Search This Blog

Friday, September 21, 2018

Bức phù điêu…cao qu‎ý?

Ký Thiệt 
Trong nhiều bài viết về John McCain bằng tiếng Việt từ ngày ông ta qua đời (25.8.2018), đoạn dưới đây trong bài “Cái quan luận định” của ông Huy Phương chắc đã làm nhiều người suy nghĩ:
Nhắc lại tiểu sử, sự nghiệp của John McCain, người ta đã ca ngợi ông như một anh hùng của nước Mỹ và là một “đại ân nhân” của CSVN. Mỹ và Bắc Việt đã từng là kẻ thù của nhau, có thể nào một anh hùng của đất nước này lại là một ân nhân của đất nước kia không? Ông không những có công với người Việt hải ngoại đã vì chống đối chế độ trong nước mà khăn gói ra đi, ông cũng là một trong những người vận động bỏ cấm vận và mở lại bang giao Việt Mỹ, để người Việt gọi ông là “đại ân nhân,” chúng ta đã thấy hình ảnh nhiều ngươi dân ôm ảnh ông vào lòng mà sụt sùi sau khi ông mất.
Image result for Đại sứ Daniel J. Kritenbrink nghiêng mình trước bức phù điêu... cao quý
Đại sứ Daniel J. Kritenbrink nghiêng mình trước “bức phù điêu… cao quý”
Có điều khá khó hiểu là vì sao đối với một “đại ân nhân” như John McCain, CSVN không xây cho ông một tượng đài mươi tỷ, không hoành tráng như tượng “bác Hồ” thì cũng tạm như tượng ông Fidel Castro. Cái tượng tạc ông, nói cho đúng một bức phù điêu nhếch nhác xây bên bờ hồ Trúc Bạch, mô tả cảnh ông quỳ gối, đang tay đầu hàng, bên cạnh một cái bảng khắc những dòng chữ:
“Ngày 26 Tháng Mười, 1967 tại Hồ Trúc Bạch, quân và dân thủ đô Hà Nội bắt sống phi công John Sydney McCain, thiếu tá không quân thuộc lực lượng Hải Quân Hoa kỳ đã lái máy bay A4, bị bắn rơi tại nhà máy điện Yên Phụ. Đây là một trong 10 chiếc máy bay bị rơi cùng ngày.”
Đây rõ ràng không phải là một bức tượng “vinh danh” hay “tri ân” mà là một bức tượng “sỉ nhục,” tả ông trong tư thế quỳ gối, hai tay đưa thẳng lên cao khỏi đầu. Điều làm tôi ngạc nhiên là Thượng Nghị Sĩ John McCain đã tỏ ra “tự hào” khi được Việt Nam dựng “bia” tại hồ Trúc Bạch, nơi máy bay của ông bị bắn rơi. Một bức ảnh chụp lại bức phù điêu này được treo trong phòng làm việc của ông, và ông đã có lần nói với ông Đại Sứ CSVN Nguyễn Quốc Cường là: “Đây là bức ảnh tôi quý nhất!”
Ông Nguyễn Quốc Cường cho biết mỗi lần thăm Việt Nam, ông John McCain thường dẫn các thượng nghị sĩ và bạn bè của ông tới để “khoe” về tấm bia và chụp hình kỷ niệm.
Người ta cho rằng tư thế quỳ gối đầu hàng của một chiến binh là một sự sỉ nhục ở tầm quốc gia. Câu chuyện này đã làm tôi nhớ lại việc Iran công bố đoạn video ghi lại cảnh 10 thủy thủ Mỹ quỳ gối khi bị bắt giữ ở hải phận Iran, dưới thời Obama. Nhưng ông John McCain chỉ bị bắn rơi và cũng chẳng bao giờ giơ hai tay lên khỏi đầu và quỳ gối với tư thế ươn hèn như vậy. (Ông bị gãy hai tay và một chân khi rơi xuống hồ Trúc Bạch.) Rõ ràng là CSVN luôn luôn chơi trò“kèo trên,” ngoài mặt giả vui cười, nhưng bên trong thì trịch thượng, chơi đòn bẩn, đâm sau lưng. Phải chăng vì là một người Mỹ, ông John McCain trung thực, không thấy rõ lòng dạ của kẻ thù?
Trong thời gian gần đây, giữa Tổng Thống Donald Trump và Thượng Nghị Sĩ John McCain, có chuyện “cơm không lành canh không ngọt,” chúng ta chưa thấy ông Trump đáng là bậc chính nhân mà McCain cũng chưa xứng được gọi là quân tử! (ngưng trích)
Image result for mccain funeral
Trong lịch sử Thượng Viện Hoa Kỳ, có lẽ chưa có nghị sĩ tại chức nào qua đời mà tang lễ được tổ chức rình rang và được nói tới nhiều như Nghị sĩ John McCain. Tang lễ ông McCain được tổ chức rình rang là do ý muốn của chính ông. Ông được nói tới nhiều vì trong 81 năm cuộc đời ông (29.8.1936 – 25.8-2018) có nhiều chuyện để nói và ông cũng thích được nói về mình.
Là hậu duệ của một dòng dõi mà cả ông nội và bố đều là đại tướng trong Hải Quân Hoa Kỳ, John McCain cũng đã chọn binh nghiệp, được huấn luyện để trở thành một phi công của Hải Quân, chuyên lái loại máy bay tấn công những mục tiêu trên mặt đất, cất cánh từ những hàng không mẫu hạm trên biển.
Nếu không có chiến tranh Việt Nam thì chắc John McCain cũng sẽ nối gót ông nội và cha để trở nên một hải quân đô đốc trước khi về hưu, an dưỡng tuổi già trong bình lặng, nhưng cuộc đời binh nghiệp của ông đã chấm dứt khi trong một phi vụ oanh tạc vùng Hà-Nội một ngày vào tháng 10 năm 1967, chiếc A-4 Skyhawk của Thiếu tá John McCain đã trúng đạn phòng không của địch, rơi xuống Hồ Trúc Bạch, mở đầu cho câu chuyện về “bức phù điêu” quái dị cho tới ngày nay. Bức phù điêu đã làm cho Nghị sĩ John McCain “tự hào” và một ảnh chụp cái phù điêu ấy đã được ông McCain trịnh trọng treo trong văn phòng nghi sĩ của ông mà ông nói rằng đó là cái mà ông quý‎ nhất.
Nghĩ như thế nào về bức phù điêu ấy là quyền của ông McCain, cũng như quyền của người khác không đồng ý với ông. Nhưng có những chuyện đằng sau bức phù điêu ấy cũng cần được nói tới, và không thể không nói.
