Search This Blog

Wednesday, May 9, 2018




TẠP CHÍ XÃ HỘI

Pháp : 170 năm sắc lệnh bãi nô

Ngày 27/04/1848, cách nay tròn 170 năm, chính phủ Pháp, dưới nền Đệ Nhị Cộng Hòa, đã ban hành sắc lệnh bãi bỏ chế độ nô lệ tại Pháp và các thuộc địa của nước này, « chấm dứt nghịch lý » về sự tồn tại chế độ nô lệ vô nhân đạo tại một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới có tuyên ngôn nhân quyền.
Thực ra, năm 1848 không phải là lần đầu tiên chính quyền Pháp ban hành sắc lệnh bãi nô. Trong giai đoạn Cách Mạng Tư Sản Pháp, dựa trên ý tưởng của các dân biểu Dufray và Danton, chính quyền Cách Mạng vào năm 1794 lần đầu tiên ban hành quy định cấm buôn người và bãi bỏ chế độ nô lệ tại Pháp và thuộc địa. Nhưng chỉ sau 8 năm giải phóng nô lệ, tới năm 1802, hoàng đế Napoléon Bonaparte lại khôi phục chế độ nô lệ. Trong suốt gần 50 năm sau đó, nhờ có nhiều chiến dịch chống nạn buôn người, nhiều phong trào đòi bãi nô, dân chúng Pháp dần thống nhất ủng hộ việc giải phóng nô lệ.
Một trong những người đấu tranh mạnh mẽ nhất để bãi bỏ chế độ nô lệ là Victor Schoelcher. Vào năm 1848, trên cương vị chủ tịch Ủy ban chống chế độ nô lệ tại thuộc địa Pháp, Victor Schoelcher, khi đó là thứ trưởng Hải Quân phụ trách thuộc địa Pháp, đã đề xuất và soạn thảo sắc lệnh bãi nô, « đặt dấu chấm hết » cho chế độ kinh tế - xã hội kéo dài suốt hơn 3 thế kỷ mà ông gọi là « tội ác chống nhân loại ».
Sắc lệnh bãi nô 1848 đưa nước Pháp thành một trong những nước đi đầu thế giới về xóa bỏ chế độ nô lệ, chỉ sau Anh Quốc - quốc gia thông qua sắc lệnh bãi nô năm 1833. Các nước sử dụng nhiều nô lệ khác như Mỹ, Brazil, Cuba … ban hành lệnh bãi nô muộn hơn Pháp đến nhiều thập niên.
Dưới thời Đệ Nhị Chế Đế Pháp, Victor Schoelcher bị Hoàng đế Napoléon III lưu đày sang Luân Đôn trong vòng 19 năm. Trở về Paris năm 1870, ông được phong hàm đại tá phụ trách pháo binh của Vệ Binh Quốc Gia trong cuộc chiến Pháp-Phổ. Được bầu làm dân biểu đại diện cho các thuộc địa Pháp, Victor Schoelcher trở thành thượng nghị sĩ « không thể bãi miễn » vào năm 1875.
Thượng nghị sĩ Schoelcher qua đời vào đúng ngày Giáng Sinh 25/12/1893 tại thị trấn Houilles, vùng Yvelines, ngoại ô Paris. Ông yên nghỉ tại nghĩa trang Père Lachaise. Vào năm 1938, nhóm « Tưởng nhớ Victor Schoelcher » đề xuất lên bộ trưởng Thuộc địa, Gaston Monnerville, đưa thi hài Schoelcher về điện Panthéon, vốn là nơi tôn vinh các vĩ nhân Pháp. Bộ trưởng Gaston Monnerville đã đồng ý ngay lập tức. Nhưng sau đó, do Đệ Nhị Thế Chiến nổ ra khiến tro cốt của Victor Schoelcher không được chuyển về điện Panthéon. Việc này chỉ được tiến hành vào ngày 20/05/1949, với sự hiện diện của tổng thống Pháp Vincent Auriol.
Qu tưởng nh nn nhân ca chếđộ nô l
Ngày 10/05/2001, Thượng viện Pháp thông qua « lut Taubira » thừa nhận buôn người và chế độ nô lệ là « tội ác chống nhân loại ». Pháp trở thành quốc gia đầu tiên công nhận chế độ nô lệ là tội ác chống lại loài người. Từ năm 2001, cứ vào ngày 10/05 hàng năm, các tổng thống Pháp đều kỷ niệm việc xóa bỏ chế độ bãi nô tại vườn hoa Luxembourg.
Năm nay, tổng thống Emmanuel Macron lại chọn đúng ngày 27/04, ngày công bố lệnh xóa bỏ chế độ nô lệ năm 1848 làm ngày tưởng nhớ các nạn nhân của chế độ nô lệ. Lễ kỷ niệm diễn ra tại điện Panthéon, nơi tôn vinh các vĩ nhân Pháp và cũng là nơi đặt tro cốt Victor Schoelcher, nhà soạn thảo sắc lệnh 1848, cũng như nhiều nhà tranh đấu chống chế độ nô lệ như Nicolas de Condorcet, cha Grégoire và Félix Eboué …
Nhân dịp này, tổng thống Pháp Emmannuel Macron đã thông báo « Quỹ tưởng nhớ nô lệ » sẽ chính thức đi vào hoạt động từ nay tới cuối năm 2018. Quỹ sẽ do cựu thủ tướng Pháp Jean-Marc Ayrault điều hành. Ngày 10/05/2016, nhân lễ kỷ niệm ngày chế độ nô lệ chính thức bị hủy bỏ và cũng là để đánh dấu tròn 15 năm sau khi Pháp chính thức thừa nhận chế độ nô lệ là « một tội ác chống nhân loại », tổng thống François Hollande đã thông báo ý tưởng thành lập « Quỹ tưởng nhớ nô lệ ».
Một năm sau đó, vào ngày 10/05/2017, chỉ ba ngày sau khi ông Macron đắc cử tổng thống Pháp, tổng thống mãn nhiệm François Hollande mong muốn ông Macron tiếp tục truyền tải thông điệp tưởng niệm các nạn nhân của chế độ nô lệ xưa kia.
Gần một năm sau khi lên nắm quyền, tổng thống Emmanuel Macron đã cụ thể hóa quyết định của người tiền nhiệm. Tổ chức tưởng nhớ chế độ nô lệ sẽ đặt trụ sở tại khách sạn Marine, quận 8 Paris, nơi sắc lệnh bãi nô lệ được chính phủ Pháp công bố chính thức vào ngày 27/04/1848. Tổ chức tưởng nhớ các nạn nhân của chế độ nô lệ sẽ được nhà nước Pháp cung cấp nhân lực, tài chính và phương tiện khoa học kỹ thuật để thực hiện nhiệm vụ trong các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, hỗ trợ nghiên cứu khoa học và triển khai các dự án ở các nước thuộc địa cũ.
Nô l thi hiđại
Trong khi chính quyền Pháp tổ chức kỷ niệm 170 năm ban bố sắc lệnh giải phóng nô lệ tại các thuộc địa, đây là dịp để báo chí Pháp đề cập tới nạn « nô lệ thời hiện đại ». RFI dành ngày ngày 27/04/2018 cho đề tài về nô lệ, với nhiều chương trình có khách mời là các chuyên gia xã hội, bác sĩ tâm lý và cả các nạn nhân đã từng bị bóc lột như các nô lệ.
Ủy ban chống nô lệ thời hiện đại được thành lập năm 1994 với sứ mệnh hỗ trợ các nạn nhân của nạn sử dụng nô lệ thời hiện đại tại Pháp và góp phần chống tệ nạn này trên thế giới nói chung. Trả lời phỏng vấn của RFI, bà Sylvie O’Dy, phó chủ tịch Ủy ban chống nạn nô lệ thời hiện đại, tác giả cuốn sách « Những nô lệ tại Pháp » (NXB Albin Michel), cho biết nô lệ thời hiện đại tồn tại ngay cả ở thủ đô Paris, nhưng thực trạng này không được nhiều người biết tới :
« Đây là một hiện tượng rất khó thống kê. Khi chúng tôi thành lập Ủy ban, chúng tôi nghĩ rằng sẽ chỉ có 3-4 trường hợp một năm. Thế mà kể từ năm 1998, chúng tôi đã phát hiện ra hơn 200 vụ. Nhưng đúng là các nạn nhân bị nhốt kín trong nhà, họ không có giấy tờ, họ không tồn tại trước pháp luật. Chúng tôi nói với nhau rằng có lẽ phải có đến vài ngàn trường hợp như vậy ngay tại vùng Paris. Nhưng chúng tôi không có con số chính xác, vì họ không tồn tại trong mắt cảnh sát, trước pháp luật hay trong mắt những người khác. »
Bà Céline Monceau, phụ trách pháp lý của Ủy ban đấu tranh chống nô lệ thời hiện đại, giải thích về 5 tiêu chí để xác định liệu một người có bị đối xử như nô lệ hay không :
« Đầu tiên là việc tịch thu giấy tờ tùy thân. Không có giấy tờ, nạn nhân không thể đòi các quyền lợi cho mình. Điều thứ hai là việc bắt ép họ làm quá nhiều việc, 15-18 giờ/ngày. Thứ ba là không trả công cho họ, hoặc trả ở mức rất thấp. Thứ tư là việc ép họ sống biệt lập về văn hóa, không cho họ giao tiếp với người thân. Và tiêu chí thứ năm là bắt họ sống và làm việc trong điều kiện tồi tệ không phù hợp với nhân phẩm. »
Theo bà Sylvie O’Dy, 95% nạn nhân là phụ nữ. Đa phần tới từ các nước nghèo ở Bắc Phi hay Trung Phi, một số tới từ các nước châu Á như Sri Lanka, Ấn Độ, Philippines …. Họ tới Pháp với hy vọng có điều kiện sống tốt hơn, kiếm thêm được tiền gửi về cho gia đình. Nhưng họ không bao giờ có thể ngờ ngay tại nước Pháp, họ sẽ phải chịu cảnh sống « như trong ngục tù », cả về thể xác và tinh thần. Phó chủ tịch Ủy ban chống nạn nô lệ thời hiện đại giải thích :
« Họ bị giam cầm trong một hệ thống, vì họ tới Pháp mà không biết gì về đất nước này. Nhìn chung là họ không nói được tiếng Pháp, họ không biết họ có những quyền tối thiểu nào. Khi họ đặt chân tới Pháp, các ông chủ bà chủ của họ tịch thu giấy tờ, hộ chiếu. Họ không còn danh tính. Các ông bà chủ dọa họ : « Cô mà trốn đi, cảnh sát sẽ bắt cô và tống giam cô vào tù ». Rồi thì : « Cô chỉ là một con chó, cô là nô lệ, cô chẳng là cái gì cả ! » Họ rất bất hạnh, họ bị bỏ đói, bị đối xử tàn tệ, bị đánh đập, thậm chí họ còn bị cưỡng hiếp. »
Không hiếm trường hợp sau khi một vụ việc được phanh phui, những người dân trong khu phố đều « ngã ngửa người » khi biết có một nô lệ sống ngay trong căn nhà bên cạnh nhà mình. Điều đáng ngạc nhiên hơn là hiện tượng sử dụng nô lệ không chỉ tồn tại trong giới các nhà ngoại giao nước ngoài vốn được quyền miễn tố trước pháp luật sở tại, mà ở mọi tầng lớp xã hội của Pháp, từ giới nhà giàu cho tới những người có mức sống bình dân, tiểu thương cho tới người hưu trí, không chỉ ở các vùng xa xôi hẻo lánh của nước Pháp mà ở ngay cả Paris, trái tim của đất nước đầu tiên có tuyên ngôn nhân quyền, đất nước đầu tiên xóa bỏ chế độ nô lệ, quốc gia đầu tiên công nhận chế độ nô lệ là « tội ác chống nhân loại ».
