Search This Blog

Sunday, July 26, 2020


Huy Vũ – Hồ Chí Minh "Thằng Đéo Hoang"
1  Cách đây khá lâu, các báo tiếng Việt có đăng tin Nhà thơ HỮU LOAN, tác giả bài thơ nổi tiếng “MẦU TÍM HOA SIM” đã qua đời tại Việt Nam. Ít lâu sau Người Việt Online có đăng lại một bài báo của nhà văn Viên Linh viết cho tờ Khởi Hành năm 2007. Qua bài báo này độc giả được biết, nhà thơ Viên Linh đã điện điện đàm với nhà thơ Hữu Loan vào ngày 16-05-2007. Trong cuộc điện đàm này, nhà thơ Hữu Loan đã “tiết lộ” với ông Viên Linh rằng, ông ta đã chửi thẳng vào mặt ông Hồ Chí Minh giữa một đại hội rằng: “Ông là cái thằng đéo hoang”. Dưới đây là một đoạn văn trích từ bài báo nói về vụ chửi này: “Còn chuyện tôi chửi Hồ Chí Minh giữa một đại hội. Người ta hô vang Hồ Chí Minh vĩ đại. Chỉ có tôi không hô. Họ hỏi ý kiến tôi ra sao? Tôi không trả lời.  Ông Hồ hỏi tôi ‘Cháu đánh giá bác ra sao? Tôi đứng yên không trả lời. Ông hỏi mãi.

  Tôi trả lời. Tôi nói ở Việt Nam có Bà Trưng Bà Triệu. Con gái giỏi giang. To gan. Hồ Chí Minh cứ hỏi.

  Tôi trả lời: Tôi không nói, ông cố tình hỏi ông đừng trách nhé. Ông là cái thằng đéo hoang.”

  Thời gian mà nhà thơ Hữu Loan chửi ông Hồ câu này, chắc chắn là trước năm 1953-1954, trước khi nhà thơ “rũ áo từ quan” và cũng trước thời gian ông Hồ cho thực thi cuộc Cách Mạng Ruộng Đất trong vùng kháng chiến chống Pháp. Ai đã ở trong vùng Việt Minh kiểm soát vào thời gian này, đều biết rõ ông Hồ đã được bộ máy tuyên truyền khổng lồ của Việt Minh Cộng Sản tâng bốc thơm lên đến tận mây xanh, và được ca tụng như một người quyết trí độc thân, ngay từ hồi còn trai trẻ, không phải vì ông bất lực hay lạ cái, mà vì muốn cống hiến trọn vẹn đời mình cho dân tộc.

  1Vì bị tuyên truyền bịp bợm, nên người dân trong vùng kháng chiến chống Pháp vào thời gian nầy, chỉ được biết toàn là những điều tốt đẹp nhất của ông Hồ, và không hề được biết bất kỳ thói xấu, hay hành vi đồi bại nào của ông ta cả. Nếu dư luận bỗng có xì ra một điều tồi bại nào đó của ông ta, thì bộ máy tuyên truyền khổng lồ này lập tức tìm đủ mọi cách lấp liếm đi, kể cả việc thủ tiêu những người phao tin. Còn ai vô tình hay cố tình bôi nhọ ông, thì chắc chắn sẽ đi tù mọt gông, không có ngày về.

Khi chửi thẳng vào mặt ông Hồ như thế, nếu không phải là một câu nói thốt ra trong lúc bốc đồng, thì nhà thơ ắt hẳn phải là một người vô cùng can đảm, đáng khâm phục. Vì khâm phục cái “to gan” của nhà thơ, nên kẻ viết bài này bèn soi mói trong đống tài liệu, sách vở, và báo chí hiện có để tìm hiểu xem nhà thơ chửi ông Hồ như thế là oan hay ưng cho ông ta?

Trước khi làm việc này, tôi nghĩ là nên phân tích từ đéo hoang trong câu chửi này. Theo thiển ý của kẻ viết bài này, đéo ở đây là động từ thô tục chỉ hành động làm tình hay giao cấu, còn hoang là trạng từ chỉ trạng thái của hành động ấy. Vậy đéo như thế nào thì có thể bị coi là đéo hoang?

Trong kho tàng ca dao Việt Nam, có câu: “đéo lờ mà chẳng coi giờ, đụng phải bàn thờ đổ cả bát nhang.” Đéo bậy bạ đến nỗi đổ cả bát nhang trên bàn thờ có thể coi là đéo hoang không? Theo kẻ viết bài này, thì đéo đụng vào bàn thờ tổ tiên tức là đụng chạm đến thanh danh của ông bà ông vải thì tất nhiên coi là đéo hoang được lắm chứ. Song nghĩ kỹ, dường như lại thấy không thích hợp lắm với từ đéo hoang mà nhà thơ Hữu Loan dùng trong câu chửi này, nên tôi bèn tra cứu những bộ từ điển Việt-Việt hiện có trong tay hay trên mạng internet. Kết quả là hầu như không có bộ nào có định nghĩa riêng rẽ từ đéo hoang cả. Trong bộ VIỆT NAM TÂN TỪ ĐIỂN của Thanh Nghị có định nghĩa từ con hoang như sau:

“CON HOANG dt. Con đẻ ra lúc chưa có chồng chính thức”.

Suy diễn từ định nghĩa trên đây, kẻ viết bài có được một kết luận tạm rằng, giữa từ con hoang và từ đéo hoang rõ ràng là có dây mơ rễ má với nhau, và rất có thể đéo hoang còn là “cha đẻ” của con hoang nữa đấy, vì không đéo hoang thì làm sao có con hoang được. Từ đó ta có thể tạm thời định nghĩa từ đéo hoang ở đây như sau:  “đéo hoang là làm tình với một người đàn bà không phải hay chưa phải là vợ chính thức”. Vợ chính thức theo nghĩa pháp lý là người vợ có chứng thư hôn thú do một cơ quan công lập có thẩm quyền cấp phát.

  Tới đây ta có thể tạm kết luận rằng: “Khi một người đàn ông ăn nằm hay làm tình với một người đàn bà, mà không có hôn thú hợp pháp trước với người này, thì gọi là đéo hoang.”

  Một điều nên biết là, đéo hoang, trên bình diện pháp lý, tuy không được coi là một hành vi chính đáng, nhưng không minh thị cấm đoán.  Song trên bình diện luân lý và đạo đức, thì đéo hoang lại là một điều tồi tệ nhất, đặc biệt là đối với những người đang nắm giữ quyền cao chức trọng trong chính quyền.

Tổng Thống Bill Clinton của Hợp Chúng Quốc, quyền uy bao trùm thiên hạ, song chỉ vì đéo hoang cô Monica Lewinsky ngay trong tòa Bạch Ốc, giữa ban ngày ban mặt, lại trong giờ hành chánh nữa, nên sứt bứt sang bang và chỉ còn một chút xíu nữa là mất toi chức Tổng Thống Hoa Kỳ.

1

Ông Eliot Spiter, thống đốc bang New York, cũng chỉ vì đéo hoang với một cô gái làng chơi hạng sang, mà mất ngọt xớt chức Thống Đốc tiểu bang New York.

  1Ông Nguyễn Trường Tô, chỉ vì “đéo hoang ”mấy cô nữ sinh mà bị mất toi chức Tỉnh Trưởng tỉnh Hà Giang. Nghĩ cũng tội nghiệp cho ông Tô. Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay đang hô hào đảng viên và dân chúng trong nước “Triệt Để Học Tập và Làm Theo Gương Hồ Chủ Tịch Vĩ Đại”. Như vậy, ông Tô chỉ làm theo gương Bác Hồ một cách triệt để. Đáng lẽ Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam phải tuyên dương ông Tô là “Anh Hùng học tập theo gương Bác Hồ Vĩ Đại” và ban cấp Huân Chương Hồ Chí Minh hạng nhất cho ông Tô mới hợp tình hợp lý.

Ông Lê Khả Phiêu khi còn đang là Tổng Thư K‎ý đảng Cộng Sản Việt Nam sang thăm Trung Quốc chỉ vì cắm dùi trên ảnh đất xéo rộng có vài phân vuông của một cô Sẩm có tên là Trương Mỹ Vân (Cheng Mei Wang) trong chuyến công du sang thăm Trung Quốc vào năm 1988, mà chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã phải cắt hàng ngàn cây số vuông lãnh thổ và lãnh hải “bồi thường” cho Trung Quốc. Vụ đéo hoang cô Sẩm Trương Mỹ Vân mà không xem giờ của ông Phiêu mất mẹ nó chức Tổng Thư K‎ý nhiệm kỳ hai cuả ông.

Có lẽ cũng vì thế, nên việc đéo hoang của ông Hồ được đảng Cộng Sản Việt Nam giấu giếm rất kỹ còn hơn mèo giấu cứt nữa và còn được coi như một sự kiện “tối mật quốc phòng”. Vì việc này bị lộ liễu thì còn đâu là uy tín của ông Hồ và của đảng Cộng Sản nữa. Do đó có câu thơ châm biếm:

  Hồ đéo, tối mật quốc phòng
 Ai mà tiết lộ, đi đong cuộc đời.

1Tới đây đã có được một định nghĩa tạm thời về từ đéo hoang, và ta dùng nó như kim chỉ nam để xem trong số những mụ đàn bà đã đi bên cạnh cuộc đời của ông Hồ, ai là vợ chính thức, và ai là vợ không chính thức. Hễ ông ta ăn nằm với một người đàn bà nào mà không có hôn thú chính thức trước là ta có thể kết luận một cách không sợ sai lầm là ông Hồ đã đéo hoang người đàn bà ấy, giản dị như thế thôi.

Qua sách, báo, tài liệu, phim ảnh, v.v.. người ta thấy ông Hồ đã giao du thân mật với các đấng nữ lưu sau đây.

1/ Cô gái bán cơm ở chợ Đa Kao:

  Trong “Hồ Chí Minh, Con Người và Huyền Thoại” ông Trần Gia Phụng viết về Nguyễn Tất Thành, tức ông Hồ hồi còn nhỏ, một đoạn như sau:

  “Người ta có thể đi đến kết luận rằng trong khoảng thời gian 1908-1911, Thành là một lãng tử vô định. Việc học hành lỡ dở, gia cảnh ly tán vì người cha rượu chè bê tha, hung dữ, cậu đã vượt ra khỏi khuôn khổ thông thường của một người dưới phố. Có thể cậu đã theo cha vào Nam, học nghề bốc thuốc.  Hoặc đã làm chân phụ bếp cho một khách sạn người Hoa, hay thư ký của một đồn điền nào đó. Trong một phút phẫn chí vì thất tình với cô gái bán cơm ở chợ Đa Kao, cậu đã đăng ký làm bồi tầu, hy vọng cuộc sống phiêu lưu trôi nổi nơi đất lạ sẽ giúp quên đi dĩ vãng, phó mặc mọi sự, sống trôi nổi theo dòng đời.”

           Như vậy, theo ông Trần Gia Phụng, khi tạm trú trên đất Saigon, cậu Thành có yêu cô hàng cơm ở chợ Đa Kao, song không rõ vì lý do nào đó mà cậu Thành hay ông Hồ đã bị cô ta cho ra rìa.  Trong thời gian kể từ lúc gập gỡ lần đầu, cho tới lúc “anh đường anh, em đường em”, cậu Thành có kiếm chác được chút cháo nơi cô hàng cơm hay không? Theo tôi nghĩ, thất tình đến nỗi phẫn chí, tự nó đã nói lên được là cậu Thành chưa kiếm chác được gì hết nơi cô hàng cơm cả. Nếu đã kiếm được chút cháo nơi cô hàng cơm rồi, thì cậu Thành đâu đến nỗi phải phẫn chí.  Nói tóm lại, việc cho rằng cậu Thành đã “đi qua đời” cô hàng cơm chỉ là nghi vấn.  Nói khác đi là ông Hồ chưa đéo hoang được cô hàng cơm ở chợ Đa Kao.

2/ Bourdon Pháp Quốc:

  Theo giáo sư Nguyễn Thế Anh, nguyên viện trưởng viện đại học Huế vào thời gian Tết Mậu Thân, sau khi rời tầu Amiral Latouche Treville để sống trên đất Pháp bằng nghề chụp hình, ông Nguyễn Ái Quốc hay ông Hồ có mối liên hệ tình cảm với một cô gái người Pháp tên là Bourdon. Lá thư đầu tiên mà ông Hồ gửi cho cô Bourdon được viết vào ngày 10-05-1923. Và lá thư cuối cùng của cô Bourdon viết cho ông Hồ để khước từ mối tình này, được viết vào ngày 11-06-1923. Quen biết trong thời gian quá ngắn ngủi như thế, người ta tin là ông Hồ chưa có thể “cắm dùi” trên mảnh đất xéo mầu mỡ và sum sê hoa lá của cô Bourdon được. Nói khác đi là ông Hồ chưa xâm nhập vào được “thâm cung” của cô Bourdon.

3/ Marie Biere Pháp Quốc:

1Theo nhà báo Thành Tín, tức cựu đại tá Việt Cộng Bùi Tín, thì ở Pháp có một số tài liệu cho thấy, trong thời gian kiếm sống bằng nghề thợ chụp hình ở Paris, ngoài cô Bourdon, ông Hồ còn có quan hệ tình cảm với một cô gái Pháp khác tên là Marie Biere nữa.  Song rất tiếc tác giả đã không nói rõ mối quan hệ tình cảm này kéo dài bao lâu và xâu nông thế nào, nên không có bằng chứng để có thể kết luận là trong mối liên hệ này “con ong đã tỏ đường đi lối về.”

4/ Hai người vợ Nga:

  Trong HO CHI MINH A LIFE, trang 225, ông William Duiker viết: “Có các nguồn tin khác cho hay là, sau khi đến Moscow, Nguyễn Ái Quốc được cơ quan đầu não Quốc Tế Cộng Sản (QTCS) chỉ định cho ông một người vợ tạm thời. Cũng có tin đồn là ông Hồ đã có một đứa con gái với người bạn gái ở Liên Bang Xô Viết ([1])”.  Như vậy trong thời gian đến Nga, lần đầu, đã có tới 2 người đàn bà Nga đi vào đời ông Hồ, một do Quốc Tế Cộng Sản chỉ định để giúp ông điều hòa sinh lý, và một do ông tự kiếm lấy.

Trong cuốn CON RỒNG VIỆT NAM, trang 205, cựu hoàng Bảo Đại cũng viết: “Hồ Chí Minh có một người vợ Nga và có chung một người con gái, nhưng ông ta không bao giờ nhắc đến.”

  Bà bạn gái mà William Duiker nhắc đến, và người vợ Nga mà cựu hoàng đề cập, đều có một mẫu số chung là đứa con gái với ông Hồ, nên người ta nghĩ rằng, hai bà này là một.

Khi một người là temporary wife và một người là lady friend thì ông Hồ không ngu gì mà không cắm dùi và chắc chắn không có công chứng thư hôn thú. Như vậy ông Hồ đã đéo hoang hai bà này là điều chắc ăn như bắp.

5/ Mao Từ Mẫn:

  Trong bài viết có tựa đề là “Hồ Chí Minh Có Rất Nhiều Vợ” tác giả Ngọc Ân cho biết, vào năm 1924, Đảng cộng sản Liên Xô cử một phái đoàn cố vấn sang giúp chính phủ Tôn Trung Sơn thành lập trường “Hoàng Phố Quan Quân Học” ở Quảng Châu. Trong phái đoàn này ông Pháo-La-Din, tức Borodine, là cố vấn chính trị; Tướng Gia-Luân, tức Galen, cố vấn quân sự; Nguyễn Ái Quốc tức Lý Thụy, là bí thư kiêm thông dịch viên.

  Trong thời gian ở Quảng Châu ông Hồ có lấy một người vợ Tầu tên là Mao Từ Mẫn, là em bà con với Mao Trạch Đông. Bà Mẫn có với ông Hồ một đứa con gái được đặt tên là Từ Phong. Ngay từ hồi còn nhỏ cô Phong đã ăn mặc giả trai. Năm 1945, Từ Phong theo ông Hồ về Việt Nam với tư cách vừa là cháu và vừa là cận vệ. Vào năm 1950 hay 1951, cô Phong đã ăn mặc trở lại là một cô gái, để kết duyên với một người họ Lâm, là người Mao Trạch Đông cho đi theo ông Hồ Việt Nam, bề ngoài là bảo vệ ông Hồ, song bề trong là để theo dõi và báo cáo về các hành tung của ông này.  Khi ông Hồ qua đời cô Phong và chồng đã trở về Trung Hoa.

  Tác giả Ngọc Ân không hề đề cập đến chứng thư hôn thú giữa ông Hồ và bà Mao Từ Mẫn cả. Như vậy ông Hồ và bà Mao, tuy có một cô con gái chung, song vẫn chỉ là một cặp vợ chồng không chính thức.

6/ Mẹ của nữ ca kịch sĩ Hồng Tuyển Nữ:

  Cũng vẫn theo tác giả Ngọc Vân, thì trong thời gian ở Quảng Châu, ông Hồ còn có một người vợ khác, mà người ta không rõ tên tuổi, mà chỉ biết bà này trước khi lấy ông Hồ đã có một đứa con riêng, là nữ ca kịch sĩ Hồng Tuyển Nữ, và sau khi lấy ông Hồ đã sinh được một cô con gái, được đặt tên là Lý Xảo Vân. Trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa do Mao Trạch Đông phát động, Hồng Tuyển Nữ bị người con gái đấu tố tơi bời. Nghe nói sau đó, Hồng Tuyển Nữ trốn thoát được sang Đài Loan. Cô Lý Xảo Vân,  sau trở thành y tá phục vụ trong quân đoàn địa phương tỉnh Vân Nam, do trung tướng Hoàng Nam Hùng, một thành viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng, tốt nghiệp trường Hoàng Phố chỉ huy. Khi quân đoàn này giải tán, ông Hoàng Nam Hùng mang cô Lâm Xảo Vân về Hồ Khẩu gửi vào nhà một người Việt tên là L‎‎ý Xuân Lâm, hay Lý Bánh Tây, vì ông Lâm là chủ một tiệm làm bánh Tây, tức bánh mì, trong thành phố này.

  Cuộc sống chung giữa ông Hồ và bà mẹ của ca kịch sĩ Hồng Tuyển Nữ, tuy đã cho ra đời một cô con gái là Lý Xảo Vân, song vẫn chỉ là một cặp vợ chồng tạm bợ, nên không thể có chứng thư hôn thú, vì thế ta không có thể kết luận rằng họ là một cặp vợ chồng chính thức được.

7/ Tăng Tuyết Minh (TTM):

  Trong TĂNG TUYẾT MINH NGƯỜI VỢ TRUNG QUỐC CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC, tác giả Hoàng Tranh (viện phó viện khoa học xã hội Quảng Tây) cho biết là, vào khoảng giữa tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc, tức ông Hồ, từ Mạc Tư Khoa đến Quảng Châu, làm việc tại phòng phiên dịch của cố vấn Borodin, thuộc hội Lao Liên của Tôn Trung Sơn. Trong thời gian ở đây ông Hồ có bắt liên lạc được với nhiều người Việt Nam đến đây để hoạt động cách mạng, trong đó một người là Lâm Đức Thụ và bà vợ người Tầu của ông ta là Lương Huệ Quần. Hai vợ chồng này đã mai mối cho ông Hồ một cô nữ hộ sinh, tên là Tăng Tuyết Minh. Hôn lễ của hai người được cử hành vào tháng 10 năm 1926. Lúc ấy ông Hồ 36, còn Tăng Tuyết Minh 21. Địa điểm tổ chức hôn lễ là nhà hàng Thái Bình ở trung tâm thành phố Quảng Châu. Nơi đây cũng là địa điểm tổ chức lễ kết hôn của Chu Ân Lai và Đặng Dĩnh Siêu một năm về trước.

         Trong HO CHI MINH A BIOGRAPHY, trang 39, tác giả Pierre Brocheux cũng viết: “Một sự kiện quan trọng trong cuộc sống tình cảm của ông Hồ, là đám cưới của ông ta với cô Tăng Tuyết Minh, một nữ hộ sinh và là bạn học của vợ Lâm Đức Thụ, đã được tổ chức vào ngày 18 tháng 10 năm 1926. Trong một lá thư, Thụ viết là, ‘Ngày hôm nay, Lý Thụy lấy một người bạn học của vợ tôi’.  Vào lúc cưới, cô Minh 21 và ông Hồ 31. Họ đã phải vượt qua sự phản đối của thân mẫu cô Minh, vì bà này biết rõ các hoạt động của ông Hồ, cũng như những khó khăn tiềm tàng về phía gia đình của thân phụ cô ta nữa, vì gia đình này theo đạo Thiên Chúa đã hai thế hệ….“

[1] Other sources suggest that after his own arrival  in Moscow, Nguyễn Ái Quốc had been assigned a “temporary wife” by Commintern headquarters; it was also rumored that he had fafhered a daughter by a lady friend in the RSSA.

  Theo tác giả Brocheux thì tiệc cưới của ông Hồ và bà Minh được tổ chức vào ngày 18-10-1926 tại một nhà hàng lớn trong thành phố Quảng Châu, với nhiều người tham dự, song không hề đề cập đến việc, trước hay sau hôn lễ, đã có một chứng thư hôn thú được lập bởi nhà chức trách có thẩm quyền. Ở Trung Hoa cũng như ở Việt Nam vào thời gian ấy, hôn lễ chỉ là nghi thức theo phong tục cổ truyền trong dân gian; còn việc lập hôn thú mới được coi thủ tục pháp lý.

  Tóm lại việc ông Hồ lấy cô Tăng Tuyết Minh, dù hôn lễ hay tiệc cưới, được tổ chức linh đình tại một nhà hàng sang trọng ở Quảng Châu, với nhiều nhân vật tai to, mặt lớn tham dự đi nữa, song về mặt pháp lý vẫn không thể coi là một vụ kết hôn chính thức.

8/ Lý Huệ Khanh:

  Trong LỘT TRẤN HUYỀN THOẠI HỒ CHÍ MINH (bài 2) tác giả Trần Gia Phụng viết: “Theo một số tài liệu khác, thì trong thời này (thời gian ở Quảng Châu) Lý Thụy còn sống với một phụ nữ Trung Hoa thứ nhì là  Lý Huệ Khanh, em của Lý Huệ Quần. Lý Huệ Quần là vợ của Lâm Đức Thụ, một đồng chí của Lý Thụy. Tài liệu này giải thích rằng Nguyễn Ái Quốc đổi tên thành Lý Thụy là theo họ của Lý Huệ Khanh cho dễ hoạt động.”

