Search This Blog

Tuesday, December 5, 2017

AI MỚI THẬT SỰ LÀ TÁC GIẢ BÀI HÁT TÔI ĐƯA EM SANG SÔNG

toiduaemsangsongAI MỚI THẬT SỰ LÀ TÁC GIẢ BÀI HÁT TÔI ĐƯA EM SANG SÔNG
                                                                                             NGUYỄN DUYÊN
nghe Tôi đưa em sang sông ( Khánh Ly hát)Tôi đưa em sang sông là một bài hát hay rất quen thuộc được nhiều người ái mộ trong thập niên 60.Thời học sinh sinh viên  tôi cũng thích bài nầy vì giai điệu đơn giản- slow rock -lời hát chân thành  xúc cảm.Nhưng gần đây qua net với nhiều tư liệu khác nhau cho thấy đồng tác giả của bài hát ( là Nhật Ngân và Y Vũ) đều phát biểu khác nhau về nguồn gốc bài hát.Nhật Ngân thì cho rằng bài nấy ông có cảm xúc sáng tác từ Đà Nẳng và đưa vào Sài Gòn nhờ nhạc sỹ Y Vân lăng xê dùm.Còn nhạc sỹ Y Vũ (em Y Vân ) thì nói rằng bài hát được cảm xúc từ mối tình lãng đãng với một cô gái ở Sài Gòn.Vậy không biết sự ra đời bài hát bắt nguồn từ đâu? Mời quý vị xem tư liệu mà tôi sưu tập được để cùng nhận định góp ý thêm một giai thoại về bài hát
Trần Nhật Ngân sinh năm 1942 tại Thanh Hóa và là con út trong một gia đình sáu người con. Vì thân phụ là một công chức thường phải di chuyển nhiều nên Nhật Ngân cũng đã từng sống ở nhiều nơi: Huế và Ðà Nẵng.
         toiduaemsangsong
                         nhạc sỹ Nhật Ngân
Vào khoảng cuối thập niên 50 Nhật Ngân cùng mẹ vào SàiGòn theo chân các anh chị đã vào đây từ trước trong khi bố ông đã qua đời từ lâu. Sau khi học hết trung học ở trường Võ Trường Toản và lấy được mảnh bằng tú tài ông trở ra Ðà Nẵng dạy nhạc và Việt văn tại trường Phan Thanh Giản. Trước đó tại Ðà Nẵng và Huế Nhật Ngân đã đến với âm nhạc qua sự chỉ dẫn của các linh mục và sau đó ở Sài Gòn qua sự hướng dẫn của những người thân trong họ là giáo sư âm nhạc và nhạc sĩ nổi tiếng như Ðỗ Thế Phiệt và Nhật Bằng.
Theo lời tâm sự của Nhật Ngân đáng lẽ ông đã trở thành một nhạc công xử dụng vĩ cầm như người em họ là Nhật Hiền nhưng vì gia đình ông quá nghèo không đủ khả năng mua cho ông nhạc khí này. Do đó ông đành quyết định thôi học. Và chính quyết định đó đã đưa Nhật Ngân đi theo con đường sáng tác.
"Tôi Ðưa Em Sang Sông"
Vì lòng đam mê âm nhạc và nhất là nhờ ở khả năng thiên phú của mình Nhật Ngân đã hoàn thành nhạc phẩm đầu tay khi ông mới vừa 18 tuổi vào năm 1960. Ðó là một ca khúc tình cảm mang tên "Tôi Ðưa Em Sang Sông."
Về trường hợp ra đời ca khúc này Nhật Ngân cho biết: Khi trở về dạy học ở Ðà Nẵng ông có một người yêu. Mà thời đó các gia đình ở miền Trung vấn đề là phải có chức phận thì họ mới gả con gái cho mình. Thế nhưng thuở đó ông chỉ là người dạy học thôi nhất là còn trẻ lắm nên gia đình cô ấy không chịu gả và cô ấy đi lấy chồng. "Thật sự là ngẫu hứng thôi tôi làm bài hát đó".
Mặc dù chưa có phương tiện phổ biến rộng rãi trong thời gian đầu nhưng "Tôi Ðưa Em Sang Sông" đã trở thành một ca khúc được giới học sinh sinh viên Ðà Nẵng rất ưa thích chép tay chuyền cho nhau hát. toiduaemsangsong
Sau đó Nhật Ngân gửi ca khúc này vào Sài Gòn nhờ nhạc sĩ Y Vân phổ biến dùm với sự sửa đổi một vài chữ trong bản nhạc cho hợp với đường lối của Bộ Thông Tin lúc đó không cho phép phổ biến những nhạc phẩm ủy mị ướt át. Câu "Rồi thời gian lặng lẽ trôi đời tôi là cánh mây trôi bốn phương trời. Và đời em là cánh hoa thì bao người ước mơ đưa đón trông chờ" được nhạc sĩ Y Vân đổi thành "Rồi thời gian lặng lẽ trôi đời tôi là chiến binh đi khắp phương trời. Mà đời
em là ước mơ đẹp muôn ngàn ý thơ như ngóng trông chờ" cho phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh của đất nước.
Câu kết của bản chính là "Nàng đã thay một lối về thay cả bàn tay đón đưa" cũng đã được Y Vân đổi thành "Nàng đã thay một lối về quên cả người trong gió mưa." Sự thay đổi lời ca này đã khiến cho cảm thấy "hẫng" đi một chút như lời ông nói vì không đúng với tâm trạng của mình khi đến lúc đó chưa hề trải qua đời sống trong quân ngũ.
Hơn nữa vì tác giả còn là một người chưa có tên tuổi nên cần nhờ tới một nhạc sĩ nổi tiếng đứng chung tên với "Tôi Ðưa Em Sang Sông" để dễ dàng đến với quần chúng hơn. Khi được phát hành "Tôi Ðưa Em Sang Sông" được ký tên bởi hai người là Trần Nhật Ngân và Y Vũ.
                                                  (theo Trường Kỳ -nhacvangonline)
Và đây là lời tâm sự của nhạc sỹ Y Vũ 
(Y Vũ là tác giả bài Kim nổi tiếng năm 1964 với điệu twist sôi động  qua tiếng ca của Nữ hoàng nhạc twist thời đó - ca sỹ Túy Phượng)
Tôi sinh ra ở Hà Nội nhưng lớn lên tại đất Sài Gòn náo nhiệt. Những ngày tháng thơ ngây tại trường trung học có lẽ không bao giờ phai mờ trong trí nhớ của tôi bởi ở đó tôi đã để trái tim mình rung động trước cô bạn chung lớp tên Thanh. Tình yêu học trò trong sáng lắm chỉ cảm nhận qua ánh mắt nụ cười chứ đâu có dám ngồi gần dám nắm tay. Những khi tan trường sóng bước bên nhau cũng không biết nói câu gì chỉ biết ...đá cái lon sữa bò khua vang đường phố 