THÍCH NỮ HẰNG NHƯ :Sống từ đâu đến – Chết đi về đâu?

Kiếp sống của mỗi con người sinh ra ở thế giới Ta Bà này, dù thọ mạng dài hay ngắn, nhìn chung có thể phân chia làm nhiều giai đoạn. Giai đoạn nào cũng nhiều phấn đấu, tranh đua, lo âu và phiền não. Ngoại trừ thời gian mới lọt lòng Mẹ, đứa bé chưa biết suy nghĩ, chưa biết phán đoán. Chỉ cười khóc theo bản năng đòi hỏi của cơ thể, và em bé thường được Cha Mẹ đáp ứng đầy đủ.
Image result for dới sống: từ lúc sanh đến khi tử
Giai đoạn kế, nếu may mắn được sinh trong gia đình khá giả các em được cắp sách đến trường. Nếu không may sinh ra trong gia cảnh nghèo nàn, khó khăn, dù còn rất nhỏ, ngoài giờ học ở trường các em vẫn phải bươn chải ra ngoài xã hội kiếm sống phụ với gia đình. Đó là chưa nói có rất nhiều em phải nghỉ học nửa chừng hoặc không được đến trường vì Cha Mẹ không có khả năng tài chánh. Thời gian này nỗi khổ đã hiện diện trong cuộc đời của người trẻ dù được sanh trong gia đình giàu hay nghèo.
Tiếp theo tạm gọi là giai đoạn của người lớn, lập gia đình, sinh con đẻ cái, làm việc quần quật kiếm tiền lo cho gia đình, nuôi dạy con thơ cho đến khi chúng trưởng thành. Cuộc sống gia đình có lúc vui vẻ hạnh phúc nhưng đa phần trải qua những phiền não lo âu từ trong nhà ra ngoài cộng đồng xã hội. Thời gian này con người sống trong căng thẳng vì lúc nào cũng nỗ lực, bon chen tranh đấu… hết sức của mình. Có thể những nỗ lực đó là để hướng tới một mục đích cao thượng, cũng có thể là vì tham vọng muốn được sự giàu sang về tài sản và danh lợi cho bản thân mình, gia đình mình. Dù mục đích tốt hay xấu, ít người nào chịu dừng lại ở một mức độ nào đó, bởi tiền tài danh vọng nhiều bao nhiêu cũng không lấp đầy túi tham của lòng người.
Rồi tuổi già đến lúc nào không hay, bệnh hoạn kéo tới hoành hành thân xác. Có nhiều người mang căn bệnh thể xác kéo dài dù tuổi đời rất thọ, có nhiều người tuổi đời còn rất trẻ nhưng lại đột quỵ sớm.
Khi giai đoạn cuối cùng đến, người ta nằm một chỗ thoi thóp thở. Đến lúc thở hơi ra, mà không hít vào được nữa, thì trở thành một cái xác bất động, cứng đờ, lạnh lẽo, vô tri giác. Lúc bấy giờ những người xung quanh dù không muốn cũng đành phải tuyên bố là người đó đã “chết” rồi, đã “mất” rồi! Khi nắp quan tài đậy lại, từ giây phút đó trở đi, không ai còn thấy người đã “chết” rồi, đã “mất” rồi đó còn hiện diện ở cõi Ta Bà này nữa, bởi cái xác đó đã được thân nhân chôn vùi dưới lòng đất lạnh, hoặc đã thiêu đốt thành tro bụi.
Chúng ta, ai cũng trải qua những giai đoạn nêu trên, nhưng có giây phút nào chúng ta chạnh lòng tự hỏi: “Mình là ai, từ đâu đến và sẽ về đâu khi một ngày nào đó mình chết đi?” hay bứt rứt vì câu: “Tại sao con người lại có mặt trên thế gian này để một ngày nào đó con người lại phải chết. Chết là chấm dứt là biến mất khỏi thế gian này, hay còn có một nơi nào khác để người chết trở về ?”. Để tìm câu trả lời chúng tôi mời quý vị hãy cùng với chúng tôi chia xẻ đề tài:“Con người từ đâu đến và chết đi về đâu? “ 
CÁC QUAN ĐIỂM KHÁC NHAU VỀ NGUỒN GỐC CON NGƯỜI
Image result for quan niệm nguồn gốc con người
Có nhiều quan điểm, học thuyết khác nhau về sự hiện diện của con người ở trên thế gian này.
  •  Những người tôn thờ chủ nghĩa duy vật thì cho rằng con người đến từ vật chất và chỉ sống duy nhất một đời hiện tại. Sau cái chết sẽ không còn gì nữa nên họ sống hưởng thụ không quan tâm gì đến đạo đức, bởi có gây ra tội ác hay sống thiện lành, sau cùng cũng đi đến sự chấm dứt là cái chết. Chết là hết thì cần gì phải lo.
  • Ở nước Ấn Độ cổ xưa, người ta tin rằng bên trong thể xác con người có linh hồn trường cửu. Sau khi chết tiểu ngã hay tiểu hồn của họ sẽ hoà nhập vào đại ngã Phạm Thiên. Để đạt mục đích đó, ở Ấn Độ có pháp môn tu khổ hạnh là pháp tu hành hạ thân xác. Họ cho rằng càng khổ hạnh nhiều chừng nào thì càng sớm đạt được thượng tâm. Đức Phật cũng đã từng tu theo pháp môn khổ hạnh này 6 năm dài, thượng tâm thượng trí Niết Bàn đâu không thấy, chỉ thấy suýt chút nữa thì mất mạng nếu không nhờ nữ mục đồng cứu sống bằng một chén sữa cừu.
  • Các nhà tôn giáo theo thần quyền thì cho rằng con người là sản phẩm của Thượng đế. Thượng đế là đấng tối cao, toàn năng, toàn quyền chẳng những tạo ra con người mà còn sáng tạo cả thế gian, vũ trụ. Con người sau khi chết chỉ có hai cảnh giới để đến. Đó là được lên Thiên đàng nếu ai tin và nghe theo lời dạy của Thượng đế. Ngược lại kẻ nào thắc mắc không đặt trọn vẹn đức tin vào Kinh Thánh thì bị xem là con chiên lạc đàn, sau khi chết sẽ bị đày xuống hoả ngục và bị thiêu rụi đời đời.
  •  Còn quan điểm của Phật giáo thì như thế nào?  Là người Phật tử chúng ta đã học qua “Tiến Trình tu chứng và thành đạo của Đức Phật Thích Ca”. Trong đêm cuối của tuần lễ thứ Tư là đêm Bồ Tát thành đạo. Vào canh Một, Ngài chứng quả Túc Mạng Minh, đạt Trí tuệ hiểu biết về quá khứ nhiều đời nhiều kiếp của chính Ngài. Canh thứ Hai, Ngài chứng Thiên Nhãn Minh, đạt được Trí tuệ hiểu biết về sự luân hồi sinh tử của chúng sanh nhiều đời nhiều kiếp là do Nhân Quả nghĩa là đời quá khứ họ tạo Nhân xấu thì đời này họ sẽ thọ Quả xấu, nếu đời quá khứ họ sống thiện lương thì đời này họ hưởng Quả tốt. Canh thứ Ba, Ngài chứng Lậu Tận Minh, là Trí tuệ biết rõ nguyên nhân của luân hồi sanh tử là lậu hoặc. Lậu hoặc là những thói quen, những đam mê huân tập từ nhiều đời quá khứ cho đến hiện tại và tiếp diễn trong nhiều đời ở tương lai. Lậu hoặc cũng có nghiệp tốt và nghiệp xấu nhưng đa phần là xấu ác khiến cho con người cứ phải luân hồi sanh tử.