Không có tài liệu nào đề cập đến chứng thư hôn thú giữa ông Hồ và bà Khanh cả.  Rõ ràng là ông Hồ và bà Khanh không phải là vợ chồng chính thức theo đúng nghĩa pháp lý.

19/ Đặng Dĩnh Siêu:

  Trong cuốn VỀ BA ÔNG THÁNH nhà báo Thành Tín, tức cựu đại tá Việt Cộng Bùi Tín, cho biết là theo bà Sophia Quinn Judge, một nhà sử học Hoa kỳ, một người Mỹ nói tiếng Việt rất thành thạo, đã bỏ ra nhiều năm để sưu tầm và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến ông Hồ, thì ông Hồ còn yêu cả vợ ông Chu Ân Lai là bà Đặng Dĩnh Siêu.

Qua tấm hình ông Hồ chụp chung với bà Siêu tại Hà Nội vào năm 1966 khi bà Siêu sang thăm Việt Nam, người ta thấy được đây là tấm hình của một cặp vợ chồng già vẫn còn khăng khít với nhau, chứ không phải là một một tấm hình một vị nguyên thủ quốc gia chụp chung với một vị quốc khách, và cũng có thể nói đây là tấm hình “tình cũ không rủ cũng tới”. Nói khác đi là chuyện “đi đêm” giữa bà Siêu và ông Hồ là chuyện có thể có thật. Còn việc ông Lai có biết rõ chuyện này hay không là điều khó có thể biết được? Tuy nhiên có nhiều người cho rằng, có thể đây là mối tình tay ba, được cả ba biết rõ và đồng thuận vì ông Hồ và ông Lai rất thân với nhau và coi nhau như anh em.

10/ Nguyễn Thi Minh Khai (NTMK):

  Theo ông Pierre Brocheux, trong HO CHI MINH A BIOGRAPHY  (trang 63), thì vào tháng 3 năm 1930, cô NTMK được gửi từ Hải Phòng tới Hương Cảng để phụ giúp ông Hồ trong việc điều hành công việc của chi nhánh Phòng Viễn Đông ở Hồng Kông. Tại đây, mối liên hệ tình cảm giữa ông Hồ và cô NTMK đã đi xa hơn tình đồng chí. Brocheux còn cho biết thêm là có hai văn bản của Phòng Viễn Đông đề cập đến việc ông Hồ xin phép cưới cô NTMK làm vợ.

1

Theo ông William Duiker, trong HO CHI MINH A LIFE (trang 199), thì vào mùa Xuân 1931, ông Hồ bắt đầu có mối liên hệ tình cảm với một bạn đồng nghiệp, trẻ tuổi người Việt, và ông hồ đã gửi thư tới Phòng Viễn Đông chính, có trụ sở ở Thượng Hải, để xin phép cưới người bạn gái trẻ đẹp này làm vợ. Trong thư phúc đáp ông Hồ vào tháng 4/1931, ông Noulens, trưởng Phòng Far Eastern Bureau ở Thượng Hải, đã  nhắc nhở ông Hồ là, đơn xin lấy vợ phải nộp hai tháng trước ngày cưới. Cũng trong tháng 4 năm 1931, cô NTMK bị Sở Cảnh Sát Hương Cảng bắt giữ, vì tình nghi dính dáng đến các hoạt động phá hoại. Vì thế mà cuộc sống lứa đôi của ông Hồ và cô Minh Khai ở Hương Cảng dang dở, và việc xin phép cưới cô Minh Khai cũng không được ông Hồ nhắc đến nữa.

  Cũng theo ông William Duiker, trong HO CHI MINH A LIFE, trang 225, thì trong những lá thư và các báo cáo mật của đảng Cộng Sản Đông Dương ở Macao gửi cho Far Eastern Bureau, trước khi Đại Hội Quốc Tế Cộng Sản khai mạc tại Mạc Tư Khoa vào ngày 25-07-1935, cũng cho biết là vợ Quốc, một bí danh của Hồ, là một trong những thành viên của phái đoàn tham dự đại hội này. Điều này cho thấy là đảng CSĐD đã xác nhận NTMK đã là vợ của ông Hồ khi còn ở Hương Cảng.

  Ngay sau khi tới Moscow để tham dự Đại Hội QTCS ở Moscow, cô NTMK Minh Khai đã khai trong phiếu lịch rằng, cô là vợ của Lin, bí danh của ông Hồ ở Moscow. Sau khi tham dự đại hội, cô NTMK được giữ lại ở Moscow để theo học chính trị ở Lenin School. Trong thời gian đó ông Hồ cũng đang theo học tại trường này. Ông Hồ và NTMK đã ở chung với nhau trong căn một phòng, và trong những phiếu ghi nhận đồ đạc dùng cho phòng riêng của hai người cũng đều ghi là hai vợ chồng, Khai và Lin, chung phòng, chung giường.

  Nơi trang 63, trong HỒ CHÍ MINH A BIOGRAPHY, ông Pierre Brocheux viết: “Nếu thật sự có một mỗi tình lãng mạng thì mối tình này đã kết thúc một cách đáng thương cho ông Hồ, bởi vì cô NTMK đã kết hôn với Lê Hồng Phong tại tòa thị sảnh Moscow trước khi trở về Đông Dương…” ([1])

  Trong HO CHI MINH THE MISSING YEARS, trang 211, tác giả Sophia Quinn –Judge cho biết là ông Lê Hồng Phong trở về Việt Nam vào năm 1936, và bà NTMK vào năm 1937; trong khi đó ông Hồ vẫn còn ở lại  Moscow.

Có lẽ vì mối tình tay ba này mà hiện nay ở Việt còn đang lưu truyền một câu ca dao rất dí dỏm rằng:

  “Bác Hồ đại trí đại hiền

   Đéo Minh Khai chán gả liền Hồng Phong

   Minh Khai phận gái chữ tòng

   Bác Hồ sái nhất Hồng Phong sái nhì.”

  Như vậy Nguyễn Thị Minh Khai đã là vợ của ông Hồ vào hai thời kỳ khác nhau, một vào năm 1931 tại Hương Cảng, và một vào năm 1935 tại Moscow. Cả hai thời kỳ đều không có chứng thư hôn thú, nên người ta không thể nói là cô Nguyễn Thị Minh Khai là vợ chính thức của ông Hồ được.

[1] If there really was a romantic liaison , one could say it ended poorly for Quốc, since Nguyen Thi Minh Khai  married Le Hong Phong in a city hall in Moscow before returning Indochina.

1

10/ Li Sam ở Hương Cảng:

  Vào tháng 4 năm 1931, cô Nguyễn Thị Minh Khai (NTMK) bị nhà đương cuộc  Hương Cảng bắt, vì tình nghi có dính dáng đến các hoạt động phá hoại. Sau đó ít lâu, theo ông William Duiker trong HO CHI MINH A LIFE, trang 200, thì cảnh sát Anh ở Hương Cảng cũng đã tới căn chung cư của ông Hồ, nằm trong một khu phố đông người, thuộc đảo Kowloom, vào hồi 2 giờ sáng ngày 6 tháng 6. Tại đây họ thấy một người đàn ông đang chung sống với một người đàn bà Việt Nam, trong một gian phòng ở tầng hai. Người đàn ông khai là người Trung Hoa và tên là T.V. Wong. Trong khi đó người đàn bà khai là cháu của Wong và tên là Ly Sam. Song theo các tài liệu tịch thu tại phòng này, cho thấy là người đàn ông chính là Nguyễn Ái Quốc. Còn người đàn bà khai tên là Ly Sam lúc xét nhà, về sau, được xác định là Lý Ưng Thuận, và là vợ của ông Hồ Tùng Mậu, là một đồng chí thân cận của ông Hồ.

         Ăn ở với một người đàn bà là vợ của một người vừa là bạn vừa là đồng chí thân cận, thì ông Hồ quả là một người tồi bại hết chỗ chê.

111/ Nông Thị Ngát:

  Theo tài liệu của cộng sản Việt Nam thì ông Hồ từ Trung Hoa về nước vào ngày 08-02-1941 qua cột mốc số 108 biên giới Việt Trung để trực tiếp lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc theo lệnh của Quốc Tế Cộng Sản. Khi về đến đất Việt ông Hồ đóng đô trong một túp lều nằm bên bờ một dòng suối.  Tại đây, một cô gái dân tộc Tầy trẻ đẹp, tên là Nông Thi Ngát được đưa tới để phục dịch ông Hồ. Cũng tại căn lều tranh này cô Ngát được ông Hồ kèm cặp rất kỹ lưỡng về mọi mặt và còn đặt cho cô một tên mới là Trưng, và còn dặn thêm là: “Từ nay ai hỏi thì cháu nói mình là cháu chú Thu, tên Trưng”.

Vào khoảng năm 1997, một tờ báo Xuân có phỏng vấn bà Ngát chuyện này, và được xác nhận là bà đã đến học tập với ông Hồ ròng rã cả năm trời. Hàng ngày, trong căn nhà sàn chật hẹp chỉ có một thầy và một trò. Ông thầy bề ngoài có vẻ đạo đức, phong nhã; song bề trong vốn là một con yêu râu xanh. Còn cô học trò lại là một bông hoa rừng mơn mởn, hai gò bồng đảo sương còn ngậm, một rạch đào nguyên suối chửa thông, nên tránh sao cảnh, ông thầy râu xanh “làm thịt” cô học trò ngây thơ như nai tơ giữa rừng vắng được.

  Đến tháng 8 năm 1945 khi về Hà Nội để lãnh đạo đảng Cộng Sản cướp chính quyền, vì ham mê quyền lực nên dường như ông Hồ đã quên hẳn cháu Trưng . Sau năm 1954 ít lâu, bỗng nhớ tới cô gái Tầy ngây thơ đã ăn nằm với ông như vợ chồng, trong những năm đầu của thập niên 1940 ở hang Pắc-Bó, ông Hồ đã không quên nâng đỡ và cất nhắc cô Trưng lên tới chức Tỉnh Ủy Viên, Ủy Viên Ban Chấp Hành Trung Ương, Chánh Án Tòa Án Nhân Dân tỉnh Cao Bằng.

Theo tin đồn rộng rãi trong dân gian, thì trong thời gian cô Ngát được ông Hồ kèm cặp trong căn nhà sàn bên bờ suối thơ mộng đã sinh ra một cậu con trai, và cậu này chính là Nông Đức Mạnh, đá có một thời gian làm Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Vietnam.

Trong cuốn HO CHI MINH A LIFE nơi trang 575, ông William Duiker viết:

  “Vào tháng 4 năm 2001, Nông Đức Mạnh một viên chức chính phủ ít được biết tới, và được đồn đại rộng rãi là con rơi của Hồ Chí Minh, được bầu làm làm Tổng Thư Ký đảng Cộng Sản Việt Nam([1])”

  Cũng trong cuốn này, nơi trang 670, ông William Duiker đã giải thích thêm là:

  “Nông Đức Mạnh đã phủ nhận tin đồn này, song thừa nhận rằng, mẹ ông, một thành viên dân tộc thiểu số người Tầy, đã phục dịch ông Hồ như một là một người giúp việc, sau khi ông này trở về Việt Nam trong những năm đầu của thập niên 1940.”([2])

  Mặt khác, ông ông Nông Đức Mạnh đã xác nhận với ký giả Kay Johson của tờ Time, ấn bản vùng Á Châu, phát hành ngày 21-01-2002 tại Hương Cảng về tin đồn ông ta là con rơi của ông Hồ rằng:

“Tôi phải lập lại và xác nhận rằng điều đó không đúng sự thật. Tôi có thể nói tên của cha mẹ tôi, nhưng họ đã chết” và rồi sau đó ông cho biết bố ông tên là Nông Văn Lai và mẹ là Hoàng Thị Nhị.

Việc chính thức xác nhận mẹ mình đã phục vụ ông Hồ như là một người giúp việc, cộng với việc chính thức xác nhận mẹ mình có tên là Hoàng Thị Nhị, có nghĩa là ông Nông Đức Mạnh gián tiếp xác nhận bà Hoàng Thị Nhị đã phục vụ ông Hồ như là một người đầy tớ vào đầu những năm của thập niên 1940.  Cho tới nay có rất nhiều tài liệu xác nhận bà Ngát đã phục vụ ông Hồ như là một người giúp việc vào những năm đầu của đầu thập niên 1940, nhưng dường như không có tài liệu nào đề cập đến việc bà Hoàng Thị Nhị là người giúp việc cho ông Hồ vào thời gian này cả. Chính vì điểm mập mờ “giấu đầu hở đuôi” này của Nông Đức Mạnh mà người ta mới đồn là ông Mạnh chính là con của bà Ngát với ông Hồ. Song vì một nguyên cớ thầm kín nào đó, bà Ngát đã không thể nuôi hay không tiện nuôi ông Mạnh, nên đã giao ông ta cho một người cùng họ là Nông Văn Lai nuôi ngay từ hồi ông Mạnh mới lọt lòng mẹ. Như vậy người ta có thể kết luận là không hề có chứng thư hôn thú giữa ông Hồ và cô Ngát trong thời gian ở hang Pắc Bó.

12/ Đỗ Thị Lạc:

  Trong MỘT CƠN GIÓ BỤI, chương 4 RA HUẾ LẬP CHÍNH PHỦ, cụ Lệ Thần Trần Trọng Kim có viết một đoạn như sau:

  “Về khoảng cuối năm 1944, Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội lại dời về tỉnh Quảng Tây, và cho ông Hồ về Bách Sắc để trù liệu kế hoạch nhập Việt. Sau đó Hội cho ông Minh cùng với 22 đảng viên, phần nhiều là người đảng Phục Quốc, về nước để khởi sự hành động. Trong số 22 người ấy có một nữ đảng viên tên là Đỗ thị Lạc là người sau có đứa con gái với Hồ Chí Minh. Về sau, thấy người ta nói khi đến địa hạt Bắc Giang, có 3 đảng viên trong 22 người ấy bị giết vì không chịu theo cộng sản.”

  Trong NĂNG ĐỘNG HỒ CHÍ MINH, trang 143, tác giả Thép Mới viết: “Bác giới thiệu với bản làng người nữ cán bộ hôm qua cùng về với Bác: Đây là đồng chí Lạc thay cháu Nông Thị Trưng về đây ở với đồng bào..”

  Theo các tác giả kể trên, thì rõ ràng là, cô Đỗ Thị Lạc đã đi qua đời ông Hồ sau cô Nông Thị Ngát, và cô Lạc, dù đã có với ông Hồ một đứa con gái, song vẫn chỉ là người vợ “không bao giờ cưới” của ông Hồ”. Nói khác đi là cô Đỗ Thị Lạc không phải là vợ chính thức của ông Hồ.

13/ Nông Thị Xuân:

  Trong bài ÔNG HỒ CÓ MẤY VỢ, tác giả Trần Gia Phụng viết: “Sau khi hiệp định Geneva được ký kết vào ngày 20/07/1954, đất nước bị chia hai, hòa bình được tái lập, Hồ Chí Minh về Hà Nội làm chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt). Ban bảo vệ sức khỏe trung ương, chuyên trách về sức khỏe các nhân vật cao cấp, đã tuyển một phụ nữ thuộc “gia đình cách mạng” tên là Nông Thị Xuân, người làng Hà Mạ, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, thuộc sắc tộc Nùng. Cô Xuân được đưa về Hà Nội sống với ông Hồ năm 1955. Lúc đó ông Hồ đã khoảng 65 tuổi, còn cô Xuân 22 tuổi.”

[1] In April 2001, the relative unknown government official  Nong Duc Manh, widely rumored to be the illegitimate son of Ho Chi Minh, was elected general secretary of the VCP.

[2] Nong Duc Manh has denied these rumors, but he concedes that his mother, a member of the Tay ethnic minority, served as Ho’s servant after the latter’s return to Vietnam during the early 1940s
1Một năm sau cô Xuân đã cho ra đời một cậu con trai và được ông Hồ đặt tên là Nguyễn Tất Trung. Sau khi có con với ông Hồ, cô Xuân bèn đòi ông Hồ phải công khai việc ăn ở lén lút lén giữa hai người. Nói một cách khác là cô Xuân đã đòi ông Hồ phải chấm dứt giai đoạn “tiền thông dâm” để bước sang giai đoạn “hậu hôn thú”. Nhưng rất tiếc đòi hỏi của cô Xuân đã không được ông Hồ và Bộ Chính Trị chấp thuận, vì làm như thế là mất hết uy tín của ông Hồ và đảng Cộng Sản nữa.

  Theo Trần Đĩnh trong Đèn Cù, trong thời gian kháng chiến chống Pháp, khi ông Hồ và chính phủ ông còn đóng chốt ở Liên Khu Bắc Việt, cô Nông Thị Xuân đã từng là con nuôi của ông Hồ. Như vậy là ông Hồ đã lấy con nuôi làm vợ, rồi về sau vì muốn bảo vệ danh dự, ông ta đã cho đàn em thủ tiêu cô Xuân vô cùng dã man. Thế mới biết về phương đạo đức và luân lý ông Hồ chó má đến mức nào?

Do đó một quyết định, không rõ xuất phát từ ông Hồ, hay là chỉ do đám đàn em của ông ta đưa ra là phải thủ tiêu cô Xuân để bịt miệng càng sớm càng tốt. Quyết định này được giao cho tên đương kim Bộ Trưởng Nội Vụ lúc bấy giờ là Trần Quốc Hoàn, tên thật là Nguyễn Cảnh, thực hiện. Trước khi làm việc này, vì thấy cô Xuân là “gái một con, trông mòn con mắt” hay “gái một con, thuốc ngon nửa điếu”, nếu đem giết ngay thì uổng của Trời, nên Hoàn đã ban ơn cho cô Xuân được sống thêm một vài ngày nữa, để hãm hiếp chán chê trước đã, rồi mới lấy búa đập vào đỉnh đầu cô Xuân. Sau đó Hoàn và đàn em đem thi hài cô Xuân dàn dựng và đạo diền thành một vụ đụng xe chết người ở dốc Cổ Ngư.

  Vụ dàn dựng giết cô Xuân được nhà văn Vũ Thư Hiên mô tả trong ĐÊM GIỮA BAN NGÀY nơi trang 606 và 607 như sau: “Ta hãy ghi nhận sự việc này: vào một buổi sang mùa xuân năm 1957, người ta thấy có xác một người đàn bà bị xe ô tô đụng chết ở dốc Cổ Ngư lên Chèm, Hà Nội. Xác chết được đưa vào bệnh viện Việt Đức, được nhận dạng. Đó chính là cô Xuân. Nhưng xác không được mổ theo thường lệ, mà bị chôn cất vội vã theo lệnh của Trần Quốc Hoàn..”

  Tóm lại ông Hồ đã ăn nằm với cô Xuân như vợ chồng trong một thời gian khá dài, và đã có với ông Hồ một đứa con trai, song không hề được lập chứng thư hôn thú, nên về mặt pháp lý không thể coi cô Xuân là vợ chính thức của ông Hồ được.

14/ Nguyễn Thị Phương Mai:

  Trong cuốn Ho Chi Minh, a biography, trang 181, tác giả Pierre Brocheux có viết: “It was also in 1954 that a young and pretty cadre from Thanh Hoa was chosen to take care of ‘the psycho-physiological equilibrium and the good health of Uncle Ho.’ The young woman, Nguyen Thi Phuong Mai, agreed on condition of official marriage, which was refused …’ ([1])”

Theo ông Nguyễn Minh Cần, nguyên Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân thành phố Hà Nội trong “Thêm Vài Mẩu Chuyện Về Cuộc Đời của Hồ Chí Minh” thì sau khi Trần Quốc Hoàn, Bộ Trưởng Nội vụ hãm hiếp và thủ tiêu cô Nông Thị Xuân, Ban Chấp Hành đảng Lao Động lại sắp xếp và điều động cô Nguyễn Thi Phương Mai, một tỉnh ủy viên trẻ đẹp của tỉnh Thanh Hóa, về Hà Nội với dự tính thay thế cô Nông Thị Xuân. Khi tới Hà Nội cô Phương Mai bằng lòng lấy ông Hồ với điều kiện là phải tổ chức lễ cưới công khai trước toàn dân trăm họ. Việc đòi hỏi của cô Phương Mai đã không được ông Hồ và Ban Chấp Hành đảng Lao Động chấp thuận.  Nói khác đi là, cô Phương Mai chỉ bằng lòng để cho ông Hồ đéo cô ta một cách chính thức mà thôi, chứ không chịu để cho ông Hồ đéo hoang. Ở đây người ta chỉ có thể kết luận là ông Hồ đã “đéo hoang hụt” cô Phương Mai.

[1] Cũng vào năm 1954, có một cán bộ trẻ đẹp của tỉnh Thanh Hóa được chọn để cân bằng tâm sinh lý và chăm sóc sức khỏe cho Bác Hồ. Người phụ nữ trẻ này, cô Nguyễn Thị Phương Mai, bằng lòng  với điều kiện là phải cưới xin chính thức, song điều kiện này bị từ chối.

115/ Một người vợ Pháp:

Một số tài liệu khác còn trưng ra một tấm hình, chụp ông Hồ đang khoác tay với một bà vợ Pháp trẻ đẹp trong một lâu đài cổ kính. Trong hình cho thấy ông Hồ mập mạp, tuy đã lớn tuổi, nhưng ăn mặc rất chỉnh tề. Chắc chắn không phải là cậu Nguyễn Tất Thành hay Nguyễn Ái Quốc còm cõi và ốm đói khi mới đặt chân lên đất Pháp, sống bằng nghề chụp, và đang quen biết với cô Bourdon hay Marie Biere, mà là chủ tịch của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, không phải là sau năm 1945, mà là sau năm 1954. Nhìn kỹ tấm hình này, người ta còn nhận ra một điều đặc biệt là, ông Hồ có vẻ vô cùng mệt mỏi đến nỗi hai mí mắt sụp xuống không thể cất lên được nữa, giống như một nông dân già đã ra sức hì hục “cày sâu cuốc bẫm” suốt đêm trên thửa đất xéo mầu mỡ và mỹ miều mới được Đảng và Nhà Nước ban cấp trong cuộc cách mạng ruộng đất. Như vậy, người ta cũng có thể kết luận là ông Hồ đã đéo hoang người đàn bà Pháp này không phải một lần mà là rất nhiều lần.

