Search This Blog

Friday, December 21, 2018

Mỹ Trúng Mối Bán Vũ Khí
Vi Anh
image.png
Thời TT Trump, Mỹ trúng mối bán vũ khí tiền vô như nước. Kinh tế Mỹ phát triển, thương mại gia tăng, nhưng không có ngành nào bán nhiều, lời nhiều như ngành sản xuất, mua bán vũ khí. Kỹ nghệ sản xuất, mua bán vũ khí cũng giúp cho một số không nhỏ người Mỹ có tiền thêm, tiêu thụ mạnh, làm kinh tế tăng, thất nghiệp giảm.

Những con số của chánh quyền Mỹ và các cơ quan quốc tế nói lên điều ấy. Thương vụ bán vũ khí ấy hiện ở mức kỷ lục 700 tỷ USD. Tập đoàn Boeing doanh thu từ 98 - 100 tỷ USD trong năm 2018, nhờ vào các hợp đồng của Bộ Quốc phòng. Tập đoàn Northrop Grumman, sản xuất vũ khí lớn thứ 5 của Mỹ, 30 tỷ USD. Tập đoàn Lockheed Martin nâng tăng trưởng lên thêm 5% - 6% vào năm 2019. Lockheed Martin, Boeing, General Dynamics, Raytheon và Northrop Grumman đua nhau mua lại một số công ty nhỏ hơn.

Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 8-11-2018 công bố  thương vụ  bán vũ khí của Mỹ cho các chính phủ ngoại quốc đã tăng 33% trong tài khóa 2018 (kết thúc vào ngày 30-9 vừa qua), đạt 55,6 tỷ USD so với 41,93 tỷ USD trong tài khóa 2017. Doanh số trên góp phần đưa tổng kim ngạch xuất khẩu vũ khí Mỹ được cấp phép, bao gồm các thương vụ cấp chính phủ và bán hàng trực tiếp, tăng 13% đạt 192,3 tỷ USD trong năm 2018. Bộ Ngoại giao Mỹ giải thích, việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu vũ khí nói trên là nhờ chính sách mới của Tổng thống Mỹ Donald Trump từ tháng 4/2018, trong đó gắn việc buôn bán vũ khí thông thường của Mỹ với các lợi ích an ninh kinh tế và quốc gia.

Thương vụ tăng như diều gặp gió, tiền vào đếm không kịp trong thương vụ vũ khí sau khi  chánh quyền Trump nới lỏng những quy định về việc bán hàng hóa, đồng thời yêu cầu các quan chức Mỹ thể hiện trách nhiệm lớn trong việc thúc đẩy kinh doanh tại nước ngoài đối với ngành kỹ nghệ vũ khí của Mỹ. Một số quan chức Chính phủ Mỹ cho biết, TT Trump muốn biến nước Mỹ, vốn đã có ưu thế vượt trội trong buôn bán vũ khí toàn cầu, trở thành một nước xuất cảng vũ khí lớn hơn nữa trên thế giới.

Theo thông lệ và tập tục các chính phủ nước ngoài mua vũ khí từ các công ty Mỹ phải qua hai cửa. Cả hai cửa này đều đòi hỏi Chính phủ Mỹ thông qua. Bộ Ngoại giao Mỹ vừa qua đã cho công bố tóm tắt chính sách Chuyển giao vũ khí thông thường mới (CAT), trong đó nhấn mạnh đến ưu tiên cạnh tranh chiến lược và kinh tế, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động chuyển giao, mua bán vũ khí.

Cụ thể, Bộ Ngoại giao sẽ đẩy nhanh việc cập nhật danh sách hạn chế. Quy định về buôn bán vũ khí quốc tế (ITAR) của Mỹ, chuyển danh mục danh sách đạn dược thuộc ITAR sang lĩnh vực của Bộ Thương mại quản lý, cho phép bán vũ khí nhanh hơn thông qua quy trình bán hàng thương mại trực tiếp. Bộ này cũng đang lên kế hoạch tăng số lượng nhân viên giải quyết các vấn đề về xuất cảng vũ khí để giải quyết tình trạng khiếu nại kéo dài của Cục Các Vấn Đề Về Chính Trị - Quân Sự thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ về việc thiếu nhân sự để giải quyết việc bán vũ khí cho ngoại quốc.

Mới đây, dư luận quốc tế cũng lo lắng dõi theo việc Tổng thống Donald Trump tuyên bố rút Mỹ khỏi Hiệp ước Lực lượng nguyên tử tầm trung (INF). Tuy Toà Bạch Ốc vẫn chưa xé bỏ hiệp ước này, nhưng quân đội Mỹ đã bắt đầu chuẩn bị cho các cuộc cạnh tranh hoả tiễn đạn đạo trong tương lai. Lục quân Mỹ đã đề cập đến kế hoạch phát triển sau khi rút khỏi INF trong lộ trình hiện đại hóa lực lượng này. Một số chuyên gia của Mỹ cho rằng, nếu Mỹ rút khỏi INF thì nhịp độ và cơ hội sử dụng vũ khí nguyên tử của các cường quốc nguyên tử như Mỹ, Nga… sẽ tăng vọt.

Cuộc chạy đua này, nếu xảy ra, sẽ tiếp tục là “bầu sữa” nuôi các tập đoàn sản xuất vũ khí của Mỹ. Dennis Muilenburg, Giám đốc điều hành của Boeing, đã từng nói: “Chúng tôi nhận thấy rằng, ngày càng nhiều các chỉ dấu về việc chi tiêu quốc phòng của Mỹ sẽ duy trì sự ổn định trong dài hạn”.

Trước đó, một trong những chính sách nhằm mở rộng hơn nữa thị trường xuất cảng vũ khí được Chính phủ Mỹ phát huy, đó là áp dụng biện pháp trừng phạt đối với các quốc gia ký kết hợp đồng lớn mua bán vũ khí với Nga được nêu trong luật Chống Những Đối Thủ Của Mỹ Thông Qua Trừng Phạt (CAATSA).

Theo Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Quốc Tế Stockholm, trong giai đoạn 2013 - 2017, Mỹ và Nga giữ vị trí hàng đầu trong lãnh vực xuất cảng vũ khí. Trong tổng kim ngạch xuất cảng vũ khí toàn cầu, Mỹ chiếm 34%, Nga là 22%.

Chuyên gia Konstantin Makienko, Phó Giám đốc Trung tâm phân tích Chiến lược và Công nghệ Nga, nhận định việc Mỹ áp dụng biện pháp trừng phạt với cái cớ Nga liên quan đến cuộc xung đột ở Ukraine và Syria, thực chất là để Mỹ đẩy Nga ra khỏi thị trường vũ khí quốc tế và thực hiện một số toan tính khác chống lại Nga. Cạnh tranh gay gắt giữa Moscow và Washington thể hiện rõ nhất trên các thị trường đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á. Thị phần lớn của Nga ở thị trường vũ khí trong khu vực này (45% - 50%) làm Mỹ khó chịu.

Tuy nhiên, giới quan sát cho rằng, những chính sách giúp ngành kỹ nghệ quốc phòng của Chính phủ Mỹ có thể sẽ bị ảnh hưởng sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vừa qua. Đơn cử, liên quan đến mối quan hệ với Saudi Arabia sau vụ nhà báo Jamal Khashoggi bị sát hại, Hạ viện Mỹ do phe Dân chủ kiểm soát nhiều khả năng sẽ bỏ phiếu ủng hộ đạo luật ngăn chặn các thương vụ buôn bán vũ khí với Riyadh. Dù xem Saudi Arabia là đối trọng với tầm ảnh hưởng của Iran ở Trung Đông, nhưng nhiều ý kiến của đảng Dân chủ cho rằng, Washington cần đòi hỏi nhiều hơn từ Riyadh.

Điều này thực sự khiến Tổng thống Mỹ Donald Trump và nhiều tập đoàn sản xuất vũ khí của nước này lo ngại. Năm 2017, Mỹ và Saudi Arabia đã ký thỏa thuận vũ khí trị giá 110 tỷ USD. TT Trump lo, nếu việc ngừng bán vũ khí cho Riyadh do vụ nhà báo Khashoggi thành hiện thực, quốc gia vùng Vịnh này có thể chuyển sang mua thiết bị quân sự từ Nga và Trung Quốc.

Còn VNCS, chính TT Trump chào mời VNCS mua vũ khí đến dự hội nghị ở Đà nẵng và ra thăm Hà nội. Tin  VOA ngày  01/08/2018 “Việt Nam ‘đặt mua’ gần 100 triệu đôla vũ khí Mỹ”. Một quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ mới khẳng định độc quyền với VOA tiếng Việt rằng Việt Nam có các hợp đồng mua các thiết bị quân sự với Hoa Kỳ trị giá tới 94,7 triệu đôla. Còn một nhà nghiên cứu bình luận với BBC tiếng Việt rằng việc Việt Nam mua vũ khí của Mỹ trị giá gần trăm triệu đôla "là bước tiếp cận đầu tiên" và "mang tính chất phòng thủ"../.

chiếc hôn

Julia Alvarez 
♦ Chuyển ngữ: Hoàng Chính

Lời người dịch – Julia Alvarez sinh năm 1950 tại New York và trải qua thời thơ ấu ở Dominican Republic, gia đình bà trở về Hoa Kỳ sau khi thân phụ bà tham gia một cuộc nổi loạn và phải sống lưu vong. Alvarez là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo. Bà là một trong những tác giả nữ của châu Mỹ La Tinh đã thành công trong cả hai khía cạnh văn chương và thương mại. Truyện ngắn Chiếc Hôn dịch từ The Kiss trong tập How the García Girls Lost Their Accents do Algonquin Books xuất bản năm 1991 tại Hoa Kỳ. 

