Search This Blog

Friday, October 6, 2017

THẰNG KHÙNG (Bài viết của Phùng Quán)
(Thanh Ngang Trên Thập Tự Giá)
(THẰNG KHÙNG trong tù này là Cha Chính Vinh, tức là Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH (1912-1971), của Nhà thờ lớn Hà Nội. Bài viết của Phùng Quán đã kể lại chuyện thật những năm, những ngày cuối trong ngục tù của Ngài. Phùng Quán viết lại theo lời kể của nhà thơ Nguyễn Tuân - không phải là nhà văn có cùng tên - khi cùng ở trong tù)
"… Anh ta vào trại trước mình khá lâu, bị trừng phạt vì tội gì, mình không rõ. Người thì bảo anh ta phạm tội hình sự, người lại bảo mắc tội chính trị. Nhưng cả hai tội mình đều thấy khó tin. Anh ta không có dáng dấp của kẻ cướp bóc, sát nhân, và cũng không có phong độ của người làm chính trị. Bộ dạng anh ta ngu ngơ, dở dại dở khùng. Mình có cảm giác anh ta là một khúc củi rều, do một trận lũ cuốn từ một xó rừng nào về, trôi ngang qua trại, bị vướng vào hàng rào của trại rồi mắc kẹt luôn ở đó. Nhìn anh ta, rất khó đoán tuổi, có thể ba mươi, mà cũng có thể năm mươi. Gương mặt anh ta gầy choắt, rúm ró, tàn tạ, như một cái bị cói rách, lăn lóc ở các đống rác. Người anh ta cao lòng khòng, tay chân thẳng đuồn đuỗn, đen cháy, chỉ toàn da, gân với xương.
Trên người, tứ thời một mớ giẻ rách thay cho quần áo. Lúc đầu mình cứ tưởng anh ta bị câm vì suốt ngày ít khi thấy anh ta mở miệng dù là chỉ để nhếch mép cười. Thật ra anh ta chỉ là người quá ít lời. Gặp ai trong trại, cả cán bộ quản giáo lẫn phạm nhân, anh ta đều cúi chào cung kính, nhưng không chuyện trò với bất cứ ai. Nhưng không hiểu sao, ở con người anh ta có một cái gì đó làm mình đặc biệt chú ý, cứ muốn làm quen… Nhiều lần mình định bắt chuyện, nhưng anh ta nhìn mình với ánh mắt rất lạ, rồi lảng tránh sau khi đã cúi chào cung kính.
Hầu như tất cả các trại viên, kể cả những tay hung dữ nhất, cũng đều thương anh ta. Những trại viên được gia đình tiếp tế người để dành cho anh ta viên kẹo, miếng bánh, người cho điếu thuốc.
Ở trại, anh ta có một đặc quyền không ai tranh được, và cũng không ai muốn tranh. Đó là khâm liệm tù chết. Mỗi lần có tù chết, giám thị trại đều cho gọi "thằng khùng" (tên họ đặt cho anh ta) và giao cho việc khâm liệm. Với bất cứ trại viên chết nào, kể cả những trại viên đã từng đánh đập anh ta, anh ta đều khâm liệm chu đáo giống nhau. Anh ta nấu nước lá rừng, tắm rửa cho người chết, kỳ cọ ghét trên cái cơ thể lạnh ngắt cứng queo, với hai bàn tay của người mẹ tắm rửa cho đứa con nhỏ.
Lúc tắm rửa, kỳ cọ, miệng anh ta cứ mấp máy nói cái gì đó không ai nghe rõ. Anh ta rút trong túi áo một mẩu lược gãy, chải tóc cho người chết, nếu người chết có tóc. Anh ta chọn bộ áo quần lành lặn nhất của người tù, mặc vào rồi nhẹ nhàng nâng xác đặt vào áo quan được đóng bằng gỗ tạp sơ sài.
Anh ta cuộn những bộ áo quần khác thành cái gói vuông vắn, đặt làm gối cho người chết. Nếu người tù không có áo xống gì, anh ta đẽo gọt một khúc cây làm gối. Khi đã hoàn tất những việc trên, anh ta quỳ xuống bên áo quan, cúi hôn lên trán người tù chết, và bật khóc.
Anh ta khóc đau đớn và thống thiết đến nỗi mọi người đều có cảm giác người nằm trong áo quan là anh em máu mủ ruột thịt của anh ta. Với bất cứ người tù nào anh ta cũng khóc như vậy. Một lần giám thị trại gọi anh ta lên:
- Thằng tù chết ấy là cái gì với mày mà mày khóc như cha chết vậy?
Anh ta chấp tay khúm núm thưa:
- Thưa cán bộ, tôi khóc vờ ấy mà. Người chết mà không có tiếng khóc tống tiễn thì vong hồn cứ lẩn quẩn trong trại. Có thể nó tìm cách làm hại cán bộ. Lúc hắn còn sống, cán bộ có thể trừng trị hắn, nhưng đây là vong hồn hắn, cán bộ muốn xích cổ, cũng không xích được.
Thằng khùng nói có lý. Giám thị trại mặc, cho nó muốn khóc bao nhiêu thì khóc. Nhưng mình không tin là anh ta khóc vờ. Lúc khóc, cả gương mặt vàng úa, nhăn nhúm của anh ta chan hòa nước mắt. Cả thân hình gầy guộc của anh ta run rẩy. Mình có cảm giác cả cái mớ giẻ rách khoác trên người anh ta cũng khóc… Trong tiếng khóc và nước mắt của anh ta chan chứa một niềm thương xót khôn tả. Nghe anh ta khóc, cả những trại viên khét tiếng lỳ lợm, chai sạn, "đầu chày, đít thớt, mặt bù loong" cũng phải rơm rớm nước mắt. Chỉ có nỗi đau đớn chân thật mới có khả năng xuyên thẳng vào trái tim người. Mình thường nghĩ ngợi rất nhiều về anh ta. Con người này là ai vậy? Một thằng khùng hay người có mối từ tâm lớn lao của bậc đại hiền?…
Thế rồi, một lần, mình và anh ta cùng đi lùa trâu xuống con sông gần trại cho dầm nước. Trời nóng như dội lửa. Bãi sông đầy cát và sỏi bị nóng rang bỏng như than đỏ. Trên bãi sông mọc độc một cây mủng già gốc sần sùi tán lá xác xơ trải một mảng bóng râm bằng chiếc chiếu cá nhân xuống cát và sỏi. Người lính gác ngồi trên bờ sông dốc đứng, ôm súng trú nắng dưới một lùm cây. Anh ta và mình phải ngồi trú nắng dưới gốc cây mủng, canh đàn trâu ngụp lặn dưới sông. Vì mảng bóng râm quá hẹp nên hai người gần sát lưng nhau. Anh ta bỗng lên tiếng trước, hỏi mà đầu không quay lại:
- Anh Tuân này - không rõ anh ta biết tên mình lúc nào - sống ở đây anh thèm cái gì nhất?
- Thèm được đọc sách - mình buột miệng trả lời, và chợt nghĩ, có lẽ anh ta chưa thấy một cuốn sách bao giờ, có thể anh ta cũng không biết đọc biết viết cũng nên.
- Nếu bây giờ có sách thì anh thích đọc ai? - anh ta hỏi.
- Voltaire! - một lần nữa mình lại buột miệng. Và lại nghĩ: Nói với anh ta về Voltaire thì cũng chẳng khác gì nói với gốc cây mủng mà mình đang ngồi dựa lưng. Nhưng nhu cầu được chuyện trò bộc bạch với con người nó cũng lớn như nhu cầu được ăn, được uống… Nhiều lúc chẳng cần biết có ai nghe mình, hiểu mình hay không. Đó chính là tâm trạng của anh công chức nát rượu Marmeladov bất chợt nói to lên những điều tủi hổ nung nấu trong lòng với những người vớ vẩn trong một quán rượu tồi tàn, mà Dostoievsky miêu tả trong “Tội ác và Trừng phạt”.
Anh ta ngồi bó gối, mắt không rời mặt sông loá nắng, hỏi lại:
- Trong các tác phẩm của Voltaire, anh thích nhất tác phẩm nào?
Mình sửng sốt nhìn anh ta, và tự nhiên trong đầu nảy ra một ý nghĩ kỳ lạ: một người nào khác đã ngồi thay vào chỗ anh ta… Mình lại liên tưởng đến một cậu làm việc cùng phòng hồi còn ở Đài phát thanh, tốt nghiệp đại học hẳn hoi, đọc tên nhạc sĩ Chopin (Sôpanh) là Cho Pin.
Mình trả lời anh ta:
- Tôi thích nhất là Candide.
- Anh có thích đọc Candide ngay bây giờ không?
Không đợi mình trả lời, anh ta nói tiếp:
- Không phải đọc mà nghe… Tôi sẽ đọc cho anh nghe ngay bây giờ.
Rồi anh ta cất giọng đều đều đọc nguyên bản Candide. Anh đọc chậm rãi, phát âm chuẩn và hay như mấy cha cố người Pháp, thầy dạy mình ở trường Providence. Mình trân trân nhìn cái miệng rúm ró, răng vàng khè đầy bựa của anh ta như nhìn phép lạ. Còn anh ta, mắt vẫn không rời dòng sông loá nắng, tưởng chừng như anh ta đang đọc thiên truyện Candide nguyên bản được chép lên mặt sông…
Anh đọc đến câu cuối cùng thì kẻng ở trại cũng vang lên từng hồi, báo đến giờ lùa trâu về trại. Người lính gác trên bờ cao nói vọng xuống: "Hai đứa xuống lùa trâu, nhanh lên!".
- Chúng mình lùa trâu lên bờ đi! - anh nói.
Lội ra đến giữa sông, mình hỏi anh ta:
- Anh là ai vậy?
Anh ta cỡi lên lưng một con trâu, vừa vung roi xua những con trâu khác, trả lời:
- Tôi là cái thanh ngang trên cây thập tự đóng đinh Chúa.
Rồi anh ta tiếp:
- Đừng nói với bất cứ ai chuyện vừa rồi…
Giáp mặt người lính canh, bộ mặt anh ta thay đổi hẳn - ngu ngơ, đần độn như thường ngày.
Cuối mùa đông năm đó, anh ta ngã bệnh. Nghe các trại viên kháo nhau mình mới biết.
Thằng chuyên gia khâm liệm e đi đong. Thế là nếu bọn mình ngoẻo, sẽ không còn được khâm liệm tử tế và chẳng có ai khóc tống tiễn vong hồn… - những người tù nói, giọng buồn.
Mình gặp giám thị trại, xin được thăm anh ta.
Giám thị hỏi:
- Trước kia anh có quen biết gì thằng này không?
Mình nói:
- Thưa cán bộ, không. Chúng tôi hay đi lùa trâu với nhau nên quen nhau thôi.
Giám thị đồng ý cho mình đến thăm, có lính đi kèm. Anh ta nằm cách ly trong gian lán dành cho người ốm nặng. Anh ta nằm như dán người xuống sạp nằm, hai hốc mắt sâu trũng, nhắm nghiền, chốc chốc lại lên cơn co giật…
Mình cúi xuống sát người anh ta, gọi hai ba lần, anh ta mới mở mắt, chăm chăm nhìn mình. Trên khoé môi rúm ró như thoáng một nét cười. Nước mắt mình tự nhiên trào ra rơi lã chã xuống mặt anh ta. Anh ta thè luỡi liếm mấy giọt nước mắt rớt trúng vành môi. Anh ta thều thào nói:
- Tuân ở lại, mình đi đây… Đưa bàn tay đây cho mình…
Anh ta nắm chặt bàn tay mình hồi lâu. Một tay anh ta rờ rẫm mớ giẻ rách khoác trên người, lấy ra một viên than củi, được mài tròn nhẵn như viên phấn viết. Với một sức cố gắng phi thường, anh ta dùng viên than viết vào lòng bàn tay mình một chữ nho. Chữ NHẪN.
Viết xong, anh ta hoàn toàn kiệt sức, đánh rớt viên than, và lên cơn co giật.
Người lính canh dẫn mình lên giám thị trại với bàn tay có viết chữ Nhẫn ngửa ra. Người lính canh ngờ rằng đó là một ám hiệu.
Giám thị hỏi:
- Cái hình nguệch ngoạc này có ý nghĩa gì? Anh mà không thành khẩn khai báo, tôi tống cổ anh ngay lập tức vào biệt giam.
Mình nói:
- Thưa cán bộ, thật tình tôi không rõ. Anh ta chỉ nói: tôi vẽ tặng cậu một đạo bùa để xua đuổi bệnh tật và tà khí.
Nghe ra cũng có lý, giám thị trại tha cho mình về lán…
Phùng Quán
________
Ghi Chú:
(*) THẰNG KHÙNG trong tù này là Cha Chính Vinh, tức là Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH (1912-1971), của Nhà thờ lớn Hà Nội. Bài viết của Phùng Quán đã kể lại chuyện thật những năm, những ngày cuối trong ngục tù của Ngài.
Xin mời đọc thêm (bài kèm theo dưới đây) tiểu sử của Cha Vinh để chúng ta biết thêm nhiều chi tiết về cuộc đời Ngài; và cũng để hiểu thêm gương phụng sự Chúa của Ngài….
Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH,
Cha chính Hà Nội, (1912 – 1971).
Tấm gương can trường.
Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH*