toiduaemsangsong
              nhạc sỹ Y Vũ
Thanh là con một gia đình khá giả có cây xăng ở ngã bảy Lý Thái Tổ. Còn tôi hồi đó chỉ có chiếc "xế nổ" hiệu Roumie ngày ngày đi học. Mỗi chiều khi thay ba ra trông cây xăng Thanh lại nhắc tôi ra đổ xăng...chùa. Những ngày tháng đó với tôi thật hạnh phúc lãng mạn. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang Thanh biến mất khỏi cuộc đời tôi vì một đám cưới ép gả với chàng bác sĩ. Hụt hẫng chơi vơi tôi uống chén đắng đầu đời và nếm trải mùi vị của "thất tình". Tỉnh cơn say vào 2 giờ sáng tôi ôm guitar và thế là Tôi đưa em sang sông ra đời. Bài hát với giai điệu buồn da diết được coi là tài sản chung cho nhiều chàng trai lâm vào cảnh như tôi thời đó.
Mối tình đầu làm tôi trắng tay nhưng nỗi bất hạnh ấy đem lại cho tôi xúc cảm để có được hai bài hát tâm đắc. Sau Tôi đưa em sang song gắn liền với tiếng hát Lệ Thu ca khúc Ngày cưới em lại thành công vang dội: "Hôm nay ngày cưới em nào men nồng nào hoa thơm nào môi hồng nào da phấn khăn áo muôn sắc đua chen..."
Tôi là kẻ đa tình nhưng cũng rất chung tình. Trong đời tôi chưa lần nào phụ người. Khi yêu ai đó tôi đều yêu hết lòng sống hết mình. Nhưng rồi không hiểu sao tôi cứ bị ruồng bỏ. Tại tôi vụng về chăng? Tôi cũng tự vấn mình rất nhiều nhưng rồi cũng không thể trả lời câu hỏi ấy được. Chỉ biết rằng đời nghệ sĩ như tôi long đong lận đận đến tận bây giờ ngoài 60 tuổi mà vẫn chưa có một mái ấm gia đình. Sau mỗi đêm tại nhà hàng Arnold với công việc phụ trách âm nhạc tôi lại cô đơn trở về căn phòng trọ. Nhưng dù thế nào thì cuộc sống vẫn tiếp nối; dù thế nào tôi cũng vẫn phải làm việc sáng tạo và yêu thương.
Mỗi tác phẩm của tôi đều in dấu ấn của kỷ niệm của nỗi niềm riêng. Ca khúc Kim được nhiều người yêu thích chính là ca khúc tôi viết tặng cô gái tên Kim có gương mặt buồn và gia cảnh thật đáng thương. Một năm sau ngày bài hát được tung ra Kim đã mất vì bệnh tim.
tham khảo link http://my.opera.com /diemxuacafe/blog/show.dml/2402789)

Trần Trung Đạo (Danlambao) - “Ai là tác giả của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông” là vấn đề được bàn thảo khá rộng rãi trong vài năm qua. Người viết có đọc trên Internet những tranh luận nhưng thú thiệt chưa bao giờ dám hỏi thẳng anh Nhật Ngân vì, một phần, hỏi là nghi ngờ mà nghi ngờ là xúc phạm và phần khác là vì anh đã nói rõ ra rồi. Nhạc sĩ Nhật Ngân khẳng định anh đã viết nhạc phẩm đầu tay đầy kỷ niệm vào năm 1960 khi chỉ vào 18 tuổi ở Đà Nẵng và giải thích lý do có thêm tên nhạc sĩ Y Vũ.

Tôi đưa em sang sông theo lời kể của Nhạc sĩ Nhật Ngân 

Nhạc sĩ Trường Kỳ, một cây bút chuyên viết đời sống và tác phẩm của các văn nghệ sĩ, trong một bài viết vào năm 2000, đã thuật lại nguồn gốc của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông theo lời kể của nhạc sĩ Nhật Ngân, và dưới đây là vài đoạn chính: “Theo lời tâm sự của Nhật Ngân, đáng lẽ ông đã trở thành một nhạc công vĩ cầm như người em họ là Nhật Hiền, nhưng vì gia đình ông quá nghèo, không mua nổi cây đàn cho ông. Do đó, ông đành quyết định thôi học. Vì lòng đam mê âm nhạc và nhất là nhờ ở khả năng thiên phú của mình, Nhật Ngân đã hoàn thành nhạc phẩm đầu tay khi ông mới vừa 18 tuổi vào năm 1960. Ðó là một ca khúc tình cảm mang tên Tôi đưa em sang sông.

Mặc dù chưa có phương tiện phổ biến rộng rãi trong thời gian đầu, nhưng Tôi đưa em sang sông đã trở thành một ca khúc được giới học sinh, sinh viên Ðà Nẵng rất ưa thích, chép tay truyền cho nhau hát.

Sau đó Nhật Ngân gửi ca khúc này vào Sài Gòn nhờ nhạc sĩ Y Vân phổ biến dùm, với sự sửa đổi một vài chữ trong bản nhạc cho hợp với đường lối của Bộ Thông tin lúc đó không cho phép phổ biến những nhạc phẩm ủy mị, ướt át. Câu “Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là cánh mây trôi bốn phương trời. Và đời em là cánh hoa thì bao người ước mơ, đưa đón trông chờ” được nhạc sĩ Y Vân đổi thành “Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là chiến binh đi khắp phương trời. Mà đời em là ước mơ đẹp muôn ngàn ý thơ, như ngóng trông chờ” cho phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh của đất nước.

Câu kết của bản chính là “Nàng đã thay một lối về, thay cả bàn tay đón đưa” cũng đã được Y Vân đổi thành “Nàng đã thay một lối về, quên cả người trong gió mưa.” Sự thay đổi lời ca này đã khiến cho tác giả cảm thấy “hẫng” đi một chút, như lời ông nói, vì không đúng với tâm trạng của mình khi đến lúc đó, chưa hề trải qua đời sống trong quân ngũ.

Hơn nữa, vì tác giả còn là một người chưa có tên tuổi nên cần nhờ tới một nhạc sĩ nổi tiếng đứng chung tên để Tôi đưa em sang sông đến với quần chúng dễ dàng hơn. Khi được phát hành, Tôi đưa em sang sông được ký tên bởi hai người là Trần Nhật Ngân và Y Vũ".

Nhạc sĩ Nhật Ngân qua đời ngày 21 tháng 1, 2012 tại California, Hoa Kỳ.

