Search This Blog

Thursday, October 5, 2017

Hương Trầm

Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích



Thời kỳ Bắc thuộc, bọn quan lại Trung Hoa bắt dân ta xuống biển mò ngọc trai, lên rừng tìm trầm hương, ngà voi, sừng tê giác phải chịu trăm điều gian nguy, khổ ải.  Có kẻ ra đi bỏ xác trên rừng. Người được trở về thì mang bệnh tật suốt đời.

            Thời đại ngày nay, sau ngày 30 tháng 4, 1975, cuộc sống của dân ta mỗi ngày mỗi thêm kham khổ. Dân quê phải cào bới trên đồi hoang trồng sắn trồng khoai để có cái ăn. Người ta bắt đầu đào xới dưới đất để tìm vàng. Dọc bờ suối, trên sườn đồi, trong rừng sâu, nơi nào nghi ngờ có quặng vàng là người người bu vào xới tung lên. Có kẻ sập hầm bị chôn sống. Không ít người chết vì bệnh sốt rét vàng da, chết vì sơn lam chướng khí,...  Chưa kể cảnh đâm chém, giành giựt, thanh toán nhau vì vàng. Trong cảnh khốn cùng ấy, nghề tìm trầm hương nổi lên cùng lúc. Nhưng là một nghề đầy hiểm nguy trực diện với thú dữ, nước độc, bệnh tật và muôn vàn cái chết chực chờ.
          
Phong trào trầm dấy lên từ các vùng nông thôn lan nhanh đến thành thị. Người nghèo mạt hạng bỗng chốc có tí “nổ” chạy nghênh ngang ngoài đường, vàng đeo trên tay lấp lánh. Lại có cả nhà xây vách gạch, mái ngói giữa đám nhà lá vách trét đất bùn rệâu rã. Cũng có lắm kẻ vai u thịt bắp trúng trầm bỏ cô vợ chân lấm tay bùn nơi ruộng đồng lấy người con gái nơi thành thị môi son má phấn  mà quá khứ đen như đêm ba mươi. Từ hang cùng ngõ hẻm đến quán cóc bên đường làng, đâu đâu cũng nghe bàn tán về trầm.

Ông Hà Lương nguyên là thợ rừng giàu kinh nghiệm, nhiều năm miệt mài trên vùng rừng núi Kontum, Ðắc Lắc nôn nao trước làn sóng người đổ xô tìm trầm. Cố ngơ đi mà không được ông bèn bỏ nghề khai thác gỗ chuyển qua tìm trầm. Ông đứng ra làm chủ bầu thành lập toán đi điệu.   
       
Phan Huy Ðông hai lần thi đậu đại học nhưng vẫn không được “cắt hộ khẩu” để di chuyển vào thành phố nhập học với lý do cha ruột thuộc diện “Tập trung cải tạo”. Buồn chí, Ðông theo  bầu điệu đi tìm trầm.
Inline images 2


Những chuyên viên tìm trầm có hạng đa phần là người Phú Khánh. Vì vậy ông Lương và Ðông phải đích thân vào Phú Yên tìm người nhiều kinh nghiệm. Có sẵn danh sách trong tay nên việc tìm người có khả năng chẳng khó khăn gì.    

Người đầu tiên là Trần Văn Thí sinh trưởng ở Tuy Phước sống tại thị xã Tuy Hòa. đã hành nghề đi điệu gần mười năm. Hắn chỉ nhìn da cây dó là biết có trầm nhiều hay ít trong ruột. Bạn bè ví von: “Tề Thiên Ðại Thánh có thiên lý nhãn, Trần Văn Thí có tia nhìn xuyên  mộc”. Trong buổi tiệc họp mặt tại nhà ông Lương, Thí đã tỏ ra là người sành sõi về nghề tìm trầm, hắn giải thích:
- Trầm hương chỉ được cấu tạo trong cây dó bầu. Loại dó nầy có lá to, dày, thịt cây màu trắng. Cây nào trầm ăn nhiều thì thịt cây trở thành màu vàng. Cây dó nào suôn đuột ít nhánh ít cành, thân cây cằn cỗi là chắc mẩm có trầm ăn bên trong ruột.
- Tại sao vậy?
Ông Lương vừa châm rượu vào ly cho Thí vừa hỏi.

Hít hết hơi thuốc cuối cùng, vứt tàn thuốc qua cửa, Thí giải thích:
- Khi tinh dầu trầm đã thành hình nhiều trong ruột, cây sẽ không lớn nổi vì sức nóng của nó. Những cây dó nầy lâu năm sẽ bị chết khô. Có khi ngả xuống đất rồi bị lá cây rụng chất chồng lên. Lớp thịt bọc ngoài cây dó mục dần chỉ còn trơ lại cái lõi trầm.

Thí vừa nói, vừa rút một điếu thuốc Ðiện Biên, xóc xóc hai đầu:
- “Có một huyền thoại về cây dó bầu trên sáu trăm năm, toàn bộ phần ruột cây dó biến thành kỳ nam nhưng chưa ai tìm thấy. Nhiều người sành nghề trầm, có cơ may bắt gặp mùi hương của nó nên đoán được loại kỳ nam. Ðúng giờ  Ngọ ngày mùng một và ngày rằm hàng tháng là nó phát tiết. Hương trầm tỏa thơm nồng cả cánh rừng. Người nào đi vào phạm vi tỏa hương của nó cũng ngẩn ngơ, đầu óc mê muội đi, không biết ngày đêm, không biết mình là ai. Ðến lúc mùi hương ma quái đó biến mất họ mới sực tỉnh và tiếc nuối. Người mới gặp mùi hương nầy sống trong nỗi hoài nhớ mãnh liệt, ba tháng mười ngày sau thì chết. Ðúng Ngọ thi thể họ tỏa ra mùi trầm thơm ngát.

Ðông ngắt lời xen vào:
- Vì vậy mà các nhà nghiên cứu về trầm hương đã đặt tên là “Gỗ của các vị thần”. Theo anh biết thì đã có điệu nào trúng được kỳ nam chưa? 
- Có chứ, đó là trầm thượng đẳng. Gặp nó cũng là cơ duyên “lộc trời cho” của kẻ tìm trầm. Thí ngừng một chặp, gắp một miếng dồi thịt cầy bỏ vào miệng:
- Anh Tư Lương nấu món cầy ngon thật. Quê Tuy Hòa tôi ít khi được ăn món đặc biệt nầy. Thí nâng ly rượu nếp than mời anh em trong nhóm cùng chúc mừng buổi gặp gỡ. Hắn ngửa cổ tu một hơi rồi đặt ly xuống bàn:
- Còn một số loại cây dó khác nữa như dó me, dó niệt... nhưng ít khi có trầm ăn trong ruột, hạ nó xuống thêm phí sức mà chẳng được gì.

Phận đưa cặp mắt thán phục nhìn Thí rồi lên tiếng:
- Trầm được chia làm mấy loại, thưa anh?

- Trầm hương chia làm nhiều loại tuy không có tiêu chuẩn nào rõ rệt, nhưng cặp mắt chuyên môn của người đi trầm tựa như người chuyên nấu rượu ngày xưa chỉ cần chấm một giọt vào lưỡi là biết nồi rượu đã đủ độ chưa. Ngoài ra còn tùy thuộc vào bọn “tàu kê”â. Bọn chuyên viên nầy phân loại trầm độc địa lắm. Chúng nó thông đồng với các công ty dược hoặc các địa điểm thu mua đánh rớt hạng loại hàng của mình, ép giá để ăn chia. Chúng nó có kể gì đến mồ hôi, xương máu của kẻ tìm trầm. Ðại loại trầm chia làm sáu hạng:

- Sau kỳ nam là trầm búp còn gọi là dách. Loại trầm nầy khi vừa đẽo phần gỗ bên ngoài là xuất hiện trầm màu nâu sậm. Gặp loại nầy, có điệu cho là kỳ nam. Nhưng thực ra làm sao sánh được với độ đen của tinh dầu đậm đặc óng ánh của kỳ nam. Trầm kỳ nam gỗ nặng và nhuyễn có đủ vị cay, chua, đắng, ngọt, thơm. Khi cháy, ngọn khói màu xanh, lên thẳng và cao, bay lờ lững rất lâu. Bầu điệụ nào mà gặp được Dách cũng coi như trúng độïc đắc rồi.

- Loại 1 và 2, trầm được tỉa lấy ra từ thân cây đủ loại hình dáng khác nhau nhưng phải có  màu nâu đen, miếng trầm có độ dày, phát mùi thơm nhẹ và có vị cay lẫn đắng.  

- Loại 3 giống tiêu chuẩn loại 1và 2 nhưng miếng trầm mỏng và nhỏ hơn, nom không được đẹp mắt.
                      
- Loại 4 và 5 là trầm bình thường có chen nhiều màu vàng của gỗ dó.

-    Loại trầm bể vụn được cho vào loại “xô”.
                                                                     
Các tay điệu còn phân biệt trầm ăn ở nơi nào trên thân cây để đặt tên. Chẳng hạn, trầm ăn theo mắt cây gẫy gọi là “Mắt đẫu”, ăn theo miệng lỗ kiến đục thì gọi là “Kiến”, ăn trong thân gần cháng hai, cháng ba cây giống hình con bướm thì gọi là “Ðiệp”.