Cha Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh chào đời ngày 2 tháng 10 năm 1912 tại làng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
Cậu Vinh, một thiếu niên vui vẻ, thông minh, có năng khiếu nghệ thuật bẩm sinh về âm nhạc, ca hát. Cậu biết kính trên, nhường dưới, trong xứ đạo, ai cũng quý yêu. Cha xứ Ngọc Lũ thời đó là Cố Hương, một cha người Pháp tên là Dépaulis giới thiệu cậu lên học tại trường Puginier Hà Nội. Năm 1928, cậu học Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên, Phú Xuyên, Hà Tây.
Năm 1930, thầy Vinh được cố Hương dẫn sang Pháp du học. Năm 1935, thầy vào Đại Chủng viện St Sulpice, Paris. Ngày 20-6-1940, thầy được thụ phong linh mục ở Limoges.
Chiến tranh thế giới xảy ra, cha Vinh phải ở lại Pháp và tiếp tục học tập.
Ngài học Văn Khoa - Triết tại Đại Học Sorbone, học sáng tác và hòa âm tại Nhạc viện Quốc Gia. Ngài phải vừa học vừa làm. Vóc dáng nhỏ nhắn dễ thương của ngài đã làm cho nhiều người Pháp tưởng lầm ngài là phụ nữ nên cứ chào: “Bonjour Madame!”
Nhưng ẩn trong cái dáng vóc nhỏ bé đó là một tâm hồn rộng lớn, sau đôi mắt sáng là tính cương trực, dưới nụ cười là ý chí sắt son.
Sau khi tốt nghiệp cử nhân Văn Triết ở Sorbone, ngài gia nhập dòng khổ tu Biển Đức tại Đan Viện Ste Marie.
Sau 17 năm du học, năm 1947 cha Vinh về nước, nhằm góp sức xây dựng Giáo Hội Công Giáo Việt Nam vững mạnh về mọi mặt. Khi ấy, Đức cha François Chaize - Thịnh, Bề trên Giáo phận đã bổ nhiệm ngài làm cha xứ Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Ngài xin Bề trên lập dòng Biển Đức ở Việt Nam, nhưng không thành.
Cha Vinh, dù tu học ở Pháp nhưng luôn có tinh thần yêu nước, độc lập, không nệ Pháp. Năm 1951, Nhà Thờ Lớn Hà Nội tổ chức lễ an táng cho Bernard, con trai tướng De Lattre de Tassigni. Trong thánh lễ, tướng De Lattre kiêu căng đòi đặt ghế của ông trên cung thánh và bắt chuyển ghế của Trần Văn Hữu, Thủ tướng Việt Nam xuống dưới lòng nhà thờ. Vì lòng tự trọng dân tộc, danh dự quốc gia, cha Vinh cương quyết không chịu.
Tướng De Lattre rất tức giận, gọi cha Vinh tới, đập bàn quát tháo, đe dọa. Cha Vinh cũng đập bàn, lớn tiếng đáp lại, quyết không nhượng bộ, nhưng Thủ Tướng ngại khó nên tự nguyện rút lui. Sau vụ đó, để tránh căng thẳng, Đức Cha Khuê đã chuyển cha Vinh làm giáo sư của Tiểu Chủng Viện Piô XII, phụ trách Anh văn, Pháp văn, âm nhạc, triết học; ngài khiêm tốn vâng lời. Ngài cũng giảng dạy Văn Triết ở trường Chu Văn An.
Năm 1954, Đức cha Trịnh Như Khuê cho phép cha Vinh và cha Nhân đưa chủng sinh đi Nam, nhưng cả hai đều xin ở lại sống chết với giáo phận Hà Nội, dù biết hoàn cảnh đầy khó khăn, nguy hiểm. Đức Cha Khuê bổ nhiệm ngài làm Cha Chính, kiêm Hiệu Trưởng trường Dũng Lạc.
Ngài tổ chức lớp học giáo lý cho các giới, có những linh mục trẻ thông minh, đạo đức cộng tác, như cha Nguyễn Ngọc Oánh, cha Nguyễn Minh Thông, cha Phạm Hân Quynh. Lúc đầu, lớp học được tổ chức thành nhóm nhỏ tại phòng khách Tòa Giám Mục, về sau, con số người tham dự tăng dần, lớp học được chuyển tới nhà préau, và ngồi ra cả ngoài sân. Lớp học hiệu quả rất lớn, những tín hữu khô khan trở thành đạo đức nhiệt thành, ảnh hưởng lan tới cả giới sinh viên và giáo sư đại học, nhiều người gia nhập đạo. Sau chính quyền ra lệnh ngừng hoạt động vì lý do an ninh.
Khi cha Vinh đang làm Hiệu Trưởng Dũng Lạc, Chính phủ ra chỉ thị phải treo ảnh lãnh tụ thay vào ảnh Thánh Giá ở các lớp học. Ngài không tuyên đọc chỉ thị cũng không tháo bỏ Thánh giá, nên năm 1957, trường bị đóng cửa.
Thời bấy giờ, Đại học Y khoa Hà Nội thiếu giáo sư, nên đã đề nghị Đức Cha Khuê cử cha Vinh đến trường dạy La tinh. Nhiều sinh viên cảm phục ngài. Một hôm, Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Quốc đến thăm trường, thấy bóng dáng chiếc áo chùng thâm linh mục, ông nói với đoàn tháp tùng: “Đến giờ này mà còn có linh mục dạy ở Đại Học quốc gia ư?” Ít lâu sau trường Đại học Y khoa không mời cha dạy nữa.
Biết tài năng và kiến thức âm nhạc của ngài, nhiều nhạc sĩ ở Hà Nội tìm cha Vinh tham khảo ý kiến và nhờ xem lại những bản nhạc, bài ca họ mới viết.
Cha Vinh, một trong những nhạc sĩ tiên phong của Thánh nhạc Việt Nam, và là một nhạc sĩ toàn tài. Ngài chơi vĩ cầm và dương cầm thật tuyệt, chính ngài là người Việt Nam đầu tiên chơi vĩ cầm ở Hà Nội.
Ngài có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc, lại được học tập chu đáo nên đã sáng tác và để lại nhiều nhạc phẩm thánh ca tuyệt vời. Cha Vinh trình bày bản hợp tấu “Ở Dưới Vực Sâu” nhân cuộc đón tiếp phái đoàn Việt Nam do ông Hồ Chí Minh dẫn đầu sang dự Hội Nghị Fontainebleau năm 1946.
Ngài cộng tác với Hùng Lân sáng tác “Tôn Giáo Nhạc Kịch Đa-Vít.” Sáng tác nhiều nhạc phẩm lớn: “Mở Đường Phúc Thật,” “Tôn Vinh Thiên Chúa Ba Ngôi,” “Ôi GiaVi,” “Lạy Mừng Thánh Tử Đạo.” Ngài phổ nhạc cho các Ca Vịnh 8, Ca vịnh 16, Ca vịnh 23, Ca vịnh 41, Ca vịnh 115 và nhiều bài hát khác như Đức Mẹ Vô Nhiễm, Thánh Tâm Giêsu. Ngài còn viết những bài ca sinh hoạt: Sao Mai, Đời Người, phổ nhạc bài “Bước Tới Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan.
Hằng tuần ngài đến dạy nhạc, xướng âm và tập hát bên chủng viện Gioan. Cha Vinh có giọng nam cao, âm hưởng thanh thoát, lôi cuốn. Ngài tổ chức và chỉ huy dàn đồng ca trong nhiều cuộc lễ và rước kiệu lớn như cuộc Cung Nghinh Thánh Thể từ Hàm Long về Nhà Thờ Lớn Hà Nội.
Năm 1957, Nhà nước muốn tỏ cho dân chúng trong nước và thế giới thấy là ở Việt Nam đạo Công giáo vẫn được tự do hành đạo và tổ chức được những lễ nghi long trọng, tưng bừng. Dịp Lễ Noel, chính quyền tự động cho người đến chăng dây, kết đèn quanh Nhà Thờ Lớn, sau lễ họ vào đòi nhà xứ Hà Nội phải thanh toán một số tiền chi phí lớn về vật liệu và tiền công.
Năm 1958 cũng thế, gần đến lễ Noel, không hề hỏi han, xin phép, một số người của Nhà nước ngang nhiên đưa xe ô tô chuyển vật liệu, tự động bắc thang, chăng dây treo bóng điện màu trang trí ở mặt tiền và trên hai tháp Nhà Thờ Lớn. Cha xứ thời đó là cha Trịnh Văn Căn bảo vệ chủ quyền Giáo Hội trong khuôn viên cơ sở tôn giáo, không đồng ý, nhưng họ cứ làm. Để phản đối, cha Căn liền cho kéo chuông nhà thờ cấp báo, giáo dân kéo đến quảng trường nhà thờ rất đông ủng hộ cha xứ, hai bên to tiếng.
Cha Căn gọi Cha Vinh ra can thiệp, sau một hồi tranh luận không kết quả, cha Vinh kéo những người của Nhà nước đang leo thang chăng đèn xuống, rồi chính ngài leo lên thang, hai tay đưa cao trước mặt, hai bàn tay nắm lại, hai cườm tay đặt lên nhau, làm dấu hiệu còng tay số 8, và nói lớn:
“Tự do thế này à!”
Vụ giằng co lộn xộn kéo dài suốt buổi sáng, công cuộc trang trí không thành. Cha Căn, cha Vinh cùng một số giáo dân bị cơ quan an ninh thẩm vấn, đem ra xét xử. Tòa án Hà Nội tuyên án: Cha Trịnh Văn Căn, Chính xứ Nhà Thờ Lớn, người chịu trách nhiệm tổ chức lễ Noel năm 1958 chịu án 12 tháng tù treo.
Cha Chính Nguyễn Văn Vinh chịu án 18 tháng tù giam, với tội danh: “Vô cớ tập hợp quần chúng trái phép, phá rối trị an, cố tình vu khống, xuyên tạc chế độ, gây chia rẽ trong nhân dân” (!).
Sau phiên tòa, cha Vinh bị đưa đi giam ở Hỏa Lò, sau bị chuyển đi nhiều trại giam khác như Chợ Ngọc, Yên Bái, cuối cùng là trại “Cổng Trời”, nơi dành riêng cho các tù nhân tử tội.
Khi cha Vinh mới đến trại Yên Bái, ngài còn được ở chung với các tù nhân khác, nhiều giáo dân, chủng sinh, tu sĩ đến xin cha giải tội, vì thế ngài bị kỷ luật, phải biệt giam, bị cùm chân trong xà lim tối. Mấy tháng sau được ra, ngài lại ban phép giải tội. Cán bộ hỏi:
“Tại sao bị cùm, bị kỷ luật, được ra, anh tiếp tục phạm quy?”
Ngài đáp:
“Cấm là việc của các ông, giải tội là việc của tôi, còn sống ngày nào, tôi phải làm bổn phận mình!”
Ở tù đói rét là đương nhiên, lúc nào cũng đói, hằng ngày mỗi bữa một bát sắn độn cơm, ăn với lá bắp cải già nấu muối, khi chia cơm phải cân đong từng chút một... Một lần cha Vinh nhận được gói bưu kiện do cha Cương, quản lý Nhà Chung Hà Nội, gửi lên, trong đó có ít thức ăn, lương khô và vài đồ dùng cá nhân, ngài đem chia sẻ cho anh em trong nhóm, cả Công giáo lẫn lương dân, ăn chung, dùng chung. Anh em tù hình sự thân thương gọi ngài là “Bố.”
Ngay trong nhà tù, cha Vinh vẫn can đảm bảo vệ người bị áp bức, có lần một tổ trưởng đánh đập tù nhân, ngài lên tiếng bênh vực, liền bị người tổ trưởng này xông đến giang tay đánh, ngài đưa tay gạt, anh ta ngã khụy. Từ đó trong trại có tiếng đồn cha Vinh giỏi võ, mọi người phải nể vì.
Một cán bộ cao cấp ở Hà Nội lên Cổng Trời gặp cha Vinh, nói: “Đảng và Chính phủ muốn anh được tha về, nhưng với điều kiện phải cộng tác với linh mục Nguyễn Thế Vịnh (Chủ tịch Ủy Ban Liên Lạc Công Giáo). Nếu anh đồng ý, anh có thể về Hà Nội ngay bây giờ với tôi”. Ngài khẳng khái đáp: “Ông Vịnh có đường lối của ông Vịnh. Tôi có đường lối của tôi”.
Vì không khuất phục được ngài, nên bản án từ 18 tháng tù giam, không qua một thủ tục pháp lý án lệnh nào, đã biến thành 12 năm tù kiên giam, xà lim, biệt giam và án tử.
Năm 1971, khi ngài từ trần không ai được biết, một năm sau, chính quyền mới báo cho Đức Cha Khuê và cha Cương quản lý Nhà Chung: “Ông Vinh đã chết. Không được làm lễ áo đỏ cho ông Vinh!”
Suốt đời mình, trong mọi tình huống cha Chính Vinh làm tròn trách vụ của mình. Ngài đã mạnh mẽ rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho đức tin, khi thuận tiện cũng như khó khăn. Vượt mọi thử thách gian khó, không chịu khuất phục trước cường quyền, luôn trung kiên với Thiên Chúa và Giáo Hội.
Cha Chính Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh là một chứng nhân của thời đại, một linh mục Công Giáo Việt Nam can trường, hậu thế kính tôn và ghi ân ngài.
TGP Hà Nội
Nguồn: Vietcatholic.net và Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (http://hdgmvietnam.org)
Hồi ký cựu Đại sứ Pháp Mérillon
Bịp bợm lịch sử lớn nhất hải ngoại

