Search This Blog

Sunday, April 21, 2019

Mùa Phục Sinh, Giáo Hội làm thế nào để sống lại? (Phần I)

Đinh Từ Thức 
image.png

Hai ngày lễ lớn của Giáo Hội Công Giáo hàng năm là Sinh Nhật, và Phục Sinh. Phục Sinh quan trọng hơn Sinh Nhật, bởi ai cũng có sinh rồi tử, chỉ riêng Jesus sau tử lại có phục sinh, chết ba ngày rồi sống lại. Nếu không có Phục Sinh, đã không có Giáo Hội Công Giáo.
Ý nghĩa quan trọng nhất của Phục Sinh là chết đi rồi sống lại. Chết với cái xấu và sống lại với những gì tốt đẹp hơn. Mùa Phục Sinh năm 2019, nhiều cái xấu đang làm Giáo Hội chết đi, nhưng rồi, Giáo Hội làm thế nào để có thể sống lại, và sống tốt đẹp hơn?
Giáo Hội và Hồng Y bị đóng đinh
image.png
Hồng Y George Pell bị toà án Melbourne, Úc, xử 6 năm tù về tội xâm phạm tình dục
Hai ngàn năm trước, Jesus bị đóng đinh cùng với hai người khác. Hai người này thuộc thành phần vô danh. Theo Tân Ước bản dịch cũ, như King James, được phổ biến rộng rãi, gọi họ là hai kẻ trộm (two thieves) (Mt.27:38). Tân Ước bản dịch mới, như New International version, gọi họ là hai kẻ nổi loạn (two rebels). Thánh Kinh do Tòa Tổng Giám Mục TP/HCM Việt Nam, thực hiện năm 1998, gọi họ là hai tên cướp. Dù họ làm gì, cũng không có liên hệ và ảnh hưởng tới uy tín cùng sự nghiệp của Jesus.
Năm 2019, Giáo Hội Công Giáo của Jesus bị đóng đinh cùng với ba tên tuổi lớn, thuộc thành phần lãnh đạo cao cấp của Giáo Hội, chỉ sau Giáo Hoàng. Với tội danh không phải ăn trộm, ăn cướp hay nổi loạn, mà tất cả đều liên hệ tới tình dục; một loại tội ghê tởm theo giới răn của Giáo Hội. Họ là các Hồng Y George Pell, Bộ Trưởng kinh tế kiêm tài chánh của Giáo Triều Roma, thành viên ban cố vấn của Giáo Hoàng, nguyên Tổng Giám Mục Sydney và Melbourne, Úc; Hồng Y McCarrick, nguyên Tổng Giám Mục Washington, Hoa Kỳ; và Hồng Y Philippe Barbarin, Tổng Giám Mục Lyon, Pháp.
George Pell bị toà án Quận Melbourne xử 6 năm tù giam vì tội xâm phạm tình dục thiếu niên trong hội hát, khi làm Tổng Giám Mục. Nội vụ đã chống án, đợi phán quyết của tòa trên. McCarrick không bị tòa thế tục xét xử, bị Giáo Hoàng truất chức hồng y, bắt phải ẩn dật ăn năn đến hết đời, trước khi bị tòa án Giáo Hội tước bỏ cả chức linh mục, trở lại là một giáo dân thường; tội lỗi được nêu ra, khi còn là linh mục, ông đã xâm phạm tình dục thiếu nhi, và khi là giám mục, xâm phạm chủng sinh và các linh mục trẻ. Điều đáng sợ là ông phạm tội từ khi còn là linh mục mới chịu chức, và vẫn tiếp tục phạm tội trong khi tiếp tục được thăng chức, từ linh mục, giám mục, tổng giám mục và cuối cùng là hồng y. Barbarin chỉ bị tòa thế tục xử án treo về tội bao che linh mục dưới quyền xâm phạm tình dục, đã xin từ chức ngay. Nhưng Giáo Hoàng Francis không chấp nhận, đợi kết quả chống án rồi mới có thái độ dứt khoát.
Mùa Chịu Nạn năm 2019, không phải chỉ có ba Hồng Y bị “đóng đinh.” Còn hàng ngàn vụ tố cáo các linh mục hoặc tu sĩ, nam và cả nữ, về tội xâm phạm tình dục, xảy ra tại khắp nơi, từ Bắc tới Nam Mỹ, Âu châu và Úc châu, Phi châu và Á châu. Các nhà lãnh đạo Giáo Hội đã nhìn vào đại nạn này như thế nào?
Trong hàng giáo phẩm cao cấp, từ giáo hoàng, hồng y và giám mục, tuỳ theo khuynh hướng, đã có lối nhìn khác nhau. Mặc dù chuyện lạm dụng tình dục trong hàng giáo sĩ đã xảy ra từ lâu, nhưng khi nó bùng nổ gần đây, phía bảo thủ, tiêu biểu là nguyên Khâm Sứ Toà Thánh tại Hoa Kỳ, Tổng Giám Mục Viganò, đã vội vàng nắm lấy cơ hội, quy trách nhiệm cho đương kim Giáo Hoàng Francis, với những chỉ trích thậm tệ, và đòi Ngài phải từ chức; chuyện vô cùng hiếm trong văn hoá giáo hội, vốn đề cao đức vâng lời và kính trọng bề trên.
Một Giáo Hội hai Giáo Hoàng
image.png
Đương kim Giáo Hoàng Francis (trái) và Giáo Hoàng từ chức Benedict XVI
Vào thập kỷ đầu thế kỷ 21, nạn xâm hại tình dục nổ lớn trước tiên, không phải tại một nơi mới được biết tới đạo Công Giáo, mà tại một nước Công Giáo kỳ cựu, là Ái Nhĩ Lan (Ireland). Theo Giáo Hoàng Biển Đức XVI (Benedict XVI), “hầu như gia đình nào ở Ireland cũng có người — một con trai hay con gái, một chú bác hay cô dì — đã hiến dâng đời mình cho Giáo Hội.” Như một trái bom nổ ra giữa thành trì kiên cố nhất của Giáo Hội, khiến nhiều người sửng sốt. Qua Thư Mục Vụ (Pastoral Letter) viết cho Giáo Hội Công Giáo Ireland, đề ngày 19 tháng 3, 2010, Giáo Hoàng Benedict đã bầy tỏ quan điểm của mình qua mấy trích đoạn tiêu biểu sau:
…. Giống như anh chị em, tôi đã cảm thấy buồn phiền sâu xa trước tin tức liên hệ tới việc xâm hại trẻ em và những người trưởng thành dễ bị thương tổn, gây ra bởi các thành phần Giáo Hội Ireland, cách riêng là các linh mục và tu sĩ. Tôi chỉ có thể chia sẻ sự kinh ngạc và cảm giác bị phản bội của rất nhiều người trong số các bạn khi được biết về những hành động tội lỗi và phạm pháp này, và cách đối phó với chúng của giới thẩm quyền Giáo Hội Ireland.”
…. Để hồi phục từ vết thương nghiêm trọng này, trước hết, Giáo Hội Ireland phải nhìn nhận trước Thiên Chúa và trước những người khác về nhũng tội lỗi đã xâm phạm tới những người trẻ không tự vệ. Sự thừa nhận này, cùng với thành thật hối tiếc về nhũng thiệt hại đã gây ra cho các nạn nhân và gia đình họ, phải đưa tới những nỗ lực phối hợp để bảo đảm cho trẻ em trước những tội phạm tương tự có thể xảy ra trong tương lai”.
…. Để đối phó với cuộc khủng hoảng hiện tại, tìm các biện pháp đúng để đáp ứng với các tội phạm cá nhân là cần thiết, nhưng chỉ có vậy thì chưa đủ: một lối nhìn mới là cần thiết hầu có thể gây cảm hứng cho các thế hệ hiện tại và tương lai để nhận lãnh tặng phẩm của đức tin chung. Bằng cách đi theo con đường ghi dấu bởi Tin Mừng, bằng cách tuân theo các điều răn và bằng cách sống một đời sống gần với hình ảnh Jesus Christ hơn, chắc chắn các bạn sẽ trải qua một cuộc sống mới sâu xa hơn là điều rất cần thiết bây giờ. Tôi mời gọi tất cả hãy kiên trì theo con đường này.”
Để đối phó với tình thế, Giáo Hoàng kêu gọi mọi người kiên trì theo đuổi một lối nhìn mới, một nếp sống mới, nhưng chính Ngài đã không thể kiên trì. Ngài đã bỏ cuộc bằng cách đột ngột từ chức vào tháng 2, 2013; một việc làm xảy ra lần đầu trong 600 năm.
Đầu thế kỷ 15, cùng lúc Giáo Hội có tới ba giáo hoàng. Một người được bầu với một số điều kiện, ở Roma, là Gregory XII (1406-1415); hai người kia là Benedict XIII, ở Avignon – Pháp, và Alexander V, ở Pisa – Bắc Ý (nơi có tháp nghiêng nổi tiếng), và người kế vị Alexander V, là John XXIII. Những người sau bị coi là “nguỵ giáo hoàng” (antipope), vì không được bầu đúng truyền thống. Để chấm dứt tình trạng phân ly, Gregory XII buộc phải từ chức năm 1415, trở lại làm Hồng Y Giám Mục cho đến khi từ trần hai năm sau (1417). (Năm 1958, John XXIII đã trở thành danh hiệu giáo hoàng chính thức, sau khi Hồng Y Angelo Giuseppe Roncalli được bầu làm Giáo Hoàng kế vị Pius XII).
Giáo Hoàng Benedict XVI từ chức năm 2013 trong điều kiện khác hẳn. Ngài không bị buộc từ chức, và không phải là đối thủ của Giáo Hoàng Francis. Sau khi từ chức, thay vì ở ẩn tại một nơi xa xôi kín đáo để đương kim giáo hoàng dễ làm việc, Ngài đã chuẩn bị sẵn cho mình một nơi ở tiện nghi đẹp đẽ ngay tại Vatican, được tân trang từ một nữ tu viện không còn xử dụng. Các giới chức cao cấp trong giáo triều cũ của ngài cũng vẫn lưu lại ở Vatican, và thường xuyên gặp gỡ vị chủ chăn cũ của mình. Nước Anh có một chính quyền chính thức cai trị, và một “chính phủ trong bóng tối” của đảng đối lập. Sau khi hết nhiệm kỳ, Obama cũng sống ngay tại Washington, không xa Bạch Ốc của Trump. Nhưng Anh, Mỹ là các nước dân chủ, và đủ rộng cho cả phe cầm quyền và đối lập cùng hoạt động. Cấu trúc Giáo Hội theo hình thức độc tài, và Vatican quá nhỏ hẹp để cả hai phía cấp tiến và bảo thủ cùng chung sống hòa bình, dù cùng là con cái Chúa. Hậu quả là những gì phải đến, đã đến.
Lão tướng xuất chưởng
Sau những hoạt động hậu trường âm thầm của phe bảo thủ, và sau phát súng khai hỏa của cựu Khâm Sứ Toà Thánh Viganò, Lão Tướng Benedict đã chính thức xuất đầu lộ diện. Nếu thực sự muốn giúp người kế nhiệm, có nhiều cách kín đáo và thuận tiện để thể hiện sự đóng góp của mình. Nhưng Ngài đã chọn hình thức đương đầu công khai, bằng cách viết thư ngỏ đăng báo, để mọi người cùng biết.
Lá thư dài sáu ngàn chữ, đăng trên nguyệt san Klerusblatt của Giáo Phận Bavaria, Đức, vào đầu tuần lễ thứ nhì của tháng Tư, và mau chóng được trích dịch truyền đi khắp thế giới. Thư gồm ba phần, đưa ra quan điểm và lập luận trái hẳn với chủ trương đường lối của Giáo Hoàng Francis, về vấn đề nóng bỏng là nạn xâm hại tình dục giới trẻ.
Thay vì trắc ẩn với hoàn cảnh đau khổ của các nạn nhân, vị Giáo Hoàng Niên Trưởng đổ lỗi cho cuộc cách mạng xã hội giải phóng tình dục vào năm 1968, nói rằng, vì biến cố này, nạn ấu dâm đã coi như “được phép và hợp thời” (allowed and appropriate).