16/ Em họ tướng Hoàng Sâm[1]:

  Trong bài HỒ CHÍ MINH CÓ RẤT NHIỀU VỢ, tác giả Ngọc Ân viết: “ Trong thời gian HCM sống tại hang Pắc Bó trên Thái Nguyên, tướng Hoàng Sâm có một cô em họ khoảng 20-21 tuổi, được Hoàng Sâm ‘bố trí’ đến hang Pắc Bó làm nhiệm vụ ‘cấp dưỡng’ cho Hồ chủ tịch. Hơn một năm sau, cô này mang bầu, nên họ Hồ đã giao cho đệ tử là Khuất Duy Tiến đem cô này đi thủ tiêu với một tội danh vu khống là ‘làm gián điệp cho Tây! Khuất Duy Tiến (1909-1984) ra lệnh cho đệ tử Nguyễn Văn Tiến đem người dàn bà này về bến đò Gầm, thuộc làng Thọ Đức, cách thị xã Bắc Ninh khoảng 20 cây số, xử bắn tại đây trong khi ‘người nữ gián điệp này đã mang thai 3 tháng với HCM!”

  Vụ giết người này rất vô lý, khó tin là có thật. Khi nói ông Hồ đang sống tại hang Pắc Bó, có nghĩa là thời gian trước tháng 8 năm 1945. Khi ấy Việt Minh chỉ có thể hoạt động âm thầm trong một vùng rửng núi rất nhỏ hẹp quanh hang Pắc Bó. Nếu đi xa hơn, tất sẽ bị nhà đương cuộc Pháp hay Nhật tóm cổ bỏ vô tù.  Với tình huống như thế, ông Tiến, một người sau năm 1945 làm đến chức Chủ Tịch Uỷ Ban Hành Chính Kháng Chiến thủ đô Hà Nội, có lẽ không ngu đến nỗi, sai một tên đàn em là Nguyễn Văn Tiến “dẫn độ” một cô gái mang bầu 3 tháng, làm gián điệp cho Tây, từ hang Pắc Bó thuộc tỉnh Cao Bằng, băng qua trên một trăm cây số trong vùng kiểm soát của Tây,  để đến bến đò Gầm cách thị xã Bắc Ninh khoảng 20 cây số, không phải là dìm cô ta xuống dòng sông cho mất tang tích, mà là xử bắn rồi chôn xác tại đây.

  Nếu chỉ nói là ông Hồ khi còn tạm trú trong hang Pắc Bó, đã ăn nằm với một cô cấp dưỡng là cháu tướng Hoàng Sâm, và khi cô này có bầu 3 tháng, thì ông Hồ bèn sai đệ tử mang một khu rừng nào đó thủ tiêu, thì là điều có thể tin được. Còn việc bảo ông Hồ đã sai Khuất Duy Tiến thủ tiêu cô cấp dưỡng rồi ông Tiến lại sai đệ tử dẫn cô này từ hang Pắc Bó thuộc tỉnh Cao Bằng tới bến đò Gầm thuộc tỉnh Bắc Ninh để giết là điều khó tin, vì ông Tiến không đến nỗi ngu xuẩn như thế. Tóm lại việc ông Hồ đã đéo hoang cô em họ của Tướng Hoàng Sâm là điều khó có thể tin được.

17/ Vera Vasilieva:  

  Theo nhà báo Thành Tín, tức đại tá cộng sản Bùi Tín, thì nhà sử học Hoa Kỳ Sophia Quinn Judge, có cho hay là trong thời gian ông Hồ ở Mạc Tư Khoa, “cũng có lúc có tình cảm mặn nồng với cả chính bà Vera Vasilieva”. Nếu cụm từ “tình cảm mặn nồng” ở đây có ý ám chỉ ông Hồ và bà Vasilieva đã đi lại và ăn nằm với nhau như vợ chồng, thì ta cần phải xét  lại.

  Theo tác gia Sophia Quinn-Judge, trong HO CHI MINH THE MISSING YEARS, trang 199, thì vào đầu năm1935 bà Vasilieva là người điều hành bộ phận đặc trách các vấn đề Đông Dương của Comintern (Quốc Tế Cộng Sản).

Theo tác giả William Duiker, trong HO CHI MINH A LIFE, trang 214, thì bà Vasilieva là người đảm trách việc giao tiếp giữa sinh viên Việt Nam ở Moscow với các ban ngành của Comintern.

Cũng theo tác giã Sophia Quinn-Judge, trong HO CHI MINH THE MISSING YEARS, trang 206, thì đảng Cộng Sản Đông Dương đã có lần đề cử ông Hồ tức Nguyễn Ái Quốc khi ông ta đang theo học tại Moscow làm đại diện của đảng này bên cạnh Comintern. Song trong một lá thư phúc đáp không đề ngày, bà Vasilieva đã thẳng tay bác bỏ đề nghị này với lý do là “Quốc sẽ phải học tập nghiêm túc trong vòng hai năm tới, nên không thể đảm trách bất kỳ công việc nào khác.”  Và bà Vasilieva còn giải thích thêm rằng, “chúng tôi đã có kế hoạch đặc biệt sử dụng ông ta, khi học xong.”

Theo tác giả Pierre Brocheux, trong cuốn HO CHI MINH A BIOGRAPHY, trang 61-62, thì vào năm 1938, không rõ vì lý do nào đó, ông Hồ đã bị đưa trước hội đồng kỷ luật (a disciplinary board) của  Comintern. Đứng đầu hội đồng này là ông Dmitri Zakharovitch Manuilsky, và hai thành viên khác là Vera Vasilieva, và Kang Sheng. Trước hội đồng, bà Vasilieva đã thẳng thắn bênh vực ông Hồ, bằng cách lập luận rằng, những lỗi lầm mà ông Hồ phạm phải là do sự thiếu kinh nghiệm mà ra. Trong khi đó, Kang Sheng, một đảng viên QTCS người Hoa, đòi trừng phạt nghiêm khắc ông Hồ. Còn ông Manuilsky cũng đã tỏ ra rộng lượng với ông Hồ, nên ông Hồ được “tha bổng” trong vụ này.

  Qua những dẫn giải trên đây, ta thấy là bà Vasilieva vừa là thượng cấp, vừa ân nhân của ông Hồ. Và bà Vasilieva người có chức phận lớn trong ban lãnh đạo Comintern. Mặt khác bà Vasilieva còn là một phụ nữ Nga đứng đắn, có gia đình và có chồng con đàng hoàng. Chồng bà là Mark Jorky, và con gái bà là Neiya Zorkaya. Nên ông Hồ, dù là tay “chụp giật” có hạng đi chăng nữa, cho ăn kẹo chắc cũng không dám “xàm xỡ” với bà Vasilieva đâu. Nói tóm lại việc cho rằng ông Hồ đã đéo hoang bà Vasilieva chỉ là một tin đồn hay chỉ là một nghi vấn vì thấy bà Vasilieva nâng đỡ và có cảm tình với ông Hồ.

19/ Bốn bà vợ người Thái Lan:

  Trong bài HỒ CHÍ MINH CÓ RẤT NHIỀU VỢ!! tác giả Ngọc Ân viết: “Theo lời cụ Mai Ngọc Thiệu, tức cụ Cả Sâm, một người bạn thân với HCM từ nhỏ, sau thành đồng chí của họ Hồ, người cùng với HCM sáng lập ra Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, tiền thân của Đảng Cộng Sản Đông Dương, mà ông là Xứ Ủy Bắc Kỳ Đầu Tiên, thì trong thời gian họ Hồ hoạt động ở vùng Bắc Thái, Thái Lan, HCM CÓ TẤT CẢ BỐN VỢ, đều là người Thái Lan và bà nào cũng có con với HCM. Nhưng cụ Cả Sâm không rõ bốn bà vợ này có bao nhiêu con với HCM. Theo cụ thì chỉ có Hoàng Văn Hoan, người đệ tử ruột của HCM trên đất Thái là biết rõ số con của bốn bà vợ này”.

Trong phần cước chú tác giả giải thích thêm về nhân vật Cả Sâm: “Cụ Cả Sâm di cư vào Nam sau năm 1954, sống tại ấp Nội Hóa xã Bình An (suối Lồ Ồ) quận Dĩ An, tỉnh Biên Hòa…”

Theo ông Hoàng Tranh, trong TĂNG TUYẾT MINH NGƯỜI VỢ TRUNG QUỐC CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC, thì sau khi từ giã bà Tăng Tuyết Minh ở Quảng Châu vào tháng 5 năm 1927 ông Hồ đã trở về Nga; rồi sau đó Cộng Sản Quốc Tế cử ông Hồ đi hoạt động ở nhiều nước khác nhau, và đến tháng 8 năm 1929 mới tới Thái Lan. Tại đây ông Hồ hoạt động với  bí danh là Đào Cửu. Rồi đến đầu năm 1931, ông Hồ lại trở lại Hương Cảng để hoạt động với bí danh mới là Tống Văn Sơ.

Như vậy, theo ông Hoàng Tranh, thì ông Hồ đến Thái Lan vào tháng 8 năm 1929, và rời Thái để trở lại Hương Cảng vào đầu năm 1931. Nói khác đi là thời gian ông Hồ hoạt động tại Thái Lan khoảng một năm rưỡi. Trong thời gian ngắn ngủi này, ông Hồ đã lấy tới 4 bà vợ, là điều mà người ta có thể tạm tin được, vì ông ta vốn là một người đàn ông không thể thiếu đàn bà. Song bảo rằng, tất cả các bà này đều có con với ông Hồ, thì lại là điều rất khó tin, đồng thời việc này cũng làm cho người ta nghi ngờ luôn cả việc ông Hồ có tới 4 bà vợ Thái trong thời gian ở Thái Lan là điều không hoàn toàn đúng sự thật.

                                    *

Tóm lại, theo danh sách tạm thời trên đây, ta thấy có thể có tất cả 23 người đàn bà dính líu đến cuộc đời của ông Hồ. Trong số này có 3 người Pháp, 3 người Nga, 4 người Thái, 5 người Hoa, và 8 người Việt, song không hẳn ông Hồ đã đéo hoang tất cả những người đàn bà trong danh sách này, vì nếu ta xem xét một cách thận trọng, thì dường như có một vài trường hợp chưa có thể kết tội ông Hồ đã đéo hoang những người đàn bà này.

Theo các tài liệu hiện có, người ta được biết ông Hồ đến Quảng Châu vào tháng 11 năm 1924, với tư cách là một thành viên trong đoàn cố vấn Liên Xô bên cạnh chính phủ Tôn Trung Sơn. Khi chiến tranh Quốc Cộng bùng nổ, ông Hồ phải theo phái đoàn Liên Xô trở về Nga vào tháng 5 năm 1927. Thời gian ông Hồ sống ở Quảng Châu khoảng 2 năm rưỡi (11/1924 tới 05/1927) mà lấy tới 5 bà vợ là các bà Mao Từ Mẫn, mẹ ca kịch sĩ Hồng Tuyển Vân, Đặng Dĩnh Siêu, Lý Huệ Khanh, Tăng Tuyết Minh, có lẽ là điều không hợp lý.

Theo Hoàng Tranh trong TĂNG TUYẾT MINH NGƯỜI VỢ TRUNG QUỐC CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC, thì trong thời gian hoạt động  ở Quảng Châu, một phụ tá đắc lực của ông Hồ là Lâm Đức Thụ và vợ của  Thụ là Lương Huệ Quần đã mai mối cho ông Hồ lấy cô Tăng Tuyết Minh. Hôn lễ đã được tổ chức tại nhà hàng Thái Bình vào tháng 10 năm 1926 ([2]).

Theo Trần Gia Phụng trong LỘT TRẦN HUYỀN THOẠI HỒ CHI MINH (bài 2), thì trong thời gian hoạt động ở Quảng Châu, ngoài bà Tăng Tuyết Minh, ông Hồ còn lấy một phụ nữ Trung Hoa khác tên là Lý Huệ Khanh. Bà Khanh là em gái của bà Lý Huệ Quần, vợ của Lâm Đức Thụ, một đồng chí của ông Hồ.  Vậy theo ông Phụng, thì bà Lý Huệ Khanh có thể là bà vợ của ông Hồ trước bà Tăng Tuyết Minh.

Theo tác giả Ngọc Vân, trong HỒ CHÍ MINH CÓ RẤT NHIỀU VỢ !! thì trong thời gian ở Quảng Châu, ông Hồ đã lấy 2 người vợ Tầu: “Người vợ thứ nhất tên là Mao Từ Mẫn, là em bà con với Mao Trạch Đông. Mao Từ Mẫn có hai chị em. Nguyễn Công Viễn, tức Hoàng Chấn Đông, tức Lâm Đức Thụ (1890-1947) lấy người chị, ông Hồ lấy người em. Người vợ thứ hai không rõ tên là mẹ của nữ ca kịch sĩ Hồng Tuyển Nữ (HTN). Trước khi lấy HCM, bà này đã có một đời chồng, sinh ra HTN. Thời cách mạng văn hóa, HTN đã bị con gái ruột của bà đấu tố, bắt HTN bò như một con chó ở ngoài đường, vừa bò vừa “sám hối tội” trước mặt con gái và mọi người.”

Đối chiếu những tin tức này với nhau, người ta thấy ông Hồ, đã có 4 bà vợ, trước và sau khi cưới cô Tăng Tuyết Minh. Hai trong bốn bà này là Mao Từ Mẫn và Lý Huệ Khanh đều là em vợ (khác nhau) của Lâm Đức Thụ. Và khi lấy bà TTM lại cũng do Lâm Đức Thụ và vợ Lý Huệ Quần mai mối.

Với những tin tức chồng chéo, luẩn quẩn và không hợp lý như thế kiến cho người ta khó có thể tin là trong thời gian 2 năm rưỡi ở Quảng Châu ông Hồ đã lấy tới 5 bà vợ.

Trong tổng số 23 bà vợ của ông Hồ, dường như chỉ có bà Tăng Tuyết Minh là được ông Hồ làm hôn lễ hay tiệc cưới tại một nhà hàng sang trọng, và còn có thể lập cả hôn thú nữa.

Trong HO CHI MINH A BIOGRAPHY, trang 63, tác giả Pierre Brocheux có đề cập đến việc ông Hồ, trong thời làm việc cho một chi nhánh  Far Eastern Bureau (FEB) ở Hương Cảng, có làm đơn xin phép cưới cô Nguyễn Thị Minh Khai, song không được FEB có trụ sở chính ở Thượng Hải chấp thuận. Do đó, Brocheux có đặt vấn đề là: “Nếu đề nghị này có thật, thì ông Hồ đã dự tính tái hôn trong khi hôn nhân trước vẫn còn hiệu lực pháp lý ([3]).” Nói như thế có lẽ là tác giả muốn ám chỉ là đã có một chứng thư hôn thú được lập ở Quảng Châu chăng? Vì không chứng minh được sự hiện hữu của chứng thư hôn thú, nên đây cũng vẫn chỉ là một sự phỏng đoán mà thôi.

Nói tóm lại trong số 23 người đàn bà dính líu đến ông Hồ, có tới 6 bà là: Cô hàng cơm chợ Da-Kao, Bourdon, Biere, Vasilieva, Đặng Dĩnh Siêu, Nguyễn Thị Phương Mai chưa phải là người, hay chưa đủ bằng cớ để kết luận là người đã bị ông Hồ cắm dùi vào vùng đất cấm. Trong số 17 người còn lại đều là người mà ông Hồ đã “dú dí tốt đầu vô cung”. Nói một cách khác là trong số 17 người này không ai là vợ có hôn thú hay chính thức của ông Hồ cả.

Như thế, ta có thể kết luận rằng, nhà thơ Hữu Loan gọi  ông Hồ: “Ông là cái thằng đéo hoang” thật là không oan cho ông ta một tí nào cả.

Thật đau đớn cho dân tộc Việt Nam của tôi, một dân tộc có gần năm ngàn năm văn hiến, đã sản sinh ra được ông Hồ, một con người được bộ máy tuyên truyền khổng lồ của đảng Cộng Sản Việt Nam tô vẽ và tạo dựng thành một nhà lãnh đạo chí tài, chí đức, chí hiền, một vị thánh sống. Rút cuộc lại chỉ là một tên đéo hoang quốc tế!

[1]    Hoàng Sâm tên thật là Trần Văn Kỳ, sinh năm 1915 tại Lệ Sơn, Tuyên Hóa, Quảng Bình. Ông theo bố mẹ sang sinh sống ở Nakhon, rồi Chiang Mai (Thái Lan) và là người theo ông ông Hồ lúc 12 tuổi, khi ông Hồ hoạt động tại đây.

[2] Theo tác gia Pierre Brocheux, trong Ho Chi Minh A Biography, trang 39, thì đám cưới của ông Hồ được tổ chức vào ngày 18 tháng 10 năm 1926.

[3] If the request was genuine, then Quoc planned on getting remarried  while his first marriag was still legally binding


Đài "Tiếng Nói Việt Nam Hải Ngoại" phỏng vấn tôi về ông Hồ Chí Minh nhân ngày sinh thứ 104 của ông. Sau nhiều tài liệu của các nhà nghiên cứu, đài này muốn cho thính giả nghe quan điểm của một người hoạt động chính trị về một nhân vật chính trị.

Câu hỏi đầu tiên của ký giả Hồng Phúc làm tôi bối rối : "Xin ông cho thính giả biết những nét chính về nhân vật Hồ Chí Minh". Nét đậm đầu tiên của ông Hồ Chí Minh là ông là một người lý lịch không rõ rệt.

Ngay cả ngày sinh của ông, 19/5/1890, mà Đảng Cộng Sản Việt Nam dùng làm một ngày lễ, cũng không có gì chắc chắn. Ở những dịp khác nhau, chính ông Hồ Chí Minh đã khai những ngày sinh khác nhau, mặc dầu không có nhu cầu phải giấu giếm. Thí dụ như khi nộp đơn xin học Trường Thuộc Địa Pháp, ông khai là sinh năm 1892 ; sau đó ít lâu, trong hồ sơ gia nhập Hội Tam Điểm (Free Mason) ông khai ngày sinh là 15/2/1895. Cho đến một ngày rất gần đây mọi người vẫn đinh ninh rằng ông họ Nguyễn, tên Nguyễn Sinh Côn, sau đổi thành Nguyễn Tất Thành, con ông phó bảng Nguyễn Sinh Huy. Thế rồi sử gia Trần Quốc Vượng đưa ra một giả thuyết mới theo đó ông thực sự họ Hồ, cháu nội ông Hồ Sĩ Tạo, và đã chỉ mang họ Nguyễn sau một thảm kịch gia đình : bà nội ông đã có thai với ông Hồ Sĩ Tạo dù ông này đã có vợ con, gia đình bà đã phải đem gả bà cho một ông đồ già họ Nguyễn, vì thế thân phụ ông đã mang tên Nguyễn Sinh Huy. Trần Quốc Vượng đưa ra những chứng cứ và biện luận khó phản bác.

Hồ Chí Minh đã sống thời niên thiếu như thế nào tại Việt Nam, đã làm gì tại Pháp và tại Nga, đã có thành tích và trách nhiệm nào trước và trong thời gian làm chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ? Ngay cả những tài liệu về Hồ Chí Minh do những người cộng sản kỳ cựu gần gũi với ông viết ra cũng đã mâu thuẫn.

Chính Hồ Chí Minh cũng đóng góp tích cực vào việc gây hoang mang và lẫn lộn về tiểu sử của ông. Ông dùng những bí danh T. Lan và Trần Dân Tiên để viết về mình một cách mơ hồ. Trong cuốn "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch", ông Trần Dân Tiên, tức Hồ Chí Minh, thuật lại cảm giác bồn chồn sung sướng khi được "Hồ chủ tịch" tiếp và được ông Hồ Chí Minh trả lời như sau khi ngỏ ý muốn viết tiểu sử của ông : "Tiểu sử ? Đấy là một ý kiến hay. Nhưng hiện nay còn nhiều việc cần thiết hơn. Rất nhiều đồng bào đang đói khổ". Câu chuyện này chứng tỏ Hồ Chí Minh là một người giả dối muốn đánh bóng tiểu sử của chính mình ; đó là tâm lý của những người trong thâm tâm không hãnh diện về mình. Điều đáng ghi nhận là mặc dù đã bỏ ra rất nhiều thời giờ và công sức và dùng tới hai bút hiệu để viết về chính mình, một việc có lẽ chưa một nhà chính trị nào làm, nhưng cả hai hồi ký của ông Hồ Chí Minh đều không có một giá trị lịch sử hay chính trị nào cả, bởi vì chúng không đóng góp giải thích một sự kiện lịch sử nào mà chỉ là những mẩu chuyện nhắm mục đích ca tụng ông Hồ Chí Minh như một người tốt, tài giỏi, dũng cảm, có chí lớn, có quyết tâm, đáng ngưỡng mộ v.v. Hồ Chí Minh hoàn toàn không hiểu ý nghĩa và hậu quả của những biến cố lớn của một giai đoạn lịch sử trọng đại, trong đó ông là nhân vật chính ; ông chỉ chú trong đến những chuyện vụn vặt về cá nhân mình. Đây là một điều đáng buồn cho cả ông Hồ Chí Minh lẫn dân tộc Việt Nam.