Qua sự chứng ngộ ba Minh của Đức Phật, cho thấy cái chết của chúng sanh không phải là dấu chấm hết. Cái chết chỉ là sự bắt đầu cho một sự sống mới. Sự sống đó được mô tả qua thuyết “Thập Nhị Nhân Duyên hay thuyết Nhân Quả” như sau:
  • Thế nào là Nhân Duyên? Nhân là nguyên nhân, là cái Nhân chính trực tiếp sanh ra vật khác. Thí dụ như hạt mè là Nhân trực tiếp sanh ra cây mè, hạt đậu là Nhân trực tiếp sanh ra cây đậu. Duyên là sự trợ duyên, chỉ cho những vật có tính cách trợ giúp trực tiếp hay gián tiếp cho Nhân thành hình. Thí dụ như đất, nước, phân bón, ánh sáng mặt trời và sự chăm sóc của người làm vườn. Những thứ này đã trợ duyên, giúp đỡ cho các hạt nêu trên nẩy mầm thành cây.
Vậy “Thập Nhị Nhân Duyên” là mười hai Nhân cũng là Duyên, mà Nhân này có mặt sẽ sanh ra Nhân kia. Mười hai Nhân Duyên đó là: Vô minh, Hành, Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sanh, Lão Tử.
Ý nghĩa đại cương của 12 nhân duyên như sau:
Image result for quan niệm nguồn gốc con người
1) Vô minh: Là không hiểu biết như thật về hiện tượng thế gian. Đức Phật dạy tất cả các pháp có mặt trên thế gian này bao hàm cả con người do nhiều điều kiện mà thành, tức không thực chất tính cho nên nó vô ngã. Các pháp chỉ có mặt khi nhân duyên đầy đủ và nó sẽ hư hoại biến thành cái khác khi không đủ nhân duyên. Đó là tánh Huyễn của vạn pháp. Người vô minh không hiểu biết như thật về hiện tượng thế gian, nên chấp chặt mọi thứ trên đời là có thật, là thường hằng nên khi những thứ đó mất đi, thì phiền não, khổ đau.
2) Hành: Bởi vô minh nên con người thường có những ý nghĩ, lời nói và hành động tạo nghiệp. Có khi là nghiệp lành nhưng phần nhiều là nghiệp ác.
3) Thức: Là thần thức hay tử thức, đó là những lậu hoặc, tập khí do thân khẩu ý tác tạo, gọi chung là nghiệp. Các nghiệp này huân tập tạo thành nghiệp lực. Khi chết nghiệp lực dẫn dắt thần thức đi thọ lãnh quả báo khổ hay vui ở đời sau.
4) Danh sắc: Con người có hai phần tinh thần và vật chất. Tinh thần thì trừu tượng không có hình tướng gồm các khái niệm: thọ, tưởng, hành, thức gọi chung là Tâm, thuật ngữ nhà Phật gọi là Danh. Phần thân là thể chất có hình tướng màu sắc có thể sờ mó được gọi là Sắc.
5) Lục nhập: Là sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu cảnh hay sáu trần là: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, thì lục thức được phát sinh. Đó là nhãn thức, nhỉ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Lục thức này tác động vào tâm khiến cho tâm lúc nào cũng giao động nên gọi là lục nhập.
6) Xúc: Là sự tiếp xúc của lục căn với lục trần. Thí dụ mắt thấy cảnh, tai nghe tiếng động, thân cảm thấy mát mẻ, lưỡi nếm vị ngọt đắng, mũi ngửi hương thơm, ý thích hay không thích một đối tượng nào đó.
7) Thọ: Cảm giác hay cảm nhận của thân hay tâm. Tâm cảm nhận vui buồn khi lục căn tiếp xúc lục trần. Thân cảm giác đau nóng khi tiếp xúc với lửa hay nước sôi.
8) Ái: Là ưa thích. Khi lãnh thọ cảnh vui thì yêu thích … đó là sanh tâm tham. Gặp cảnh không vừa ý, tâm khổ não, không ưa, ghét bỏ… thì sanh tâm sân hận. Tham ái, khát ái, là nguyên nhân thúc đẩy con người tạo nghiệp.
9) Thủ: Là bám lấy, giữ lấy. Gặp cảnh tốt, thì tham cầu giữ lấy. Gặp người mình ưa thích thì muốn chiếm hữu. Thủ cũng chính là nguồn gốc của tham.
10) Hữu: Là mong muốn hiện hữu ở đời này để hưởng thụ hay hiện hữu ở một cõi nào đó trong tương lai. Sự mong muốn này chính là Nhân đưa đến Quả là luân hồi sanh tử. Hữu cũng có nghĩa là Có. Muốn có mặt ở đời này và muốn sẽ có mặt ở đời lai sanh.
11) Sanh: Là sanh ra đời để thọ quả báo trả nghiệp do Ái, Thủ, Hữu là nhân đời trước gây ra.
12) Lão tử: Già rồi chết.
Nhìn chung mười hai nhân duyên này liên kết thành một vòng tròn luân hồi sinh tử của con người. Mắt xích Vô Minh là nguy hiểm nhất. Vì Vô Minh làm cho tâm trí chúng ta mê muội, không còn sáng suốt phân biệt đâu là thật đâu là giả. Vì Vô Minh nên hiểu biết sai lầm về con người và vạn vật trong vũ trụ, do đó sinh chấp ngã. Có ngã là có Ái, Ái thì ích kỷ, tham lam muốn chiếm hữu những gì mình yêu thích, không được thì tâm sân si khởi lên… làm khổ mình khổ người, tạo nghiệp. Bất cứ nghiệp nào dù tốt hay xấu, một khi đã tạo ra, thì nó được gìn giữ mãi trong tàng thức từ đời này sang đời khác, không bao giờ bị mất.
Nói theo khoa học thì những suy nghĩ hay những việc làm gây ấn tượng tốt hay xấu, mà mình lặp đi lặp lại thường xuyên thì những ấn tượng này ghi đậm trong Ký Ức Dài Hạn của mình khó mà quên.
Khi con người chết thì ngũ uẩn tan rã, thân tứ đại đất, nước, gió, lửa trở về với tứ đại, còn nghiệp thức thì tiếp tục bám theo tử thức. Nó chính là nghiệp lực thúc đẩy, dẫn dắt tử thức đi tái sanh.
Thuyết “Thập Nhị Nhân Duyên” mô tả sự sống của con người qua ba đời quá khứ, hiện tại và tương lai. Con người bị dính chặt trong bánh xe luân hồi không thoát ra được chỉ vì Vô Minh. Vô Minh sinh ra Hành, Hành sinh ra Thức, Thức sinh ra Danh Sắc, Danh Sắc sinh Lục Nhập, Lục Nhập sinh Xúc, Xúc sinh Thọ, Thọ sinh Ái, Ái sinh Thủ, Thủ sinh Hữu, Hữu sinh Sanh (đời kế tiếp), Sanh sinh Già Chết. Cứ thế mà cuộc sống tiếp diễn: Sống rồi chết, chết rồi sống …, không biết chỗ nào là khởi đầu và cũng không biết chỗ nào là kết thúc.
CON NGƯỜI  HAY SỰ SỐNG TỪ ĐÂU ĐẾN, CHẾT ĐI VỀ ĐÂU THEO GIÁO LÝ NHÀ PHẬT?
Image result for quan niệm nguồn gốc con người theo nhà Phật
Khi có sự giao hợp giữa nam và nữ trong thời kỳ người nữ có thể thụ thai, hợp duyên thì thần thức của người chết sẽ thác sinh vào thai mẹ. Trong bụng mẹ, thai sinh thu hút tinh huyết làm nhục thể, và sau đó tâm thức hoà hợp cùng nhục thể hình thành Danh Sắc. Danh là tâm thức. Sắc là nhục thể. Qua thời gian Danh Sắc lần lượt tượng hình đầy đủ lục căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
Khi đủ ngày tháng, thai nhi được sanh ra, lục căn của hài nhi tiếp xúc với lục trần, do đó hài nhi biết nóng lạnh đau đớn hay êm ái. Do sự xúc chạm này mà tâm hài nhi dần phát sanh ra sự phân biệt, rồi từ đó có cảm thọ vui hay khổ. Cảm thọ vui khổ này phát sanh ra những khởi niệm ưa ghét, thích hay không thích. Chính sự tham ái đó khiến nó cố thủ, cố bám lấy cái nó ưa thích và muốn đòi hỏi được thoả mãn những điều ưa thích đó, nên nó tạo ra nghiệp căn, mà tạo nghiệp thì phải chịu quả báo.
Câu hỏi: Con người từ đâu đến, chết đi về đâu?” có nhiều cách trả lời, nhưng hợp lý hay không hợp lý là tuỳ theo quan niệm và đức tin của mỗi người, chúng ta không bài bác.
Theo giáo lý nhà Phật con người sau khi chết, tuỳ theo Nhân đã tạo trong đời hiện tại mà tái sanh vào sáu cõi. Nếu con người sống ở cõi đời này tạo nhiều Nhân thiện lành, biết mở lòng bố thí giúp đỡ người khác, giữ đúng giới đức, thì sau khi chết sẽ được sanh về cõi Trời hưởng phước. Cõi Người là cõi có khổ có vui. Sanh về cõi Người là để vay trả, trả vay những điều mình đã làm trong đời này hay nhiều đời trước.  Cõi A-Tu-La là cõi của những vị thần khi sống ở đời này họ tạo nhiều Nhân tốt nhưng tánh tình nóng nảy nên khi chết thì sanh về cõi A-Tu-La. Còn ba cõi kia là cõi Súc Sanh, Ngạ Quỹ, Địa Ngục, trong kinh gọi là ba đường ác, ba đường xấu. Con người sẽ sanh về những cõi ác nếu trong đời sống hiện tại họ gây ra quá nhiều tội lỗi làm tổn hại những người xung quanh, hoặc có hành động tàn ác giết người, giết vật v.v…
Chúng ta là người phàm phu với con mắt trần không thấy được những cõi vô hình. Đức Phật là bậc giác ngộ thấy biết, giảng lại cho chúng ta. Là người học Phật, chúng ta biết rằng những điều Đức Phật giảng dạy cho chúng ta là do sự tu tập và chứng ngộ mà nói ra chứ không dựa vào học thuyết của bất kỳ ai.
