Search This Blog

Sunday, March 18, 2018

Trần Gia Lương: Kỹ Thuật Bôi Nhọ (Smear Tactic) Trong Chính Trị Hoa Kỳ

Trong những cuộc tranh cử của các ứng cử viên thuộc hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ Hoa Kỳ những năm gần đây người ta đã thấy họ xử dụng tất cả những kỹ thuật bẩn thỉu và tàn bạo đã được Đức Quốc Xã và Cộng Sản xử dụng thành công như nói láo, bịa đặt, vu khống; đổ lỗi cho người khác những việc tệ hại do chính mình gây ra v.v. cái mà Sigmund Freud gọi làtransference phenomenon.
Mỗi đảng đều có những nhóm đứng đằng sau tung ra những tuyên truyền xám để tấn công đối thủ của mình. Tuyên truyền gồm ba loại: Tuyên truyền trắng, đen và xám. Tuyên truyền trắng nêu rõ xuất xứ và có tính cách thuyết phục và giao tế với quần chúng. Tuyên truyền đen là mạo danh đối thủ để tung tin thất thiệt. Tuyên truyền xám là dấu biệt hình tích.
Tuyên truyền là tung ra những ý tưởng, quan điểm đầy thành kiến qua phương thức bịa đặt và lừa dối. Tuyên truyền dùng những kỹ sảo để xuy đảo tâm lý con người bằng cách dùng hình ảnh, khẩu hiệu, biểu tượng đánh mạnh vào thành kiến và cảm tính của quần chúng. Đó là một lối truyền thông có mục đích tối hậu là làm cho quần chúng tin vào quan điểm của mình tới mức độ họ cũng coi đó chính là quan điểm của họ.
Những kỹ thuật của các nhóm chính trị thuộc cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ cóp nhặt từ hai nguồn chính:
  • Rules for Radicals của Saul Alinsky (1909-1972):Trong cuốn này Alinsky hướng dẫn cách lập một phong trào tranh đấu cho công bằng xã hội, cho quyền lợi của tầng lớp trung lưu và nghèo khó, cho một nền y tế tốt đẹp cho tất cả mọi người, một khuôn mẫu xã hôi chủ nghĩa tốt đẹp khác hẳn chế độ Cộng Sản. Cũng vì lý tưởng này mà ông mấy lần bị vào tù khi chính quyền đổ tội ông là Cộng Sản vì đứng đầu các phong trào đòi hỏi nhân quyền, công bằng xã hội. Nên nhớ là vào cuối thập niên 1950 tới 1960 người nào có tư tưởng xã hội đều bị gán là Cộng Sản và ngay cả bây giờ đôi khi cũng bị như vậy. Hai ông Obama và Clinton cũng bị vu khống là đưa nước Mỹ tới chế độ Công Sản khi hai ông áp dụng lý tưởng này và mời hai giáo sư kinh tế Robert B. Reich và Joseph E. Stiglitz (giải Nobel kinh tế) vào làm bộ trưởng và cố vấn (1). Cả hai ông Reich và Stiglitz đều cho rằng hồi thập niên 1970 sự cách biệt lợi tức giữa một CEO của một corporation và một kỹ sư thuộc middle class là 26% thì vào thời điểm 2012 lên tới 234%. Cũng vào thập niên 1970, một người đi làm có thể mua được một căn nhà, đến nay 2012-2013 phải cả hai vợ chồng cùng đi làm mới đủ. Riêng tôi thì thấy năm nay 2017 cả hai vợ chồng đi làm phải dành dụm mấy năm mới mua được nhà. Và hiện nay theo luật thuế mới do đảng Công Hòa đưa ra và được ông Trump chấp thuận thì 1% những người giàu lại đóng ít thuế trong khi 90% người trung lưu lại đóng thuế nhiều (việc giảm thuế cho họ chỉ tạm thời sau đó sẽ tăng trong khi việc giảm thuế cho corporation thì từ 34.5% xuống 21% được vĩnh viễn). Chính nhà tỉ phú Warren Buffett cũng nói là ông đóng ít thuế hơn bà thư ký của ông làm có 34,000 dollars một năm. Cũng chính ông Steve Bannon, người giúp ông Trump đắc cử Tổng Thống, và từng là cố vấn tối cao cũng đòi hỏi phải đánh thuế người giàu lên 44% thay vì 21% như hiện nay vì ông đồng quan điểm với các học giả là sự cách biệt quá cao về lợi tức giữa các tầng lớp dân chúng sẽ gây tình trang xáo trộn trong xã hội. Nên nhớ ông Bannon cũng là một học giả lỗi lạc. Hình như hầu hết các học giả đều có tư tưởng xã hội.
Người chống chính sách xã hội của Tổng Thống Clinton là nhà tỉ phú khuynh hữu Richard Mellon Scaife khi ông tin tưởng là đảng Dân Chủ đang thắng đảng Cộng Hòa trong chiến tranh tư tưởng ý thức hệ về chính sách xã hội mang lại quân bình cho mọi người . Do đó ông tung ra rất nhiều tiền để đánh đổ ý thức hệ xã hội của đảng Dân Chủ. Theo Washington Post thì trong 18 năm kể từ thời Tổng Thông Reagan cho tới khi ông Clinton đắc cử tổng thống, ông đã bỏ ra hơn 200 triệu cho phong trào chống lại ý thức hệ xã hội. Khi ông Clinton đắc cử thì ông Scaife lại tung ra rất nhiều triệu dollars chống lại ông Clinton trong cuộc đấu tranh mang lại công bình xã hội cho dân Mỹ. Năm 1994, trong một bữa tiệc ông đã tuyên bố với những người dự tiệc là ông sẽ tiêu diệt ông Clinton. Cũng theo tờ Washington Post thì tính đến lúc tổng thống Clinton mãn nhiệm kỳ 2 thì ông chính thức là người hiến tặng nhiều tiền nhất trong lịch sử cho lý tưởng cực hữu của đảng Cộng Hòa. Cho đến nay, ông cống hiến ít nhất $340 triệu để hỗ trợ cuộc “chiến tranh ý thức hệ chống lại chủ nghĩa tự do Hoa Kỳ.”
Thật ra hầu hết những người ủng hộ chính sách xã hội của TT Clinton và Obama đều bị chụp mũ là CS hoặc Sĩ Quan SS của Đức Quốc Xã. Nhà tỉ phú George Soros là một điển hình. Ông bị tố là CS mà họ quên là ông đã giúp nhiều triệu dollars cho các nhóm chống Cộng tại các nước như Hung Gia Lợi (quê hương ông), Ba Lan, Tiệp Khắc v.v. để cùng Đức Giáo Hoàng và TT Reagan giật xập chế độ CS ở Đông Âu. Mới đây khi giúp quĩ tranh cử cho bà Clinton thì họ tung hình ảnh photoshop một thanh niên trẻ đeo lon Trung Úy và nói chính ông là Sĩ Quan SS của Đức.  Vì dốt nát nên họ không hiểu là khi nước Đức bại trận trong Thế Chiến thứ II vào tháng Năm 1945 thì ông mới có 14 tuổi (ông sinh năm 1930). Ngoài ra muốn là Sĩ Quan SS thì ông phải ít nhất 17 tuổi mà phải là người Đức thuần chủng trong khi đó ông là người Hung Gia Lợi gốc Do Thái. Chưa bị băt đi trại tập trung là may.