Tôi đưa em sang sông theo lời kể của Nhạc sĩ Y Vũ:

Trong một bài viết được phổ biến rộng rãi trên Internet, nhạc sĩ Y Vũ nhắc lại chuyện tình để lại một đứa con tinh thần có tên Tôi đưa em sang sông“Tôi sinh ra ở Hà Nội nhưng lớn lên tại đất Sài Gòn náo nhiệt. Những ngày tháng thơ ngây tại trường trung học có lẽ không bao giờ phai mờ trong trí 
nhớ của tôi, bởi ở đó tôi đã để trái tim mình rung động trước cô bạn chung lớp tên Thanh. Tình yêu học trò trong sáng lắm, chỉ cảm nhận qua ánh mắt, nụ cười chứ đâu có dám ngồi gần, dám nắm tay. Những khi tan trường sóng bước bên nhau cũng không biết nói câu gì, chỉ biết... đá cái lon sữa bò khua vang đường phố.

Thanh là con một gia đình khá giả, có cây xăng ở ngã bảy Lý Thái Tổ. Còn tôi hồi đó chỉ có chiếc "xế nổ" hiệu Roumie ngày ngày đi học. Mỗi chiều khi thay ba ra trông cây xăng, Thanh lại nhắc tôi ra đổ xăng... chùa. Những ngày tháng đó với tôi thật hạnh phúc, lãng mạn. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang, Thanh biến mất khỏi cuộc đời tôi vì một đám cưới ép gả với chàng bác sĩ. Hụt hẫng, chơi vơi, tôi uống chén đắng đầu đời và nếm trải mùi vị của "thất tình". Tỉnh cơn say vào 2 giờ sáng, tôi ôm guitare và thế là Tôi đưa em sang sông ra đời. Bài hát với giai điệu buồn da diết được coi là tài sản chung cho nhiều chàng trai lâm vào cảnh như tôi thời đó.

Mối tình đầu làm tôi trắng tay, nhưng nỗi bất hạnh ấy đem lại cho tôi xúc cảm để có được hai bài hát tâm đắc. Sau Tôi đưa em sang sông gắn liền với tiếng hát Lệ Thu, ca khúc Ngày Cưới Em lại thành công vang dội: "Hôm nay ngày cưới em, nào men nồng nào hoa thơm, nào môi hồng nào da phấn, khăn áo muôn sắc đua chen..."

Tương tự, nhạc sĩ Y Vũ cũng “ngậm ngùi tâm sự” chuyện tình của ông cho nhạc sĩ Trịnh Hưng nghe: "Đó là nhạc ghi lại mối tình đầu của em. Dạo đó, em còn là học sinh trung học tư thục Hàn Thuyên ở phố Cao Thắng, gần nhà và lớp nhạc của anh, yêu một nữ sinh cùng lớp tên Thanh. Đó là mối tình học trò, trong trắng. Tình yêu chúng em chỉ cảm nhận qua ánh mắt trao đổi, chứ chưa một lần nắm tay nhau. Nhà nàng giàu sang, có cây xăng ở ngã bảy Lý Thái Tổ, còn em thì nghèo, chỉ có chiếc xe gắn máy hiệu Bromic do anh Y Vân mua cho. Nàng dặn em, mỗi ngày cứ vào buổi chiều, canh đúng giờ nàng ra thay thế cho cha mẹ nàng về nhà nghỉ ngơi, thì tới để nàng đổ đầy bình xăng cho, không phải trả tiền. Và cứ thế, rồi bẵng đi một tuần không thấy Thanh đi học và ra cây xăng. Em nhớ Thanh quá, mới lấy hết can đảm tới nhà nàng, hỏi thăm cô em gái nàng, thì được biết mấy hôm nay nhà bận rộn vì phải tiếp nhận lễ hỏi cưới chị Thanh, do cha mẹ gả cho một ông bác sĩ lớn tuổi.”

Nhạc sĩ Y Vũ trưng bằng chứng “bản thảo”

Giữa tháng 11, 2017, trong một chương trình truyền hình Hát trên chuyện tình trong nước, nhạc sĩ Y Vũ phát biểu về nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông

“Tôi xin khẳng định một điều bài này của tôi viết có một mình tôi thôi. Anh Y Vân có dạy hai người học trò là Nhật Ngân và Anh Thy. Khi tôi thất tình tôi viết bài Tôi đưa em sang sông được mấy ngày sau, trình anh Y Vân duyệt, bài này được tốt rồi. Anh đề nghị ngay, bây giờ mày có thể để thêm tên Nhật Ngân vào bài này không để cho hai đứa cùng nổi tiếng với nhau, có chút tiếng, bài này hay, sẽ nổi đó. Kính thưa quý vị, tôi rất vô tư. Tôi không nghĩ cái chuyện mấy chục năm sau lại như thế. Tôi bảo anh muốn để thì em để vào. Bài đó ký tác quyền cho nhà xuất bản Diên Hồng và có thêm tên Nhật Ngân, và tôi có hứa trên báo chí là sẽ có một ngày tôi lục được cái bài gốc, gọi là bản thảo, tôi viết tay.” 

Sau đó nhạc sĩ Y Vũ đưa bản viết tay cho người dẫn chương trình và cô đọc “Bản thảo ký ngày 5 tháng 6 năm 1962.” 

Các báo trong nước phần lớn đồng ý với lời “khẳng định” của nhạc sĩ Y Vũ và báo Thanh Niên kết luận: "Lần đầu tiên, nhạc sĩ Y Vũ khẳng định ca khúc Tôi đưa em sang sông do chính ông tay ông viết mà không có bất kì một nhạc sĩ nào tham gia vào. Hơn nữa, nhạc sĩ còn đem theo bản gốc viết tay hơn 40 năm trước để làm bằng chứng chân thật nhất cho những lời kể của ông."

Khoan, xin đừng quá vội. 

- Bản gốc: 

“Bản thảo” chép tay mà nhạc sĩ Y Vũ dùng làm bằng chứng không thể chứng minh đó bản gốc của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông. Ngoài nhạc sĩ Y Vũ, không có người nào hay cơ quan có thẩm quyền độc lập nào xác định đó là bản thảo. Cách đây hơn nửa thế kỷ, mọi sáng tác văn nghệ đều phải chép tay, dù do chính tác giả sáng tác hay chép lại nhạc của người khác. 

Nhạc sĩ Nhật Ngân cũng có thể có một bản thảo chép tay như bản của nhạc sĩ Y Vũ nhưng còn đang thất lạc. Cuộc đời nhạc sĩ Nhật Ngân giống như âm nhạc của anh gắn liền với những chặng đường gian nan của đất nước. Rời Đà Nẵng, đi lính, gia nhập ban Tâm Lý Chiến của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, chịu đựng cực khổ sau 1975, vượt biên sang Thái Lan 1982. Mạng sống lo chưa xong nói gì là bản thảo. 

- Thời điểm nhạc phẩm ra đời: 

Khi còn sống, trong các buổi trả lời phỏng vấn trên báo chí, qua truyền hình, truyền thanh, nhạc sĩ Nhật Ngân đều khẳng định một cách chính xác nhạc phẩm đó anh viết lúc 18 tuổi từ năm 1960. Khẳng định này đã được phổ biến cùng khắp. 