CON NGƯỜI SANH RA TỪ NHÂN QUẢ
Image result for nhân quả theo nhà Phật
Giáo lý quan trọng của Phật giáo là Lý Duyên Khởi, là Nhân Quả, là cái này có cái kia có, cái này sinh cái kia sinh; cái này không cái kia không, cái này diệt cái kia diệt. Như vậy có nghĩa là chúng ta “gieo Nhân nào thì nhận Quả đó”. Trong đời sống hiện tại chúng ta đang thọ nhận cái Quả vui buồn, hạnh phúc hay khổ đau là do chúng ta gieo Nhân làm khổ người hay mang hạnh phúc đến cho người từ đời trước. Và cái Quả trong hiện tại đời này, nếu không tu tập sửa chữa thì nó chính là cái Nhân để trổ Quả cho chúng ta nhận trong tương lai. Con người cứ như thế tương tục mãi không ngừng hết đời này qua đời khác theo vòng luân hồi mười hai mắt xích.
Từ điểm này chúng ta biết rằng con người sinh ra từ Nhân Quả và không phải chỉ sống một đời trong hiện tại này, mà đã trải qua nhiều đời trong quá khứ và trong tương lai còn tiếp nối nhiều cuộc sống khác. Như vậy chết là bỏ thân hiện tại trong đời này để có thân mới trong đời sống kế tiếp. Nói cách khác sống là thay thân cũ của đời trước để có thân mới trong đời này. Với con mắt của bậc trí tuệ thì con người của đời này và con người của đời sau không phải là một mà cũng không phải là hai.
LÀM SAO THOÁT KHỎI LUÂN HỒI SANH TỬ?
Đạo Phật là đạo dạy con người tu tập để thoát khổ giác ngộ giải thoát. Giải thoát ở đây là thoát ra khỏi vòng luân hồi sanh tử. Trong kinh Thánh Cầu, Đức Phật cho biết: “Sanh, Già, Bệnh, Chết, Sầu Khổ, Ô Nhiễm là những cái tự mình bị sanh.” Cái Bị Sanh này đưa con người vào vòng luân hồi sanh tử. Khi biết sự nguy hại của Cái Bị Sanh, “Ngài tìm cầu Cái Vô Sanh“. Cái Vô Sanh là trạng thái vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, đó là trạng thái Niết Bàn.
Trong canh thứ Ba của đêm thành đạo Đức Phật đã chứng quả Lậu Tận Minh, biết như thật con người bị luân hồi sanh tử là do lậu hoặc tức nghiệp thức gây ra. Như vậy muốn thoát khỏi luân hồi sinh tử là phải tu tập làm sao cho sạch lậu hoặc. Trong lậu hoặc có ba căn bệnh chánh là tham sân si, chúng ta phải tu tập làm sao để không còn tam độc này ở trong tâm chúng ta nữa.
Bắt đầu tu tập chúng ta cần phải có Trí năng tỉnh ngộ học hỏi những điều Đức Phật đã chứng ngộ và dạy lại chúng ta. Hiểu thấu đáo về những Nhận thức của Đức Phật để chúng ta có cái nhìn đúng đắn về hiện tượng thế gian và chính bản thân chúng ta. Chúng ta phải nhận rõ vũ trụ hay con người đều thuộc về thế giới của thời gian và chịu ảnh hưởng của quy luật biến dịch, cho nên sự hiện hữu dài hay ngắn, đều phải trải qua chu kỳ thành, trụ, hoại, diệt (không), để trở thành cái khác.
Qua bài kinh Vô Ngã Tướng, chúng ta hiểu con người của chúng ta là do sự tập hợp của năm uẩn. Bản thân của chúng ta có hai phần quan trọng ngang nhau đó là thân và tâm. Chúng ta cần có thân khoẻ mạnh để tâm nương náu mà tu hành. Tu hành như thế nào? Đức Phật dạy các pháp Quán, Chỉ, Định, Huệ là phương tiện để đạt cứu cánh giải thoát giác ngộ.
Bước đầu chúng ta đặt mục tiêu gần gũi với cuộc đời phàm phu của chúng ta trước. Đó là tu làm sao để thân khoẻ, tâm an, trí tuệ sáng suốt. Rồi sau đó mới tiến tới mục tiêu cao hơn là thoát khổ, giải thoát, giác ngộ. Con đường tu tập chuyển đổi từ Tâm Phàm Phu trở thành Tâm Bậc Thánh đến Tâm Phật là con đường lý tưởng dài vô lượng kiếp. 
TU TẬP NHƯ THẾ NÀO?
Image result for tu tập theo nhà Phật
– Tu Quán, Tu Huệ: Để chuyển đổi nhận thức, chuyển đổi cái nhìn về cuộc đời, về công ăn việc làm, về tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng, về của cải vật chất. Những thứ đó đang ở trong tay chúng ta nhưng biết đâu sẽ có một ngày chúng ta mất trắng. Khi chuyện đó xảy ra chúng ta hiểu biết rằng vạn pháp vốn vô thường nếu thản nhiên chấp nhận thì chúng ta sẽ không buồn khổ. Đó ta chúng ta đã có Huệ.
Tu Quán để có cái nhìn về chính bản thân của chúng ta ngay trong sát na hiện tại này đang chịu quy luật biến dịch chi phối. Nó thay đổi từng sát na. Một lúc nào đó cái già, cái bệnh và cái chết sẽ đến với chúng ta. Chấp nhận sự thật chúng ta sẽ không cảm thấy quá lo buồn sợ hãi khi mỗi giai đoạn thời gian đời sống đến với chúng ta khi khoẻ mạnh lúc ốm đau.
– Thu thúc lục căn: Sáu căn tiếp xúc sáu trần, thấy, nghe, xúc chạm đối tượng biết rõ ràng đối tượng nhưng không khởi tâm ưa ghét, chê khen, phản ứng gì cả, có nghĩa là đối tượng sao biết y như vậy mà trong đầu không nói thầm về đối tượng. Đó là cái Biết đang là về đối tượng. Phương pháp tu tập này còn gọi là Pháp Như Thật cũng thuộc về Thiền Huệ Vipassanà, giúp tâm yên lặng thanh thản đưa tới Định.
– Tu Chỉ, Tu Định: Trong đời sống hằng ngày đầu óc chúng ta luôn bị giao động vì suy nghĩ nọ kia, nó đầy ấp những tham, sân, si… nên đưa đến phiền não khổ đau. Tâm cứ giao động liên tục thì không bao giờ chúng ta “giác ngộ” được điều gì. Bây giờ chúng ta tập sống trong cái Biết không Lời.
Tu Chỉ là làm sao cho tâm chúng ta được yên lặng, thanh thản. Thực tập bằng cách làm cái gì biết chúng ta đang làm cái đó.
Thí dụ: Quét nhà biết đang quét nhà, hút bụi biết đang hút bụi, rửa chén biết đang rửa chén…. mà trong đầu không khởi niệm gì cả nghĩa là không suy nghĩ, không nói lầm bầm trong đầu sao nhà dơ quá, sao nhiều chén bát quá .v..v….  Đó là chúng ta đang tu thiền Chỉ.
Thiền Chỉ giúp tâm yên lặng thanh thản nhưng không vững chắc. Khi toạ Thiền kinh nghiệm tâm yên lặng vững chắc, tầm tứ không khởi lên, lậu hoặc còn đó nhưng nằm yên, tham sân si không có. Trong lúc đó,  không có gì hết chỉ có cái Biết không lời trong tâm thì ba nghiệp được thanh tịnh. Như vậy, chúng ta tạo được Nhân thanh tịnh ngay trong bây giờ và ở đây. Đó là công đức vô lậu của chúng ta, dù chỉ năm, mười phút hay lâu hơn.
KẾT LUẬN
Image result for THÍCH NỮ HẰNG NHƯ
Khi đã hiểu sanh tử như thế nào, hiểu sự sống từ đâu đến và chết đi về đâu, thì đối với sự sống, chúng ta không tham cầu bởi chúng ta biết tấm thân ngũ uẩn này không thực chất tính, nên nó sẽ không vững bền với thời gian, nó bị ảnh hưởng bởi quy luật biến dịch, nên nó vô thường từng phút từng giây. Sống hay chết, tuỳ thuộc nơi duyên hợp hay duyên tan… mà thay đổi. Và đối với cái chết, chúng ta sẽ không sợ hãi, bởi chết không phải là chấm dứt, không phải mất hẳn đi, mà chỉ là sự thay đổi cũ mới mà thôi. Sự sanh trong hiện tại chỉ là một lần sanh trong vô lượng lần sanh. Sự chết trong hiện tại chỉ là một lần chết trong vô lượng lần chết.
Điều quan trọng là chúng ta sống như thế nào trong đời này, để đời sau chúng ta có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Mỗi lần chết đi, sang một đời sống khác là một dịp tốt để chúng ta học hỏi hầu tiến hoá trên con đường tâm linh. Người đời hay nói: “Có công mài sắt có ngày nên kim“, chúng ta hãy bắt tay mài thỏi sắt lớn trong tâm chúng ta ngay từ bây giờ, bằng cách tập sống theo lời Phật dạy. Giữ giới đức được trong sạch, làm việc lành tránh việc dữ, tu Huệ, tu Định để phát huy Trí huệ tâm linh. Đó là theo con đường Giới-Định-Huệ mà Đức Phật đã đưa ra. Khi ánh sáng trí huệ chan hoà, thì bóng tối vô minh biến mất. Vô minh không còn thì vòng luân hồi cũng tan rã, bấy giờ người tu được hoàn toàn thoát khổ, giải thoát, giác ngộ.