Tôi xin tóm tắt những playbook của Saul Alinsky dưới đây:  
  • Vũ khí mạnh nhất là chế nhạo đối thủ.
  • Đẩy mạnh áp lực. Đừng bao giờ giảm.
  • Phát động một chiến dịch để đè nặng áp lực thường xuyên lên đối thủ.
  • Chọn một mục tiêu, nắm chặt lấy nó, nhân cách hóa nó và dùng nó để gây chia rẽ.
  • Đe dọa (threat) còn đáng sợ hơn là việc làm.
  • Goebbels bộ trưởng của Ministry of Public Enlightenment and Propaganda của Quốc Xã Đức từ 1933 tới 1945.
Goebbels chủ trương phải kiểm soát tất cả mọi thứ trong xã hội Đức từ chính quyền tới tôn giáo, phim ảnh, truyền thông v.v.để hướng dẫn tư tưởng quần chúng làm cho họ cuồng tín tin tưởng tối đa vào nhà lãnh tụ độc tài của chế độ fascist. Tuyên truyền liên tiếp lập đi lập lại mãi cho tới khi quần chúng tin là hình vuông thực ra là hình tròn. Đại khái những phương pháp tuyên truyền của ông gồm các điểm sau:
  • Nói láo một lần thì vẫn là câu nói láo, nói láo một ngàn lần thì câu nói láo đó biến thành câu nói thật.
  • Phải chọn lựa tin để đăng báo. Những viên chức trông coi thông tin phải có trách nhiệm bảo đảm mỗi bản tin đưa ra phải phục vụ một mục đích nào đó.
  • Kẻ thù đáng sợ nhất cho Nhà Nước là sự thật.
  • Nhà Nước nắm quyền tối hậu trong việc chỉ đạo tư tưởng quần chúng.
  • Tuyên truyền phải làm dễ dàng việc chỉ định kẻ thù nghịch thành mục tiêu của mình.
  • Càng nói láo nhiều (bigger lie) bao nhiêu thì người ta càng tin mình bấy nhiêu.
  • Nếu ta liên tiếp nói láo một cách liên tục, nó sẽ biến thành câu nói thật.
  • Để thuyết phục, chỉ nên tóm lược vào một vài điểm chính và lập đi lập lại nhiều lần. Kiên trì là điều kiện tiên quyết và quan trọng nhất cho việc thành công.
Ngoài ra các chính trị gia cũng áp dụng phương thức phản công của Cộng Sản, Đức Quốc Xã khi bi tấn công:
  • Nhất quyết không nhận tội.
  • Chối tới cùng.
  • Đòi hỏi bằng chứng.
  • Phản chứng mạnh mẽ.
  • Làm mất uy tín đối thủ.
Trước đây, khi giá trị đạo đức được coi trọng thì người ta không bịa đặt chuyện để vu khống người khác, họ chỉ lôi ra những việc làm bê bối của đối thủ, rồi cho người tung lên báo để bôi nhọ. Chẳng hạn như vào thập niên 1790 ông Bộ trưởng Ngân Khố Alexander Hamilton bị báo chí tố là có liên hệ tình dục với một phụ nữ tên là Maria Reynolds. Mặc dù ẩn danh nhưng mọi người đều biết là Thomas Jefferson tung ra. Vào thời đó con người rất thật thà, nên mánh lới của họ rất ngớ ngẩn. Hiện nay, những thủ đoạn lăng mạ người khác thì rất tinh vi, nếu không cẩn thận, người ta sẽ bị lầm lẫn.
Trong cuộc tranh cử chức vị Tổng Thông giữa hai ứng cử viên John Kerry và George W. Bush thì phe ông Bush tố cáo chiến công của ông Kerry tại Việt Nam là bịa đặt, không có thật. Họ mướn một cựu nhân viên FBI đi tìm kiếm các cựu chiến binh Swift Boat (một số những người tự nhận là cựu binh sĩ Swift Boat thì không hề tham chiến ở V.N., số khác không phải là lính) tung ra những tin tức trên báo chí, truyền hình bôi nhọ ông Kerry bịa đặt chiến công ở Việt Nam mặc dù những chiến công này có thật. Trong khi phe ông Kerry thì tố ông Bush là trốn tránh tham chiến ở Việt Nam bằng cách gia nhập Vệ Binh Quốc Gia ở Tiểu Bang Texas.
Cũng như khi Tổng Thống Clinton trong vụ Monica Lewinsky, ông Chủ Tịch Hạ Viện Newt Gingrich (Thuộc đảng Cộng Hòa) nhất quyết đòi impeach ông Clinton thì ông Larry Flynt, chủ nhiệm báo Hustler (báo con heo) treo giải thưởng một triệu dollars cho bất cứ ai có bằng chứng các dân biểu, thượng nghị sĩ ngoại tình thì lòi ra ngay ông Gingrich ngoại tình và đưa người tình đi phá thai trả bằng tiền mặt. Việc vỡ lở khiến ông phải xin từ chức. Người được đảng Công Hòa bổ nhiệm thế ông Gingrich là Bob Livingston sau đó cũng lòi ra là ông có liên hệ ngoại tình với bốn phụ nữ khiến ông cũng đột ngột từ chức. Sau đó khi lên thượng viện với đa số Cộng Hòa thì ông Clinton được miễn tội. Về sau này bà Barbara Walter, người phụ trách chương trình 20/20 của đài ABC, khi về hưu cũng tiết lộ bà có liên hệ tình dục trong thời gian đó với ông Chủ Tịch Thương Viện Công Hòa. Ông Flynt tuyên bố công việc ông làm chỉ cốt chứng tỏ bộ mặt đạo đức giả của các chính trị gia. Các cụ ta nói “cháy nhà ra mặt chuột“là vì vậy.
Tới thời ứng cử viên Obama ra tranh cử thì sự bịa đặt đi lên một mức cao hơn. Ông Trump và ông sheriff Joe Arpaio ở Arizona và những nhóm thuộc đảng Cộng Hòa tung tin là ông Obama không phải sinh ở Hawaii mà sinh tại Kenya Phi Châu. Họ còn tung những khai sinh giả để chứng minh lời tố cáo cùng tung những hình ảnh do Photoshop tạo ra cho thấy ông đang vận động tranh cử tại Phi Châu cho ông anh theo Cộng Sản cùng cha khác mẹ kèm theo những hình ảnh ông chụp với nhóm kháng chiến thân Cộng Che Guevara ở Argentina.