Vụ bịa đặt lịch sử động trời này đã được phổ biến sâu rộng tại Hải ngoại từ 1989 tức 24 năm qua, cho tới những năm gần đây trên truyền thông, báo chí đài phát thanh. Ảnh hưởng của nó rất lớn, nhiều vị đã từng giữ chức vụ lớn như Thủ tướng, Tổng trưởng, Tướng lãnh, Đại tá, các vị khoa bảng tiến sĩ, các nhà nghiên cứu sử… cũng đã bị mắc lừa. Vụ đại bịp này đã bị nhiều người phát hiện, lật tẩy từ 1996, đã có nhiều bài viết nghi ngờ tính xuyên tạc lịch sử của nó . Đầu năm 2009 tôi đã viết vấn đề này trong bài “Saigon et moi Một cuốn Sách ma”.
Từ 2008 trở về trước, hàng năm đến tháng tư đen, báo chí, đài phát thanh say sưa cho phổ biến một tài liệu quí giá gọi là Những Ngày Cuối Cùng Của Việt Nam Cộng Hòa (NNCCCVNCH), bản dịch cuốn hồi ký Saigon et moi (Saigon và tôi) của cựu đại sứ Pháp tại Việt Nam trước 30/4/1975 Jean M. Mérillon, dịch giả Vũ Hải Hồ (xin đừng nhầm với Những Ngày Cuối của VNCH do Nguyễn Kỳ Phong dịch từ bản tiếng Anh The Final Collapse của Cao Văn Viên). Khoảng bốn năm trở lại đây (2009-2012) bản dịch này tương đối ít xuất hiện nhưng nay tự nhiên nó lại được phổ biến nhiều trên mạng vì thế tôi trở lại viết về đề tài này.
Diễn tiến
Để cho vấn đề được dễ hiểu, trước hết tôi xin kể sơ diễn tiến vụ bịa đặt này. -Năm 1989, một tác giả tên Vũ Hải Hổ viết bài Những Ngày Cuối Của VNCH dài gần 20 trang đánh máy, nói là bản dịch cuốn “Saigon et moi” của cựu Đại sứ Pháp Mérillon tại Việt Nam hồi 1975 và cho phổ biến.
- Tháng 4 năm 1991, nguyệt san Diễn Đàn Việt Nam số 4 in tại miền nam Tây Đức đã cho đăng bản dịch kể trên (tức NNCCCVNCH). Tòa soạn cũng cho biết Ông Mérillon, đã ra mắt cuốn hồi ký Saigon et Moi tại khách sạn La Fayette, quận 6, Paris trước một số cử tọa thượng thặng như 3 vị cựu Thủ tướng Giscard D’Estaing, Pierre Mesmer, Jacques Chirac, Jacques Hunzinger (Ủy viên ngoại vụ đảng Xã Hội Pháp), Louis Mermas (Chủ tịch Hạ Viện) v.v… Theo một nguồn tin được biết là cuốn sách này đã bị Bộ Ngoại Giao cho lệnh thu hồi. Rút cuộc, nay người ta chỉ được thấy một bản tóm tắt dưới đây do một nhân vật tình cờ có được cuốn đó.
- Từ đó bản dịch cuốn sách này được đăng đi đăng lại tại Hải ngoại vào dịp tháng tư đen hàng năm. Năm 1989 nhà sử học Hoàng Ngọc Thành nghe tiếng cuốn “Saigon et moi” và nhân dịp qua Paris tìm mãi không ra quyển sách đó, ông đành liên lạc với chính tác giả Mérillon lúc đó đang là Đại Sứ Pháp tại Mạc Tư Khoa. Merillon trả lời và phủ nhận ông không phải là tác giả Saigon et moi và không viết bất cứ cuốn sách nào về VN.
- Năm 1994 ông Hồng Ngọc Thành và Bà Thân Thị Nhân Đức xuât bản cuốn “Những Ngày Cuối Cùng Của Ngô Đình Diệm”, tại trang 622 và 623 (cuối sách) phần Phụ Lục có bản phóng ảnh thư và chữ ký của ông Mérillon, đề ngày 12/11/1990, đại sứ Pháp tại Nga, phủ nhận không phải là tác giả Saigon et moi. (quí vị có thể vào thư viện coi)
- Tác giả Ngự Sử ngày 15/4/1996, đăng bài trên báo Ngày Nay tại Houston Texas cho biết bản dịch Saigon et moi của Vũ hải Hồ chỉ là trò cá tháng tư, bịa đặt.
- Năm 1997 Đại Nam cho xuất bản cuốn Nước Việt Nam Cộng Hòa Bị Bức Tử, Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa dịch từ cuốn La Mort Du Vietnam của Tướng Vanuxem.
Phần cuối sách ông Dương Hiếu Nghĩa cho in thêm vào bản dịch Saigon et moi của Vũ Hải Hồ (tức NNCCVNCH) với lời giới thiệu rất trân trọng.
Bản dịch cuốn sách “ma” này được tiếp tục phổ biến tại hải ngoại, nhiều đài phát thanh tiếng Việt đọc tài liệu say mê, nhiều báo cho đăng kèm hình ảnh.
Khoảng năm 2005, 2007… một bức thư của Nguyễn Trần Việt được phổ biến trên mạng chỉ trích NNCCVNCH của Vũ hải Hồ là bịa đặt, ông cho biết trong cuốn Những Ngày Cuối Của Ngô Đình Diệm (tác giả Hồng Ngọc Thành ) trang 622-623 có đăng thư của cựu đại sứ Mérillon phủ nhận ông không phải là tác giả cuốn sách trên, ông không viết bất cứ cuốn sách nào về VN cả.
Khoảng 2008, 2009 ông Trịnh Bá Lộc, cựu sĩ quan tùy viên của Tướng Dương Văn Minh đã lên tiếng trên trang mạng Take2Tango phủ nhận NNCCVNCH, bản dịch Saigon et moi là bịa đạt. Ông Lộc cho biết ông Dương Văn Minh không hề có liên lạc với Mérillon trong tháng 4/1975.
Khoảng năm 2000 tôi có đọc một đoạn của bản dịch Saigon et moi trên một tờ báo giấy, họ đăng một phần ngắn thôi nên chưa hiểu rõ. Năm 2008 tôi được đọc đầy đủ toàn bài trên một tờ nguyệt san tại Mỹ, thú thật khi đọc xong hai lượt tôi nghi ngờ ngay.
Trước hết là giọng văn quá bình dân, rẻ tiền; một người có trình độ như ông Đại sứ Pháp đâu có viết lách kiểu ba xu như báo lá cải thế này:
Trích đọan gần cuối bài.
Những gì mà ông Dương văn Minh hứa với chúng tôi đã như nước đổ lá khoai. Bao nhiêu kế họach, bao nhiêu công trình vận động, phút chốc ông Minh làm tiêu tan hết. Lại còn dối gạt các tướng lãnh yêu nước khác, gây ra sự chậm trễ phản công giờ chót, bởi đa số đều tưởng ông Ðại Tướng có phép lạ, sáng chế được công thức ngưng bắn tại chỗ để phe quốc gia không bị thua trong nhục nhã. Thâm ý của ông Dương văn Minh là muốn đầu hàng, sau đó nồi ăn, hưởng cho đến già” (ngưng trích)
Có những đoạn Vũ Hải Hồ (VVH) tỏ ra rất ấu trĩ, hiểu biết của ông ta về tình hình chính trị quân sự 1975 thấp kém tồi tệ như sau:
Quân số Biệt khu thủ đô có khả năng tác chiến, có vũ khí trong tay ước được 100.000. Căn cứ vào vũ khí đạn dược, hỏa lực nặng, tiếp liệu, và tinh thần chiến đấu thì dân Sài Gòn có thể phòng thủ, cầm cự được chừng 7 tháng” (ngưng trích)
Ta thấy VHH y như người từ cung trăng rớt xuống, tháng 4/1975 đạn trong kho đã cạn chỉ đủ xài một, hai tuần (Cao Van Viên Những ngày cuối VNCH trang 92). Nói càn nói láo như thế mà không biết ngượng miệng, càng nói ông ta càng lòi ra cái dốt của mình về quân sử, về tình hình 1975.
Phải nói VHH là tay bịp vào loại siêu, trước hết ông ta nói dịch từ một cuốn sách Pháp khiến nhiều người tin ngay. Kế đó cho biết cuốn này đã được tác giả Merillon ra mắt tại Paris, có các ông cựu thủ tướng Pháp tham dự nhưng sau đó bị Bộ ngoại giao cấm và tịch thu hết, chỉ con bản dịch này. Như thế nay dù có muốn tìm bản chính cũng không được. Nhưng khôn mà không ngoan, trong bản dịch Vũ hải Hồ lại để lộ ra những cái “dốt đặc” của ông ta về tình hình 1975, lại nữa vì “nổ” quá nó biến thành những trò hề hạ cấp như sau:
Lời ông Ðại sứ.
Chẳng là vì chúng tôi có đủ tin tức tình báo nói rõ có năm vị tướng lãnh Nga có mặt trong Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ CHí Minh tại chiến trường Long Khánh. Không lẽ các vị ấy chỉ ngồi uống trà nói chuyện chơi với Văn Tiến Dũng hay sao?“ (ngưng trích)