Nhạc sĩ Y Vũ, qua các lời kể, dù thừa nhận đã có biết, có nghe những tranh luận nhưng không phản đối về thời điểm 1960 do nhạc sĩ Nhật Ngân đưa ra. 

Tạm cho là lúc đó nhạc sĩ Y Vũ chưa tìm ra “bản thảo” để chứng minh nhưng ít nhất ông phải nhớ năm nhạc phẩm ra đời và phản bác thời điểm 1960 của nhạc sĩ Nhật Ngân chứ. Chẳng lẽ ông nhớ những chi tiết nhỏ như “Thanh là con một gia đình khá giả, có cây xăng ở ngã bảy Lý Thái Tổ. Còn tôi hồi đó chỉ có chiếc "xế nổ" hiệu Roumie ngày ngày đi học” mà lại không nhớ mình sáng tác bản nhạc năm nào? 

Không phản biện về thời điểm có nghĩa ông đồng ý bản nhạc ra đời vào năm 1960 chứ không phải 1962 và như vậy bản của nhạc sĩ Nhật Ngân dù còn đang bị thất lạc mới thật sự là bản gốc. 

- Thời điểm tìm ra “bản thảo”

Trên báo Thanh Niên ngày 17 tháng 11, 2017, Nhạc sĩ Y Vũ tiết lộ thời gian tìm ra “bản thảo”: "Bản gốc của ca khúc này do bà cụ cất giữ. Bà rất quý sáng tác của hai anh em tôi và giữ mỗi người một bản gốc mà bà yêu thích nhất. Bà kẹp bản gốc ca khúc Lòng mẹ của Y Vân và bản gốc Tôi đưa em sang sông trong ngăn tủ của mình cùng với giấy khai sinh của tôi và một vài giấy tờ quan trọng khác. Mãi đến khi bà mất, tôi mới kiếm được những tư liệu này."

Người viết xin lỗi phải nhắc đến bà cụ nhưng vì nhạc sĩ Y Vũ nhắc trước. 

Mẹ của hai nhạc sĩ Y Vân và Y Vũ không phải qua đời năm ngoái, năm kia hay thậm chí không phải mười năm trước mà qua đời cách đây 24 năm. Báo chí trong nước viết về ngày cụ qua đời: “ngày 28/11/1992, nhạc sĩ Y Vân giã từ cõi người khi vừa bước vào tuổi 60 và mười tháng sau, mẹ của ông, (cũng là mẹ của nhạc sĩ Y Vũ) qua đời.”

Theo lời kể của chính nhạc sĩ Y Vũ, bà cụ cũng chẳng chôn giấu “bản thảo” ở một góc nhà nào kín đáo hay gởi cho ai mà để ngay trong phòng của cụ cùng với các giấy tờ quan trọng khác. Do đó, “bản thảo” trong xấp giấy tờ quan trọng phải được tìm ra ngay sau khi bà cụ qua đời. 

Nhưng cứ tạm cho rằng ông không tìm ra “bản thảo” ngay mà 10 năm sau mới tìm ra thì tại sao 14 năm rồi ông không công bố “bản thảo” dù ông có rất nhiều cơ hội và tại sao ông không công bố khi nhạc sĩ Nhật Ngân còn sống để hai mặt một lời cho dứt khoát? Điều gì khiến ông dè dặt? 

- Vai trò của nhạc sĩ Y Vân:

Người có thẩm quyền nhất và có tính xác định cao nhất ai là tác giả của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông chính là nhạc sĩ Y Vân vì cả nhạc sĩ Y Vũ và Nhật Ngân đều đồng ý là nhạc sĩ Y Vân đã ghép chung hai nhạc sĩ vào nhạc phẩm. 

Nhạc phẩm này không phải bây giờ mới nổi tiếng mà nổi tiếng ngay sau khi được Lệ Thu hát cho tới nay. Nhạc sĩ Y Vân qua đời năm 1992. Tuy lâu nhưng không phải quá lâu. Nhạc sĩ Nhật Ngân không có ở trong nước nhưng nhạc sĩ Y Vũ ở bên cạnh anh mình cho đến ngày cuối nhưng tại sao ông không yêu cầu nhạc sĩ Y Vân xác định giùm ông những bí mật, những khuất tất chung quanh nhạc phẩm này nếu ông là “tác giả duy nhất”? 

Người viết không dám phê bình nhạc sĩ Y Vân nhưng khách quan mà nhận xét lý luận cho rằng nhạc sĩ Y Vân thêm tên em mình vào một nhạc phẩm mà ông biết sẽ nổi tiếng có lẽ dễ thuyết phục hơn là thêm một tên còn đang học nhạc 18 tuổi vô danh ở ngoài Đà Nẵng vào nhạc phẩm của em mình.

- Lời nhạc 

Nhạc sĩ Nhật Ngân có hơn 200 nhạc phẩm, không tính nhạc ngoại quốc lời Việt, và nhiều trong số đó đã gắn liền với tâm sự với những người xa quê hương như Xuân này con không về, Một mai giã từ vũ khí nhưng khi được yêu cầu anh thường hát Tôi đưa em sang sông. 

Người viết nghe chính nhạc sĩ Nhật Ngân hát Tôi đưa em sang sông lần đầu 14 năm trước tại Dallas, rồi sau đó những lần khác trong các đại hội Quảng Đà, họp mặt Liên Trường ở Nam California. Anh hát với tất cả xúc động chân thành toát ra từ ánh mắt, từ lời ca, từ niềm hoài vọng về một thành phố cảng thân yêu nơi có bến đò ngang và dòng sông đẹp. 

Ai đã từng sống ở Đà Nẵng hay sống cả hai thành phố Đà Nẵng và Sài Gòn, và lắng lòng ngồi nghe anh Nhật Ngân hát, chắc hẳn sẽ đồng ý chính anh là tác giả của Tôi đưa em sang sông bởi vì “sông” trong Tôi đưa em sang sông là dòng sông thật chứ không phải “đưa người ta không đưa qua sông” theo cách ví trừu tượng của Thâm Tâm. 

Chuyện tình của nhạc sĩ Y Vũ không có tình tiết nào được phản ảnh trong lời nhạc Tôi đưa em sang sông. Theo lời kể của ông phần lớn chỉ diễn ra bên cây xăng ở Ngã Bảy Lý Thái Tổ và thậm chí cầm tay cũng chưa có thì làm gì có “bàn tay nâng niu ân cần” như trong Tôi đưa em sang sông.

Chuyện tình của nhạc sĩ Nhật Ngân không đánh dấu bằng những “cây dài bóng mát”, “vòm lá me xanh”, “thương xá sắp đóng cửa” hay “muôn tà áo tung bay” ở Sài Gòn mà bằng “đường vắng”, “bến đất”, “bến gió”, “lối mòn” thường gặp trong các thành phố xa thủ đô. Nói chung, không một động từ, một danh từ, một tĩnh từ nào trong Tôi đưa em sang sông làm người nghe liên tưởng đến Sài Gòn. 