Sau khi đổ lỗi cho hoàn cảnh xã hội, và bỏ qua những sai lầm về phía Giáo Hội, ở cuối thư, Ngài còn đổ lỗi cho sự lơ là của người đời đối với Thiên Chúa. Ngài đặt câu hỏi: “Why did pedophilia reach such proportions?” Tại sao nạn ấu dâm đã đạt tới mức độ đó? Rồi Ngài tự trả lời: Cuối cùng, lý do là sự vắng mặt của Chúa. “Ultimately, the reason is the absence of God.” Lập luận của Ngài, giống như phát ngôn từ Thiên Đàng, hay từ một hành tinh nào đó hoàn toàn xa lạ với thế giới loài người. Thử hỏi, ở đâu sự hiện diện của Chúa rõ rệt, lồng lộng, bao trùm, chan hòa, cụ thể, như tại phòng thay áo lễ cạnh Cung Thánh nhà thờ, tại nơi cư ngụ của các giám mục, linh mục, chủng viện, và nhất là tại toà giải tội, nơi giáo sĩ là hiện thân của Chúa, thay mặt Chúa tha thứ cho những kẻ tội lỗi. Vậy mà, tội lỗi đã từng xảy ra tại chính những nơi đó. Có phải là những nơi vắng mặt Chúa? Theo một bài trên AP ngày 28 tháng 7, 2018, một nữ tu sĩ tay cầm tràng hạt, cho biết 18 năm trước, tức là năm 2000, bà đã bị một linh mục giáo sư tấn công tình dục, ngay trong lúc bà đang xưng tội với ông này tại trường đại học Bologna ở Ý. Bologna là đại học có tuổi thọ một ngàn năm, được Thánh Hoàng Đế La Mã (Holy Roman Emperor) Frederick Barbosa chính thức cho thành lập vào thế kỷ 12, nơi từng đào tạo bốn giáo hoàng cho Giáo Hội (Alexander VI, Innocenti IX, Gregory XIII, và Gregory XV), và nhiều cựu sinh viên đã được phong thánh, có người nổi tiếng như Thomas Becket. Giáo Hội luôn khẳng định Chúa có mặt mọi nơi, mọi lúc. Tại sao một người từng thay mặt Chúa đứng đầu Hội Thánh có thể nói rằng tội lỗi xảy ra vì vắng mặt Chúa?
Xấu hổ và ăn năn
Nếu từ chức là cách trút bỏ một gánh nặng khôn kham thì Giáo Hoàng Benedict đã có một quyết định tiên tri. Cái gánh xâm hại tình dục được trao sang vai người kế nhiệm ngày càng nặng hơn, cả về trọng lượng lẫn uế khí.
Cố lấy lại thăng bằng sau mấy bước hụt hẫng ban đầu, đương kim Giáo Hoàng Phan Xi Cô (Francis), trong văn thư gửi toàn thể dân Chúa (People of God) ngày 20 tháng 8, 2018, có những đoạn viết như sau:
Gần đây, một báo cáo đã được công bố, tường trình chi tiết về ít nhất một ngàn người đã bị xâm hại tình dục, là nạn nhân của sự lạm dụng quyền lực và lương tâm do các linh mục gây ra trong thời gian vào khoảng 70 năm. Mặc dầu có thể nói phần lớn những chuyện này thuộc về quá khứ, tuy nhiên, với thời gian, chúng ta biết được sự đau khổ của nhiều trong số các nạn nhân. Chúng ta đã nhận ra rằng những thương tổn này không bao giờ biến đi, và nó bắt chúng ta phải lên án mạnh mẽ sự tàn bạo này và cùng chung sức nhổ tận gốc rễ cái văn hoá của sự chết này. Những trái tim quặn đau của các nạn nhân, kêu thấu trời cao, từ lâu đã bị bỏ mặc, giữ im lặng hay đã bị bưng bít. Nhưng tiếng kêu của họ đã mạnh hơn tất cả các biện pháp để giữ cho họ im lặng hay tính toán bằng những quyết định khiến tình trạng nguy hại hơn vì rơi vào cảnh đồng loã. Chúa đã nghe được tiếng kêu đó, và một lần nữa, chỉ cho chúng ta vị trí của Người….” 
Với xấu hổ và ăn năn, chúng ta thừa nhận như một cộng đồng Giáo Hội rằng, chúng ta đã không có mặt ở nơi đáng lẽ chúng ta phải có mặt, chúng ta đã không hành động đúng lúc và đúng cách, để thấu nhận tầm mức và sự nghiêm trọng đã làm hại biết bao nhiêu cuộc sống. Chúng ta đã không tỏ ra quan tâm đối với các trẻ nhỏ, chúng ta bỏ rơi các em. Tôi nhắc lại lời của người khi theo Đàng Thánh Giá vào Thứ Sáu Tuần Thánh năm 2005, lúc còn là Hồng Y Ratzinger (trước khi thành Giáo Hoàng Benedict XVI), đã gắn bó với tiếng than đau đớn của biết bao nạn nhân, và kêu lên rằng: “Còn bao nhiêu chuyện dơ bẩn nữa trong Giáo Hội, và ngay cả trong số những người, trong chức linh mục, đáng lẽ đã phải hoàn toàn thuộc về Đấng Cứu Thế! Bao nhiêu tự hào, bao nhiêu tự mãn! Chúa đã bị phản bội bởi các tông đồ của Người, những kẻ không xứng đáng nhận lãnh mình và máu Người, chắc chắn đó là sự đau khổ kéo dài lớn nhất đối với Đấng Cứu Chuộc, nó xuyên qua trái tim Người. Chúng ta chỉ có thể kêu lên từ đáy lòng: Kyrie eleison — Xin Chúa thương xót chúng con!
Cần thay đổi cá nhân và cộng đồng
“Tầm mức và sự nghiêm trọng của tất cả những gì đã xảy ra đòi hỏi phải nắm vững thực tế một cách toàn diện và toàn thể (cộng đồng). Trong khi quan trọng và cần thiết trên mỗi cuộc hành trình của sự chuyển đổi là phải nhận biết sự thật về những gì đã xảy ra, điều này tự nó chưa đủ. Hiện nay chúng ta đang bị thử thách như là Dân Chúa để chia sẻ nỗi đau của anh chị em về thể xác và tâm hồn. Nếu trong quá khứ có thiếu sót trong đáp ứng, hôm nay chúng ta muốn có liên kết, theo nghĩa sâu đậm và thử thách nhất, để trở thành đường lối của chúng ta làm nên lịch sử hiện tại và tương lai. Và đây là một môi trường nơi những xung đột, căng thẳng, và trên hết, tất cả nạn nhân của mọi thứ lạm dụng có thể tiếp cận cánh tay rộng mở để bảo vệ họ, và cứu họ khỏi đau đớn. Một sự đoàn kết như vậy đòi hỏi đến lượt chúng ta phải lên án bất cứ hiểm nguy nào đối với bất cứ ai. Một sự đoàn kết triệu tập chúng ta chống lại mọi thứ đồi bại, nhất là những đồi bại về tinh thần—đây chính là một hình dạng mù lòa qua bản sắc ung dung và tự mãn, từ đó mọi sự đều có vẻ được chấp nhận: lừa dối, vu khống, ích kỷ, và những trường hợp không dễ phát hiện, như điều tự coi mình là trung tâm, vì “ngay cả quỷ Satan cũng có thể đội lốt thiên thần của ánh sáng.” Thánh Phao Lồ đã kêu gọi “cùng đau với những người đau là bài học tốt nhất” đế chống những ai muốn lập lại thái độ của Cain ‘Có phải tôi là người coi giữ em tôi?’ (Gen 4:9).
Tôi biết rõ những nỗ lực và việc làm đang được thực hiện tại nhiều vùng trên thế giới để đưa ra những biện pháp cần thiết hầu bảo đảm an toàn cho trẻ em và những người trưởng thành dễ bị hại, cũng như thi hành biện pháp không khoan nhượng (zero tolerance) và bắt tất cả những thủ phạm hay bao che tội phạm phải chịu trách nhiệm. Chúng ta đã chậm trễ trong việc áp dụng những hành động và hình phạt rất cần thiết này, tuy vậy, tôi tin tưởng chúng sẽ giúp để bảo đảm một văn hóa quan tâm hơn trong hiện tại và tương lai.
Cùng với những nỗ lực đó, tất cả những ai đã chịu phép rửa tội nên cảm thấy mình can dự vào giáo hội và sự thay đổi xã hội mà chúng ta rất cần. Sự thay đổi này đòi hỏi nỗ lực hoán cải cá nhân và cộng đồng để chúng ta có thể nhìn mọi sự như Chúa nhìn. Vì như Thánh John Paul II thường nói: “Nếu chúng ta đã thực sự được phục sinh qua cách chiêm niệm về Đấng Cứu Thế, chúng ta phải học cách nhìn Người nhất là trên mặt những người mà Chúa muốn được nhận diện.” Nhìn sự việc như Chúa nhìn, có mặt nơi Chúa muốn mình có mặt, trải nghiệm sự hoán cải con tim trong sự hiện hữu của Người. Cầu nguyện và ăn năn sẽ giúp làm việc đó. Tôi mời gọi toàn thể tín hữu thánh thiện trong Dân Chúa thực hiện một cuộc ăn năn cầu nguyện và hãm mình theo ý Chúa. Điều này có thể đánh thức lương tâm chúng ta và đưa tình đoàn kết cùng cam kết của chúng ta tới một nền văn hóa quan tâm, kèm lời kêu gọi “không bao giờ nữa” với mọi hình thức lạm dụng.
Không thể nghĩ tới một quá trình hoán cải hành động của chúng ta, như là một Giáo Hội, mà không bao gồm sự tham dự của toàn thể thành phần Dân Chúa. Thật vậy, bất cứ khi nào chúng ta thử thay thế, làm im tiếng, bỏ mặc hay giảm thiểu Dân Chúa thành một nhóm ưu tú, chúng ta đều đi tới chỗ tạo ra những cộng đồng, những dự án, khuynh hướng thần học hay cấu trúc không gốc rễ, không trí nhớ, không diện mạo, không cơ thể, và cuối cùng, không sự sống. Điều này được thấy rõ trong cách diễn dịch thẩm quyền của Giáo Hội một cách khá kỳ lạ, trong rất nhiều cộng đồng, nơi sự lạm dụng tình dục, quyền hành và lương tâm đã thường xảy ra. Thí dụ như chủ nghĩa giáo quyền (clericalism), một đường lối không những vô hiệu hóa đặc tính của người Thiên Chúa Giáo, nhưng còn có chiều hướng làm giảm và làm mất đi giá trị ơn phúc rửa tội đã được Chúa Thánh Thần đặt trong tâm hồn của dân chúng ta. Chủ nghĩa giáo quyền, dù được nuôi dưỡng bởi giáo sĩ hay tín hữu, đều đưa tới sự cắt đứt ra khỏi cơ thể giáo hội, vì nó luôn luôn dung túng những độc hại mà chúng ta đang lên án hôm nay. Khẳng định “không” với lạm dụng là khẳng định “không” với mọi hình thức của giáo quyền.
Luôn có ích khi nhắc nhở rằng “trong lịch sử cứu chuộc, Chúa đã cứu một dân tộc. Chúng ta không bao giờ hoàn toàn là chúng ta trước khi chúng ta thuộc về một dân tộc. Đó là điều tại sao không ai được cứu vớt một mình, như một cá nhân đơn độc. Hơn thế, Chúa lôi kéo chúng ta về với Người, nhìn nhận sự phức tạp của mọi liên hệ cá nhân trong cộng đồng nhân loại. Chúa muốn nhập vào trong đời sống và lịch sử của một dân tộc. Vì vậy, chỉ còn môt cách chúng ta phải chọn để đối phó với thứ ma quỷ đã làm đen tối nhiều cuộc đời, là coi vấn nạn này như trách nhiệm ảnh hưởng đến tất cả chúng ta trong cộng đồng Dân Chúa. Sự nhận biết mình là thành phần của một dân tộc và cùng chia sẻ một lịch sử sẽ giúp chúng ta hiểu được những tội lỗi trong quá khứ, và những sai lầm với một sự ăn năn rộng mở có thể cho phép chúng ta đổi mới từ bên trong. Thiếu hành động tham dự của tất cả thành viên Giáo Hội, tất cả những gì có thể làm để nhổ hết gốc rễ lạm dụng trong cộng đồng chúng ta sẽ không thành công trong việc tạo ra một động lực cần thiết cho một sự thay đổi có ý nghĩa và thiết thực. Tầm cỡ của một cuộc ăn năn, hãm mình và cầu nguyện sẽ giúp chúng ta như Dân Chúa, tiến tới trước mặt Chúa và các anh chị em bị thương tổn của chúng ta, như những kẻ có tội cầu khẩn được tha thứ và ơn phúc cho sự xấu hổ và thay đổi. Bằng cách này, chúng ta sẽ có khả năng tạo ra nguồn lực phù hợp với Tin Mừng. Vì “bất cứ khi nào chúng ta cố gắng trở về nguồn và tìm lại sự tươi mát của Tin Mừng nguyên thuỷ, con đường mới sẽ phát sinh, lối mới sáng tạo sẽ mở ra, với những hình thức biểu đạt khác biệt, nhiều dấu hiệu mạnh mẽ hơn, và lời nói với ý nghĩa mới cho thế giới hôm nay.