Trước hết là chuyện ai đã bắn rơi chiếc máy bay của Thiếu tá John McCain? Theo tin của Hà-Nội lúc ấy thì “quân dân ta đã bắn rơi chiếc máy bay và bắt sống tên giặc lái…” nhưng tấm bia trên bức phù điêu chỉ ghi “quân và dân thủ đô Hà Nội đã bắt sống phi công John Sydney  McCain”.
Tại sao không ghi rõ trên tấm bia là “chiếc máy bay A-4 đã bị quân dân ta bắn rơi và bắt sống” như tin đã loan? Câu trả lời là tại vì không phải do “quân dân ta” đã bắn rơi chiếc A- 4 Skyhawk, nhưng là do một người lính Nga trong Hồng Quân Liên-Sô tên là Yuri Trushyekin đã làm việc ấy mà cho mãi tới năm 2008 (17 năm sau khi chế độ cộng sản tại Nga sụp đổ), ông ta mới xuất hiện trong một cuộc họp báo ở Mạc-tư-khoa và nói rằng chính mình mới là người đã bắn rơi chiếc máy bay của Thiếu tá John McCain và đã cứu viên phi công Mỹ thoát chết sau khi rơi xuống Hồ Trúc Bạch, đang bị quân lính CSBV và cả dân xúm vào đánh đập tàn nhẫn trong lúc kẻ thù của họ đã bị thương nặng với hai tay và một chân bị gãy. Trushyekin nói rằng ông ta và đồng đội đã ra lệnh cho đám đông hãy dừng tay để bắt sống viên phi công Mỹ.
Image result for Yuri Trushyekin
Trushyekin đã trưng ra hình ảnh, giấy thông hành và cả một bằng khen của Hà-Nội để làm bằng chứng và nói rằng trong suốt thập niên 1960 và mấy năm đầu 1970, đã có hàng ngàn binh lính và sĩ quan Nga được đưa sang miền Bắc Việt Nam để giúp cộng quân chống Mỹ, đa số giữ vai trò cố vấn. Nhưng người Nga cũng có mặt tại chiến trường để huấn luyện cho bộ đội cộng sản VN cách sử dụng những vũ khí do Nga cung cấp, nhưng Hà-Nội không bao giờ nhìn nhận có người Nga tham chiến tại miền Bắc VN.
Về việc bắn hạ chiếc A-4 Skyhawk, Trushyekin nói rõ rằng sở dĩ ông ta đã đích thân bắn rơi chiếc máy bay vì lính CSBV đã bắn hết 12 hỏa tiễn phòng không do Liên-Sô cung cấp mà không trúng đích, còn hỏa tiễn cuối cùng, ông ta đã phải nhắm bắn và may mắn trúng mục tiêu.
Chuyện sau đó là những gì đã diễn ra trong bốn bức tường phòng giam ở “Hanoi Hilton” cho tới năm 1973 khi John McCain được trả tự do và trở về Mỹ do việc ký kết bản Thỏa hiệp Paris về “Chấm dứt chiến tranh và tái lập hòa bình tại Việt Nam”,  giúp người Mỹ ra đi “trong danh dự”.
Thời gian sáu năm ấy trong phòng giam kín đã xảy ra nhiều việc mà chỉ có cộng sản Hà-Nội và tù binh John McCain biết, từ những đòn tra tấn tới những lời khai, những lời “thú tội” khi sức chịu đựng của con người bị đẩy tới lằn ranh cuối cùng. Sự tra tấn đã đẩy sức chiu đựng của John McCain tới lằn ranh cuối cùng và ông đã làm những việc mà sau này đã được viết lại mơ hồ và bày tỏ sự hối tiếc trong hồi k‎ý.
Thời gian sáu năm ấy đã làm thay đổi hẳn cuộc đời của John McCain. Con đường binh nghiệp bị chấm dứt. Ông giải ngũ, rời khỏi Hải Quân năm 1981 với cấp bực Đại tá và dọn về Arizona. Năm sau, 1982, cựu Đại tá John  McCain bước vào đấu trường chính trị nước Mỹ và được bầu vào Hạ Viện với tư cách một đảng viên Cộng Hòa. Sau hai nhiệm kỳ làm dân biểu, John McCain bước lên Thượng Viện năm 1987 và đã đắc cử dễ dàng liên tiếp năm nhiệm kỳ cho tới nhiệm kỳ cuối cùng bắt đầu vào năm 2016 cho tới ngày 25.8.2018.
“Cái quan luận định”, lời dạy của các cụ ngày xưa có nghĩa là khi đậy nắp hòm rồi mới có thể nhận định, khen hay chê về một con người. Nghị sĩ John McCain, sau khi nhắm mắt, xuôi tay, nằm trong hòm, được nhiều người khen, mà kẻ chê cũng lắm. Nhưng, đối với ông McCain, nắp hòm đã đậy rồi cũng chưa đủ để “luận định”, khen hay chê, vì hai ngày sau khi nắp hòm của ông đã đậy, ngày 27.8.2018, Rick Davis, viên cựu quản đốc chiến dịch tranh cử của ông John McCain còn công bố lá thư vĩnh biệt dài dòng của ông cố nghị sĩ với đoạn mở đầu như sau:
Image result for Rick Davis
“Gửi những đồng bào mà tôi được phục vụ trong 60 năm qua, nhất là những đồng hương ở Arizona,Cảm ơn quý vị đã cho tôi cái vinh dự được được phục vụ quý vị, và được lãnh đạo trong cuộc sống quân ngũ và chính trị. Tôi đã nỗ lực để tận tình phục vụ quê hương chúng ta. Đôi khi tôi có lầm lẫn, nhưng tôi hy vọng lòng yêu nước của tôi được quý vị coi nặng hơn những lỗi lầm nhỏ.Tôi thường tự coi mình là kẻ may mắn nhất trên đời. Ngay cả lúc này -lúc tôi chuẩn bị cho chuyến đi cuối đời- tôi vẫn thấy mình may mắn. Tôi thích cuộc sống tôi đã sống, thích toàn bộ cuộc sống đó – cuộc sống nhiều trải nghiệm, nhiều phiêu lưu, và chan chứa tình bạn, đầy đủ gấp 10 lần những cuộc sống phong phú khác. Tôi tri ân đời.Dĩ nhiên, như mọi người, tôi cũng có lắm điều ân hận. Nhưng tôi không đổi một ngày nào trong cuộc đời tôi -kể cả những ngày xấu nhất- đổi lấy ngày tốt nhất của bất cứ ai.Tôi thỏa mãn với cuộc sống, vì tôi yêu thương gia đình tôi. Không vợ con ai dễ thương hơn vợ con tôi, không ai hãnh diện về gia đình như tôi. Quê hương ban phát tình gia đình cho tôi, ban phát những gắn bó với mọi lý tưởng Hoa