễn Triệu Hồng, đảng viên Đảng Đại Việt, là cháu của Luật sư Thụy. Luật sư Thụy cho biết sự liên lạc giữa ba người kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1960, nhưng cơ quan an ninh của chính phủ không hề hay biết. Nơi liên lạc thường là văn phòng của ông ở 81 đường Nguyễn Du, Quận 1, Sài Gòn, và có khi ngồi bàn trên xe đang chạy.
Các thành phần sẽ tham gia chính phủ mới gồm có Phan Khắc Sửu, Phan Bá Cầm, Phan Quang Đán, Vũ Hồng Khanh, Đinh Xuân Quảng, Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Bảo Toàn, Bùi Lượng, v.v.
TIẾN HÀNH CUỘC ĐẢO CHÁNH
Mặc dầu có những khó khăn, lệnh tấn công và chiếm giữ các mục tiêu trong Đô Thánh được thực hiện từ 3 giờ đến 3 giờ 30 sáng 11.11.1960. Các lực lượng đã được huy động để tham gia đảo chánh gồm có: 4 Tiểu đoàn Nhảy Dù, 3 Đại đội Dù biệt lập, Tiểu đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến, 1 Đại đội Quân Cảnh Quân Khu Thủ Đô và Tiểu đoàn 27 Pháo Binh.
Các báo cáo liên tục gởi về Washington trong hai ngày 11 và 12.11.1960. Có nhiều báo cáo không chính xác, nó chỉ là những thứ “Fake News” được dùng để đánh lừa Bộ Ngoại Giao.
Lúc 7 giờ ngày 11.11.1960, Đại Sứ Durbrow đã gởi cho Bộ Ngoại Giao một công điện báo cáo sơ lược về tiến trình của cuộc đảo chánh. Ông cho biết Trung Tá Vương Văn Đông, người lãnh đạo cuộc đảo chánh và các tướng lãnh đang thành lập chính phủ như Xuân, Chiểu, “Big” Minh, Đôn và Kim... Ông nói giả thiết những thông tin nói trên là đúng, ông định đưa ra lời tuyên bố với tư cách cá nhân rằng chính phủ mới đã lên cầm quyền ở VNCH và Mỹ sẽ có những sự hợp tác chặt chẽ với chính phủ này, v.v. Ông đề nghị “Bộ soạn thảo một cách nhanh chóng để biểu lộ một cách công khai Hoa Kỳ ủng hộ tân chính phủ…”
Một công điện của ông Toland, Tùy viên Không Quân tại Việt Nam gởi cho ông White, Tham Mưu Trưởng Không Quân Hoa Kỳ lúc 11 giờ 55 đêm 11.11.1960 báo cáo rằng lúc này cuộc đảo chánh xem ra đang tiến bộ. Cuộc đảo chánh được nhóm phản loạn thực hiện tốt. Công điện viết: “AIRA tin rằng Diệm sẽ đầu hàng loạn quân hay sẽ tự sát trước khi đêm xuống.” (It AIRA belief Diem will captulate to rebels or commit sucide before nightfall.)!
Trong khi đó, sáng 11.11.1960 Trung Tá Vương Văn Đông, người chỉ huy cuộc đảo chánh, cho biết Trung tá Nguyễn Triệu Hồng đã bị bắn chết và ông nhận được báo cáo của Thiếu tá Nguyễn Văn Lộc cho biết không thể chiếm dinh Độc Lập được vì bị kháng cự quá mạnh và không có thiết giáp yểm trợ. Thiếu tá Lộc xin tiếp viện. Điều này chứng tỏ những tin nói trên là không đúng.
Lúc 2 giờ 02 phút sáng ngày 12.12.1963, Bộ Ngoại Giao đã trả lời công điện số 775 của Tòa Đại Sứ Sài Gòn, nói rằng nếu tình hình quả đúng như vậy thì có thế công bố tuyên bố cá nhân như đã nói, nhưng sửa đổi một số điểm, xác định “chính phủ mới mạnh mẽ chống cộng” và “chúng tôi tìm cách tiếp tục những sự quan hệ tốt với dân chúng và chính phủ Việt Nam”.