Phải nói là quá hạ cấp, thật chẳng đáng bàn; bởi thế đã có nhiều người từ 1995 tới nay đánh giá bản dịch NNCCCVNCH chỉ là trò cá tháng tư, trò ma trò quỉ.
Xin mời quí vị nghe tiếp vở tuồng rẻ tiền ba xu dưới đây.
Trước khi lập chính phủ giả định tôi xét phản ứng của Nga Sô và Trung Cộng. Nước nhiệt thành đầu tiên là Trung Cộng. Thủ tướng Chu Ân Lai điện cho Bộ ngọai giao Pháp là sẵn sàng hợp tác vơí Pháp để xây dựng một chánh thể trung lập tại miền Nam …
Mao thì ghét cay ghét đắng Lê Duẫn thân Nga thành thử điều kiện Bắc Kinh đặt ra là phải hạ bệ đảng viên thân Nga, cầm chân quân Bắc Việt để dành cho MTMN tiến vô Sài Gòn… Thực ra nền trung lập đối với chúng tôi chỉ coi như tạm thời ngăn cản dòng nước lũ cho VNCH tạm dung thân.
Phần chúng tôi là phải đáp lời hứa là thành lập chính phủ liên hiệp gồm có ba thành phần: Quốc gia, Ðối lập, MTGPMN.
Chu Ân Lai đưa ra một danh sách: Trương Như Tảng, Nguyễn thị Bình, Trần văn Trà…”. (ngưng trích)
Vừa đọc tôi vừa buồn cười nôn ruột trước sự dốt nát thậm tệ của người bịa sử, chẳng có một tí hiểu biết gì về CS.
Xin trích tiếp
Lời ông Đại sứ
- Thưa Ðại tướng ông Nguyễn văn Thiệu để lại quân đội nay còn bao nhiêu người?…
Ðại tướng Dương văn Minh trả lời ông chưa nắm vững.
- Thưa Ðại tướng, Đại tá tùy viên quân sự của chúng tôi sẽ phúc trình cho Ðại tướng biết sau. Theo chúng tôi quân lực VNCH còn đủ khả năng chiến đấu thêm 10 tháng nữa, nếu các nhà quân sự chịu thay đổi chiến thuật từ qui ước sang du kích chiến…” (ngưng trích )
Như thế nhà dịch giả VHH càng phịa càng lòi sự hiểu biết trĩ của mình về tình hình quân sự tháng tư 1975. Trong khi BV đã đưa cả 5 quân đoàn (1, 2, 3, 4, 232) và hàng chục trung đoàn độc lập với hỏa lực dồi dào để bao vây Sài Gòn. VNCH chỉ còn 3 sư đoàn trong đó sư đoan 18 bị sứt mẻ, đạn dược gần cạn kiệt thì chiến đấu được mấy ngày. Người ta càng thấy rõ giọng văn diễu cợt trơ trẽn của một người dốt nát.
Xin trích tiếp kế hoạch thứ ba của ông Đại sứ dưới đây để chúng ta coi Vũ hải Hồ coi thường sự hiểu biết của độc giả như thế nào:
Cùng lúc mời thành viên MTGPMN hợp tác trong chánh phủ trung lập, Ðại tướng tuyên bố sẵn sàng bang giao với Trung Quốc
Trung Quốc sẽ chụp lấy cơ hội này để cử Ðại sứ đến Sài Gòn ngay sau 24 giờ đồng hồ cùng với tiền viện trợ 420 triệu Mỹ kim là tiền sẽ trao cho Hà Nội mà nay trao cho chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc. Kế họach này đánh phủ đầu Hà Nội bằng cách đưa đứa con nuôi của họ là MTGPMN lên nắm chính quyền… (ngưng trích)
Tôi cũng thông báo cho ông Dương Văn Minh hay là tôi đã liên lạc với thành viên MTGPMN. Hầu hết đều tán thành giải pháp giúp họ thoát khỏi vòng quĩ đạo của Bắc Việt” ( ngưng trích)
Anh đại bịp này chẳng cần biết gì về công pháp quốc tế: Trung Quốc không có bang giao với VNCH mà lại cử người tới Sàigon trong 24 giờ đồng hồ và mang theo một thùng 420 triệu Ðô la tiền mặt trong lúc lửa đạn tơi bời !!!! Trong những ngày cuối cùng của VNCH, ông Ðại sứ chuẩn bị chui xuống hầm là vừa, thời giờ đâu mà đi liên lạc với MTGPM. Bắc Việt và MTGP chỉ là một nhưng hiểu biết của VH Hồ về CS thấp kém quá nên mới phóng ra những đọan khôi hài nói trên.
Thưa quí vị, tôi không dám trích nhiều vì sợ quí vị cười quá sẽ bể bụng như những đoạn dưới đây
Nước Pháp sẽ trao 300 triệu quan chuyển tiếp từ chế độ VNCH giao cho tân chính phủ để nuôi sống giải pháp trung lập. Chúng tôi sẽ quyên góp các nước bạn đồng minh Âu Châu một ngân khoản độ 290 triệu cho các chương trình viện trợ kinh tế, văn hóa, phát triển nông nghiệp, nhân đạo. Tổng cộng cũng gần bằng viện trợ của Hoa Kỳ trước đây” (ngưng trích)
Trích thêm. “Ngày 27-4-1975
Chiều ngày 27-4-75 tôi nhận được tin rất phấn khởi: Tướng Trần văn Trà bắn tin nhờ tôi cấp tốc thành lập chánh phủ trung lập và ông gửi gấp hai nhân vật thân tín của ông vào chánh phủ là là bà Nguyễn thi Bình và ông Ðinh Bá Thi…
Tùy viên quân sự của chúng tôi cũng xác nhận là hai sư đoàn tập kết của Trần Văn Trà sẽ vào tiếp thu Sài Gòn, phỗng tay trên của đạo quân Văn Tiến Dũng!!!”
(ngưng trích)
Quí vị xem đoạn dưới để biết nhà dịch giả nói láo tới cỡ nào:
Kinh nghiệm bọn Khmer Đỏ chiếm Phnom Penh ngày 17 tháng 4/75, đã xảy ra tình trạng chém giết hỗn loạn nguy hiểm đến sinh mạng Pháp kiều và các phóng viên ngoại quốc, cần Tòa Đại sứ Pháp che chở. Vì vậy ngày 19/4/75 tôi đã yêu cầu Bộ Ngoại Giao Pháp tăng phái cho chúng tôi một trung đội thủy quân lục chiến từ Nouvelle Calédonia đến Sài Gòn để bảo vệ sứ quán”. (ngưng trích)
Từ đầu chí cuối bản dịch cuốn Saigon et “ma” chỉ toàn là chuyện láo khoét, nhà dịch giả nói láo không thể tưởng tượng nổi, nói láo hơn Việt Cộng.
Sau khi đã đọc hai lượt và biết rõ thực chất của vở tuồng hề bịa đăt này, tôi xem thêm các bài của các tác giả Nguyễn Trần Việt, Ngự Sử, Vũ Ánh, Trịnh Bá Lộc… những người phủ nhận NNCCCVNCH chỉ là bịa đặt. Khoảng đầu năm 2009 tôi viết bài “Saigon et moi Một Cuốn Sách ma” và đã cho phổ biến trên truyền thông báo chí. Từ đó vụ bịa sử này tương đối ít được phổ biến nhưng chẳng hiểu sao nay lại thấy xuất hiện đầy trên mạng.
Nguyên nhân
Thử hỏi vì đâu mà có vụ bịa đăt lịch sử này? Trước hết tác giả của nó dựa theo những tin đồn. Ông Cao Văn Viên trong cuốn Những ngày cuối của VNCH trang 218 cho biết tại Sài Gòn những ngày 7/4 và 10/4 /1975 có tin đồn một cuộc dàn xếp tình hình chính trị của VNCH qua tay người Pháp đang được nói đến. Nhưng ngay chính ông Cao Văn Viên cũng không biết gì hơn về những sự kiện này. Ngoài ra chừng 10 ngày trước khi Sài Gòn sụp đổ, báo chí đăng tin có sự vận động của quốc tế để tránh cho Sài Gòn khỏi trở thành bãi chiến trường.
Nói về tin đồn thì Sài Gòn trước và sau 30/4/1975 có vô số những giai thoại như thế. Sau ngày 30/4 khi mà tấm hình Bác Hồ to tổ bố đã treo trước tầng hai dinh Độc Lập, phía trên có hàng chữ “Hồ Chủ Tịt Vĩ Đại Sống Mãi Trong Sự Nghiệp của Chúng Ta” thế mà người ta vẫn cứ đồn ầm lên nào là Sài Gòn sẽ như Hồng Kông, nào là miền nam sẽ trung lập… vân vân…
Vào khoảng 24, 25/4/1975 sau khi hai ông Thiệu, Khiêm đã ra đi, Tổng Thống Trần Văn Hương vừa nói vừa khóc trước quốc dân trên đài phát thanh Sài Gòn. Ông than thở về tình hình bi đát.
Vùng I và II hoàn toàn tan rã, Vùng III và IV nhiều sứt mẻ. Rồi mai đây những trận đánh sấm sét sẽ đổ xuống và rồi Thủ đô Sài Gòn sẽ thành cái núi xương sông máu. Tôi đã nghĩ đến cái cảnh núi xương sống máu ấy và đã bàn với anh Dương văn Minh.
Tôi có nói với ảnh như vầy “Bây giờ tôi bàn giao chính quyền cho anh, nhưng bàn giao để anh tìm cái giải pháp hoà bình cho đất nước chứ bàn giao cho anh để anh đầu hàng thì bàn giao làm gì?”