Tôi đưa em sang sông so sánh với Ngày cưới em 

Nhạc sĩ Y Vũ, trong dịp khẳng định tác quyền Tôi đưa em sang sông có nhắc đến ca khúc Ngày Cưới Em. 

Lẽ ra không cần phải bàn đến nhạc phẩm không liên hệ nhưng vì nhạc sĩ Y Vũ “tâm đắc” và nhấn mạnh nhạc phẩm này cũng đã “thành công vang dội” nên người viết mời độc giả vào Youtube nghe hai nhạc phẩm rồi đọc kỹ lời của hai nhạc phẩm để thấy sự khác nhau trong cách diễn tả và ngôn ngữ được dùng. 

Những câu hát trong Tôi đưa em sang sông là những câu thơ, có trách móc, có chút đắng cay nhưng rất nhẹ nhàng và bóng gió:

Tôi đưa em sang sông, chiều xưa mưa rơi âm thầm 
Để thấm ướt chiếc áo xanh, và đẫm ướt mái tóc em 
Nếu xưa trời không mưa, đường vắng đâu cần tôi đưa 
Chẳng lẽ chung một lối về mà nỡ quay mặt bước đi 

Tôi đưa em sang sông, bàn tay nâng niu ân cần 
Sợ bến đất lấm gót chân, sợ bến gió buốt trái tim 
Nếu tôi đừng đưa em, thì chắc đôi mình không quen 
Đừng bước chung một lối mòn, có đâu chiều nay tôi buồn…

Trong lúc đó, lời của Ngày cưới em

Hôm nay ngày cưới em 
Nào men nồng nào hoa thơm 
Nào môi hồng nào giá phấn 
Khăn áo muôn sắc đua chen 
Mắt biếc ngời ánh đêm 
Làn tóc nụ cười ngát hương 
Từng bước dập dìu bước êm 
Chỉ mình lòng tôi hoang vắng 

Hôm nay ngày cưới em 
Mừng vui họ hàng đôi bên 
Vì đâu nàng mời tôi đến 
Tuy có đây cũng như không 
Chiếc áo tình chóng phai 
Một sớm một chiều đã thay 
Thì nhớ đừng vì có tôi 
Mà nàng giấu vui không cười…

Lời của Ngày cưới em không bóng gió như thơ mà là những đoạn văn xuôi tả rất cụ thể, rõ ràng với “men”, “môi”, “phấn”, “mắt”, “khăn áo”, “họ hàng đôi bên”.

Ngôn ngữ bao la nhưng mỗi nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ chỉ có một cuốn tự điển để sử dụng cho riêng mình và dù có viết trăm bài thì những chữ tác giả dùng cũng giới hạn trong tự điển đó thôi. 

- Tiền bản quyền 

Nhạc sĩ Y Vũ than trên báo Thanh Niên: “Nghe nói tiền bản quyền ca khúc bên Mỹ cao lắm, mà hàng chục năm qua tôi không được một đồng." Đây là điểm thuộc về pháp lý và sẽ do các luật sư chuyên về bản quyền giải thích nhưng trong quan điểm phổ quát, tiền bản quyền thuộc về ai tùy thuộc vào ai giữ bản quyền. Người viết cũng đã từng nộp bản quyền và biết cơ quan bản quyền không dựa vào bản chép tay dù cũ bao lâu của ai đó để xác định bản quyền.

Việt Nam và Mỹ đều là thành viên của Berne Convention cho nên nếu nhạc sĩ Nhật Ngân nộp bản quyền nhạc của ông sau khi định cư ở Mỹ năm 1982 và gia đình nhạc sĩ Nhật Ngân giữ quyền thừa kế bản quyền của Tôi đưa em sang sông thì họ có thể kiện những ai dùng nhạc phẩm vào mục đích thương mại ngay cả đã sử dụng tại Việt Nam trước đây, đang sử dụng hiện nay và cả sẽ sử dụng sau này. 

Nhạc sĩ Y Vũ có nhiều điều kiện, nhiều thời gian, nhiều cơ hội và nhiều người để giúp chứng minh ông là tác giả của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông nhưng đã không làm. Hôm nay, nhạc sĩ Nhật Ngân không còn sống để biện hộ cho anh nên dù nói gì nhạc sĩ Y Vũ cũng chỉ vẽ nên nhiều nhất là một nửa cái bánh mà thôi. 

Trong lúc một số người dễ tin có thể cho những bằng chứng nhạc sĩ Y Vũ đưa ra là thật nhưng những người khác thận trọng, suy nghĩ chín chắn hơn sẽ nghĩ khác. Ngay cả những khán giả vỗ tay khi nhạc sĩ Y Vũ trưng ra bản chép tay mà ông viết là “bản thảo” trên đường về cũng có thể tự trách mình đã vội vàng vì không có gì chứng minh đó là bản đầu tiên của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông. 

Bản chép tay mà nhạc sĩ Y Vũ đưa ra không phải lấy từ hồ sơ lưu trữ của Bộ Thông Tin Việt Nam Cộng Hòa, không phải do gia đình cố nhạc sĩ Y Vân công bố, không phải do một người thứ ba nào khám phá mà chỉ từ nhạc sĩ Y Vũ. 

Mười hai năm trước khi qua đời, nhạc sĩ Nhật Ngân kể lại với nhạc sĩ Trường Kỳ: “Tôi không bao giờ than vãn cuộc đời. Tôi vẫn mang trái tim của tôi, mang sự yêu mến cuộc đời của mình để bước vào cuộc đời." 

Lúc 10 giờ sáng ngày Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2012, tác giả Xuân này con không về đã bước ra khỏi cuộc đời cũng bằng trái tim đầy yêu thương như thế.

Vì nhạc sĩ Y Vũ khẳng định ông là tác giả duy nhất của Tôi đưa em sang sông nên người viết muốn phân tích để chứng minh những gì dễ cho là thật và tưởng là thật nhiều khi lại không hẳn là thật. 

Sự kiện Tôi đưa em sang sông là một biến cố đáng tiếc trong âm nhạc Việt Nam nhưng suy cho cùng cũng chẳng làm nhạc sĩ nào thiệt hại hoàn toàn. Cả hai nhạc sĩ cùng với nhạc sĩ Y Vân qua nhân duyên văn hóa đã góp phần tạo nên nhạc phẩm tuyệt vời này. 

Nhạc sĩ Nhật Ngân đã qua đời và nhạc sĩ Y Vũ sắp bước vào tuổi tám mươi, nên mỉm cười đón nhận nhân duyên. Tôi đưa em sang sông sẽ mãi mãi là một phần của văn hóa Việt Nam và các thế hệ Việt Nam mai sau cũng sẽ mỉm cười kính mến và trân trọng khi nhắc đến tên hai vị.