                                                  *  *  *

Sau buổi họp mặt, ông bầu Lương phân công cho từng người phụ trách. Mỗi người phải lo sắm sửa đầy đủ vật dụng. Cơ bản là phải có chiếc ba-lô của bộ đội hay của lính Miền Nam càng tốt. Mang theo 15 ngày Mễ (gạo), Diêm (lương khô), thuốc hút, thuốc chống muỗi, chống vắt, một cái đèn pin, áo mưa và dụng cụ khai thác trầm như rựa, búa, rìu, bộ đục vũm để tỉa trầm... Riêng phần Ðông thì mang theo xoong nồi và chén đũa.
                                                                           
Rừng Khánh Hòa thì nổi tiếng về trầm từ xưa. Nhưng rừng Ba Tơ thuộc tỉnh Quảng Ngãi là tụ điểm mới nhất của “trận chiến khai thác trầm” thời bây giờ. Chính quyền địa phương chỉ cấp giấy phép khai thác trầm cho người chủ bầu có hộ khẩu ở huyện Ba Tơ nhưng được quyền mướn điệu chuyên nghiệp ở các nơi khác tháp tùng.

Thời gian đi về giới hạn mười lăm ngày. Trầm khai thác được bắt buộc bán cho công ty dược của nhà nước với giá chỉ bằng nửa giá thị trường. Những toán điệu người kinh từ các nơi đổ xô về đây đều bị chận lại. Tuy nhiên, họ cũng còn nhiều hướng khác để đi chui, chỉ xa đường hơn và phải trốn tránh lực lượng kiểm lâm và đoàn quân truy bắt người khai thác trầm lậu. 

Trước ngày “ra quân” nhóm bốn người gồm có Lương, Thí, Ðông và Phận giữ lòng thanh sạch, làm lễ ăn thề. Họ  thay nhau uống hết ly “ Bạch kê huyết” (máu con gà trắng) hòa với rượu cắt ngay trên bàn thờ khói hương nghi ngút. Vị chủ lễ là một pháp sư người Ra-Ðê lần lượt rảy rượu lên đầu bốn thành viên sau khi đọc lời thề: “ Nếu có lòng dạ tráo trở, xin Thần Núi tru diệt”. Sau giờ phút đó họ trở thành anh em kết nghĩa, sống chết có nhau, gặp may cùng hưởng, gặp nạn cùng chia.

 Ngày khởi hành nhằm tiết Nguyên tiêu, trời trong, gió mát. Toán điệu  theo hướng khu rừng Bồ Nâm thuộc huyện Komplong tỉnh Kontum. Nơi đây rừng núi trùng điệp, nổi tiếng là chốn thâm sơn cùng cốc, nằm giữa biên giới hai tỉnh Quảng Ngãi – Kontum.

             Ðường đi càng lúc càng khó khăn, phải cắt rừng vượt thác, trèo lên những con dốc đứng đến nỗi mũi chạm đất, người đi sau hôn gót chân người đi trước. Quả là nơi “sơn cùng thủy tậïn”. Ði suốt ba ngày mới xuất hiện rải rác những cây dó bầu trong khu vực nầy. Ban đêm ngủ trong đon (căn lều) đóng tạm bằng cây rừng che bằng những tấm áo mưa. Ðông và Phận thay nhau giữ vai “anh nuôi”. Họ tìm rau tàu bay, măng le cung cấp thêm cho bữa ăn. Ngoài ra còn phụ giúp ông Lương và Thí hạ cây dó, cưa từng đoạn, bửa ra làm đôi, xẻ từng mảnh  để tỉa phần trầm ăn trong thân cây.
                   
Qua hai ngày “đóng quân” ở khu vực nầy, việc tìm trầm chưa có kết quả gì. Vào trưa ngày thứ ba, bỗng, tiếng súng, tiếng mìn nổ vang rền cùng những đám khói bốc lên ngùn ngụt từ phía xã Hiếu. Sau nầy mới hay toán điệu và dân thượng Sơn Hà đốt nhà để trả thù trai làng của họ bị toán võ trang dân tộc làng Ngọc Têm bên Kontum giết. Sự việc xảy ra vào hai tháng trước đây, như sau:

Toán điệu ở Sơn Hà đến khai thác trầm vùng giáp ranh huyện Ba Tơ thuộc tỉnh Quảng Ngãi và Komplong thuộc tỉnh Kon Tum. Một toán võ trang địa phương Bồ Nâm (Kontum) đột nhập bất thần vào lều bắn chết anh điệu đang vo gạo thổi cơm chiều trên bờ suối. Họ cướp hết vật dụng, lương thực và số trầm đã khai thác được trong mấy ngày qua. Toán điệu đi tìm trầm trở về “đon” thấy bạn mình đầu bị đạn bắn vỡ ra, não sọ văng tung tóe gục chết trên soong gạo. Máu tuôn đầy, biến nồi gạo thành nồi máu. Họ chỉ biết ôm xác bạn mà khóc rồi mang nạn nhân về cho gia đình chôn cất. Hai tháng sau, thân nhân của người chết cùng dân bản làng và các toán điệu hợp lại  tràn qua biên giới vào làng Ngọc Têm đốt phá tiêu hủy hầu hết ngôi làng.

Trước tình hình rối loạn nầy, dân làng bên kia có thể  tràn qua ranh giới  giết địêu để trả thù. Ông Lương quyết định rời khỏi khu vực hiện tại tiến về hướng khu rừng Ba Xa. Lại phải mất hai ngày sau mới đến nơi. Phần mễ chỉ còn lại tám ngày ăn mà trong ba lô chưa có một miếng trầm nào đắùc giá. Vừa đến nơi dự định, Phận phát giác được hang đá, tuy không rộng lắm nhưng đủ chứa được bốn người ngủ tạm hàng đêm. Ông Lương và Thí bủa đi tìm cây dó, còn Ðông quét dọn hang đá, sắp xếp vật dụng đâu vào đấy. Phận xuống suối lấy nước nấu cơm cho buổi chiều.

Suốt hai ngày vất vả hạ cây dó đồ sộ có dấu hiệu có trầm ăn bên trong. Cả ba người vừa cưa vừa chẻ, còn Thí với tay nghề tỉa trầm thành thạo cũng lấy được một ít trầm thuộc loại 3 “mắt đẩu”, “kiến” và “điệp” còn lại là trầm “xô”. Chừng đó trầm, bọn tàu kê có mua cao tay khoảng vài cây vàng thì làm sao đủ vốn sắm sửa lo cho chuyến đi tới, mọi người buồn não nuột.

Ngày hôm sau, ba người lại bủa đi tìm cây dó, Ðông ở lại trại lo nấu ăn cho buổi chiều. Hắn đi dọc theo bờ suối, tìm rau tàu bay và định bắt ít ốc đá đem về nấu canh. Chợt, Ðông trông thấy bên kia bờ suối nửa con heo rừng còn tươi rói. Hai đùi sau, và phần ruột gan bên trong đều bị moi lấy mất. Ðông mừng quýnh vác heo về hang đá cắt lấy hai đùi trước làm món xào cho anh em thưởng thức, còn lại cái đầu và phần bả vai dành cho bữa ăn hôm sau. Dù không có chút gia vị nào mà hương thịt rừng thơm ngào ngạt. Nồi thịt vừa chín tới thì ba người kia về đến hang. Phận trố mắt nhìn xoong thịt vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ. Ông Lương và Thí nhìn cái đầu heo rừng treo lủng lẳng trên cành cây trước hang đá, Thí vội hỏi:
-    Thịt ở đâu vậy?

Ðông hớn  hở trả lời:
- Của ai bỏ bên kia bờ suối nửa con heo rừng.

Thí buột miệng:
-  Trời ơi, cậu cướp mồi của Ngài, làm sao tránh khỏi báo thù!
Khuôn mặt Thí tái xanh như gà bị cắt tiết. Anh yêu cầu đem trả lại chỗ cũ cái đầu heo rừng và xoong thịt đã chín. Phận giúp Ðông mang cả hai món thịt đổ đúng nơi máu heo rừng còn đọng vũng. Khi quay về họ ngạc nhiên thấy ông Lương và Thí hạ cây rừng chung quanh chất ngoài miệng hang đá thành một vòng cung như chuẩn bị cho đêm lửa trại. 

Khi cơm nước xong, trời bắt đầu chập choạng tối, ông Lương cho mồi lửa vào đống cây. Thí giải thích:
- “Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”. Ðó là câu nói từ ngàn xưa để lại. Bọn mình phải đánh đổi mạng sống để cứu vớt cảnh đói nghèo cho gia đình. Tôi biết chắùc chắn nửa con heo rừng ấy là mồi thừa của cọp. Thế nào ổng cũng trở lại tìm mồi. Khi phát giác mồi bị mất là ngài biết khu vực hoạt động của ngài đang có đối thủ tranh giành. Ðêm nay mình thay phiên nhau canh thức. Nếu phát giác ngài đến phải báo động hết cả tổ thức dậy khua động và hò hét để ngài bỏ đi. Qua được đêm nay, ngày mai mình phải di chuyển đến khu vực khác may ra thoát khỏi sự báo thù.