Đã học Phật, chúng ta biết cuộc đời an lành hạnh phúc hay khổ đau của chúng ta không do ai ban phát cả, mà do quy luật Nhân Quả làm chủ, nhưng Nhân Quả đó lại do chúng ta làm chủ. Chúng ta có thể tạo ra Nhân tốt hay xấu để thọ lãnh Quả lành hay dữ. Ngay cả Đức Phật cũng không cứu được chúng ta ra khỏi ba đường dữ hay ra khỏi vòng luân hồi sanh tử, mà chỉ chúng ta tự cứu chúng ta mà thôi. Cho nên chúng ta phải tự chọn cho chúng ta một lối sống, để khi thân hoại mạng chung, chúng ta tự làm chủ lấy mình thanh thản ra đi với hành trang phước đức và trí huệ hay là chúng ta bị nghiệp lực nặng nề làm chủ dẫn chúng ta sanh vào những chỗ tương ưng với đời sống đầy tội lỗi tham sân si của chúng ta để thọ Quả của Nhân đã gây ra trong đời này./.

THÍCH NỮ HẰNG NHƯ

RICHARD PIPES :Chủ nghĩa cộng sản
“…Chủ nghĩa này đã thất bại hoàn toàn, ngay cả những người cộng sản thời hậu Xô Viết ở Nga cũng như ở nhiều nước khác, trong các chiến dịch tranh cử, đã phải thay nó bằng cương lĩnh dân chủ xã hội pha trộn thêm với màu sắc dân tộc chủ nghĩa…”
Điều làm người ta phấn chấn nhất trong chế độ Xô Viết là sự sụp đổ của nó. Nếu nó thành công… thì tôi đã biết rằng mức độ chịu đựng khủng bố và nô lệ của con người là vô giới hạn. Malcolm Muggeridge[1]
Lời nói đầu
communism01
Đây là cuốn sách nhập môn và đồng thời cũng là lời ai điếu cho chủ nghĩa cộng sản. Vì rõ ràng rằng, nếu một lúc nào đó trong tương lai, việc tìm kiếm một sự bình đẳng hoàn toàn - một tư tưởng có từ thời cổ đại, từng thúc đẩy các chiến sĩ đấu tranh vì chủ nghĩa cộng sản không tưởng - có được tái tục thì cơ sở của những sự tìm kiếm như thế sẽ không phải là chủ nghĩa Marx-Lenin nữa. Chủ nghĩa này đã thất bại hoàn toàn, ngay cả những người cộng sản thời hậu Xô Viết ở Nga cũng như ở nhiều nước khác, trong các chiến dịch tranh cử, đã phải thay nó bằng cương lĩnh dân chủ xã hội pha trộn thêm với màu sắc dân tộc chủ nghĩa. Vì thế, hôm nay chúng ta đã có đủ điều kiện tổng kết cái phong trào đã từng giữ thế thượng phong trong suốt thế kỷ XX và xác định xem liệu sự sụp đổ của nó có phải là hậu quả của những sai lầm của một số người nào đó hay đây là kết quả của những khiếm khuyết trong chính bản chất của nó. 
Từ chủ nghĩa cộng sản xuất hiện ở Paris trong những năm 1840, liên quan đến ba khái niệm khác nhau nhưng gắn bó mật thiết với nhau: lý tưởng, cương lĩnh hành động và chế độ nhận lãnh trách nhiệm biến lý tưởng thành hiện thực. 
Lý tưởng bình đẳng tuyệt đối (ví dụ, trong một số trước tác của Plato) đòi hỏi cá nhân phải tan biến vào cộng đồng. Vì bất bình đẳng về mặt xã hội và kinh tế có nguyên nhân chủ yếu từ sự bất bình đẳng về tài sản, muốn bình đẳng thì từng người phải từ bỏ “của tôi” và “của anh”, nói cách khác, từ bỏ tư hữu. Lý tưởng này có nguồn gốc lịch sử lâu đời và thỉnh thoảng lại tái xuất hiện trong lịch sử tư tưởng phương Tây, kể từ thế kỷ thứ VII trước công nguyên cho đến tận ngày nay. 
Cương lĩnh cộng sản xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XIX và gắn bó trước hết với tên tuổi của Karl Marx và Friedrich Engels. Trong Tuyên ngôn cộng sản năm 1848, Marx và Engels viết: “những người cộng sản có thể tuyên bố học thuyết của mình bằng một câu thôi: bãi bỏ tư hữu”. Engels khẳng định rằng bạn ông đã đưa ra một lý thuyết khoa học chứng minh sự sụp đổ không thể nào tránh được của những xã hội dựa trên khác biệt về mặt giai cấp. 
Mặc dù trong lịch sử loài người, lý tưởng cộng sản cũng đã đôi ba lần được đưa vào thực tiễn, nhưng, sử dụng toàn bộ sức mạnh của nhà nước cho một thí nghiệm như thế chỉ được thực hiện lần đầu tiên ở nước Nga từ năm 1917 đến năm 1991. Vladimir Lenin, người sáng lập chế độ đó, cho rằng đấy là một xã hội bình đẳng, không còn tư hữu, sinh ra nhờ “chuyên chính vô sản”, một nền chuyên chính gánh trên vai trách nhiệm bãi bỏ tư hữu và đặt nền móng cho con đường tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
Chúng ta sẽ theo dõi chủ nghĩa cộng sản theo đúng trình tự như thế vì làm thế là hợp logic và vì chủ nghĩa này cũng xuất hiện theo trình tự: đầu tiên là lý tưởng, sau đó là kế hoạch thực hiện và cuối cùng là biến lý thuyết thành hiện thực. Nhưng, chúng ta sẽ quan tâm chủ yếu vào việc thực hiện, bởi vì, tự bản thân lý tưởng và cương lĩnh là những thứ vô hại, trong khi việc thực hiện chúng, nếu lại sử dụng toàn bộ sức mạnh của nhà nước, có thể dẫn tới những hậu quả cực kỳ khủng khiếp. 
I. Lý thuyết và cương lĩnh của chủ nghĩa cộng sản
Tư tưởng về một xã hội phi giai cấp, hoàn toàn bình đẳng, xuất hiện lần đầu tiên tại Hy Lạp cổ đại. Hy Lạp cổ đại là nước đầu tiên trên thế giới công nhận quyền tư hữu ruộng đất và coi ruộng đất là hàng hoá, vì vậy, cũng là nơi đầu tiên đối mặt với sự bất bình đẳng xã hội có nguồn gốc từ quyền tư hữu. Hesiod, một người đương thời với Homer (thế kỷ thứ VII trước công nguyên), trong trường ca Lao động và ngày tháng đã ca ngợi “Thời đại hoàng kim” huyền thoại, khi con người chưa “nhiễm thói xấu là chạy theo đồng tiền”, khi của cải vẫn còn dư thừa và mọi người đều được quyền sử dụng như nhau, nhân loại sống trong một nền hoà bình vĩnh cửu. Đề tài “Thời đại hoàng kim” còn trở lại trong tác phẩm của hai thi sĩ người Rome là Vergil và Ovid; Ovid viết về những giai đoạn khi con người chưa biết đến các khái niệm như “cột mốc biên giới và hàng rào”. 
Lý tưởng cộng sản lần đầu tiên được Plato định danh về mặt lý luận trong các trước tác của mình. Trong tác phẩm Cộng hoà, thông qua Socrates, Platon khẳng định rằng bất hoà và chiến tranh có nguồn gốc từ sở hữu: 
Sự khác nhau như thế thường xảy ra do bất đồng về những từ như ‘của tôi’ và ‘không phải của tôi’, ‘của anh ta’ và ‘không phải của anh ta’… Chả lẽ nhà nước, trong đó đa số người cùng sử dụng những từ như ‘của tôi’ và ‘không phải của tôi’ đối với cùng một loại đồ vật không phải là nhà nước có kỉ cương nhất hay sao?
Trong các phẩm Luật Pháp, Platon còn dự báo một xã hội, trong đó, người ta sở hữu chung tất cả của cải, cũng như vợ con, mà còn: 
Riêng tư và tư hữu bị loại bỏ khỏi đời sống, và những thứ về bản chất là riêng, ví dụ, mắt, tai và tay cũng trở thành của chung và ở mức độ nào đó, người ta cùng nhìn, cùng nghe và cùng hành động, tất cả mọi người cùng ca tụng hay cùng lên án, cùng vui cùng buồn vì cùng những lý do như nhau. 
Aristotle, học trò của Plato, lại ngờ rằng cái Utopia [Không tưởng] cộng sản đó sẽ không đem lại hoà bình vì một lý do đơn giản: Khi cùng sở hữu thì người ta dễ sinh ra cãi cọ hơn là tư hữu. Hơn nữa, ông khẳng định rằng nguồn gốc của tranh chấp không nằm ở tư hữu mà ở ước muốn được sở hữu: “không cần cào bằng sở hữu mà phải san bằng ước muốn của con người”.
Nhiều người có quan niệm lầm lẫn rằng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản chỉ là kiến giải mang tính thế tục, hiện đại, của Thiên chúa giáo. Nhưng sự khác nhau, như triết gia người Nga, Vladimir Sovoliev đã chỉ rõ, nằm ở chỗ, nếu Chúa Giêsu chỉ kêu gọi các đồ đệ của Ngài từ bỏ sở hữu của chính họ, thì những người xã hội chủ nghĩa và cộng sản lại muốn tước đoạt sở hữu của người khác. Hơn nữa, Chúa Giêsu chưa bao giờ kêu gọi người ta phải sống trong nghèo đói, ông chỉ nói rằng người nghèo thì dễ được cứu chuộc hơn mà thôi. Câu nói nổi tiếng của Thánh Paul về tiền bạc cũng hay bị người ta trích dẫn sai: ông không nói rằng “tiền là nguồn gốc của tội lỗi” mà cho rằng nguồn gốc của tội lỗi là “tình yêu đối với tiền bạc”, nói cách khác, nguồn gốc của tội lỗi là lòng tham. Thánh Augustine từng hỏi: “Vàng là vật không tốt sao?” và ông trả lời: “Không, vàng là tốt. Nhưng kẻ ác dùng vàng để làm điều ác, còn người thiện thì dùng vàng vào việc thiện”. 
chunghia_congsan
Những người sáng lập nhà thờ Thiên chúa giáo và các nhà thần học sau này đều có quan điểm thực dụng đối với vấn đề sở hữu. Theo Thánh Augustine, xã hội không có sở hữu chỉ có thể tồn tại trên Thiên đường - chỉ tồn tại trong “Thời đại Hoàng kim”, nhưng do mắc tội tổ tông mà loài người đã đánh mất. Vì con người chưa hoàn thiện, cho nên, sở hữu là phù hợp với đạo lý, nếu người ta sử dụng nó một cách thông minh và cho những mục đích từ thiện. Nhà thờ Thiên chúa giáo không những không cổ xuý cho tình trạng nghèo đói mà còn khai trừ, thậm chí, săn đuổi những kẻ cố tình làm như thế. Những người sáng lập đạo Tin lành, đặc biệt là Calvin, coi của cải là hạnh phúc và biểu hiện của lòng nhân từ của Chúa. 