Hồ Chí Minh đã phá mọi kỷ lục Việt Nam về tiểu sử. Số sách và bài viết về ông đã gấp hàng trăm lần bất cứ nhân vật lịch sử Việt Nam nào. Tuy vậy bí ẩn về ông vẫn còn nguyên vẹn. Bài này vì vậy không phải là một đóng góp thêm về tiểu sử ông Hồ Chí Minh mà chỉ có mục đích nhận diện một trong những huyền thoại nền tảng của Đảng Cộng Sản Việt Nam và chế độ cộng sản Việt Nam.

kyniem2

Hồ Chí Minh đã phá mọi kỷ lục Việt Nam về tiểu sử. Số sách và bài viết về ông đã gấp hàng trăm lần bất cứ nhân vật lịch sử Việt Nam nào. Tuy vậy bí ẩn về ông vẫn còn nguyên vẹn. Ảnh minh họa (Ohay.tv/Nguyễn Huy Phương)

Có một số dữ kiện mà mọi người có thể đồng ý. Ông sinh vào khoảng 1890-1895 tại Nghệ An, mồ côi mẹ rất sớm, cha đậu phó bảng, làm quan đến chức tri huyện nhưng vì say rượu đánh chết người nên mất chức, bị tù, rồi lưu lạc vào Nam chết trong cô đơn và nghèo khổ. Hồ Chí Minh học hết tiểu học, đang học trường Quốc Học tại Huế thì phải bỏ học vì cha bị mất chức. Ông sống vất vưởng ở trong Nam, đặc biệt tại Sài Gòn vài năm, rồi đi làm phụ bếp trên một tàu buôn và tới Pháp năm 1911. Tại đây ông làm đơn xin vào học Trường Thuộc Địa, một trường đào tạo công chức cho chế độ thuộc địa Pháp ở Nantes, nhưng bị từ chối. Ông lên Paris sinh sống bằng nghề tô ảnh, gặp một số trí thức có tinh thần quốc gia trong đó có Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và hợp tác với họ. Ông gia nhập Đệ Nhị Quốc Tế, rồi Đảng Cộng Sản Pháp, và được gửi đi Nga huấn luyện năm 1923. Cuối năm 1924 ông được cử làm thông ngôn cho phái đoàn Nga tại Trung Quốc do Borodin cầm đầu ; do biến cố này mà sự nghiệp chính trị của ông trở thành gắn bó với Việt Nam. Ông trở thành đại biểu Đông Dương tại Đệ Tam Quốc Tế, đóng vai trò then chốt trong việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam và trở thành lãnh tụ số 1 của đảng này từ khi thế chiến II bùng nổ. Ông lãnh đạo cuộc Cách Mạng Tháng 8, rồi cuộc kháng chiến chống Pháp và chống chính quyền Bảo Đại do Pháp yểm trợ, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ và hiệp định Genève. Ông mất năm 1969, giữa lúc cuộc chiến tranh Nam Bắc đạt đến mức độ gây cấn nhất.

Về đời tư ông có khá nhiều người tình và cũng đã có vợ, có con, nhưng ông giấu nhẹm những chuyện này. Một trong những người phụ nữ này là cô Nông Thị Xuân, có con với ông, đã chết trong một trường hợp bí ẩn, thân nhân quả quyết là đã bị thủ tiêu. Những sự kiện này được mọi nhà nghiên cứu nhìn nhận và cũng chưa hề bị Đảng Cộng Sản Việt Nam bác bỏ.

Đảng Cộng Sản Việt Nam và chế độ cộng sản Việt Nam đặt nền tảng trên ba huyền thoại : chủ nghĩa cộng sản chủ trương giải phóng giai cấp vô sản và thiết lập một thế giới công bằng lý tưởng ; cuộc chiến đấu oanh liệt thắng Pháp, thắng Mỹ đem lại độc lập và thống nhất đất nước ; và thần tượng Hồ Chí Minh, một nhà tư tưởng lớn, một nhà chính trị lỗi lạc, một mẫu mực về đạo đức, đồng thời cũng là một người giản dị, khắc khổ chỉ sống cho đất nước.

Mỗi huyền thoại có một công dụng riêng. Chủ nghĩa cộng sản là một cứu cánh, một biện minh sau cùng cho mọi hành động. Chiến công giành độc lập, thắng ngoại bang cho Đảng Cộng Sản Việt Nam một sự chính đáng lịch sử và, quan trọng hơn, tiêu biểu cho dụng cụ bạo lực sẵn sàng đập tan mọi chống đối. Thần tượng Hồ Chí Minh là đối tượng để ngưỡng mộ và kính phục và đem lại cho đảng sự chính đáng về mặt đạo đức. Ngày nay lý tưởng cộng sản không những đã sụp đổ mà còn bị lố bịch hóa. Nó chỉ được duy trì qua loa như vòng phòng thủ bên ngoài. Còn lại cặp bài trùng cố hữu và bắt buộc của mọi quyền lực : bạo lực và đạo đức. Bạo lực để đập tan mọi chống đối, đạo đức để đừng bị chống đối. Đảng Cộng Sản dùng bạo lực để áp đặt sự tôn sùng Hồ Chí Minh, ngược lại sự tôn sùng thần tượng Hồ Chí Minh, biểu tượng của đảng, có tác dụng triệt tiêu ý muốn chống đối và do đó cho phép tiết kiệm việc sử dụng bạo lực. Nếu một trong hai thành tố này không còn thì chế độ cộng sản không thể tiếp tục tồn tại.

Vậy thì Hồ Chí Minh là nhân vật như thế nào ?

Một tranh cãi quen thuộc là Hồ Chí Minh có phải là một người yêu nước và nhân bản hay không ? Sở dĩ câu hỏi này được đặt ra là vì Đảng Cộng Sản Việt Nam đề cao ông như là chân dung của lòng yêu nước và đức hạnh, nhưng đây là một tranh cãi phiến diện. Yêu nước là tình cảm tự nhiên của mọi người và ngay cả những kẻ phản quốc cũng yêu nước. Sự quyến luyến với phần đất mà mình sinh ra và lớn lên nằm trong phản xạ của mọi động vật, không cứ gì loài người. Vậy thì ông Hồ Chí Minh chắc chắn là có yêu nước. Cũng thế, những giá trị nhân bản có sẵn trong mọi người. Ngay cả những kẻ gian ác nhất cũng ưa chuộng sự lương thiện, sự thủy chung và lòng bao dung. Con người đã được cấu tạo như thế. Vấn đề thực sự đặt ra là trong hoàn cảnh khó khăn và trước hiểm nguy, lòng yêu nước và các giá trị đạo đức như tình bạn, tình yêu có trọng lượng nào ?

Hồ Chí Minh đã thẳng tay thủ tiêu các lực lượng chính trị, dù là Cộng Sản Đệ Tứ, hay Đại Việt, hay Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ông thừa biết là họ rất yêu nước, nhưng họ không thuộc đảng cộng sản của ông và do đó sự hiện hữu của họ đe dọa độc quyền lãnh đạo của ông.

Hồ Chí Minh biết bà Nguyễn Thị Năm là người vô tội, hơn thế còn là người tốt, đã giúp đỡ nhiều cho đảng cộng sản và có con trai đang là trung đoàn trưởng quân đội cộng sản. Ông quí bà Năm, nhưng khi cố vấn Trung Quốc cho biết là không thể thay đổi quyết định xử bắn bà để thị uy vì tất cả mọi nghi thức đã sắp xếp xong rồi thì ông im mồm và để cho bà Năm bị bắn. Sau này, trong các vụ Nhân Văn - Giai Phẩm và "xét lại chống đảng" ông cũng để mặc cho các cộng sự viên gần gũi bị bách hại oan ức. Ông bỏ rơi bà vợ chính thức Tăng Tuyết Minh để giữ hình ảnh một lãnh tụ thánh thiện chỉ sống cho đất nước và lấy đất nước làm gia đình. Cũng vì hình ảnh này mà ông hoặc đã ra lệnh hoặc đã chấp nhận thủ tiêu cô Nông Thị Xuân và bỏ rơi người con của ông với cô này. Có rất nhiều khả năng là chính ông đã quyết định tội ác này bởi vì ông quan tâm một cách bệnh hoạn đến hình ảnh của mình, ông đã dùng cả hai bí danh để viết sách tự đánh bóng mình. Một người không mắc bệnh tâm thần không thể làm như thế. Tóm lại, khi đứng trước khó khăn thì lòng yêu nước, những giá trị đạo đức, cũng như danh dự và an ninh của những người thân thiết với ông không có một trọng lượng nào đối với Hồ Chí Minh cả, ông có thể nhẫn tâm một cách đáng sợ.

Ông Hồ Chí Minh thiếu hẳn những kiến thức cần thiết mà mọi người lãnh đạo quốc gia, ngay cả trong thời đại của ông, phải có. Ông hoàn toàn không biết gì về khoa học, kỹ thuật, kinh tế, tài chính, luật pháp, và ngay cả về nông nghiệp. Trong cuốn sách "Mấy kinh nghiệm Trung Quốc cần phải học" mà ông viết dưới bút hiệu Trần Lực (Nhà xuất bản Sự Thật, 1958, tr. 41), ông tin và kêu gọi mọi người tin là một mẫu lúa tại Trung Quốc có thể đạt được 333 tấn lúa mỗi năm. Những phát biểu của ông, dù là bài viết hay bài nói, không chứng tỏ một sự hiểu biết nào, dù sơ sài đến đâu, về lịch sử thế giới và tư tưởng chính trị. Việc Đảng Cộng Sản Việt Nam đề cao ông như một nhà tư tưởng là cả một xúc phạm đối với trí tuệ.

Không phải là Hồ Chí Minh không có tài, nhưng cái tài của ông ở chỗ khác. Ông lặn lộn và từng trải, học được nhiều bài học thực dụng. Ông sống một thời niên thiếu bi đát, một tuổi thanh niên chật vật, được hoàn cảnh đưa đẩy đến những hoạt động phiêu lưu nguy hiểm, được huấn luyện để làm gián điệp tại Nga và đã hoạt động tình báo thực sự với cả Nga, Trung Quốc lẫn Mỹ và Pháp trong bối cảnh chiến tranh và khủng bố. Có thể nói ông là người Việt Nam đầu tiên trong thế kỷ 20 có huấn luyện và kinh nghiệm trong các tổ chức quốc tế. Cuộc sống đó đã tạo cho ông một bản năng sống còn đặc biệt bén nhậy và đã khiến ông hạ được các đối thủ, trong cũng như ngoài đảng cộng sản, nhưng mặt khác cũng đã khiến ông đặt an ninh, địa vị và danh tiếng cá nhân lên trên hết, và ông trở thành nguy hiểm cho mọi người vô tình hay cố ý trở thành một đe dọa thực sự hay tưởng tượng đối với ông.

Quãng đời đấu tranh chống chế độ thuộc địa của ông ngay trên đất Pháp trong thời gian 1915-1923, thường được Đảng Cộng Sản Việt Nam nhắc tới như một thiên anh hùng ca. Hai sự kiện nói lên con người Hồ Chí Minh. Ông rất ít nhắc tới những đồng chí của ông trong giai đoạn này, như các ông Phan Chu Trinh, Phan Văn Truờng, Nguyễn Thế Truyền đã hướng dẫn ông, nhất là Nguyễn Thế Truyền, người bạn thân đã đem ông vào Đảng Cộng Sản Pháp. Ông giành mọi thành tích của nhóm này cho riêng mình. Một sự kiện khác là ông đã tham gia hội Tam Điểm. Đây là một hội kín mà theo một số tài liệu đã xuất hiện từ thế kỷ thứ 10 và có thế lực lớn tại các nước phương Tây, kể cả tại Pháp. Hội này có đặc tính nổi bật là các hội viên che chở cho nhau, mặt khác nó cũng chống chính sách thực dân. Tam Điểm có vô số nhân vật đầy quyền lực cho nên khi ra mặt đả kích chế độ thực dân tại Pháp Hồ Chí Minh đã được bảo vệ. Nhưng Tam Điểm mâu thuẫn với Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản nên từ 1920 các đảng viên cộng sản bị cấm gia nhập hội này. Hồ Chí Minh đã chọn Đệ Tam Quốc Tế vì phong trào này cho ông một triển vọng thăng tiến lớn. Ông lặng lẽ bỏ hội Tam Điểm như một thành viên bị mất tích và cũng không khai báo gì với Đệ Tam Quốc Tế. Hồ Chí Minh đi hai hàng, Tam Điểm không biết ông là cộng sản, ngược lại Đệ Tam Quốc Tế cũng không biết ông là hội viên Tam Điểm. Sau Cách Mạng Tháng 8, những người hoạt động chính trị tại Việt Nam và thuộc hội Tam Điểm, do đó có khả năng biết Hồ Chí Minh cũng thuộc hội này, như Tạ Thu Thâu, Bùi Quang Chiêu, Dương Văn Giáo, v.v. đều bị thủ tiêu nhanh chóng. Ngoài ra còn có một đợt tàn sát khó hiểu đối với chức sắc Cao Đài, một biến thể của hội Tam Điểm tại Việt Nam, mà Nguyễn Hộ có kể lại trong hồi ký của ông. Sự tàn sát này phải chăng có mục đích khiến không ai ngờ rằng Hồ Chí Minh có một liên hệ nào với Tam Điểm ? Điều chắc chắn là cho tới khi ông qua đời không ai biết Hồ Chí Minh đã thuộc hội này. Sự thực mới chỉ được phơi bày gần đây.

Cái gì đã khiến Hồ Chí Minh thành công ? Có lẽ lý do chính là ông đã được huấn luyện tại Nga trong bối cảnh khủng bố của các thập niên 1920 và 1930 nên đã hiểu được bí quyết thành công của Đảng Cộng Sản Nga và hiệu lực của khủng bố. Đừng nên quên rằng cuộc cách mạng lật đổ Nga hoàng đã xảy ra vào tháng 2/1917, trong đó đảng cộng sản chỉ có một vai trò không đáng kể. Cách Mạng Tháng 10 Nga chỉ là cuộc đảo chính của đảng cộng sản sau khi đã nắm được thế thượng phong nhờ khủng bố. Hồ Chí Minh đã được huấn luyện về khủng bố và đã áp dụng khủng bố một cách thẳng tay. Cách Mạng Tháng 8 đã khởi đầu với sự thủ tiêu hàng loạt các "phần tử phản động". Cuộc chiến tranh 1946-1954 đã là một giai đoạn khủng bố kinh hoàng. Đặc tính lãnh tụ khủng bố của Hồ Chí Minh cho đến nay chưa được nhấn mạnh đúng mức. Hồ Chí Minh sử dụng khủng bố ngay cả khi không cần thiết như trong vụ Nhân Văn - Giai Phẩm và nhất là trong đợt Cải Cách Ruộng Đất năm 1955, trong đó hàng trăm ngàn người đã bị sát hại. Không thể đổ lỗi cho Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt và Hồ Viết Thắng vì lúc đó Hồ Chí Minh còn nắm mọi quyền hành. Cũng nên nhớ là mãi tới năm 1958, ba năm sau khi Cải Cách Ruộng Đất đã được nhìn nhận là một sai lầm đẫm máu, Hồ Chí Minh vẫn còn cho xuất bản cuốn sách mà ông viết dưới bút hiệu Trần Lực ca tụng cải cách ruộng đất tại Trung Quốc, khuôn mẫu của đợt cải cách ruộng đất tại Việt Nam.

Hồ Chí Minh chắc chắn là có tài, nhưng là cái tài của một chuyên viên sách động, khủng bố, lật đổ và cướp chính quyền, chứ không phải là cái tài của một người lãnh đạo quốc gia.

Còn về con người Hồ Chí Minh ? Có thể tóm tắt ông đã là một đứa trẻ không may, không được nuôi nấng và dạy dỗ trong tình yêu và hạnh phúc, mất mẹ sớm lại phải chịu đựng một ông bố nghiện ngập và hung dữ. Gia đình ông đã là một thảm kịch và ông đã phải bỏ học và lăn lộn với đời rất sớm. Mỗi thảm kịch trong tuổi thơ đều để lại một thương tích trong con người và Hồ Chí Minh cũng không phải là một ngoại lệ. Ông đã bị chấn thương về tâm thần. Có lẽ chính thảm kịch gia đình, mà theo Trần Quốc Vượng đã bắt đầu ngay từ bà nội ông nhưng chắc chắn là đã trầm trọng từ đời thân phụ ông, đã khiến Hồ Chí Minh không có tình cảm gia đình. Tất cả những tài liệu do những người gần gũi với ông viết ra đều không bao giờ thuật lại một lần nào Hồ Chí Minh nhắc đến cha mẹ, anh em, ngày giỗ v.v. Đặc biệt là ông không coi trọng phụ nữ, dù là bà Tăng Tuyết Minh hay cô Nông Thị Xuân hay những người đàn bà khác. Trong cuộc đời Hồ Chí Minh không có những người đàn bà sung sướng và được quí trọng. Chị ông, mẹ ông và có lẽ cả bà nội ông, đã chỉ là những người sinh ra để làm nạn nhân. Thảm kịch cá nhân của Hồ Chí Minh đã biến ông thành một người mưu lược, khéo léo, nhưng vô nguyên tắc và không bị trói buộc bởi một giá trị nào.

kyniem3

Lực lượng trông coi lăng ông Hồ Chí Minh dọn cỏ trước lăng hôm 7/8/2000. (Ảnh minh họa - AFP/RFA)

Hồ Chí Minh có công hay có tội ? Đó là một vấn đề sẽ còn tranh cãi rất nhiều và rất lâu. Nhưng nếu ta đặt câu hỏi một cách khác : "Nếu không có Hồ Chí Minh và đảng cộng sản thì Việt Nam sẽ khá hơn hay sẽ kém hơn hiện nay ?" thì chắc chắn tuyệt đại đa số người Việt sẽ có cùng một câu trả lời. Nói chung Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã là những sự kiện đáng tiếc. Trong cuốn "Thời Dựng Đảng" do Đảng Cộng Sản Việt Nam xuất bản, ông Thép Mới viết : "Các thế hệ Việt Nam sau này sẽ nhớ đến Hồ chủ tịch như là người đã có công đem chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam". Nhận định này đúng, và giải thích lý do tại sao Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn cố gượng gạo duy trì trên đầu môi chủ nghĩa Mác - Lênin. Vấn đề là việc đem chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam có lợi gì ?

Nhưng dù Hồ Chí Minh có thế nào đi nữa, dù ông có công hay có tội, thì ông cũng vẫn là một con người và vẫn phải được hưởng quyền tối thiểu của một người chết, nghĩa là được yên nghỉ. Việc đem xác một người đã chết trưng bày ở giữa một công trường, dù là trong một lăng đồ sộ và trong một lồng kiếng, là một hành động dã man theo văn hóa Việt Nam. Không một người Việt Nam nào có thể bị đối xử như thế. Hồ Chí Minh đã bị sử dụng như một dụng cụ tuyên truyền. Đã đến lúc ông có quyền được an táng một cách văn minh.

Nguyễn Gia Kiểng

(5/2004)


HỒ CHÍ MINH HUYỀN THOẠI VÀ MẶT NẠ


http://giahoithutrang.blogspot.com/2012/06/ho-chi-minh.html
SUNDAY, 17 JUNE 2012

111 * HOÀNG DUY HÙNG * TỐ CÁO

* HOÀNG DUY HÙNG * TỐ CÁO
Bản chất Hồ Chí Minh: gian xảo và phi dân tộc
Hoàng Duy Hùng

Ấn bản Nhật Báo Nhân Dân trên internet ra ngày 10 tháng 1 năm 1999 có đăng chỉ thị của Tổng Bí Thư ĐCSVN là Lê Khả Phiêu ra lệnh cho các cơ quan của đảng tuyên truyền và tổ chức trọng thể kỷ niệm 30 năm di chúc của Hồ Chí Minh. Nhân câu chuyện này tôi tưởng nhớ đến câu chuyện UNESCO tính vinh danh Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa lớn của dân tộc nhân ngày kỷ niệm 100 năm sinh nhật của y vào năm 1990. Cũng nhân câu chuyện này tôi muốn ghi lại những nét chính cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh và muốn vạch rõ bộ mặt gian xảo và phi dân tộc của y.

Cách đây khoảng 5 năm, tôi xem phim tài liệu của Hoa Kỳ về cuộc chiến Việt Nam dưới tựa đề "Vietnam: A Television History," tôi cảm thấy lòng mình bồi hồi thổn thức thương cho một dân tộc đã phải chịu quá nhiều cảnh lầm than. Tập đầu tiên của phim tài liệu, tôi nhìn thấy cảnh Nguyễn Ái Quốc trẻ trung, trong Khóa 5 (từ ngày 17 tháng 6 đến ngày 8 tháng 7 năm 1924) của Đại Hội Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, đọc bài tham luận về vấn đề thuộc địa. Trong bài tham luận này, Nguyễn Ái Quốc chỉ trích kịch liệt Đảng Cộng Sản Pháp đã không tích cực chỉ trích chính quyền Pháp về những chính sách cai trị hà khắc tại các quốc gia thuộc địa, nhất là tại Việt Nam. Lúc ấy Nguyễn Ái Quốc không có râu, đôi mắt sâu, mặt dài như mặt chuột, lông mày xếch đuôi, và cái miệng nhỏ làm cho người ta dễ có ấn tượng đây là một kẻ tiểu nhân nham hiểm. Coi tới đoạn này, tôi tự nói tại vì mình có thiên kiến, có ác cảm với Hồ Chí Minh tức Nguyễn Ái Quốc nên mới có cảm giác như vậy. Tôi tự nói với chính bản thân phải bình tâm lại tiếp tục coi phim tài liệu với ánh nhìn khách quan và trung thực hơn.

Phim tài liệu tiếp tục chiếu đến cảnh Hồ Chí Minh tiếp chuyện với Thiếu Tá Archimedes Patti trong một mật khu quân sự vào năm 1945. Lúc đó, Hoa Kỳ, qua Phòng Dịch Vụ Chiến Lược (Office of Strategic Services, viết tắt là OSS, tức là tiền thân của CIA), huấn luyện bộ đội của Hồ Chí Minh. Lúc này, Hồ Chí Minh gầy còm, bộ mặt hốc hác, để bộ râu dê đen nhánh, và bộ ria thì lún phún vài sợi. Tôi vẫn có cảm giác không mấy thân thiện được với một nhân vật mà theo tướng số gọi là "Tướng Ngụy Diên," tức là tướng phản phúc. Đọc trong truyện Tam Quốc Chí, ai cũng biết Ngụy Giêng là một tướng vì danh lợi đã bán đứng lương tâm, lừa thày phản bạn mưu cầu lợi ích riêng. Tôi liền liên tưởng đến bài viết của ký giả người Mỹ, ông Oliver Todd viết vào năm 1990, sau khi ông đã có cơ hội tìm hiểu cặn kẻ về cuộc chiến Việt Nam: "Trước tiên hãy nhìn hình dáng con người của Hồ: bé nhỏ, gầy còm, gân guốc, trán cao, mắt sâu lộ vẻ sốt rét rừng, da mồi, chòm râu của một ông quan sắt máu."

Nhưng rồi đến đoạn năm 1968, Hồ Chí Minh đọc trên đài phát thanh chúc tết cho dân chúng, mà qua bài chúc tết này, đây là mật lệnh cho các tướng sĩ tổng tấn công các tỉnh miền Nam gây nên biến cố kinh hoàng Tết Mậu Thân sát hại hàng vạn người vô tội, nhất là cuộc chôn sống tập thể cách vô nhân tại Huế, tôi thấy một Hồ Chí Minh khác hẳn trước kia. Lúc này Hồ Chí Minh là một ông già râu tóc bạc phơ. Trán trước của Hồ Chí Minh hơ cao vì hói, lông mày không còn xếch như trước đây nữa, mà, vì một lý do nào đó, trông rất phúc hậu. Râu mép cũng dày và đều hơn. Chùm râu dê nay đã dài mà còn dày đẹp hơn nhiều. Tôi phân vân không biết có phải đây là Hồ Chí Minh hay Nguyễn Ái Quốc năm xưa. Sau này đọc tài liệu, tôi mới biết họ Hồ đã được Liên Xô giải phẩu tướng diện trong một chuyến đi bí mật thăm Moscow năm 1955 để Hồ Chí Minh có bộ mặt tiên phong đạo cốt cho xứng với vị thế lãnh tụ của y.