Ðông cảm thấy mình có lỗi đã gây ra sự phiền lụy cho người khác nên tình nguyện thức suốt đêm canh chừng để anh em ngủ lấy lại sức. Nhưng ông Lương bảo:
- Cậu là người đi rừng đầu tiên, không biết những điều cấm kỵ. Chúng ta đã coi là anh  em kết nghĩa sống chết có nhau, gặp nạn cùng chia, gặp may cùng hưởng. Vì vậy, sau phiên cậu đến Phận thức canh rồi kêu  tôi dậy và sau cùng là anh Thí.

Ngọn lửa bùng cháy hừng hực vây kín miệng hang đá. Ðông ngồi ngoài miệng hang, tay thủ sẵn cây rựa. Hắn nghĩ đến phản ứng của Thí khi nhìn thấy đầu heo rừng lúc ban chiều có vẽ quá đáng đã khiến cho Ðông bất bình. Nhưng khi nhìn thấy mặt anh méo xệch, da tái xanh vì hoảng sợ thì Ðông chợt nhận thức được một tai họa có thực đang chực chờ. Nhìn qua ngọn lửa, bóng tối rừng sâu vây quanh đen nghịt, cây cối phủ kín cả bầu trời, Ðông mới thấy con người thật nhỏ nhoi trong cảnh u u minh minh trùng điệp của thiên nhiên. Chàng bây giờ có khác gì con sâu, cái kiến bên bờ vực thẳm của sự bất trắc. Vì cuộc sốùng quá cơ hàn mà con người sẵn sàng đương đầu với thú dữ, bệnh tật để giải thoát cảnh tăm tối, lầm than, đớn hèn.

Tiếng chim cú não nùng chợt vang lên từ vòm cây trên đầu rồi vỗ cánh bay, khiến ý nghĩ miên man của Ðông ngưng laị. Chàng phóng tầm nhìn qua bức tường lửa, bỗng hai đốm sáng như hai chiếc đèn pin màu xanh pha đỏ từ ngoài rọi vào hang đá. Thoạt nhìn, giống như mắt của loài chó trong bóng đêm nhìn vào chiếc đèn xe. Hai đốm sáng đứng yên một chỗ khiến chàng đâm nghi, lạnh cả xương sống bèn vỗ nhẹ ông Lương dậy. Ðông chỉ hai đốm sáng trong lùm cây bên kia tường lửa cho ông xem. Ông Lương giật mình bảo thầm: “ngài đến rồi” bèn gọi mọi người thức dậy vừa khua động xoong nồi vừa la ó. Một hồi lâu sau đốm sáng vụt biến mất. Từ lúc đó, cả bốn người cầm rựa ở thế thủ ngồi chờ sẵn sàng chống trả một khi hổ vượt tường lửa tấn công vào hang đá.

Chờ cho ánh sáng ban mai xuyên thủng rừng già, ba người mới xuống suối bảo vệ cho Ðông lấy nước về nấâu cơm. Ăn uống xong, tổ điệu cắt rừng đi qua ngả khác. Dù cao tuổi nhất trong bọn nhưng ông Lương rất tháo vát và tỏ ra thành thạo trong việc tìm hướng đi. Không ai biết quá khứ của ông, riêng Ðông thì rõ lắm nhưng giữ kín trong lòng: “Một thời mạo hiểm nơi núi thẳm rừng sâu của lực lượng Biệt kích”.

 Ðường đi vô cùng hiểm hóc lên dốc xuống đèo. Ði được nửa ngày đường, chẳng may Ðông trượt chân rơi xuống một cái hố sâu đầy dây leo chằng chịt. Mọi người nhanh chân trèo xuống hố phát quang bụi rậm cứu Ðông. Bất ngờ, Thí phát giác cây dó cụt ngọn nằm trong đám dây leo dày đặc như tấm lưới phủ lên trên. Không chần chờ phút giây nào, cả bốn người xông vào, kẻ chặt người kéo đám dây leo lẫn gai mây. Thí vào được bên trong lùm gai, đẽo gọt một lúc khá lâu khiến cho ba người đứng bên ngoài hồi hộp đợi chờ. Chợt, từ trong buiï rậm tiếng Thí vang lên ngắt quảng, tắc nghẹn trong cổ họng:
-  Trầm... dách...bà... con ơi!

Mọi người như nín thở, ôm chầm lấy nhau nghẹn ngào. Nỗi vui mừng không ngăn được dòng lệ. Nhìn vào bên trong, Thí cũng đang ôm cây trầm mà khóc. Hương trầm như thần dược vực lại sức mạnh cho mọi người trong những ngày khổ cực vừa qua.

Sáng ngày hôm sau toán điệu quyết định trổ (quay về) với hai ba lô trầm loại dách. Số trầm nầy dấu kín, chỉ bán các loại thường cho công ty dược. Mỗi người chia nhau đồng đều được bốn cây vàng. Ông Lương từ chối nhận  lại tiền chi phí mua sắm ban đầu.

Suốt mười bốn ngày lên núi tìm trầm, mẹ Ðông ở nhà mất ăn mất ngủ. Ngày Ðông trở về bà  rưng rưng nước mắt than thở: 
- Ba Me chỉ có mình con. Lặn lội trong chốn rừng thiêng núi thẳm có ngày bỏ mạng. Ăn của rừng trả lại cho rừng. Con dùng số vàng mồ hôi nước mắt đó lo đút lót cho bọn quan lại nhà nó từ địa phương cho đến huyện tỉnh bằng mọi cách để được chuyển hộ khẩu vào đại học.
                                                       
* * *

Toán điệu của ông Lương giờ chỉ còn có ba người. Thí giới thiệu một người ở cùng quê để thế chân Ðông nhưng ông Lương nhất định giữ nguyên ba người, ông giải thích:
- Anh em mình đã ăn thề kết nghĩa, mừng cho Ðông nay đã vào được đại học.  Chúng ta có ba người thì làm việc theo kiểu ba người. Dù không được toại nguyện nhưng Thí chẳng có phản ứng gì.

Họ lên đường vào ngày đầu mùa Hạ mà trời lại âm u, không khí ngột ngạt, oi bức. Lần nầy họ tiến thẳng đến khu rừng Ba xa, cách địa điểm trúng trầm đợt trước khoảng một ngày đường. Người ta đồn đãi khu rừng nầy có con hổ ba chân dữ dằn lắm. Trước kia nó thường hay xuống làng Thượng bắt heo của người sắc tộc. Một hôm bị mắc bẫy, hổ tự cắn đứt chân của nó để thoát thân. Ông Lương chần chừ nhưng Thí đốc thúc phải đến đó mới hy vọng có cơ hội được trầm. Những toán điệu  khác vì sợ hổ không dám vào.

Quả vậy, khu rừng nầy có rất nhiều cây dó đại thụ, cao bốn năm chục mét. Chứng tỏ chưa có chân điệu nào vào đây. Mất mấy ngày xẻ thịt cây dó già nhất mà trầm chỉ ăn trên các cành cây gãy còn trong giữa thân cây chỉ mới xuất hiện những chuôi trầm mỏng như những mảnh vải đen. Ông Lương đề nghị chuyển qua vùng khác nhưng Thí thấy tiếc rẻ khu vực nầy. Giác quan nhạy bén của người tìm trầm lâu năm cho anh cảm nhận được sự hiện hữu của trầm quanh quẩn đâu đây. Có điều gì đó cứ vấn vít bên anh. Một mùi hương rất lạ thỉnh thoảng thoáng qua mà anh bắt gặp chẳng những bằng khứu giác mà cả linh cảm. Một mùi hương quyến rủ lúc hiện ra, lúc biến mất như một linh hồn mà suốt mười năm tìm trầm anh chưa hề nhận biết. Nó không nồng nặc mà chỉ thoáng qua, thanh thoát, ngây ngất. Ông Lương và Phận không cảm nhận được điều Thí mô tả mà chỉ nghe mùi cây dó tươi vừa mới bửa ra. Suốt cả ngày hôm đó Thí cứ thẫn thờ như người mất của quý.    

Sáng hôm sau, anh ra phía sau bụi rậm làm cái “công việc vệ sinh” hàng ngày. Trước mặt anh là một lùm dây mây rậm rạp, nhìn sâu vào trong anh thấy một đoạn cây mục ló đầu ra. Dùng chân khợi khợi cho phần gỗ mục rớt ra, anh giật mình kêu lên: -“Trầm”!

 Ông Lương và Thí đang ở trong lều nghe tiếng “Trầm” liền tốc áo mưa chạy ra. Họ cấp tốc phát quang bụi dây mây sợi to bằng cổ tay bao phủ cả một vùng. Mấy giờ liền, ba người làm việc cật lực mới khai phá được một lối vào. Phủ lên thân cây mục là một ụ mối như nấm mộ. Họ cào sạch phần trên ụ mối, chợt mọi người giật mình thất kinh. Hiện ra trước mặt họ là bộ xương người. Hai xương cánh tay ôm lấy gộc trầm. Gỡ gộc trầm ra khỏi cánh xương tay, Thí dựng đứng nó lên lấy rựa vạc sạch lớp mối ăn bên ngoài. Bỗng, Thí thảng thốt kêu lên: “Kỳ nam”. Ông Lương có vẻ đăm chiêu, còn Phận thì không kìm được đôi chân đang run rẩy từ nãy đến giờ.