Nhưng quan niệm về “Thời đại Hoàng kim” luôn luôn hiện diện trong tâm trí người châu Âu. Các nhà hàng hải thời xa xưa khát khao tìm kiếm không chỉ Eldorado (Vùng đất thần tiên – ND) và các vùng đất huyền thoại khác, nơi vàng bạc nằm đầy dưới chân, chẳng khác gì bụi đất, mà còn khát khao tìm kiếm những hòn đảo thiên đường trên trái đất, truyền thuyết về những vùng đất như thế từng lưu hành ở châu Âu thời Trung cổ. Và, khi lần đầu tiên cập cảng châu Mỹ, nhìn thấy những người Da Đỏ trần truồng thì họ tin chắc rằng đã thành công: không có cảm giác xấu hổ không phải là dấu hiệu của cuộc sống trước khi phạm tội tổ tông ư? Nếu quả thật các thổ dân đó sống trong thiên đường thì nhất định họ không có khái niệm gì về sở hữu. Khi quay trở về, Columbus nói rằng thổ dân ở đấy là những người “chất phác” và “nếu hỏi xin, thì không bao giờ họ từ chối chia sẻ những thứ họ có; ngược lại, ai họ cũng mời”. Ông không rõ họ có khái niệm về tư hữu hay không, nhưng nhận xét thêm: “Một người có thì tất cả mọi người đều chia sẻ, nhất là thức ăn”. 
Những cảm giác ngây thơ đầu tiên về người da đỏ châu Mỹ mau chóng nhường chỗ cho những đánh giá thực tế hơn, nhưng, chúng đã kịp giúp tạo ra một nền văn chương không tưởng, một phần không thể tách rời của tư tưởng phương Tây từ đó đến nay. Vùng đất Utopia đặc trưng nhất được mô tả trong tác phẩm cùng tên của Thomas More, xuất bản năm 1516, theo ý kiến của nhiều chuyên gia, chính là lấy cảm hứng từ báo cáo của Columbus và các nhà thám hiểm khác. Nhưng đấy không phải là vùng đất tốt đẹp như ngày nay ta quan niệm về Utopia, đấy là một xã hội rất nghiêm khắc và tuân theo những quy định rất khắt khe, tất cả mọi người đều mặc như nhau, đều sống trong những ngôi nhà giống nhau, không được đi đâu nếu chưa có giấy thông hành, thảo luận các vấn đề xã hội có thể bị tử hình. Tiền bị bãi bỏ, vàng bạc được dùng để làm ra những cái bô dùng vào ban đêm. Đề tài chung của những tác phẩm không tưởng sau này, cũng như của More, đều xoay quanh việc thiếu vắng của cải cá nhân, cũng như việc sử dụng bạo lực của xã hội đối với cá nhân con người: cả trong lý thuyết lẫn trên thực tế, Utopia nghĩa là, cá nhân phải khuất phục chính quyền, con người buộc phải làm cái mà nếu được tự do anh ta có thể không muốn làm. 
Cần phải nói rằng lý tưởng về một “Thời đại Hoàng kim”, không có tư hữu, chỉ là một huyền thoại, một sản phẩm của ước mơ chứ không phải là sản phẩm của trí nhớ vì các nhà sử học, các nhà khảo cổ học và các nhà nhân chủng học đã thống nhất rằng, chưa ở đâu và chưa bao giờ có chuyện tư liệu sản xuất từng là của chung. Tất cả các sinh vật sống, từ những thực thể đơn giản nhất cho đến những sinh vật phát triển nhất đều cần phải kiếm thức ăn, mà như thế, phải có quyền sở hữu không gian sinh tồn. Trong hàng ngàn năm, trước khi định cư và chuyển sang chăn nuôi và làm nông nghiệp, con người đã sống bằng săn bắn và hái lượm, các nhóm người gắn bó với nhau bằng quan hệ họ hàng đã khẳng định độc quyền chiếm hữu của mình trên những vùng đất nhất định, họ luôn luôn xua đuổi hoặc giết hại những kẻ xâm lấn. Yêu sách về sở hữu càng căng thẳng thêm khi người ta chuyển sang sản xuất nông nghiệp, tức là cách đây khoảng mười ngàn năm về trước, vì làm đất là một công việc nặng nhọc và không thể có kết quả tức thời. 
Trong những nền văn minh cổ đại, cách đây khoảng năm ngàn năm về trước, ở Ai Cập và Lưỡng Hà, ruộng đất là tài sản của triều đình hay nơi thờ tự. Chúng ta có thể khẳng định chắc chắn rằng Israel cổ đại là nước đầu tiên có sở hữu tư nhân về ruộng đất. Chúa Trời trong Cựu Ước nguyền rủa bất cứ kẻ nào dám di chuyển các phiến đá ngăn cách những khoảnh ruộng với nhau (“Đáng rủa xả thay người nào dời mốc giới của kẻ lân cận mình!” Phục truyền luật lệ ký 27:17), trong Kinh Cựu Ước còn có mấy cuốn có những đoạn nói về các gia đình hoặc một số người có ruộng đất và bãi chăn thả riêng. Nhưng việc sở hữu ruộng đất ở Israel cổ đại còn bị hạn chế bởi một loạt quy ước về tôn giáo và chủng tộc. Chỉ ở Hy Lạp cổ đại là từ xa xưa đất đai đã là tài sản riêng. Nói cách khác, không có bằng chứng nào chứng tỏ rằng ở một thời rất xa nào đó đã từng có những xã hội không biết đến “cột mốc biên giới và hàng rào”, chưa từng có xã hội nào không công nhận “của tôi” và “của anh”. 
Bằng cách đưa ra quan niệm về bản chất của con người, các nhà tư tưởng thời Khai sáng đã có đóng góp to lớn vào lý thuyết của chủ nghĩa xã hội. Ở phương Tây, người ta thường quan niệm rằng con người gồm có hai phần là thể xác và linh hồn, do Chúa Trời sáng tạo nên; người ta tin rằng, linh hồn đã mang sẵn các tư tưởng và giá trị ngay từ khi lọt lòng mẹ. Đấy là quan điểm bảo thủ, vì nó khẳng định sự bất biến của bản chất con người: bản chất của một người đã và sẽ mãi mãi như thế. Nói cách khác, nếu một người nào đó có máu tham thì anh ta sẽ mãi mãi là một người tham lam. 
John Locke, triết gia người Anh đã phản đối quan điểm như thế; trong tác phẩm Essay Concerning Human Understanding (Luận về hiểu biết của con người - 1690), ông đã phủ nhận sự tồn tại của “các tư tưởng bẩm sinh”. Theo Locke, trí óc (hay tâm hồn) khi mới sinh ra vốn là một tờ giấy trắng: tất cả các tư tưởng và giá trị đều có nguồn gốc từ kinh nghiệm. Lý thuyết này cho rằng bản chất của con người là mềm dẻo chứ không cố định, vì vậy có thể giáo dục được, trong khuôn khổ mà tính thiện của họ - các nhà triết học công nhận rằng bản chất con người vốn là thiện – có thể lấn lướt được thói ích kỉ. Claude-Adrien Helvétius, một tư tưởng gia người Pháp thế kỷ XVIII, còn khẳng định rằng, giáo dục đúng cách và pháp luật không những có thể tạo điều kiện mà còn bắt buộc người ta đạt được phẩm hạnh hoàn hảo. Lý thuyết về tâm lý học cực kì đáng ngờ này đã trở thành di sản của chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản; các chủ nghĩa này, ở những mức độ khác nhau, đều dựa vào giáo dục và/hoặc bạo lực nhằm đạt được những mục đích đáng mong muốn. Ở một số khía cạnh nào đó, nhà nước cộng sản do Lenin thành lập ở nước Nga tháng 11 năm 1917 chính là một cuộc thí nghiệm vĩ đại trong việc giáo hoá xã hội, theo mô hình của Helvétius nhằm tạo ra con người hoàn toàn mới, con người đã giải thoát khỏi những thói hư tật xấu cũ, trong đó có ước muốn tìm kiếm của cải. 
Các nhà tư tưởng cấp tiến người Pháp thế kỷ XVIII là những người đầu tiên đưa ra cương lĩnh cộng sản, kêu gọi bãi bỏ tư hữu vì đấy là nguyên nhân của mọi tai hoạ trên đời. Morelly, trong tiểu luận có nhiều ảnh hưởng, nhan đề: Le Code de la Nature (Bộ luật của tự nhiên -1755), viết như sau: 
Thói xấu duy nhất ở trên đời mà tôi biết chính là lòng tham, tất cả những cái khác, dù có gọi là gì thì cũng chỉ là hình thức hoặc mức độ của nó mà thôi… Hãy phân tích thói háo danh, tính kiêu ngạo, giả dối, đạo đức giả, sự độc ác; hãy khảo sát phần lớn các đức tính phức tạp của chúng ta, hoá ra tất cả đều hoà tan trong cái bản năng qủy quyệt và tai hại, là khát vọng chiếm hữu.” 