Tới thời gian tranh cử giữa ông Trump và bà Hilary Clinton thì đạt tới độ bẩn thỉu nhất trong lịch sử chính trị từ trước tới giờ. Bà Clinton thì tung ra những tài liệu tấn công ông Trump là ăn nói tục tữu, tấn công tình dục đàn bà, đưa những nhân chứng ra thưa ông Trump đã tấn công tình dục họ, liên hệ với Nga, tung ra cái video gọi là Access Hollywood trong đó ông Trump khoe khoang với anh bạn trẻ Billy Bush là muốn đàn bà thì trước hết hôn sau đó sờ mu, nếu em chịu thì “nhất dạ đế vương” ngay. Ông hãnh diện khoe với Billy là “Khi anh là người nổi tiếng thì họ sẵn sàng đồng ý ngay”Tội nghiệp anh Bush, vì video này tung ra nên anh bị đài ABC đuổi việc.  Trong khi đó ông Trump thì áp dụng đúng chiến thuật của cả Alinsky lẫn Goebbels cùng Cộng Sản để tấn công bà Clinton. Mỗi khi bị tố cáo việc gì thì ông chối bai bải là “fake news”. Để những người ủng hộ chỉ tin những điều mình nói ra, ông mở phong trào chống các cơ quan truyền thông như CNN, ABC, Washington Post, New York Times v.v. bằng cách tung tin là các cơ quan này chỉ loan tin thất thiệt (fake news) không nên tin mặc dù những thông tin của các hãng này tương đối trung thực. Ông khuyến khích họ chỉ tin theo tin của Fox News, Breitbart, Inforwars, Newsmax là những hãng thông tấn của nhóm cực hữu ủng hộ ông. Đó là lối truyền thông của bọn Đức Quốc Xã và Công Sản chỉ cho phép báo Đảng.
Cái bịa đặt ghê tởm nhất là tung tin ông Podesta và bà Clinton tổ chức buôn bán tình dục con nít tại một tiệm bán pizza trong vụ Pizzagate khiến một anh hùng “rởm” có xác con voi với óc của con ruồi tưởng thật vác súng tới để thanh toán nên bị Cảnh Sát bắt cho vào tù đếm lịch.
Ngoài ra ông áp dụng tối đa nguyên tắc:
  • Nhất quyết không nhận tội.
  • Chối tới cùng.
  • Đòi hỏi bằng chứng.
  • Phản chứng mạnh mẽ.
  • Làm mất uy tín đối thủ.
mà ông học được của bọn Đức Quốc Xã và Công Sản. Đó cũng là lý do ông thần tượng Putin và Tập Cận Bình. Cũng chính người hướng dẫn tranh cử cho ông là Steve Bannon cũng rất hâm mộ Hitler. Vụ Access Hollywood là bằng chứng. Trong thời gian tranh cử, ông nhận tội và xin lỗi các nạn nhân nhưng mới đây hồi cuối tháng 11, 2017 ông lại chối là cuốn băng là giả tạo được lồng tiếng nói giả của ông vào khiến ông Billy Bush nổi giận nói là cuốn băng và lời ông nói với Billy là thật. Ông cũng áp dụng playbook của ‘Alinsky là chế nhạo người khác bằng cách gọi tên họ là “Crooked Hillary”, “‘Lyin’ Ted”, “Little Marco”, “Crazy Bernie”,”Low-Energy Jeb” v.v.
Trong khi đó thì những người ủng hộ bà Clinton cũng gọi ông là Trumpid, Orange Chimpanzee v.v còn ông Chủ Tịch Nước Bắc Hàn gọi ông là Dotart (Donald Retarded) sau khi ông Trump gọi ông ta là Little Rocket Man. Các ông ứng cử viên tranh cử trong nội bộ Công Hòa thì gọi ông là Con Artist(2), ông Marco chế nhạo ông là người thì to lớn nhưng hai bàn tay thì bé ngụ ý là “của quý” của ông bé nhỏ (3). Bị đụng tới tử huyệt ông hét lên và để hai tay xuống phía hạ bộ và nói của ông rất to trước mặt những cổ động viên của mình và ngay trên màn ảnh truyền hình khiến báo chí gọi ông là howler monkey.(4)
Việc đặt tên để hạ nhục hay tâng bốc người khác sẽ tạo ra cái mà các nhà tâm lý học gọi là behavioral confirmation hay là Pygmalion effect (5). Khi đặt tên, nếu đặt tên tốt đẹp thì người ta mong muốn người có tên đó sẽ tốt đẹp như tên được đặt. Bên Công Giáo thì các linh mục và nữ tu cùng các con chiên thì lấy tên thánh đặt cho mình để mong mình cũng có đức hạnh như vị thánh đó. Bên Phật Giáo cũng vậy. Nhưng khi đặt tên xấu thì người bị đặt tên sẽ bị ảnh hưởng nặng về tâm lý nếu mình không vững vàng. Mặc dù vậy khi liên tiếp bị gọi tên xấu thì người khác cũng tin là mình xấu như vậy. Chẵng hạn như khi bị ông Trump gọi là Crooked Hilary riết rồi người ta cũng tin là bà Hilary là crooked thật. Cũng như ông Trump nếu bị gọi là Orange Chimpanzee thì khi thấy mặt ông đứng nói diễn văn là người ta liên tưởng tới ngay con khỉ da cam đang diễn trò.
Chính cựu Tông Thống Bill Clinton cũng áp dụng nguyên tắc chối tội nêu trên trong vụ ông liên hệ với cô Monica Lewinsky.”I did not have sexual relations with that woman, Ms. Lewinsky.” Về vấn đề nói láo thì các ký giả nói trung bình cứ 5 phút ông Trump lại nói láo một lần. Thực ra mỗi lần ông mớ miệng là ông nói láo theo đúng playbook của Goebbels. Bà Clinton cũng nói láo nhưng rất ít. Theo nghiên cứu fact-checker của S. Robert Lichter và nhóm của ông cho George Mason University Center cung cấp cho Media and Public Affairs thì đa số  những lời tuyên bố của Democrat có 54% là trung thực còn Công Hòa chỉ có 18%.
Tôi xin liệt kê dưới đây một số nhóm chuyên tạo những tin tức giả mạo (fake news) ủng hộ bà Clinton và nhóm ủng hộ ông Trump:
Nhóm ủng hộ bà Clinton:
American Future Fund
Conservative Solution PAC
NextGen California Action Committee
Leading Illinois Tomorrow
Our Principles PAC
Priority USA Action
United We Can
Women Vote!
Nhóm ủng hộ ông Trump:
Great America PAC
Get Our Jobs Back
Future45
Make America Number One
NRA Institute for Legislative Action
Republican National Committee
Những nhóm này tung rất nhiều tiền để vận đông cho ứng cử viên của mình.
Người nổi tiếng nhất và tài năng nhất trong đám những người tung tin “bẩn” là ông Roger Stone, một cố vấn chính trị trong thời gian tranh cử của ông Trump. Hồi thập niên 1970 khi còn 19 tuổi ông đã tung đòn bẩn đầu tiên để giúp ứng cử viên Nixon. Ông mạo danh một người có tiếng thuộc phe xã hội gửi một ngân phiếu ủng hộ ông Pete McCloskey, một đối thủ của ông Nixon trong vòng bầu cử sơ bộ thuộc đảng Công Hòa. Sau đó ông gửi tờ biên nhận đến báo chí để vu khống ông McCloskey có liên hệ với nhóm xã hội cực tả. Trong vòng bốn thập niên sau đó ông được coi là người trội nhất trong nhóm tung tin “bẩn”.