Chiều 28/4/1975 Ông Trần Văn Hương bàn giao quyền Tổng Thống cho Dương Văn Minh, 5 máy bay địch ném bom phi trường Tân Sơn Nhất, Lúc 7 giờ chiều đài BBC cho biết
Hôm nay tại Sài Gòn ông Dương Văn Minh được cử lên giữ chức vụ quyền Tổng thống thay thế ông Trần Văn Hương để chuẩn bị cho một cuộc đầu hàng”.
Sự thật lịch sử đã được nói huỵch toẹt trên đài phát thanh vì miền nam VN lúc này chẳng còn gì được gọi là bí mật.
Tình hình cuối tháng 4/1975 đã quá rõ ràng: CSBV dốc toàn lực bao vây Sài Gòn, tổng Cộng khoảng gần 20 sư đoàn gồm 5 quân đoàn (1,2,3,4, 232) và 6 trung đoàn đặc công, nhiều trung đoàn độc lập, hỏa lực địch rất mạnh. Trung Tướng Toàn tổ chức năm tuyến phòng thủ (Tây Bắc, Bắc, Đông Bắc, Đông, Nam) bảo vệ Sài Gòn, tổng cộng VNCH có 3 sư đoàn và các đơn vị di tản, quân số ta thiếu hụt, đạn chỉ còn đủ đánh một, hai tuần.. Tối 29/4 Tướng Toàn tẩu vi thượng sách cũng như nhiều vị quan to khác, lý do người ta biết chắc sẽ thua, ở lại cũng chết.
Quí vị đã xem cuốn phim Bẩy Người Hiệp Sĩ của Nhật quay năm 1954, 40 tên cướp tấn công một thôn làng cho tới người cuối cùng bởi vì chúng đã hết lương thực, trước sau gì cũng chết. CSBV đã nướng một triệu cán binh để chiếm cho được “vựa lúa miền nam” cũng y như 40 tên cướp trong phim, nay họ nắm chắc phần thắng trong tay chẳng lẽ lại thương thuyết để rồi rút về miền Bắc, thật khôi hài hết nước nói. Những tin đồn về thương thuyết nghe chơi cho vui thôi, nó xuất phát từ những người không có một tí kinh nghiệm và hiểu biết gì về CS, quá khứ đã cho ta thấy chúng chỉ chịu thương thuyết khi nào ở thế yếu.
Hậu quả
Không những truyền thông, báo chí, đài phát thanh đã bị gạt mà ngay cả các vị quan to, các nhà nghiên cứu lịch sử, chính trị cũng bị lừa. Thưa quí vị tôi không có ác ý nhưng chỉ nêu ra đây một trường hợp số cụ thể: Năm 1997 Đại tá Dương Hiếu Nghĩa xuất bản cuốn “Nước VNCH Bị Bức Tử” tức bản dịch cuốn La Mort du Vietnam của Tướng Vanuxem. Phần sau cuốn sách, ông Đại tá Nghĩa cho in nguyên văn bản dịch cuốn Saigon et moi (tức NNCCCVNCH) với những lời giới thiệu trang trọng, ông có ghi.
Và cho đến giờ nầy không còn ai tìm thấy tung tích quyển sách nầy nữa ở bất cứ thư viện nào bên Pháp, kể cả Thư Viện Quốc Gia Pháp ở Paris, cũng như sau nầy chính Ông Mérillon đã đính chánh ông không phải là tác giả của quyển “Saigon Et Moi” hay bất cứ quyển nào khác viết về Việt Nam. Tuy nhiên các báo Việt Nam tại Pháp lúc bấy giờ đều có đăng bản tóm lược của quyển sách nầy, mà bản tóm lược của ông Vũ Hải Hồ tại Paris là một. Hy vọng một ngày nào đó nếu có duyên may tìm được quyển sách quý “Saigon Et Moi” thì chúng tôi sẽ xin tiếp tục dịch để cống hiến cho quý vị độc giả. Bây giờ thì xin giới thiệu quý vị phụ bản đặc biệt nầy, trích từ tập san ĐA HIỆU (của Hội cựu sinh viên Võ bị Đà Lạt)”. (trang 114)
Thật là mâu thuẫn, chính ông đã nói cựu Đại sứ Mérillon phủ nhận không phải là tàc giả cuốn Saigon et “ma” và không viết bất cứ cuốn nào về VN mà ông vẫn tin là cuốn sách này có thực, còn coi là cuốn sách quí, nó là cuốn sách ma rồi còn gì nữa. Một sĩ quan cao cấp, có trình độ như ông đã bị lừa mà còn phổ biến cái trò ma quỉ này để cho bao nhiêu người khác bị lừa theo.
Ngoài ra một số các nhà nghiên cứu khác cũng bị lừa nhưng ít thôi, ông Dương Hiếu Nghĩa là bị gạt nhiều nhất.
Trang 218 Cuốn Tâm Tư Tổng Thống Thiệu, GS Nguyễn Tiến Hưng viết:
“… Có ngờ đâu cái tên của ông (Mérilllon) đã dính rất chặt vào những diễn biến tại Sài Gòn vào giờ thứ hai mươi tư. Chính ông đã kể lại rất rõ ràng những cố gắng của ông trong cuốn hồi ký ‘Saigon et moi’, nhưng vì một lý do nào đó , cuốn sách đã bị thu hồi ngay sau khi xuất bản (1983) nên ít ai được đọc .”
Và cuối trang 218 GS nói.
Cựu Thủ tướng Cẩn cũng kể lại là: … “Ngày 17 tháng 4 khi tôi tiếp Đại sứ Mérillon thì ông thao thao bất tuyệt bênh vực giải pháp Dương Văn Minh. Sau này tập hồi ký của Mérillon có tiết lo thêm rằng ngày 18 tháng 4 Đại Sứ Martin chính thức nói với ông ta là đối với chính quyền Hoa Kỳ, trách nhiệm người Mỹ tại Việt Nam đã chấm dứt”
Quí vị là nhà dịch giả, nhà nghiên cứu, khi nghe tin cuốn sách Saigon et “ma” bị thu hồi tại Pháp thì phải đặt câu hỏi.
-Nước Pháp tự do nhất thế giới có thể thể có chuyện tịch thu sách hay không?
- Trong trường hợp đặc biệt nếu cuốn sách đó tiết lộ “Bí mật quốc gia” vào loại “động trời” thì chính phủ Pháp cũng phải thu hồi cả cái bản dịch của Vũ Hải Hồ (tức NNCCCVNCH) chẳng lẽ cứ để ông ta cho phổ biến khơi khơi cái bí mật “động trời” ấy trên toàn thế giới hay sao?
- Khi cuốn Saigon et “ma” được phát hành ngoài các tiệm bên Tây thì ít ra cũng phải có mươi, mười lăm người Việt bên ấy mua được mỗi người một cuốn, chẳng lẽ chỉ có một mình ông VH Hồ mua được còn bà con ta chịu thua không biết nó bán ở đâu? Chẳng lẽ nó bán chạy quá bà con ta chậm chân không mua được? chẳng lẽ bà con ta bên ấy không ai biết tiếng Tây nên không mua chỉ có một mình ông VHH biết tiếng Tây nên mới mua?
Chuyện diễu vô lý như thế mà sao quí vị có thể tin được?
Ngoài ra nhiều nhà nghiên cứu khác cũng bị lừa nhưng ít thôi: (Trung tướng) Nguyễn Văn Toàn, (Đại tá) Lê Bá Khiếu, (Tiến sĩ) Nguyễn Văn trong cuốn “Những Sự Thật Chiến Tranh Việt Nam 1954-1975”, in năm 2002 cũng có nói tới Saigon et “ma” nhưng tương đối ít.
Năm 2009 khi viết xong bài Saigon et moi Một Cuốn Sách Ma, tôi có gửi cho các thân hữu đọc, sau đó ông Trần đông Phong (tác giả cuốnVNCH, 10 Ngày Cuối Cùng, in 2005) có gửi thư trả lời tôi nói:
- Chết tôi rồi anh ơi, tại tôi tin người ta, người bạn đưa cho tôi mấy dữ kiện của NNCCCVNH, tôi lỡ cho vào tác phẩm, không biết tính sao bây giờ?
Nhưng ông Trần Đông Phong cũng bị lừa ít thôi, chỉ thấy chút chút trong một, hai trang. Nguyên do người ta quá dễ tin và chỉ thích những chuyện bí mật nên mới bị lừa.
Cách đây chừng bốn năm, một ông bạn (hiện là GS, Khoa Trưởng tại Mỹ) nói ông có biết một ông Việt Nam làm luận án Tiến sĩ sử đã tham khảo nhiều trong tài liệu NNCCCVNCH, sau ông đã bỏ nó ra.
Báo giấy, trang mạng, đài phát thanh Hải ngoại… từ hai chục năm qua bị lừa gạt vô số, cách đây mấy năm KBC Hải Ngoại còn đăng lại kèm theo những hình ảnh trang trọng, cả Hải ngoại bị lừa gạt suốt hơn hai chục năm qua.
Phải nói nhà dịch giả Vũ hải Hồ là người có tài bịp quá giỏi nhưng có điều nhà dịch giả thật đáng trách.
Lịch sử nước nhà là chuyện thiêng liêng, đem lịch sử đất nước ra làm trò hề trò cười là điều vô ý thức.