Điều cần thiết là chúng ta, như một Giáo Hội, có thể nhìn nhận và lên án, với đau khổ và xấu hổ, những vi phạm khủng khiếp của những người tận hiến, giáo sĩ, và tất cả những người đã được tin cậy với sứ mạng săn sóc cho thành phần dễ bị thương tổn nhất. Chúng ta hãy cầu xin sự tha thứ cho tội lỗi của mình và của những người khác. Sự nhìn nhận tội lỗi giúp chúng ta nhận ra những sai lầm, những tội phạm và thương tổn gây ra trong quá khứ, và cho phép chúng ta, trong hiện tại, được cởi mở hơn để tham dự vào cuộc hành trình đổi mới.
Tương tự, ăn năn và cầu nguyện sẽ giúp chúng ta mở con mắt mình và tâm hồn mình, hướng tới những đau khổ của người khác, và để vượt qua cơn đói khát quyền lực và sở hữu, thường là nguồn gốc của ma quỷ. Mong sự ăn chay và cầu nguyện mở tai chúng ta, để nghe được những đau đớn hằng bị ỉm đi của trẻ thơ, giới trẻ và người khuyết tật. Ăn chay để giúp chúng ta đói và khát công lý, buộc chúng ta bước trong sự thật, và ủng hộ tất cả những biện pháp cần thiết về pháp lý.
Ăn chay để được rúng động, để giúp chúng ta dấn thân vào sự thật và bác ái với tất cả những nam và nữ giầu thiện chí, và với xã hội nói chung, để đối đầu mọi hình thức lạm dụng về quyền lực, tình dục, và lạm dụng lương tâm.
Bằng cách này, chúng ta có thể bầy tỏ rõ ràng sứ mệnh của chúng ta để trở thành “một biểu hiệu và công cụ hiệp thông với Chúa và với sự đoàn kết trong toàn thể nhân loại.”
Cần khiêm nhường và biết nghe
Để giải quyết vấn đề, Giáo Hoàng Francis đã triệu tập một Hội Nghị Thượng Đỉnh Giám Mục bất thường, gồm tất cả gần 200 Chủ Tịch các Hội Đồng Giám Mục toàn thế giới tham dự. Hội nghị diễn ra tại Roma, từ 21 đến 24 tháng 2, 2019.
Ngày bế mạc Hội Nghị, Giáo Hoàng đã không đưa ra được những biện pháp cụ thể cho vấn nạn xâm hại tình dục. Tuy nhiên, một tháng sau, ngày 25 tháng 3, 2019, qua Tông Huấn Christus Vivit – Đức Kitô sống–Giáo Hoàng Francis đã đề cập tới một số biện pháp đáng chú ý, như Giáo Hội cần thay đổi để sống còn, và vai trò cuả phụ nữ.
Tông Huấn khá dài, gồm 9 chương và 299 đoạn, trọng tâm là vai trò của giới trẻ. Tiếc rằng trong phần tóm tắt bằng Việt ngữ của Vaticannews, thông tấn chính thức của Vatican, đã bỏ qua những đoạn quan trọng sau đây:
39. Mặc dầu đối với nhiều người trẻ, Thiên Chúa, tôn giáo và Giáo Hội có vẻ chỉ là những từ trống rỗng, họ cởi mở với hình ảnh của Jesus khi được trình bầy một cách hấp dẫn và hữu hiệu. Vậy thì Giáo Hội không nên quá bận tâm về mình, nhưng thay vào đó, và trên hết, phản ảnh Jesus Christ. Nghĩa là phải khiêm nhường thừa nhận rằng, có những chuyện cụ thể cần thay đổi, và để chuyện này có thể xảy ra, Giáo Hội cần biết ghi nhận viễn kiến và cả những chỉ trích của giới trẻ.
40. Hội Nghị Thượng Đỉnh Giám Mục nhận thấy rằng “một số đông giới trẻ, với đủ thứ lý do, không đòi hỏi Giáo Hội bất cứ điều gì, vì họ không thấy [GH] là cái gì cần thiết cho đời sống của họ, ngay cả có nhiều người nói thẳng là hãy để cho họ yên, vì họ thấy sự hiện diện của GH là một phiền toái, làm họ bực mình. Thái độ này không phải lúc nào cũng bắt nguồn từ sự coi thường, thiếu ý thức hay lơ là. Nó cũng có thể phát xuất từ những lý do quan trọng có thể hiểu được, như: những tai tiếng về tình dục và tài chánh; một giáo sĩ thiếu chuẩn bị để tiếp cận hiệu quả với những vấn đề nhậy cảm của giới trẻ; sự thiếu sửa soạn cho bài giảng và trình bầy lời Chúa; vai trò lép vế coi là đương nhiên của giới trẻ trong cộng đồng Thiên Chúa Giáo; nỗi khó khăn của Giáo Hội trong việc giải thích chủ thuyết của mình và đạo đức chức vụ trong xã hội hiện tại.
41. Mặc dầu nhiều người trẻ vui mừng khi nhìn thấy một Giáo Hội khiêm nhường nhưng tự tin về những tặng phẩm của mình, và có khả năng cung cấp những chỉ trích thân tình và hợp lý, nhiều người khác muốn một Giáo Hội phải biết nghe nhiều hơn, làm nhiều hơn là chỉ giản dị lên án thế giới. Họ không muốn nhìn thấy một Giáo Hội chỉ lặng thinh và không dám nói, hay chỉ luôn phản biện trước một vài chỉ trích. Để gây niềm tin với giới trẻ, cần có lúc Giáo Hội phải hồi phục sự khiêm nhường và chỉ giản dị lắng nghe, để thấy rằng những gì người khác phải lên tiếng chính là cơ hội soi sáng, nhằm giúp [GH] tiếp nhận Tin Mừng một cách hữu hiệu hơn. Một Giáo Hội luôn ở thế phòng thủ sẽ đánh mất sự khiêm nhường của mình, và không còn nghe được từ người khác, khiến không còn chỗ cho thắc mắc, làm mất sự trẻ trung của Giáo Hội và biến Giáo Hội thành một viện bảo tàng. Vậy, làm thế nào để Giáo Hội đáp ứng những giấc mơ của giới trẻ? Cho dù Giáo Hội nắm được sự thật của Tin Mừng, điều này không có nghĩa Giáo Hội đã hoàn toàn hiểu được [TM], hơn thế, Giáo Hội đang được kêu gọi để tăng cường sức mạnh hầu nắm giữ được kho báu vô tận đó.
42. Thí dụ, một Giáo Hội quá sợ hãi và khư khư với đường lối của mình, có thể luôn kỵ những nỗ lực bảo vệ nữ quyền, bao giờ cũng nêu ra những nguy cơ và tệ hại về những đòi hỏi đó. Thay vào đấy, một Giáo Hội sống có thể phản ứng bằng cách chú tâm vào những đòi hỏi chính đáng của những phụ nữ tranh đấu cho bình đẳng và nền công lý rộng mở hơn. Một Giáo Hội sống cần nhìn lại lịch sử và nhìn nhận một sự phân phối công bằng hơn về chế độ độc đoán của nam giới, sự đàn áp, những hình thức nô lệ khác nhau, lạm dụng và bạo hành tình dục. Với tinh thần hướng ngoại, Giáo Hội có thể ủng hộ lời kêu gọi tôn trọng nữ quyền, và giúp đỡ thiết thực cho sự tương trợ khắng khít hơn giữa nam và nữ, trong lúc có thể không đồng ý với mọi đòi hỏi mà các nhóm vận động nữ quyền đề nghị. Cùng với những điều này, Hội Nghị Thượng Đỉnh Giám Mục khẳng định lời cam kết của Giáo Hội “chống lại mọi kỳ thị và bạo hành dựa trên phái tính.” Đó là sứ mệnh đáp ứng của một Giáo Hội trẻ trung và dấn thân, chịu thử thách và được thôi thúc bởi những vấn đề nhạy cảm của giới trẻ.
96. Đúng rằng “vấn nạn lạm dụng tình dục thiếu niên, như lịch sử đã chứng minh, là một tệ nạn xâm nhập mọi tầng lớp văn hóa và xã hội,” nhất là trong phạm vi gia đình và các cơ sở, mức độ của nó đã được xác nhận “chính là nhờ sự thay đổi trong quan điểm xã hội”. Tuy vậy, vấn nạn này, mặc dù có tính hoàn vũ và “ảnh hưởng trầm trọng đến xã hội chúng ta nói chung … không giảm bớt sự khủng khiếp khi nó xảy ra trong phạm vi Giáo Hội.” Thật vậy, “trong sự phẫn nộ hợp lý của dân chúng, Giáo Hội đã thấy phản ảnh sự phẫn nộ của Chúa, vì chính Ngài đã bị phản bội và xúc phạm.”
97. Hội Nghị Thượng Đỉnh Giám Mục tái xác nhận lời cam kết rằng sẽ có biện pháp nghiêm ngặt để tránh tái diễn những tội ác này. Khởi đầu là việc tuyển chọn và đào tạo những người được trao trách nhiệm lãnh đạo và giáo dục. Cùng lúc, quyết tâm áp dụng “hành động và hình phạt cần thiết” phải được nhắc nhở. Với tất cả tân sủng của Chúa, sẽ không thể trở lại (tình trạng cũ).
98. “Lạm dụng tồn tại dưới nhiều hình thức: lạm dụng quyền lực, lạm dụng lương tâm, lạm dụng tình dục và tài chính. Rõ ràng cách thi hành thẩm quyền hiện thuận tiễn hoặc dung túng những tệ nạn này phải bị loại trừ, và thói vô trách nhiệm cùng thiếu trong sáng, khiến rất nhiều vụ được xét xử đã gặp thử thách. Ý muốn thống trị, thiếu đối thoại và trong sáng, những cuộc sống hai mặt, tinh thần trống rỗng, cũng như tâm lý yếu đuối, đó là mảnh đất thuận tiện cho nhũng lạm phát triển.” Chủ nghĩa giáo quyền là cám dỗ thường trực về phía giáo sĩ, những kẻ quan niệm “sứ vụ ban giao là quyền lực để thi hành, thay vì là một dịch vụ miễn phí và bao dung. Chủ nghĩa này khiến chúng ta nghĩ rằng mình thuộc về một nhóm đã có sẵn mọi đáp ứng và không còn gì cần thiết để nghe hay học hỏi.” Không còn nghi ngờ gì nữa, một chế độ giáo quyền như vậy có thể làm những người tận hiến đánh mất sự kính trọng đối với giá trị thiêng liêng và căn bản của mỗi cá nhân nam nữ cùng với tự do của họ.
*
Tuy ngoài mặt vẫn lịch sự và cung kính lẫn nhau, điều này không thể che dấu sự thật hiển nhiên về mối bất đồng nghiêm trọng giữa hai Giáo Hoàng của Giáo Hội hiện nay. Tuy hai Ngài cùng nói cần phải thay đổi, nhưng một người chủ trương thay đổi để trở về đường lối cũ, tái lập thời đại Giáo Hội và giáo quyền độc tôn, người kia chủ trương thay đổi theo chiều hướng Giáo Hội quên mình, mang hình ảnh Jesus khiêm nhường khó khăn, đồng hành với xã hội hôm nay.
Jesus nói từ hai ngàn năm trước: “Nước nào tự chia rẽ, nước ấy không thể bền. Nhà nào tự chia rẽ, nhà ấy không thể vững” (Mark: 3, 24-25). Nhưng Giáo Hội, ngoài hai giáo hoàng, còn hơn một trăm hồng y, khoảng ba ngàn giám mục, nhiều chục ngàn linh mục, và hơn một tỉ giáo dân. Trong phần II và III của bài này sẽ tiếp tục trình bầy quan điểm tiêu biểu của hai vị Giám Mục đứng đầu hai giáo phận, một ở Úc, và một ở Việt Nam.
(coi tiếp phần II)