 Họ đào hố chôn bộ xương. Ðiều kỳ lạ là bộ xương người chết tỏa ra hương trầm thơm ngát. Ông Lương lấy một mảnh vỡ kỳ nam đặt vào mộ. Trước khi rời khu vực họ đốt trầm xông trên ngôi mộ  rồi cắt rừng trở về. Chuyến đi trúng được mẻ lớn nhưng ba người đều có ba ý nghĩ khác nhau. Phần Thí suy tính công của mình mà phải chia đều thì uất thật. Ông Lương cho rằng mình hưởng tài sản trên xác của người chết chẳng vui sướng gì. Còn Phận thì bộ xương người cứ ám ảnh nên trông cho mau đến nhà. 

Trên đường về, trong lòng Thí cứ phân vân. Nửa muốn đòi chia cho mình một phần hai số trầm kỳ nam, nhưng sợ hai người kia phản đối,  nửa muốn lén tách đi đường khác để giữ phần mình một ba lô đầy. Sau nầy có tranh chấp thì chẳng làm được gì mình. Ðường đi qua một cái đèo cây cối um tùm, Thí bắt đầu đi chậm lại tìm lối rẽ theo ý định sau cùng. Ông Lương nhắc nhở hai người đi sau cẩn thận, phải đi sát vào nhau. Câu nói vừa dứt bỗng, một tiếng ào phát ra rồi một bóng dài lướt qua. Con cọp ba chân đang ngậm cổ kéo xác một người về hướng chân đèo. Ông quay đầu nhìn ra sau, Phận như người chết đứng, gương mặt không còn một giọt máu. Một quảng cách khá xa phía sau là chiếâc ba lô trầm của Thí rớt lại trên lối đi. Ông Lương đứng nhìn theo hướng con hổ lòng đau như cắt. Lần đầu tiên Phận thấy người đàn ông cứng cỏi và dày dạn nầy đã để rơi những giọt nước mắt.

Số trầm mang về bán được ba mươi sáu cây vàng. Vì là công của Thí nên  ông Lương quyết định chia cho Phụng, vợ Trần Văn Thí một nửa là mười tám cây làm vốn, lấy thêm hai cây bỏ vào ngân hàng cho đứa con gái ba tuổi của Thí. Số còn lại là mười sáu cây, ông Lương và Phận chia đều. Phận rất thán phục sự ngay thẳng, công minh và tấm lòng nhân hậu của ông Lương. Hai người cùng vào tậân Tuy Hòa để thông báo tin buồn cho vợ Thí. Nàng đã vật vã khóc than đau đớn tận cùng. Với số vàng mười tám cây đó  ông Lương hứa sẽ giúp nàng xây dựng một tiệm buôn bán tạp hóa để nuôi con.

                                                             * * *
Thời gian thấm thoát trôi qua, Ðông miệt mài trên ghế đại học suốt bốn năm. Sau khi làm lễ tốt nghiệp mãn khóa, Ðông đón xe về quê thăm gia đình. Chiếc xe liên tỉnh đến bến Tuy Hòa bị hỏng máy. Hành khách phải đợi chờ khá lâu để thay hộp số xe bị bể. Nhân dịp nầy Ðông tìm đến nhà Thí. Căn nhà mà ngày trước chàng và ông Lương đã tìm đến đây mời Thí tham gia vào tổ tìm trầm nay đã là một cửa hiệu bán tạp hóa khá khang trang. Ðông qua lại, nhìn vào nhà vài ba lượt, rồi bỏ đi. Chợt có tiếng gọi “Ðông”, chàng quay lại, thấy một người đàn ông trên tay bồng một đứa bé đứng sau quày hàng.

-  Chú Lương! chú vào đây bao giờ? Ðông mừng rỡ kêu lên.

Ông Lương đưa bàn tay chắc nịch bắt tay Ðông rồi mời chàng ngồi xuống chiếc ghế đẩu. Ông vừa ru đứa bé vác trên vai vừa nhìn chàng trả lời:
-  Tôi vào ở luôn trong nầy đã hơn một năm nay.
-  Thế anh Thí đâu?
-  Thí đã mất cách đây bốn năm, bị cọp vồ trong chuyến đi trầm ba người, sau khi cậu vào đại học. Rồi ông Lương kể tóm lược chuyến đi trầm cuối cùng như đã ghi lại ở phần trên. Bỗng thằng bé cựa mình thức giấc, ông vỗ vỗ vào lưng nó ru: “ Mây mưa mấy giọt chung tình. Ðỉnh trầm hương khóa một cành mẫu đơn.”
                
Hai câu thơ trong Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều, ông Lương vừa ru nghe thật xót xa và cũng đầy ý nghĩa.

Thằng bé nằm yên trên vai, ông Lương ngỏ lời: 
 - Hôm nay là ngày kỵ của Thí, vợ chồng tôi mời cậu ở lại dùng cơm để có dịp chú cháu mình tâm sự. Cậu độ nầy trông chững chạc và rắn rỏi lắm.

Chị Phụng từ nhà trong bước ra thấy Ðông, đứng khựng lại. Ông Lương liền giới thiệu:
- Ðây là Ðông, cậu ấy đi trầm chuyến đầu tiên với ba con Thúy, nhưng sau đó cậu được vào đại học ở Sài Gòn. Trên đường về quê cậu ghé thăm em. Phụng cúi đầu chào rồi rót nước mời Ðông.

- Nhân tiện xin phép chị cho em thắp cúng anh Thí nén hương, Ðông ngỏ lời.

Phụng vồn vã đưa Ðông lên căn gác lỡ. Bàn thờ của anh Thí đặt giữa phòng vừa đường bệ vừa trang nghiêm. Khói trầm màu xám xanh mong manh như sợi tơ quyện lấy tấm ảnh bán thân của anh Thí đặt sau bộ tam sự. Hương trầm xông lên thơm ngát, một mùi thơm thanh khiết, dịu nhẹ khiến cho con người lâng lâng rơi vào trạng thái thâm nghiêm, trầm mặc. Bên di ảnh của anh Thí là tượng con hổ ba chân được khắc rất nghệ thuật bằng lõi trầm kỳ nam.

Chị phụng cầm ba cây nhang từ tay Ðông cắm vào bình, Chị nói:
- Tượng con hổ đó là do anh Lương mướn thợ điêu khắùc tận Sài Gòn bằng chính gộc trầm do anh Thí tìm thấy để chị nhớ mãi ngày anh Thí bị nó vồ. Sau khi anh Thí mất, nếu không nhờ sự giúp đỡ của anh Lương, không biết đời chị và cháu Thúy sẽ trôi nổi ra sao. Trên đời nầy rất khó kiếm được người như anh Lương, tháo vát trong cuộc sống lại hiền hòa và bao dung. Chị thương anh ấy, dù tuổi đời có chênh lệch đôi chút. Anh sống như người tu hành từ sau ngày Bảy lăm. Chị nghĩ có lẽ hồn thiêng của anh Thí đã khiến chị lấy anh Lương để ngày nay có được mụn con trai mà thuở sinh tiền cha mẹ chị ước ao.

Sợ chiếc xe khách bỏ lại, Ðông vội vàng từ biệt ra bến xe mặc dù vợ chồng ông Lương cố nài chàng ở lại. Ngồi trên xe, chợt lòng Ðông bùi ngùi nhớ lại lời anh Thí như còn văng vẳng bên tai: “Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”.

Xe chạy bon bon trên quốc lộ Một. Tiếng máy xe nổ đều đều đưa Ðông vào cơn mê thiếp. Chàng mơ thấy anh Thí gương mặt tái xanh đăm đăm nhìn Ðông rồi thốt lên:                                       
“ Trời ơi, cậu cướp mồi của Ngài, làm sao tránh khỏi báo thù!”  

 Bất chợt hương trầm kỳ nam tỏa thơm nồng. Mùi hương ma quái phủ ngập cả giấc mơ khiến Ðông choàng tỉnh. Lồng ngực chàng nghe nặng trĩu và hương trầm còn thoang thoảng đâu đây /.


Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích


   ( 1 ) Theo tác giả  Hoa Ngõ Hạnh TNVN
Tưởng Giới Thạch 3 lần kiên quyết từ chối dùng bom nguyên tử tấn công vào Trung Quốc


Thời báo New York cho rằng, trong con mắt của những nhân sĩ thế giới, Tổng thống Tưởng Giới Thạch với vóc dáng hao gầy, chỉnh tề mà rắn rỏi chính là thể hiện cho sự cương nghị và quyết tâm. Sự khổ hạnh, tiết kiệm và đạo đức của ông dường như rất phù hợp với phong thái của người đứng đầu một đất nước “lắm tai nhiều nạn” như Trung Quốc.

“Nhật ký Tưởng Giới Thạch” tiết lộ nhiều tư liệu lịch sử mới mẻ, đầy bất ngờ

Năm 2005, gia đình Tưởng Giới Thạch quyết định công bố cuốn nhật ký của ông, đồng thời gửi bản gốc đến lưu trữ tại Viện Hoover (California, Mỹ). Trong cuốn nhật ký này, Tưởng Giới Thạch đã ghi chép tường tận hầu hết sự kiện lớn trong đời mình. Và ông đã viết nó liên tục trong suốt 55 năm (1917 – 1973).