Xem phim tài liệu xong, tôi quyết tâm tìm đọc tài liệu về nhân vật đầy sự tranh luận này. Tôi không muốn mình chủ quan có ác cảm với người khác, và, tôi cũng không muốn mình bị người khác lừa gạt.

Tài liệu viết về Hồ Chí Minh nhiều vô kể. Tuy nhiên, các tài liệu có rất nhiều điều mâu thuẫn nhau. Một phần do tính bảo mật của Đảng Cộng Sản Việt Nam, một phần vì phong tục của người Á Đông thích thần thánh hóa, kỳ bí hóa, và đánh bóng lãnh tụ, một phần do chính Hồ Chí Minh tung hỏa mù gạt ngay chính cả những "đồng chí" của y, một phần do chính Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản mà đầu não tại Moscow cho hồ sơ giả để đánh lạc hướng tin tình báo hầu bảo toàn những kế sách của họ. Vì thế, tiểu sử của họ Hồ là một sự mờ mờ ảo ảo. Nói chung hiện nay đa số các tài liệu bằng Anh và Pháp Ngữ đều có những ánh nhìn tâng bốc Hồ Chí Minh như một người Việt yêu nước, dầu có những sai lầm, đã có công giải phóng dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách cai trị của thực dân Pháp. Chính Đảng Cộng Sản Việt Nam, sau khi các chế độ Cộng Sản tại Đông Âu và Liên Xô sụp đổ vào những năm 1989-1991, đã đánh bóng "Tư Tưởng Hồ Chí Minh" ngang bằng với tư tưởng của Marx và Lenin với ước vọng chính màn ảo thuật tư tưởng họ Hồ sẽ giúp họ vớt vát kéo dài những tháng ngày cai trị của chúng. Một phần nào đó họ đã thành công. Đó chính là điều tai hại vô cùng cho dân tộc Việt Nam, nhất là cho giới trẻ lớn lên sau cuộc chiến 1975, dễ bị lường gạt. Chúng ta cần phải trả lại sự thật cho lịch sử.

Trong những tác phẩm bằng tiếng Việt, tôi thích nhất hai tác phẩm sau đây: Thứ nhất là tác phẩm "Hồ Chí Minh Không Phải là Tác Giả 'Ngục Trung Nhật Ký'" của Giáo Sư Lê Hữu Mục do Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại xuất bản năm 1990. Thứ hai là tác phẩm "Hồ Chí Minh, Sự Thật Về Thân Thế và Sự Nghiệp" của những tác giả như Bùi Xuân Quang, Nguyễn Thế Anh v.v., và do Nhà Sách Nam Á ở Paris xuất bản năm 1990. Tôi cho rằng hai tác phẩm này có công phá tan huyền thoại về Hồ Chí Minh một cách khoa học và hữu hiệu nhất. Những tác phẩm bằng tiếng Anh mà tôi đọc tôi cảm thấy họ đã bị tràn ngập thông tin do Đảng Cộng Sản Việt Nam và do chính Hồ Chí Minh cung cấp nhưng họ không có lạn gọc để biết đâu là thực, đâu là hư.

Vào tháng 11 năm 1987, Tổ Chức Giáo Dục Khoa Học và Văn Hóa Liên Hiệp Quốc, viết tắt là UNESCO, biểu quyết sẽ đứng ra tổ chức tại trụ sở trung ương của UNESCO ở Paris vào ngày 12 tháng 5 năm 1990 một buổi vinh danh Hồ Chí Minh như một nhà văn hóa lớn của dân tộc nhân dịp kỷ niệm 100 năm sinh nhật của y. UNESCO đã trưng dẫn cuốn "Ngục Trung Nhật Ký" bằng Hán văn mà họ Hồ tự nhận là tác giả để làm bằng chứng sự nghiệp văn chương của Hồ Chí Minh. Người Việt khắp năm châu liền viết thư phản đối quyết định này của UNESCš Rất nhiều học giả cặm cụi ngày đêm viết tiểu sử Hồ Chí Minh để phanh phui sự thật và bản chất đạo văn của họ Hồ. Nhiều tác giả nêu lên hai tác phẩm "Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch" do Trần Dân Tiên viết khoảng năm 1948, in tại Hà Nội năm 1958, và tác phẩm "Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện" của tác giả T. Lan viết khoảng năm 1950, được nhà xuất bản Sự Thật in năm 1963, để ca tụng và tâng bốc Hồ Chí Minh đều do chính tay Hồ Chí Minh viết. Trần Dân Tiên và T. Lan chính là hai bút hiệu của Hồ Chí Minh, và như thế nói lên Hồ Chí Minh, lúc đó tuổi đã già và quyền uy đã nắm trong tay, ấy thế mà y vẫn say mê những lời tâng bốc đến độ phải tự chính mình tâng bốc lấy mình thì mới thỏa mãn được! Nguyên việc này thôi cũng chưa thấy một ai trên thế giới làm vì nó quá lộ liễu và quá kỳ cục, vậy mà Hồ Chí Minh đã làm được. Những tác giả trong tập "Hồ Chí Minh, Sự Thật Về Thân Thế và Sự Nghiệp" đã lột trần được bản chất phi dân tộc của họ Hồ lúc nào cũng cúi đầu tuân theo mệnh lệnh của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản chỉ vì y muốn được sung sướng, muốn có địa vị cao để ăn trên ngồi trốc. Nhưng, phải nói tuyệt vời nhất là Giáo Sư Lê Hữu Mục đã tỉ mỉ một cách rất khoa học phân tách Hồ Chí Minh đã đạo văn một người bạn tù quá cố họ Lý bị giam chung ở khám Victoria tại Hồng Kông năm 1932-1933, và Hồ Chí Minh đã lấy những bài thơ của người bạn tù này và cho đó là của mình. Khi những tác phẩm này hoàn thành và trình lên UNESCO, và lúc này Cộng Sản vừa mới bị sụp tại Đông Âu, UNESCO ngưng không tổ chức vinh danh Hồ Chí Minh nữa. Tổ chức vinh danh một người làm văn hóa lớn sao được khi tác phẩm chính lại là tác phẩm ăn cắp của người khác? Thay vào mục vinh danh Hồ Chí Minh, UNESCO cho trình diễn màn vũ dân tộc, và họ cấm không được nhắc đến tên Hồ Chí Minh trong màn vũ này.

Lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam bị bẽ mặt. Họ lật đật tổ chức trọng thể tại Hà Nội buổi tuyên dương Hồ Chí Minh và lờ đi việc UNESCO đã hủy bỏ chương trình này. Họ còn đánh lận con đen bằng cách cho Lê Đức Thọ, lúc đó đang chữa bệnh ở quận 5 thành phố Paris, đến trụ sở UNESCO với một phái đoàn rầm rộ để dự buổi trình diễn màn vũ dân tộc, cho trình chiếu cảnh này trong nước để người dân tưởng rằng UNESCO đã vinh danh Hồ Chí Minh. Do đó, sau này có nhiều người cứ tưởng rằng buổi tuyên dương này đã được tiến hành theo đúng dự định.

Tức giận trước tác phẩm của Giáo Sư Lê Hữu Mục phân phui sự thật về việc Hồ Chí Minh đạo văn của người khác, ĐCSVN cho những tay bồi bút viết nhiều bài tham luận dày cả ngàn trang bút chiến với Giáo Sư Lê Hữu Mục. Nhưng, càng bút chiến, ĐCSVN càng chứng tỏ cho cả thế giới thấy rõ "Tư Tưởng Hồ Chí Minh" không gì khác là một sự gian xảo và lừa bịp, lúc nào cũng trâng tráo, từ chuyện nhỏ cho đến chuyện lớn, và không biết sĩ diện là gì.

Vậy, sự thật về tiểu sử Hồ Chí Minh như thế nào?

Hồ Chí Minh tên thật là Nguyễn Sinh Cung. Nguyễn Sinh Cung là con thứ ba của ông Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng Thị Loan. Nguyễn Sinh Sắc sinh năm 1863, và khi ông mới lên năm (5) tuổi, cha mẹ ông qua đời. Ông được cụ đồ Hoàng Xuân Đường nhận làm con nuôi. Cụ đồ Hoàng Xuân Đường, năm 1881, đã gả đứa con gái yêu của mình mới 13 tuổi là Hoàng Thị Loan cho người con nuôi của mình là Nguyễn Sinh Sắc. Người con gái đầu lòng trong gia đình hai ông bà Nguyễn Sinh Sắc và Hoàng Thị Loan là bà Nguyễn Thị Thanh. Người con kế là ông Nguyễn Sinh Khiêm, về sau năm 1898 khi ông Nguyễn Sinh Sắc thi Hội trượt ở Kinh Đô Huế, ông đổi tên ngay chính bản thân ông và tên các con trai lại. Nguyễn Sinh Sắc đã được đổi lại thành Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Sinh Khiêm đã được đổi lại thành Nguyễn Tất Đạt, và Nguyễn Sinh Cung đã được đổi lại Nguyễn Tất Thành. Sau này bà Hoàng Thị Loan sinh thêm một trai nữa, nhưng được vài ngày sau, ngày 10 tháng 2 năm 1902, bà yếu bệnh và qua đời. Cậu con trai út cũng không được may mắn và chẳng bao lâu sau cũng qua đời luôn.

Nguyễn Sinh Cung sinh tại làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ngày sinh của Nguyễn Sinh Cung cũng không rõ ràng. Trong hồ sơ lưu trú Văn Khố Pháp ở Aix-en-Provence có ghi Hồ Chí Minh sinh ngày 15 tháng 1 năm 1894. Trong tờ chiếu khán thông hành đi Nga thì ngày khai sinh của Hồ Chí Minh là ngày 15 tháng 1 năm 1895. Tài liệu của Sở Liêm Phóng Đông Dương ghi Hồ Chí Minh sinh ngày 24 tháng 1 năm 1892. Trong đơn xin gia nhập của Nguyễn Tất Thành, tức Hồ Chí Minh, viết vào ngày 15 tháng 9 năm 1911 gởi cho Trường Thuộc Địa Pháp, Nguyễn Tất Thành khai năm sinh là 1892, điều này trùng hợp với tài liệu của Sở Liêm Phóng Đông Dương. Theo bà Sophia Quinn Judge, một nhà sử gia Mỹ, sau khi nghiên cứu hồ sơ về Hồ Chí Minh trong văn khố Nga công bố sau năm 1991, bà cho biết năm 1934, họ Hồ đã khai năm sinh của mình là năm 1894. Nhưng, theo bà Sophia Quinn Judge, lạ lùng là vào năm 1938, họ Hồ lại khai năm sinh của mình là 1903. Năm 1946, Việt Minh tung ra tin sinh nhật của Hồ Chí Minh là ngày 19 tháng 5 năm 1890. Đây là một âm mưu chính trị hơn là một sự thật. Ngày 19 tháng 5 tức là ngày kỷ niệm thành lập Việt Minh vào năm 1941. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khôn khéo chọn ngày 19 tháng 5 năm 1890 là sinh nhật lãnh tụ của họ vì theo tử vi Đông Phương, đây là năm Canh Dần, là lá số tử vi Thượng Thượng, nghĩa là lá số của một lãnh tụ cực tốt. Trong khi đó, sổ đinh bạ của xã Kim Liên ghi rõ Nguyễn Sinh Cung sinh vào tháng 3 năm Thành Thái thứ 6 (theo Âm Lịch), tức là năm 1894. Phối kiểm lại những tin tức, kiểm chứng lại lịch sử, và phân tích động lực thúc đẩy chọn ngày sinh trong những trường hợp trên, với tôi, năm 1894 là năm sinh của Nguyễn Sinh Cung tại vì các vị hương chức viết vào sổ đinh bạ của xã Kim Liên trong giai đoạn đó chưa biết gì cậu bé mới chào đời Nguyễn Sinh Cung sẽ làm nên trò trống gì thì không có lý do gì phải ghi ngày tháng năm sinh của một đứa trẻ một cách giả mạo.

Thời niên thiếu của Hồ Chí Minh cũng rất khó kiểm tra. Người ta chỉ biết mơ hồ rằng sau khi ông Nguyễn Sinh Sắc lập gia đình với bà Hoàng Thị Lan vào năm 1881, cụ đồ Hoàng Xuân Đường tức bố vợ của Nguyễn Sinh Sắc, đã cho hai vợ chồng son trẻ một số tiền để làm vốn. Hai ông bà Nguyễn Sinh Sắc dọn về làng Sen sinh sống. Làng Sen là quê nội của ông Sắc. Tại đây, hai ông bà đã sinh hai đứa con đầu lòng đó là bà Thanh và ông Khiêm (Đạt). Năm 1893, cụ đồ Hoàng Xuân Đường qua đời. Ông bà Nguyễn Sinh Sắc cùng với các con dọn về ở chung với bà cụ đồ Hoàng Xuân Đường. Năm sau, năm 1894, sau ngày lễ giỗ đầu tiên của cụ đồ Hoàng Xuân Đường, Nguyễn Sinh Sắc vác lều chõng lên kinh thành Huế dự thi. Trong lúc ông Sắc lên Kinh dự thi Hương, ở nhà bà Sắc (Loan) hạ sinh Nguyễn Sinh Cung. Năm đó ông Sắc đỗ cử nhân. Sau khi đỗ cử nhân, làng Chùa, theo phép nhà nước, đã cấp thêm ruộng "học điền" cho ông Sắc. "Học điền" là ruộng cấp cho những người có học trong làng.

Năm 1895, ông Sắc thi Hội và ông bị trượt khóa này. Năm 1897, ông Sắc cùng với gia đình dọn vô kinh thành Huế. Ông vừa làm giám sinh vừa học tại trường Quốc Tử Giám. Người ta đồn rằng ông Sắc vô kinh làm giám sinh được là nhờ thế lực của ông Hồ Sĩ Tạo. Theo ông Lê Tùng Minh viết trên Diễn Đàn Phụ Nữ số 176 năm 1998, người ta nghi vấn Nguyễn Sinh Sắc là con không chính thức của ông Hồ Sĩ Tạo, và vì lý do này nên ông Hồ Sĩ Tạo mới vận động ngầm cho Nguyễn Sinh Sắc được làm giám sinh ở Huế. Năm 1898, ông Sắc thi Hội lần nữa và cũng bị trượt. Chắc để lấy hên, ông đổi tên của mình và đổi tên các con trai của ông. Năm 1901, ông Nguyễn Sinh Huy (Sắc) gởi hai con về quê mẹ, tức bà cụ Hoàng Xuân Đường ở làng Chùa, và ông trở về Kinh đô dự thi. Lần này ông đỗ bằng Phó Tiến Sĩ. Bằng Phó Tiến Sĩ chỉ mới có vào thời vua Minh Mạng. Ông vinh quy bái tổ về làng, và theo phép nhà nước, làng Sen đã phải cất căn nhà tranh năm gian cho vị quan tân khoa. Năm sau, 1902, bà Huy (Loan) hạ sinh thêm một đứa con trai, nhưng vài ngày sau cả hai mẹ con đều qua đời. Khoảng năm 1904, cụ bà Hoàng Xuân Đường cũng qua đời luôn. Năm đó, ông Huy được Triều Đình Huế triệu về Kinh để ông nhận một chức quan nhỏ trong Bộ Lễ. Ông Huy dẫn hai con Đạt và Thành vào Huế. Năm 1907, ông Huy được cử chức Tri Huyện Bình Khê (Bình Định).

Các tài liệu do ĐCSVN cung cấp cho rằng ông Nguyễn Sinh Huy sau này đã mất chức Tri Huyện Bình Khê vì đã tham gia phong trào chống sưu cao thuế nặng của người Pháp. Trong khi đó, tài liệu của người Pháp nói rằng Nguyễn Sinh Huy bị cách chức tri huyện năm 1910 vì hay say rượu đánh đập người bừa bãi. Tài liệu ở Văn Khố Pháp ở Aix-en Provence cho biết nguyên văn như sau: "Ông Tri Huyện Nguyễn Sinh Huy đã bị án kỷ luật nặng vào năm 1910, nên đã mất chức Tri Huyện Bình Khê (Bình Định) và bị hạ bốn cấp trong ngạch quan lại, đồng thời bị sa thải khỏi ngạch quan vì tội say rượu, đánh đập đến chết một nông dân tên Tạ Đức Quang." (G. Boudare, La Bureaucratic au Viet Nam, Paris). Hư thực như thế nào về vấn đề này chúng ta có thể thẩm định qua lá thư sau đây mà Nguyễn Tất Thành viết vào ngày 15 tháng 12 năm 1912 từ New York gởi cho Khâm Sứ Trung Kỳ xin việc cho thân phụ. Lá thư này do ông Lê Văn Tiến mới đây (1998) sưu tầm ở Văn Khố Pháp Aix-en-Provence, và được Nhật Báo Người Việt ở Nam California phổ biến:

"Thưa Ngài Khâm Sứ:


Tôi lấy làm vinh dự rất kính cẩn xin ngài ban ơn như sau: Ra khỏi nước vào tháng Bảy năm ngoái (1911), tôi bỏ lại người cha già của tôi không nơi nương tựa. Mặc dầu tôi thường viết thư cho cha tôi nhưng tôi chỉ nhận được hai thư trả lời kể từ lúc đó. Tôi đã gởi cho cha tôi ba ngân phiếu, nhưng cha tôi chỉ trả lời có một lần; bởi vì lần đó tấm ngân phiếu được gởi tới ngài và ngài đã trao tận tay cho cha tôi. Bây giờ tôi không biết cha tôi như thế nào và ở đâu.
Ôi! Hoàn cảnh tôi nôn nóng xiết bao, sống rất xa cha mẹ, họa hoằn mới nhận được tin của cha mẹ, muốn giúp đỡ mà không được!
Vì chữ hiếu, tôi dám cầu xin ngài ban cho cha tôi một việc như Thừa Biện ở các Bộ hoặc Huấn Đạo, Giáo Thụ, để cha tôi có kế sinh nhai dưới sự ưu ái của ngài.
Thưa ngài Khâm Sứ, tôi xin ngài nhủ lòng thương cho tôi được biết tình trạng hiện nay của cha tôi và cho phép tôi được gởi về nơi dinh thự của ngài những gì tôi muốn gởi cho cha tôi.
Trong khi mong đợi lòng nhân từ của ngài không nỡ từ chối lời xin của một đứa con muốn làm tròn bổn phận mà chỉ còn biết trông cậy nơi ngài và trong khi chờ đợi hồi âm của ngài.
Thưa Ngài Khâm Sứ, xin ngài vui lòng nhận những lời chào của con dân ngài và người tôi tớ biết ơn ngài."
Lời văn qụy lụy của Nguyễn Tất Thành ở trên đủ để chứng minh Nguyễn Sinh Huy không hề từ quan chống đối thực dân Pháp vì lý tưởng Tự Do và Độc Lập của dân tộc theo y như những gì mà ĐCSVN đã tô son vẽ phấn lên rêu rao để xí gạt quần chúng. Cũng chính lời văn này nói lên từ thưở thiếu thời, Nguyễn Tất Thành tức Hồ Chí Minh sau này, và cả gia đình nhà y, đã chỉ biết lo cho sự sung sướng của bản thân và gia đình, sẵn sàng làm tay sai và làm chó săn cho ngoại bang Pháp.
Học xong tiểu học, tháng 5 năm 1908, Hồ Chí Minh, dưới tên Nguyễn Tất Thành, nộp đơn xin vào trường Quốc Học Huế. Các tài liệu của ĐCSVN cho rằng vào năm 1908-1909, Nguyễn Tất Thành tham gia vô phong trào chống sưu cao thuế nặng của người Pháp nên bị đuổi khỏi trường. Nguyễn Tất Thành bị đuổi khỏi trường trước khi ông Huy bị mất việc. Chúng ta không biết rõ nguyên do Nguyễn Tất Thành bị đuổi khỏi trường. Tuy nhiên, nếu nói Nguyễn Tất Thành bị đuổi khỏi trường vì tham gia chống sưu cao thuế nặng do người Pháp áp đặt lên trên dân tộc Việt Nam thì tôi rất nghi ngờ vì sau này, năm 1911, Nguyễn Tất Thành viết thư cho Trường Thuộc Địa với lời văn quỮ lụy xin học trường này để mai mốt về giúp Nhà Nước Bảo Hộ cai trị Việt Nam. Nếu Nguyễn Tất Thành, trong thời gian 1908-1909 đã tham gia cách mạng chống Pháp và bị đuổi khỏi trường vì tội này thì bảo đảm Nguyễn Tất Thành sau này không bao giờ dám viết thư xin học Trường Thuộc Địa với những lời văn khúm núm như vậy. Tôi nghĩ rằng Nguyễn Tất Thành bị đuổi vì lý do khác, và lý do đó là lý do cá nhân hơn là lý do mưu cầu phúc lợi cho dân tộc Việt Nam.
Không được học và thất nghiệp , Nguyễn Tất Thành lang thang vào Nam. Nguyễn Tất Thành đến Phan Thiết, có một thời gian khoảng 3 tháng Thành làm thày giáo trường Dục Thanh. Tài liệu của ĐCSVN tô vẽ cho rằng giai đoạn này Thành làm thày giáo vì có nhu cầu liên lạc bí mật cách mạng. Thật ra tôi nghĩ Thành phải dạy học vì nhu cầu kế sinh nhai. Sau đó, đầu năm 1911, Thành vào Sài Gòn. Thành xin vào trường Bách Nghệ, một trường đào tạo công nhân hàng hải và công nhân cơ khí. Sau ba (3) tháng học tại đây, Thành bỏ học. Các nhà viết sử của ĐCSVN thêu dệt cho rằng Thành bỏ học vì lý do muốn tìm đường cứu quốc. Thật ra, thể chất của Thành yếu không chịu nổi công việc cực nhọc nên Thành xin nghỉ học.
Sau khi nghỉ học ở trường Bách Nghệ, Nguyễn Tất Thành đổi tên là Nguyễn Văn Ba với tên tiếng Pháp là Paul. Nguyễn Văn Ba (Thành) xin được một chân phụ bếp cho tàu Amiral Latouche Tréville, một chiếc tàu vận tải lớn của Pháp. Tàu này, theo lời văn của Nguyễn Tất Thành ở trên, rời Việt Nam vào tháng 7 năm 1911 và đến Pháp. Khi tới hải cảng ở Pháp, Nguyễn Tất Thành, vì lo lắng cho tương lai và sự nghiệp của mình, vào ngày 15 tháng 9 năm 1911, viết cho Trường Thuộc Địa của Pháp xin nhập học trường này để mai mốt trở về làm tay sai cho Pháp tại Việt Nam. Lá thư này do ông Nguyễn Thế Anh sưu tầm được tại Văn Khố Quốc Gia Pháp, Aix-en-Provence, sao chụp lại vào ngày 2 tháng 2 năm 1983, chuyển ngữ và đăng trên các báo Việt ngữ khắp nơi làm xôn xao dư luận. ĐCSVN đã im thin thít không dám lên tiếng trước sự thật phủ phàng này.
Khi đến Pháp, Nguyễn Tất Thành (Ba) chuyển sang làm phu khuân vác tại bến cảng Le Havre. Công việc phu khuân vác vừa nặng nhọc mà đồng lương lại rẻ mạt nên Thành xoay sở xin được một việc làm trong tàu Cinq étoiles với tư cách là một thủy thủ. Làm một thủy thủ lương vừa cao, công việc nhẹ hơn, mà còn được thỏa chí tang bồng đi đây đi đó cho biết sự đời. Cuối năm 1912, tàu Cinq Etoiles rời nước Pháp đi đến Hoa Kỳ. Tại thành phố New York nước Hoa Kỳ, vào ngày 15 tháng 12 năm 1912, Nguyễn Tất Thành (Ba) một lần nữa viết một lá thư rất khúm núm, và lần này gởi cho Khâm Sứ Pháp tại miền Trung Việt Nam. Nguyên văn đã được trích đăng ở trên.
Tàu Cinq Etoiles ghé Phi Châu và cuối năm 1913 về tới nước Pháp. Lúc này hợp đồng làm thủy thủ với tàu Cinq Etoiles cũng hết hạn, và đầu năm 1914, Nguyễn Tất Thành xoay sở và sang London nước Anh để lập nghiệp. Tại London, Thành làm bồi bàn cho một nhà hàng. Vì phải làm lụng, nên Nguyễn Tất Thành không được học đến nơi đến chốn, nhưng nhờ trí thông minh, nhờ tiếp xúc nhiều, nên Nguyễn Tất Thành biết rất nhiều ngoại ngữ, và văn chương của những ngoại ngữ này là văn chương bình dân đi sát với thực tế của cuộc sống.
Ngày 3 tháng 12 năm 1917, Nguyễn Tất Thành được nhập cảnh để sinh sống tại Pháp. Khi ấy tại Pháp đã có rất nhiều người Việt cư ngụ. Đáng kể nhất là cụ Phan Chu Trinh đã đến Paris từ năm 1911. Cụ Phan Chu Trinh đã cùng với luật sư Phan Văn Trường (1875-1933, đến Pháp từ năm 1908) lập ra "Hội Đồng Bào Thân Ái," và hội này năm 1914 đã đổi thành "Hội Người Việt Nam Yêu Nước." Các hội viên thường hay lui tới nhà luật sư Phan Văn Trường ở số 6, Villa des Gobelins. Trong Hội Người Việt Nam Yêu Nước này có cụ Nguyễn Thế Truyền hay viết bài và vẽ tranh với bút hiệu là Nguyễn Le Patriot, tức Nguyễn Ái Quốc. Hội cũng có ông Nguyễn An Ninh, một sinh viên trường Luật và là một người viết văn rất giỏi, và đôi khi ông Ninh cũng ký bút hiệu là Nguyễn Ái Quốc. Vừa đến Pháp chân ướt chân ráo, Nguyễn Tất Thành đã đến Hội Người Việt Nam Yêu Nước để nhờ sự giúp đỡ. Nhờ tính tình hoạt bát, và vì lúc đó người Việt xa nhà dễ có cảm tình với tất cả những người Việt Nam nên chẳng bao lâu sau, Nguyễn Tất Thành được các bậc tiền bối giao cho nhiều nhiệm vụ. Vì Nguyễn Tất Thành có nhiều thời giờ rảnh rỗi nhất, nên Nguyễn Tất Thành được trao cho các việc thường vụ như đi bỏ thư và làm thư ký cho hội. Thành học nghề rửa hình từ cụ Phan Chu Trinh, và luật sư Phan Văn Trường đã bỏ thời giờ và công sức ra dạy kèm Pháp ngữ thêm cho Thành. Vài tháng sau, Thành được vào nhóm Ngũ Long gồm có cụ Phan Chu Trinh, luật sư Phan Văn Trường, Cụ Nguyễn Thế Truyền, ông Nguyễn An Ninh, và Nguyễn Tất Thành. Đương nhiên thành là người học lực thấp nhất trong nhóm.
Luật sư Phan Văn Trường có bằng tiến sĩ luật khoa ở Pháp. Có lẽ ông là người Việt Nam đầu tiên đọc và nghiền ngẫm các tác phẩm của Marx và Engels. Nhìn thấy một người trẻ xa quê hương và hăng hái trong các hoạt động như Nguyễn Tất Thành, luật sư Phan Văn Trường giới thiệu Thành với một nhà trí thức Pháp có khuynh hướng xã hội là ông Guiné Marcel Cachin. Ông Cachin là giáo sư Đại Học Sorbonne. Ông Cachin còn là chủ nhiệm của tờ L'Humanité, và sau này, ông Cachin tham gia vô Đảng Cộng Sản Pháp, là một thành viên lãnh đạo của đảng này, và ông còn được cử giữ chức œy Viên Ban Chấp Hành Trung Ương Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản. Luật sư Phan Văn Trường còn giới thiệu cho Thành quen với nhiều nhà trí thức có khuynh hướng xã hội khác như ông Paul Vaillant Couturier, ông Henry Barbusse (người bảo trợ cho tờ Le Paria).
Cuối năm 1918, Nguyễn Tất Thành được Đảng Xã Hội Pháp chấp thuận cho gia nhập đảng. Trong khi đó những người khác trong nhóm Ngũ Long không gia nhập Đảng Xã Hội Pháp hay về sau Đảng Cộng Sản Pháp tại vì mặc dầu có nghiên cứu chủ nghĩa Marx, họ cho rằng, theo lời luật sư Phan Văn Trường, "con đường cách mạng của Nga chưa thích hợp cho con đường đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam ra khỏi ách thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Pháp." Nguyễn Tất Thành tham gia vô một mình trước để dọ dẫm đường cũng là một điều hay, và dồn hết nỗ lực để tạo uy tín cho Thành để Thành dễ dàng làm việc trong Đảng Xã Hội thì tốt hơn. Trước khi gia nhập đảng, cụ Phan Chu Trinh gợi ý cho Thành nên chọn bí danh Nguyễn Ái Quốc vì nó có nhiều điều thuận lợi mà cũng vừa nói lên lòng yêu nước của mình. Trong thời gian mấy tháng này, tên "Nguyễn Ái Quốc" chưa được công khai hóa, chưa được chính quyền Pháp lưu ý. Tuy nhiên, vào ngày 18 tháng Giêng năm 1919, khi các đại diện cho các nước Đồng Minh thắng trận trong Đệ Nhất Thế Chiến về Versailles dự hội, người ta thấy một kiến nghị gởi đến Đại Hội ký tên Nguyễn Ái Quốc với tựa đề "Bản Yêu Sách Của Nhân Dân Việt Nam." Trong bản kiến nghị này có 8 điểm. Mục đích của bản kiến nghị là yêu cầu chính phủ Pháp và các nước Đồng Minh phải thừa nhận các quyền tự do, dân chủ, và quyền bình đẳng của nhân dân Việt Nam. 3 trong 8 điểm của bản kiến nghị đã không được chấp thuận, nhưng Đại Hội đã chấp thuận 5 điểm cũng đủ tạo một tiếng vang lớn. Sau đó, tờ L'Humanité số ra ngày 18-6-1919 của Đảng Xã Hội Pháp đã đăng nguyên văn lại bài kiến nghị này với tựa đề là "Quyền Của Các Dân Tộc." Tên Nguyễn Ái Quốc được mọi người chú ý từ đó.
Ai đã viết bản kiến nghị đó với bút hiệu Nguyễn Ái Quốc? Thật ra, bản kiến nghị được viết là do nhóm Ngũ Long, và người có công và đủ bản lĩnh nhất để viết kiến nghị này là luật sư Phan Văn Trường. Nhóm Ngũ Long, đặc biệt là luật sư Phan Văn Trường, đã viết kiến nghị này do lòng yêu nước của mình, và chính những người trong nhóm Ngũ Long không hề muốn tranh giành uy tín và tiếng tăm cho mình miễn sao là có lợi cho đại cuộc chung. Họ thấy Nguyễn Tất Thành còn quá non kém nên đã dồn cả công trạng của họ cho Nguyễn Tất Thành hưởng với ý nguyện khi Nguyễn Tất Thành gây được uy tín cá nhân, Thành sẽ lo đấu tranh cho quyền lợi của dân tộc. Tiếc thay, Nguyễn Tất Thành đã phụ lòng ưu ái đó của họ.
Tờ L'Humanité số ra ngày 16 và ngày 17 tháng 7 năm 1920 đăng bản thảo "Luận Cương Về Vấn Đề Dân Tộc và Vấn Đề Thuộc Địa" của Lenin. Luận đề này cũng được gọi là "Luận Cương Tháng 4" vì nó được viết vào tháng 4 năm 1920. Nguyễn Ái Quốc đọc được bản thảo này, và về sau, Hồ Chí Minh tức Nguyễn Ái Quốc đã tự nhớ lại là y lấy làm phấn khởi, sáng tỏ, và tin tưởng đến độ đang ở trong phòng một mình y đã thốt lên: "Hỡi đồng bào ta bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!" Và theo lời của Hồ Chí Minh sau này, từ đó Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh quyết tâm đi theo con đường cách mạng của Lenin. Nhưng sự thực có phải vậy hay không? Chúng ta hãy thử lật trang sử Đại Hội Đảng Xã Hội Pháp tổ chức tại Tours vào tháng 12 năm 1920, nghĩa là chỉ vài tháng sau khi Nguyễn Ái Quốc đọc luận cương của Lenin ở trên. Đại Hội này được triệu tập với mục đích Đảng Xã Hội Pháp phải theo khuynh hướng xã hội nào, Đệ Nhị hay Đệ Tam Cộng Sản? Nguyễn Ái Quốc tham gia đại hội này với tư cách là một trong 4,220 đại biểu. Khi chuẩn bị bỏ phiếu, nữ thư ký của Đại Hội hỏi Nguyễn Ái Quốc: "Đồng chí bỏ phiếu theo Đệ Nhị Quốc Tế hay Đệ Tam Quốc Tế?" Nguyễn Ái Quốc trả lời: "Tôi không phân biệt rõ sự khác nhau giữa Đệ Nhị, Đệ Nhị Rưỡi hay Đệ Tam Quốc Tế, nhưng Quốc Tế nào giúp đỡ dân tộc tôi thoát khỏi ách nô lệ của thực dân Pháp thì tôi bỏ phiếu tán thành!" Người nữ thư ký trả lời đó là Đệ Tam Quốc Tế, và thế là Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu cho Đệ Tam. Trong cuốn " Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch," Trần Dân Tiên tức Hồ Chí Minh cũng đã xác nhận sự kiện này. Rõ ràng, Nguyễn Ái Quốc trở thành đảng viên của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản do cảm tính hơn là do lý luận, và chính Nguyễn Ái Quốc cũng chẳng hiểu gì cả về Chủ Nghĩa Cộng sản của Marx hay của Lenin!!!
Từ ngày Nguyễn Ái Quốc tham gia vô Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, Nguyễn Ái Quốc được các bậc thày trong Đảng Cộng Sản Pháp nâng niu che chở vì là một trong những người trẻ nhất từ một quốc gia xa xôi nhất. Nhóm Ngũ Long và luật sư Phan Văn Trường vẫn tiếp tục viết các bài báo có tác động mạnh trên người dân Pháp ủng hộ cho cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam dưới bút hiệu là Nguyễn Ái Quốc. Trong thời gian này có thể chính Nguyễn Tất Thành cũng đã có đủ khả năng viết một vài bài dưới bút hiệu Nguyễn Ái Quốc, và luật sư Phan Văn Trường sửa văn cho.
Theo tài liệu trong Văn Khố Pháp ở Aix-en Provence, ngày 14 tháng 7 năm 1921, Nguyễn Ái Quốc dọn đến số 9, ngõ cụt Compoint, tại quận 17 ở Paris. Có lẽ Nguyễn Ái Quốc phải dọn ra ở đây là vì theo quyết định của nhóm Ngũ Long đánh lạc hướng sự theo dõi của tình báo Pháp về Hội Người Việt Nam Yêu Nước.
Văn Khố Pháp ở Aix-en Provence cũng còn ghi lại ngày 14 tháng 3 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc dọn ra sống ngay trụ sở Hội Liên Hiệp Thuộc Địa và tờ Paria ở số 3 đường Marché des Patriarches

Ngày 10 tháng 5 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc viết thư tỏ tình với cô Bourdon, một người Pháp, và cô này, vào ngày 11 tháng 6 năm 1923, đã viết một lá thư khẳng khái cự tuyệt mối tình của Nguyễn Ái Quốc.
Trước khi tìm hiểu chuyến đi của Nguyễn Ái Quốc đến Moscow, chúng ta cần sơ lược tiểu sử của Manabendra Nath Roy (1887-1954), một người „n Độ đấu tranh cho sự độc lập của nước „n. Từ còn niên thiếu, M.N Roy tham gia vô các sinh hoạt vũ trang tìm cách lật đổ nhà cầm quyền Anh tại „n. Năm 1915, ông tìm cách đưa súng ống vào „n qua ngã quốc gia Bengal. Ông thất bại. Ông bỏ trốn, đi đây đi đó sang nhiều quốc gia. Ông từng đến Hoa Kỳ. Sau đó ông sang Mễ Tây Cơ và giúp thành lập Đảng Cộng Sản Mễ Tây Cơ. Ông rất am hiểu tình hình các dân tộc. Ông đi dự đại hội của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản. Vì đi nhiều, ông am hiểu tình hình các dân tộc Phương Đông hơn cả Lenin. Cho nên, "Luận Cương Về Vấn Đề Dân Tộc và Vấn Đề Thuộc Địa" của Lenin bị ông chất vấn làm cho Lenin bí lối nhiều điểm. Lenin cắt cử M.N Roy vào chức œy Viên Ban Chấp Hành Trung Ương của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản. Năm 1929, M.N Roy bất đồng chính kiến với Stalin. M.N Roy bỏ trốn bí mật về „n. M.N Roy bị nhà cầm quyền Anh bắt giam một thời gian. Sau này M.N Roy bỏ Đảng Cộng Sản và tham gia vô Đảng Quốc Đại „n.
Manabendra Nath Roy làm cho Lenin cứng họng nhiều điểm nên không nói ra, ai cũng nhìn thấy Lenin cần có một chuyên gia về các vấn đề liên hệ đến các dân tộc ở Phương Đông. Dimitri Manouilski, một đàn em thân cận của Lenin đã nhìn ra được nhược điểm của Lenin, và để lấy điểm với Lenin, Manouilski quyết tâm tìm một người Phương Đông để giúp cho Lenin về vấn đề này. Người ta đồn xa đồn gần có một người đảng viên Cộng Sản Pháp gốc Việt với tên là Nguyễn Ái Quốc đã viết 8 điểm kiến nghị về vấn đề Việt Nam, tức là về vấn đề một quốc gia ở phương Đông, như thế đây có thể là một người đáp ứng đúng cho nhu cầu này. Chính vì muốn chọn Nguyễn Ái Quốc cho nhiệm vụ cố vấn cho Ban Chấp Hành Trung Ương Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản về những vấn đề các dân tộc ở Phương Đông nên Dimitri Manouilski đã giàn dựng cho Nguyễn Ái Quốc có những chuyến đi bí mật đến Moscow. Tất cả những giàn dựng này, Manouilski chỉ thị cho Đảng Cộng Sản Pháp sắp xếp một cách tinh vi đánh lừa mật thám chính phủ Pháp để cho Nguyễn Ái Quốc có thể an toàn đến Nga.
Đa số các tài liệu nói rằng Nguyễn Ái Quốc đến Moscow vào cuối năm 1923. Nhưng, Nguyễn Khắc Huyên, một đảng viên cao cấp của ĐCSVN, người từng viết sử về Hồ Chí Minh, năm 1971, viết rằng Nguyễn Ái Quốc đã đến Moscow vào tháng 11 năm 1922, dự Đại Hội Kỳ IV của Đệ Tam Quốc Tế, gặp Lenin và Stalin, rồi trở về lại Pháp. Sau đó, vào tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc trở lại Nga, nhưng chỉ đến Moscow vào đầu năm 1924 sau cái chết của Lenin vài ngày. Theo ông Nguyễn Thế Anh, trong quyển "Hồ Chí Minh, Sự Thật Về Thân Thế Và Sự Nghiệp," Nguyễn Ái Quốc đã có mặt tại Moscow vào tháng 7 năm 1923, tham dự Đại Hội Quốc Tế Nông Dân họp từ ngày 10 tới ngày 15 tháng 7 năm 1923 dưới sự chủ tọa của Zinoviev. Trong đại hội này, Nguyễn Ái Quốc đã lên tiếng phản đối nhà cầm quyền, các thương gia và các cố đạo Pháp, đã khai thác và bóc lột công sức lao động của giới nông dân tại Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc lên tiếng bênh vực cho giới nông dân, chớ không phải giới công nhân vì tại Việt Nam lúc đó giới nông dân là lực lượng chính. Đại hội này bầu Chủ Tịch Đoàn Quốc Tế Nông Dân, và Nguyễn Ái Quốc là thành viên. Ngày 16 tháng 10 năm 1923, Chủ Tịch Đoàn Quốc Tế Nông Dân họp lần đầu, chọn 11 thành viên lãnh đạo, và Nguyễn Ái Quốclà một trong 11 thành viên đó.

Không hiểu vì lý do gì mà trước đây Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản cũng như Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tung ra tin thất thiệt Nguyễn Ái Quốc đến Moscow chỉ sau vài ngày Lenin qua đời, làm Nguyễn Ái Quốc tiếc không được gặp mặt Lenin, khóc thương hùi hụi Lenin, viết một bài điếu văn thương khóc Lenin và bài điếu văn này được đăng trên tờ báo Pravda (Sự Thật) tháng Giêng năm đó. Rõ ràng đây là một tin hỏa mù đánh lừa dư luận quốc tế vì trong thời gian 1922-1923, Nguyễn Ái Quốc cần có thời gian huấn luyện và thử thách để Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản mới có thể giao phó những trọng trách ở các nước Phương Đông. Nếu Nguyễn Ái Quốc đã không tỏ ra thuần thục thì chắc chắn họ đã không đánh bóng Nguyễn Ái Quốc và cho đăng bài điếu văn trên tờ Pravda. Hơn nữa, trong thời gian 1922-1924, Stalin đang từng bước một nắm quyền, loại bỏ Lenin, Trotsky và Zinoviev ra khỏi quyền lực, và đây là giai đoạn Stalin đang tìm những người trung tín. Dimitri Manouilski, người đỡ đầu cho Nguyễn Ái Quốc, là một người rất tinh tế, đã ngã hẳn về phe Stalin, và chính Dimitri Manouilski đã nói cho Nguyễn Ái Quốc biết phải làm gì. Sau này, cũng chính nhờ Dimitri Manouilski hướng dẫn nên Nguyễn Ái Quốc đã thoát khỏi bàn tay sắt máu của Stalin trong cuộc thanh trừng đẫm máu vào thập niên 1930's.

Đại Hội V Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản cử hành từ ngày 17 tháng Sáu đến ngày 8 tháng Bảy năm 1924 tại Moscow. Nguyễn Ái Quốc đã xuất hiện trong đại hội này, đã đọc bài tham luận về vấn đề các dân tộc, và hình ảnh này đã được quay phim cất giữ trong văn khố nước Nga. Trong bài diễn văn này, người ta thấy Nguyễn Ái Quốc công kích Đảng Cộng Sản Pháp đã không tích cực chống đối chế độ thực dân Pháp. Không hiểu các đồng chí người Pháp của y, những người đã nâng đỡ y trước đây để y lên ngồi trên ghế cao trong Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản nghĩ gì lời phê bình gay gắt này, một lời phê bình có tính cách bán đứng những người thày, những người bạn trước đây?

Tháng 12 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc, dưới bí danh Lý Thụy, tháp tùng với phái đoàn của Borodine về Quảng Châu. Borodine được biệt phái sang giúp cho Tôn Dật Tiên củng cố lại Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Borodine đã ra lệnh cho tất cả các đảng viên Cộng Sản tham gia vô Trung Hoa Quốc Dân Đảng, làm giây leo, và từ từ sau khi đã trưởng thành, tách ra khỏi Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Sau chuyến đi Liên Xô và tìm hiểu thực trạng cuộc cách mạng Bolshevik ở Nga, Tưởng Giới Thạch trở về Trung Hoa. Tưởng Giới Thạch tường trình cho mọi người biết không thể bắt chước cuộc cách mạng nước Nga được vì nó quá vô nhân đạo. Tôn Dật Tiên qua đời và quyền hành trong Trung Hoa Quốc Dân Đảng rơi vào tay Tưởng Giới Thạch. Tháng 4 năm 1927, Tưởng Giới Thạch săn lùng phái đoàn Borodine để kết án. Borodine và phái đoàn, trong đó có Lý Thụy, bỏ trốn về Liên Xô.