Hãy để “em sang sông”, thưa nhạc sĩ Y Vũ.

1/12/2017

Tiếng Việt nạn nhân của Tiếng Quê Hương
Trần Văn Tích

Tôi vốn nhất mực chủ trương phải viết sử dụng mà không thể viết xử dụng vì viết xử dụng theo tôi là sai, do đó tôi mới được một anh bạn ở Úc gửi cho đọc tài liệu “Thư gửi bạn trước khi vào sách“ do Tủ sách TQH chấp bútTQH là viết tắt ba chữ Tiếng Quê Hương và tủ sách do nhà văn Uyên Thao phụ trách.

Nội dung “Thư gửi bạn trước khi vào sách“
Thư gửi bạn trước khi vào sách“ là lời mở đầu của cuốn Nhân văn Giai phẩm với tác giả là nữ sĩ Thụy Khuê nhưng tài liệu không giới thiệu mục đích sáng tác, nội dung nghiên cứu, hoàn cảnh ra đời, tôn chỉ chính luận v.v..của Bà Thụy Khuê mà lại có phần phân trần về cách viết chữ sử dụng. Nguyên Bà Thụy Khuê viết sử dụng nhưng Tiếng Quê Hương bác bỏ lối viết này và tự cho phép sửa lại thành xử dụngSở dĩ có hành động không theo lệ thường như thế là vì “Tủ sách Tiếng Quê Hương phải tự định một chuẩn hướng theo các chỉ tiêu do cân nhắc chủ quan với mong mỏi không gây hỗn loạn thêm cho cách viết và cách dùng từ.“
Dựa vào “chuẩn hướng“ định sẵn, Tiếng Quê Hương trình bày lý do viết “xử dụng“ thay vì “sử dụng“ như sau : (Trích) “Như chúng ta đều biết, đa số từ Việt ngữ là Hán Việt tức có gốc Hán tự. Chẳng hạn chữ “sử“ hoặc “xử“ của ta là 5 chữ Hán viết theo các bộ Khẩu, Nhân, Mã, Hô, Mộc. Trước đây, các học giả Thiều Chửu, Đào Duy Anh đã phiên âm 3 chữ viết theo các bộ Khẩu, Nhân, Mã là “sử“ và 2 chữ viết theo các bộ Hô, Mộc là “xử“. (…) Từ viết theo bộ Nhân được phiên âm là “sử“ có nghĩa “sai khiến“ (…) Riêng từ viết theo bộ Hô phiên âm là “xử“ bao gồm nhiều nghĩa như “thu xếp“ (...) Theo cách phân tích này, chúng tôi thấy không thể viết “sử dụng“ vì ở đây không hàm nghĩa “sai khiến“ (…) Chữ “xử“ ở đây chỉ đơn thuần mang nghĩa “thu xếp“ (…) những thứ gì đang có trong tay mà thôi nên phải viết là “xử dụng“. (Hết trích)

Ai muốn bàn bạc về bệnh tật với chút ít thẩm quyền thì phải theo học ngành y khoa trong bảy năm, sau đó còn phải học thêm năm bảy năm nữa mới có thể góp ý về các vấn đề y khoa vì y học là một khoa học. Tay ngang muốn lên tiếng về một vấn đề y học nào đó, không ai cấm hết nhưng không ai dám đặt tin tưởng hoàn toàn vào tay ngang. Ngôn ngữ cũng là một khoa học. Nó có những qui luật, những nguyên tắc. Nó có những phương tiện từ vựng và các phương tiện ngữ pháp. Người không thành thạo ngôn ngữ học, người đứng bên đường, người ở ngoài nghề muốn phát biểu về ngôn ngữ cũng không bị ai cấm đoán nhưng thực rất khó lòng thuyết phục được người đọc người nghe.

Phép phiên thiết
Chữ viết tiếng Hán là loại chữ biểu ý, chữ viết tiếng Việt là loại chữ biểu âm. Khi nhìn vào mặt chữ mà đọc thì chữ viết tiếng Việt cung cấp ngay âm đọc. Nhưng khi nhìn vào mặt chữ Hán thì không thể đọc được. Muốn ghi âm chữ Hán, muốn chỉ cách đọc chữ Hán, phải dùng lối phiên thiết. Nguyên tắc phép phiên thiết là ghép phụ âm (consonne) hay khung của chữ thứ nhất với nguyên âm (voyelle) hay khung của chữ thứ hai thành cách đọc của từ được phiên thiết. Nói chung, có thể xem phiên thiết là một hình thức nói lái.
Phiên thiết chỉ được sử dụng trong các từ điển, tự điển đơn ngữ Hán-Hán. Cho nên điều kiện tiên quyết nhưng cần và đủ là phải biết đọc chữ Hán mới vận dụng được phép phiên thiết (không cần phải hiểu nghĩa chữ vì đây chỉ là vấn đề phát âm, không phải vấn đề lĩnh ý).
Ví dụ tên tôi chữ Hán viết là . Tra chữ này trong Khang Hy, bộ kim, mục tám nét, sẽ thấy ghi như sau : tiên đích thiết (…) âm tích 先的切 (…)音裼. Phụ âm ở đây do chữ thứ nhất cung cấp, đó là chữ t; nguyên âm do khung của chữ thứ hai cung cấp, đó là ích. Ghép vào với ích (t + ích), chúng ta có cách đọc tên tôi :tích. Ngoài ra, sau khi đã cho cách phiên thiết, Khang Hy còn sử dụng lối chú âm bằng cách dùng một chữ đồng âm, gọi là phép trực âm. Trong trường hợp tên tôi, Khang Hy ghi thêm “âm tích 音裼 nhằm chỉ rõ rằng tên tôi đọc giống như chữ tích bộ .

Tôi xin nêu một ví dụ khác hơi rắc rối hơn một chút. Đó là trường hợp chữ tôn trong tôn giáo. Khang Hy ghi ở phần phiên thiết là tác đông thiết. Tác + đông = tông (chứ không phải tôn) và như vậy là do kỵ húy. Cho nên – vẫn căn cứ theo phép phiên thiết ! – Đào Duy Anh mới ghi : “Nguyên chữ này trước Nguyễn-triều vẫn đọc là tông, sau khi kiêng tên húy đời vua Minh-mạng, mới đọc là tôn.“ Vua Thiệu Trị có đến ba tên khác nhau : Tuyền, Dung, Tông. Vì vậy đến đời vua Minh Mạng, dân chúng kỵ huý phát âm chữ chúng ta đang bàn thành tôn, từ đó Sài gòn có đường Lê Thánh Tôn ở gần chợ Bến Thành; cònTuyền thì biến âm thành Toàn, Dung thì biến âm thành Dong. Như vậy do tên vua Thiệu Trị là Tông theo phép phiên thiết nên quần chúng dân gian tránh tên húy của nhà vua và đọc trại đi thành tôn.