GarcíaGirls

Ngay cả sau khi đã lấy chồng, có cuộc sống gia đình của riêng mình và thường không họp mặt được trong những dịp lễ lạc, bốn cô con gái luôn về nhà để đón sinh nhật ông bố. Các cô tụ lại với nhau, không có mặt chồng hiện tại, chồng tương lai, hoặc bồ bịch cùng sở làm. Bởi điều này nữa cũng là một phần của truyền thống: con gái về nhà bố mẹ một mình. Căn nhà không đủ chỗ cho mọi người, ông bố lý sự như thế. Hơn thế nữa, mấy anh con rể vắng vợ một đêm mà cũng không được hay sao?
Mấy anh chồng cũng chẳng thấy khó chịu bao nhiêu về chuyện không được về bên nhà vợ, tuy nhiên họ thấy bực mình vì cái thói khệnh khạng của bố vợ. “Chừng nào bố mới chịu công nhận là em cũng đã lớn rồi? Em ngủ với anh kia mà!”
“Bố gần bảy chục rồi, trời ạ!” mấy cô con gái biện hộ cho bố. Họ là những phụ nữ đầy nhiệt tình, sự tận tụy của họ hệt như rễ cây; đã đâm sâu vào dĩ vãng về phía bố già.
Thế nên cứ vào tháng Mười Một, sẽ có một đêm những cô gái ấy trở thành con gái cưng của bố. Trong phòng khách chật cứng, vây quanh bởi những đồ đạc cồng kềnh màu đen từ căn nhà cũ nơi họ đã lớn lên, họ lại trở thành những đứa bé, trong một khuôn mẫu nhỏ hẹp hơn, đơn giản hơn của thế giới. Màn diễn đứa con hoang đàng trở về ở cửa chính. Ông bố mở rộng vòng tay đón các cô bằng thứ tiếng Anh loạc choạc: “Đây là nhà của các con, các con đừng bao giờ quên điều đó.” Bên trong, bà mẹ cằn nhằn các cô – ăn mặc luộm thuộm; tóc tai bờm xờm; nhìn ra vẻ mệt mỏi, gầy trơ xương ra, trang điểm đặm quá, và vân vân.
Sau vài ly rượu, ông bố bắt đầu dông dài về những việc phải làm nếu như ông không sống được tới kỳ sinh nhật năm sau. “Bố ơi,” đám con gái xúm vào nịnh bố, rằng để đầu óc bi quan như thế làm ông sớm lụi tàn, và họ phải thuyết phục ông tiếp tục sống. Sau màn thổi nến và cắt bánh, ông bố phân phát những phong bì dày cộm, trong ấy có không dưới vài trăm bạc tiền giấy, mười, hai chục và năm đồng, tất cả sắp xếp cùng một chiều, tờ trên cùng có chữ ký của bố, đánh dấu tiền của bố. Sao không ký chi phiếu? sau đó các cô sẽ hỏi nhau, xì xầm trong phòng ngủ, đếm phần tiền của mình để biết chắc là bố không thiên vị. Bố tàng trữ tiền mặt nhiều như thế có hợp pháp không nhỉ? Có khi nào bố – không cô nào tin chuyện này, nhưng ý nghĩ ấy cứ lởn vởn trong đầu các cô rằng – có khi nào bố buôn bán ma túy hay phá thai lậu trong phòng mạch của ông không nhỉ?
Thế nhưng khi ngồi ở quanh bàn luôn luôn có màn giả bộ nài nỉ trả bao thư lại cho bố. “Không được đâu bố à, sinh nhật của bố mà.”
Ông bố bảo các cô là ba cái thứ ấy còn nhiều vô số. Cuộc cách mạng ở cố quốc đã thất bại. Hầu hết các đồng chí của ông đã bị giết hoặc bị mua chuộc. Ông lưu vong đến xứ sở này. Và bây giờ hồn ai nấy giữ thành ra những gì ông vun đắp được là cho mấy cô con gái của ông. Ông bố không bao giờ cho mấy cô con gái tiền lúc chồng các cô có mặt. “Chúng nó lại hiểu lầm mất công,” có lần ông nói thế, và dù không cô nào hiểu rõ ý ông, tất cả đều ngầm hiểu là ông muốn dặn rằng chớ có dẫn chồng về nhà ngày sinh nhật của bố.
Nhưng mà năm nay, để mừng sinh nhật bố, cô út Sofía muốn tổ chức tại nhà cô. Cô mới sinh thằng con trai mùa hè vừa rồi, và cô không muốn tháng Mười Một tay xách nách mang một thằng bé bốn tháng và con bé chị nó về. Và cô út, hơn hẳn các chị của cô, không muốn là người vắng mặt bởi vì kể từ khi cô bỏ nhà ra đi theo chồng sáu năm về trước, đây là lần đầu tiên hai bố con cô mới nói chuyện lại với nhau. Đúng ra, ông già đã tìm đến cô – hay đúng hơn là tìm gặp thằng cháu ngoại – hai lần. Sofía sinh con trai cũng là chuyện lớn. Thằng bé là đứa con trai đầu tiên sinh ra trong dòng tộc suốt hai thế hệ. Thực tế là thằng bé được đặt tên theo ông ngoại – Carlos – chữ lót lấy tên mẹ nó thời con gái, và như vậy, điều mà ông già mơ ước giữa một “khuê phòng đầy con gái,” như ông thường nói đùa, tên của ông cũng sẽ được lưu truyền cho hậu thế trên xứ sở mới mẻ này.
Trong hai chuyến thăm viếng, suốt ngày ông ngoại đứng bên nôi thằng cháu, trò chuyện với bé Carlos. “Hoàng Đế Charles Đệ Ngũ; Charles Dicken; Hoàng Tử Charles.” Ông kể tên những người nổi tiếng mang tên Charles nhắm mục đích khơi dậy cái tham vọng di truyền nơi thằng cháu ngoại. “Charlemagne,” ông rù rì bên nôi cháu, bởi thằng bé to xương, tóc vàng với nước da trắng hồng, và cặp mắt xanh giống ông bố người Đức của nó. Tất cả mơ ước của ông ngoại gốc Ca-ri-bê có được đứa cháu trai nối dõi mà còn mang sắc thái Bắc Âu đã thành sự thật. Bây giờ trong huyết thống dòng họ đã có dòng máu tốt của thằng bé để bù lại sự lựa chọn sai lạc của mẹ nó.
“Cháu có thể thành tổng thống, cháu sinh ra ở đây,” ông ngoại ngân nga. “Cháu có thể lên mặt trăng, ngay cả lên Hỏa Tinh khi cháu bằng tuổi ông bây giờ.”
Thái độ trọng nam khi nữ của bố đẩy Sofía ngược lại cái thời hai bố con xung khắc nhau. Sao ông có thể đáng ghét đến mức cứ lảm nhảm như thế trong khi ngay bên cạnh ông đứa cháu ngoại gái, mắt to tròn, buồn não nuột trước bao nhiêu thứ thằng em của nó, còn chưa lớn bằng một trong những con búp bê của nó, sẽ làm được chỉ vì nó là con trai.
“Anh bảo bố ngừng được rồi,” Sofía giục chồng.
Otto được xem là người vui tính, hiền lành trong số các anh con rể. “Chuyên viên tư vấn trại hè,” mấy bà chị vợ vẫn ghẹo anh ta như thế. Otto tiến về phía bố vợ. Hai người đàn ông trìu mến nhìn thằng bé Viking.
“Cháu sẽ là con người vĩ đại hệt như bố cháu,” ông ngoại nói. Đây là lời khen ngợi đầu tiên bố vợ đã từng ban xuống cho đám con rể trong gia đình. Thế là Otto chả dại gì mà chọc giận bố vợ nữa. “Cháu nó ngoan quá phải không Papi?” Giọng nói mang âm hưởng tiếng Đức của Otto đặc keo cảm xúc. Anh đặt tay lên vai bố vợ. Thế là hai người đàn ông trở thành đôi bạn.
Tuy nhiên dù ông bố đã hòa giải với con rể, tình hình vẫn căng thẳng giữa ông và cô con gái. Khi ông đến thăm, cô ôm lấy ông ở cửa, nhưng ông đờ ra như khúc gỗ và lịch sự đẩy cô ra. “Để bố bỏ mấy cái bọc nặng nề này xuống đã, Sofía.” Ông không bao giờ gọi cô bằng Fifi, cái tên cúng cơm thuở nhỏ, ngay cả khi cô còn ở nhà. Ông luôn luôn có vấn đề với đứa con gái út ngang ngược của ông, và ngay cả khi cô đã bỏ nhà đi, tình hình vẫn không sáng sủa hơn chút nào. “Tao không muốn trong nhà tao có những đứa đàn bà buông thả,” ông đã cảnh cáo đám con gái của ông. Những lời cảnh cáo gửi cho tất cả các cô, bởi vì chuyện xào xáo thường do một cô gây ra, nhưng tất cả đều bị mắng.
Đám con gái của ông đã phải chịu đựng thái độ ấy trong thời kỳ thiếu vắng sự cảm thông. Họ trưởng thành vào cuối thập niên sáu mươi. Đó là thời kỳ mà việc mặc quần jeans đeo những bông tai to xù, hút một chút cần sa và ngủ với bạn học cùng lớp được xem như một hành vi chính trị phản kháng lại thứ mặc cảm kỹ nghệ nhà binh. Tuy nhiên việc phản kháng ông bố lại là một chuyện hoàn toàn khác. Ngay cả khi đã là những người đàn bà trưởng thành, họ vẫn xuống giọng thì thầm khi bố lẩn quẩn quanh đó, lúc họ bóng gió với nhau chuyện khoái lạc thể xác. Họ còn là những phụ nữ có chức nghiệp nữa, cả ba cô, với bằng cấp treo đầy trên tường.
Sofía là người không có bằng cấp gì hết ráo. Cô luôn đi vào con đường cô chọn lấy, dù cô xí xóa những chọn lựa sai lạc của cô, gọi chúng là những tai nạn. Trong số bốn chị em, cô là người đơn giản, mộc mạc, với thân hình cao, to và mặt đầy. Và chẳng những thế cô còn là người không lúc nào không có bạn trai, các chị của cô đùa giỡn như thế, với chút ngưỡng mộ và ít nhiều ganh tị. Họ ái mộ cô và luôn tham khảo ý kiến của cô về đàn ông. Lúc còn ở nhà, cô con gái thứ ba chung phòng với Sofía. Cô ba thích ngắm Sofía lượn trong phòng, sửa soạn đi ngủ, chải đầu, kẹp tóc trước khi luồn vào bên dưới tấm chăn như thể có ai đang chờ mình trong đó. Trong bóng đêm, Fifi toát ra mùi hương tươi mát, toàn vẹn của một da thịt tinh khiết. Điều đó đem lại sự khuây khỏa cho cô ba, người luôn ngập ngừng và hoảng sợ và luôn gặp rắc rối với đàn ông. Tiếng thở của em gái trong phòng tối khiến cô cảm thấy như đang có một con vật thuần hóa dưới chân giường sẵn sàng bảo vệ cô.
Cô út lại là người rời nhà trước nhất. Cô bước vào tình yêu và bỏ học. Cô xin được chân thư ký và tiếp tục sống với bố mẹ vì bố cô dọa sẽ từ cô nếu cô bỏ nhà đi sống một mình. Kỳ nghỉ hè, cô theo bạn trai cô đến Columbia, và vì cô không thể qua đêm với anh ta ở New York, cô phải bay hàng ngàn cây số để ngủ với anh ta. Ở Bogotá, họ khám phá rằng một khi đã nếm mùi trái cấm, thì ăn không còn thấy ngon miệng nữa. Họ chia tay. Cô gặp một du khách trên đường phố, một anh chàng người Đức, đơn giản vậy thôi. Người thiếu nữ không khi nào thiếu bạn trai quá vài ba ngày trong đời. Hai người yêu nhau.