Trong thời gian cuối của cuộc tranh cử giữa bà Clinton và ông Trump, ông tung tin là WikiLeaks sẽ đưa ra những tài liệu rất nguy hại cho bà Clinton và đúng hai tuần thì tin tung ra thật. Do đó có dư luận là ông có dính líu tới WikiLeaks. Ông từng khoe với phóng viên báo GQ là :” I’m the brand name when it comes to dirty trick.”
Làm Thế Nào Để Phân Biệt Tin Tức Giả (Fake News)?
Trong cuốn sách Everydata: The Misinformation Hidden in the Little Data You Consume Every Day ông John H. Johnson có đề nghị những cách sau đây để tránh bị lừa bởi những tin thất thiệt:
1-Chỉ tin vào tin của những cơ quan truyền thông nào từ trước tới giờ vẫn được đại đa số quần chúng tin tưởng là trung thực.
2-Để ý kỹ vào những vấn đề được nêu ra. Những người đưa ra những luận cứ này có thực là những chuyên viên thượng thặng hay chỉ là những anh tự nhận mình là chuyên viên rồi tung tin lên online internet news. (Quan trọng nữa là những kẻ mạo danh những người nổi tiếng rồi tung tin bịa đăt, chẳng hạn vừa rồi có kẻ mạo danh tên ông Charles Krauthamer, một học giả rồi tung tin lên là ông Obama đang lập một nhóm 30,000 người có vũ khí dưới quyền điều khiển của ông bà Obama tại một ‘bunker’ (sic) để lật đổ ông Trump, người tung fake news quên là tuy là một người thuộc Cộng Hòa nhưng ông Krauthamer trong chương trình The O’Reilly Factor đã trả lời Bill O’Reilly, một bình luận gia cực hữu là ông không bỏ phiếu cho ông Trump vì thấy ông Trump không xứng với chức vụ Tổng Thống do tâm tính của ông ta – viết thêm của người viêt).
3-Nếu thấy một bản tin nào mà mình nghi ngờ thì vào Google đánh headline của tin rồi thêm chữ ‘false’. Nếu bản tin là giả (false) thì hi vọng Google sẽ đưa ta vào link Snopes.com và những link fact-checking khác giải thích tại sao bản tin đó thất thiệt.
Riêng cá nhân tôi thì dựa vào kiến thức và sự thận trọng để tránh tin vịt, đừng thần tượng vào người nào để nhắm mắt mù quáng tin vào họ vì có thể họ bị kẻ khác mạo danh như vẫn thường xảy ra, hoặc có thể họ thiên kiến.
Theo thiển ý của tôi thì hầu hết những chính trị gia đều nói láo. Họ chỉ là những diễn viên đóng những vai trò trong vở kịch do những đạo diễn của họ là những công ty liên quốc gia hay những nhà donors tỉ phú muốn họ làm. Bằng chứng đơn giản là bất cứ cựu tổng thống nào khi mãn nhiệm kỳ cũng kiếm hàng mấy chục triệu do các hãng trả tiền mời diễn thuyết, một cách “lại quả” hợp pháp. Ngay ông tỉ phú Trump tài sản mới có 2.9 tỉ nhưng bảo đảm khi hết nhiệm kỳ ông sẽ có hơn 10 tỉ như ông vẫn huyênh hoang là ông có 10.9 tỉ. Bằng chứng là khi vừa mới lên nhâm chức, Trung Cộng đã chấp thuận cấp cho ông 34 giấy phép xin xây cất. Một việc mà chưa hề xảy ra tại Trung Cộng.
Tới đây tôi mới thấy phẩm hạnh của các lãnh tụ, các thượng nghị sĩ, dân biểu, chính trị gia của VNCH hơn hẳn các chính trị gia Hoa Kỳ vậy mà họ vẫn luôn luôn bị chính ngay người dân VNCH lăng nhục. Tôi cảm thấy thương họ và hãnh diện mình là người Mỹ gốc Việt. VNCH muôn năm.
Trần Gia Lương
Christmas 2017
Chú Thích
(1) Giáo sư Robert B. Reich là Bộ Trưởng Lao Động cho TT Clinton. Khi ông Clinton còn là Thống Đốc Arkansas, ông có đọc cuốn The Work of Nations của giáo sư Reich chủ trương thay đổi chính sách chống sự quá ưu đãi giới tài phiệt và bóc lột giới trung lưu và nghèo. Sự quá chênh lệch lợi tức sẽ đưa đến tình trạng đình trệ sự phát triển và công ăn việc làm cho tầng lớp công nhân đưa đến ảnh hưởng xấu cho nền dân chủ. Vì mê thích lý tưởng này nên khi đắc cử tổng thống, ông Clinton đã mới giáo sư Reich làm bộ trưởng. Sau đó giáo sư làm cố vấn cho TT Barack Obama. Năm 2008 Time magazine cho ông là một trong mười bộ trưởng thành công nhất trong thế kỷ 20. Tờ Wall Street Journal cũng nói ông là một trong mười nhân vật ảnh hưởng nhất trong việc hướng dẫn ý tưởng thương mại trong nước.
(2) Chữ Con artist bắt nguồn từ việc xảy ra vào năm 1849 trong vụ xử án ông William Thompson. Theo báo New York Herald thì ông Thompson ăn mặc rất lịch sự và đứng ở đường Manhattan, khi gặp người đi qua, ông rất lịch sự hỏi chuyện và nói với người lạ “ông có thể tin vào tôi được không để cho tôi mượn chiếc đồng hồ của ông cho tới ngày mai “(have you confidence in me to trust me with your watch until tomorrow?”, một vài người cả tin đưa đồng hồ cho ông ta nên bị lừa. Do đó danh từ confidence man ra đời. Bây giờ người ta dùng danh từ con artist có nghĩa là kẻ đại bip để thay vào chữ confidence man – con man.
(3) Người ta thường tin tưởng những người nào mà cao lớn nhưng hai bàn tay nhỏ bé hoặc có mũi (nose) vừa nhỏ, vừa ngắn, vừa thấp thì bộ phân sinh dục nam cũng nhỏ bé. Việt Nam ta cũng tin vậy vì theo đông y thì mũi tượng trưng cho dương vật còn mồm phụ nữ tượng trưng cho âm hộ nên mới có câu nói “mồm sao ngao vậy.”
(4) Người Mỹ có câu “the louder the howl, the smaller the testes” để chỉ giống khỉ howler monkey có tiếng kêu lớn nhất trong các loài vật trên trái đât. Tiếng kêu của nó có âm vực cao đến 140 decibels. Vì biêt dương vật của mình nhò bé, khỉ howler monkey dùng tiếng kêu to để đe dọa những con khỉ lớn hơn hầu chiếm đoạt những khỉ cái theo nghiên cứu của Leslie Knapp cho Cambridge University và được đăng trong tập san Current Biology. Cũng theo bà Knapp thì theo luật tiến hóa (evolution) có lẽ cũng áp dụng vào con người.
(5) Pygmalion effect“Lộng giả thành chân” .Theo cổ sử Hy Lạp, nhà vua Pygmalion sai người tạc một bức tượng phụ nữ thật đẹp và sau đó ông đem lòng yêu bức tượng coi như người thật.