Kỳ như yêu tự do, chuộng công bằng, kính trọng nhân phẩm của mọi người. Tôi hạnh phúc hơn những thoáng thích thú phù du. Bản thân và nhân cách của chúng ta trở thành cao lớn hơn vì chúng ta phục vụ cho những lý tưởng vĩ đại.Thưa quý bạn, tôi say mê hòa mình vào những lý tưởng đó hơn bất cứ điều gì khác. Sống, tôi hãnh diện được là người Mỹ, chết cũng xin chết trong cái hãnh diện đó. Chúng ta là công dân của một đất nước cao thượng, một đất nước đầy lý tưởng, chứ không bó hẹp vào máu và đất. Thượng Đế ban phước cho chúng ta, và chúng ta đem phước lành đến cho nhân quần, bằng cách bảo vệ và bành trướng lý tưởng Hoa Kỳ ngay trong đất nước chúng ta và trên khắp thế giới.Trong lịch sử, chưa bao giờ chúng ta giải thoát được nhiều người như hiện nay; chúng ta giải thoát họ ra khỏi bọn cường quyền, giải thoát họ ra khỏi cảnh nghèo đói. Trong sứ mạng giải phóng đó chúng ta trở nên mạnh hơn, giàu hơn.Nhưng chúng ta làm nhỏ đi tầm vóc vĩ đại của Hoa Kỳ nếu chúng ta tưởng sự hơn thua bộ lạc là lòng yêu nước. Những tranh chấp tủn mủn đó chỉ tạo ra thù hận và bạo lực trên thế giới”.(ngưng trích)
Đúng là “lá chúc thư vĩnh biệt” này đã chiếu rọi những tia sáng vào các ngóc ngách trong tận cùng tâm can ông cố nghị sĩ và đã gây ra nhiều chỉ trích, phản ứng tiêu cực, mà tức thì thấy được là ngay sau ông khi ông Davis đọc vừa xong bức chúc thư thì lá cờ sao sọc trên nóc Tòa Bạch Ốc đã được kéo lên cao như những ngày thường, dù trước đó hai ngày, khi có tin Nghị sĩ McCain qua đời, TT Trump đã ký lệnh để cờ rũ trên nóc Bạch Cung cho đến ngày quan tài Nghị sĩ McCain hạ huyệt. Lý do của sự chấm dứt đột ngột để cờ rũ: dù là một người “ngu” hay có đầu óc “hơn thua bộ lạc” tới đâu  cũng thấy những hàng chữ cuối cùng trong phần trích dẫn trên đây là cú đá giò lái nhắm vào kẻ đã không chịu nhìn nhận John McCain là một anh hùng của nước Mỹ và đã bị ông cấm cửa khi ông nằm trong quan tài!
Tuy nhiên, lá chúc thư vĩnh biệt cũng có những điều thành thật đáng khen, như câu “Tôi thường tự coi mình là kẻ may mắn nhất trên đời”. Thật vậy, nếu John McCain không “là kẻ may mắn nhất trên đời” thì đã không thể tới được nơi ông đã tới trước khi nhắm mắt lìa đời.
Có vẻ John McCain không phải là một người thông minh cho lắm. Ông tốt nghiệp Học Viện Hàng Hải Quốc Gia HK hạng thứ 4, đếm từ dưới lên trong bảng xếp hạng những sinh viên tốt nghiệp năm 1958. Khởi đầu, John McCain được phái tới một phi đội A-1 Skyraider như một phi công phụ trên Hàng Không Mẫu Hạm USS Interpid trên vùng biển Caribe và Địa Trung Hải. Vào giữa thập niên 1960, hai trong trong những phi vụ đầu tiên của ông gặp nạn và phi vụ thứ ba đâm vào một đường dây dẫn diện, nhưng John McCain may mắn chỉ bị thương nhẹ.
Lần thứ ba, John McCain lại may mắn thoát chết khi chiếc Hàng Không Mẫu Hạm Forrestal bốc cháy vào ngày 29.7.1967 trên Vịnh Bắc Việt. Ông đã thoát ra kịp thời khỏi chiếc phản lực cơ đang bốc cháy khi một quả bom phát nổ, bị nhiều mảnh bom bắn vào ngực và hai chân nhưng đã sống sót trong lúc 134 thủy thủ đã thiệt mạng và phải mất 24 tiếng đồng mới dập tắt được đám cháy.
Chỉ ba tháng sau, John McCain lại thoát chết trên Hồ Trúc Bạch, khi may mắn được người lính Nga Yuri Trushyekin cứu khỏi những đòn thù của đám “quân và dân thủ đô Hà-Nội”.
Sáu năm sau, John McCain lại có một may mắn nữa là khi trở về Mỹ, đã được đích thân TT Nixon tới tận thang máy bay chào đón, trong khi hàng triệu người lính Mỹ trở về từ Việt Nam đã “được” dân Mỹ chào đón bằng cà chua, trứng thối và những lời nguyền rủa. John McCain còn được suy tôn như một anh hùng của Mỹ, được dân Mỹ trọng vọng bầu vào Quốc Hội cho tới lúc chết. Tang lễ được tổ chức long trọng hết cỡ kéo dài cả tuần, từ miền Tây sang miền Đông nước Mỹ, với sự hiện diện của hầu hết những tai to mặt lớn trong cái “đầm lầy” ở Washington, kể cả ba cựu tổng thống và tất cả những người đã được hai đảng đề cử ra tranh chức tổng thống trong suốt hai thập niên vừa qua.
Image result for President Nixon welcomes home McCain
Ông John McCain chắc đã phải mỉm cười nơi chín suối. Và, hẳn là ông sẽ vui hơn nếu được biết sau khi ông rời khỏi cõi trần ai tươi đẹp này thì ông đại sứ Mỹ tại Hà-Nội đã tới đặt vòng hoa và kính cẩn nghiêng mình trước “bức phù điêu… cao qu‎ý” bên bờ Hồ Trúc Bạch, mô tả Thiếu tá John Sydney McCain đang quỳ gối, giơ cao hai tay đầu hàng.
Thôi, Nghị sĩ John McCain hãy quên cái lão tổng thống “thô lỗ và điên khùng” đi, vì dù sao lão ta cũng đã được đa số dân Mỹ bầu ra, đúng quy định của Hiến Pháp và Luật Pháp theo truyền thống dân chủ hay đẹp của nước Mỹ, mà ông nghị sĩ cũng đã cố thử hai lần nhưng không thành công và đã đổ tội oan cho người khác.
Đúng như lời ông nghị sĩ trong chúc thư vĩnh biệt: “Những tranh chấp tủn mủn đó chỉ tạo ra thù hận và bạo lực trên thế giới”.
Ký Thiệt