Trên đường về nhà, cô ném cái màng chắn ngừa thai vào thùng rác ở phi trường Kennedy. Cô không muốn hư chuyện. Nhưng bố cô biết cách. Bao nhiêu tháng trời, ông để tâm dòm ngó. Vừa có cơ hội là ông lục ngăn tủ của cô “tìm cái đồ cắt móng tay,” và vớ ngay được một bó thư tình. Những chữ viết tay nhỏ li ti của anh chàng người Đức nhắc đến những chuyện không nên nhắc đến – những trò chuyện phòng the tái diễn trên những trang giấy mỏng màu xanh của những cánh thư gửi đường hàng không.
“Cái này là cái gì đây?” Ông bố lắc chồng thư trước mặt con gái. Bốn cô con gái đang ngồi quanh bàn, tán gẫu, ông bố bước vào, đập chồng thư lên đùi như cái roi quất ngựa, sợi dây cột tóc bằng sa tanh bung ra chỗ ông tháo trước đó, rồi lại cuộn vòng vòng trở lại trong một cố gắng điên loạn cố kiềm chế thái độ hư hỏng của đứa con gái út.
“Trả lại cho con!” cô út vừa la vừa nhào về phía bố.
Ông bố giơ cao cánh tay với xấp thư lên trên đầu hai bố con như tượng Nữ Thần Tự Do với cây đuốc tự do, nhưng ông quên rằng cô út cũng cao không thua gì ông. Cô nắm cánh tay ông kéo xuống và chộp lấy chồng thư như thể giằng lại đứa con vừa bị giựt khỏi vú mẹ. Có vẻ như cơn thịnh nộ của họ nặng tính sinh học hơn là tính lãng mạn.
Sau cơn chấn động ban đầu, ông bố phục hồi cơn phẫn nộ. “Nó đã phá hoại đời con gái của mày chưa? Đó là điều tao muốn biết. Chúng mày kéo nhau vào bụi rồi phải không? Mày có vùi thanh danh tao xuống bùn đen chưa, đó là điều tao muốn biết!” Ông bố la hét điên cuồng trước mặt cô út, hết câu hỏi này đến câu hỏi khác, không để cho cô có cơ hội trả lời. Mặt ông đỏ bừng cơn giận, nhưng mặt cô con gái còn kinh khủng hơn với vẻ trầm tĩnh của một vừng trăng ngà xanh xao, liên tục kéo hút cơn thủy triều giận dữ của bố, cho đến khi ông gần như chết đuối bên dưới cơn thịnh nộ của chính ông.
Mấy cô chị lo lắng đứng dậy, mỗi người níu một bên tay bố, dỗ dành như những cô y tá, cô khác vuốt lưng bố như thể ông là một thằng bé đang lên cơn sốt. “Thôi mà, Papi, vuốt giận đi mà. Chuyện đâu còn có đó mà. Mình nói chuyện với nhau. Dù sao mình cũng cùng trong một gia đình mà.”
“Mày đi đánh đĩ phải không?” ông bố tra vấn cô con gái. Một vẩy nước bọt dính lên má cô vì ông ghé miệng sát vào mặt cô.
“Chẳng liên quan con mẹ gì đến bố hết!” cô nói bằng giọng trầm và thô như tiếng gầm gừ của con thú sẵn sàng vồ lấy ông. “Không ai cho phép bố, bố không có quyền gì hết, bố không có quyền lục lọi đồ của con hay đọc thư của con!” Nước mắt trào ra khóe mắt cô, hai cánh mũi cô phập phồng.
Miệng ông bố tròn xoe thành một con số không sững sờ. Sofía lặng lẽ tự kiềm chế và rời khỏi phòng. Thường thường, những khi nổi cơn giận dữ trẻ con, cô con gái này vẫn hay ào ra khỏi nhà và vài giờ sau trở về, nguôi giận, cái ngọt ngào cố hữu của cô trở về, mang theo những món quà ngớ ngẩn cho mọi người trong nhà, miếng nam châm dính trên cánh cửa tủ lạnh, con thú nhỏ nhồi bông biết liếc hai con mắt.
Nhưng lần này mọi người nghe tiếng cô trên lầu, mở rồi đóng ngăn tủ, đi qua đi lại từ giường qua tủ. Dưới nhà, ông bố cũng đảo qua đảo lại như đo đạc chiều dài những căn phòng. Ba cô con gái canh chừng ông trong khi cái thế lực chống đối kia – cô út, như thể có tất cả thời giờ trên thế gian – gài cúc và gấp tất cả áo quần của cô, chất hết đồ đạc vào bọc, và vĩnh viễn bỏ nhà ra đi. Cô mò mẫm cách nào đó tới được nước Đức và bắt được gã đàn ông kia cưới cô. Đổ dầu thêm vào đống lửa của ông bố lúc nào cũng mơ tưởng đến tổng thống hoặc thiên tài, anh chàng vô danh tiểu tốt người Đức kia lại là một hóa học gia nổi tiếng thế giới. Nhưng cô con gái cũng không phải tay vừa. Cô đâu còn bận tâm đến chuyện Otto làm nghề gì khi mà chính cô đã vác xác đến nhà anh ta và dâng hiến cho anh ta.
“Em có thể yêu anh nhiều như bất kỳ ai khác,” cô nói. “Nếu anh cũng yêu em được như thế thì mình cưới nhau đi anh.”
“Vào nhà nói chuyện đã,” lúc đó Otto nói thế, hoặc đại loại như thế.
“Chịu hay không chịu,” Sofía trả lời. Chỉ có vậy thôi trong một đêm tuyết đổ, một cô gái đến cửa đem theo cơn gió lạnh mùa đông. “Tôi đâu có thể để cô ấy chết cóng,” về sau Otto khoe.
“Làm như anh tử tế lắm!” Sofía đặt bàn tay to lớn lên vai Otto, và ai cũng có thể thấy những gì diễn ra giữa hai người trong bóng đêm khi họ ân ái. Tuần trăng mật, họ du lịch Hy Lạp, và Sofía gửi cho mẹ, cho bố và cho các chị những bưu thiếp hệt như những cặp vợ chồng mới cưới khác. “Tụi con vui quá. Phải chi có bố mẹ với mấy chị đây.”
Nhưng ông bố vẫn nghĩ chuyện phục thù. Bao nhiêu tháng trời không ai được phép nhắc đến tên cô út khi có mặt bố, dù ông vẫn gọi nhầm các cô là “Sofía” dù ông vội sửa ngay sau đó. Khi cô út sinh con gái, vợ ông không nhường ông nữa. Ông muốn vác cơn giận của ông xuống mồ thì mặc xác ông, bà sẽ đi Michigan (nơi Otto mới dọn về) để gặp cháu ngoại của bà!
Tới phút chót, ông bố nhượng bộ và đi với bà, nhưng với cái kiểu của ông thì thà ông ở nhà còn hơn. Ông ấm ức và lầm lì suốt chuyến viếng thăm, dù Sofía và ba cô chị cố gắng gợi chuyện với ông. Thà rằng đừng đến còn hơn cái kiểu dửng dưng ấy. Nhưng Sofía vẫn cố gắng. Vào kỳ sinh nhật kế của bố, cô xuất hiện tại căn hộ của bố mẹ, mang theo đứa con gái. “Một bất ngờ đây!” Thì cũng có chút hơi hướm của sự hòa giải. Ban đầu ông bố thử bắt tay con gái. Không xong, ông đành ôm cô mà người cứng như gỗ trước khi bồng lấy đứa cháu ngoại dưới con mắt canh chừng của vợ. Sau đó, năm nào cô con gái cũng đến dự sinh nhật bố, và theo cái cách phụ nữ thường làm, xoa dịu, hàn gắn và vá víu những tình cảm bị tổn thương. Thế nhưng bên dưới lớp vải bọc xã hội, vết thương vẫn còn tươi rói. Ông bố nhất định không đặt chân đến cửa nhà cô út. Họ hiếm khi nói chuyện với nhau; trước mặt mọi người, bố nói chuyện với cô út bằng cùng một giọng điệu ông dùng để nói với anh con rể.
Nhưng bây giờ sinh nhật thứ bảy mươi của ông đã gần kề, và ông đồng ý ăn mừng ở nhà của Sofía. Lễ rửa tội cho bé Carlos được sắp xếp vào buổi sáng, thành ra tiết mục chính sẽ là bữa tiệc của Papi Carlos tối hôm ấy. Thật là một nỗ lực vượt bực của cô út trong việc sắp xếp để những thành viên gia đình rải rác ở miền Trung Tây kéo về vào một dịp cuối tuần. Và thành quả thực sự là cách mà Sofía thu xếp sao để năm nay tất cả các ông chồng cùng tham dự. Chồng về, chồng về, mấy bà chị chọc ghẹo. Sofía chuyển lời khen ngợi qua cho bé Carlos. Thằng bé mở cánh cửa cho những người đàn ông khác trong gia đình.
Tuy nhiên thành quả mà cô út mong muốn nhất là làm sao hòa giải với bố một cách thật rầm rộ. Cô sẽ tổ chức cho bố một bữa tiệc mà bố không bao giờ quên được. Bao nhiêu tuần lễ cô tính toán mọi người sẽ ăn món gì, mọi người sẽ ngủ ở đâu, giải trí những gì. Cô liên tục gọi cho các chị để hỏi ý kiến họ về những chuyện vụn vặt. Hầu như họ đồng ý với cô mọi thứ: một ban nhạc, mũ giấy, bong bóng, nút cài ve áo có hàng chữ ÔNG BỐ VĨ ĐẠI NHẤT THẾ GIỚI. Mọi chuyện làm vượt mức đến độ ngớ ngẩn miễn sao ông già sẽ thích. Sofía còn tính mời một vũ công múa bụng hoặc một cô gái bật ra từ chiếc bánh. Nhưng bà chị thứ ba, người vừa chuyển hướng tôn vinh nữ quyền sau khi ly dị chồng, đã lên tiếng phản đối rằng thứ trò đùa nhà tắm ấy rất xúc phạm. Thuê một ban nhạc thì cô sẵn sàng góp tiền chi phí; còn hai thứ kia thì hai chị với cô út cứ việc chia ba tiền phí tổn nếu họ vẫn cương quyết coi thường phụ nữ.
Với sự kiên nhẫn vượt bực, Sofía tạo một dịp họp mặt cuối tuần không xúc phạm đến bất kỳ ai. Nếu họ có thể vui đùa xả láng ở nhà cô để mừng sinh nhật thứ bảy mươi của bố thì có phải chết cô cũng chịu.
Buổi tối hôm party, cả nhà ăn tối sớm trước khi ban nhạc và khách đến. Từng cô một nâng ly chúc mừng hai Carlos. Mấy chàng rể gọi Carlos lớn là “Papi”. Carlos nhỏ, trông hệt như một bé gái trong chiếc áo trắng dài, gào khóc suốt buổi, và bà mẹ tội nghiệp của cu cậu không có được một phút yên thân vừa phục vụ bữa tối cho gia đình vừa lo cho cu cậu bú mớm. Điện thoại reo liên tục, thân nhân từ quê nhà gọi sang chúc mừng ông cụ. Việc chúc tụng của mấy cô con gái liên tục bị gián đoạn. Mặc dù vậy, ông bố đã một đôi lần ứa nước mắt khi bốn cô con gái chúc ông già thượng thọ.
Đêm nay trông ông già hẳn ra, tất cả mọi nếp gấp của bảy mươi năm trời phô bày trọn vẹn. Có lẽ quá nhiều rượu đã làm nước da ông đen sậm, đồng thời tóc và râu mép ông bạc trắng một cách khác thường. Tuy vậy ông cũng gượng vui một chút lúc nhận quà, vật dụng, sách báo và những chiếc cúp trên bàn làm việc mà con gái tặng, với những tấm thiệp bên trong ghi “gửi đến Papi tuyệt vời nhất trên thế gian,” tấm nào ông cũng đòi đọc to cho mọi người cùng nghe. “Không được, đừng đọc Papi à, cái đó riêng tư mà!” đám con gái nhao nhao vây quanh ông, tất cả cùng không muốn bị xấu hổ vì tâm tình riêng của mình bị phơi bày trước thế gian. Vợ ông tặng ông chiếc đồng hồ vàng. Cô ba ghẹo là cũng vì vậy mà các công ty cho nhân viên nghỉ việc hết, nhưng khi thấy mẹ lườm, cô ngừng lại. Rồi tới quà của đám đàn ông – dây thắt lưng, ví đựng thẻ tín dụng từ đám con rể.