Nội dung cuốn nhật ký cho người ta một cái nhìn hoàn toàn khác về Tưởng Giới Thạch, thu hút sự quan tâm rất lớn của giới nghiên cứu. Các học giả nhất loạt kêu gọi phải đánh giá xứng đáng công lao kháng Nhật, giải cứu Trung Quốc của Tưởng Giới Thạch, đính chính lại những thông tin sai lệch, xuyên tạc vốn được tuyên truyền, rao giảng trước đây.

Cho đến khi bản gốc của cuốn nhật ký được Viện Hoover công bố tại Mỹ, giới học thuật mới bắt đầu thay đổi ấn tượng đã ăn sâu về Tưởng Giới Thạch lâu nay. Họ sững sờ phát hiện ra “kẻ độc tài” mà chính phủ Trung Quốc rêu rao bao năm qua thực ra là một vĩ nhân, thẳng thắn, cương trực, đường hoàng, đạo đức.

Jay Taylor là một nhà ngoại giao lâu năm, từng 2 lần đảm nhiệm chức vụ đại sứ Mỹ tại cả Trung Quốc và Đài Loan. Sau khi xem xong cuốn “Nhật ký Tưởng Giới Thạch”, ông mới hiểu được họ Tưởng đã cống hiến biết bao mồ hôi, tâm huyết cho đất nước, dân tộc. Từ đó ông trở thành một học giả phương Tây kêu gọi “bình phản” (lấy lại công bằng) một cách toàn diện cho Tưởng Giới Thạch.

Sự thực lịch sử cuối cùng cũng được trả lại nguyên vẹn. Người nhân nghĩa dẫu bị vùi lấp bởi những lời vu cáo, bịa đặt nhưng hào quang của họ vẫn tỏa sáng tận muôn đời sau.

Tưởng Giới Thạch 3 lần từ chối lời đề nghị đánh bom nguyên tử vào Đại lục của Mỹ

alt
Năm 1943, Tưởng Giới Thạch, Franklin Delano Roosevelt và Winston Churchill tại hội nghị Cairo. Ảnh dẫn theo 
Khi nhật ký của Tưởng Giới Thạch được công bố, có một chi tiết khiến người ta phải giật mình. Nước Mỹ 3 lần muốn giúp Tưởng Giới Thạch phản công vào Đại lục, lật đổ Mao Trạch Đông bằng cách thả bom nguyên tử. Nhưng Tưởng Giới Thạch đều nhất quyết từ chối.

Ông nói rằng mình không muốn trở thành kẻ tội nhân, giết hại sinh mệnh của vô số người dân vô tội. Đánh bom nguyên tử chắc chắn sẽ giúp Tưởng có được lợi thế trên chiến trường, nhưng lại hại biết bao nhiêu con dân Đại lục, phản công như thế thà rằng không làm còn hơn.

Khi xảy ra nạn đói ở Đại lục, Tưởng Giới Thạch đã phát động, kêu gọi người Đài Loan quyên góp viện trợ. Nhưng đáng tiếc là chính phủ Mao Trạch Đông ở bên kia bờ eo biển lại không thèm ngó ngàng gì tới đề xuất của ông. Còn Tưởng Giới Thạch vẫn không nản chí mà nghĩ ra cách thả lương thực từ trên máy bay xuống, men theo vùng duyên hải để cứu trợ người dân. Từ nghĩa cử này có thể thấy được tấm lòng lương thiện, yêu dân như con của ông.

Tưởng Giới Thạch và Tống Mỹ Linh nhiều lần xuất hiện trên con phố nguy hiểm nhất để chỉ huy cứu viện

Ông Trương bồi hồi nhớ lại: “Vào tháng 5 năm 1939, quân Nhật tiến hành trận đột kích quy mô lớn vào khu trung tâm phụ đô Trùng Khánh. Lúc này trên bầu trời Trùng Khánh cảnh sát phòng không không quân cảnh báo liên tục. Người dân Trùng Khánh nháo nhác trong cơn hoảng loạn“. Khói lửa chiến tranh như hiện ra trong đôi mắt ông.

Ông Trương nói tiếp: “Trên bầu trời gần 100 chiếc máy bay đánh bom của quân Nhật đang gầm thét. Sau trận đánh bom quy mô lớn vào khu trung tâm Trùng Khánh này, ngay cả chiếc xe Buick mà chính phủ Mỹ tặng cho Tống Mỹ Linh cũng được trưng dụng để làm công tác cứu viện. Tại Hội nghị quốc phòng tối cao của chính phủ Quốc Dân, nơi ở của Tưởng Giới Thạch không thấy bóng dáng bất kỳ một chiếc xe nào. Tất cả đều đang tham gia cấp cứu, chuyên chở những người bị thương. Tưởng Giới Thạch và Tống Mỹ Linh cũng nhiều lần xuất hiện trên những con phố nguy hiểm nhất để trực tiếp chỉ huy cứu viện“.

Tưởng Giới Thạch đã rửa được nỗi nhục hàng trăm năm của Trung Quốc

alt
So với Mao Trạch Đông, Tưởng Giới Thạch chính là một chính nhân quân tử có nhân cách vô cùng cao thượng.
Jay Taylor đã phân tích cả hai thời kỳ mà Tưởng Giới Thạch cầm quyền ở Đại lục và Đài Loan. Trước năm 1949, Tưởng Giới Thạch liên tiếp 3 lần chỉ huy kháng chiến chống Nhật, thống nhất Trung Quốc. Chiến thắng trong kháng chiến chống Nhật là công lao hiển hách của Tưởng Giới Thạch.

Dẫu sử sách bị sửa đổi, nhưng sông biển, núi non vẫn ghi công người anh hùng ấy và trả lại thanh danh cho ông. Tưởng Giới Thạch thực sự đã rửa được nỗi nhục cả trăm năm của Trung Quốc, biến Trung Quốc trở thành một trong 5 cường quốc, là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc lúc bấy giờ.

“Nhật ký Tưởng Giới Thạch” là bảo vật lịch sử xưa nay chưa từng có

Tưởng Giới Thạch tôn sùng các nhà nho. Khi rút về Đài Loan, ông tập trung phát triển kinh tế và tổ chức bầu cử dân chủ. Ông đã biến Đài Loan từ một nơi nghèo khó trở thành vùng đất trù phú, nhân văn và thấm đẫm tinh hoa của văn hóa Thần truyền 5000 năm.

Trong khi đó, chính phủ Trung Quốc tại Đại lục lại phát động cuộc vận động Hồng Kỳ Tam Diện (Cờ đỏ 3 mặt) và Đại cách mạng Văn hóa nhằm lật đổ văn hóa Nho gia một cách triệt để thông qua con đường cực tả. Công cuộc “hiện đại hóa” ấy của Trung Quốc đã kéo nước này thoái lùi không biết bao nhiêu năm.

Có không ít các nhà sử học phải kinh ngạc thốt lên rằng “Nhật ký Tưởng Giới Thạch” chính là “bảo vật lịch sử xưa nay chưa từng có, có quyền lực tuyệt đối“. Nội dung cuốn nhật ký đã thể hiện rõ khí phách anh hùng và chiến công kháng Nhật, thống nhất Trung Quốc của Quốc Dân Đảng. Cuốn sách này cũng bộc lộ được nhiều ưu khuyết điểm trong đặc điểm nhân cách của Tưởng Giới Thạch, từng lời văn đều vô cùng chân thật, vốn không phải là kiểu hồi ký viết ra để cho người khác đọc.
Dương Thiên Thạch là một học giả chuyên nghiên cứu về Tưởng Giới Thạch của Trung Quốc. Sau khi đọc và suy ngẫm về “Nhật ký Tưởng Giới Thạch”, ông nói: “Nhật ký Tưởng Giới Thạch” có giá trị tư liệu lịch sử rất cao, đủ để viết nên những trang sử cận đại của Trung Quốc!”.
Dẫn dắt nhân dân, giành lấy thái bình là việc làm của bậc hào kiệt. Nhưng tha thứ cho kẻ thù thì chính là bậc thánh nhân
Tưởng Giới Thạch văn võ song toàn, mến mộ các giá trị truyền thống, luôn hết mình vì nước vì dân.
Du Đại Duy, một thành viên Quốc Dân Đảng dưới thời Tưởng Giới Thạch cho biết: “Khó khăn trong thời đầu kháng Nhật chỉ có thể tưởng tượng chứ không thể nào hiểu được thực tế khốc liệt ra sao. Lúc đó tôi làm sở trưởng Sở công binh. Khi ấy, chỉ biết rằng tổng số đầu đạn sản xuất từ các xưởng công binh trên toàn quốc trong 1 tháng cũng không đủ dùng 1 ngày ngoài tiền tuyến Tùng Hỗ!”.
“Nhờ áp dụng sách lược chính trị của Trưởng ủy viên Tưởng Giới Thạch, chúng tôi mới có thể duy trì được sĩ khí và lòng dân, từ đó mới từng bước giành được một chút thắng lợi. Khi một nước yếu bị một cường quốc xâm lược, lâm vào cảnh bách chiến bách bại, nguy cấp ngàn cân treo sợi tóc thì sẽ sản sinh ra một lãnh tụ kiên cường bất khuất, có trí huệ hơn người, lãnh đạo nhân dân đi tới thắng lợi. Những người như vậy này đã từng xuất hiện trong lịch sử.
Nhưng sau khi giành thắng lợi, lại có thể áp dụng chính sách đại khoan hồng “không nhớ thù cũ”, “hành thiện với người”, buông tha cho chính kẻ thù truyền đời đã từng hoành hành xâm lược, tàn phá đất nước mình suốt nửa thế kỷ qua thì xưa nay chưa từng có! Dẫn dắt nhân dân vượt qua gian nguy, giành lấy thái bình là việc làm của bậc hào kiệt. Nhưng có thể tha thứ cho kẻ thù của mình thì đó chỉ có thể là bậc thánh nhân!”
Những con sóng Trường Giang bạc đầu cuồn cuộn chảy mãi về đông, lần lượt tiễn đưa các bậc anh hùng về nơi thiên cổ. Nhưng khí phách và tấm lòng yêu nước, thương dân của họ thì vẫn mãi trường tồn cùng núi sông, lịch sử. Dẫu con người vì danh lợi, quyền lực, dùng mưu mô mà rắp tâm đổi trắng thay đen nhưng lịch sử trước sau gì cũng trở về với bộ mặt vốn có của mình.