Khi biên soạn các bộ từ điển, tự điển Hán-Việt, các tác giả như Đào Duy Anh, Thiều Chửu, Trần Trọng San, Nguyễn Văn Khôn v.v.. đã lấy cách đọc những từ Hán từ đâu? Chẳng lẽ quí vị ấy đã rút cách phát âm những từ đó từ trên Trời xuống hay moi chúng từ đất đen ra? Chư vị đã dùng phép phiên thiết. Cuốn Thiều Chửu biên soạn rất sát theo qui cách của cuốn Khang Hy, cũng từng ấy bộ, cũng cùng thứ tự sắp xếp theo số nét, thậm chí theo cả trật tự các chữ nữa. Có chữ Khang Hy ghi vào chỗ chót, sau ghi chú với chữ tăng 增 (thêm) thì Thiều Chửu cũng dành cho chữ liên hệ vị trí cuối cùng. Có thể nói mà không sợ quá đáng là cách phát âm một từ Hán-Việt như thế nào là do phép phiên thiết muốn thế, bắt thế, qui định như thế, áp đặt như thế. Và không chỉ riêng Khang Hy mới có phần phiên thiết, Từ Nguyên cũng trình bày mục phiên thiết giống Khang Hy; đó là chưa kể đến các bộ bách khoa đại từ điển chữ Hán như Hán văn đại Từ điển, Trung văn đại Từ điển.

Chữ Hán gia nhập vào tiếng ta không phải chỉ từ đời Đường. Sau khi Triệu Đà xưng đế, sau khi Mã Viện thắng Hai Bà thì tiếng Hán đã có cơ hội và thời gian để “chiếm lĩnh“ phần nào ngôn ngữ nòi Việt. Nhưng tiếng Hán thuở bấy giờ chỉ len lén vào, qua hình thức khẩu ngữ. Đó là chữ Hán cổ. Đến thời Bắc thuộc lần thứ hai, Trung văn, Trung ngôn chính thức gia nhập gia đình ngôn ngữ Việt, qua chữ viết, qua thi cử. Đó là chữ Hán đời Đường. Cuối cùng, có một số chữ Hán đã Việt hoá. Như vậy, những từ Hán vào tiếng Việt thuộc ba loại.

1) Chuông là âm cổ của chung; kim hay ghim là chữ châm đọc theo âm cổ.
2) Từ gốc Hán mượn của đời Đường chính là những từ mà nay ta gọi là từ Hán-Việt. Hệ thống vần Hán-Việt là hệ thống vần tiếng Hán đời Đường-Tống biến đổi theo qui luật ngữ âm tiếng Việt, kể cả và nhất là thay đổi về thanh điệu. Chẳng hạn trong y học, chúng ta có thương tích, thương hàn, chướng khí, tiêm nhiễm v.v.. Trong ngôn ngữ gốc (tiếng Hán), chúng được biểu thị bằng chữ khối vuông, khi chuyển sang ngôn ngữ đích (tiếng Việt), hiện nay chúng được ghi chép bằng hệ thống chữ cái la-tinh. Sự chuyển dịch đó dựa theo, tuân theo, phục tùng, vâng lệnh phép phiên thiết. Chính vì thế mà nếu Khang Hy ghi nhiều vận luật (Quảng vận, Tập vận, Vận hội, Chính vận) bên cạnh Đường vận thì các từ điển, tự điển Đào Duy Anh, Thiều Chửu, Trần Trọng San, Nguyễn Văn Khôn v.v..hầu như chỉ chọn Đường vận để phiên thiết, tức là để đọc lên, để phát âm các từ Hán-Việt.
3) Nhóm các từ Hán đã Việt hoá khá đông, chúng ta không còn nhớ gốc gác của chúng nữa. Xin thử liệt kê làm bằng : đại - đời, kính – gương, các – gác, bổn - vốn, long - rồng, thanh – xanh v.v..
Âm tiếng ta nhiều khi vốn rất gần âm tiếng Tàu. Phiên âm Hán-Việt tương ứng với chú âm Trung văn lắm lúc rất gần gụi, có khi giống nhau như hai giọt nước : ai : ai, ái, ải; ban : ban, bản, bán, bạn, biện etc…Xem các từ điển Hán-Hán có phần pin yin rồi đối chiếu với các từ điển Hán-Việt sẽ thấy. Cho nên phiên thiết không hề thuộc lĩnh vực hàn lâm, không hề là món trang sức. Phiên thiết là hơi thở, là mạch sống của một thành phần tiếng nước ta.

Sử dụng hay xử dụng?
Muốn biết sử dụng đúng hay xử dụng đúng thì, như đã trình bày, phải dùng phép phiên thiết chứ không có cách nào khác, lại càng không thể dùng lối lý luận theo kiểu của nhóm Tủ sách Tiếng Quê Hương. Từ điển Từ Hải phiên thiết hai chữ “sử“ trong “sử dụng“ và “xử“ trong “xử sự“ như sau :
  • sử, 使 : sảng sĩ thiết; sư chỉ thiết tinh âm sử  (phiên thiết là sư + sĩ = sĩ; hoặc phiên thiết là sư + chỉ = sỉ, âm giống như sử).
  • xử,  : xương dữ thiết (xương + dữ = xử).
(Phép phiên thiết chỉ cho cách đọc và cách viết nhưng khi chuyển từ Hán sang Việt-Hán thì có thể thay đổi âm từ i sang ư hoặc thay đổi hai dấu hỏi, ngã).
Những người không thông thạo ngôn ngữ học nhưng thích chủ trương viết “xử dụng“ thay vì “sử dụng“ đưa ra các kiến giải sau đây nhằm biện minh cho chủ trương của mình :
Có người nại cớ rằng phép phiên thiết là dành cho chữ Hán, sao lại có thể áp dụng cho tiếng Việt được? Họ cố tình quên rằng chẳng có ai mang phép phiên thiết áp dụng cho chữ nôm, cho các từ Việt thuần túy; phép phiên thiết chỉ có hiệu lực đối với các từ Hán-Việt vì lẽ giản dị các từ nôm na, các từ thuần Việt không thể nào được các tự điển, từ điển đơn ngữ chữ Hán ghi nhận. Không ai tìm cách phiên thiết hai chữ trùm chăn chẳng hạn vì các tài liệu tham khảo chữ Hán không ghi từ trùm cũng như từ chăn. Có người lại hồn nhiên bảo tôi nói sao thì tôi viết vậy, tôi nói “xử dụng“ thì tôi viết “xử dụng“. Họ quên rằng khi họ phát âm “xử dụng“ là họ đã phát âm sai! Có người Việt Nam gốc Hànội đọc là riệu nên phát âm không đúng nhưng đương sự ý thức được là mình sai và tự giác viết thành rượu. Trên internet, cách đây vài ba năm còn xảy ra chuyện rất khôi hài liên quan đến một nhà ngôn ngữ học tài tử. Anh ta thuộc thế hệ thứ hai trong cộng đồng người Việt tỵ nạn ở Hoa Kỳ và phụ trách dạy tiếng Việt cho một lớp Việt ngữ ở bậc đại học. Anh ta không biết viết “sử dụng“ là đúng hay viết “xử dụng“ mới đúng. Một số người không chuyên nghiệp về ngôn ngữ học hăng hái góp ý với anh bạn trẻ; người thì bảo “sử dụng“ là đúng, kẻ lại cho rằng “xử dụng“ mới đúng. Tôi chỉ bảo cho anh bạn này biết rằng “sử dụng“ mới đúng chính tả tiếng Việt. Tôi không đá động đến phép phiên thiết vì biết rằng anh bạn không đủ trình độ để hiểu tôi muốn nói gì. Sau một thời gian thu góp ý kiến, anh bạn bèn tổng kết; kết quả số người bảo “xử dụng“ là đúng nhiều hơn số người bảo “sử dụng“ mới đúng. Người thầy giáo dạy tiếng Việt bất đắc dĩ bèn quyết định dạy cho học trò viết “xử dụng“ theo như đa số quyết định! Tôi chỉ biết thở dài và tự dưng nhớ đến chuyện cán ngố dạy tiếng Pháp. Trong một buổi sinh hoạt tập thể, “nhân dân“ băn khoăn không biết tiếng Pháp gọi cái bàn là la table hay le table. Tranh luận mãi, cuối cùng cán ngố lấy biểu quyết và số người bảo cái bàn là le table đông hơn! Thế là cái bàn biến thành giống đực trong Pháp ngữ!
*
Tủ sách Tiếng Quê Hương còn trình bày suy tư về cách viết nhiều chữ Việt khác như dòng/giòng, dấu/giấu, dây/giây v.v.. Nhóm chủ trương còn bác bỏ từ “toàn trị“ của nữ tác giả Thụy Khuê. Nhóm nại lý do nhóm phải theo đuổi và tôn trọng “chủ hướng“ riêng, nhóm phải dựa vào những “chỉ tiêu“ riêng. (Chữ “chỉ tiêu“ dùng không đúng, lẽ ra phải là “tiêu chuẩn“. “Chỉ tiêu“ là một mức định ra để đạt tới, thường được biểu hiệu bằng con số).