Thursday, September 13, 2018

Cách dùng đậu đen của người Nhật: Vừa giảm được cân lại đẹp da
image.png
Nhiều người có thể đã từng dùng đậu đen để giảm cân, tuy nhiên hiệu quả thu về không đáng kể, thậm chí là ngược lại chỉ vì làm sai cách.
Chúng ta thường biết đến đậu đen như món chè đậu, hay xôi đậu… nhưng có thể bạn chưa biết đến tác dụng tuyệt vời của nó trong việc giảm cân. Đậu đen chứa albumin, vitamin A, B, C, và các chất như protid, glucid, lipid, muối khoáng. Hàm lượng acid amin cần thiết trong đậu đen rất cao gồm: lysin, methionin, tryptophan, phenylalanin, alanin.
Trong đậu đen còn chứa một chất là anthocyanin nên có khả năng loại bỏ các chất béo trong cơ thể, vừa giảm cân lại vừa ngăn ngừa quá trình oxy hóa.
Tuy nó không phải mỹ phẩm đắt tiền nhưng công dụng làm đẹp thật tuyệt vời. Nhiều người chỉ đun đậu đen uống giải khát ngày hè hoặc đơn thuần vì thích, thực ra bạn đã bỏ qua hàng loạt lợi làm đẹp da, giữ dáng, tốt cho sức khỏe…
alt
Đậu đen
Còn nếu theo Đông y, đậu đen có tác dụng bổ thận, thanh nhiệt giải độc, lợi niệu, bổ huyết, điều trị thận yếu, mặt sưng phù, phong thấp tê liệt, thấp khớp, lở loét, giúp sáng mắt, điều hòa hệ thống tim mạch, chữa đau đầu, mất ngủ… Ngoài ra chúng còn giúp làm đẹp da, cực kỳ tốt cho phụ nữ. Người uống nước đậu đen thường xuyên sẽ có sắc tố da trắng mịn, hồng hào, sáng khỏe và ít khi nổi mụn, vóc dáng cũng luôn ở mức cân đối.
alt
Làn da mịn màng từ nước đậu
Đậu đen chứa rất nhiều khoáng chất, vitamin và đủ cả 10 loại axit amin cần thiết (Lysine, methionine, tryptophane, phenylalanine, threonine, valine, leucine, isoleucine, arginine và histidine). Do đó, giá trị dinh dưỡng của chúng rất cao, ‘lợi đơn lợi kép’.
Cách làm như sau:
Chuẩn bị nguyên liệu: 100 gam đậu đen (loại xanh lòng), 1 lít nước
Cách thực hiện:
Bước 1: Đầu tiên, bạn chọn các hạt đậu chắc, mẩy, không sâu bệnh rồi đem rửa sạch với nước chứ không ngâm. Sau đó, vớt ra để ráo nước.
alt
Bước 2: Bạn đổ đậu đen vào chảo, rang nóng đến khi chúng dậy mùi thơm, chú ý đảo đều tay tránh bị cháy. Lúc đầu rang lửa lớn rồi từ từ hạ nhỏ lại, được khoảng 10 phút là đậu chín (không nên rang chín già) thì bạn tắt bếp. Nếu bạn muốn làm 1 mẻ to thì tăng số lượng đậu đen lên, bảo quản trong hộp kín rồi dùng dần.
alt
Bước 3: Tiếp đến, bạn cho 1 lít nước sôi vào nồi cùng 100 gam đậu đen, đun khoảng 10 phút đến khi sôi thì tắt bếp, đợi nguội.
alt
Cách sử dụng: Với số lượng nước đậu đen như trên, bạn chia làm 4 lần, mỗi ngày uống 2 ly trước các bữa ăn. Số còn lại cất trong tủ lạnh dùng cho ngày hôm sau, đối với những bạn nào thấy khó uống có thể thêm 1 chút muối vào. Bạn lưu ý là phải dùng đều đặn ít nhất 2 tuần mới thấy được tác dụng hiệu quả.
alt
Nước uống này dùng được cho mọi lứa tuổi, không chỉ giúp các chị em duy trì vóc dáng cân đối, thon thả nhờ khả năng loại bỏ mỡ thừa, thanh lọc cơ thể mà còn chống rụng tóc rất hữu hiệu. Làn da cũng dần trở nên láng mịn, hồng hào đầy sức sống, đặc biệt chúng còn chống lão hóa xuất sắc, giúp phụ nữ trẻ lâu.
Tiểu Mai
__._,_.___