Đặc tính lãng mạn trong những năm đầu của cuộc Kháng Chiến Chống Pháp (1946-1954)
Tháng Một 4, 2017, in Kho tàng văn hóa
Phân-tích-vẻ-đẹp-hào-hùng-và-hào-hoa-của-người-lính-trong-bài-thơ-tây-tiến-của-Quang-Dũng-1.jpg
Phạm Cao Dương

Chiến tranh đồng nghĩa với bom đạn, với súng gươm, với giết chóc, với gian lao, khổ ải, với tàn phá, hủy diệt,… mà lại nói tới lãng mạn, hay dù hẹp hơn, tới thi ca lãng mạn là một điều hoàn toàn nghịch lý, khó có thể tưởng tượng được. Nhưng đối với những người Việt Nam đã từng sống trong cuộc chiến ba mươi năm vừa qua, đây lại là một sự thực, một sự thực có bằng chứng hẳn hoi mà người tìm hiểu khó có thể chối cãi.
Nó hoàn toàn đúng ít ra là cho ba năm đầu của cuộc chiến nếu ta tính từ cuối năm 1946 khi cuộc kháng chiến chống Pháp mới thực sự bùng nổ trên toàn quốc Việt Nam đến năm 1949 là năm Mao Trạch Đông và Đảng Cộng Sản của ông làm chủ được Trung Hoa Lục Địa, Tưởng Giới Thạch phải bỏ chạy ra Đài Loan, biên giới Việt Trung trở thành biên giới giữa hai nước Cộng Sản Á Châu và Quốc Gia Việt Nam của Cựu Hoàng Bảo Đại được thành lập, mở đầu cho một giai đoạn mới cho cuộc chiến.
Đây chính là ba năm cuối cùng của nửa đầu của thế kỷ hai mười, ba năm đầu của thời kỳ độc lập hay tranh đấu giành độc lập dưới hình thức này hay hình thức khác, sau một thời gian dài sống dưới sự cai trị của người Pháp. Đây ba năm đẹp nhất của lịch sử chiến tranh của người Việt trong thế kỷ hai mươi, trước khi mọi chuyện đều thay đổi và thay đổi một cách bi thảm ngoài sự tưởng tượng của mọi người. Câu hỏi được đặt ra là do đâu mà đặc tính lãng mạn này đã có thể tồn tại và lãng mạn đã được thể hiện ra sao trong thi ca của thời này?
Nguyên nhân nào đã khiến cho đặc tính lãng mạn tiếp tục tồn tại trong ba năm đầu của thời kỳ kháng chiến chống Pháp?
Có nhiều nguyên nhân khiến cho cuộc sống lãng mạn của người Việt, vốn đã nảy nở và phát triển từ trước, đặc biệt là lãng mạn trong thi ca và đương nhiên trong bộ môn song sinh của nó là âm nhạc, không những vẫn có thể tồn tại được mà còn phát triển rộng rãi hơn trong giai đoạn này.
Thứ nhất: Người Cộng Sản chưa sẵn sàng để thực thi chính sách kiểm soát chặt chẽ sinh hoạt văn nghệ trong ba năm đầu của cuộc chiến
Thế lực của người Cộng Sản xuyên qua chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Hồ Chí Minh cho đến hết thời gian này còn quá mới, chưa đủ để cho họ có thể áp đặt một sự chỉ đạo và kiểm soát chặt chẽ lên mọi phạm vi sinh hoạt của người dân, trong đó có văn nghệ, vốn dĩ là một sinh hoạt rất tế nhị mà họ đang cần để tuyên truyền lôi cuốn mọi người vào cuộc kháng chiến chống Pháp dưới sự lãnh đạo của Việt Minh, đồng thời tiêu diệt nốt những thành phần đối lập, dù cho là bản Đề Cương Văn Hóa của Đảng Cộng Sản đã được soạn thảo và phổ biến từ năm 1943. Làm sao có lợi cho vai trò lãnh đạo của họ là được rồi. Cũng cần phải để ý là trong thời gian này Hồ Chí Minh và chính phủ của ông đã dời bỏ thủ đô Hà Nội, di tản lên miền rừng núi Việt Bắc, do đó cần phải có thì giờ để củng cố lại thế lực cũng như để sắp đặt lại mọi cơ sở, mọi hệ thống liên lạc mới nhằm thắt chặt trung ương với địa phương, song song với vai trò lãnh đạo kháng chiến của mình.
Thứ hai: Lãng mạn trong thời gian này đã trở thành rất phổ biến trong sinh hoạt của giới thanh niên như là sự tiếp nối phong trào lãng mạn của những năm cuối của thập niên ba mươi và những năm đầu của thập niên bốn mươi của thế kỷ hai mươi.
Ở thời điểm ba mươi của thế kỷ hai mươi người ta nói tới ý muốn thoát ly khỏi cuộc đời nhàm chán, dù cho là chẳng biết để đi đâu trong khi cách mạng hãy còn là một ý niệm mơ hồ và chế độ đô hộ của người Pháp có vẻ mỗi ngày một vững hơn. Sang đầu thập niên bốn mươi tất cả đã đổi khác. Lý do là sự bại trận của người Pháp ở ngay chính nước Pháp và sự thắng thế của quân đội Nhật và sự hiện diện của họ trên đất nước Việt Nam. Nếu vào cuối thập niên ba mươi người ta nói tới chuyện.
Rũ áo phong sương trên gác trọ.
Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang
hay ngồi trước lò sưởi trong một ngày mưa gió, hút thuốc lá, thở khói lên trần… thì vào đầu thập niên bốn mươi, ngưới ta lại sính hát “Hòn Vọng Phu” của Lê Thương hay tìm hiểu và ngâm những đoạn thơ và vẽ những cảnh diễn tả buổi chia ly tuyệt đẹp và vô cùng lãng mạn trong Chinh Phụ Ngâm:
Áo chàng đỏ tựa ráng pha,
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.
Mọi người dường như chờ đợi và sẵn sàng để làm công việc này.
Khi chiến tranh toàn quốc bùng nổ vào tháng Chạp năm 1946, tinh thần lãng mạn qua ý niệm thoát ly để đi làm cách mạng từ mơ hồ đến chỗ gần như bế tắc đã được thay thế bằng một thứ lãng mạn yêu nước cụ thể hơn. Người ta sẵn sàng từ bỏ gia đình, từ bỏ quê hương, ruộng vườn để ra đi và ra đi mà không ai trách cứ. Nhiều thanh niên đã hăng hái xung phong gia nhập Vệ Quốc Đoàn, nhiều người không được nhận vì thiếu sức khỏe đã khóc khi phải trở về nhà. Người ta đã ra di để cứu quốc một cách ngây thơ, tự nhiên, đơn giản, không cần biết ai là người lãnh đạo, nói như Phạm Duy ở một chỗ nào đó trong hồi ký của ông. Trước đó, khi các mặt trận mới chỉ diễn ra ở các thành phố, các lực lương Tự Vệ Thành đã thu hút một số lớn thanh thiếu niên nam nữ thuộc đủ mọi thành phần từ các sinh viên, học sinh đến những người làm nghề lao động. Họ tự bỏ tiền túi ra để may quần áo, khí giới, làm huy hiệu… và đã ở lại giữ thành trong một thời gian khá dài, điển hình là sáu mươi ngày ở Hà Nội, trong khi quân đội chính qui của Cộng Sản được rút lên miền núi cùng với Hồ Chí Minh và các nhân viên chính phủ của ông.
Thứ ba: Ảnh hưởng của các phong trào Hướng Đạo và thanh niên thể thao
Các phong trào Hướng Đạo và thanh niên thể thao qua những buổi cắm trại hay du ngoạn đã đưa giới trẻ đến chỗ có dịp thoát ra khỏi cuộc sống chặt hẹp nhàm chán ở các thành phố hay các phủ hay huyện lỵ của thời bấy giờ để có thể vào rừng, lên núi, ra các miền quê hay bờ biển sống gần với thiên nhiên, tiếp xúc với dân quê hay người miền núi hơn, đồng thời thăm viếng các thắng cảnh hay các di tích lịch sử của đất nước mà trước đó họ chỉ có dịp tiếp xúc qua sách vở hay trong lớp học. Lãng mạn tính thể hiện trong tình yêu thiên nhiên, tình yêu thương quê hương, đất nước và đồng bào cũng như cái đẹp của quê hương, đất nước, và của những người dân quê hay miền núi, công lao xây dựng và bảo vệ đất nước của người xưa… của một thế hệ người Việt mới đã nẩy nở trong bối cảnh này.