Nhưng tình hình không tốt đẹp như Đại Sứ Durbrow đã báo cáo.
CUỘC ĐẢO CHÁNH ĐÃ THẤT BẠI
Luật sư Thụy cho biết, vào khoảng 11 giờ ngày 12.11.1960, Sư đoàn 21 của Tướng Trần Thiện Khiêm từ miền Tây kéo về bao vây và yêu cầu quân đảo chánh đầu hàng. Vương Văn Đông đến nhà Tướng Mc Garr, Trưởng Phái Bộ Viện Trợ Quân Sự (MAAG) yêu cầu tướng này và Đại sứ Durbrow thúc đẩy ông Diệm điều đình với Hội Đống Cách Mạng, nếu không sẽ đi tới đổ máu rộng lớn giữa quân đội. Để cứu nhóm đảo chánh, Đại sứ Durbrow đã yêu cầu ông Diệm, nhưng ông Diệm đã không làm theo ý ông Đại sứ.
Một sĩ quan Hoa Kỳ được Tòa Đại Sứ Mỹ phái đến cạnh Hội Đồng Cách Mạng từ chiều 11.11.1960 để theo dõi, cho biết một đơn vị thiết giáp đang tiến về Bộ Tổng Tham Mưu, quân đảo chánh đang bị bao vây. Thấy không thể cầm cự được, các sĩ quan tổ chức đảo chánh như Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông, Phạm Văn Liễu… chạy về phía phi trường Tân Sơn Nhứt để tìm máy bay đi ra ngoại quốc.
Luật sư Hoàng Cơ Thụy cho biết ông cùng với vợ và đứa con trai tên Đức 15 tuổi đến trốn tại nhà ông Bùi Văn Lượng. Đến 20 giờ ngày 13.11.1960, lợi dụng trời tối, ông và đứa con trai đi xe taxi đến nhà ông bà Carvet ở đường Phan Đình Phùng. Nghe bấm chuông, bà Ruth, vợ ông Carver cầm súng lục ra xem, nhưng thấy Luật sư Thụy bà liền mở của cho ông vào, còn đứa con trở lại nhà ông Bùi Văn Lượng báo tin cho mẹ biết. Sau đó, người Mỹ đã đưa ông đến ở một ngôi biệt thự bỏ trống ở đường Ngô Đình Khôi và thỉnh thoảng lại thay đổi địa chỉ. Thường ông phải nằm trong một chiếc áo quan. Hôm 2.12.1960, ông có lén về nhà nhưng vợ ông đã đi trốn ở Chợ Lớn.
Hôm 4.12.1960, người Mỹ đã cho ông ngồi bó gối trong một bao bố lớn, cột dây lại thành một kiện hàng ngoại giao (une valise diplomatique), ôm lên xe rồi đưa ra phi trường Tân Sơn Nhất, đẩy lên một chiếc phi cơ quân sự của Mỹ và đưa ra khỏi Việt Nam.
TRƯỚC TÒA ÁN QUÂN SỰ ĐẶC BIỆT
Bản cáo trạng của Ủy Viên Chính Thủ Tòa Án Quân Sự Đặc Biệt cho biết ngoài một số sĩ quan QLVNCH, có rất nhiều nhân vật thuộc hai khối Liên Minh Dân Chủ và Tự Do Tiến Bộ (tức nhóm Caravelle) đã tham gia cuộc đảo chánh này.
Ngày 11.7.1963, Tòa Án Quân Sự Đặc Biệt đã xét xử 35 bị cáo dân sự liên quan đến cuộc đảo chánh: 20 người bị án cấm cố, trong đó có các ông Phan Khắc Sửu, Phan Quang Đán, Vũ Hồng Khanh, Phan Bá Cầm, Lê Kiên tự Bùi Lượng, Nguyễn Chữ, Trương Bảo Sơn, v.v. Có 14 người được tha bổng, trong đó có Trung Tướng Nguyễn Thành Phương, ông bà Đinh Xuân Quảng, bà Trần Thị Kim Dung, v.v. Ông Nguyễn Tường Tam (đã uống thuốc độc tự tử hôm 7.7.1960) được tuyên bố vô tội. Đại Úy Ủy Viên Chính Phủ nói ông Nguyễn Tường Tam chỉ bị lợi dụng.