Một Thuở Học Trò

Hồ Phổ Lại


Tôi gặp thầy lúc tôi vừa đặt chân lên lớp một, cấp trung học. Thầy tên Ưng Biền, một cái tên thuộc dòng vua chúa triều Nguyễn. Nghe đâu, ở lứa tuổi thanh niên đã có một thời tầy vô bưng theo kháng chiến. Về sau trở ra hồi chánh, thầy lập gia đình và đi dạy học. Lúc dạy tôi thầy trạc 45, còn tôi thì ở tuổi 11, 12. Xét chung chung thầy thuộc loại người đẹp trai, dáng dấp cao ráo, khuôn mặt đều đặn, thái độ khoan thai, nói năng từ tốn. Ngày thường thầy tới trường trong bộ âu-phục hợp thời trang. Những ngày lễ lạc, thầy thắng bộ quốc phục: áo the đen, quần vải trắng, đầu đội khăn đóng, chân mang giày hạ. Nghĩa là thoạt nhìn bên ngoài, thầy Ưng Biền là hiện thân của một nhà mô phạm gương mẫu muôn đời. 

Nhưng, phải chăng ngoài cái vỏ bên ngoài và ngoài cái phần bên trong, trong con người còn cái cốt lõi giấu kín tận đáy sâu thăm thẳm của mỗi cõi lòng. Đặc biệt trong con người của thầy Biền ba khía cạnh riêng biệt đó không những chỉ khác người mà còn khác nhau, thậm chí còn đối nghịch nhau như nước với lửa. 

Điểm lạ lùng thứ nhất là thầy có một lối... nhảy mũi rất lạ lùng, rất phong phú và vô cùng vui nhộn. Mà, hình như rằng thầy chỉ thực sự thi hành công tác nhảy mũi khi thực sự đặt chân vào lớp học. Dầu với lớp học nào và dầu ở vào thời điểm nào. Có lẽ thầy bị dị ứng với tấm bảng đen và bụi phấn trắng. Có kẻ ác ý phao vu rằng thầy Biền dị ứng với những khuôn mặt... khả ố của lũ học trò vì thầy vốn ghét cay ghét đắng cái nghề gõ đầu trẻ. Sở dĩ phải hành nghề mô phạm vì thầy bị đẩy vô cái thế "chẳng đặng đừng". Sự thật ra sao, họa may ra chỉ một mình thầy biết một mình thầy hay. Cũng lạ đời thật! Vì, đã là con người có mấy ai không từng bị cảm cúm, nhức đầu, sổ mũi, nhảy mũi. Nhưng nhảy mũi theo lối của thầy Biền thì ở đời nầy cũng khó có ai theo kịp. Không thỉnh thoảng, không mỗi lần năm ba cái như người khác, thầy Biền nhảy mũi đều đặn hằng ngày và mỗi lần ít ra... ba mươi cái, có khi hơn. Tiếng chuông vừa đổ, học trò sắp hàng vào lớp xong xuôi thì đến lượt thầy khệ nệ ôm chồng sách vào theo. Vừa bước chân qua ngưỡng cửa lớp , thầy bắt đầu nhảy mũi. Nhảy lia lịa, nhảy liên tục, nhảy nhịp nhàng, nhảy tưng bừng và nhảy... tận tình. Ở bên dưới, lũ học sinh hồ hởi đếm theo: một, hai, ba... ba mươi. Nhịp đếm của số đông cũng nhịp nhàng, cũng tưng bừng, cũng tận tình không thua gì nhịp quân hành của đoàn quân xuất trận. Ngoài việc đếm bằng miệng, các nam sinh còn cao hứng dùng thước kẻ gõ nhịp lên bàn, mau chậm, mạnh nhẹ, cao thấp theo đúng âm điệu phát ra từ cửa miệng của thầy. Tiếng đếm, nhịp gõ chỉ dừng lại khi điệu nhảy mũi được thay thế bằng câu nạt nộ thường ngày. 

- Ngồi xuống! Ngậm miệng lại!

Ngồi xuống thì ngồi xuống, ngậm miệng thì ngậm miệng. Quen tai, quen mắt chúng tôi tỉnh bơ thi hành mệnh lệnh. Trong suốt năm học và có thêm ba năm kế tiếp nữa, giờ vạn vật chính là giờ làm chúng tôi cảm thấy thoải mái nhất. Dư luận chung quanh đồn rằng: đối với mệ Biền (thời đó ai mang họ Ưng, Hường, Bữu, Vĩnh dầu đàn ông hay đàn bà đều được bàng dân thiên hạ phong cho chức ‘’mệ’’), học sinh chỉ cần bỏ tiền ra mua quyển sách do chính tay mệ biên soạn lấy là chắc chắn... qua cầu.

Ngay ngày gặp mặt đầu tiên, thầy Biền đã vào lớp học với chồng sách cao nghệu trong tay. Nếu tổng số học sinh trong lớp gồm 50 đứa thì số sách thầy mang theo sẽ là 50 quyển. Không thiếu không thừa. Thầy là giáo sư độc nhất dạy môn vạn vật cho toàn trường. Do đó thầy soạn sách cho cả bốn lớp. Mỗi năm một quyển. Xong màn nhảy mũi tưng bừng, thầy mở quyển sổ điểm danh ra, gọi tên từng đứa lên bàn giáo sư nhận sách và ký tên thiếu nợ. Đến kỳ học sau, răm rắp đem theo tiền trả nợ. Đôi khi có đứa vì gặp gia cảnh quá nghèo không thể trả nổi một lần thì thầy cho trả góp. Sách thầy gồm những bài biên soạn giản lược đến độ ai đọc cũng hiểu, còn những hình vẽ kèm theo thì sơ sài đến độ ai vẽ cũng được. 