Algérie Dậy Sóng

Từ Thức
image.png

Một điều lạ : các médias VN, kể cả báo mạng và báo chí hải ngoại, dồn hết chú tâm vào Venesuela, bỏ quên một cuộc nổi dậy còn ngoạn mục và bất ngờ hơn nữa : Algérie. Những gì đang diễn ra ở Algérie là chuyện không ai tưởng tượng được, chỉ cách đây vài tháng. Kể cả những người thông thạo về Algérie, nhất là những người thông thạo về Algérie. Bởi vì ai cũng nghĩ dân Algérie, thờ ơ và vô cảm, sẽ tiếp tục cam chịu chấp nhận độc tài để sống an phận, qua ngày. Nhưng không, tuổi trẻ Algérie đã đứng dậy đòi tự do, kéo theo cả một dân tộc. 

MURISTES 

Những người có dịp tới thăm Algérie đều biết từ ngữ và hiện tượng ‘’muristes’’. Mur, tiếng Pháp là bức tường ( tiếng Pháp vẫn thông dụng ở xứ này ), muristes là những người đứng dựa tường ( tiếng địa phương : hittist, hitt là bức tường ) ám chỉ một thế hệ trẻ không việc làm, không tương lai, vô công rỗi nghề, vô vọng, thờ ơ với xã hội, không biết làm gì hơn là suốt ngày đứng dựa tường, đàn đúm với nhau, trêu chọc đàn bà con gái cho qua ngày. Cho qua đời. 

Tại một xứ gần một nửa dân số dưới 25 tuổi, hiện tượng muristes là một thảm trạng của một xã hội bế tắc 

Từ mấy tháng nay, chính những muristes đó, một cách bất ngờ, đã đồng loạt, và quyết liệt đứng dậy, đòi tự do dân chủ. 

Cách mạng nhân dân, như người ta nói, thường thường bùng dậy những lúc không ai ngờ. Và khi nó bùng dậy, không bạo lực, không guồng máy đàn áp nào ngăn cản nổi. Vài giờ trước khi đổ, chế độ độc tài nào cũng nghĩ sẽ đứng vững vĩnh viễn. 

Trong khi tình hình ở Vénézuela ứ đọng, gần như sa lầy, trong khi dân VN chấp nhận ách độc tài như một cái gông đã trở thành một bộ phận của cơ thể, dân Algérie đứng dậy, một cách ôn hoà nhưng quyết liệt, và đã thành công trong mục tiêu đầu tiên : loại bỏ Tổng thống Abdelaziz BOUTEFLIKA, cầm quyền từ 20 năm nay và muốn tiếp tục ngồi trên xe lăn, cai trị một xứ gần 45 triệu dân. 

Loại được Bouteflika, một chuyện không ai tưởng tượng nổi cách đây vài tháng, nhưng dân Algérie muốn đi xa hơn nữa, loại bỏ một băng đảng mafia đã cầm quyền từ ngày Algérie độc lập ( 1962 ). 

20 NĂM CẦM QUYỀN 

image.png

Cuộc nổi loạn bùng nổ cách đây một tháng, khi một nhóm trẻ, mà người ta tưởng là thụ động, xa lánh ‘’ chính trị ‘’, xuống đường phản đối việc Tổng thống Bouteflika, một ông già gần đất xa trời, 82 tuổi, tê liệt trên xe lăn, á khẩu từ ngày bị đột quị ( 2013 ), tuyên bố sẽ ra tranh cử nhiệm kỳ thứ 5, sau 20 năm cầm quyền với bàn tay sắt. 

Chính quyền nghĩ chuyện đó chỉ là một vấn đề hình thức, tại một quốc gia tập đoàn cầm quyền quản trị quốc gia như chủ một công ty tư nhân. Dân chỉ biết chép miệng, cúi đầu chấp nhận. 

Đối lập bị khai trừ, hoặc nằm tù, hoặc trốn ra hải ngoại. Báo chí nằm trong tay chính quyền, một cách chính thức hay bán chính thức. Như các chế độ độc tài khác, nhà nước Algérie cai trị trên cái sợ. 

Hàng chục ngàn thanh thiếu niên, ngày 22 tháng 2 vừa qua, đùng một cái bỏ cái sợ vào túi, biểu tình chống việc Bouteflicka tái ứng cử. ‘’20 ans, ça suffit !‘’ ( 20 năm đã quá đủ ! ). 

Cái sợ đã đổi bên, mặc dầu trước đó ít ngày, hai thanh niên đã bị kết án… 6 năm tù chỉ vì mang biểu ngữ chống việc Bouteflika tái tranh cử. 

Từ đó, mỗi ngày, nhất là những ngày thứ Sáu, trên toàn lãnh thổ, thanh thiếu niên kéo theo những thế hệ khác xuống đường. 

Hơn cả những chữ ‘’ tự do , dân chủ ‘’, những người biểu tình nói tới cái ‘’ dignité’’, cái ‘’nhân phẩm’’ của người Algérie. Họ muốn dẹp cái gọi là gérontocratie ( chế độ của các cụ già ) hay momiecratie ( chế độ xác ướp ). Không phải chỉ riêng Bouteflika, nhưng tất cả tập đoàn FNL ( Mặt trận Giải Phóng Quốc Gia ) cầm quyền từ ngày Algérie độc lập ( 1962 ) bị coi là những xác ướp Ai Cập, đã thối rữa, phải dứt khoát loại bỏ, vứt vào sọt rác của lịch sử. 

Stop, dân Algérie không muốn cả thế giới nhạo báng vì có một lãnh tụ đi xe lăn, một xác ướp từ lâu không xuất hiện trước công chúng, bán thân bất toại sau khi bị AVC , sống ở các nhà thương Thụy Sĩ hơn là dinh Tổng thống. 

Bouteflika, đúng hơn là gia đình và tập đoàn cầm quyền đứng sau ông già bệnh hoạn gần đất xa trời, làm bình phong để thao túng, vơ vét, nghĩ rằng chỉ cần dọa nạt cũng đủ dẹp tan phong trào nổi loạn, như đã làm trong quá khứ. 

CÁCH MẠNG INTERNET 

image.png
Bouteflika, một cách gần như khiêu khích, đã chính thức nộp hồ sơ tái tranh cử. Chính quyền thách thức : hoặc Bouteflika, hoặc một Algérie hỗn loạn. 

Đó là một giọt nước làm tràn cái ly. Và, đúng như người ta nhận xét ở những nơi khác, những cuộc cách mạng làm rung chuyển một chế độ thường bùng nổ những lúc ít người ngờ nhất. Không ai tiên liệu được phản ứng của một dân tộc. 

Thứ Sáu 08 tháng Ba 2019, không phải hàng trăm ngàn, nhưng hàng triệu người đã đổ xuống đường. Tất cả các hội đoàn dân sự đã sát cánh với lớp trẻ. Từ các nghiệp đoàn, các nghệ sĩ, ký giả độc lập, tới các luật sư, nghệ sĩ, các đảng phái ( lần đầu đoàn kết với nhau vì một mục dích chung ). 

Phe Bouteflika hiểu tình thế đã thay đổi, chấp nhận nhượng bộ. Khởi đầu tuyên bố sẽ không tái tranh cử lần… thứ 6 , sau đó, nhượng bộ thêm, rút đơn tranh cử lần thứ 5. Nhưng chỉ nhượng bố một nửa. Rút đơn tranh cử nhưng quyết định ở lại quá nhiệm kỳ, nói là để chuẩn bị một cuộc bầu cử trong sạch, hợp ý dân hơn. 

Những cuộc biểu tình tiếp tục, càng ngày càng quyết liệt hơn. Dân Algérie, mỗi ngày thay nhau, hay cùng nhau xuống đường, trên khắp các thành phố lớn nhỏ, hang cùng ngõ hẹp. 

Mỗi ngày, hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn, đôi khi hàng triệu người xuống đường. Nhất là những ngày thứ Sáu, trở thành những cuộc hẹn hò của lớp trẻ. Ý thức chính trị, người ta học, rất mau, trong những cuộc xuống đường 

Cái đặc biệt là cuộc nổi dậy hoàn toàn bất bạo động. Người ta xuống đường như đi trẩy hội. Những người thờ ơ nhất hãnh diện đã tham dự, hãnh diện là người Algérie, đã ngửng đầu đòi quyền quyết định cho mạng sống của mình và tương lai của dân tộc 

Đó cũng là một cuộc cách mạng Internet. Bất chấp các đài truyền hình, truyền thanh nhà nước ra rả khuyên bảo, đe dọa suốt ngày, giới trẻ hẹn nhau qua các iPhone, Twiter, Facebook.. 