Hiểu Mai 
Tướng MacArthur.  

CHÂN DUNG "KẺ XÂM LƯỢC"

Lễ tiếp nhận quân Nhật đầu hàng.

Mac.Arthur đến Nhật vơi đôi bàn tay đẫm máu người Nhật. Khi Mac.Arthur rời Nhật về Mỹ, từ nơi dinh phủ ông ở đến Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật đứng hai bên đường đưa tiễn. Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang dậy của người dân Nhật:
Đại nguyên soái!
Mac.Arthur được người Nhật vinh danh là 1 trong 12 danh nhân nước Nhật mọi thời đại.

Bị đánh bom nguyên tử, vì sao người Nhật lại cúi đầu kính trọng tướng Mỹ?

Năm 1942 tướng Mac.Arthur dẫn đại quân tấn công Nhật Bản, từ Melbourne  đánh thẳng đến Tokyo, hai tay nhuộm máu người Nhật Bản. Vì thế người Nhật hận ông thấu xương.

Chiều ngày 30/8/1945, tướng quân MacArthur ra khỏi máy bay và đặt chân lên đất Nhật, cho dù ông không mặc quân phục và không mang theo vũ khí gì, cũng không có người tổ chức duyệt binh, nhưng thời khắc đó với 70 triệu người Nhật Bản là thời khắc kinh hoàng mà họ không thể quên, trong tâm trí mọi người chỉ còn nghĩ được hai chữ “mất nước”.

Nhưng tướng Mac.Arthur mang quân đến hòa bình, chính nghĩa, khoan dung và dân chủ.
Nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh rơi vào suy sụp, đến bữa trưa của Nghị viên Quốc hội cũng phải ăn cơm trộn khoai lang, cái đói bao phủ khắp nơi.
Lúc này tướng MacArthur gây áp lực khiến chính phủ Mỹ phải hỗ trợ Nhật Bản, thế là 3,5 triệu tấn lương thực và 2 tỷ Mỹ kim tức tốc được gửi đến Nhật. Ông không chỉ giữ lại chính quyền Nhật Bản mà còn đặc xá cho Thiên hoàng, thậm chí còn quan tâm đến số phận của từng người lính bình thường của Nhật Bản, giúp họ tìm con đường sống.
Theo sau ông, 400 nghìn lính Mỹ đã dùng thiện ý và tinh thần hy sinh để chinh phục người Nhật Bản. Khi đó các con hẻm trong thành phố của Nhật rất chật hẹp, một người Nhật bình thường và một người lính Mỹ to lớn nếu gặp nhau cũng khó để đi qua, vì thế thường thì người lính Mỹ sẽ nép vào một bên cho người Nhật đi trước. Người Nhật không thể không băn khoăn tự hỏi, nếu mình là kẻ chiến thắng thì có làm được như thế không?
Sau khi tướng Mac.Arthur đến Nhật Bản, ông lập tức ra lệnh thả tội phạm chính trị, trong đó có rất nhiều Đảng viên Cộng sản, bị chính phủ Nhật bắt giam trong thời gian dài.

Ngày 25/8/1945, quân chiếm đóng của Mỹ cho phép phụ nữ Nhật thiết lập tổ chức của mình; tháng 9 cho công bố Dự luật về vai trò trong bầu cử của phụ nữ Nhật Bản; đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, phụ nữ được quyền bầu cử và ứng cử.
Lúc này tại Tokyo có cô kỹ nữ được chọn làm Nghị viên thành phố, nhiều thị dân cảm thấy khó chấp nhận. Nhưng tướng Mac.Arthur nói, mọi người chọn cô ấy để cô ấy phục vụ mọi người, đừng vì cô ấy là kỹ nữ mà kỳ thị bỏ qua. Khi đó mọi người chợt hiểu người được chọn trong bầu cử dân chủ phải là người thay mặt để vì mình làm việc, thế là sau khi hiểu ý nghĩa vấn đề họ đã quyết định chọn bầu cô kỹ nữ kia. Kết quả sau khi trở thành Nghị viên, cô đã không phụ lòng mọi người, làm được rất nhiều việc có ý nghĩa.

Vào ngày 11/10/1945, tướng Mac.Arthur tuyên bố bỏ lệnh cấm báo chí, Nhật Bản được tự do thông tin và tự do ngôn luận.
Ngày 22/12/1945, ban hành “Luật Công hội”, giai cấp công nhân thực sự có tổ chức của mình. Ngày 1/9/1947, ban hành “Luật lao động”, quy định tiêu chuẩn tiền lương thấp nhất và thời gian làm việc nhiều nhất.
Ngày 3/2/1946, tướng Mac.Arthur chỉ thị cho Tổng bộ Liên minh khởi thảo Hiến pháp Nhật Bản.
Chính phủ Mỹ truyền đạt nguyên tắc chế định Hiến pháp cho tướng Mac.Arthur là: Chính phủ Nhật Bản phải do toàn thể cử tri trao quyền và phải chịu trách nhiệm trước toàn thể cử tri. Ngày 3/5, quân liên minh giao ra Bản dự thảo Hiến pháp. Ngày 7/10, Quốc hội Nhật Bản thông qua Hiến pháp. Ngày 3/11, Thiên hoàng cho ban hành Tân Hiến pháp.
Đây là Hiến pháp do kẻ chiếm lĩnh chiếu theo giá trị quan phương Tây áp đặt cho kẻ bị chiếm lĩnh, nhưng lại là bản Hiến pháp đem lại phúc lợi cho nhân dân quốc gia bị chiếm lĩnh.

Bản Hiến pháp nhấn mạnh quyền lợi công dân cơ bản của người Nhật Bản, xem những quyền lợi này là “quyền lợi trời cho mà không ai có quyền tước đoạt”. Những quyền này bao gồm: quyền bầu cử, lập hội và tự do xuất bản; không có sự tham gia của luật sư thì không được định tội; bảo đảm quyền cư trú an toàn cho dân, cấm kiểm tra và tước đoạt vô cớ.

Ngày 21/10/1946, Quốc hội đã thông qua “Luật Cải cách ruộng đất”.
Chính phủ Nhật Bản mua lại đất đai dư thừa của giới địa chủ, sau đó bán đất lại cho nông dân không có ruộng. Với những nông dân không có tiền mua đất, chính phủ cho vay thế chấp. Tất cả diễn ra không đổ một giọt máu, một mạng người, những người nông dân ai nấy đều có được một phần đất cho mình.

Ngày 31/3/1947, ban hành “Luật Giáo dục”. Theo đó mục tiêu hàng đầu của giáo dục là “tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, bồi dưỡng cho mọi người có lòng nhiệt huyết vì chân lý và hòa bình”. Trường học của Nhật Bản không còn nằm trong kiểm soát của chính phủ mà là do Ủy ban Giáo dục do dân chúng bầu ra quản lý. Việc chọn lựa nhà giáo, sách học và bố trí chương trình hoàn toàn do người dân tự chủ quyết định.

Năm 1952, quân chiếm đóng Mỹ trả chính quyền về cho chính phủ Nhật Bản. Sau 7 năm chiếm đóng, người Mỹ cải cách triệt để con đường phát triển của Nhật Bản, chủ quyền quốc gia từ trong tay kẻ chuyên chế trao lại cho người dân Nhật Bản, những tiền đề tiến bộ đầu tiên này giúp người Nhật bước vào con đường thênh thang.

Hơn 10 năm sau, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới,
quốc gia phồn vinh, nhân dân giàu có, xã hội ổn định. Có thể nói thêm một câu, quân chiếm đóng của Mỹ không chi một đồng tiền thuế nào của người dân Nhật Bản, chi phí của họ là lấy từ tiền thuế của người Mỹ.

Trong thời gian chiếm đóng Nhật Bản, rất nhiều người Nhật đã viết thư gửi cho tướng MacArthur yêu cầu biếu tặng đất đai của họ. Nhiều phụ nữ can đảm viết thư đề nghị được hiến thân cho tướng MacArthur, nhiều người còn viết “xin hãy cho tôi được sinh con cho ngài.”