Trọng Đạt
Nguyên do chính khiến VNCH sụp đổ 1975

Đào Văn

Tướng Westmoreland tuyên bố (tại Nam Cali tháng 9, 1995), vì mục tiêu chiến lược của Mỹ, nên ông ta không được tiến quân ra Bắc, không được phá đường mòn HCM[23]. Vậy đâu là mục tiêu chiến lược của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam?

Nguồn: Center of Military History (1983)
Để trả lời câu hỏi trên người viết đã tìm kiếm tài liệu, đúc kết thành bài viết này để gửi đến người đọc hầu có chứng cớ dễ dàng đưa ra nhận định về vần đề mà Tướng Westmoreland nêu ra vào năm 1995. Nhưng trước khi bàn đến đề tài trên, người viết xin bổ túc thêm thông tin về câu hỏi đã nêu “Ai ra lệnh rút quân khỏi Pleiku-Kontum 1975”[1]. Các đoạn văn viện dẫn, được trích từ cuốn The Final Collapse của tác giả Cao Văn Viên.

Về nguyên nhân VNCH bị sụp đổ, trong cuốn The Final Collapse tác giả tường thuật khá chi tiết nguyên nhân xa gần dẫn đến sự thất bại của cuộc chiến Việt Nam, thí dụ như tin tức về hậu cần, thiếu thiết bị quân sự cung ứng cho chiến tranh, mà theo tác giả cũng là nguyên do đẫn đến sự thất bại. Và còn nguyên do nào khác dẫn đến việc VNCH bị sụp đổ hay không, xin đọc hết bài viết này với tài liệu dẫn chứng trích từ tài liệu Tối Mật Tòa Bạch Ốc, giải mật và công bố 2002, và The Pentagon Papers, tài liệu tối mật về chiến tranh Việt Nam được Bộ Quốc Phòng giải mật và công bố vào ngày 13 Jun. 2011 [2] sẽ rõ.

Một đoạn văn trong tác phẩm của Đại Tướng Viên viết:

Không ai thấy rõ vấn đề hơn tổng thống Thiệu. Khi người khách cuối cùng của quốc hội Hoa Kỳ rời Việt Nam, tổng thống Thiệu biết ngay VNCH không còn hy vọng gì về khoản tiền 300 triệu quân viện phụ cấp. Tổng thống Thiệu cũng biết quân viện cho VNCH trong tương lai sẽ ít hơn chứ không thể nhiều hơn và tổng thống Thiệu dựa nhiều quyết định của ông vào những suy luận đó: những gì ông ta cương quyết từ chối hành động trong suốt hai năm qua, bây giờ ông phải làm. Tổng thống Thiệu quyết định tái phối trí quân đội dựa vào phần đất VNCH có thể bảo vệ được.
[...]
Với những quyết định có sẵn, ngày 11 tháng 3-1975 một ngày sau khi Ban Mê Thuột bị tấn công tổng thống Thiệu mời thủ tướng Trần Thiện Khiêm, cố vấn an ninh quốc gia, trung tướng Đặng Văn Quang và tác giả đến dinh tổng thống để ăn sáng và bàn luận. Sau khi bữa ăn được dọn ra và các người hầu rời bàn, tổng thống Thiệu lấy ra một bản đồ nhỏ và bắt đầu cuộc thảo luận với những tường trình về tình hình chiến sự mà ba người khách đã hoàn toàn tường tận. Nói xong về tình hình chiến sự, tổng thống Thiệu đi ngay vào vấn đề với quyết định:

Với khả năng và lực lượng chúng ta đang có, chắc chắn chúng ta không thể bảo vệ được tất cả lãnh thổ chúng ta muốn bảo vệ. Như vậy, chúng ta nên tái phối trí lực lượng và bảo vệ những vùng đông dân, trù phú, vì những vùng đất đó mới thật sự quan trọng.”[3]

Trong cuốn sách The Final Collapse có thuật lại hai phiên họp trước khi rút quân khỏi Pleiku và Kontum. Đó là phiên họp ngày 11 tháng 3 năm 1975, xác nhận có sự hiên diện của TT Thiệu, TT Khiêm, Tướng Quang và Tướng Viên, coi như đó là phiên họp trù bị. Còn phiên họp tại Cam Ranh ngày 14 tháng 3 năm 1975, có ghi (đoạn này).

Có nghĩa là các nhân vật có mặt trước đó 3 ngày thời đều tháp tùng Tổng Thống Thiệu đến họp tại Cam Ranh ngày 14.3.1975[4]

Với phần trích dẫn bổ túc tin tức của Tướng Viên nêu trên hy vọng vần đề khá rõ rệt, ai phải chịu trách nhiệm về vụ ra lệnh rút quân, và Thủ Tướng TT Khiêm biết hay không biết việc rút quân tưởng đã sáng tỏ, người viết bài xin nhường bạn đọc thẩm định. (Cuốn sách của Tướng Viên nêu trên phát hành 1983).

Về tinh thần chiến đấu… tác giả Cao Văn Viên nhận định:

Nghĩ lại việc đã qua, câu hỏi là miền Nam có sống sót nếu chúng ta không áp dụng kế hoạch tái phối trí lực lượng quân sự hay không. Bây giờ nói thì sự đã rồi, nhưng tác giả tin miền Nam có nhiều cơ hội hơn nếu không thực hiện tái phối trí. Tinh thần chiến đấu của quân đội VNCH và nhân dân bị hủy diệt là kết quả trực tiếp của kế hoạch tái phối trí. Không có kế hoạch đó, có lẽ quân đội của chúng ta không tan rã nhanh như vậy.”