Chế độ độc tài Algérie, như tất cả những chế độ độc tài khác, mới đầu dùng những tiểu xảo, đe dọa, hứa hẹn qua loa, nhưng khi thấy khí thế của đường phố, đã đi hết nhượng bộ này tới nhượng bộ khác. 

Đảng duy nhất FLN, đảng đã đưa Boutlefika ra làm bình phong để cai trị, tuyên bố không ủng hộ Tổng thống nữa. Ngày 26/03 tổng tham mưu trưởng quân lực Ahmed Gaïd Salah tuyên bố hoặc Boutleflica từ chức, hoặc sẽ bị truất phế vì không đủ khả năng sức khoẻ để lãnh đạo quốc gia. 

Không còn lực lượng chính trị FNL, quân lực sau lưng, hai ngày sau, 28/03, Bouteflica chính thức từ chức. 

Ngày 31/03, chính phủ lâm thời ra đời, với mục đích tu chính hiến pháp và tổ chức ‘’bầu cử tự do, trong sạch’’. 

Mặc dầu vậy, những cuộc xuống đường không những giảm bớt mà còn vũ bão hơn nữa . 

Dân Algérie đã trưởng thành, đã hiểu tất cả những nhượng bộ chỉ là hình thức, để tập đòan cầm quyền kiếm cớ hoãn binh. Chính phủ lâm thời vẫn là những người của chế độ cũ, trong đó tướng Akmed Gaïd Salah đóng vai chủ động. Từ ngày Algérie độc lập ( 1962 ), các tướng lãnh cấu kết với FNL chia nhau quyền hành, chia nhau tài sản quốc gia, chia nhau những tài khoản khổng lồ nhờ dầu lửa, dầu khí. 

Trước đó vài tuần, Salah là người ủng hộ Bouteflica nhiệt thành nhất, coi việc Bouteflica nắm quyền thêm một nhiệm kỳ là yếu tố quyết định cho việc ổn định chính trị và an ninh của Algérie. 

BLACK FRIDAY 

image.png
Dân Algérie vẫn có cảm tình và kính trọng quân đội, nhưng muốn tất cả các tướng lãnh cũ cũng như các chính trị gia già nua, tham nhũng, bất tài, tham quyền cố vị ra đi, nhường chỗ cho thế hệ trẻ. Khẩu hiệu của các đám biểu tình là ‘’DÉGAGEZ !‘’ ( Hãy cút đi ). 

Những cuộc biểu tình lớn trên toàn quốc mỗi thứ sáu được mệnh danh là Black Friday, ám chỉ ngày Black Friday ở Mỹ, các cơ sở thương mãi tống khứ hàng hoá cũ với giá rẻ để trưng bày hành hóa mới. 

Cho tới nay, thế giới e dè với biến động Algérie, trái với thái độ ủng hộ nhanh chóng cuộc nổi loạn ở Venezuela. 

Các nước láng giềng như Tunisie, Maroc sợ phản ứng dây chuyền, e ngại làn sóng phản kháng sẽ lan sang nước mình. 

Mỹ không phản ứng, vì quá xa, trái với Venezuela ở sát nách. Nhiều chính khách Mỹ không biết Algérie ở đâu. 

Các nước Âu Châu nghĩ đó là chuyện của Pháp vì Algérie là thuộc địa cũ của Pháp, mặc dù ngày nay Algérie đã hầu như rơi vào tay Trung Cộng. 

Pháp lo sợ, vì nếu Algérie hỗn loạn, sẽ phải tiếp đón làn sóng di dân khổng lồ. Paris chỉ cách Alger ( thủ đô Algérie) vài giờ bay, và hiện nay trong số 8, 9 triệu người da đen và Ả Rập sinh sống ở Pháp, có quốc tịch Pháp, người gốc Algérie đông nhất. 

Trung Cộng án binh bất động, ủng hộ ngấm ngầm phe cầm quyền, nhưng sẽ ngả về phe nào mạnh nhất. 

Dân Algérie bất cần sự ủng hộ của bất cứ cường quốc nào. Các đoàn biểu tình không kêu gào Trump, yêu cầu Macron ‘’ hãy lo chuyện Gilets Jaunes, để chúng tôi giải quyết chuyện Algérie ". 

Trong số những người biểu tình, phụ nữ là những người bình tĩnh nhất, cương quyết nhất, với một ý thức chính trị rất cao. Các bà, các cô đồng thanh như một : chúng tôi sẽ đi đến cùng. Mục tiêu là tự do, dân chủ đích thực. Chúng tôi không đòi vài ba nhượng bộ lặt vặt, chúng tôi đòi quyền sống cho mình và tương lai cho thế hệ sắp tới. Một nửa những người biểu tình là phụ nữ. Khi đàn ông xuống đường, sẽ có bạo loạn. Khi phụ nữ xuống đường, sẽ có cách mạng. 

TỪ ALGÉRIE TỚI VIỆT NAM 

Algérie có nhiều điểm tương đồng với Vénézuela và Việt Nam 

Giống như ở Vénezuela, những nhà lãnh đạo Algérie, mơ tưởng một ‘’ xã hội chủ nghĩa ‘’ Mác Lê, đã biến một nước giầu tài nguyên, nhân lực thành một nước lạc hậu. Với diện tích gần 2 triệu rưỡi cây số vuông, với kho dầu hỏa, dầu khí thuộc hàng quan trọng nhất thế giới, với các quặng mỏ vô giá, tập đoàn lãnh đạo, bất tài, tham nhũng đã biến Algérie thành một quốc gia chậm tiến, một thế hệ thất nghiệp, không sản xuất gì, không xuất cảng gì ngoài dầu khí cũng nằm trong tay các công ty ngoại quốc, hết Pháp tới Mỹ, Đức, nhất là Trung Cộng. 

Giống như VN, phe thắng cuộc, sau khi Algérie dành được độc lập, coi đất nước như của riêng, toàn quyền cai trị, sinh sát. Giống như VN, trong 20 năm đầu, phe thắng cuộc muốn xây dựng một chế độ xã hội đại đồng, theo mô hình Cộng Sản. 

Hậu quả là một nước phá sản, nhân quyền bị chà đạp, tập đoàn cầm quyền tham nhũng cấu kết với hàng ngũ tướng lãnh chia nhau tài nguyên quốc gia, tạo một xã hội bất công man rợ, trong đó có hai loại công dân, những người có thẻ đảng và những người ngoài lề. 

Sau khi dành được độc lập năm 62, sau 132 năm dưới ách thuộc địa Pháp, FNL ( Front National de Libération, Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia ) trở thành đảng chính trị duy nhất, đặt tên nước là Algérie Dân Chủ Nhân Dân ( République algérienne démocratique et populaire ), chỉ hơi thua Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Độc Lập ở chỗ chưa có Tự Do, Hạnh Phúc. 

Sau 20 năm quản trị đất nước theo mô hình Mác Xít, FNL nhìn nhận đất nước đi vào ngõ cụt trên mọi phương diện , từ kinh tế tới văn hóa, chính trị, giáo dục, xã hội. 

Để dập tắt ngọn lửa bất mãn, chính quyền buộc lòng phải thay đổi hiến pháp, chấp nhận đa đảng từ 1982. Nhưng các đảng đối lập đã bị đàn áp, tiêu diệt, các lãnh tụ hoặc bị bức tử, bị tù đầy hoặc bỏ ra hải ngoại lánh nạn, chính trường chỉ có một bên là FNL bị dân chán ghét một bên lực lượng Hồi giáo cực đoan 

Trong cuộc bầu cử tự do đầu tiên năm 91, FNL thua nặng trước tổ chức Hồi giáo cực đoan FIS ( Front Islamique du Salut ). 

Trước hiểm họa Afghanistan hóa, nhất là để bảo vệ quyền lợi của phe cầm quyền, quân đội đảo chánh khi biết kết quả bầu cử. 

FIS trở thành một lực lương kháng chiến, tàn bạo nhất, dã man nhất, không ngần ngại đặt chất nổ, đốt làng, giết dân kể cả đàn bà trẻ con bị coi là ‘’infidèles ‘’, những người không trung thành với Allah. 

Algérie biến thành một biển máu. Trong mười năm nội chiến, gần 200.000 người thiệt mạng, đất nước hoàn toàn tê liệt. 

Cựu bộ trưởng ngoại giao, có uy tín nhất trong số các chính tri gia tị nạn tại nước ngoài, Bouteflika hồi hương và đắc cử Tổng thống từ 1999. Một mặt quyết liệt dùng biện pháp mạnh để tiêu diệt khủng bố, một mặt áp dụng chiến dịch ‘’ chiêu hồi ‘’ để kêu gọi lực lượng FIS giã từ võ khí, Bouteflika trở thành một thứ anh hùng đã vãn hồi trật tự ở một xứ hỗn loạn, máu lửa. 

Bouteflica sửa hiến pháp, tự cho mình quyền ứng cử hơn hai lần như hiến pháp cũ quy định. Trên thực tế, Algérie vẫn nằm trong tay FNL, một tổ chức mafia muôn hình vạn dạng, nhất là từ khi Bouteflika bị đột qụy cách đây 6 năm. FNL muốn biến Bouteflika thành một tổng thống momie trọn đời, để đứng sau lưng, tiếp tục thao túng, vơ vét. 

MỘT TRANG SỬ MỚI 

image.png

Bouteflica bị loại. Dân Algérie ngày nay quyết liệt đòi tất cả tập đoàn mafia trả lại đất nước cho dân. 

Những người cầm quyền ở Algérie nắm mọi quyền lực, tiền bạc, báo chí nghĩ họ sẽ tiếp tục hoành hành, coi đất nước là của riêng, quên rằng càng ngày càng phẫn nộ, và khi sự phẫn nộ của dân bùng nổ khắp hang cùng, ngõ hẻm, bạo quyền mạnh tới đâu cũng bó tay . 

Những người cầm quyền ở Algérie quên rằng một nửa dân Algérie dưới 25 tuổi, trong đó đa số dưới 15 , không có liên hệ gì với cuộc chiến tranh dành độc lập thần thánh vẫn được ca tụng trong sách báo, kể cả sách giáo khoa, không có một kỷ niêm gì về những ngày nội chiến đẫm máu. Cái hoài bão và mục tiêu trước mắt của họ là được sống tự do. Họ muốn lật một trang sử cũ, để bước vào một thời đại mới. Họ không muốn đứng dựa tường, nhìn mafia thao túng nữa. 