Thứ tư: Ảnh hưởng của những bài ca mới đầy tình cảm mang chủ đề quê hương, đất nước và lịch sử oai hùng của dân tộc đã xuất hiện trước đó.
Những năm đầu của thập niên bốn mươi cũng là thời gian xuất hiện của nhiều bài ca mang nặng tình cảm bình thường của con người cùng tình yêu quê hương, đất nước, đặc biệt là những bài ca lịch sử. Bắt đầu những bài ca này được phổ biến ở thành thị, sau đã tràn về thôn quê do những cuộc tản cư thời phi cơ Mỹ ném bom các cơ sở của quân đội Nhật hay trong các cuộc cắm trại hay du khảo của các phong trào Hướng Đạo hay thanh niên. Nên nhớ là khi Cộng Sản còn ẩn náu ở các chiến khu Việt Bắc những bài ca được dùng trong các sinh hoạt của họ phần lớn là những bài ca của Hướng Đạo và khi Văn Cao được cán bộ Cộng Sản tiếp xúc, người nhạc sĩ này đã được giao cho nhiệm vụ làm những bài ca mới để thay thế cho những bài ca của Hướng Đạo cũ với bài đầu tiên ông làm là bài “Tiến Quân Ca”, sau trở thành quốc ca của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng Hòa Xã Hội Việt Nam hiện tại..
Từ sau năm 1949, mọi sự đã hoàn toàn thay đổi, ở trong nước cũng như trên thế giới. Ở trong nước, chính phủ của Hồ Chí Minh và những người Cộng Sản đã đứng vững được về cả hai phương diện chính trị và quân sự, những lực lượng chống đối không còn nữa. Ở Trung Quốc, Đảng Cộng Sản của Mao Trạch Đông đã hoàn toàn đánh bại được quân đội của Tưởng Giới Thạch và làm chủ được toàn thể Trung Hoa Lục Địa, biên giới giới hai khối Cộng Sản Hoa, Việt đã tiếp giáp với nhau và Cộng Sản Việt Nam đã được Cộng Sản Trung Quốc trực tiếp hỗ trợ kèm theo với những ảnh hưởng của họ. Sự e ngại kẻ thù từ phương bắc tới không còn nữa, nhưng áp lực của người anh em mới mỗi ngày một thêm đè nặnglên vai của người anh em đang cần sự giúp đỡ.
Một mặt khác, cũng năm 1949, Quốc Gia Việt Nam của Cựu Hoàng Bảo Đại đã được chính thức thành lập với sự trao đổi văn kiện trực tiếp giữa Cựu Hoàng Bảo Đại với chính Tổng Thống Pháp Vincent Auriol thay vì với một nhân vật cấp dưới, rồi rất nhanh chóng chính quyền Quốc Gia này đã được hai nước Anh và Mỹ và rất nhiều quốc gia thuộc khối tự do thân Tây Phương thừa nhận, đe dọa sự chính thống của Hồ Chí Minh và của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Những biến chuyển này đã khiến cho Hồ Chí Minh và chính phủ của ông phải thay đổi hoàn toàn đường lối cai trị của mình, trong đó có lãnh đạo văn nghệ. Sự thả lỏng cho các văn nghệ sĩ dù là các người làm thơ, các người soạn kịch, các người vẽ tranh… muốn làm sao thì làm, muốn đi đâu thì đi, miễn là tất cả hướng vào toàn quốc kháng chiến, toàn quốc chống Pháp phải được bãi bỏ. Ở Đại Hội Văn Nghệ Lần Thứ Hai mà Phạm Duy đã tinh ý nhận xét là có thêm hai chữ Nhân Dân vào mùa hè năm 1950 ở Việt Bắc, chính quyền trung ương đã bắt đầu áp đặt đường lối mới. Thiếu Tướng Nguyễn Sơn, một ngưới rất yêu mến văn học nghệ thuật và các văn, nghệ sĩ, người đã biến đại bản doanh của mình ở Thanh Hóa thành một thủ đô của giới văn nghệ sĩ thời bấy giờ, bên cạnh nhiều trung tâm khác như Cống Thần – Chợ Đại, Rừng Thông… đã bị triệu hồi về trung ương. Đây là thời điểm các cuộc dinh tê của mọi người bấy lâu theo chân kháng chiến tản cư trở nên ào ạt hơn trong đó có rất đông các văn nghệ sĩ mà sau này người ta thấy xuất hiện trong sinh hoạt văn hóa ở các vùng Quốc Gia, ở miền Nam và luôn cả ở Hải Ngoại trong những năm kế tiếp. Luận cứ cho rằng những người tản cư từ các thành phố về thôn quê hay lên miền trung du dinh tê về thành là do họ đã quen với cuộc sống tiểu tư sản thành thị không chịu nổi cuộc sống kham khổ, thiếu thốn ở trong vùng kháng chiến là không đúng. Nó chỉ là một trong nhiều nguyên nhân mà thôi. Còn nhiều nguyên nhân khác hơn nguyên nhân hoàn toàn vật chất này. Cuộc sống tự do, nhân bản và chính quyền quốc gia không Cộng Sản, tương lai học vấn của giới trẻ, chẳng hạn.
Thi ca lãng mạn thời chiến
Bây giờ nói tới thi ca thời chiến, đúng hơn thi ca lãng mạn thời chiến hay đúng hơn nữa, thi ca lãng mạn trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp của người Việt trong nửa sau của thế kỷ hai mươi, thời quân đội kháng chiến còn được gọi là Vệ Quốc Đoàn, chưa bị đổi tên là Quân Đội Nhân Dân, những năm tôi nghĩ đẹp nhất trong lịch sử giành độc lập của người Việt trong thế kỷ hai mươi, bất kể là do ai lãnh đạo, trước khi mọi chuyện thay đổi. Còn nếu so sánh với cả lịch sử của dân tộc Việt Nam thì đó cũng là một trong những thời gian đẹp nhất như chính những người tham dự đương thời đã miêu tả như:
Ở thời nhà Trần:
Bạch đầu quân sĩ tại
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong
…………….
Lính già phơ tóc bạc
Kể chuyện thuở Nguyên Phong
(Thơ Trần Nhân Tông, Xuân Nhật Yết Chiêu Lăng
Ngô Tất Tố dịch)
và thời kháng chiến chống Pháp:
Buông tay gầu vui lại thuở bình Mông
Thơ Yên Thao, Nhà Tôi
Nếu người lính già của thời nhà Trần cứ thỉnh thoảng ngồi kể chuyện của thời Nguyên Phong thì những người đã từng là lính hay đã từng sống hay tham dự vào những sinh hoạt ở thời chống Pháp từ cuối năm 1946 đến đầu năm 1950 cũng không bao giờ quên được những ngày kháng chiến của mình dù là sau này họ sống ở vùng Tê hay ở hậu phương, ở trong Nam hay ở ngoài Bắc, ở trong nước hay ở hải ngoại, dù là họ tiếp tục được sống trong vinh quang hay bị bỏ quên ở một góc phố hay ở một làng thôn hẻo lánh nào đó. Có điều văn thơ của họ đã được phổ biến mỗi ngày một rộng, từ hình thức những bài chép tay nằm dưới đáy ba lô của những người lính Vệ Quốc Đoàn hay những cán bộ còn nặng đầu óc tiểu tư sản ở ngay chính thời chúng mới được làm đến những bản in trong các sách vở, những bản phổ nhạc ở miền Nam hay được đưa lên sân khấu ở Hải Ngoại. Nhưng tên tuổi của Hoàng Cầm, Quang Dũng, Chính Hữu, Hoàng Trung Thông, Yên Thao, Hữu Loan… đã được người ta nhắc tới. Những tác phẩm như Đêm Liên Hoan, Tâm Sự Đêm Giao Thừa, Bên Kia Sông Đuống, Tây Tiến, Đôi Bờ, Đôi Mắt Người Sơn Tây, Đồng Chí, Bao Giờ Trở Lại, Làng Tôi, Màu Tím Hoa Sim...của các tác giả này đã được nhiều người thuộc lòng dù là thuộc một vài đoạn, một vài dòng hay một đôi câu hay ít ra là có thể nhận ra được vì đã được nghe ngâm, nghe hát vào một dịp nào đó trong đời mình, kể cả những người chưa từng được nghe, được học về cuộc kháng chiến chống Pháp của thời cha ông họ.