Nhưng có tinh thần chiến đấu mà không có phương tiện thì…

Đó là cái nhìn về phương diện quân sự trong giai đoạn ngắn hạn. Sau Ban Mê Thuột tác giả nghĩ CSBV sẽ làm áp lực để có được một chánh phủ liên hiệp; và tổng thống Thiệu có thể chấp nhận. Nhưng dù chuyện đó có xảy ra, đó chỉ là một hoàn cảnh hòa hoãn tạm bợ nhất thời: cộng sản sẽ tiếp tục tìm cách lấy thêm đất qua chiến thắng quân sự để bắt VNCH nhượng bộ thêm về chính trị. Liệu VNCH có chịu nỗi những áp lực đó trong một thời gian dài hay không” Tác giả nghĩ câu trả lời sẽ tùy thuộc vào số quân viện của Hoa Kỳ cung cấp cho VNCH. Một sự thật không thể chối cãi là quân đội VNCH sẽ hết đạn và nhiên liệu vào tháng 6-1975 nếu không nhận được số quân viện phụ trội. Và một quân đội sẽ không thể nào chiến đấu nếu không có những trang bị cần thiết để chiến đấu.”[3]

Phương tiện phục vụ cho quân đội thì lại bị lệ thuộc vào nước ngoài, vì VNCH không có khả năng tự lực… Trong khi đó thì Quốc Hội Mỹ cắt ngân khoản viện trợ quân sự… Đoạn văn Tướng Viên viết về khả năng quân đội VNCH còn cầm cự nổi trong ngắn hạn nếu không triệt thoái Pleiku và Kon tum, nhưng trong dài hạn thì cần có viện trợ quân sự từ phía Mỹ. Điều này phù hợp với ước tính tình báo cuả viên chức DIA, là nếu có đủ phương tiện quân sự thì quân Bắc Việt khó có thể mở cuộc tổng tấn công trong thời gian khoảng 6 tháng tới.


Nguồn: Michael B. Petersen / DIA
Đoạn văn trên được trích từ cuốn The Viet Nam Cauldron[5] của Michael B. Petersen do cơ quan Tình Báo Quân Đội Mỹ công bố năm 2012. Trong tài liệu này cũng bàn về sự cắt giảm viện trợ cho VNCH phù hợp với những chi tiết mà Tướng Viên nêu ra.

Còn nguyên nhân nữa làm Sàigòn thất thủ là sự rút quân đội Mỹ ra khỏi VN thể theo yêu cầu cuả Trung Cộng vì quyền lợi chung của hai nước Mỹ – TQ. Điều này được ghi lại trong biên bản phiên họp giữa TS Kissinger và Thủ Tướng Chu Ân Lai ngày 9 tháng 7 năm 1971: oạn văn trên trích trong các biên bản chuyến đi TQ của TS Kissinger năm 1971. (Trích tài liệu Tòa Bạch Ốc)[6]

Sang năm 1972, Tổng Thống Nixon chính thức thăm TQ, và biên bản phiên họp giưã Tổng Thống Nixon và Thủ Tướng Chu có đoạn ghi:

Tổng Thống Nixon cũng nhắc lại lời đề nghị của Thủ Tướng Chu là sớm giải quyết vấn đề VN, và rằng vần đề VN sẽ không còn chia rẽ hai nước… (Trích tài liệu Tòa Bạch Ốc)[7].

Ngoài ra còn một lý do rút quân Mỹ khỏi VN, đó là:

Về phía Trung Quốc coi vấn đề VN không quan trọng bằng vần đề Liên Xô, Thủ Tướng Chu muốn biết quan điểm của Mỹ đối với Liên Xô… Trả lời về vấn đề Liên Xô, Tổng Thống Nixon cho biết nếu tiếp tục chiến tranh thì lợi thế sẽ nghiêng về phía Liên Xô, vì Liên Xô muốn Mỹ xa lầy tại VN. (Trích tài liệu Tòa Bạch Ốc)[8]

Về chuyện Mỹ-Trung hợp tác chống Liên Xô

Vào năm 1979 Ông Đặng Tiểu Bình đi Mỹ, Ông ta hô hào chống Liên Xô, kêu gọi Mỹ hợp tác “trói con gấu Bắc cực”, và có đoạn ghi trong cuốn Mưu Lược Đặng Tiểu Bình như sau:

Trong tình hình không có hy vọng hòa hoãn với Liên xô, Đặng không thể không kế thừa chiến lược quốc tế của những năm cuối đời Mao Trạch Đông: Liên hiệp với Mỹ để cùng ngăn chặn dã tâm bành trướng của Liên xô. Phương pháp này quả nhiên đem lại hiệu quả. Qua việc Đặng sang thăm Mỹ đầu năm 1979, Liên xô giữ thái độ im lặng khi Trung quốc dạy bài học cho Việt Nam.”[9]

Phó TT Đặng Tiểu Bình và TT Jimmy Carter ký kết quan hệ ngoại giao January 29, 1979. Nguồn: OntheNet
Cho nên có thể nói, chiến tranh tại Việt Nam có ảnh hưởng đến sự tan rã cuả khối Xô Viết 1989, và có thể coi đây cũng là mục tiêu chiến lược của Mỹ khi đem chiến tranh chống giải phóng (Counter – Insurgency Program – CIP) [10] vào Việt Nam năm 1961 nhằm chống Liên Xô, vì trước đó, năm 1960 Liên xô đã chọn VN để phát động chiến tranh giải phóng[11] như tài liệu The Pentagon Papers[12] được Bộ Quốc Phòng Mỹ giải mật 13/6/2011 đã phơi bày. (Mặt Trận DTGPMNVN ra đời 20/12/1960).

Một yếu tố khác liên quan đến tiêu đề tưởng cũng nên ghi lại để rộng đường dư luận. Phía Mỹ đã hai lần từ chối không ký kết thỏa ước quân sự hỗ tương (Mutual Defense Treaty) với VNCH. Lần đầu vào năm 1957[13] Lý do từ chối phía Mỹ viện cớ vì VNCH đã nằm trong khối SEATO – Thế nhưng, Phi Luật Tân là nước cũng nằm trong khối SEATO[14] thì Mỹ lại ký kết Mutual Defense với nước Phi ngày 30/8/1951[15]. Ngoài ra Mỹ cũng ký kết Thoả Hiệp Quân Sự Hỗ Tương với các nước khác trong vùng như Nam Hàn, Nhựt Bản và Đài Loan [16]; Và lần thứ hai vào năm 1961 VNCH nhắc lại yêu cầu Mỹ ký Thỏa Hiệp Quân Sự[17], và VNCH chỉ muốn nhận viên trợ quân sự, mà không muốn Mỹ đưa quân đội Mỹ vào Việt Nam [18]. Kết cuộc dẫn đến cuộc đảo chánh 1963, và Chính Phủ kế nhiệm đã chấp thuận cho Mỹ đưa quân vào Việt Nam để Mỹ thực hiện chiến lược CIP. Điều này phù hợp với Counter – Insurgency Program của Mỹ đề ra 1961, chứng tỏ rằng Mỹ chỉ xử dụng VNCH như là chiến trường nhằm chống Liên Xô qua chiến tranh giải phóng do Liên Xô khởi xướng (1960).

Sau 48 năm kể từ ngày lật đổ Chính Phủ Ngô Đình Diệm (1963), ngày 13/6/2011 phía Bộ Quốc Phòng Mỹ cho công bố tài liệu tối mật về chiến tranh Việt Nam đã chính thức thừa nhận hoàn toàn chịu trách nhiệm về cuộc đảo chánh 1963, và còn thừa nhận “việc lật đổ Chính phủ Diệm đã làm tăng trách nhiệm của chúng ta là đã can dự vào sự hình thành nên một nước Việt Nam mà thực chất là không có người lãnh đạo”[19]. (Ngoài ra, còn một yếu tố về vụ lật đổ chế độ Đệ I VNCH, theo CIA, Ông Nhu đề ra “giải pháp” Bắc – Nam 1963[20]. Nếu giải pháp Bắc-Nam thành hiện thực thì CIP program của Mỹ dùng VN để chống Liên Xô sẽ không thể áp dụng được, vì Chính phủ Diệm chống việc đưa quân đội Mỹ vào VN, và tự tìm đường lối hòa giải với miền Bắc để chấm dứt chiến tranh).

Nay thì nền Đệ I và Đệ II VNCH đã sụp đổ, người viết xin ghi lại câu nói của ông Ngô Đình Nhu trước khi bị sát hại (1963), “… bởi vì ông ta (Ngô Đình Diệm) từ chối là một chính phủ bù nhìn.” (parce qu’il refuse d’être un gouvernement puppet)[21] và tuyên bố từ chức của TT Thiệu (1975): “…thất hứa, thiếu công bằng, thiếu tín nghĩa, vô nhân đạo, đốt một đồng minh đang chịu đau khổ …” [22] để suy xét về số phận của một nước nhược tiểu.



Bài do tác giả gởi. DCVOnline biên tập và minh hoạ.

[1] Ai ra lệnh rút quân khỏi Pleiku-Kontum 1975, Tướng Phú hay TT Thiệu và tài liệu CIA (2009) viết gì về vụ này?
[2] Tài liệu bị báo chí phanh phui 1971 nhưng không đầy đủ. Toàn bộ tài liệu The Pentagon Papers được giải mật và công bố vào ngày 13 Jun. 2011 và lưu bản văn tại Văn khố quốc gia online: www.archives.gov/research/pentagon-papers/
[3] – Trích trong bản dịch cuốn sách cuả tác giả Cao Văn Viên, do Nguyên Kỳ Phong dịch, đây là phần trích đoạn Những Ngày Cuối Cua VNCH đăng trên tờ Viet Báo vào năm 2008, (và toàn bản dịch cuốn: Những Ngày Cuối của VNCH – Nguyên tác- The Final Collapse).
[4] Trích trong The Final Collapse do Trung Tâm U S Army Center Military History đã post online, tuy nhiên khi vô link này thời phải download sách hơi mất công, cho nên để tiện lợi cho bạn đọc tham khảo, người post bài đã upload sách vô đây The Final Collapse, Gen Cao Van Vien. Cũng xin nói thêm, nếu bạn đọc muốn tìm sách về chiến tranh VN thì vô link sau, ghi tên sách hay tên tác giả: www.history.army.mil/catalog/search.html, thí dụ: ghi chữ Cao Van Vien thời sách của tác giả sẽ hiên ra và download xuống…, hoặc ghi chữ Vietnam War thời môt số sách cuả các Tướng Mỹ khác sẽ hiên ra – hiên nay trong trang web của Quân Sử Hoa Kỳ online chỉ mới có sách của Tướng Viên – Trong khi hiện nay có một số Tướng lãnh VN cũng viết sách nhưng không tìm thấy trong trang Quân Sử online này.)
[5] Michael B. Petersen, The Vietnam Cauldron Defence Intelligence in the War for South East Asia, DIA (2102)
[6] Tài liệu Tối Mật Tòa Bạch Ốc: TL.1 và các tài liệu khác liên quan: TL. 2,TL. 3
[7] Tài liệu Tối Mật Tòa Bạch Ốc: TL 1 – Feb. 22, 72
[8] Tài liệu Tối Mật Tòa Bạch Ốc TL 1-Feb. 22, 72 và các biên bản khác liên quan đến chuyến đi TQ của TT Nixon 1972, xin post tất cả ra đây để bạn đọc tiện bề tham khảo:TL-2-Feb. 23.72, TL.3-Feb. 24.72, TL.4-Feb.23.72
[9] Muu Luoc Dang Tieu Binh – chương 7.
[10] (The Kennedy Counter Insurgency Program) The problems of dealing with Moscow were far more pressing than those related to Vietnam. A feeling that America’s position in the world had been eroded by the USSR prevailed; Kennedy was particularly determined to regain American strength, prestige and influence. Anything which could be construed as American weakness vis-a-vis the USSR was to be avoided. This affected policy toward Vietnam.