Từ Thức, tháng Tư, 2019 

Saturday, April 20, 2019

Nỗi Khát Khao Trong Lòng Tên Thảo Khấu


1
Tôi vẫn nghĩ trong cuộc sống những điều cần nói, phải được nói ra; nếu ta cất giấu chúng trong trí nhớ chúng sẽ thấm vào tâm tư, lâu ngày đọng lại thành một cục bướu độc.
Bao nhiêu năm tháng, tôi chờ mãi cái ngày cha tôi mắng tôi một lời để tôi nhẹ lòng.
Nhưng cha tôi không bao giờ nói ra.
2
Má Tư vóc dáng nhỏ nhắn, mái tóc lúc nào cũng buông hờ sau lưng. Đám phụ nữ cùng trang lứa với má người nào cũng có cái bụng căng vồng ra phía trước và cái eo suông đuột. Ngay cả em gái má Tư, chưa chồng mà nhìn cũng xồ xề như người đàn bà đã đôi lần mang nặng, đẻ đau. Má Tư như người đi lạc. Như con thiên nga điệu đàng lạc giữa bầy vịt lạch bạch trong bước đi và khô khàn trong giọng nói.
3
Những điều người ta ngại nói ra; những điều người ta cất giấu quá lâu, thời gian phủ lên lớp bụi dầy. Năm tháng trôi qua, chúng trở thành điều bí mật.
Cha tôi với tôi chia nhau một điều bí mật.
4
Căn nhà lát gạch từ sân ra tới tận cửa sau. Những vuông gạch đỏ trải rộng miếng sân vuông, viền quanh nhà thành lối nhỏ vừa hai người sánh đôi đi dạo. Hai lối đi gạch đỏ ấy viền quanh hông nhà, bẻ một góc vuông rồi hội tụ ở cửa sau. Hàng gạch đỏ gặp nhau, trải ra sau, mở ra căn nhà bếp xinh xắn. Tới cửa bếp, những viên gạch lại tỏa sang hai bên, viền thành một lối mỏng quanh căn bếp vuông vức và chập lại với nhau, dẫn vào chái nhà nhỏ che hờ hững bởi mái tôn để hở cả một khoảng trời lúc nào cũng biếc xanh, bên cạnh bể nước xi măng bọc ngoài bởi lớp rêu xanh mướt như tấm áo nhung của một người giầu có.
Xa hơn chút nữa, bên những bụi dâm bụt ngắt xanh là cái giếng gạch. Giếng nước ngọt hiếm hoi ở vùng đất phèn chua lợ. Miệng giếng hình tròn, lát bằng những viên gạch xám chồng khít lên nhau. Nhiều chồ lớp vôi vữa nằm giữa hai viên gạch trào ra, khô lại, trông như những chiếc lưỡi thè ra của phạm nhân bị treo cổ. Thành giếng chắc được xây khi đám thợ cố vội vã làm cho xong giai đoạn cuối nên đã không vét sạch vôi vữa, để những chiếc lưỡi thè ra châm chọc đám dân làng đi qua, còn ngoái cổ lại, vắt con mắt thèm thuồng lên nguồn nước ngọt hiếm hoi. Những viên gạch lát làm thềm tắm giặt bên giếng trơn nhẵn như được đánh bóng. Thỉnh thoảng tôi bắt gặp bóng mình lung linh mặt nước với một bầu trời xanh biếc phía sau. Tôi thấy con mắt mình đen nhánh. Con mắt không che giấu điều gì. Cạnh ngoài thành giếng, phía sát lối đi, một ống kim loại thòng xuống, ghim sâu vào đáy nước như chiếc vòi con vật ký sinh khổng lồ gài vào lớp da thịt mỏng mềm của con vật vô phương chống cự. Mỗi ngày hai lần, cha tôi đi vòng quanh cái dinh cơ nhỏ bé của ông, ngần ngừ trước luống đất trồng đầy rau thì là, trầm tư trước cây khế ngọt đơm trái sai mùa. Rồi bước lên bậc thềm cạnh giếng, gỡ những vòng cuốn của sợi dây thừng ra khỏi cái móc và dũng mãnh giật sợi dây khởi động máy bơm nước. Máy bơm chạy dầu cặn nên bao giờ cũng khậm khoặc lúc ban đầu, và khạc ra những bụm khói khét lẹt. Khi máy đã chạy đều thì tiếng động cơ lại bị át đi bởi tiếng nước chảy vào cái bể xây trên cao, bên vách tường chái nhà tắm lộ thiên.
Những ngày đầu mùa hạ, nằm lơ mơ trên chiếc võng bên hiên nhà với cuốn truyện úp trên ngực, tôi bập bềnh trên tiếng gió lùa trong lá, tiếng gà gáy lạc lõng và đôi khi tiếng chó sủa vu vơ. Giữa chốn bình yên, như đứa bé rón rén đưa bàn tay về phía con chuồn chuồn cánh tím, tôi rụt rè đón bắt những giấc mơ chập chờn của thời mới lớn. Xế trưa, cái tĩnh lặng thôn dã bị xô ngã bởi tiếng máy bơm nước của cha tôi. Tôi hé mắt nhìn. Cha tôi kéo sợi dây nhựa sần sùi như con rắn có lớp vỏ chai cứng, gắn vào chiếc máy bơm chạy bằng dầu cặn lúc nào cũng bọc bởi một tấm vải cao su dầy cộm. Chiếc máy bơm có bánh xe, bị đẩy tới đẩy lui, để lại những vệt sét rỉ mầu nâu đỏ trên nền xi măng. Ngày nào cha tôi cũng bơm nước vào bồn như thế. Và ngày nào mẹ kế tôi cũng tắm ít nhất hai lần. Có phải vì vậy mà nước phèn không bám được lên làn da trắng như ngó sen của người đàn bà ấy.
Chung quanh nhà cha tôi mọc duy nhất một loài dâm bụt. Những cành lá nhỏ nhắn đan vào nhau càng lúc càng dầy, đến độ tôi nghĩ một lúc nào đó hàng dậu quanh nhà sẽ thành bức tường thành kiên cố. Tôi tiếc mình không còn là trẻ thơ để có một lần quấn quanh mình những mũ áo chằng chịt và tay kiếm tay khiên, làm kẻ giác đấu đâm sầm vào bức tường kiên cố để cứu những bạn tù phía sau tường đá. Hàng dâm bụt rậm rạp vươn những cành lá cao dần hơn cả đầu người. Bức tường thành ấy bao quanh căn nhà xinh xắn nơi cha tôi với người vợ kế rúc rích đuổi bắt nhau như trẻ nhỏ những buổi tối mùa hạ oi bức dài theo con đường lát gạch đỏ vòng ra phía sau, nơi nền xi măng bao quanh thành giếng có những mảng rêu xanh trơn trượt và những chiếc lưỡi vôi vữa bên thành giếng lè ra trêu chọc những kẻ không chịu buông đi cái thời thơ ấu. Tôi tắm giặt bên bờ giếng bao nhiêu lần mà không nhận ra viền theo bờ nền xi măng còn một loại cây lạ có những phiến lá to bản, xanh nhợt nhạt, như những bàn tay khổng lồ. Những bàn tay ẻo lả trong gió.
Má Tư bảo đó là cây bạc hà.
“Ui da! Học sanh sắp thi tú tài rồi mà hổng biết cây bạc hà. Vậy chớ trong mấy thứ rau thơm có thứ nào hổng biết không?”
Tôi không biết thứ nào hết. Và ngay cả những cây bạc hà kia nếu không có một lần tò mò vì tiếng nước xối rộn ràng bên bờ giếng sau nhà, tôi đã không bao giờ nhìn thấy.
5
Cha tôi đi vắng. Ông hay đi vắng những ngày đầu tuần như thế. Cái vắng mặt nhàn tản của người đàn ông không có việc gì phải bận rộn hay hấp tấp. Cha tôi có cái thư thái của người đã về hưu, không quan tâm đến bất cứ chuyện gì trong cuộc sống. Có lẽ vì sự quan tâm của ông đã dành hết cho người đàn bà xinh xắn như búp bê của ông. Người đàn bà búp bê. Những ngày hạ oi ả, vải áo mút sơ lin dính vào thịt da. Con mắt chớp lia như vướng bụi.
“Ổng vậy đó!”
Nói về những lần vắng mặt đầu tuần của cha tôi, má Tư chỉ buông vỏn vẹn cái câu ngắn ngủn.
Tôi đoán cha tôi có ông bạn già nào đó mà ông thường gặp để đánh cờ. Ngày tôi mới về, cha tôi dạy tôi đánh cờ tướng. Bàn cờ bằng gỗ. Ông bảo chỉ những người điềm tĩnh mới có thể ngồi hàng giờ bên bàn cờ gỗ. Với những kẻ huyênh hoang hay kiêu ngạo thì bàn cờ gỗ không phải là thứ họ nên dùng. Mà đã chấp nhận ngồi vào bàn cờ tướng với nhau thì người ta đọ sức bằng cái mưu cái mẹo. Cha tôi hay gật gù những câu không đầu đuôi và chắc ông tin tôi có thể hiểu được. Về sau tôi nhận ra rằng với những kẻ máu nóng, bàn cờ gỗ đôi khi thành vũ khí đả thương người thắng cuộc. Dạy xong, cha tôi nhường một pháo, một xe, một ngựa mà tôi vẫn thua sau vài nước ngắn. Chắc vì vậy mà cha tôi thôi rủ tôi đánh cờ tướng và chiều thứ hai nào ông cũng bặt tăm.
“Ổng vậy đó.”
Má Tư trả lời cụt ngủn khi tôi thắc mắc sao cha tôi hay vắng mặt những ngày đầu tuần. Rồi ôm chiếc rổ đầy rau xanh ra nhà sau.
Tôi chơi cờ một mình. Giọng ca Thanh Kim Huệ và tiếng đàn lục huyền cầm văng vẳng vọng ra từ phòng ngủ của má Tư và cha tôi. Bình nước và những chiếc ly ngờ nghệch trên mặt bàn gỗ bóng ngời. Dưới đáy một chiếc ly còn đọng lại chiếc lá chè xanh đã ngả mầu nâu tối. Tôi mê giọng ca Thanh Kim Huệ từ lúc bắt đầu mê vọng cổ khi còn ở thành phố và người nghệ sĩ ấy vừa mới chập chững những bước đầu trên sân khấu cổ nhạc. Tôi mê làn hơi dài và cách luyến láy cuối câu khi đoạn ca sắp tới khúc buông ra những chữ cuối cùng. Không biết gì về cổ nhạc nên tôi chỉ diễn tả được thế thôi. Cái khúc mà khán giả vỗ tay rầm rộ ấy. Tôi nhìn những con cờ gỗ trơn bóng. Tôi nhìn những cuốn sách nằm gối lên nhau.
Những nhị thức, tam thức, những phương trình bậc hai, bậc ba ẩn náu đâu đó trong những trang giấy mầu vàng lem luốc dấu tay. Chúng nấp thật kỹ như con thú chờ vồ dính con mồi. Những phương trình bậc hai đầu đời. Mai kia tôi sẽ vẽ quỹ đạo cho phi thuyền bay vòng quanh trái đất. Tôi lật đại một trang trong cuốn sách đại số học. Hôm nay sao những parabol của phương trình toán học cong vòng, nhấp nhô, giống đôi trái bập bềnh dưới lớp vải áo tơ mỏng của một người đàn bà quá đỗi.
6
“Ở thành phố chắc vui dữ lắm anh Hai há.”