Đến giờ giảng bài, mỗi đứa ngồi trước quyển sách của mình, mở đúng trang bài giảng hôm đó. Thầy chỉ mặt đứa nào thì đứa đó cúi xuống đọc. Đứa sau, đọc kế dòng đứa trước. Cứ vậy cho đến hết bài. Nếu tôi nhớ không lầm thì mãi cho đến năm học cuối cùng tôi chưa lần nào có hân hạnh được nghe thầy giảng bài, dầu chỉ một dòng lấy lệ. Đôi khi vì tinh nghịch hay vì có thiện chí gây thêm hứng khởi cho lớp học, một nam sinh nào đó cắc cớ đưa tay lên, khiếu nại:

-Thưa thầy, chúng con cần nghe giảng bài.

Cả lớp cười rú lên cho không khí bớt tẻ nhạt dầu biết rõ như hai với hai là bốn rằng trước sau gì thầy cũng sẽ phán câu nầy:

- Cái lũ đầu trâu mặt ngựa tụi bây cần gì nghe giảng?

Không cần phải nghe giảng vì bài học vốn đã quá đơn giản hay vì hiểu rõ là cả bọn chúng tôi, gần 60 đứa, đứa nào như đứa nấy hằng ngày lăng xăng ôm tập vở tới trường cốt để gặp gỡ bạn bè, chơi đùa thoả thích hơn là để dùi mài kinh sử. 

Xong giờ giảng bài, tới giờ trả bài. Cả lớp hai tay khoanh tròn, sách vở gấp lại, mắt mũi láo liên, mặt mày hăm hở. Lịch trình trả bài theo đúng thứ tự a, b, c, ghi trong sổ điểm danh. Mỗi kỳ học có mười đứa phải trả bài và mỗi đứa phải đọc thuộc lòng năm câu, không sai lệch đường nào. Cứ vậy, suốt năm, năm này sang năm khác. Nếu tổng số học sinh trong lớp gồm 60 đứa thì trong sáu tuần liên tiếp mỗi đứa chỉ được gọi tên đúng một lần. Một tháng rưởi trời chỉ phải trả bài có một lần và chỉ học vỏn vẹn có năm câu. Nhiều nhỏi gì cho cam! Chúng tôi chỉ việc ghi rõ ngày giờ và học thuộc lòng số câu mình phải trả là coi như... chu tất mọi bề. 

Thói đời , cứ “được đằng chân thì lân đằng đầu.” Có một ngày trước giờ vạn vật không biết nghe ai xúi giục, một nam sinh khác bỗng dưng bốc đồng đưa ra trình làng một phương pháp trả bài còn thần sầu quỉ khốc hơn nữa: 

- Tại sao tụi mình phải mất công học đến năm câu thay vì chỉ một câu thôi?

Chỉ một câu thôi! Nghe hấp dẫn quá trời ! Cả lớp nhao nhao, diễn giả cao hứng oang oang giải thích: 

- Đề nghị nên đọc lớn tiếng câu đầu tiên rồi lập tức hạ giọng thầm thì lặp lại nguyên văn câu vừa đọc thêm bốn lần nữa. Phần bận làm thơ, phần không nghe rõ, thầy sẽ đinh ninh rằng tụi mình đọc đủ năm câu. 

Nhất trí cao. Tuy nhiên, dầu lũ học trò có giở trò lường gạt tài ba đến đâu thì thái độ của thầy vẫn không mảy may thay đổi. Sống lưng thẳng ro, cặp mắt bình thản chăm chú nhìn vào tập sách cầm trong tay, thầy kiên nhẫn ngồi đợi. Cứ xong mỗi màn kịch, thầy lại phán cùng một câu:

- Thôi, vác mặt chó về chỗ ngồi! Năm điểm trên mười!

Vác mặt chó và số điểm trung bình. Là thái độ phản đối của thầy hay cũng là dịp để thầy bày tỏ cho chúng tôi hiểu rằng: với thầy, giở loại mánh khoé vặt vãnh đó ra chẳng khác nào “lấy vải thưa, che mắt thánh.” Nội trong lớp chỉ có tôi và vài ba tên bạn gái khác vì tánh nhát gan, vì sợ nạn “tai vách mạch rừng” sẽ có ngày bị ông bố đẻ nóng tánh cho ăn no đòn, do đó dầu bị cám dỗ dầu thấy... tiếc rẻ vẫn không dám a dua nhập cuộc toàn bộ. Nghĩa là tôi cũng ghi nhớ ngày giờ và thứ tự phần bài mình phải trả rồi chỉ học riêng phần đó, học đủ năm câu cho ngày đó. Ngoài ra, mặc kệ. 

Hỗn hào, xấc xược và láu cá như vậy, chúng tôi ngoan cố tự lừa dối mình bằng lối lý luận ba phải sau đây: Ôi! Thầy có để ý gì đâu! Sự thật, nào ngờ! Có một lần và chỉ một lần thôi... Không hiểu đêm trước bận bịu chuyện gì đến nỗi tôi không có thì giờ học bài. Xui là sáng hôm sau lại rơi đúng ngày tôi phải trả bài vạn vật. Đâu còn biết xoay xở cách nào khác ngoài cách áp dụng đúng nguyên bản chiến thuật đang thịnh hành trong lớp: học một câu, đọc một câu, rồi... Lạ lùng thay! Ngay lúc tôi vừa cố tình hạ giọng xuống cũng là lúc thầy Biền rời mắt khỏi tập thơ, quay lại, nhìn tôi. Thầy nhìn bộ y phục tôi đang mặc trong người, nhìn hai gò má tôi đỏ hực lên vì mắc cỡ, nhìn điệu bộ cuống quýt và ánh mắt cố tình tránh né của tên thủ phạm trước giờ đền tội. Vẻ mặt đăm chiêu, vầng trán cau lại, thầy cắt ngang bằng cách nói nhỏ:

- Thôi, về chỗ ngồi! Bảy điểm trên mười!