Năm 1924, vừa đến Quảng Châu, Lý Thụy tìm cách liên lạc với các nhà cách mạng Việt Nam như cụ Phan Bội Châu. Lý Thụy liên lạc được với nhóm Tâm Tâm Xã. Nhóm Tâm Tâm Xã là nhóm đã được nhà chí sĩ Phạm Hồng Thái, người, trong năm 1924, đã ném bom trong khách sạn Victoria ở Sa Diện tỉnh Quảng Châu tính ám sát quan Toàn Quyền Đông Dương Martial Merlin nhưng thất bại và đã trầm mình xuống sông tự kết liễu. Nhóm Tâm Tâm Xã lúc này có rất nhiều nhân vật sau này nổi danh như Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu, Vũ Hải Thu, Lê Hồng Sơn, Lâm Đức Thụ, Vương Thúc Oánh. Lý Thụy móc nối một số nhân vật trong Tâm Tâm Xã, những người đang sùng sục yêu nước mà không có nơi nương tựa, nên nghe lời Lý Thụy tham gia vô Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội. Lý Thụy cũng liên lạc với cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Bội Châu giới thiệu Lý Thụy với những người Việt Nam yêu nước khác, trong đó có cụ Hồ Học Lãm. Cụ Hồ Học Lãm là một du học sinh sang Nhật học về quân sự năm 1906, và năm 1909, khi Nhật nghe theo thực dân Pháp đuổi các học sinh Việt Nam đi, cụ Lãm về Quảng Châu. Cụ tham gia vô Trung Hoa Quốc Dân Đảng và dần hồi leo lên tới cấp Tá trong quân đội Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Sau này, cụ hay viết bài dưới bút hiệu Hồ Chí Minh. Năm 1937, cụ Hồ Học Lãm và cụ Nguyễn Hải Thần cùng nhau thành lập Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội. Nhờ sự giới thiệu của cụ Phan Bội Châu, Lý Thụy quen với cụ Hồ Học Lãm, và khi cụ Hồ Học Lãm viết xong bài nào, thường cho Lý Thụy xem góp ý. Lý Thụy từ đó biết cụ Lãm và bút hiệu "Hồ Chí Minh" rất có uy tín. Sau này, năm 1942, theo bài viết của cụ Lý Thái Như đăng trong đặc san Xuân Mậu Dần (1998) của tờ Người Việt ở Nam California, khi tướng Trương Phát Khuê bắt giam Lý Thụy ở Quảng Châu vì nghi Lý Thụy làm việc cho Đệ Tam Quốc Tế, Lý Thụy xưng mình là Hồ Chí Minh và xin các nhà cách mạng Việt Nam ở đó cứu giúp. Cụ Nguyễn Hải Thần đã thương hại giúp can thiệp cho y. Có thể cụ Nguyễn Hải Thần biết Lý Thụy đã dùng bí danh của cụ Hồ Học Lãm nhưng không cho đó làm quan trọng lắm vì cụ nghĩ rằng miễn sao tất cả chỉ để đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách thực dân Pháp. Lý Thụy, tức Hồ Chí Minh được trả tự do, sau đó, cụ Nguyễn Hải Thần tuyên thệ y vào Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, và cụ Nguyễn Hải Thần cắt cử y chức vụ œy Viên Hậu Bổ. Từ năm 1942 trở đi, bí danh "Hồ Chí Minh" mới xuất hiện.

Trong cuốn "Tự Phán" của cụ Phan Bội Châu, cụ cho biết cụ lên Tô Giới Thượng Hải vào ngày 11 tháng 5 năm 1925 thì bị tình báo Pháp chận bắt ngay ga xe lửa. Đầu năm 1925, cụ Phan đã đổi Việt Nam Quang Phục Hội của cụ thành Việt Nam Quốc Dân Đảng, và Việt Nam Quốc Dân Đảng đang bắt đầu phát triển mạnh. Sợ uy tín của cụ Phan, sợ Việt Nam Quốc Dân Đảng sau này lấn áp nên Lý Thụy tìm cách ra tay sát hại cụ Phan trước. Khoảng tháng 6 năm 1925, Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, trưởng ban tổ chức ký tên là Lý Thụy mời cụ Phan lên Hàng Châu để dự lễ giỗ đầu tiên của liệt sĩ Phạm Hồng Thái. Liên lạc gặp cụ Phan Bội Châu và sắp xếp chương trình cho cụ Phan là Hồ Tùng Mậu, Vương Thúc Oánh, và Lâm Đức Thụ, tức là những thành viên trong VNTNCMĐCH. Trên đường từ Hàng Châu về Quảng Châu, cụ Phan phải ghé qua Thượng Hải. Và, vừa tới Thượng Hải, cụ bị mật thám Pháp bắt giữ. Sự thật cụ Phan Bội Châu bị bắt như thế nào? Trong cuốn sách tự thuật của ông Vương Thúc Oánh in vào năm 1962, Vương Thúc Oánh cho biết trong phiên họp khoảng đầu năm 1925 của Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, một hội vừa mới được Lý Thụy móc nối và thành lập, và Vương Thúc Oánh có hiện diện trong buổi họp đó, Lý Thụy nói: "Cụ Phan ái quốc thật, nhưng cụ đã quá già, đầu óc rất khó hấp thụ những trào lưu tư tưởng mới. Cụ lại quá thành thực, dễ tin người..." Lý Thụy đã lý luận hãy để cho cụ Phan trở thành biểu tượng đấu tranh bằng cách để người Pháp bắt giam cụ, xong rồi Hội tổ chức các cuộc đấu tranh cho cụ. Song song, khi bán tin cho người Pháp bắt cụ, người Pháp phải gởi lại cho Hội một số tiền, và Hội dùng số tiền này để phát triển lực lượng. Lý luận "nhất cử lưỡng tiện" này đã được các thành viên trong VNTNCMĐCH biểu quyết chấp thuận. Thế là họ bán đứng cụ Phan cho người Pháp, và nhận từ người Pháp 10 vạn Quan tiền, một số tiền rất lớn vào thời gian đó. Đây là một trong những thành tích lừa thày phản bạn đầu tiên của "người" (?) được mệnh danh là Hồ Chí Minh sau này. Khi cụ Phan bị Pháp bắt giam giữ, Việt Nam Quốc Dân Đảng của cụ coi như bị tê liệt không hoạt động được. Mãi cho đến Ngày 25 tháng 12 năm 1927, Nguyễn Thái Học thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng và mời cụ Phan làm chủ tịch danh dự. Cụ Phan bị thực dân Pháp giam lỏng bên bờ sông Hương ở Huế cho đến lúc qua đời ngày 29 tháng 10 năm 1940.

Trong thời gian ở Quảng Châu, Lý Thụy được Lâm Đức Thụ giới thiệu làm quen với gia đình bên vợ. Vợ của Lâm Đức Thụ là bà Lý Huệ Quần, là một gia đình danh gia giàu có. Bà Lý Huệ Quần có một người em gái là Lý Huệ Khanh. Lý Thụy đã lấy Lý Huệ Khanh. Sau này Lý Huệ Khanh tham gia Đảng Cộng Sản Trung Quốc và bị Trung Hoa Quốc Dân Đảng giết chết trong biến cố Quảng Châu Công Xã ngày 12 tháng 12 năm 1927. Tháng 4 năm 1991, báo Tuổi Trẻ ở thành Hồ đăng nguyên bức thư bằng Hán văn Lý Thụy gởi cho bố mẹ vợ hỏi han gia cảnh và tình hình của bà Lý Huệ Khanh. Việc này làm xôn xao dư luận, và sau đó, Phó Tiến Sĩ Mai Hạnh bị cách chức khỏi chức vụ chủ nhiệm của tờ báo.

Tưởng Giới Thạch quyết lùng bắt phái đoàn của Borodine, tháng 4 năm 1927, phái đoàn Borodine trong đó có Lý Thụy đã phải băng qua sa mạc mênh mông ở Ngoại Mông trốn về Moscow và suýt đã phải bỏ mạng ở sa mạc mênh mông này.

Về tới Moscow, năm 1928, Lý Thụy được cử đi Brussels nước Thụy Sĩ, sau đó đi Pháp. Khi đó Đảng Cộng Sản Trung Quốc đang gặp khó khăn đối với Trung Hoa Quốc Dân Đảng và cũng đang gặp khó khăn vì những mâu thuẫn trong nội bộ. Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản phái Nguyễn Ái Quốc từ Pháp về Thái Lan hoạt động với những Hoa Kiều, củng cố lại lực lượng Cộng Sản của Trung Hoa tại hải ngoại, và đồng thời, phát triển các lực lượng Cộng Sản địa phương. Tháng 5 năm 1929, y được triệu về Hồng Kông họp với Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, và trong phiên họp ngày 17 tháng 6 năm 1929, một nhóm trong TNCMĐCH ly khai đổi thành Đảng Cộng Sản Đông Dương. Một số người khác cũng không chịu kém, họ thành lập "An Nam Cộng Sản Đảng," và "Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn." Tình hình phân hóa trầm trọng, Nguyễn Ái Quốc phải xin chỉ thị của Moscow. Theo chỉ thị của Moscow, các Đảng Cộng Sản phải đến dự hội ở Hương Cảng vào ngày 3 tháng 2 năm 1930 dưới sự chủ tọa của Nguyễn Ái Quốc để thống nhất lực lượng. Ngày đó chính là ngày khai sinh ra Đảng Cộng Sản Việt Nam, và Trần Phú được cử làm Tổng Bí Thư đầu tiên. Nguyễn Ái Quốc còn có nhiều nhiệm vụ quan trọng khác phải làm nên chưa đến lúc phải tranh chấp chức vụ "khá nhỏ nhoi" đó. Khi ấy Nguyễn Ái Quốc là thành viên Ban Chấp Hành Trung Ương của Đệ Tam. Hơn nữa Trần Phú là một đệ tử trước đây của Nguyễn Ái Quốc, đã từng đi Moscow, và Moscow chỉ định về nắm giữ chức vụ này. Tháng 10 năm 1930, theo chỉ thị của Moscow, Đảng Cộng Sản Việt Nam được đổi thành Đảng Cộng Sản Đông Dương. Sau đó, Trần Phú phát động Phong Trào Sô Viết Nghệ Tĩnh gây bao sóng gió và tang thương cho dân tộc. Sau cái chết của Trần Phú, Lê Hồng Phong lên làm Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Đông Dương. Tại Đại Hội Kỳ VII của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản tháng 7 năm 1935, Lê Hồng Phong và vợ là Nguyễn Thị Minh Khai đã đại diện cho Đảng Cộng Sản Đông Dương, trong khi đó Nguyễn Ái Quốc tham dự với tư cách là đại biểu của Bộ Phương Đông.

Sau khi họp thống nhất các lực lượng Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc được trao nhiệm vụ trở về Thái Lan. Dưới danh nghĩa đại diện cho Đệ Tam Quốc Tế, ngày 20 tháng 4 năm 1930, Nguyễn Ái Quốc chủ tọa phiên họp thành lập Đảng Cộng Sản Xiêm. Nói là Đảng Cộng Sản Xiêm nhưng thực ra những đảng viên là người Trung Hoa và người Việt Nam với nhiệm vụ là xâm nhập và yểm trợ phát triển Đảng Cộng Sản Trung Quốc ở lục địa.

Sau phiên họp thành lập Đảng Cộng Sản Xiêm, Nguyễn Ái Quốc, dưới nhiều bí danh, và, một trong những bí danh là "Tống Văn Sơ" đã đi đi lại các quốc gia Thái Lan, Singapore, Mã Lai, và Hồng Kông để điều hợp các hoạt động của các Đảng Cộng Sản. Vào thời gian này, Staline phái Joseph Ducroux, dưới bí danh Serge Lefranc, đến các quốc gia Á Châu để tìm những cơ hội phát triển kinh tế cho Nga. Sau mấy tháng đi lại giữa Hồng Kông và Mã Lai và không bị trắc trở, Joseph Ducroux khinh xuất để lộ cho chính quyền Singapore biết mình đang hoạt động tình báo cho nước Nga. Lúc đó Singapore còn là thuộc địa của Anh. Joseph Ducroux bị chính quyền Singapore bắt vào ngày 1 tháng 6 năm 1931. Giấy tờ của Joseph Ducroux bị tịch thâu, và từ đó, chính phủ Anh lần mò phá vỡ nhiều đường giây tình báo của Cộng Sản, và họ lần mò ra Nguyễn Ái Quốc chính là Tống Văn Sơ. Ngày 6 tháng 6 năm 1931, cảnh sát Hồng Kông bắt giam Tống Văn Sơ. Khi đó, Tống Văn Sơ đang sống chung với một người đàn bà tên là Li Sam. Điều này chứng minh cho thấy Nguyễn Ái Quốc đi đến đâu, Đệ Tam Quốc Tế cũng bố trí cho y có vợ hoặc các cô nhân tình phục vụ sinh lý cho y, giống như sau này vào thập niên 1960's, theo như lời của ông Vũ Thư Hiên trong tác phẩm "Đêm Giữa Ban Ngày," Lê Đức Thọ và đàn em là Bộ Trưởng Nội Vụ Trần Quốc Hoàn bố trí cho họ Hồ hai cố gái trẻ đẹp sắc tộc người Tày ăn ở phục dịch sinh lý cho y, xong rồi y để cho Trần Quốc Hoàn thủ tiêu họ luôn.

Khoảng thời gian này là một bức màn bí mật bao trùm lên cuộc đời Nguyễn Ái Quốc.

Chuyến bắt này, về sau Trần Dân Tiên tức Hô Chí Minh đã tạo ra nhiều hư cấu cho rằng luật sư Frank Loseby do nhà nước chỉ định, đã viện dẫn luật "Habeus Corpus" nêu lên nhà cầm quyền Anh không đủ yếu tố bắt giam Tống Văn Sơ, và cũng không đủ bằng chứng 100% Tống Văn Sơ là Nguyễn Ái Quốc nên chính quyền Anh, với sự ủng hộ của Sir Stafford Cripps cố vấn pháp luật cho Hoàng Gia Anh, vận động trả tự do cho Tống Văn Sơ. Theo lời kể của Trần Dân Tiên, sau khi được thả ra chuyến này, Tống Văn Sơ đáp tàu bí mật đi Anh, nhưng vừa đến Singapore, cảnh sát Anh bắt lại, chuyển Tống Văn Sơ trở về Hồng Kông, và cảnh sát Hồng Kông, lấy lý do Tống Văn Sơ nhập cảnh không có giấy phép, bắt giam Tống Văn Sơ. Theo lời của Trần Dân Tiên, cuối tháng Giêng năm 1933, luật sư Frank Loseby giúp cho Tống Văn Sơ vượt ngục, trốn sang Thượng Hải. Tại Thượng Hải, vào mùa Xuân năm 1934, Nguyễn Ái Quốc, tức Tống Văn Sơ, nhờ một người quen, mới liên lạc được Vaillaint Couturier, một đảng viên Đảng Cộng Sản Pháp mà Quốc quen trước kia, và Vaillant Couturier đã sắp xếp cho Nguyễn Ái Quốc với bí danh Linov, ngày 1 tháng 10 năm 1934, đáp tàu từ Thượng Hải đi Vladisvostok và từ Valdisvostok trở về Moscow. Tại Moscow, với bí danh "đồng chí Lin," y được học trong trường Đại Học Lenin chuyên nghiên cứu về các nước thuộc địa.

Tại sao Trần Dân Tiên, tức Hồ Chí Minh, lại tạo ra câu chuyện ly kỳ như trên? Trên tờ L'Humanité đăng vào tháng 7 năm 1932, Nguyễn Ái Quốc đã chết trong tù tại khám lớn Victoria ở Hồng Kông vào ngày 26 tháng 6 năm 1932. Cái chết của Nguyễn Ái Quốc cũng được đăng trên các báo chí tại Nga. Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản còn tổ chức buổi lễ tưởng niệm Nguyễn Ái Quốc. Mật thám Pháp, qua bản tin trên, đóng hồ sơ Nguyễn Ái Quốc lại. Như thế rõ ràng trong thời gian này khi Nguyễn Ái Quốc ở tù, đã có một sự sắp xếp bí mật nào đó của Đệ Tam Quốc Tế, và một cách nào đó, họ đã đưa Nguyễn Ái Quốc ra khỏi tù bằng an, trở về Moscow nhận chỉ thị mới. Cũng chính trong thời gian ở tù này, Tống Văn Sơ, tức Nguyễn Ái Quốc, đã làm quen với ông già họ Lý, tác giả đích thực của tập thơ "Ngục Trung Nhật Ký" mà sau này Hồ Chí Minh đã mạo nhận là của mình, và Giáo Sư Lê Hữu Mục đã phân tách tỉ mỉ vạch trần vụ án đạo văn hy hữu này.

Giai đoạn cuộc đời của Hồ Chí Minh từ năm 1935 tới năm 1938 là cả một bức màn bí mật. Hai tập truyện do chính Hồ viết lại dưới bút hiệu Trần Dân Tiên và T. Lan cũng không đề cập đến giai đoạn này. Người ta nghi rằng khi sau Đại Hội VII của Đệ Tam Quốc Tế vào tháng 7 năm 1935 mà Nguyễn Ái Quốc đến dự với tư cách là đại biểu của Bộ Phương Đông, Hồ bị Staline thanh trừng và bị thất sủng. Một vài người cho rằng Nguyễn Ái Quốc đã bị thất sủng trước rồi, và đi họp Đại Hội VII của Đệ Tam Quốc Tế với tư cách là đại biểu của Bộ Phương Đông đủ để chứng minh Nguyễn Ái Quốc có tiếng mà không có miếng, vì thực lực đã giao cho Lê Hồng Phong, một đàn em của Nguyễn Ái Quốc trước đây. Những tin hành lang còn cho biết sau này nắm lại được thực lực, Hồ sát hại Lê Hồng Phong và cướp vợ là Nguyễn Thị Minh Khai để rửa mối nhục cho những tháng ngày này. Nên nhớ vào năm 1929, Manabendra Nath Roy và một số nhân vật xuất sắc khác trong Bộ Đông Phương đã bỏ trốn, và Staline kết án họ gắt gao là kẻ phản bội. Có thể Staline nghi ngờ Nguyễn Ái Quốc nên cho Nguyễn Ái Quốc 4 năm trời bị cấm cố, bị thử thách. Giáo Sư Tôn Thất Thiện, trong tác phẩm viết về Hồ Chí Minh của ông, lại có ánh nhìn khác hẳn. Theo giáo sư Tôn Thất Thiện, trong thời gian 1935-1938, Nguyễn Ái Quốc đã được cắt cử nhiệm vụ rất quan trọng trong Bộ Đông Phương, là một œy Viên Trung Ương, là tay phải của Dimitri Manouilski, mà Dimitri Manouilski là người tín cẩn của Staline, nên chắc chắn Nguyễn Ái Quốc đã được Dimitri Manouilski hướng dẫn biết cách chìu lòng Staline để không bị thanh trừng, mà còn được lên chức. Để đánh giá được những gì đã xảy ra trong giai đoạn này đối với Nguyễn Ái Quốc, chúng ta hãy nghe Khrushchev kể chuyện về Hồ Chí Minh và Staline.

Trong Hồi Ký, Nikita Khrushchev viết: "Trong suốt cuộc đàm luận, Hồ Chí Minh lúc nào cũng dính chặt mắt vào Staline với cái nhìn lạ lùng chỉ có ở Hồ. Cái nhìn đó biểu thị một sự ngây ngô hầu như non dại. Tôi thấy lại cái nhìn đó khi Hồ chăm chăm tìm kiếm một tờ báo Liên Xô trong tập đựng tài liệu của Hồ, có lẽ là tạp chí 'Liên Xô Trong Xây Dựng' và xin Staline đề mấy hàng lưu niệm. Hồ có vẻ vui thích với ý nghĩ sẽ trở về Việt Nam có trong tay thủ bút của Staline để Hồ có thể khoe khoang với đám đàn em của Hồ. Staline đã viết lời đề tặng, nhưng sau đó đã ra lệnh đánh cắp tờ báo này vì ngại Hồ có thể lạm dụng tiếng tăm của mình." Ai cũng biết Staline là một con người rất đa nghi, và qua mẩu chuyện này, chúng ta thấy Staline không hề đặt tin tưởng nơi Hồ. Do đó, đối với tôi, có lẽ trong thời gian đó, Staline đã cho Nguyễn Ái Quốc nắm giữ chức vụ quan trọng trong Bộ Đông Phương, nhưng không có thực quyền, và Nguyễn Ái Quốc cần phải học tập tư tưởng của Staline, phải chứng tỏ ra là một đệ tử trung tín của y, phải biết cúi đầu tuân nghe y như một con chó thì Staline mới cho phép tung bay hoạt động trở lại.

Năm 1937, Mặt Trận Bình Dân thân tả của Thủ Tướng Léon Blum lên nắm quyền tại Pháp. Chính phủ thân tả này đã giúp cơ hội cho các Đảng Cộng Sản và Xã Hội phát triển ở Á Châu. Lúc này tiếng tăm của Nguyễn Ái Quốc không có một chút nào ở Việt Nam. Năm 1938, chính phủ của Mặt Trận Bình Dân bị thoái trào. Có lẽ lúc này Nguyễn Ái Quốc đã học thuộc bài nên Staline cho phép Nguyễn Ái Quốc, với bí danh là "đồng chí Lâm" đến Diên An gặp Mao Trạch Đông. Sau đó, "đồng chí Lâm" đến Quế Lâm, liên lạc với Bát Lộ Quân của Cộng Sản Trung Hoa nhờ họ giúp đỡ về Việt Nam hoạt động. Đầu năm 1940, dưới bí danh Hồ Quang, y đến Côn Minh gặp Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp mới từ Việt Nam trốn sang để bàn thảo chương trình hoạt động với y. Cũng trong thời gian này, Lý Thụy cũng hoạt động dưới bí danh "đồng chí Trần" và "đồng chí Vương." Khi gặp được Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp, cùng với thêm 5 người khác, "đồng chí Hồ Quang" tức Lý Thụy đã chủ tọa những phiên họp. Qua những phiên họp, họ quyết định dùng màn xảo thuật đánh lận con đen, vào ngày 19 tháng 5 năm 1941, thành lập "Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội" và Hồ Chí Minh là Chủ Tịch. Họ làm như vậy là vì họ biết "Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội" (không có chữ Độc-Lập) do cụ Hồ Học Lãm, bút hiệu Hồ Chí Minh, và cụ Nguyễn Hải Thần thành lập trước đây vào năm 1937 rất có uy tín đối với người Việt cũng như đối với Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Lúc đó cụ Nguyễn Hải Thần còn sống, nhưng cụ Hồ Học Lãm với bút danh là Hồ Chí Minh đã quá cố rồi. Họ muốn mượn uy danh của ông để đốt ngắn giai đoạn tạo uy tín cho mình. Ngày 29 tháng 8 năm 1942, Nguyễn Ái Quốc dùng bí danh Hồ Chí Minh của cụ Hồ Học Lãm, vượt biên giới Việt-Trung và bị bắt ở phố Túc Vinh, tỉnh Quảng Tây.