Cô gái đặt chiếc thùng xuống nền xi măng, nước sóng sánh trào ra thành con rắn nhỏ bò lan mặt gạch, len lỏi xuống những bụi bạc hà xanh um. Bạc hà nấu canh chua. Nếu không có má Tư thì đâu có tiếng xối nước mỗi chiều. Những mảng nước vỡ tung toé nền gạch đỏ au. Và không có những vạt nước tan tác kia thì tôi đâu khám phá ra ở đất quê này ngoài những hàng dâm bụt xanh um, còn đầy những bụi bạc hà mọc chen chúc hệt đám lưu dân bám vào những vùng có sông nước như bám vào những nơi ươm đầy mầm sống.
“Trên thành phố có gì khác dưới này hôn, anh Hai?” Cô gái vừa hì hạch kéo cái thùng đầy nước từ lòng giếng đen ngòm lên vừa hỏi. Đôi môi cong vòng.
“Có nhiều xe.”
“Gì nữa?”
“Có đông người.”
“Gì nữa?”
“Ồn ào lắm.”
“Gì nữa?”
“Có nhiều bụi.”
“Thiệt hôn?”
Cúi xuống, ngẩng lên đều đặn. Cô gái không ngừng tay với chiếc thùng nhựa lam nham vết trầy và sợi dây thừng sần sùi rát tay. Khoảng hở trắng nhờ giữa những chiếc nút bấm của khung áo bà ba mở ra khép vào nhịp nhàng làm tôi luống cuống.
“Thật mà. Để tui múc nước tiếp một tay.”
“Hổng được đâu.”
“Sao vậy?”
“Má Tư mướn em có trả tiền đàng hoàng mà, em đâu bắt anh Hai làm thế em được.”
“Không ai biết đâu.”
“Hổng dám đâu.”
“Để tui nói cha tui sửa máy bơm cho lẹ.”
“Đừng anh Hai, bác Tư sửa máy bơm xong là em hết việc làm luôn rồi.”
“Vậy sao.”
Con mắt lé kim của cô gái làm tôi bâng khuâng. Trong cái nhìn của cô luôn luôn kèm theo cái gì đó như lời dọ hỏi, một thắc mắc. Những thắc mắc dù nhỏ nhoi cũng nên có lời giải đáp. Tôi, đứa con trai thành thị, chỉ còn vài năm nữa là thi tú tài, đang nghĩ mình có trong tay tất cả kiến thức của thế gian. Tôi sẵn sàng ngồi xuống, tỉ mỉ chỉ cho người con gái thôn dã kia con ếch đẻ trứng ra sao, bao lâu thì những con nòng nọc rụng đuôi thành ếch. Cả những câu không có lời giải đáp như làm cách nào để buộc người đàn bà cưu mang cho mình một đứa con.
“Chừng nào em múc nước xong, anh Hai đi dzô trỏng dzùm nha.” Giọng con gái ngượng ngùng.
“Chi vậy?”
“Em tắm chúc xíu.” Hai má cô gái đỏ hồng. “Lần nào múc nước xong, má Tư cũng cho em tắm. Nước giếng này tốt cho… da.”
7
Cha tôi bảo mấy con nhỏ ấy quê mùa nhưng thật thà, con muốn thì để cha tìm cho một đứa. Trên đời này có nhiều thứ đáng cho mình mơ ước, sự chân thật là một trong những thứ ấy.
Khi khám phá ra tôi cố tình làm ngộp xăng máy bơm nước để cô bé hàng xóm có việc làm, cha tôi đã bảo tôi như thế.
8
Má Tư thích ca vọng cổ nên những đêm đài truyền hình có cải lương, cha tôi lại mở chiếc máy phát điện lên. Chiếc máy – nghe nói của Nhật Bản – không ăn xăng và có công xuất cao. Mỗi khi có cải lương, căn nhà xinh xắn của cha tôi rực rỡ ánh đèn. Giữa một khu nông thôn le lói đèn dầu dưới những mái tranh và lập lòe đom đóm ngoài hàng giậu, căn nhà đô thị hóa của cha tôi sáng lên như vị sao lạc lõng giữa bầu trời u tối. Những ngày có cải lương, tôi hân hoan như đứa bé được mẹ dẫn đi cho ăn hàng ngoài phố chợ. Tôi lôi những cuốn sách nằm trong chiếc túi vải trên hộc tủ ra. Ngọn đèn vàng vọt tỏ mờ theo công suất máy phát điện ném ra thứ ánh sáng rõ nét hơn bất kỳ ngọn đèn dầu nào đã thắp sáng niềm vui đứa con trai vừa tròn mười bốn tuổi.
Những diễn viên đầy mầu sắc lao xao màn hình máy vô tuyến của má Tư không sống động bằng những nhân vật trong tiểu thuyết; những tình tiết sân khấu không sâu sắc bằng những suy tư, những toan tính của những người đàn ông, những người đàn bà trong những cuốn truyện tôi mang theo từ thành phố, dự tính sẽ đọc qua những tháng hè. Nhưng sao lòng tôi vẫn xôn xao mỗi lần đài truyền hình chiếu cải lương.
“Hai à, qua coi cải lương với má Tư, tuồng Tiếng Hạc Trong Trăng nè.” Giọng má Tư trong như tiếng chuông đồng ngân nga trong thạch động.
9
Bánh xèo. Má Tư làm bánh xèo ngon tuyệt. Tôi nhớ suốt buổi loay hoay trong bếp phụ má xay bột rồi chẻ củi, khom người cùng má Tư phùng má thổi cho ngọn lửa bắt vào những thân củi khô. Củi nỏ lách tách cháy đôi khi nổ tung tóe những chùm pháo bông gợi nhớ những ngày thanh bình, hội hè vui nhộn ở thành phố.
Bàn tay má Tư thoăn thoắt thái những cọng hành xanh mướt. Tấm thớt chữ nhật dầy và nặng trịch. Tôi quậy cả thau bột mầu vàng nhạt.
“Mình quậy thiệt đều, lúc đổ, bánh xèo sẽ mỏng ơi là mỏng và dòn ơi là dòn.” Má Tư nói.
Tôi lặng thinh. Hai mắt dán vào thau bột. Chiếc vá trong tay quậy đều. Bột loãng xoay vòng quanh. Những vòng quay của cơn lốc xoáy. Những giải thiên hà quấn quyện trong nhau. Tất cả bắt đầu từ sự hỗn mang. Bài học về nguồn gốc vũ trụ hiện ra lớp lang trong óc tôi. Năm tới, tôi sẽ là học sinh lớp đệ tứ. Tôi sẽ thi trung học đệ nhất cấp. Tôi sẽ phải biết tỏ tường tên tuổi các loài sinh vật. Các loại cây. Nhựa nguyên, nhựa luyện. Mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Tôi phải biết nguồn gốc vũ trụ. Tất cả khởi đi từ một khối hỗn mang. Những vật thể xoáy vào nhau, tạo ra sự sống. Như những vòng xoay trong chậu bột này. Chút xíu nữa thôi, sẽ thành những chiếc bánh xèo dòn trong lòng chiếc chảo nóng loang loáng mỡ của má Tư.
“Hai à, mai mốt lớn lên Hai thích làm gì?” Má Tư hỏi.
Chiếc vá trong tay tôi sượng lại. Những vòng xoắn rối vào nhau. Thau bột bập bềnh. Những vẩy hành trôi nổi.
“Dạ mai mốt… dạ chưa biết nữa.”
“Trời! sắp thi tú tài rồi mà còn chưa biết.”
Tôi nặn óc tìm một câu trả lời. Nhưng con mắt một mí của má Tư và những giọt mồ hôi lấm tấm trên vừng trán, nhất là giọt đọng ở chân tóc mai, trong như giọt ngọc, đã làm tôi lúng túng. Mãi tôi mới tìm được cái câu rất hay một lần nghe đứa con gái cùng lớp, ngồi ở hàng ghế trước mặt, đứa con gái suốt năm đệ ngũ đã làm tôi bối rối vì cái khoảng thịt da hình tam giác bên hông nơi hai vạt áo dài giáp nhau, cắt sợi dây thun quần hai vết cắt sắc gọn.
“Tương lai làm sao mà biết được.” Đứa con gái thơm tho nói thế. Và tôi lập lại câu nói ấy với má Tư. Má Tư chợt buông thõng hai tay. Hai mắt mở lớn. Cặp môi mỏng vẽ vòng tròn kinh ngạc.
“Ui da! Hai nói chuyện như người lớn à nghe!” Má nhìn tôi đăm đắm. “Chịu con nhỏ nào ở xóm mình má Tư làm mai cho. Cho má Tư ké đứa cháu nội.”
10
“Hai à, cha có chuyện muốn nói với con.”
Cha tôi bắt đầu bằng cái đằng hắng quen thuộc rồi ung dung kéo ghế ngồi. Tôi ít khi nói chuyện với cha tôi và cũng đã lâu lắm rồi chúng tôi không có dịp chuyện trò với nhau nhưng tôi vẫn nhớ mơ hồ mỗi khi cha tôi trịnh trọng như thế thì câu chuyện ông sắp bàn hẳn là hệ trọng. Vẻ nghiêm trọng ấy hiện ra rõ nét trên cách ngồi ngả ra lưng ghế của cha tôi. Hai chân ông đặt vững chãi, song song trên nền nhà.
“Ngồi xuống đó đi.” Cha tôi chỉ chiếc ghế đối diện.
Tôi ngập ngừng kéo ghế ra xa chiếc bàn gỗ như thể chọn cho mình một khoảng cách an toàn. Mười bốn tuổi, tôi đủ lớn khôn để không làm điều gì sai trái đến độ cha mẹ phải bận lòng. Mười bốn tuổi, tôi cũng chưa đủ chín chắn để cưu mang một mái gia đình dù ở đất quê này, tảo hôn là tập quán quen thuộc. Từ lúc có trí khôn đến giờ tôi không nhớ rõ đã có được mấy lần cha con tôi ngồi đối diện chuyện trò như thế. Tôi nhìn những cuốn sách học bỏ bừa bãi trên mặt bàn. Tôi nhìn bộ ly và cái bình trà đặt trên khay nhựa.
“Để con đi nấu nước pha trà cho cha.”
“Khỏi.”
Lòng tôi thắt lại vì cái lời ngắn ngủn.
“Ngồi xuống đi.”
Đầu gối rã rời tưởng chừng sắp rụng ra vì kiệt sức nên tôi đành ngồi xuống và trước khi ngồi tôi không quên dùng hai chân đẩy cho chiếc ghế lùi ra phía sau thêm chút nữa. Tôi muốn một khoảng cách an toàn. Cha tôi đắng hắng. Tim tôi đập ngỡ chừng sắp vỡ tung lồng ngực. Tôi chờ nghe một câu mắng nhiếc nặng lời. Tôi nghĩ mình sẽ không biện hộ một lời nào cho cái việc tôi làm ngày hôm đó. Cha tôi dường như cố xua đi cái không khí gay cấn, căng thẳng. Ông vươn tay, kéo cuốn sách toán của tôi lại trước mặt. Những ngón tay ơ hờ lật từng trang giấy ố vàng.
“Sách cũ à?”
“Dạ.”
“Sao không mua sách mới?”
“Dạ sách cũ cũng còn học được.”
Ông lật thêm vài trang nữa, rồi dừng lại ở giữa cuốn sách.
“Toán à?”
Tôi vểnh cổ cố nhìn vào trang sách. Cái đường parabol cong vòng. Sự tình cờ lạ lẫm. Sao cha tôi lại dừng lại ở chương ấy, như thể ông đã đánh dấu một tang chứng để sẵn sàng đưa ra buộc tội.