“Mấy thứ bố đang cần.” Ông bố tỏ ra lịch sự. Ông gom chồng thiệp chúc lại nhét vào túi để sẽ đọc kỹ sau. Đám con rể đều biết rõ bố vợ đang ngó chừng họ, một cách ghen tị, để moi ra những dấu hiệu của sự dửng dưng hay tự phụ. Với các cô gái, ngay cả sau khi đã chúc mừng bố, quà cáp đã mở, và ông bố đã gom vào một chỗ với sự giúp đỡ của cháu ngoại gái, ngay cả sau đó, mấy cô con gái cảm thấy vẫn còn điều gì đó mà bố đang chờ mà các cô chưa trao cho ông.
Tuy nhiên buổi tiệc còn dài và hẳn nhiên ông sẽ nhận được thứ mà ông cần cho những năm tháng dài, lẻ loi trước mặt. Ban nhạc đến, ba người đàn ông trung niên, người nào cũng chải tóc ngược ra sau và bôi đầy keo trên tóc. DANNY AND HIS BOYS đặt tấm bảng nhỏ ghi tên ban nhạc dựa vào lò sưởi. Một người chơi đàn xếp, một người chơi vĩ cầm, và người thứ ba chơi những thứ linh tinh như trống lắc, khuông gõ ba cạnh và trống khi cần. Họ chơi những bản nhạc phim, những bản polkas, những thứ quen thuộc mà gia chủ có thể ngâm nga theo; những bản nhạc sến hết mức được trao tặng cho “Poppy” hoặc “người phụ nữ đáng yêu của ông.” Ông bố thích ban nhạc. “Khéo chọn đấy,” ông khen ngợi Otto. Lời khen làm cô út ứa gan. Cô đứng chống nạnh, nheo mắt lườm ông chồng đang cười toe toét. Cả tháng trời sửa soạn, Otto có nhích ngón tay mà giúp cái gì đâu chứ!
Khách khứa bắt đầu kéo tới, tíu tít than thở là bị lạc đường; khu ngoại ô tối tăm và quanh co như ma trận với những con đường vòng vo và ngõ cụt. Đám đồng nghiệp chưa vợ của Otto láo liên con mắt quanh phòng, cố tìm xem cái cô mới ly dị mà họ nghe kể hoài. Nhưng chẳng có cô nào xinh đẹp, vui tính và đầy tài năng như lời quảng cáo của Sofía về người chị thứ ba của cô. Hầu hết đám bạn này không ít thì nhiều đều mê Sofía, và cô là người mà họ dòm ngó nhiều nhất trong căn phòng chật ních những người.
Một chiếc bánh sô-cô-la to hình trái tim bày trong phòng với bảy mươi mốt cây nến – cây dư ra là để cho may mắn. Cháu ngoại gái và các dì của nó đếm và gài những cây nến chéo góc trên trái tim, nói đùa là những cây nến này không thổi tắt được. Và các cô còn đốt thử một cây để biết nến sẽ không tắt nửa chừng. Quầy rượu ở gần chiếc bánh trái tim thành ra đến nửa đêm khi ban nhạc bùng lên bản “Happy Birthday, Poppy,” thì mọi người đã ăn uống no say rồi.
Họ bày đủ thứ trò chơi suốt đêm. Ban nhạc đàn cho mọi người chơi trò dành ghế theo bài nhạc, nhưng sau khi hai chiếc ghế trong phòng ăn bị gẫy, họ ngưng. Riêng cô con gái thứ ba, không còn tự kiềm chế nữa, mỗi khi bị chiếm mất ghế thì ngồi ngay lên lòng từng người đàn ông một thay cho ghế. Ông bố ngồi lặng thinh. Ông nhìn quanh bằng cái nhìn phản đối ngầm.
Thực ra càng về khuya ông càng trở nên xa cách. Ở giữa lũ con gái và đám chàng rể cùng những bạn bè thông minh, khéo ăn khéo nói, có vẻ như ông nhận ra rằng mình chỉ là một lão già đến nhà của họ, ăn sạch món thịt cừu nướng, gắn bó với đời sống của họ. Mấy cô con gái gần như nghe được những ý nghĩ của ông vang động trong đầu họ. Ông, người đã chi tiền để niềng răng các cô cho thẳng và vuốt giọng các cô cho đúng tiếng Anh trong những ngôi trường đắt đỏ, bây giờ chẳng là gì đối với họ. Tất cả mọi người trong phòng đều sẽ sống lâu hơn ông, ngay cả mấy thằng cha ngu ngốc trong ban nhạc, trông giống mấy đứa trẻ con – tưởng tượng kiếm sống bằng cách đàn hát mừng sinh nhật thiên hạ! Làm cách nào họ có thể mua sắm cho con gái họ những áo quần xinh đẹp và gửi chúng đi Âu Châu mỗi dịp hè để chúng không thấy đời sống nhàm chán? Những người đàn ông của thế giới này đi đâu hết cả rồi? Tất cả đám rể của ông đã từng là đứa bé; ông có thể nhìn rõ điều đó. Ngay cả Otto, nhà khoa học lừng danh, cũng từng là thằng bé học trò tay cầm bút chì, ngồi làm con tính chia phức tạp. Thằng rể mới ông còn thấy tội cho nó – ông có thể thấy tên chồng này sớm muộn gì cũng làm mọi cho đứa con gái thứ hai của ông. Chưa gì mà con bé đã bắt chồng gãi lưng và nửa đêm bị đuổi ra sân hút thuốc. Nhưng ông chẳng cần phải lo cho đám con gái. Hay cho bà vợ, về mấy chuyện nhỏ nhặt ấy. Bà ấy ngồi kia, thon gọn như con gái, e dè mỉm cười với mọi người khi bài hát vang lên trao tặng cho bà ấy. Cứ cho là sau khi ông mất khoảng tám, có thể chín, tháng bà ấy chịu tang, rồi bà ấy sẽ tìm ai đó để sống đời với nhau bằng tiền bảo hiểm nhân thọ của ông.
Cô con gái thứ ba nghĩ ra trò chơi mới cho bố. Cô lấy chiếc khăn mềm của em bé, che mắt ông lại, và dẫn ông đến giữa phòng. Đám phụ nữ vỗ tay. Đám đàn ông ngồi xuống. Ông bố giả bộ như không hiểu đám con gái tính giở trò gì. “Cái này thế nào đây hở mẹ mày?”
“Ông tự lo lấy đi, Dad,” bà mẹ vừa cười vừa nói. Bà là người duy nhất trong gia đình dùng tiếng Anh để gọi ông.
“Sẵn sàng chưa nè, Papi?” cô lớn nhất hỏi.
“Sẵn sàng lắm rồi,” ông trả lời với giọng đặc sệt.
“Rồi, bây giờ bố đoán là ai,” cô lớn nói. Cô luôn luôn là người điều khiển chương trình. Đó cũng là cách xếp đặt giữa các cô con gái trong nhà với nhau.
Ông bố gật đầu, cặp lông mày ông nhướng lên. Ông bám vào chiếc ghế, hồi hộp, thoáng chút lo âu, như cậu bé sắp bị hỏi một câu khó mà cậu biết câu trả lời.
Cô lớn vẫy gọi cô ba, cô ba nhón gót đi vào cái vòng phụ nữ đang vây quanh ông già. Cô hôn nhẹ lên má ông.
“Ai vậy, Papi?” cô lớn nói.
Ông bố cười ngặt nghẽo nói không ra câu. Ông đã uống quá nhiều rượu. “Mẹ mày chứ ai,” ông nói nhỏ bằng giọng rụt rè.
“Không phải! Sai rồi!” đám phụ nữ đồng thanh la to.
“Carla?” ông gọi tên cô lớn. Ông lần lượt gọi theo thứ tự. “Sai!” Mọi người lại reo lên.
“Sandi? Yoyo?”
“Bố đoán đúng rồi,” cô thứ ba nói.
Đám phụ nữ vỗ tay; vài người cong người cười ngặt nghẽo. Người nào cũng uống quá mức. Và ông già cũng thích thú với cuộc vui.
“Nào, bây giờ tới người khác.” Cô lớn tiếp tục cuộc chơi. Cô đặt ngón tay trỏ lên môi, nháy với mọi người, lặng lẽ đi vòng quanh bố già, và hôn lên đỉnh đầu ông. Rồi cô rón rén trở lại chỗ cũ. “Ai đó, Papi?” cô hỏi bằng giọng cực kỳ ngây thơ.
“Mami?” Giọng ông rướn cao, trần trụi và yếu ớt. Rồi chìm xuống cái mức tin chắc mình đúng. “Mami đó chứ ai.”
“Đừng kéo tôi vào nhé,” vợ ông nói từ chiếc ghế dài nơi bà vừa phải ngồi xuống nghỉ mệt.
Ông bố không đoán bất kỳ người đàn bà nào khác trong phòng. Điều đó có chút gì thiếu tôn trọng. Hơn nữa những cái tên tiếng Anh nghe kỳ quặc vừa khó nhớ vừa khó phát âm. Tuy nhiên ông vẫn nhận được những chiếc hôn ẩn dưới tên đám con gái của ông. Ông già cứ đoán theo thứ tự từ lớn tới nhỏ: “Carla?” “Sandi?” “Yoyo?” Đôi khi ông đảo lộn thứ tự, cho cô ba lên trước hoặc cô lớn nhất thứ nhì.
Sofía ở trong phòng ngủ, chăm sóc thằng bé, đang quấy mẹ vì trong nhà tối nay ồn ào quá. Cô trở ra phòng khách, gài nút áo, và chứng kiến trò chơi. “Ô.” Cô đảo con mắt. “Ngoài này bắt đầu sa đọa rồi há!” Cô uốn éo cặp hông, và đám đàn ông cười vang. Cô đẩy đứa con gái vào vòng vây và thì thầm bảo nó hôn lên mũi ông ngoại. Tất cả mọi người trong đám phụ nữ đều đã hôn bằng chóp mũi hoặc chạm môi lên mặt ông già. Cô thứ nhì đã ngồi nhanh lên lòng bố già và day nhẹ dưới cằm ông. Lần nào bố cũng đoán sai, cô út cười vang vang. Nhưng chẳng bao lâu cô nhận ra bố không bao giờ đoán tên cô. Cô đã bỏ ra bao nhiêu công sức mà vẫn không được nhập chung danh sách con gái của ông. Ông già mắc dịch! Cô sẽ phải tham gia và làm cho ông biết đó là cô!
Thật nhanh nhẹn, cô lượn vào cái vòng vây quanh bố và đặt môi lên vành tai bố vạch một chiếc hôn thật ướt, thật đặm. Cô rà lưỡi quanh vành tai ông và nhấm nháp dái tai ông. Rồi cô bước lui.
“Ô la la,” cô gái lớn cười, nói. “Ai vậy, Papi?”
Ông già không trả lời. Nụ cười vẫn vướng trên môi ông suốt thời gian trò chơi chợt biến mất. Ông ngồi thẳng dậy, bừng tỉnh. Có một khoảng lặng kéo dài; mọi người chồm ra trước, chờ cho ông bố bắt đầu với câu trả lời quen thuộc, “Mami?”
Nhưng ông bố không đoán tên vợ ông. Ông giật cái khăn bịt mắt xuống như thể nó là vật mang bệnh truyền nhiễm có thể lây cho ông. Chiếc khăn rơi thành một đống dưới chân ghế. Mặt ông tối lại với niềm tủi hổ vì chút khoái lạc thân xác gây ra bởi một trong những đứa con gái của ông. Ông nhìn từ đứa này sang đứa kia. Cái nhìn của ông chao đi. Trên nét mặt đứa con gái út của ông là cái vẻ thụ động sáng chói mà ông vẫn nhớ từ lúc nó giật xấp thư tình khỏi tay ông.
“Đủ rồi,” ông ra lệnh bằng giọng nói trầm nhưng giận dữ.
Và thế là cuộc vui kết thúc.