Nhận xét về các tác giả này, người ta thấy đa số họ là những tên tuổi mới và hầu hết đều rất trẻ. Tất nhiên là rất trẻ cho thời kỳ các tác phẩm của họ được sáng tác. Đa số năm sinh của họ là vào đầu hay giữa thập niên hai mươi, tuổi của những người đã đóng vai trò chính trong cuộc cướp chính quyền của Việt Minh vào tháng 8 năm 1945. Họ cũng là những người có học, đã từng là cựu học sinh các trường Sư Phạm, Bưởi, Thăng Long…. Điều này cũng có nghĩa là họ đã có dịp tiếp xúc với văn hóa tây phương, trong đó có văn chương lãng mạn Pháp. Nhưng quan trọng hơn hết họ là những nhà thơ có thực tài, có cảm giác rất bén nhậy với những nhận định tinh vi và đã được sống trong thời kỳ sôi sục nhất của lịch sử dân tộc. Riêng Quang Dũng còn là một người rất tài hoa, phóng khoáng. Cái lãng mạn của họ do đó không phải chỉ khác hơn mà còn phức tạp hơn cái lãng mạn của những nhà thơ lớp trước. Lãng mạn của họ là lãng mạn kết hợp bởi không riêng tình yêu nam nữ mà luôn cả tình yêu gia đình, đặc biệt là tình yêu dành cho người mẹ, người vợ, cho đứa con còn bú, cho xóm làng, bờ sông, ruộng vườn, hình ảnh quê hương thuở còn thanh bình… và đương nhiên cả cuộc kháng chiến với những đồng đội, với đơn vị, với núi rừng, với bệnh hoạn, với cái chết kề bên, với những xóm làng đã đi qua…Chính vì vậy mà có nhà nghiên cứu chỉ xếp Hữu Loan và Quang Dũng vào loại những tác giả lãng mạn, còn các tác giả khác vào loại tranh đấu hay tuyên truyền cho kháng chiến dù là ở một mức cao về nghệ thuật. Có điều dù xếp thơ của họ vào loại nào đi chăng nữa, người ta phải cũng phải công nhận rằng những thi ca này đã phát xuất một cách tự nhiên, từ tâm hồn của mỗi tác giả. Chúng đã được làm vào lúc họ vẫn còn được quyền tự do sáng tạo, chưa bị áp lực và sự kiềm chế chặt chẽ của chính quyền Cộng Sản như trong những năm sau này. Chính vì thế mà mỗi người có một phong cách riêng tùy theo bản chất và hoàn cảnh của mình. Ngôn từ họ dùng cũng rất đơn sơ, giản dị, trong sáng, dễ dàng khiến cho người nghe, người đọc không đến nỗi phải cố gắng, phải căng óc ra để tìm hiểu. Âm điệu cũng vậy. Đa số những bài mọi người ưa thích đều là thơ tự do, nhưng dòng thơ rất tự nhiên, trôi chảy, nhẹ nhàng từ đó lôi cuốn người đọc khác với nhiều bài làm theo cùng thể về sau này.
Hữu Loan
Vì thời giờ có hạn, tôi không thể đi sâu vào từng tác phẩm, từng tác giả mà chỉ đề cập tới hai tác giả chính, được nhiều người ưa thích là Hoàng Cầm và Quang Dũng. Hữu Loan vì là, năm 2007, nên chắc chắn đã được mọi người tìm hiểu nên tôi thấy không cần phải nói thêm ở đây.
Hoàng Cầm và Quang Dũng, hai người cùng một tuổi, một người sinh ở Bắc Ninh, quê hương của dân ca miền Bắc, một người ở làng Phùng, một làng được người ta biết tới là vừa chăm chỉ làm ăn, vừa ham mê du hí, nói theo Trần Lê Văn, tác giả của một tuyển tập về Quang Dũng. Hai người cùng có trình độ học vấn cao ở thời bấy giờ và cùng dự tính vào nghề dạy học. Nhưng trong khi Hoàng Cầm ở lại với nghề trước khi tham gia kháng chiến thì Quang Dũng, mặc dầu đã ra trường sư phạm nhưng lại bỏ nghề đi đánh đàn, kéo nhị cho môt gánh hát, chỉ làm thày giáo dạy kèm để được đi đây, đi đó, kể cả lên Yên Báy làm ký ga, sau mới về Hà Nội, tham gia cách mạng rồi kháng chiến và kháng chiến thực sự trong đoàn quân Tây Tiến. Sự khác biệt trong đời sống của hai người đã ảnh hưởng lớn tới thi ca. Thơ của Hoàng Cầm phát xuất từ quần chúng, từ đoàn thể, lấy quần chúng, đoàn thể làm đối tượng nên có lời lẽ bình dị, dễ dàng, lôi cuốn, hấp dẫn, khi thì mạnh mẽ, khi thì sôi nổi, khi thì nỉ non, kể lể, tha thiết.., điển hình là ba bài bài Đêm Liên Hoan, Tâm Sự Đêm Giao Thừa và Bên Kia Sông Đuống. Cả ba đều là thơ ca tụng kháng chiến và cổ võ cho kháng chiến nhưng ca tụng và cổ võ với một nghệ thuật cao, một phong thái tự nhiên vững vàng, không sống sượng thô lỗ như những bài thơ tuyên truyền người ta thường thấy về sau này dưới chế độ Cộng Sản. Cả ba bài đều lấy đám đông hay người của đám đông làm khởi điểm với những bối cảnh, những tình tiết của đám đông hay những con người của đám đông, đám đông làm công việc chiến đấu để bảo vệ quê hương với những hình ảnh quen thuộc của quê hương được nêu lên trong truyện kể. Bài Đêm Liên Hoan theo Phạm Duy được làm để thay thế cho một vở kịch thơ mà ôHoàng Cầm muốn dựng, hướng vào các Vệ Quốc Quân nhưng vì đội văn nghệ của ông có rất ít người nên cuối cùng ông chỉ có thể làm một bài thơ cho một hay hai người ngâm trên một sân khấu ngoài trời mà thôi. Chính vì thế ta không lấy làm lạ là khi trình bày bài thơ này người ta không thể chỉ có ngâm, chỉ có dùng lời nói để diễn tả mà thôi mà còn phải kèm theo những cử chỉ, những điệu bộ và kèm ngay khi ngâm mấy câu đầu:
Đêm liên hoan đầu người nhấp nhô như sóng biển ngang tàng
Ta muốn thét cho vỡ tung lồng ngực
Vì say sưa tình thân thiết Vệ Quốc Đoàn…
Hoàng Cầm
Cũng theo Phạm Duy, Phạm Duy đã cùng Hoàng Cầm diễn ngâm rất nhiều lần trước hàng trăm, hàng ngàn Vệ Quốc Quân với những lời lẽ vô cùng tha thiết và đầy hào khí như:
Trong tiểu đội của anh
Những ai còn ai mất?
Không ai còn ai mất
Ai cũng chết mà thôi!
Người sau kẻ trước lao vào giặc
Giữ vững nghìn thu một giống nòi!
Dù ta thịt nát xương rơi
Cái còn vĩnh viễn là người Việt Nam!
“Tâm Sự Đêm Giao Thừa” kể chuyện người lính nghèo có vợ mới sinh con. Vì nghèo và đang chiến đấu ở chiến trường nên anh lính và cũng có thể chính tác giả không có gì để gửi về cho vợ con ăn Tết . Còn nếu có thì chỉ là ráng lập công để sớm được về. Trong khi đó thì người vợ ở nhà sinh sống bằng bán hàng ở một quán nhỏ, cuối năm ế khách, thiếu ăn, không đủ sữa cho con bú. Người lính tưởng tượng ra cảnh vợ mình đang đói ăn, không có sữa cho con bú, nhưng nghe tin chồng thắng trận thì vui mừng quá, máu bỗng chảy mạnh trong huyết quản, sữa bỗng căng trên đầu vú và đứa con được bú một bữa no trong niềm vui lớn của cả dân tộc. Ta hãy đọc những đoạn chính của “Tâm Sự Đêm Giao Thừa”:
Đêm nay hết một năm
Phải gác tới giao thừa
Quê hương chừng rét lắm
Lất phất mấy hàng mưa
Tôi có người vợ nghèo
Đời vất vả gieo neo
Từ khi chồng đi lính
Nhà tranh bóng hắt hiu
Lần hồi rau cháo dăm phiên chợ
Tóc rối, thân gầy, quán vắng teo.