Sáng ngày 16/4/1951, Tổng thống Harry Truman phế bỏ chức Tư lệnh quân chiếm đóng và buộc tướng MacArthur phải về nước, sự kiện này chỉ thông báo cho một số quan chức cấp cao người Nhật biết.
Nhưng khi ông ngồi lên ô tô thì mới phát hiện, từ nơi dinh phủ ông ở đến Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật Bản đứng hai bên đường đưa tiễn. Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang dậy của người dân Nhật Bản:                                        
Đại nguyên soái!

Người dân Tokyo đứng chật kín hai bên đường, ai nấy rơi nước mắt, họ như hoàn toàn quên chuyện tướng Mac.Arthur là kẻ chiếm đóng đã đánh bại quân đội quốc gia mình. Thiên hoàng đích thân đến sứ quán đưa tiễn Mac.Arthur, tướng Mac.Arthur cũng xúc động rơi nước mắt, nắm chặt hai tay của Thiên hoàng Hirohito.

Khi đưa tiễn, Thủ tướng Yoshida của Nhật nói:
“Tướng quân MacArthur đã cứu chúng tôi ra khỏi nỗi sợ hãi, lo lắng và hỗn loạn của thất bại để đưa chúng tôi vào con đường mới do ông xây dựng, chính Ngài đã gieo trồng hạt giống dân chủ trên đất nước chúng tôi để chúng tôi bước trên con đường hòa bình, tình cảm ly biệt mà nhân dân chúng tôi dành cho Ngài không lời nào có thể diễn tả được.”

Uy lực quả bom nguyên tử của Mỹ tàn phá thành phố và nền kinh tế của Nhật Bản, nhưng về phương diện tinh thần, nước Mỹ đã hoàn toàn chinh phục được người Nhật Bản.


(Sưu tầm)
Trung Quốc biến “Đường 9 Đoạn” thành Tứ Sa!
Lữ Giang
Hôm 21.9.2017, trang báo mạng The Washington Free Beacon ở Washington DC công bố một tài liệu mới cho biết Bắc Kinh đã thông qua chiến thuật mới về chủ quyền trên Biển Nam Trung Quốc (tức Biển Đông): Nhóm đảo “Tứ Sa” thay thế Đường 9 Đoạn bị coi là bất hợp pháp!
Trang báo cho biết, trong một cuộc họp kín với các viên chức bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ vào hai ngày 28 và 29.8.2017 tại Boston, ông Mã Tân Dân (Ma Xinmin), Cục phó Cục Hiệp định và Pháp luật thuộc bộ Ngoại Giao Trung Quốc, đã khẳng định «quyền lịch sử của Trung Quốc tại Tứ Sa». Các viên chức Mỹ tỏ ra rất ngạc nhiên về cách diễn dịch mới này.
 