[Trích đọan trong: The Kennedy Counterinsurgency Program - Pentagon Papers - p.IV.B.1 - trang 1 - số bên góc trái là trang 10/197) (công bố 2011)]
[11] In November 1960, the Moscow Conference of Communist and Workers’ Parties of Socialist Countries once again declared its support of the sort of “just” war the DRV intended to prosecute. The United States was identified as the principal colonial power, and the right and obligation of communist parties to lead struggles against colonial powers was detailed. By the time Khrushchev cited that Declaration in his “wars of national liberation” speech, the “liberation war” for South Vietnam was nearly a year and a half old. (Trích đọan trong: Origins of the Insurgency – Pentagon Papers,p.IV.A.5 – trang 30 – số bên góc trái là trang 34/373) (công bố 2011)
[12] The Pentagon Papers (DoD released 13.Jun.2011 – Full version), (open coi ngay mục lục, sau đó muốn coi từng chương thì download)
[13] VNCH xin ký Thỏa Hiệp Quân Sự: 1957
[14] South East Asian Treaty Organization
[15] Mutual Defense Treaty với nước Phi Luật Tân
[16] Nam Hàn, Nhật Bản, và Đài Loan
[17] Oct. 1961 Taylor Mission to Vietnam. On the 18th, Diem said he wanted no U.S. combat troops for any mission. He repeated his request for a bilateral defense treaty, more support for ARVN and combat-support equipment (helicopters, aircraft, etc.) [Trích đọan trong: The Kennedy Counterinsurgency Program - Pentagon Papers - p.IV.B.1- trang 14, số bên góc trái là trang 23/197) (công bố 2011)]
[18] [Trích đọan trong: The Kennedy Counterinsurgency Program - Pentagon Papers - p.IV.B.1 - trang vi, số bên góc trái là trang 8/197) (công bố 2011)]

1961 (The Kennedy Counter Insurgency Program) – Negotiations with Diem came to an end in May, not because the issues had been resolved, but because the U.S. decided to forget trying to pressure Diem for a while and instead try to coax him into reforming by winning his confidence.
- – -
Consequently, the U.S. bargaining position was feeble. Further, Gaibraith at least, and probably others, advised Kennedy that there was not much point to bargaining with Diem anyway, since he would never follow through on any promises he made. (Galbraith favored promoting an anti-Diem military coup at the earliest convienient moment.) Kennedy ended up settling for a set of promises that fell well short of any serious effort to make the aid program really contingent on reforms by Diem. Since the war soon thereafter began to look better, Kennedy never had any occasion to reconsider his decision on combat troops; and no urgent reason to consider Galbraith’s advice on getting rid of Diem until late 1963.

[19] [Trích đoạn trong The Pentagon Papers: Overthrow of Ngo Dinh Diem--IV-B-5-1 - Released 13 Jun. 2011 - số trang viii, hay là 12/126]

For the military coup d’etat against Ngo Dinh Diem, the U.S. must accept its full share of responsibility. (Về cuộc đảo chánh lật đổ Ngô Đình Diệm, chính phủ Mỹ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm. Từ Tháng 8 – 1963, chúng ta đã ban hành nhiều biện pháp, nhằm cho phép, tán thành, khuyến khích các tướng lãnh người Việt đứng ra làm cuộc đảo chánh và chúng ta hứa hẹn sẽ hoàn toàn hậu thuẫn một Chính phủ kế nhiệm. Tháng 10-1963 chúng ta trực tiếp cự tuyệt và cắt đứt viện trợ dành cho Diệm, bật tín hiệu đèn xanh cho phe tướng lãnh. Chúng ta kín đáo duy trì liên lạc với phe đảo chánh xuyên suốt quá trình từ lúc lên kế hoạch cho đến khi tiến hành cuộc đảo chánh, chúng ta đã duyệt kế hoạch hành động của họ và đề ra thành phầntân chính phủ. Cho nên, sau 9 năm cầm quyền của Chính phủ Diệm đã bị chấm dứt bằng sự đổ máu. Vì thế, sự đồng lỏa của chúng ta trong việc lật đổ Chính phủ Diệm đã làm tăng trách nhiệm của chúng ta là đã can dự vào sự hình thành nên một nước Việt Nam mà thực chất là không có người lãnh đạo) “ For the military coup d’etat against Ngo Dinh Diem, the U.S. must accept its full share of responsibility. Beginning in August of 1963 we variously authorized, sanctioned and encouraged the coup efforts of the Vietnamese generals and offered full support for a successor government. In October we cut off aid to Diem in a direct rebuff, giving a green light to the generals. We maintained clandestine contact with them throughout the planning and execution of the coup and sought to review their operational plans and proposed new government. Thus, as the nine-year rule of Diem came to a bloody end, our complicity in his overthrow heightened our responsibilities and our commitment in an essentially leaderless Vietnam.”

[20] [Trích đoạn trong CIA: Giải pháp hoà giải Bắc - Nam 1963 - trang 2-đoạn 2- tài liệu giải mật 2001]

Theo CIA: Hai ông Diệm, Nhu, ngoài việc chống đưa quân đội Mỹ vào Việt Nam, còn tự ý liên hệ với miền Bắc nhằm đề nghi một giải pháp hoà giải… “Do đó, ở một thời điểm nào đó, họ có thể tìm ra một giải pháp chung sống với miền Bắc, do họ tin rằng giải pháp hòa giải với những người cùng một dân tộc vẫn hay hơn là cúi đầu trước áp lực của ngọai bang (Mỹ) (They might at some juncture seek to work out a modus vivendi with the North, out of belief that a deal with kindred peoples was better than submitting to foreign (US) pressures.)

[Trích đoạn trong: CIA: Giải pháp hoà giải Bắc-Nam 1963 - trang 2, đoạn 3) (Bản văn thiết lập ngày 14.9.1963 và cuộc đảo chánh ngày1.11.1963 - giải mật và công bố Apr. 2001]

Cho nên, việc hai ông Diệm, Nhu tự ý đi tìm thỏa hiệp với miền Bắc được coi như là chiếc đinh cuối cùng đóng vào cỗ quan tài chôn vùi chế độ Đê I VNCH bởi… các tướng lãnh Miền Nam VN… “ If it became known that Diem and Nhu seriously intended to seek an accommodation with the North, this might well precipitate a coup attempt by certain South Vietnamese military leaders.”

[21] – Video clip: Ông Ngô Đình Nhu lên tiếng về các vụ biểu tình 1963. Nguyên văn lời tuyên bố của ông Nhu trong video trích dẫn:

l’affaire bouddhiste et l’affaire des étudiants ont été montées de toutes pieces et répercutées de facon orchestrée et puissante pour intoxiquer l’opinion interieure comme l’opinion internationale contre le gouvernement du Sud Vietnam parce que ce gouvernement combat le communisme et parce qu’il refuse d’être un gouvernement puppet.”

[22] – Video clip: Diễn văn từ chức của TT Nguyễn Văn Thiệu, 21.4.1975
[23] – Tướng Westmoreland có đến Nam Cali và dành cho đài Radio Little Sàigòn phỏng vấn V/v Tết Mậu Thân 1968 – và v/v tiến quân ra Bắc, do Việt Dũng phỏng vấn 9/1995 và bài phỏng vấn loan trên báo Hồn Việt 10/1995:

Tướng Westmoreland: Chúng tôi đã biết trước cuộc tổng công kích sẽ xảy ra. Và tôi sẽ thú tội với mọi người khi nghĩ lại, là tôi đáng lý ra đã phải loan báo những tin tức này đến mọi người. Và tôi biết rất rõ ràng những chi tiệt. Tôi biết biết rõ ràng khi nào họ sẽ tấn công, và tôi cũng có đầy đủ những chi tiết để tiên đoán hậu quả của cuộc tấn công này.

Đây là con đường tiếp tế huyết mạch của miền Bắc vào Miền Nạm. Không may cho chúng ta Ông Averell Harriman là một người rất có uy tín trong thời gian đó, và có thời gian từng giữ chức vụ phụ tá Tổng Trưởng Ngoại giao, và là cố vấn của Tổng Thống. Ông Averell rất là cứng rắn khi cho rằng cuộc chiến không được lan rộng ra khỏi lãnh thổ miền Nam và điều này đã trở thành chủ trương của Hoa Kỳ trong suốt thời gian tham gia cuộc chiến tại miền Nam, là chúng ta không phát triển cuộc chiến ra ngoài phạm vi lãnh thổ này. Chúng tôi đã có những cuộc xâm nhập bí mật vào đường mòn HCM và tấn công những đơn vị Bắc Việt dùng con đường này để tiếp tế cho Miền Nam, nhưng chúng tôi không bao giờ được quyền đế cắt đứt con đường này dù chúng tôi dư sức làm điều đó, vi` con đường này là mạch sống của địch quân và việc cắt đứt con đường này sẽ giảm thiểu các chiến lược của chúng tôi rất nhiều.


Câu hỏi: Vậy đâu là mục tiêu chiến lược của Mỹ khi mở chiến tranh chống giải phóng (CIP) tại Việt Nam? Để trả lời cho câu hỏi này người viết bài đã đi sưu tầm tài liệu và đúc kết thành bài viết trình bầy nêu trên.