Rất tiếc trong ngôn ngữ học, người chuyên môn nghiên cứu theo khoa này phải chấp nhận những qui tắc, những nguyên tắc khách quan, khoa học chứ không thể tùy tiện, tùy hứng đưa ra những “chủ hướng“, những “chỉ tiêu“ chủ quan, cá biệt.
Tủ sách Tiếng Quê Hương dường như còn có một khuyết điểm khác : nhóm không để ý đến cách viết từ sử dụng trong nhiều tài liệu tham khảo phổ thông và phổ biến – trong số các tài liệu này có tài liệu mang tính quan phương. Đó là các từ điển, tự điển, tự vị đơn ngữ Việt-Việt và song ngữ Hán-Việt, Pháp-Việt, Anh-Việt, Đức-Việt, Việt-Đức. Các tài liệu sau đây đều viết sử dụng, nghĩa là viết với chữ (“ét“) :

Đại Nam Quốc âm Tự vị, Huỳnh Tịnh Paulus Của, Imprimerie Rey, Curiol & Cie, 1896, Saigon, mục từ sử dụng.
Pháp-Việt Tự-điển, Đào Duy Anh, Nhà Xuất bản Trường Thi, 1957, Sàigòn, mục từ emploi.
Việt-ngữ Chánh-tả Tự vị, Lê Ngọc Trụ, Nhà Xuất bản Trường Thi, 1960, mục từ sử, số 2.
Anh-Việt Từ điển, Nguyễn Văn Khôn, Nhà sách Khai Trí, 1968, Sàigòn, mục từ employ.
Việt-Nam Tự-điển, Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ, Nhà sách Khai Trí, 1970, Sàigòn, mục từ sử-dụng.
Hán Việt Từ-điển, Nguyễn Văn Khôn, Nhà sách Khai Trí, 1960, Sàigòn, mục từ sử dụng.
Vietnamesisch-Deutsches Wörterbuch, Otto Karow, Otto Harrassowitz, 1972, Wiesbaden, mục từ sử dụng.
Từ điển tiếng Việt, Văn Tân chủ biên, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, 1977, Hànội, mục từ sử dụng.
Sổ tay từ Hán Việt, Phan Văn Các, Nhà Xuất bản Giáo dục, 1989, Hànội, mục từ sử dụng.
Từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Văn Đạm, Nhà Xuất bản Văn hoá Thông tin, 1993, Hànội, mục từ sứ dụng.
Từ điển Hán-Việt, Hầu Hàn Giang chủ biên, Thương vụ Ấn thư quán, 1994, Thượng Hải, mục từ sử dụng.
Từ điển Hán-Việt Hiện đại, Nguyễn Kim Thản chủ biên, Nhà Xuất bản Thế giới, 1994, TPHCM, mục từ shiyè và shiyòng.
Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, 1994, TPHCM, mục từ sử dụng.
Hán Việt Từ điển, Trần Trọng San, Bắc đẩu, 1997, Canada, mục từ sử.
Từ điển Đức-Việt, Nguyễn Văn Tuế, Nhà Xuất bản Văn hoá Thông tin, TPHCM, 2000, mục từ benutzen, Benutzer, Benutzung.
Chữ nho trong đời sống mới, Nguyễn Ngọc Phách, Tác giả xuất bản, 2004, Melbourne, mục từ sử dụng quyền tiên mãi.
Trong tủ sách cá nhân, tôi hiện có hai từ điển viết xử dụng, nghĩa là viết với chữ (“ích-xì“) :
Pháp-Việt Tân Từ điển, Thanh Nghị, Nhà Xuất bản Thời Thế, 1961, Sàigòn, mục từ emploi, employer.
Anh-Việt Từ điển, Nguyễn Văn Khôn, Nhà sách Khai Trí, 1968, Sàigòn, mục từ usage. Tuy nhiên ở hai mục từ employ và employable thì cũng cùng chính từ điển này lại viết sử dụng!

Tủ sách Tiếng Quê Hương đã phát hành sách của một số tác giả quen thuộc như Hoàng Hải Thủy, Cung Trầm Tưởng, Hồ Trường An. Tôi chưa được đọc thành quả trí tuệ nào do Tủ sách ấn loát và phát hành nhưng tôi tự hỏi chẳng rõ những tác giả khác cộng tác với Tủ sách Tiếng Quê Hương có ai phải chịu cảnh phải “thông cảm“ với Tủ sách Tiếng Quê Hương như trường hợp nữ sĩ Thụy Khuê không, khi Bà viết đúng chính tả tiếng Việt mà lại bị cho là sai một cách vô cùng oan ức!
04.12.2017