mikhail gorbachev: bush và tôi kết thúc chiến tranh lạnh, nhưng hòa bình vẫn bị đe dọa

Mikhail Gorbachev 
♦ Chuyển ngữ: Đinh Từ Thức
 

(Gorbachev, từng được giải Nobel Hoà Bình, là Tổng Thống duy nhất của Liên Xô)

bush and MG
Tại hội nghị thượng đỉnh tại Malta tháng 12 năm 1989, Tổng Thống Mỹ George H.W. Bush và Tổng Thống Liên Xô Mikhail Gorbachev đã chính thức chấm dứt cuộc Chiến Tranh Lạnh  
(Hình JONATHAN UTZ/AFP/Getty Images)

V
ào ngày được tin George Bush qua đời, tôi nhớ lại những buổi gặp ông cũng là điểm mốc lịch sử trong mối liên hệ cá nhân và trong mối liên lạc giữa hai nước Liên Xô và Hoa Kỳ.
Cuộc nói truyện nghiêm chỉnh đầu tiên của chúng tôi diễn ra vào tháng Mười Hai năm 1987, trong chuyến thăm chính thức của tôi tới Washington. Vào lúc ấy, George Bush là Phó Tổng Thống và đang tranh cử chức Tổng Thống.
Cao điểm cuộc viếng thăm là ký thỏa ước về lực lượng nguyên tử tầm trung (Intermediate-Range Nuclear Forces Treaty); sau đó, tôi sẽ rời buổi họp từ một căn cứ không quân. Theo thủ tục ngoại giao, hay có lẽ theo ý muốn riêng của ông, Phó Tổng Thống tháp tùng tôi tới đó. George đề nghị đi chung xe với tôi, đó là điều khác thường – chắc chắn không theo thủ tục ngoại giao.
Sau này, trong nhiều trường hợp, chúng tôi đã nhắc lại “cuộc thảo luận trên xe” đó. Nó đã vượt xa tầm truyện gẫu thường tình. Chúng tôi đã đồng ý rằng chuyện bang giao giữa hai nước hiện ở thời điểm mới và do những cơ hội mới đang được phát triển, nên được tối ưu hóa. Phó Tổng Thống đoan chắc với tôi rằng, nếu đắc cử, ông sẽ tiếp tục những gì chúng tôi đã khởi sự với Tổng Thống Reagan. Và điều quan trọng, như chúng tôi đã hứa với nhau, là trong mối liên lạc với các nước thứ ba, chúng tôi sẽ không làm hại quyền lợi của nhau.
Tuy nhiên, sau khi ông Bush đắc cử Tổng Thống, có báo cáo từ phía truyền thông Mỹ rằng, chính quyền mới chưa sẵn sàng tiếp tay với chúng tôi, rằng cần phải ngừng lại một thời gian để suy tính. Tại sao chính quyền [Mỹ] lại phải đợi? Chúng tôi nhận được nhiều tín hiệu xung đột, nhưng rõ ràng là phe cứng rắn đã gia tăng áp lực.
Mối liên lạc của chúng tôi đã mất đà tiến. Chúng tôi biết một số thành viên trong Chính Phủ đã thúc đẩy Bush tiếp tục trò chơi đợi chờ. Bởi đó, thông điệp gửi tháng Chín 1989 đã rất quan trọng: Tổng Thống sẵn sàng thương lượng tại điểm chung, ngay cả trước khi có trao đổi về các cuộc thăm viếng chính thức.
Những gì đã xảy ra tại hội nghị thượng đỉnh Malta vào tháng Mười Hai năm đó có thể mô tả không quá đáng như một đột phá lịch sử. Nổi bật trên hậu cảnh những xáo trộn tại Trung và Đông Âu và sự gia tăng tốc độ của tiến trình thống nhất nước Đức, bao gồm cả việc phá bỏ bức Tường Bá Linh, Bush nói: “Tôi phải đối phó thận trọng,” ông thêm, “Tôi sẽ không nhảy lên bức tường, bởi vì còn quá nhiều bất trắc.”
Khi phái đoàn hai bên gặp mặt, Bush phác họa một chương trình hợp tác giữa hai nước trong nhiều lãnh vực khác nhau, bao gồm dự án tài giảm vũ khí, nói chung là khả quan. Tôi đáp lại bằng tuyên bố: “Tân Tổng Thống Mỹ nên biết rằng, Liên Bang Xô Viết sẽ không phát động chiến tranh dưới bất cứ trường hợp nào … Hơn nữa, Liên Xô chuẩn bị để không còn coi Hoa Kỳ là kẻ thù nữa và công khai nói ra điều này.” Đây không phải là lời nói ngẫu hứng, nhưng là thái độ đã được khối lãnh đạo Xô Viết chấp thuận. Cuộc đối thoại của chúng tôi với Tổng Thống Hoa Kỳ đã tiếp tục với tinh thần đó.
Thượng đỉnh Malta là ranh giới cuối cùng của cuộc Chiến Tranh Lạnh. Điều này đã trở thành hiển nhiên khi những sự việc tại Trung và Đông Âu và việc thống nhất nước Đức đạt tốc độ nhanh chóng. Làm việc cùng nhau, chúng tôi đã thành công trong việc giữ cho tiến trình diễn ra trong hoà bình.
Vài tháng sau có một thử thách mới: Cuộc tiến quân vào Kuwait của Saddam Hussein, và ý đồ toan sát nhập nước này vào Iraq. Cuộc khủng hoảng này chứng tỏ rằng Chiến Tranh Lạnh đã là chuyện của quá khứ. Liên Xô và Hoa Kỳ giữ lập trường như đã cam kết. Cuộc xâm lăng đã bị lật ngược, nhưng Hoa Kỳ đã không chiếm giữ Iraq, không có “thay đổi chế độ.” 
Tất cả những việc này đã xảy ra cùng với những biến cố trong nước tôi, trong thời điểm chuyển đổi sang dân chủ và thị trường kinh tế tự do, cũng đã có một bước ngoặt bất ngờ. Khuynh hướng cải tổ từng giai đoạn của tôi đã bị tấn công từ nhiều phía khác nhau – không chỉ từ những người muốn chặn tiến trình dân chủ để quay về chính sách cũ nhưng còn có cả những kẻ tìm cách phân tán đất nước và được sự ủng hộ của giới hăng máu tại Nga.
Trong những tình huống này, điều rất quan trọng cho tôi là phải có một ý tưởng rõ ràng về đường hướng của Hoa Kỳ. Tôi đã hỏi thẳng khi gặp Tổng Thống [Bush] tại London vào tháng Bảy năm 1991, trong kỳ họp của G-7, mà Tổng Thống Liên Xô đã được mời tham dự lần đầu tiên.
Bush đã trả lời: “Tôi tin rằng, thành công của ông phù hợp với lợi ích sâu xa của Hoa Kỳ. Nước Mỹ có lợi khi nhìn thấy ông giải quyết những vấn đề liên hệ tới các cộng hòa (trong liên bang Xô Viết). Sự tan rã của Liên Xô không có lợi cho chúng tôi.” Mặc dầu tại cuộc họp G-7 các đối tác Tây phương của chúng tôi đã không có những bước cụ thể giúp cho sự chuyển đổi của Liên Xô, tôi đã chấp nhận quan điểm của George Bush một cách nghiêm chỉnh.
Trong dịp thăm Liên Xô hơn hai tuần sau đó, chúng tôi đã có một cuộc thảo luận nghiêm túc và về tầm xa. Chúng tôi không chỉ ký Thoả hiệp giảm võ khí chiến lược (Strategic Arms Reduction Treaty) nhưng còn thảo luận lần đầu về dự án tương lai cho kế hoạch an ninh quốc tế (future international security system), sẽ được tạo ra bởi nỗ lực chung.
Tuy nhiên, dự kiến đó đã bị nhận chìm bởi cuộc đảo chánh hụt tại Liên Xô vào tháng Tám 1991. Biến cố này, dấy động bởi lực lượng phản loạn, đã thất bại, nhưng làm suy yếu vị thế Tổng Thống Liên Xô của tôi. Chúng tôi đã không thể duy trì được Liên Xô.
Tôi còn nhớ rõ ràng cuộc nói chuyện qua điện thoại của chúng tôi ngày 25 tháng 12, vài giờ trước khi tôi loan báo từ chức Tổng thống Liên Xô. Chúng tôi đã duyệt lại kết quả những hợp tác của chúng tôi. Thành quả chính là chúng tôi đã đồng ý phá hủy hàng ngàn võ khí hạt nhân, cả chiến lược và chiến thuật. Cùng nhau, chúng tôi đã giúp chấm dứt những xung đột tại nhiều nơi trên thế giới. Chúng tôi đã đặt nền tảng cho sự hợp tác giữa đất nước chúng tôi.
Những thành quả lịch sử đó đang trong tình trạng hiểm nguy. Thế giới hiện đang ở trên bờ một cuộc xung đột mới và một cuộc thi đua võ khí mới.
George và tôi, sau khi rời chính quyền, thường thảo luận về những chiều hướng đe dọa hoà bình thế giới. Thỉnh thoảng chúng tôi cũng bất đồng về cách nhận định các sự việc nhưng đồng ý trên một điểm: sự chấm dứt Chiến Tranh Lạnh không phải là thắng lợi của bên này đối với bên kia. Đó là thành quả của nỗ lực chung. Ngày nay, chỉ có nỗ lực chung mới có thể tránh được một cuộc đối đầu mới và sự đe dọa của một cuộc chiến tàn phá, nhờ đó, tái tạo tiềm năng một trật tự thế giới mới – an ninh hơn, công bằng hơn và nhân bản hơn.