Đêm ba mươi gió thổi
Tôi lại nhớ con tôi
Vợ đói, con cùng đói
Khóc thét lặng từng hồi
Mẹ thì nước mắt nhiều hơn sữa
Ngực lép con nhai đã rã rời…

với bốn câu kết luận:

À ơi! Cha con ăn Tết lập công
Cho sữa mẹ chảy một giòng nghìn thu
Cha đem cái chết quân thù
Làm nên cuộc sống bây giờ của con

Trong bài “Bên Kia Sông Đuống” Hoàng Cầm dùng lối kể chuyện để giải buồn cho người yêu. Ông đã dùng tất cả những hình ảnh tươi đẹp, hiền lành của quê hương thời thanh bình trước kia và mơ ước một ngày cùng người yêu trở về.

Em ơi buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì

Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Năm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
……
rồi Hoàng Cầm kể tiếp những hình ảnh hiền hòa dễ thương của cuộc sống ở quê hương ông như lúa nếp thơm nồng, tranh Đông Hồ, áo the đen, cô hàng xén răng đen, những cô nàng cắn chỉ môi trầu, những em bé xột xoạt quân nâu… mà chiến tranh đã làm tan hoang phiêu bạt, để cùng người yêu mơ ước một ngày về:
Bao giờ về bên kia Sông Đuống
Anh lại tìm em
Em mặc yếm thắm
Em thắt lụa hồng
Em đi trẩy hội non sông
Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh.


Quang Dũng
Thơ của Quang Dũng khác hẳn. Quang Dũng không làm thơ hướng vào đám đông, để tuyên truyền, để cổ võ cho kháng chiến, để thúc đẩy mọi người hy sinh cho cuộc kháng chiến trường kỳ. Ông làm thơ cho ông hay chia sẻ với bạn bè của riêng ông. Ông nhìn mọi chuyện qua con mắt riêng của ông, trình bày những cảm nhận của riêng ông, của một con người vừa tài hoa, vừa phóng khoáng, độc lập, không chịu sống gò bó, mà trước kia ông đã có dịp thể hiện qua hành động không ở lại với nghề dạy học sau khi đã tốt nghiệp trường sư phạm để đi theo một gánh hát kéo đàn nhị hay lên Yên Bái làm thư ký nhà ga. Phong thái của ông đã hiện rõ nét trong thơ ông. Đi kháng chiến, theo đơn vị vượt biên giới sang Lào, trải qua nhiều gian lao, vất vả, hiểm nguy, bệnh tật, chết chóc… Nhưng qua thơ của ông tất cả đã trở thành nhẹ nhàng, rất lãng mạn, rất đẹp và rất thơ, không vướng vào những hạt sạn của tuyên truyền.
Ông viết:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Hiu hắt cồn mây súng ngửi trời.
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống…
hay
Chiêu chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người…

hay:

Tây tiến đoàn quân không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

Những hình ảnh thật hào hùng khó kiếm được ở những nhà thơ khác đương thời. Cần để ý đoàn quân không mọc tóc không phải là đoàn quân trọc đầu vì theo kỷ luật của quân đội mà là bị sốt rét nặng mà những ai đã từng sống ở miền Bắc trong thời gian tản cư về các miền quê hay miền núi đều có kinh nghiệm.

Với cái chết, Quang Dũng cũng nhìn với phong thái tương tự, một phong thái bình thản, có thể nói là hồn nhiên của trẻ thơ bởi vì đi lính là đương nhiên người ta phải chấp nhận tất cả dù là gian lao, nguy hiểm, chết chóc, dù là đi lính cho một mục tiêu vô cùng đẹp đẽ, vô cùng lý tưởng như Hoàng Cầm và các nhà thơ khác diễn tả. Nhưng Quang Dũng đã đạt tới một trình độ cao hơn. Ông cảm nhận được sự mong manh của cuộc sống ngoài chiến trận. Một phút trước người ta còn tồn tại, phút sau đã trở thành hư vô. Ông đã chấp nhận sự mong manh đó như người ta chấp nhận trò chơi hồi còn nhỏ. Chán, mệt thì không chơi nữa, không thèm chơi nữa, lúc khác sẽ chơi lại.

Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

hay

Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

hay:

Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Thực sự thì ở đây chết là chết không có chiếu mà chôn nhưng người ta cũng có thể hiểu theo nghĩa tình cảm đối với là về với đất nước quê hương của dân tộc.
Những câu thơ kể trên được trích từ bài Tây Tiến của Quang Dũng. Nhưng đó không phải là những câu hay nhất vì trong bài này câu nào cũng hay, cũng xúc tích, cũng gợi nên những cảm xúc sâu xa ở người đọc. Xen vào những câu này, là những câu dầy tình cảm, mang nặng bản chất hào hoa, tiểu tư sản thành thị ở con người tác giả. Đêm trằn trọc không ngủ được trên đường hành quân, Quang Dũng viết:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiêu thơm.

hay ở một bài thơ khác, bài Đôi Bờ:

Khói thuốc khơi dòng thương nhớ xưa
Đêm đêm Sông Đáy lạnh đôi bờ.
Thoáng hiện em về trong đáy cốc
Nói cười như chuyện một đêm mơ.

hay trong Đôi mắt Người Sơn Tây:

Vầng trán em mang trời quê hương
Mắt em dìu dịu buồn Tây phương
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ em nhớ thương.

Ngay cả đối với những sinh hoạt mà các văn nghệ sĩ đương thời thường gặp hay tham gia trong những năm này ở vùng kháng chiến như các đêm liên hoan chẳng hạn, khác với Hoàng Cầm, Quang Dũng cũng tham dự nhưng tham dự như là một khách phong lưu, tài tử. Ông không gọi là liên hoan, tiếng thời thượng, ai cũng dùng. Ông dùng hai hai chữ đuốc hoa và kèm theo hai chữ xiêm áo của văn chương lãng mạn cổ điển:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ.
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.

và còn nhiều nữa nhưng bài đã quá dài, viết thêm nữa e làm loãng những gì người viết muốn viết hay muốn nói. Xin để cho người đọc suy nghĩ, tìm tòi tiếp.

Kết luận:
Khi tham gia đoàn quân Tây Tiến vào năm 1947, một đoàn quân được nói để bảo vệ miền Thượng Lào và biên giới Việt Lào nhưng rất có thể chỉ là để thanh toán những thành phần tiểu tư sản trí thức còn lại của Trung Đoàn Thủ Đô và của Tự Vệ Thành Hà Nội sau khi họ đã làm tròn nhiệm vụ vì ai cũng biết chiến đấu ở các miền rừng núi đoàn quân này không thể nào so sánh được với quân đội chính qui của Võ Nguyên Giáp mà để lại ở miền đồng bằng thì nguy hiểm, Quang Dũng làm đại đội trưởng. Cuộc đời binh nghiệp của ông đã không lên cao hơn được nữa, có thể là vì gốc gác của ông cũng như bản chất con người nghệ sĩ phóng khoáng của ông. Sau này khi về Hà Nội, ông đã được thấy những cảnh bi thảm của vợ con những tử sĩ của thời chiến và đã ghi lại trong bài “Đường Chiều Thứ Bảy” với những câu như sau:

Tôi đã gặp
Nhiều người vợ trẻ
Đàn ông đã ngã trên chiến trường
Vất vả nuôi con những ngày kháng chiến
Xót xa thương khóc bao ngày
Chiều thứ bảy hôm nay
Họ đi bên người chồng mới lấy
Và những đứa con
Bước còn bỡ ngỡ
Bên người cha mới hôm qua.
Ai biết được bây giờ
Tâm sự của những người
Ngậm ngùi cất kỹ ảnh chồng
Vào đáy hộp nữ trang
Bến nước đi thêm một bước nữa.

Bài thơ tả chân nhưng cũng có thể mang tính chất biểu tượng. Nó nói lên sự thê thảm, thật là thê thảm của những người được gọi là thắng trận, thê thảm như chính cuộc đời của tác giả, của Hữu Loan, của Nguyễn Hữu Đang và của nhiều người khác… , những người nửa đường đứt gánh, những người sáng tạo nhưng không được sáng tạo. Có điều vì những ngày theo kháng chiến của họ đẹp quá, nên thơ họ luôn luôn tiếc nuối, bỏ không được, giữ không xong. Họ không có được sự nhạy cảm, dứt khoát, nhanh và gọn gàng của Phạm Duy sau khi người nhạc sĩ này được gọi về trung ương tham dự Đại Hội Văn Nghệ Nhân Dân, người viết xin nhấn mạnh hai chữ sau, hai chữ nhân dân, lần thứ hai vào mùa hè năm 1950 như Phạm Duy đã nhận định và đã làm. Âu cũng là một sự bất hạnh cho nền văn học Việt Nam hậu bán thế kỷ hai mươi.

Tháng 10 năm 2007