Bảy điểm thay vì năm điểm! Con số thiên vị! Vì đó là lần đầu tiên tôi phạm tội, vì tôi không thuộc con số đông trong lớp hay vì ngàn năm một thuở tôi mới bị du vô cái thế “chẳng đặng đừng” như tiếng đồn xấu mà dư luận đã gán ghép cho thầy? Dầu gì, tôi vẫn cảm thấy hối hận và xấu hổ vì, hơn ai hết tôi thừa biết rằng tôi đã cố tình tạo dịp tốt để thầy nhìn thấy tận tim đen tim đỏ của mình: Quí báu gì, cũng cá mè một lứa! 

Học hành kiểu tắc trách như vậy, đến kỳ thi lục cá nguyệt chúng tôi biết đào đâu cho ra đủ số chữ để còn hòng trám đầy tờ giấy? Nhưng, ở đời hễ cứ “giang sơn nào thì anh hùng đó.” Đến giờ thi, sau khi lấy phấn viết đề bài lên bảng đen, thầy ngồi xuống ung dung giở vở ra (quyển sách thường ngày thầy vẫn cầm trên tay đến ngày thi được thay thế bằng một quyển vở kiểu vở học trò, vừa cao vừa rộng). Một bên tờ giấy thi, một bên quyển sách vạn vật mở rộng toang hoang, lũ học trò hăng hái bắt tay vào việc tra cứu. Lật sách tìm tòi, sao chép lia lịa, can-kê hình vẽ từ quyển sách qua tờ giấy thi. Là rồi! Dễ dàng, mau lẹ, thuần thục như đang múa may ở chỗ không người. Vui nhộn và tự nhiên đến độ vừa “làm bài thi” chúng tôi vừa đùa giỡn, giành giật viết chì màu, thước kẻ của nhau. Trên bàn giáo sư, thầy ngồi trầm ngâm như bận tìm ý tứ để bình giảng một bài thơ của Lý Bạch hay Đào Tiềm. Thỉnh thoảng, độ nửa giờ một lần để nhắc nhở sự hiện diện của mình, thầy cất tiếng nói:

- Ê, cái thằng hàm ếch (trò Tấn, có cái cằm nhô ra phía trước như cái lưỡi câu) ngồi góc trái, mi đâu cần phải can-kê nhiều hình vẽ như vậy? Tao khuyên mi cứ việc ghi vô tờ giấy thi câu này: xem sách trang..., hình vẽ số... 

Đúng nửa giờ sau, tiếng thầy cất lên lần thứ hai: 

- Ê, cái con vầng trăng méo (trò Thu, có khuôn mặt hơi lõm vào phía má trái) mi sao chép đủ ba trang rồi, đâu cần phải xin thêm giấy trắng nữa?

Lạ đời chưa! Quyển vở rộng khổ vẫn giữ yên thế dựng đứng gần như che khuất khuôn mặt của thầy, vậy thầy theo dõi chúng tôi bằng cách nào? Có một lần, sau khi vào lớp đặt chồng sách lên bàn giáo sư xong xuôi thầy quày quả trở ra, lợi dụng thời cơ anh trưởng lớp chạy bay lên lục lọi. Chỉ sau vài phút anh ta tìm ra tang vật: ở phía trên quyển vở rộng bản có khoét hai cái lỗ tròn tròn, đó chính là chỗ để đôi mắt thầy Biền nhìn xuyên qua hòng theo dõi hành tung của cả lớp. 

Xong cấp trung học, tôi rời tỉnh lỵ. Sau 75 từ một thành phố khác, tôi di tản ra xứ người. Khung trời xưa, ngôi trường cũ, những khuôn mặt thầy cô bạn bè ngày đó dần dần mờ nhạt theo năm tháng. Cho đến một lần cách đây khá lâu, tôi trở lại quê nhà. Trong câu chuyện hàn huyên tôi được biết tin thầy Ưng Biền đã mất. Được tôi hỏi lý do, người kể chuyện thuật rằng: 

“Trong những ngày sôi động cuối tháng 4 năm 75, thầy Biền cùng toàn bộ gia đình chạy vô Sài Gòn. Nhờ có người con trai lớn hiện cư ngụ tại Ba Lê, gia đình thầy được di tản qua Pháp. Tại phi trường Tân Sơn Nhất, trong lúc mọi người xô đẩy chen lấn nhau để lo trình giấy tờ ra sân bay thì thầy cũng chen lấn, nhưng để tìm đường đi vòng trở lại. Thoát qua cửa phi trường, với bịch hành lý nhẹ tênh trong tay thầy ra đường cái đón xe từng chặng từng chặng quay về với thành phố ven biển đó. Dạo ấy, mối quan hệ bang giao với thế giới bên ngoài chưa thiết lập bình thường, không ai biết thầy sinh sống bằng cách nào. Điều người ta có thể nhìn thấy được là cứ mỗi buổi chiều về thầy lại ra đường, mặt mày tươi tỉnh, hai tay chắp sau mông, thả bộ vòng vòng đi thăm viếng bạn bè thăm viếng bà con xóm giềng thăm viếng kẻ ở lâu năm thăm cả người mới dọn tới. 

Một ngày chớm đông, vì không thấy bóng thầy xuất hiện từ mấy hôm trước, lối xóm rủ nhau chạy qua nhà thầy đấm cửa. Không nghe tiếng trả lời, họ báo động phường khóm. Khi cánh cửa lớn mở ra, người ta nhìn thấy thầy nằm bất động trên chiếc đi-văng đặt ngay giữa nhà. Thầy nằm như ngủ, dáng điệu bình thản như khi sống: đầu đội khăn đóng, mình mặc áo the, hai tay chắp lên bụng, quyển thơ Đường rách bươm mở rộng đậy trùm khuôn mặt đã đổi màu.