* Dịch lại từ bản dịch tiếng Anh của Pavel Palazhchenko, đăng trên tạp chí TIME, ngày 05 tháng 12, 2018.

Chính sách gian trá của Cộng sản đối với nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu

image.png
 - Sau nhiều lần thay đổi chương trình giáo dục và sách giáo khoa, Cộng sản dự định sẽ cải tổ lần nữa vào niên học 2019. Bộ Giáo dục VN thường được người dân gọi là Bộ Vô Giáo dục, đã đưa Việt Nam đến tình trạng chậm tiến, trì trệ về mọi phương diện mà người viết, từ trong đến ngoài nước đã chán chê không muốn bới thêm cái bãi rác đã bốc mùi. Tuy nhiên, vì chương trình môn Ngữ Văn dự định áp dụng kể từ năm 2019 có liên quan đến nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, chúng tôi mới có bài viết nầy.

Ngữ văn là môn học dạy từ lớp 1 đến lớp 12. Ở Tiểu học, môn học có tên là Tiếng Việt, ở Trung học Cơ sở (Đệ nhất cấp) và Trung học Phổ thông (Đệ nhị cấp) gọi là Ngữ Văn hay Văn.

Theo Chương trình dự thảo của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo công bố ngày 19/01/2018 về môn Ngữ Văn (dong dài 132 trang), nhưng chính yếu chỉ với mấy dòng "học sinh Trung học phổ thông phải học 6 tác phẩm văn học bắt buộc là: Nam Quốc sơn hà tương truyền của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu, Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh (tr.109).

Nói là dự thảo, nhưng trong thực tế, Quốc Hội chỉ là bù nhìn nên những dự thảo, thực sự là những quyết định ban hành trước cho các lái buôn giáo dục tính kế hoạch làm ăn, thí dụ như trường hợp nầy là soạn sách giáo khoa, in sách, bán sách... Mỗi năm, sách giáo khoa thay đổi chút ít để học sinh phải mua bản mới vì đề thi có thể ra trong phần tái bản. Báo điện tử News Zing loan tin: "Mỗi năm, NXB Giáo Dục Việt Nam thuộc Bộ GD&ĐT, cơ quan độc quyền về sách giáo khoa phát hành hơn 100 triệu bản. Phần lớn sách giáo khoa chỉ dùng một lần, lãng phí nghìn tỉ đồng" (nguồn: 100 triệu cuốn sách giáo khoa thành giấy vụn/ news.zing.vn - 13/09/2018). Lãng phí nói đây là số tiền tương đương với 50 triệu mỹ kim mà phụ huynh phải trả hàng năm, chưa kể hàng chục thứ học phí, lệ phí để đổi lấy một cấp bằng vô dụng. 

Bài viết sau đây vạch trần những mưu chước bất chánh của Cộng sản đối với Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ và nhà chí sĩ Miền Nam trong việc lợi dụng uy danh của Cụ và tác phẩm Lục Vân Tiên trong thời chiến tranh cũng như việc sắp xếp bài Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc trong chương trình Ngữ Văn bậc Trung học phổ thông. 

Lục Vân Tiên là tác phẩm tiêu biểu của Miền Nam

Nói đến Nguyễn Đình Chiểu là phải nhắc đến Lục Vân Tiên cũng như khi nói đến Nguyễn Du là phải nhắc đến Truyện Kiều, hai nhà thơ và hai tác phẩm tiêu biểu của nền văn học Việt Nam, một ở miền Nam và một ở miền Bắc.

Nguyễn Văn Xuân trong tác phẩm Khi những lưu dân trở lại đã có nhận định về xác quyết nầy: "Hoài Thanh có nhận xét khá đúng là từ bên kia đèo Hải Vân ra Bắc, người ta đọc (tôi gọi là xem) Truyện Kiều. Từ bên nầy vào Nam, người ta đọc Lục Vân Tiên. Nhưng Truyện Kiều, khi qua đèo Hải Vân rồi, dân chúng không hiểu, chỉ có trí thức mới hiểu. Ngược lại, Lục Vân Tiên, ai cũng hiểu mà có lẽ giới trung lưu và quần chúng ưa thích hơn là trí thức. Nhiều người nặng về hình thức cho là Lục Vân Tiên không hay, không điêu luyện. Ấy là chỉ nhìn bằng cái mắt độc giả mà quên lỗ tai thính giả. Lục Vân Tiên là tiêu biểu cho miền Nam để đọc chớ không hẳn để xem…" (Nguyễn Văn Xuân. KNLDTL. Nhà XB Văn Nghệ, 1990. tr. 73-74).

Gabriel Aubaret, trong bài giới thiệu bản dịch Lục Vân Tiên được xuất bản lần đầu dưới thể văn xuôi với tựa là Luc Van-Tiên, Poème populaire annamite đăng trong Journal asiatique tháng 7, năm 1864 đã viết: "…C’est là, un des très rares spécimens de la littérature annamite proprement dite, et ce poème du Luc Van-Tiên est tellement répandu parmi le peuple, qu’il n’y a peut-être pas, en Basse-Cochinchine, un pêcheur ou un batelier qui n’en fredonne quelques vers en maniant sa rame…" (sđd, p.1 -http://gallica.bnf.fr).

Dịch nghĩa như sau: 

"Một trong những tác phẩm hiếm quý của văn chương Nam Kỳ, truyện thơ Lục Vân Tiên, thật là phổ biến trong dân gian đến nỗi có lẽ là không một người dân chài hay chèo đò nào mà không ngâm nga vài ba câu thơ Lục Vân Tiên khi đưa đẩy mái chèo".

Quả thật vậy, Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, từ hơn 150 năm nay, ngay khi còn ở thời kỳ chưa hoàn tất đã được phổ biến rộng rãi và yêu thích bởi người dân Nam Kỳ, từ giới sĩ phu đến hàng thứ dân. Người Nam kỳ là những lưu dân miền Thuận Quảng vào Nam đi khai phá, bất khuất trước hiểm nguy và quyền lực cũng như không màng lợi danh phi nghĩa, mà Nguyễn Đình Chiểu là biểu tượng cho cái bản chất kiên cường nầy. Với người dân Nam Kỳ, Nguyễn Đình Chiểu không phải chỉ là một nhà thơ, một nhà giáo, một người rao giảng đạo thánh hiền, mà còn là mẫu mực cho đạo làm người, một nhà chí sĩ chống Pháp. Ông là bó đuốc soi đường, là thần tượng của người dân miền Nam. Bởi lẽ chánh phủ Pháp đã sớm nhận biết được ảnh hưởng của Nguyễn Đình Chiểu và tác phẩm Lục Vân Tiên đối với dân chúng tại vùng đất mới xâm chiếm, nên sau khi được bổ nhiệm làm Chánh tham biện tỉnh Bến Tre năm 1883, Michel Ponchon đã ba lần đến nhà cụ Đồ Chiểu để khéo léo dụ dỗ Cụ hợp tác, nhưng cả ba lần Cụ đều từ chối. Lần đầu, Ponchon đến với người thông ngôn tên Lê Quang Hiển, ông giả bộ điếc không nghe, không hiểu. Lần khác, Nguyễn Đình Chiểu giả đau không tiếp, khiến Ponchon phải vào đến chỗ ông nằm và đề nghị trả đất đai ở Tân Khánh (Gia Định) cho ông. Nguyễn Đình Chiểu ôn tồn trả lời: Nước chung đã mất, đất riêng còn có sao được? Lần chót, Ponchon đề nghị cấp tiền dưỡng lão, ông từ chối và khẳng khái đáp rằng ông đã sống trong sự tôn kính đầy đủ của môn đệ và sự quý mến của đồng bào của ông (…il vivait dans une honorable aisance au milieu des élèves qui écoutaient son enseignement, et de ses compatriotes dont il avait l’estime. (Histoire du grand lettré Luoc Vian Tian / Eugène Bajot. - Paris: Challamel Aîné Éditeur, 1887, p. XIV). 

Về tác phẩm Lục Vân Tiên, nhà cầm quyền Pháp đã tài trợ việc dịch thuật và xuất bản truyện Lục Vân Tiên để phổ biến rộng rãi trong dân chúng.

Bản dịch ra quốc ngữ đầu tiên của Jeanneau xuất bản năm 1864 là do lịnh của Thống đốc Nam Kỳ Dupré, bản dịch tiếng Pháp in năm 1868 là của Gabriel Aubaret, (đại tá hải quân sau là lãnh sự Pháp ở Bangkok) và bản dịch tiếng Pháp của Eugène Bajot, (đốc học trường Chasseloup Laubat) xuất bản năm 1887 là do sự tài trợ của Hội đồng Địa hạt Nam Kỳ theo quyết định phiên hợp ngày 28-12-1885. 

Nếu người Pháp đã sớm nhận biết được giá trị bình dân nhưng hấp dẫn của tác phẩm Lục Vân Tiên thì đối với người dân Nam Kỳ, Truyện Lục Vân Tiên đã làm rung động họ bởi lẽ quần chúng đã tìm thấy thân phận, suy tư và ước mơ của họ qua các nhân vật của truyện kể. 