Tôi nín thở nhưng trái tim vẫn lao xao lồng ngực. Những bụi bạc hà xanh um. Lá bạc hà to như những bàn tay khổng lồ mỏng mảnh, tôi khao khát làm những chiếc lá bạc hà. Cặp vú của má Tư bồng bềnh như hai đường parabol căng cứng. Nước chảy thành dòng hoan lạc. Bể nước trên cao. Cái máy bơm rì rầm bơm nước lên. Thành giếng gạch nâu xám. Vôi vữa giữa những viên gạch ứa ra như những chiếc lưỡi chọc ghẹo của lũ trẻ rắn mặt. Những chiếc lưỡi thèm thuồng. Thân thể người bàn bà no căng lấp ló qua khe hở. Chính má Tư chỉ cho tôi chỗ nứt ấy. Tôi dán mình sát vách tường, để chiêm ngắm một thứ mình chưa bao giờ được thấy. Má Tư kỳ cọ rồi đứng ngắm mình dưới đáy giếng. Con mắt một mí và đôi vú bồng bềnh. Từ hôm ấy, tôi đâm ra say mê môn đại số học, và tôi vẽ thật nhuyễn những đường parabol mướt mát.
“Mai mốt tính lên đại học hay về quê lấy vợ?” Cha tôi hỏi.
Tôi giật mình gỡ vội hình ảnh những đường cong đại số học ra khỏi trí tưởng tượng.
“Dạ chưa biết.”
Bằng cử chỉ khô khốc, cha tôi đóng mạnh cuốn sách, gây nên một tiếng động xám ngắt. Giây phút nghiêm trọng đã đến. Tôi sẽ phải can đảm gánh chịu hậu quả việc làm sai trái của mình. Tôi chỉ mong cho phiên tòa kết thúc nhanh chóng. Kết tội, kêu án và xử phạt. Tôi ngại lắm những bài giảng luân lý rườm rà. Tôi nghĩ đến khóm bạc hà xanh um bên bờ giếng. Loại bạc hà này hay mọc theo bờ nước, nấu canh chua rất ngon. Má Tư nói với tôi như thế.
“Tía muốn nói với mày một điều…”
Thói quen đằng hắng trước khi nói của cha tôi chắc sẽ theo ông đến cuối đời. Thế nên dù ông đổi cách xưng hô. Xưng là tía, gọi tôi là mày – biểu hiệu của sự gần gũi, bao dung – tôi vẫn nghe trái tim khua trống trong lồng ngực. Tôi muốn ngắt lời ông rằng con biết cha sắp nói gì rồi, rằng con xin lỗi, rằng hôm ấy trời nóng nực, rằng hôm ấy tôi nghe tiếng nước xối sau nhà nên tôi ngó ra xem ai múc trộm nước nhà mình, rằng hôm ấy tôi đâu có ngờ là má Tư ở nhà nhưng cổ họng tôi khô đắng. Tôi thèm một ly nước cam có những cục nước đá trong vắt và hơi nước bám lăn tăn trên thành ly.
“Tía muốn mày học thật giỏi, đời tao coi như đã bỏ đi, mày phải làm tiếp tao cái điều dang dở.”
Tôi ngẩn người nhìn ông. Tôi không thể đọc ra được cái điều ẩn chứa trong mắt ông. Tôi chờ một câu buộc tội để tôi yên lòng mà xin lỗi.
Cha tôi đặt tay lên cuốn sách, khẽ gật gù cái đầu làm một mảng tóc đen rũ xuống vầng trán hình chữ nhật. “Có tiền mà không có kiến thức thì chẳng hơn gì rác rưởi, biết không. Cho dù thứ rác rưởi ấy đang tràn ngập thế gian…”
11
Tôi nhớ Thành Được trong vai tướng cướp Thi Đằng. Tôi nhớ con mắt hút hồn của Thanh Nga trong vai người con gái mù lưu lạc của tên thảo khấu. Khi người đàn ông ấy ngỏ lời cầu hôn với cô mà không ngờ cô ta là giọt máu rơi của chính mình, cô gái láng giềng, người vẫn thường múc nước thuê cho má Tư – ngồi dựa cột nhà, con mắt dán vào màn hình – đã há hốc miệng kinh ngạc.
“Kỳ cục quá anh Hai há!”
“Mày có biết đức tính quan trọng nhất nơi người đàn ông là gì không?” Cha tôi hỏi. Tôi ngơ ngác nhìn ông, cố tìm câu trả lời. Nhưng không có câu trả lời nào thỏa đáng.
“Không biết, phải không.”
Tôi nhìn cha bằng con mắt ngại ngần.
“Vậy là không rồi! Khi phải suy nghĩ đắn đo nghĩa là câu trả lời chưa có sẵn.”
Tôi nhúc nhích hai chân, vặn vẹo thân người, cố ngồi cho thẳng.
“Có biết người đàn ông cần gì trong cuộc sống để khỏi bị đời khinh khi không?”
Câu hỏi của cha, như cánh tay gân guốc của một người lực lưỡng, cố đẩy tôi sát vào một vách tường nhám nhúa. Không còn khoảng trống nào cho tôi tháo chạy. Tôi như con thú bị săn đuổi tới cuối đường.
12
Nắng vắt trên thềm nhà như mũi tên chỉ đường. Giấc ngủ ngày ngầy ngật. Sách vở nằm gác lên nhau. Những nhị thức, tam thức nhảy múa lao xao trong vạt nắng xiên ngang. Mồ hôi đầm đìa một bên mặt, ướt nhẹp mặt chiếu. Cổ và lưng áo tôi ướt sũng. Cái nóng mùa hạ làm thịt da rát bỏng, cong lại và nứt bung. Căn nhà vắng tanh. Sự kiện đi vắng mỗi chiều thứ hai của cha tôi đã thành thông lệ. Thói quen khắc lên thịt da. Như tín đồ ăn chay những ngày rằm và mồng một, không bỏ sót buổi nào. Tôi bần thần chống tay ngồi dậy. Mấy con ruồi đậu vu vơ trên mặt chiếu. Không gian keo đặc. Bụng tôi trào cơn đói. Tôi nhớ những cái bánh xèo má Tư đổ ngày hôm trước, còn để dành trong gác-măng-dê. Tôi nhớ những chén nước mắm bồng bềnh những khoanh ớt tròn, đỏ rực. Tôi thọc chân vào đôi dép Nhật, sửa lại cổ áo cho tươm tất, vuốt lại mái tóc cho ép sát da đầu rồi lầm lũi đi xuống bếp.
Không gian quạnh vắng. Tôi trôi đi như chiếc lá trên dòng nước, vào một vũng không gian không tên gọi.
Tiếng nước xối ào ào trên mặt xi măng bên thành giếng. Tôi mỉm cười một mình. Ông bạn cờ tướng của cha tôi chắc bị vợ cằn nhằn nên hôm nay không ngồi hầu cơ với cha tôi khiến ông phải về sớm. Tôi bần thần nhìn quanh căn bếp. Nhưng lỡ không phải cha tôi mà là kẻ tắm trộm nào khác thì sao nhỉ. Tôi nhìn vách tường, chỗ có cái lỗ nhỏ che bằng chiếc chảo đầy bồ hóng, má Tư vẫn dùng chiên cá, chiên cơm Dương Châu. Tôi rón rén bước về phía cái chảo đen thui ấy. Tôi nín thở nhẹ nhàng gỡ cái chảo xuống, nhẹ nhàng đặt lên thành bếp. Tôi ghét những hành vi trộm cắp. Dù là láng giềng với nhau. Cái giếng kỳ diệu. Nguồn nước ngọt hiếm hoi. Ông thầy địa lý bảo đào trúng nguồn nước ấy còn hơn đào trúng mỏ vàng, bởi tắm nước giếng ấy, người ta sẽ chẳng bao giờ phải già đi. Kẻ nào đó đang xối nước đều tay. Phải cha tôi không. Hay kẻ hàng xóm gian lận nào đó lợi dụng lúc nhà không có ai, ghé qua tắm trộm. Tôi sẽ bắt quả tang kẻ gian tà.
Nhưng hôm ấy kẻ gian tà là tôi.
Có điều không ai bắt được quả tang cái hành vi trộm đạo.
Đôi vú bập bềnh trong nắng. Nước vuốt ve da thịt. Câu vọng cổ trong vắt cái đoạn tướng cướp Thi Đằng muốn hỏi cô gái mù về làm vợ mà không biết cô là đứa con rơi của mình. Mặt tôi dán vào tường gạch. Mắt tôi luồn qua lỗ nẻ. Tim tôi trôi sướt mướt theo đám bọt sà bông lai láng trên làn da ngọc thạch. Những móng tay tôi bấm nát da thịt đùi mình. Những ngón tay bấu lấy đùi cho miệng không buông ra tiếng thở dập dồn. Những ngón tay chạm cả vào cái đàn ông tồng ngồng sắt nguội.
Lúc vãn vở tuồng Tiếng Hạc Trong Trăng, tôi như thằng bé đi xem hát cọp bị người soát vé bắt gặp, đã hốt hoảng rời nơi trú ẩn, lom khom, khúm núm bước đi như thằng ăn trộm.
Và thằng ăn trộm gặp cha nó đang ngồi như pho tượng trên ghế, trước ly trà xanh nguội ngắt trên mặt bàn gỗ cũ.
13
Chín mươi hai tuổi, cha tôi là người đàn ông sống thọ. Có phải vì ông yêu và được yêu bởi một người đàn bà trẻ thơ, chân thật và chung thủy.
Chiếc lưng mỏng như mo cau của má Tư cong vòng trước quan tài. Tôi đứng phía sau má, cúi đầu, chôn chân trước di ảnh cha tôi. Khăn tang phủ ngang tầm mắt nhưng tôi vẫn thấy được con mắt cha tôi. Con mắt vằn vèo tia máu ấy nhìn tôi một buổi chiều, khi vừa vãn vở tuồng Tiếng Hạc Trong Trăng.
Và lời khiển trách của cha tôi chắc sẽ theo tôi đến cuối đời. “Hai à, hôm trước, con quên treo cái chảo lên vách tường.” Con mắt ngoằn ngoèo tia máu bảo tôi như thế. “Tía đã nói với mày hoài rằng người đàn ông cẩu thả sẽ khó lòng làm nên chuyện lớn.”
Cuối mùa hạ, tôi khăn gói về lại thành phố. Má Tư tặng tôi tấm hình cha tôi với má chụp chung phía trước tấm phông cảnh bãi biển cát trắng với những thân dừa nghiêng ngả và bầu trời xanh biếc trên cao. Lác đác những cánh chim mờ nhạt. Má – như con chim nhỏ – e ấp dựa đầu trên vai cha tôi, cánh môi trề xuống như vướng một lời châm chọc.
Đó là mùa hạ cuối cùng của thời thơ ấu. Năm học sau đó, tôi không lấy vợ như lời má Tư châm chọc, nhưng tôi đã đua đòi chúng bạn, lạc vào một con hẻm nhỏ tối tăm, như những con cừu của người đàn ông trong truyện kể xa xưa, lao xuống một hẻm vực sâu hun hút.
Mùa thu ấy, theo lũ bạn rủ rê, tôi bước xuống cuộc đời.
14
Và dẫu điều bí mật cha con tôi chia sẻ sẽ mãi mãi là điều không thể nói ra, nhìn đôi mắt trong di ảnh cha, tôi biết cục bướu độc trong tôi đã tan, như cơn gió cuối mùa hạ, như mảng sương mù buổi chớm thu, như nỗi khát khao trong lòng tên thảo khấu Thi Đằng khi biết cô gái mù kia là máu huyết của riêng mình.
21 tháng 08, 2011Hoàng Chính