Theo lời kể của cụ Lý Thái Như, năm 1942, cụ tình cờ nghe được một vài người bạn Trung Hoa cho biết ở trong núi Độc Đăng có câu lưu hai người Việt Nam làm cách mạng. Tò mò, cụ và một số người đến núi Độc Đăng tìm hiểu. Viên Đại Úy chúa ngục chỉ vào hai người đang nằm trên nệm rơm ở trong hang núi và nói: "Đây là Lý Thụy bị chính phủ bắt vì tội làm gián điệp cho Nga hay Nhật, còn anh kia tên là Đinh Chương Dương hoạt động cho Cộng Sản." Khi ấy, đối với người Việt chưa phân biệt Quốc Gia hay Cộng Sản, nên cụ Lý Thái Như đã về báo cáo lại cho cụ Nguyễn Hải Thần. Cụ Nguyễn Hải Thần đã đứng ra can thiệp và nhờ đó họ trả tự do cho Lý Thụy. Như đã kể ở trên, cụ Nguyễn Hải Thần còn tuyên thệ cho Lý Thụy vào Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, và cắt cử y với chức œy Viên Hậu Bổ của Hội.

Cũng theo lời kể của cụ Lý Thái Như, vào khoảng giữa năm 1943, sau khi Ban Chấp Hành Trung Ương của Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội đánh giá tình hình chín mùi, cần cử người về nước liên lạc với các thành viên trong nước. Lý Thụy, tức Hồ Chí Minh xung phong trước tiên. Thấy nhiệt tình của Hồ Chí Minh, hai cụ Trương Bội Công và Nguyễn Hải Thần cùng cười khen, hỏi lại hội trường: "Có ai ý kiến về sự xung phong của đồng chí Lý Thụy không?" Sau đó vài phút, có người hoan hô tinh thần cách mạng của Lý Thụy. Thế là Hồ Chí Minh được cắt cử về trong nước hoạt động.

Nhưng khi về Việt Nam được rồi, về ẩn ở trong hang Pắc Bó, Hồ Chí Minh đã không hoạt động theo tôn chỉ của Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, mà hoạt động theo chỉ thị của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản. Hồ Chí Minh, qua các đàn em đảng viên Cộng Sản, đã phát động một chiến dịch mới đánh bóng Việt Minh, viết tắt của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội mà cũng có thể là chữ viết tắt của Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội. Ai muốn hiểu sao thì hiểu, và đó là sự gian trá và khôn manh của họ. Và, lần đầu tiên dân chúng Việt Nam nghe đến tên Hồ Chí Minh.

Khoảng đầu năm 1945, Hoa Kỳ, vì nhu cầu chống Nhật tại Đông Dương, tìm cách liên lạc với với các lực lượng Việt Nam yêu nước. Người chịu trách nhiệm liên lạc là Thiếu Tá Archimedes Patti. Thiếu Tá Patti không phân biệt được sự khác biệt "Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội" của cụ Nguyễn Hải Thần và "Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội" của Hồ Chí Minh. Cụ Nguyễn Hải Thần thì ở Quảng Châu, còn trong khi đó, Hồ Chí Minh thì ở trong nước, và "Việt Minh" thì đang lên cao, nên Thiếu Tá Archimedes Patti đã liên lạc với Hồ Chí Minh. Theo lời tường thuật của Thiếu Tá Patti trên phim "Viet Nam: A Television History," ông quyết định giúp đỡ cho Hồ Chí Minh, vì họ Hồ nói được tiếng Anh và vì họ Hồ trình bày được những tư tưởng Tự Do và Dân Chủ giống như bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ do Thomas Jefferson soạn thảo, nên theo Thiếu Tá Patti, ông nghĩ nếu Hồ Chí Minh là Cộng Sản thì cũng chỉ là người Cộng Sản yêu nước Việt Nam trên hết chớ không phải theo chỉ thị của Đệ Tam. Đó chính là sai lầm của Thiếu Tá Patti. Thật ra, họ Hồ cũng chẳng yêu nước và cũng chẳng trung thành với Quốc Tế Đệ Tam, con đường nào làm cho họ Hồ vinh thân phì gia là con đường họ Hồ sẵn sàng, bằng mọi giá sẽ sử dụng. Phòng Dịch Vụ Chiến Lược (OSS) của Hoa Kỳ, qua Thiếu Tá Archimedes Patti, đã viện trợ cho họ Hồ súng đạn để thành lập quân đội trong những vùng đồi núi Hoàng Liên Sơn. Nhờ sự gian lận và biết đánh lận con đen, Hồ Chí Minh đã tạo được cơ hội để có sự giúp đỡ của Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ bỏ hai quả bom hạt nhân ở hai thành phố lớn Nagasaki và Hiroshoma ở Nhật. Nhật đầu hàng phe Đồng Minh vô điều kiện. Một khoảng trống chính trị diễn ra trên đất nước Việt Nam. Lúc đó Đảng Cộng Sản Việt Nam trên toàn quốc chỉ có khoảng 200 người. Nhân cuộc biểu tình của dân chúng trước Nhà Hát Lớn ở Hà Nội vào ngày 19 tháng 8 năm 1945, một vài cán bộ Đảng Cộng Sản trà trộn, cầm cờ Việt Minh, cầm loa kêu gọi, yêu cầu chính phủ Bảo Hộ nhường quyền. Thấy sức mạnh của quần chúng, Thị Trưởng Trần Văn Lai và bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ đành bó tay, sẵn sàng trao quyền. Trong khi đó, Khâm Sai Phan Kế Toại, con trai của nhà văn Phan Kế Bính, đã được Việt Minh móc nối tuyên truyền rỉ tai nên chấp thuận đi theo họ. Cuộc Cách Mạng Mùa Thu năm 1945, nhờ sức mạnh quần chúng mà Việt Minh nắm được chính quyền. Sau đó, họ gởi đại biểu lên Kinh Đô Huế yêu cầu Hoàng Đế Bảo Đại thoái vị.
Trong cuốn Hồi Ký của Hoàng Đế Bảo Đại, cựu Hoàng cho biết cựu Hoàng trước đây chưa bao giờ nghe đến tên Hồ Chí Minh hay chính phủ Việt Minh. Tuy nhiên, cựu Hoàng sẵn sàng từ bỏ ngai vàng và trở thành công dân Vĩnh Thụy vì cựu Hoàng nghĩ rằng tổ chức nào mà giành được sự độc lập cho dân tộc và lo cho hạnh phúc ấm no của dân tộc Việt Nam thì được rồi. Quan niệm này lúc bấy giờ của cựu Hoàng cũng chính là quan niệm của quần chúng Việt Nam và của nhiều đảng phái Quốc Gia. Chính vì vậy mà họ sẵn sàng để cho một người vô danh tiểu tốt là Hồ Chí Minh làm Chủ Tịch một nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, và ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc Tuyên Ngôn Độc Lập ở Quãng Trường Ba Đình thành phố Hà Nội, ăn cắp hầu như nguyên văn và nguyên ý Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ do Thomas Jefferson soạn thảo.
Thời gian này, Hồ Chí Minh bắt đàn em gọi mình bằng "Bác." Theo ký giả người Mỹ Oliver Todd nhận định: "Hồ khôn ngoan không tự phong là 'cha già dân tộc,' mà khiêm nhượng chỉ nhận mình là 'bác' của mọi người dân Việt. Trong cơ cấu gia tộc Việt Nam, chức bác rất được coi trọng. Với các cháu trai hay gái, thơ ngây hay trưởng thành, 'bác' Hồ ban lời khuyên răn với tư tưởng sâu sắc rút từ Hồng Thư của Mao. Với trẻ em, Bác khuyên 'làm việc tốt, học tốt, kỷ luật tốt, giữ vệ sinh tốt, khiêm nhường, và luôn luôn đề cao cảnh giác.' Đề cao cảnh giác ở đây phải hiểu là con cái tố giác cha mẹ, anh em họ hàng, láng giềng, bạn bè." Oliver Todd đã lột trần được một cách tài tình bản chất nham hiểm và luân lý giả dối của Hồ Chí Minh.
Phe Đồng Minh thắng phe Trục. Từ vĩ tuyến 16 trở về Bắc, quân của Trung Hoa Quốc Dân Đảng do hai tướng Lư Hán và TiêuVăn vào Việt Nam giải giáp quân Nhật. Vào Việt Nam với đội quân của hai tướng có các lực lượng cách mạng Việt Nam. Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam thì do quân đội Anh và một số nước Đồng Minh vào giải giới quân đội Nhật. Người Anh đã giúp cho người Pháp, lúc đó do tướng Jacques Leclerc lãnh đạo, nắm lại chính quyền ở miền Nam. Sợ hãi bản thân mình và Đảng Cộng Sản bị mất quyền, Hồ Chí Minh ra chiến dịch Tuần Lễ Vàng, thu gom vàng bạc để "mua súng đạn bảo vệ Tổ Quốc" nhưng thực chất là để hối lộ cho hai tướng Lư Hán và Tiêu Văn để hai tướng này không giúp cho các lực lượng cách mạng Việt Nam chống lại Việt Minh. Y còn ma mãnh cung phụng gái tơ và số bạch phiến lớn cho hai tướng này. Thế là hai tướng này làm ngơ để cho y nắm quyền. Song song, y gặp cụ Nguyễn Hải Thần, ôm cụ Nguyễn Hải Thần khóc nức nở nói: "Thực Dân Pháp đã vào Sài Gòn. Cả Nam Bộ lại lọt vàoo tay thực dân Pháp. Vậy tha thiết mong cụ và các anh em Việt Nam Quốc Dân Đảng hãy vì Tổ Quốc Việt Nam gánh vác trách nhiệm chung với chúng tôi..."Cụ Nguyễn Hải Thần bùi ngùi, vì cụ đâu ngờ Hồ Chí Minh gian manh như vậy, thế là cụ triệu tập phiên họp các lực lượng phe Quốc Gia. Người Quốc Gia, lúc đó vì mong muốn đất nước độc lập, vì chưa hiểu rõ Cộng Sản, nên hợp tác với Việt Minh do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Riêng cụ Nguyễn Hải Thần, biết rằng Hồ Chí Minh chơi xỏ cụ nhiều cú, nhưng vì lòng vị tha, cụ bỏ qua hết mong rằng đất nước được độc lập. Sau này, khi đã gạt được phe người Quốc Gia ra, và cụ Nguyễn Hải Thần đã chạy sang Trung Hoa lánh nạn, họ Hồ phát động chiến dịch làm hình nộm bôi nhọ cụ Nguyễn Hải Thần là ham mê hút thuốc phiện, mê gái, mê tiền, ham công danh phú quý làm tay sai cho Trung Quốc. Y đã không từ một lời nào để thóa mạ cụ Nguyễn Hải Thần. Vô ơn, bạc nghĩa là bản chất của Hồ Chí Minh là thế.

Thời gian đầu, vì còn yếu, nên Hồ Chí Minh còn tương nhượng với phe Quốc Gia. Bề ngoài thì Hồ ngon ngọt, bề trong thì Hồ cho đàn em đâm bị thóc thọc bị gạo làm cho phe Quốc Gia nghi ngờ lẫn nhau. Hồ họp hội nghị với người Pháp tại Đà Lạt, và Hồ đã khôn khéo gài độ để cho ông Nguyễn Tường Tam, lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân Đảng, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao, phải chịu trách nhiệm vì những hiệp định nhường bước cho người Pháp. Hồ làm như vậy để làm cho quần chúng phẫn uất với các lực lượng Quốc Gia. Tháng 3 năm 1946, quân đội Pháp đổ quân lên Hải Phòng, và một vài đại đội của tướng Jacques Leclerc đã vào Hà Nội. Hồ đã dùng lực lượng của người Pháp sát hại vô số những người Quốc Gia. Người Quốc Gia bấy giờ mới biết rõ bộ mặt thật lật lọng của Hồ Chí Minh nhưng đã quá muộn. Trong khi đó, Hồ ngụy tạo những vụ án đổ oan cho Việt Nam Quốc Dân Đảng như vụ Ôn Như Hầu để bắt nhốt nhiều đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng. Hồ còn cho người bắt cóc và thủ tiêu những người lãnh đạo phe Quốc Gia có uy tín như nhà văn Khái Hưng Trần Khánh Giư, nhà cách mạng Lý Đông A Nguyễn Hữu Thanh, nhà cách mạng Trương Tử Anh, lãnh tụ Phật Giáo Hòa Hảo ở trong Nam là Đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Số v.v. Những người còn sống sót như cụ Nguyễn Hải Thần, ông Vũ Hồng Khanh, ông Nghiêm Kế Tổ, v.v., rút về chiến khu Vĩnh Phúc Yên, Yên Báy và sau đó, một số lưu vong sang Trung Hoa.

Hội Nghị Fontainbleau ở Pháp từ tháng 6 đến tháng 9 năm 1946 dẫn đưa đến sự nhục nhã cho Hồ Chí Minh. Pháp và phe Việt Minh không đạt được thỏa thuận. Từ ngày 20 tới ngày 23 tháng 11 năm 1946, hạm đội Pháp nả súng vào Hải Phòng làm cho hơn 6000 người Việt Nam bị thiệt mạng. Việt Minh nhân cơ hội này xách động lòng dân chống Pháp. Đó là một sự may mắn cho Việt Minh, và dân chúng Việt Nam, vì lòng yêu nước, đã hy sinh góp công góp của giúp cho Việt Minh.

Trong khi đó, năm 1948, ở trong Nam, người Pháp đưa Hoàng Để Bảo Đại trở lại nắm quyền. Phe Quốc Gia được thành lập trong Nam.

Năm 1949, Mao Trạch Đông đánh bật được quân đội Trung Hoa Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch sang Đài Loan. Trung Cộng âm thầm viện trợ nhân sự và quân nhu cho Việt Minh. Người ta nói rằng cuộc chiến Điện Biên Phủ không phải do tướng Võ Nguyên Giáp lãnh đạo, mà do các tướng tá của Trung Cộng. Võ Nguyên Giáp chỉ là bù nhìn.

Năm 1951, Đại Hội II Đảng Lao Động tổ chức ở Hà Nội. Để lấy lòng người quốc gia, và để dấu không cho quần chúng biết cái đuôi Cộng Sản của họ, họ Hồ, trên hình thức, ra lệnh giải tán Đảng Cộng Sản.

Từ năm 1952, tại một vài nơi thôn quê hẻo lánh, Hồ Chí Minh chuẩn y kế hoạch của Trường Chinh phát động chiến dịch Đấu Tố Ruộng Đất. Chiến Dịch này chấm dứt năm 1956 và đã giết hại khoảng 2 triệu người vô tội, và hàng chục triệu người mất nhà mất cửa, tang thương đau khổ.

Nhờ sự viện trợ lớn lao của Nga và của Trung Cộng, Việt Minh từng bước một thắng thế. Từ tháng 5 tới tháng 7 năm 1954, Hội Nghị giữa Pháp và Việt Minh, dưới sự giảng hòa và sắp xếp của phe Đồng Minh, diễn ra tại Genève nước Thụy Sĩ. Theo Hiệp Định Genève, Việt Nam chia ra làm 2, từ vĩ tuyến 17 trở về Bắc trao cho Việt Minh, từ vĩ tuyến 17 trở về Nam trao cho phe Quốc Gia, và dự trù sẽ tổng tuyển cử hai miền vào năm 1956 để thống nhất. Năm 1954, ông Ngô Đình Diệm trở về miền Nam Việt Nam làm Thủ Tướng, trở thành đối thủ ghê gớm nhất của Hồ Chí Minh. Lấy lý do vì chưa đủ thời giờ chuẩn bị, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm không chấp thuận việc tổng tuyển cử hai miền vào năm 1956.

Tháng 7 năm 1955, Hồ đi „n Độ, Bắc Kinh, và Moscow. Chuyến đi này Hồ được các chuyên viên thẩm mỹ của Nga giải phẫu để cho họ Hồ có một bộ mặt phúc hậu xứng đáng với vai trò lãnh tụ của y. Trở về lại Việt Nam, theo chỉ thị của Moscow, họ Hồ đổi tên Đảng Cộng Sản thành Đảng Lao Động.

Năm 1956, Hồ chuẩn y chiến dịch bắt giam Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Chiến dịch này gây kinh hoàng cả miền Bắc vì hàng trăm ngàn người bị bắt giam cách oan ức trong nhiều năm trời.

Liên Xô và Trung Cộng bắt đầu có sự xích mích từ khi Khrushchev lên nắm quyền năm 1953. Khrushchev, vì phải cạnh tranh với các đối thủ nên đã ra chính sách Sống Chung Hòa Bình để lấy lòng và sự yểm trợ của Hoa Kỳ và Tây Phương. Mao Trạch Đông đã lên án Khrushchev kịch liệt. Hồ Chí Minh bị kẹt ở thế chính giữa, một là phải theo Trung Quốc, hai là phải theo Liên Xô. Nhưng, Hồ đã đánh đu cách tài tình. Hồ không muốn bị lãnh búa tạ bởi bất cứ ai, bởi Mao hay bởi Khrushchev, nên Hồ đã dùng những nhân vật như Hoàng Văn Hoan thân Trung Cộng, và Lê Duẫn thân Nga để ra đỡ đòn. Hồ cần sự yểm trợ của cả hai quốc gia khổng lồ này để có thể tiến chiếm được miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, sự đánh đu tới một lúc nào đó phải thôi vì cả hai thế lực làm áp lực Hồ phải chọn một trong hai.

Trước tình hình làm áp lực của hai cường quốc, năm 1960, Đảng Lao Động tổ chức Đại Hội Kỳ II˜ Khi ấy, vì chính sách Cải Cách Ruộng Đất làm dân chúng ta thán trăm bề, Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Lao Động đã đổ tội lên đầu Trường Chinh, cách chức Tổng Bí Thư của y. Để giúp cho họ Hồ dễ xử sự, Đảng Lao Động đã chọn Lê Duẫn lên làm Tổng Bí Thư.

Lê Duẫn cấu kết với Trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương của Đảng là Lê Đức Thọ, Bộ Trưởng Nội Vụ Trần Quốc Hoàn, và từ từ Lê Duẫn thao túng quyền hành trong Đảng. Trong cuốn "Đêm Giữa Ban Ngày" của Vũ Thư Hiên, ông cho biết những ai bất mãn với bộ ba này thì đều bị bộ ba này tìm cách sát hại không nương tay. Chính vì thế mà ngay cả Trường Chinh và Phạm Văn Đồng cũng xép re không dám hó hé. Hồ Chí Minh, theo ký giả Oliver Todd, lại còn có những khuyết điểm khác, đó là thích hút thuốc 555 của Anh chớ không thích thuốc Điện Biên của nội địa. Và, theo Vũ Thư Hiên cho thấy, Hồ còn khuyết điểm thích gái tơ. Lê Đức Thọ là người cung phụng cho họ Hồ đầy đủ những nhu cầu này, và để đổi lại, Hồ phải chịu nhường một số quyền lực cho Thọ. Dần dà, Lê Duẫn và Lê Đức Thọ khống chế họ Hồ. Quyền lực của họ Hồ tới giữa năm 1966 coi như chỉ là hình thức.
Hoàng Văn Hoan, một cán bộ cao cấp của ĐCSVN, năm 1976, bị khai trừ khỏi đảng và chạy sang lánh nạn ở bên Trung Quốc, cho biết từ giữa năm 1966 trở đi, không mấy ai được phép gặp họ Hồ nữa. Mọi quyết định đều do Lê Duẫn và Lê Đức Thọ. Theo Hoàng Văn Hoan, Hồ không đồng ý quyết định tổng tấn công miền Nam Việt Nam vào Tết Mậu Thân, nhưng Hồ đã yếu thế nên phải chịu khuất phục quyết định của Lê Duẫn và Lê Đức Thọ.
Những năm cuối đời của Hồ Chí Minh còn rất nhiều bí mật. Ngày 3 tháng 9 năm 1969, đài phát thanh Hà Nội công bố Hồ Chí Minh qua đời vì yếu bệnh. Nhưng tin hành lang của những đảng viên cao cấp Cộng Sản bàn tán nói rằng Hồ Chí Minh qua đời vì ở đàng sau ót của y có lỗ hổng, dấu vết của viên đạn. Giây phút cuối đời của họ Hồ chỉ có sự hiện diện của Lê Duẩn nên người ta cho rằng chính Lê Duẫn đã hạ sát Hồ Chí Minh. Người ta còn bàn ra tán vào Lê Duẫn đã sửa di chúc của Hồ Chí Minh, vì theo họ, Hồ Chí Minh muốn sau khi chết, xác y được đốt thành tro chớ không đem ướp và xây lăng. Hư thực không biết như thế nào, chỉ biết vào ngày 19 tháng 8 năm 1989, khi đó Lê Duẫn đã chết, thông cáo của Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh cho toàn dân biết Hồ Chí Minh chết vào ngày 2 tháng 9 năm 1969 chớ không phải chết vào ngày 3 tháng 9 năm 1969 như đã loan báo trước kia. Lý do loan tin sai biệt ngày chết của Hồ, theo Nguyễn Văn Linh: "Để ngày Bác mất không trùng với ngày vui lớn của cả dân tộc." Ngày vui lớn đây mà Nguyễn Văn Linh muốn ám chỉ tức là Ngày Quốc Khánh 2 tháng 9 của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Thế thì tại sao năm 1989 lại công bố để cho niềm vui đó bị hoen ố? Rõ ràng có điều gì bí ẩn sau cái chết của Hồ Chí Minh!!!

Sơ lược tiểu sử Hồ Chí Minh chúng ta đã nhìn ra có quá nhiều sự gian trá, phi luân và phi dân tộc. Chắc chắn trong những năm tháng tới, khi thể chế Cộng Sản sụp đổ tại Việt Nam, lịch sử sẽ vén lên nhiều bức màn bí mật về nhân vật này. Càng vén lên những bức màn bí mật, chúng ta càng cảm thấy hổ thẹn vì có một con người Việt Nam kỳ cục như vậy. Hồ Chí Minh là một tội đồ của dân tộc Việt Nam đáng bị khinh miệt và nguyền rủa qua muôn thế hệ. Chẳng lẽ Đảng Cộng Sản Việt Nam lại muốn cho những thế hệ Việt Nam học lấy tư tưởng phi dân tộc, lừa thày phản bạn, gây thù oán của Hồ Chí Minh và đem ra áp dụng trong cuộc sống?.
Hoàng Duy Hùng
Posted by giahoithutrang at 22:41
Labels: NGUYỄN THIÊN THỤ * TÀI LIỆU VỀ HỒ CHÍ MINH