Cái bản chất trượng phu, hào phóng, trọng nhân nghĩa của các nhân vật như Hớn Minh, Tử Trực, ông Quán, ông Ngư, ông Tiều, Lão Bà là những hình ảnh hào hùng đánh đúng cái khát vọng vươn lên đạo làm người của người dân trong vùng đất mới. Hớn Minh là người trực tính, khi đi giữa đường thấy Đặng Sinh là con một tên quan huyện, ỷ thế cha, hà hiếp Kiều Nguyệt Nga thì nổi nóng đánh nó dù biết rằng sau đó sẽ bị tù tội: 

Tôi bèn nổi giận một khi, 
Vật chàng xuống đó bẻ đi một giò 

Tử Trực là người bạn tốt, trọn tình chung thủy với bạn bè, không ngán sợ bạo lực khi mắng Võ Công vì ông ta đem con gái là Võ Thế Loan gả cho mình khi biết Vân Tiên bị mù lòa. Tiểu Đồng nêu lên tấm gương tình nghĩa thầy trò đã hết lòng giúp đỡ Vân Tiên khi chủ mình đau ốm và khi tưởng là Vân Tiên đã mất thì ngày đêm ngồi bên nấm mồ để tưởng nhớ. Ngay đến những người dân lao động như ông Quán, ông Tiều, ông Ngư cũng chuyên chở những tư tưởng thanh cao về đạo làm người. Thí dụ như ông Quán đã chẳng sợ mất thực khách khi ông đã ngạo nghễ chê cười hai ông khách nhiều tiền là Trịnh Hâm và Bùi Kiệm: 

Chẳng hay ông Quán cười chi, 
Vỗ tay xuống chiếu một khi cười dài 
Tiên rằng: ông Quán cười ai 
Quán rằng: Cười kẻ bất tài đồ thơ 

Dĩ nhiên, hai nhân vật chính là Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga là những hình ảnh hào hùng mà cụ Đồ Chiểu đã gởi gắm trọn cái nhân sinh quan đạo làm người mà ông muốn phổ biến trong dân gian. Lục Vân Tiên cứu Nguyệt Nga khi thấy chuyện bất bình, mù lòa vì hiếu với mẹ, nhưng vẩn yêu đời và cứu đời với nghề dạy học và hốt thuốc dù trong cảnh mù lòa. Cuộc tình của Kiều Nguyệt Nga với Lục Vân Tiên là tấm lòng thủy chung dù phải trải qua bao nhục nhã, gian truân. Sự tranh đấu của Kiều Nguyệt Nga trong các nghịch cảnh vừa làm rung động lòng người, vừa gần gũi với người phụ nữ Nam Kỳ bởi lẽ nàng tượng trưng cho nghị lực rắn rỏi của người phụ nữ trong vùng đất mới. 

Đọc Lục Vân Tiên, người đọc không thấy tuyệt vọng dù trong bi thương, và cái mạch văn cũng như tư tưởng lạc quan chiến đấu để vượt nghịch cảnh đã vừa lôi cuốn người đọc, vừa kích thích người đọc với những xúc cảm mãnh liệt. Nếu dân Nam Kỳ rung cảm theo nhịp đau khổ và vui vầy với Vân Tiên và Nguyệt Nga cũng như cổ võ những thái độ, hành động của những nhân vật liêm chính thì họ cũng căm hờn, nguyền rủa những tên gian hùng, bất nhân bất nghĩa như Trịnh Hâm, Võ Thế Loan, Bùi Kiệm, công phẫn trước sự mù quáng của Thái Sư. 

Lục Vân Tiên là tác phẩm của dân gian bởi lẽ phản ảnh cái xã hội muôn đời với những con người từ thiện đến ác, những phong tục tập quán từ tốt đến xấu, những bất công và những phấn đấu. Đọc thơ Vân Tiên, người dân cảm thấy những ước mơ, thương ghét, những giá trị đạo lý đều được Cụ Đồ Chiểu diễn tả qua các nhân vật. 

Ngoài giá trị tư tưởng, truyện Lục Vân Tiên sở dĩ được người dân miền Nam ưa thích bởi lời văn giản dị, dễ hiểu, nhiều địa phương ngữ, gần gũi với cách nói của người miền Nam. Phải hiểu rằng, cho đến thời Nguyễn Đình Chiểu, gần như các thơ văn đều do các tác giả Bắc hà sáng tác, do đó các từ ngữ là của người dân phương Bắc. Nguyễn Đình Chiểu là nhà văn của Nam Kỳ, đã sử dụng trong Lục Vân Tiên và các tác phẩm của ông những phương ngữ Nam Kỳ như: heo (thay vì lợn), bắp (ngô), ghe (thuyền), cọp (hổ), trái (quả), hối (giục), hốt thuốc (bốc thuốc) đau (ốm), kêu (gọi), dè (ngờ), rớt (rơi), giỡn (đùa), dơ (bẩn), đui (mù), đường (đàng), bâu áo, bậu (anh), luông tuồng, xóm giềng, nhân ngãi (nhân nghĩa), hiển vang (hiển vinh), tiên phuông (tiên phong)… 

Những thành ngữ của dân gian cũng đã được Nguyễn Đình Chiểu tài tình gắn vào các câu thơ như: màn trời chiếu đất, sớm còn tối mất, phận bạc như vôi, tiền mất tật còn, nước có nguồn cây có cội, sống sao thác vậy, trọng nghĩa khinh tài, vạch lá tìm sâu, đàn gảy tai trâu…

Nhiều câu lại có hơi hám của ca dao miền Nam: 

Tới đây thì ở lại đây, (câu 1123) 
Cùng con gái lão sum vầy thất gia 

Và có những câu hát của dân gian ghép gọn vào truyện thơ:

Lênh đênh một chiếc thuyền tình, (1583) 
Mười hai bến nước gởi mình vào đâu 
Ai từng mặc áo không bâu (1585) 
Ăn cơm không đũa, ăn trầu không cau. 
Xin đừng tham đó bỏ đăng (411) 
Chơi lê quên lựu, chơi trăng quên đèn… 

Ngoài ra, cách sắp xếp cốt chuyện có lớp, có hồi khiến người nghe theo dõi dễ dàng và cách giới thiệu nhân vật bằng cách xưng tên giống như lối bạch, lối xướng trong tuồng hát bội là một yếu tố khác khiến người miền Nam ưa thích Lục Vân Tiên. 

Nhưng thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu không phải chỉ có phương ngữ, lời văn bình dân, mà vẫn có tính chất bác học, nhưng là cái bác học được phổ cập hóa (vulgarisation) cho dân gian. Phải có một học thuật uyên bác và văn phong bình dị mới chuyển tải được những điển tích thành lời giảng đạo lý cho dân gian như trong đoạn thơ thương ghét sau đây:

Quán rằng ghét việc tầm phào, 
Ghét cay ghét đắng, ghét vào tận tâm 
Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm 
Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang 
Ghét đời U, Lệ đa đoan, 
Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần 
Ghét đời Ngũ Bá phân vân, 
Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn 
Ghét đời Thúc, Quý phân băng, 
Sớm đầu tối đánh lằng nhằng rối dân. 

Dưới một khía cạnh khác, nhiều nhà phê bình văn học cho rằng chuyện Kiều có nhạc điệu, còn chuyện Lục Vân Tiên khô khan. Nói như vậy là có thiên kiến bởi trong Lục Vân Tiên, người nói thơ tìm gặp không biết bao nhiêu đọan thơ có âm điệu nhẹ nhàng, rung cảm và chan chứa ý tình sâu sắc. Ai lại không cảm thấy bị lôi cuốn khi đọc: 

Trước đèn xem truyện Tây Minh
Gẫm cười hai chữ nhân tình éo le 
Ai ơi lẳng lặng mà nghe 
Dữ răn việc trước, lành dè thân sau.

Nói tóm lại, Lục Vân Tiên, ngoài giá trị văn chương còn chuyên chở những giá trị đạo lý muôn đời của người dân Việt. Đạo lý mà ông muốn truyền bá trong dân gian không phải là một loại lý thuyết suông mà là một triết lý thực tiễn được diễn tả qua lời văn chân chất bình dị, nặng về nội dung hơn là hình thức để đánh vào tâm thức của người dân theo lối văn dĩ tải đạo (văn để chuyên chở đạo lý). Ngoài ra, những điều nói ra phải được thực hiện, cố gắng áp dụng trong đời sống bình thường cho dù phải gặp chông gai hiểm trở mà cuộc đời ông là biểu tượng, đúng như nguyên tắc tri hành hợp nhất.

Nguyễn Đình Chiểu và Lục Vân Tiên đã bị Cộng Sản lợi dụng

T ừ hơn nửa thế kỷ nay, Nguyễn Đình Chiểu và các tác phẩm của ông đã bị các nhà chính trị và văn hóa Cộng Sản lợi dụng một cách thô bạo để tuyên truyền, cổ võ cho cuộc chiến tranh xâm lược và chánh sách bạo ngược của đảng. 

Năm 1963, sau khi cho ra đời Mặt Trận giải phóng Miền Nam, để khích động dân chúng miền Nam tham gia tích cực vào cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam, Cộng Sản đã tổ chức một buổi lễ kỷ niệm 75 năm ngày mất của cụ Nguyễn Đình Chiểu. Tại nhà Hát Lớn ở Hà Nội, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và một số văn công đến đọc những bài diễn văn hay tham luận nặng mùi chiến tranh và gán ép văn thơ và tinh thần ái quốc của Nguyễn Đình Chiểu với cuộc chiến tranh thần thánh chống "Mỹ Ngụy". 

Phạm Văn Đồng đã phun ra những lời tuyên bố láo khoét bịp bợm như sau:

Chỉ từ khi Cách Mạng Tháng 8 ở VN thành công, và nhân dân làm chủ đất nước và vận mệnh của mình, thì dần dần Nguyễn Đình Chiểu mới có vị trí xứng đáng trên văn đàn… Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, Nguyễn Đình Chiểu xứng đáng danh hiệu người thi sĩ của nhân dân, đã suốt đời gắn bó cuộc đời mình với vận mệnh của tổ quốc, nhân dân... Hơn nửa thế kỷ sau khi NĐC thở hơi thở cuối cùng, một nửa đất nước VN đã hoàn toàn giải phóng, nhưng nhân dân miền Nam VN hiện nay, nhân dân vùng quê hương yêu dấu của NĐC đang tiếp tục cuộc chiến tranh thần thánh để giải phóng nửa đất nước còn lại, với một niềm tin tưởng tất thắng và với một tinh thần anh dũng tuyệt vời. (Nguyễn Đình Chiểu: về tác phẩm và tác giả. NXB Giáo Dục, 1998, tr.79).