Bản đồ vùng Tứ Sa trên Biển Đông
Nói một cách rõ ràng hơn, theo ông Mã Tân Dân từ nay Trung Quốc sẽ không còn xử dụng quan niệm Đường 9 Đoạn” (9-Dash Line) hay Dường lưỡi bò” để chứng minh chủ quyền pháp lý trên Biển Đông nữa mà dùng khái niệm về đường cơ sở bao vòng quanh Tứ Sa. Theo ông, Tứ Sa (Four Sha) gồm 4 nhóm đảo trên Biển Đông là Đông Sa(Dongsha) tức Pratas Islands của Đài Loan, Tây Sa (Xisha) tức Hoàng Sa, Nam Sa(Nansha) tức Trường Sa và Trung Sa (Zhongsha) tức bãi cạn Macclesfield, một bãi ngầm nằm cách Hoàng Sa 75 hải lý. Ông nói rằng Trung Quốc có «chủ quyền và quyền hàng hải» kéo dài xung quanh bốn nhóm đảo nói trên và đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý xung quanh 4 nhóm đảo này.
Tại sao Trung Quốc phải đưa ra một căn bản pháp lý mới để chứng minh chủ quyền trên Biển Đông thay vì “Đường 9 Đoạn”? Tại vì khái niệm “Đường 9 Đoạn” đã bị phán quyết ngày 13.7.2015 của Tòa Trọng Tài Thường Trực ở La Hay tuyên bố là “không có cơ sở pháp lý”, nên Trung Quốc phải đi tìm một “căn bản pháp lý” khác.
TRUNG QUỐC XÀI ĐỒ CỦ ĐỂ LẤP LIẾM
Những quy định về chủ quyền trên biển theo quốc tế công pháp về Luật Biển rất phức tạp. Trong vụ Philippines kiện Trung Quốc trước Tòa Trọng Tài quốc tế, hồ sơ tranh luận lên đến trên 4.000 trang với 40 bản đồ khác nhau. Mặc dầu Trung Quốc tuyên bố “Chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông là bất khả tranh cãi” và người Việt cũng tuyên bố tương tự như thế, nhưng phán quyết của Tòa hoàn toàn khác với những sự xác quyết này. Nói theo cảm tính là nói cho sướng mồm và nói để tuyên truyền mà thôi. Khi ra tranh tranh tụng trước Công lý, chỉ có các bằng chứng luật định và luật lý được chấp nhận,còn cảm tính và những lời xác quyết dao to búa lớn thường bị xếp vào thùng rác.
Chúng tôi xin nhắc lại, trong cuộc hội thảo được tổ chức tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế ở Washington năm 2011, sáng 20.6.2011 giáo sư Tô Hảo (Su Hao), Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế thuộc trường Đại Học Ngoại Giao Trung Quốc, đã lên diễn đàn đọc một bài diễn văn chứng minh Trung Quốc đã có chủ quyền về lịch sử không chối cãi đối với Biển Đông từ 2000 năm về trước. Từ đời nhà Tống cách đây vài trăm năm, Trung Quốc đã có một cơ quan phụ trách hành chính về khu vực này và đã có đội tàu đi tuần trên biển. Ông đem theo một thùng tài liệu rất lớn chứng minh Trung Quốc đã làm chủ Biển Đông từ thời ông Bành Tổ. Nhưng khi ông vừa thuyết trình xong, ông Termsak Chalermpalanupap, Phụ Tá Đặc Biệt của Tổng Thư ký ASEAN đã lên tiếng như sau: "Tôi không cho rằng Công Ước Của Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) công nhận lịch sử là cơ sở để tuyên bố chủ quyền". Giáo sư Peter Dutton thuộc Đại học Hải quân Hoa Kỳ cũng có quan điểm tương tự: "Về quyền tài phán đối với các vùng biển, lịch sử không liên quan gì cả, mà phải tuân theo UNCLOS."
Từ 1975 đến nay, rất nhiều người Việt đã đi sưu tầm tài liệu lịch sử để chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa như Phủ Lục Tạp Biên của Lê Quí Đôn, Đại Nam Nhất Thống Chí…, tại sao “mấy thằng cha này” lại dám bảo Luật Biển LHQ không công nhận lịch sử là cơ sở để tuyên bố chủ quyền?
Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi xin trình bày khái niệm về quyền sở hữu lịch sử đối với các đảo và “vùng nước lịch sử” (historic water) ở Biển Đông do Trung Quốc nại ra. Đây là những khái niệm đã một thời được quốc tế công pháp về luật biển công nhận, nay đã trở nên lỗi thời, nhưng Trung Quốc vẫn lôi ra xài để lấp liếm. Một số người Việt không biết gì về luật biển, cũng đã bắt chước Trung Quốc làm y như thế khi chứng minh chủ quyền của Việt Nam!
QUYỀN SỞ HỮU CÁC ĐẢO TRÊN BIỂN
Luật La Mã ngày xưa quy định rằng “Res nullius naturaliter fit primi occupantis”,có nghĩa là đối với vật vô chủquyền sở hữu thuộc về người chiếm hữu đầu tiênCác đảo nổi lên trên biển (insula in mara nata) được coi là vật vô chủ (rex nullus), quyền sở hữu cũng thuộc về người chiếm hữu đầu tiên.
Nhưng quy định này đã đưa tới những tranh tụng không giải quyết được. Ví dụ Việt Nam cho rằng Việt Nam đã chiếm Hoàng Sa từ đời Nhà Lý hay Nhà Trần thì Tàu lại đưa tài liệu khác chứng minh Tàu đã chiếm Hoàng Sa và Trường Sa từ thời ông Bàn Tổ, nên rất khó phân định. Vì thế Định Ước Berlin ngày 26.2.1885 đã đưa ra một số nguyên tắc chính được dùng dể chứng minh quyền sở hữu các đảo trên biển như sau: (1) Chủ thể chiếm hữu phải là một quốc gia. (2) Việc chiếm hữu phải thực hiện trong hòa bình và đảo chiếm hữu phải thật sự vô chủ (rex nullus) hay đã bị bỏ (rex derelicto). (3) Phải thực hiện chủ quyền liên tục và thật sự (exercise continuous and actual sovereignty) trên đảo đã chiếm.
Sau này, án lệ coi điều kiện thứ ba là quan trọng nhất. Năm 1898, Tây Ban Nha nhường lại Philippimes cho Mỹ, trong đó có đảo Palmas đã được Tây Ban Nha chiếm trước đây và có ghi vào bản đồ của Philippines. Những sau đó Mỹ lại khám phá ra Hà Lan đang thực hiện chủ quyền trên đảo Palmas. Mỹ liền nộp đơn kiện trước Tòa Án Trọng Tài Thường Trực để đòi lại hòn đảo này. Kết quả, trong phán quyềt ngày 23.1.1925, Tòa tuyên bố đảo Palmas thuộc về Hòa Lan vì sau khi chiếm Tây Ban Nha không thực hiện chủ quyền thực sự và liên tục trên đảo Palmas, trái lại Hà Lan tuy đến chiếm sau nhưng đã thực hiện chủ quyền thực sự và liên tục trên đảo đó, nên Palmas được coi như thuộc quyền sở hữu của Hà Lan. Sau này Hà Lan đã giao lại đảo Palmas cho Indonesia.
Như vậy, việc thực hiển chủ quyền liên tục và thực sự (continuous and actual) trên hoang đảo là yêu tố pháp lý căn bản để chứng minh chủ quyền chứ không phải là việc chiếm trước hay chiếm sau, có ghi trên bản đồ hay không ghi.
DÙNG THUYẾT “VÙNG NƯỚC LỊCH SỬ”
Bài thuyết trình của giáo sư Tô Hảo (Su Hao) ngày 20.6.2011 tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế ở Washington năm 2011 cho thấy Trung Quốc muốn dùng học thuyết “vùng nước lịch sử” (historic water) trong quốc tế công pháp về luật biển cũ để chứng minh Biển Đông là “ao nhà” của Trung Quốc. Vậy vùng nước lịch sử” là gì?
Nói một cách vắn tắt, “vùng nước lịch sử” là vùng biển mà một quốc gia đã chấp hữu qua nhiều thế hệ và trở thành vùng sống còn của quốc gia đó.
Từ lâu, “vùng nước lich sử” chỉ có trong học lý chứ không hề có trong Luật Biển. Năm 1951, Na Uy kiện Anh xâm nhập vùng đánh cá của Na Uy. Trong phán quyết ngày 18.12.1951, Toà Án Công Lý Quốc Tế (International Court of Justice) công nhận quyền sử hữu lịch sử” (historic title) của Na Uy về vùng biển nằm sát Na Uy, và Anh không có quyền xâm phạm. Vùng này có bề ngang chưa đến 100 miles tính từ bờ biển Na Uy.
Mặc dầu Toà Án Công Lý Quốc Tế đã công nhận “vùng nước lịch sử” (historic water) và “quyền sử hữu lịch sử” (historic title), Luật Biển 27.4.1958  không hề nói đến “vùng nước lịch sử”.
Theo đề nghị của một số quốc gia, Hội Nghị LHQ về Luật Biển đã ra nghị quyết yêu cầu Đại Hội Đồng LHQ cho nghiên cứu về “chế độ pháp lý của vùng nước lịch sử” (the juridical regime of historic waters), kể cả các “vịnh lịch sử” (historic bays).
Trong các cuộc họp về dự thảo Công Ước LHQ về Luật Biển từ năm 1973 đến năm 1982, Colombia đã yêu cầu đưa “vùng nước lịch sử” và “vịnh lịch sử” vào dự thảo công ước, nhưng Ủy Ban Luật Quốc Tế LHQ không xét. Sở dĩ Ủy Ban đã quyết định không đưa chế độ “vùng nước lịch sử” và “vịnh lịch sử” vào Công Ước LHQ, vì cho rằng nó rất mơ hồ, có thể đưa tới nhiều vụ tranh tụng rắc rối. Cuối cùng, thay vì công nhận “vùng nước lịch sử” và “vịnh lịch sử”, Ủy Ban đã nới rộng lãnh hải của quốc gia ra đến 12 hải lý (thay vì 3 hải lý như cũ) và đặt thêm vùng đặc quyền khai thác kinh tế đến 200 hải lýtrong Luật Biển 1982. Như vậy chế độ “vùng nước lịch sử” và “vịnh lịch sử” không còn trong luật biển.
Tuy nhiên, ngày 20.6.2011 đại diện của Trung Quốc lại viện dẫn học thuyết “vùng nước lịch sử” (historic water) đã bị hủy bỏ để chứng minh Biển Đông là “ao nhà” của Trung Quốc. Như vậy Trung Quốc đã viện dẫn một học thuyết không còn giá trị để chứng minh chủ quyền của mình.
Vả lại, cho dù học thuyết “vùng nước lịch sử” còn có hiệu lực, Trung Quốc cũng không thể đưa ra được các bằng chứng cho thấy Trung Quốc đã hành xử chủ quyền của mình liên tục và thực sự (continuous and actual) trong “Đường 9 Đoạn”  trong suốt tiến trình lịch sử. Vì thế, phán quyết ngày 13.7.2015 của Tòa Trọng Tài Thường Trực ở La Hay đã tuyên bố rằng “Đường 9 Đoạn” của Trung Quốc “không có cơ sở pháp lý”.
NGỤY TẠO MỚI VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐÔNG
Bị Tòa Trọng Tài Thường Trực La Hay bác bỏ “Đường 9 Đoạn”, Trung Quốc đi tìm một căn bản pháp lý khác để lấp liếm, đó “Quốc gia quần đảo” (Etat archipel) và đường cơ sở bao vòng quanh nhóm quần đảo đó, được quy định trong Luật Biển 1982. Có 3 vấn đề được Trung Quốc nại ra: (1) Tạo dựng ra nhóm Từ Sa và coi đó là “Quần đảo quốc gia” của Trung Quốc. (2) Dùng đường cơ sở quanh 4 nhóm đảo thuộc Tứ Sa làm ranh giới. (3) Đòi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý choTứ Sa.
Image result for map of china four sha in south china sea
Cả ba yêu sách này đều trái với quốc tế công pháp về luật biển.
1.- Vấn đề “Quốc gia quần đảo
Luật Biển 1982 đã dành Phần IV, từ điều 44 đến điều 54 để nói về “Quốc gia quần đảo” (Etat archipel). Điều 46 quy định rất rõ: “Quốc gia quần đảo” là một quốc gia hoàn toàn được cấu thành bởi một hay nhiều quần đảo và có khi bởi một số hòn đảo khác nữa.”
Trên thế giới có rất nhiều “Quần đảo quốc gia” rất quen thuộc với nhiều người, chẳng hạn như Úc, Brunei, Cuba, Nhật Bản, New Zealand, Philippines, Sri Lamka… Đó là những quốc gia độc lập có chủ quyền được cấu tạo bằng các nhóm đảo nổi trên biển. Nay Trung Quốc đã gom bốn quần đảo trên Biển Đông lại là Đông Sa (Đài Loan), Tây Sa(Hoàng Sa), Nam Sa (Trường Sa) và Trung Sa (bãi cạn Macclesfield) thành một nhóm quần đảo và gọi đó là “Quần đảo quốc gia Tứ Sa”. Như vẫy Trung Quốc đã hình thành một quốc gia mới trong quốc gia Trung Quốc!
Sự hình thành này hoàn toàn trái với Luật Biển 1982 và không được quốc tế công nhận, nên không thể đòi hỏi các quyền lợi pháp lý như các “Quần đảo quốc gia” khác trên thế giới được.
2.- Đường cơ sở quanh Tứ Sa
Diều 47 Luật Biển 1982 đã quy định rất kỷ về đường cơ sở (baselines) của các Quần đảo quốc gia. Khoản 1 của điều 47 cho phép một quốc gia quần đảo có thể vạch các đường cơ sở thẳng của quần đảo nối liền các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá lúc chìm lúc nổi của quần đảo… Nhưng Tứ Sa không phải là một Quần đảo quốc gia theo định nghĩa của điều 46 Luật Biển, nên Trung Quốc không thể tự ý vẽ ra một đường cơ sở gióng các Quần đảo quốc gia thứ thiệt được.
3.- Vùng đặc quyền kinh tế 200 hảI lý
Phán quyết ngày 13.7.2015 của Tòa Trọng Tài Thường Trực La Hay đã xác định rằng các đảo trên Biển Đông đều là đảo đá, không có sự sống tự nhiên, nên không có đặc quyền kinh tế 200 hải lý như các đảo có sự sống tự nhiêu khác được quy định trong Luật Biển. Với quốc tế công pháp, án lệ được coi như luật nên Trung Quốc không thể chống lại phán quyết này của Tòa.
PHÁP LÝ” MỚI CỦA TRUNG QUỐC CŨNG BỎ ĐI
Ông Michael Pillsbury, thuộc Hudson Institute và là Giám đốc Center for Chinese Strategy, nhận định rằng yêu sách về pháp lý trên đây của Trung Quốc là một trong «Tam chủng chiến pháp» do Quân ủy Trung ương đưa ra từ năm 2003, gồm tâm lý chiến, chiến tranh thông tin và chiến tranh pháp lý.
Còn hai chuyên gia về công pháp quốc tế Julian Ku và Christopher Mirasola trên trang Lawfare - một trang chuyên về an ninh do Lawfare Institute và Brooking Institution thực hiện, với sự hợp tác của nhiều luật gia – đã đi đến kết luận rằng về mặt pháp lý, lý lẽ về «Tứ Sa» của Trung Quốc cũng chẳng hơn gì so với “Đường lưỡi bò” lâu nay. Theo hai ông, lý lẽ về «Tứ Sa» không mấy vững, thậm còn chí yếu hơn cả “Đường 9 Đoạn”!
Ngày 5.10.2017
Lữ Giang