Ngày 12.7.1960, Tòa Án Quân Sự Đặc Biệt đã xử khiếm diện 9 quân nhân và dân sự liên hệ đến cuộc đảo chánh: Tòa tuyên án tử hình Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, Trung Tá Vương Văn Đông, các Thiếu Tá Trần Văn Đô, Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Huy Lợi, Phạm Văn Liểu, Nguyễn Quốc Tuấn, Luật sư Hoàng Cơ Thụy và ông Nguyễn Bảo Toàn.
NHỮNG “ĐỘC CHIÊU” TIẾP THEO
Vì Đại Sứ Durbrow có nhiều tai tiếng trong vụ đảo chánh 1960, ngày 15.3.1961 Tổng Thống Kennedy đã quyết định cử ông Federick E. Nolting làm Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn thay thế ông Durbrow.
Ngày 9.5.1961, một phái đoàn do Phó Tổng Thống Johnson cầm đầu đã đến Sài Gòn chính thức yêu cầu Tổng Thống Diệm cho Mỹ đổ quân vào Việt Nam, nhưng Tổng Thống Diệm không đồng ý. Mỹ liền nghĩ ra một độc chiêu khác là ngày 23.7.1962 Thứ trưởng Ngoại Giao Harriman đã ép buộc VNCH phải ký Hiệp Ước Hòa Bình tại Lào,rút toàn bộ quân đội VNCH ra khỏi Lào. Hành động này nhằm mở đường cho bộ đội Bắc Việt có thể dùng con đường Tây Trường Sơn ở Lào chuyển quân vào Miền Nam, rồi Mỹ viện vào lý do đó, tuyên bố phải đổ quân vào để “cứu Miền Nam”!
 Image result for images of johnson and ngo dinh diem
Phó Tổng Thống Johnson đến Sài Gòn ngày 9.5.1961 yêu cầu Tổng Thống Diệm cho Mỹ đổ quân Mỹ vào Việt Nam.
Sau cuộc đảo chánh 1960, Tổng Thống Diệm rất tín nhiệm Tướng Trần Thiện Khiêm và cho làm Tham Mưu Trưởng Liên Quân. Mỹ liền tuyển mộ Khiêm làm nhân viên CIA.
Dùng lá bài các tổ chức đấu tranh chính trị năm 1960 thất bại, Mỹ quay qua dùng lá bài tôn giáo. Với một nước có trình độ văn hóa thấp như Việt Nam, Mỹ nghĩ đến việc xử dụng Phật Giáo bằng cách kích động lòng hận thù tôn giáo, vì ông Diệm là người Công Giáo. Chỉ cần tạo ra vụ nổ trước đài phát thanh Huế và vụ thiêu sống Thích Quảng Đức ở Sài Gòn, Mỹ đã đưa lòng hận thù tôn giáo của Phật Giáo lên cao và làm cho tình hình trở nên căng thẳng, Mỹ liền ra lệnh cho Tướng Trần Thiện Khiêm làm đảo chánh, chế độ Ngô Đình Diệm đã biến mất.
Có một điều rất quan trọng mà Khối Liên Minh Dân Chủ, Khối Tự Do Tiến Bộ, Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang và Đảng Việt Tân đều không biết, đó là sau khi làm công cụ cho Mỹ để phá sập một chế độ rồi, Mỹ cũng như Cộng Sản, sẽ không bao giờ dùng “TRÍ, PHÚ, ĐỊA, HÀO” để lãnh đạo đất nước, vì đó là những thành phần không thể sai khiến được. Mỹ cũng như Cộng Sản chỉ dùng đám “BẦN CỐ NÔNG” (i-tờ-rít về chính trị) để dễ sai bảo như Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Văn Thiệu hay Đặng Văn Quang mà thôi.
Trên đây là những biến cố mà Đảng CSVN cũng như nhiều nước trên thế giới đã rút được bài học lịch sử để phòng thân, trong khi người Việt đấu tranh vẫn còn cầm cờ đứng nhìn ngơ ngác!
Ngày 9.11.2017
Lữ Giang