Năm 1972, khi chiến tranh leo thang đến mức tuyệt vọng, Cộng sản lại cho lập bàn thờ kỷ niệm 150 năm sinh của Nguyễn Đình Chiểu, đem hình tượng và lòng ái quốc của Cụ để huy động dân chúng đánh đuổi "Mỹ Ngụy". Hà Huy Giáp, Ủy viên Trung ương đảng đọc bài diễn văn nặc mùi tuyên truyền sắt máu: 

…Trước những thắng lợi lớn của nhân dân miền Nam, Nixon tên đầu sỏ phản động quốc tế và bè lũ tay sai đã điên cuồng leo thang chiến tranh ở VN…Cuộc chiến đấu của chúng ta được tất cả những Lục Vân Tiên, Tử Trực, Hớn Minh, Nguyệt Nga, ông Quán, ông Tiều trên thế giới ủng hộ ta, đoàn kết với chúng ta đánh bại quân gian ác là Nixon-Thiệu khát máu còn gian ác gấp trăm nghìn lần bọn Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, Võ Thế Loan thời Nguyễn Đình Chiểu. Càng nhớ đến Nguyễn Đình Chiểu, chúng ta lại càng nhớ đến bác Hồ vĩ đại, người đã kế tục và phát huy những tư tưởng nhân nghĩa, nhân ái của tổ tiên trong đó có nhà thơ yêu nước lớn của dân tộc ở thế kỷ XIX (Nguyễn Đình Chiểu… tr. 134). 

Cùng trong buổi lễ, Ca Văn Thỉnh (đốc học ở Bến Tre trước khi tập kết, được CS bổ nhiệm nhiều chức trong đó có Đại sứ ở Cao Miên) cũng đã góp phần với nhũng lời phỉnh phờ xuyên tạc bằng câu chuyện Ông già Hốc Môn: "…Mấy năm trước đây, ông già đã bí mật nuôi cán bộ trong nhà ở dưới hầm, thường dùng mật hiệu bằng dĩa hát. Khi có địch đến thì báo hiệu bằng bài Khóc Hoàng Thiên, còn bài Khổng Minh Tọa Lầu là bảo an. Mật thám theo dõi nghi ngờ ông. Khi tên mật thám vào nhà, nghe bài Khóc Hoàng Thiên, nó bảo ông thay dĩa. Lanh trí, ông vờ lỡ tay đánh rơi xuống đất làm dĩa hát vỡ ra nhiều mảnh. Tên mật thám cầm một mảnh dĩa vỡ nhọn đe dọa ông phải chỉ chỗ giấu Việt cộng, ông cự tuyệt. Tên ác ôn dùng mũi dĩa đâm vào mắt ông. Dù mù, ông vẫn tiếp tục phục vụ cách mạng. Tinh thần đấu tranh kiên cường của ông già Hốc Môn cũng như của Nguyễn Đình Chiểu đã còn ảnh hưởng sâu rộng đến ngày nay". Nguyễn Đình Chiểu đã bị phản bội bởi một con dân Bến Tre, đồng hương của ông.

Và để ca tụng những phụ nữ bộ đội bỏ chồng, bỏ con đi Trường Sơn, những bà mẹ chiến sĩ giấu cán bộ trong hầm hố để đêm đêm lẻn ra gài mìn, phá đường sá, giết hại lương dân, Nguyễn Huệ Chi, một nhà "nghiên cứu lớn" của CS cũng ví von như sau: "…Hình ảnh nàng Nguyệt Nga vai mang bức tượng Vân Tiên, vượt qua bao chặng đường gian khổ để cuối cùng giành được hạnh phúc có gì gần gũi với người phụ nữ yêu nước miền Nam, hàng chục năm nay sống dưới ách cùm kẹp của Mỹ -Ngụy, vẫn mang trọn niềm chung thủy với chồng con, và luôn luôn đứng hàng đầu trong các cuộc đấu tranh để bẻ gãy xích xiềng của chế độ Saigon để chóng đến cái ngày Bắc Nam sum họp" (Nguyễn Huệ Chi. Con đường thơ của NĐC. Sđd, tr. 530).

Rồi Bắc Nam sum họp năm 1975. Các đồng chí lãnh đạo từ Bắc ùa vô Nam vơ vét, các đồng chí Trường Sơn và Giải Phóng miền Nam từ rừng núi và hầm hố chui ra để bị cho về vườn cày ruộng hay sống vất vưởng bên vỉa hè, bên các dinh thự của các đồng chí cũ. Để xoa dịu bất mãn và dọa nạt, ngày 8 tháng 6 năm 1982, Cộng Sản lại tổ chức kỷ niệm 160 năm ngày sinh của Nguyễn Đình Chiểu, lần nầy ở Bến Tre, quê hương của Phong trào Đồng khởi. Nguyễn Khánh Toàn, chủ nhiệm Ủy Ban Khoa học Xã hội, đại diện cho chánh phủ, đến Bến Tre để ve vuốt các đồng chí cũ và dân chúng bị bỏ rơi sau chiến thắng:

Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi mà Nguyễn Đình Chiểu là người thừa kế muộn màng nhưng không lạc hậu, là biểu tượng cho ý thức dân tộc cao, chín muồi và hoàn chỉnh trong những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của châu Á thời Trung đại. Văn thơ yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu lúc nầy có giá trị như một lời hiệu triệu, một bản tuyên ngôn của nhân dân Nam Bộ - dân của nước VN, chống chiến tranh phi nghĩa của chủ nghĩa thực dân phương Tây, Chúng ta tin tưởng rằng đồng bào tỉnh Bến Tre hết lòng hết sức thi đua thực hiện tốt những Nghị Quyết của Đại hội toàn quốc lần thứ V của Đảng, phát huy tinh hoa di sản cao quý của Nguyễn Đình Chiểu, kết hợp với nghị lực sáng tạo dồi dào của quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động… (sđd. tr. 228) Kể sao cho hết những lời nói, những bài viết với văn phong và ngôn từ tuyên truyền xảo quyệt trong một quyển sách dầy 670 trang của những đỉnh cao trí tuệ, những văn nô trong đó có cả những văn thi sĩ nổi danh như Vũ Đình Liên, Xuân Diệu, Nguyễn Đổng Chi, Hoài Thanh, Lý Văn Sâm…

Chương trình Ngữ Văn với bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc

Nhìn qua môn Ngữ Văn bậc đệ nhị cấp (lớp 10 đến lớp 12) trong chương trình năm 2019, chúng tôi nhận định ít nhứt có hai vấn đề

Thứ nhất - Trong 6 tác phẩm Ngữ Văn bắt buộc phải học, chỉ trừ Truyện Kiều là có bản chất văn chương, 5 tác phẩm còn lại chỉ là những văn bản có bản chất chính trị, chiến tranh. Phải hiểu rằng môn Văn không nhằm dạy con người hành động, học đạo đức mà trái lại, văn chương giúp con người phát triển cảm xúc, tình cảm, thẩm mỹ để từ đó ảnh hưởng đến hành động, Dùng văn chương như một công cụ để đào tạo một mẫu người, một ý thức hệ là phản lại sự phát triển của con người, của nhân loại. Thật là đau đớn cho dân tộc Việt Nam, cho đến hôm nay, Việt Cộng vẫn còn áp dụng chánh sách giáo dục phi nhân, giáo điều, cổ võ chiến tranh, thù hận và do đó chúng ta không ngạc nhiên là từ 70 năm qua, giáo dục Cộng sản đã sản xuất đa số nhũng con người không tim, không óc.

Thứ hai – Ca ngợi Nguyễn Đình Chiểu đến tận mây xanh trong thời chiến tranh cốt để tuyên truyền cho ý đồ xâm lược, nhưng khi chiến tranh chấm dứt, Nguyễn Đình Chiểu liền bị bỏ quên (không được biết đến), hay bỏ qua (biết đến nhưng không xem quan trọng). Khi Truyện Kiều của Nguyễn Du có mặt trong 6 tác phẩm bắt buộc mà không có truyện Lục Vân Tiên để thay thế bằng một bài Văn Tế, rõ ràng là Cộng sản đã lộ nguyên hình bộ mặt gian trá, bịp bợm, bản chất muôn đời của Cộng sản. Ngoài ra cũng cần nói thêm, trong 30 năm sáng tác, Nguyễn Đình Chiểu đã để lại nhiều thơ văn các loại. Ngoài những tác phẩm dài như Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu, Ngư Tiều Vấn Đáp Y Thuật, còn có 37 tập thơ và Văn Tế trong đó có bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc.

Bài Văn Tế nầy có 30 câu làm theo lối Đường phú độc vận gồm 4 phần :

1-Lung khởi (câu 1-2 theo lối tứ tự) nêu lên chủ đề là sự hi sinh của nông dân vì đại nghĩa mà nổi lên chống giặc Pháp : Súng giặc đất rền / Lòng dân trời tỏ

2- Thích thực (câu 3-15) giới thiệu những người nông dân vừa sản xuất vừa chiến đấu.

3-Ai vãn (câu 16-28) bày tỏ lòng thương tiếc của tác giả và nông dân với các liệt sĩ

4-Kết (câu 29-30) Ca ngợi linh hồn bất diệt của các liệt sĩ :

Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ

Thật khó mà hình dung được với một bài Văn Tế ngắn như vậy mà Cộng sản đưa vào chương trình học thay vì tác phẩm Lục Vân Tiên, đồng đẳng với Truyện Kiều. Hành xử như vậy, sau 43 năm tận tình khai thác tiềm lực kinh tế miền Nam để đổi lốt, những người lãnh đạo đảng Cộng Sản gốc miền Bắc và Bắc Trung Bộ vẫn còn mang nặng cái não trạng kỳ thị miền Nam, hiểu theo nghĩa Miền Nam chính thể và Miền Nam địa lý.

Kết luận

Để kết luận, chúng tôi có đôi lời tự sự với các nhà chính trị Cộng sản.

Các anh Cộng sản,

Hương hồn cụ Nguyễn Đình Chiểu đã quyện muôn đời trong tâm khảm của người dân Việt Nam, không phải qua những tuyên truyền, tuyên bố trơ tráo của các anh, mà qua tư cách thanh cao, tinh thần ái quốc và thơ văn của Cụ. Người Việt Nam chẳng bao giờ tin các anh, những người đốt sách và bỏ tù văn nghệ sĩ vì không đồng chính kiến, chiến tuyến với các anh.

Các anh hãy chấm dứt trò hề giả ân giả nghĩa, tổ chức lễ kỷ niêm ngày sinh ngày chết, dựng hình tượng của tiền nhân để núp bóng làm chuyện phi nghĩa, thất nhân tâm, hại tổ quốc. Hãy để yên cho học sinh các trường học mang tên Nguyễn Đình Chiểu học tập đạo làm người trong một xã hội mà các anh đã phá hỏng kỷ cương, học làm dân trong một quốc gia mà các anh đã tước đoạt quyền dân chủ. Hãy để yên cho các bịnh nhân trong các y viện mang tên Nguyễn Đình Chiểu sớm lành tật bịnh vì đói khổ và tai họa do các anh gây ra.

Người Việt Nam hãnh diện đi trên các con đường, các công viên mang tên Nguyễn Đình Chiểu bởi họ thực sự kính phục tài danh, đức độ của tiền nhân họ. Lãnh tụ các anh, và các anh, dù ở đẳng cấp nào, cũng chẳng có thể xếp chung cùng hàng ngũ với các bậc tiền bối đáng kính của chúng tôi.