Như vậy, luận điểm cho rằng tâm lý của con người được quyết định bởi các điều kiện kinh tế chính là nền tảng của tất cả các học thuyết xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. 
*****
Cho đến giữa thế kỷ XIX, lý tưởng bình đẳng vẫn chỉ là hoài bão, đôi khi cũng gây ra những vụ bạo lực, nhưng chưa hề có lý luận hay chiến lược gì. Ví dụ, thế kỷ XVII ở Anh có Winstanley, lãnh tụ của một nhóm cấp tiến lấy tên là Digger, kêu gọi những ngưởi ủng hộ mình chiếm công điền và biến chúng thành các khu chăn nuôi gia súc. Ông ta đưa ra lý luận tương tự như học thuyết cộng sản: bãi bỏ buôn bán đất đai và các sản phẩm của nó. Một thế kỷ rưỡi sau, trong thời Cách mạng Pháp, một nhà cách mạng cấp tiến, Franҫois-Noël Babeuf, đã thành lập một tổ chức gọi là “Âm mưu vì Công bằng”, kêu gọi tập thể hoá toàn bộ tài sản. Nhưng cả hai ông này đều không thể đưa ra được lý luận chứng tỏ cho người ta thấy cuộc cách mạng xã hội mà họ hướng tới sẽ được thực hiện như thế nào. Vào đầu thế kỷ XIX, những nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng khác, như Comte de Saint-Simon và Charles Fourier, hy vọng có thể thuyết phục được những người giàu có từ bỏ một phần tài sản của mình. 
Thỉnh thoảng ở phương Tây lại xuất hiện các công xã cộng sản tự nguyện. Một trong những công xã như thế là Công ty Virgin ở Jamestown, được thành lập vào năm 1607; năm 1825 Robert Owen thành lập một công xã lấy tên là “Sự hoà hợp mới” ở Indiana. Tất cả các thử nghiệm như thế trước sau gì cũng thất bại, vì không thể giải quyết được vấn đề “những kẻ ăn bám”, tức là những thành viên công xã chỉ muốn ăn mà không muốn làm. 
Đóng góp của Karl Marx và Friedrich Engels cho chủ nghĩa xã hội là lý thuyết chứng tỏ rằng thiên đường bình đẳng không những là đáng mong muốn và có thể xây dựng được; hơn nữa, còn là tất yếu. Để chứng minh, họ đã sử dụng các phương pháp của khoa học tự nhiên là những môn khoa học đã có uy tín rất cao trong xã hội lúc đó. 
Marx và Engels đưa ra học thuyết “chủ nghĩa xã hội khoa học”, nói rằng, lý tưởng về một xã hội bình đẳng không còn tư hữu không những có thể thực hiện được mà nhất định sẽ phải được thực hiện, đấy chỉ là kết quả của quá trình phát triển tự nhiên của nền kinh tế mà thôi. Quan điểm Marxist về tiến hoá xã hội xuất hiện dưới ảnh hưởng của học thuyết Darwin, được trình bày trong On the Origin of Species (Nguồn gốc các loài - 1859). Cuốn sách của Darwin giải thích sự xuất hiện của các loài sinh vật như là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, chính quá trình chọn lọc tự nhiên này đã giúp cho các loài thích nghi với môi trường thù địch. Đây là một quá trình động, các loài phát triển từ thấp lên cao theo các quy luật đã được xác định. Các nhà nghiên cứu về hành vi của con người lập tức chớp lấy lý thuyết này, họ còn thành lập cả trường phái gọi là “Xã hội học tiến hoá”, mô tả lịch sử như là quá trình phát triển theo “giai đoạn”, từ thấp đến cao. Ảnh hưởng của Darwin đối với Marx và Engels cao đến nỗi Engels, trong đám tang bạn mình, đã nói: “Giống như Darwin phát minh ra quy luật phát triển của thế giới hữu cơ, Marx phát minh ra quy luật phát triển của lịch sử loài người”. 
Đưa tư duy về quá trình tiến hoá vào lý thuyết xã hội chủ nghĩa làm nảy sinh khái niệm không thể đảo ngược. Theo “chủ nghĩa xã hội khoa học”, hoạt động của con người chỉ góp phần thúc đẩy hay làm chậm lại sự tiến hoá của xã hội, nhưng không thể làm thay đổi được xu hướng, vì xu hướng tiến hoá phụ thuộc vào các nhân tố khách quan. Như thế, theo các nguyên nhân sẽ được trình bày dưới đây, chủ nghĩa tư bản nhất định phải nhường chỗ cho chủ nghĩa xã hội. Tác động về mặt tình cảm của niềm tin này cũng chẳng khác gì niềm tin vào ý Chúa, nó là nguồn động viên rất lớn đối với những người tin tưởng tuyệt đối rằng, dù có phải vượt qua biết bao nhiêu trở ngại, nhất định họ sẽ giành được thắng lợi cuối cùng. Lý thuyết này đã có một hấp lực rất mạnh đối với các nhà trí thức, vì nó hứa hẹn sắp xếp lại cuộc đời đầy lộn xộn này, biến đời sống thành ra có trật tự mà trí thức chính là những người thày, người hướng dẫn cho cái trật tự đáng mong ước đó. Marx đã giải thích điều đó bằng một câu nổi tiếng sau đây: “Các nhà triết học giải thích thế giới bằng những cách khác nhau, nhưng vấn đề là cải tạo nó”. Ai là người sẵn sàng cho việc cải tạo thế giới? Không phải trí thức thì còn ai nữa? 
Dù tuân theo phương pháp khoa học, nhưng, chủ nghĩa Marx đã vi phạm một yêu cầu căn bản của phương pháp này, đấy là không định kiến và sẵn sàng làm cho lý thuyết thích nghi với những nhân tố mới. (Theo Bertrand Russell, chủ nghĩa Bolshevik, con đẻ của chủ nghĩa Marx, là một “tôn giáo” vì “không được phép tranh luận, ngay cả khi nói về những vấn đề còn chưa rõ ràng về mặt khách quan”). Đây là một học thuyết cứng nhắc, không chấp nhận bất kỳ một quan điểm khác biệt nào. Marx không hề che giấu thái độ đối với những người bất đồng ý kiến với ông: phê bình, có lần ông đã viết “không phải là con dao mổ mà là vũ khí. Đối tượng của nó cũng là kẻ thù của nó, một đối tượng mà nó không muốn cải chính mà là muốn tiêu diệt”. Vì vậy, có thể khẳng định rằng, chủ nghĩa Marx là một giáo điều mang mặt nạ khoa học. 
Làm cho chủ nghĩa Marx thích nghi với truyền thống khoa học chỉ là một trong những khía cạnh hấp dẫn của nó mà thôi. Khía cạnh khác, có liên quan đến những biến đổi của điều kiện xã hội, cũng diễn ra trong thời gian đó. Trước cuộc cách mạng công nghiệp, sản xuất nông nghiệp là cơ sở của nền kinh tế thế giới. Cho đến lúc đó, 80 cho đến 90% người châu Âu và Mỹ sống bằng canh tác nông nghiệp hoặc nhờ canh tác nông nghiệp: họ giàu là nhờ thu hoạch từ ruộng đất hoặc phát canh thu tô. Dĩ nhiên, công thương nghiệp đã từng tồn tại từ những ngày xa xưa, nhưng chỉ có vai trò thứ yếu trong nền kinh tế. Đất là tài sản chủ yếu, cho nên các phong trào đòi bình đẳng cũng dành nhiều sức lực cho đòi hỏi bãi bỏ quyền tư hữu ruộng đất. 
Quan điểm của các phong trào đòi bình đẳng đã thay đổi hoàn toàn kể từ khi xuất hiện nền sản xuất công nghiệp đại trà. Tiền từ công thương nghiệp, chứ không phải địa tô, đã trở thành tài sản chủ yếu. Nó tạo ra hình thức nghèo đói mới, vì quá trình cơ khí hoá làm hạ giá thành sản phẩm, các nghề sản xuất truyền thống trở nên lỗi thời, nhiều thợ thủ công thất nghiệp.
Công nghiệp hoá không chỉ tạo ra những xáo động đầy đau đớn trong xã hội mà còn làm thay thay đổi một cách căn bản và thường xuyên quan hệ giữa người sử dụng lao động và kẻ làm thuê. Điền chủ và tá điền là những người hàng xóm và theo một nghĩa nào đó thì họ chính là những đối tác của nhau. Mặc dù thỉnh thoảng tá điền vẫn bị đuổi hàng loạt, ví dụ như ở Anh thời kì có Luật hàng rào, nhưng nói chung, cuộc sống nông thôn tương đối ổn định, đặc biệt là những nước như Mỹ, nơi đa số nông dân cũng là chủ mảnh đất mà họ canh tác. 
Trong các xã hội kỹ nghệ, mối liên hệ giữa chủ tư sản và người làm thuê đã yếu hơn, lại không bền vững vì người chủ có thể cho công nhân thôi việc, khi nhu cầu giảm. Sự khác biệt về lối sống là thách thức đối với xã hội vì những người giàu mới nổi cố tình trưng ra tài sản của mình. 
Sự phát triển như thế đã làm phát sinh lòng căm thù đối với “chủ nghĩa tư bản”. Chủ nghĩa xã hội, cho đến lúc đó mới là một lý tưởng được giới trí thức chia sẻ, bắt đầu nhận được sự ủng hộ của những nhóm công nhân nhất định. 
Các trước tác của Marx và Engles, gồm hàng chục tập, riêng bộ Das Kapital (Tư bản luận) đã là một ngàn bốn trăm trang in, với rất nhiều thuật ngữ chuyên môn. Ít người đủ sức đọc hết những tác phẩm cực kì khó như thế, và vì vậy mà người ta phải lấy làm ngạc nhiên làm sao giải thích được ảnh hưởng to lớn đến như thế của nó. Câu trả lời là, các nguyên lý căn bản của học thuyết về “chủ nghĩa xã hội khoa học” có thể quy về một vài luận điểm tương đối đơn giản. 
Trong điếu văn đọc tại đám tang của Marx, Engles trình bày “quy luật của lịch sử nhân loại”, theo lời ông là được Marx phát minh như sau: 
Người ta trước hết phải ăn, uống, có nhà ở và quần áo mặc, trước khi có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo v.v…, nghĩa là sản xuất các tư liệu trực tiếp của đời sống và như vậy, mỗi một nấc phát triển kinh tế của một dân tộc hay một thời đại đều tạo ra hạ tầng cơ sở, trên đó, sẽ phát triển các cơ quan nhà nước, các quan điểm pháp lý, nghệ thuật và ngay cả các quan niệm tôn giáo của người dân, vì vậy, chúng phải được giải thích trên cơ sở đó chứ không phải ngược lại như người ta vẫn làm lâu nay.” 
Tóm lại kinh tế là hạ tầng cơ sở của một đời sống có tổ chức, tất cả những cái khác đều là “thượng tầng kiến trúc”. 
Từ tiền đề đó, Marx và Engels đưa ra lý thuyết về cách mạng xã hội, luận điểm cơ bản của lý thuyết này nói rằng, chính tư hữu tư liệu sản xuất đã dẫn đến việc hình thành các “giai cấp” xã hội. Khởi thuỷ, chưa có tư hữu tư liệu sản xuất: mọi người cùng nhau sở hữu ruộng đất. Nhưng cùng với thời gian, chế độ “cộng sản nguyên thuỷ” nhường chỗ cho sự phân chia giai cấp, một nhóm người đã giành được độc quyền đối với các nguồn tài nguyên quan trọng sống còn này và sử dụng sức mạnh kinh tế của mình để bóc lột và áp bức nhân dân bằng cách xây dựng các thiết chế chính trị và pháp lý để bảo vệ những quyền lợi giai cấp của họ. Nhóm người này đã sử dụng văn hoá - tôn giáo, luân lý, văn học và nghệ thuật - cho cùng mục đích như thế. Các phương tiện này đã tạo điều kiện cho giai cấp cầm quyền bóc lột nhân dân. 
Dĩ nhiên là, các giai cấp hạ lưu không chấp nhận bị bóc lột; họ luôn đấu tranh chống lại, nhưng khi còn tư hữu thì thành quả của họ chỉ là thay một hình thức bóc lột này bằng hình thức bóc lột khác mà thôi. Vì vậy, nói theo Communist Manifesto (Tuyên ngôn Cộng sản), cho đến nay, lịch sử xã hội loài người là lịch sử của những cuộc đấu tranh giai cấp. 
Những suy tư như thế về quá khứ chỉ là khúc dạo đầu của vấn đề mà Marx quan tâm hơn cả, đấy là phân tích thế giới “tư bản” đương thời. Ông đã bỏ ra nhiều năm ròng để nghiên cứu lịch sử kinh tế nước Anh, nhằm tìm cách chứng minh rằng “chủ nghĩa tư bản” là giai đoạn cuối cùng của xã hội có giai cấp và chế độ này sẽ phải sụp đổ trong một cuộc cách mạng do những người công nhân công nghiệp đang bị bóc lột tiến hành. Đấy sẽ là cuộc cách mạng cuối cùng vì nó sẽ dẫn đến việc thành lập xã hội không còn giai cấp nữa. Và lịch sử sẽ hoàn toàn chấm dứt tại đây. 
Hệ thống tư bản đặt cơ sở trên chế độ bóc lột lao động làm thuê, theo nghĩa là nhà tư sản chiếm đoạt “giá trị thặng dư” của món hàng mà người công nhân sản xuất ra. Theo Engels, khái niệm “giá trị thặng dư” là phát hiện vĩ đại thứ hai của Marx, giúp ta hiểu được xã hội loài người. Toàn bộ giá trị đều do lao động mà ra. Nhưng, trong hệ thống tư bản, người sử dụng lao động chỉ trả cho công nhân một phần nhỏ giá trị mà người công nhân làm ra, chỉ đủ cho người lao động sống qua ngày mà thôi. Phần còn lại, tức là “thặng dư” thì người chủ đút vào túi mình. 
Cùng với quá trình phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, lợi nhuận của tư sản cũng như tiền lương trả cho công nhân sẽ liên tục giảm. Đấy là do trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, tư sản phải chi tiêu nhiều hơn cho việc trang bị máy móc, nguyên liệu v.v.. và phải trả lương cho người lao động ít đi. Giá nhân công rẻ đi, tiền lương hạ xuống, mức sống sẽ thấp đi. Đồng thời, trong các cuộc khủng hoảng, xuất hiện thường xuyên do kết quả của sản xuất thừa, các xí nghiệp lớn sẽ nuốt chửng các xí nghiệp nhỏ hơn, năng lực sản xuất công nghiệp sẽ ngày càng tập trung vào tay một số ít người hơn. Như vậy nghĩa là, tư sản và người công nhân cùng ngồi trên một con thuyền: tư sản thì bị mất cơ nghiệp vào tay những kẻ giàu có hơn, còn công nhân thì trở thành nạn nhân của quá trình “bần cùng hoá”. Cùng với thời gian, tiến trình này nhất định sẽ dẫn đến cách mạng: 
Cùng với việc giảm liên tục số nhà đại tư bản… thì quần chúng nghèo khổ, bị áp bức, nô lệ, suy đồi, bị bóc lột lại tăng thêm, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng thái độ bất mãn của giai cấp công nhân, một giai cấp đang ngày càng tăng về số lượng, họ sẽ học tập, sẽ liên kết lại và tham gia tổ chức theo đúng cơ chế của chính quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa. Độc quyền tư bản sẽ trở thành gông cùm đối với phương thức sản xuất đã từng phát triển từ bên trong và bên dưới nó… Việc tập trung phương tiện sản xuất và xã hội hoá lao động sẽ đạt đến mức mà tự chúng sẽ trở thành không còn phù hợp với vỏ bọc tư bản chủ nghĩa nữa. Nó sẽ nổ tung. Giờ cáo chung của sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đã điểm. Những kẻ tước đoạt sẽ bị tước đoạt.” [2]
Những cuộc cải cách của chủ nghĩa tư bản cũng không có khả năng ngăn chặn cái kết cục ấy: sự cáo chung của chủ nghĩa tư bản là tất yếu. 
Kết quả cuối cùng của cách mạng xã hội chủ nghĩa sẽ là sự giải phóng hoàn toàn con người. “Tự do” trong quan niệm của Marx và Engels không có gì chung với quan điểm của chủ nghĩa tự do về quyền công dân và sự bảo vệ những quyền đó từ phía nhà nước: “Tự do chính trị là tự do ảo”, Engels viết, “là một dạng nô lệ thấp kém nhất; nó chỉ có vẻ tự do và vì vậy mà, trên thực tế, là nô lệ ”. [3]  Tương tự như Engels, Marx cũng coi các quyền tự do và quyền công dân là sự lừa mị vì chúng làm cho con người trở thành nô lệ của phúc lợi vật chất; tự do chân chính sẽ giải phóng con người khỏi tình trạng nô dịch như thế. George Lukacs, một lý thuyết gia Marxist, giải thích điều đó như sau: 
“Tự do” của những người đang sống hiện nay là tự do của các cá nhân, bị cách ly với nhau bởi sở hữu, là cái vừa vật chất hóa (reify) vừa được vật chất hóa*. Đấy là tự do của những cá nhân vis-à-vis (so với) những người khác. Tự do của một kẻ ích kỉ; tự do của một người tự tách mình khỏi những người khác”. [4]
* Vật chất hóa (reify) nghĩa là gán hiện thực cho cái trừu tượng. Marx, học theo Ludwig Feurbach, đưa ra ví dụ về xu hướng gán tất cả những điều mà họ cho là tốt đẹp và đáng mong ước cho cái không tồn tại (theo quan niệm của Marx) mà họ gọi là “Chúa Trời”. Ví dụ khác là lời tuyên bố “Lịch sữ sẽ phán xét” chứ không phải là “Các nhà sử học sẽ phán xét”.  
Vì vậy việc loại bỏ tư hữu chính là điều kiện tiên quyết cho quyền tự do chân chính. Phải giải thoát khỏi sự phụ thuộc đó thì nhân loại mới đạt đến sự tự thể hiện một cách đầy đủ. Phân công lao động sẽ biến mất và người ta có thể tự do chuyển từ công việc này sang công việc khác. Marx mơ mộng: 
Trong xã hội cộng sản, nơi không có ai bị giới hạn lĩnh vực hoạt động nhất định… xã hội điều tiết toàn bộ quá trình sản xuất và vì vậy, sẽ tạo điều kiện cho tôi hôm nay làm việc này, ngày mai làm việc khác, sáng đi săn, giữa trưa đi câu cá, chiều chăn gia súc, sau bữa ăn tối thì làm phê bình - tuỳ thích – và không vì thế mà biến tôi thành thợ săn, ngư dân, người chăn nuôi hay nhà phê bình.” [5]
Richard Pipes
Phạm Nguyên Trường dịch
[1] Kitty Muggeridge and Ruth Adam, Beatrcie Webb, (New York, 1968), trang 234. Viết năm 1934 hay 1935
[2] Karl Marx, Capital (Tư bản luận), Tập 1., Chương XXIV.
[3] K. Marx, F. Engels, Collected Works (Toàn tập), tập III, (New York, 1975), trang 393
[4] George Lukacs, History and Class Consciousness (Lịch sử và ý thức giai cấp). Cambridge, Mass, 1971, tr. 315

[5] German Ideology (Hệ tư tưởng Đức), trong K. Marx and F. Engels, Collected Works (Toàn tập), tập V, (New York, 1976), trang 47.