Tôi lắng nghe, lặng người. Vừa đê mê sung sướng vừa ngậm ngùi ân hận. Giữa đa đoan của cuộc sống này, tôi đã có nhiều cơ may hơn chán vạn người khác: chẳng hạn được gặp gỡ thầy Ưng Biền. Dưới cái bề mặt cười đùa cợt nhã, thầy là lòng sông sâu là đáy biển lớn là khu rừng hoang có chứa nhiều kỳ hoa dị thảo chưa một lần được khai phá. Thầy đã tự nguyện từ chối lần di tản qua Pháp năm 75. Vỏn vẹn một khoảng cách sân bay, vỏn vẹn mấy bậc cầu thang ngắn ngủi với không tới mười giờ lướt gió tung mây: là đoàn tụ cả đời là thừa mứa vật chất là văn minh tột đỉnh là an toàn mãi mãi về sau. Một giấc mơ ngàn đời của mọi người dân các xứ nhược tiểu, ngay cả thời bình . Huống nữa... Giữa cuộc tháo chạy hỗn loạn người người lao tới trước, giành giựt giày xéo lên nhau để tìm con đường sống; chỉ riêng thầy, một mình lủi thủi quay lui để tìm con đường... chết. Chết với quê hương, chết với bạn bè, chết với người quen kẻ lạ, chết với nỗi khốn khó tận cùng, chết với sự nghèo đói triền miên, chết với hàng phi lao lộng gió và chết với tiếng sóng biển rì rầm năm qua tháng lại. 

Chung cuộc, thầy đã bỏ đi rồi. Trên cái thành phố ngày xưa đó, riêng tôi còn ở lại. Với hình ảnh khoảng sân trường rộn ràng tiếng guốc tiếng giày, với hình ảnh vô số khuôn mặt bạn bè những ngày vui thuở nhỏ và hình ảnh của thầy vầng trán cau lại cái nhìn đăm đắm... Bỗng nhiên, tôi bật khóc. Vẫn biết rằng sống là mất: mất tháng năm, mất tuổi trẻ, mất nỗi tin yêu, mất niềm vui sống, mất luôn bến bờ hạnh phúc gởi gắm thuở đầu đời. Mất dần. Mất hết. Mất sạch bong. Mất ráo trọi. Nhưng, suy cho cùng, trong tất cả những mất mát muôn đời và thường tình đó tôi chỉ là một nạn nhân đứng bên lề như ức triệu người khác hay chính là một trong những hung thủ có bằng chứng không tài nào chối cãi được? Vì, đã từ mấy chục năm trôi qua rồi, với cuộc đời nói chung và với những ân tình cũ càng nói riêng, hình như sự đóng góp đích thực của tôi chỉ có thể thâu tóm nội trong ba từ: ơ hờ, dửng dưng và hoàn toàn nguội lạnh. 

Vậy, rốt cuộc lại tôi là gì, là ai, là kẻ được giao phó đóng vai trò nào trong cuộc thế này? 

“Cho tôi được hồi sinh như ve sầu lột vỏ
Tuổi đôi mươi đếm lá rụng sân trường.”

Québec, tháng 2.2006

Khúc vĩ cầm trong nghĩa trang!

Đào Duy HồPhỏng dịch từ nguyên tác “Pour passer le temps”


alt
Ðệ Nhị Thế Chiến bùng nổ. Ðội quân tinh nhuệ của nhà độc tài Adolf Hitler lần lượt chiếm đóng các nước Ðông Âu. Là công dân của nước Ba Lan, gốc Do Thái, Esther Borstein trốn thóat khỏi nơi chôn nhau cắt rốn và chạy sang nước Pháp, lúc bấy giờ vẫn chưa lọt vào tay quân phát xít. Esther là một tay đàn vĩ cầm tài năng nhiều triển vọng. Nàng cảm thấy rất hạnh phúc được sống những ngày tự do trên đất Pháp. Nàng hy vọng một ngày kia sẽ được sang nước Mỹ biểu diễn.
Esther đến Pháp với một gói hành trang nhỏ nhoi và trong túi chỉ vỏn vẹn có vài đồng đô la do bố mẹ gom góp được. Những ngày đầu trên đất khách quê người, nàng da diết nhớ tổ quốc và tự hỏi đến bao giờ nàng mới được gặp lại bố mẹ và mấy đứa em nơi quê nhà.
Ðến Paris, nàng thuê một phòng nhỏ trong khách sạn bình dân gần ga xe lửa miền Ðông. Nàng lấy cuốn sổ tay ghi số điện thoại, địa chỉ ra xem. Ở Paris tất nhiên có không ít người Ba Lan gốc Do Thái, nhưng người mà nàng quen biết thì quả là hiếm. Bất chợt nàng reo lên: “À, bác Moshe Borstein đây rồi. Bác là người anh họ của bố. Bác hành nghề thợ may ở khu dân cư Sentier. Có điều bác đã trên 60 tuổi, khác ngành nghề… liệu bác có thể giúp được gì cho mình nhỉ?”
Tuy nhiên Esther vẫn quyết định đến gặp bác Moshe. Cả gia đình bác Moshe mở rộng cửa đón nàng. Tuy nhiên, tình thế nhanh chóng thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho tương lai âm nhạc của nàng. Ngay lần thăm viếng thứ hai, bác Moshe đi thẳng vào vấn đề:
– Esther, cháu là một cô gái trẻ đẹp. Cháu phải lấy chồng để không phí bỏ tuổi xuân. Cháu đã găp Isaac, con trai của bác rồi chứ? Cháu không nghĩ nó là một người chồng tồi? Rồi vợ chồng cháu sẽ sinh cho bác một đàn cháu nội kháu khỉnh.
Ðúng là Esther đã gặp Isaac. Nhưng trong đôi mắt nàng, Isaac chỉ là một chàng trai tầm thường, hoàn toàn không phù hợp với tâm hồn say mê âm nhạc của nàng chút nào cả. Esther không mấy quan tâm đến lời đề nghị của bác họ Moshe.
Mặc cho những cuộc tấn công của quân phát xít ngày càng ráo riết, cuộc sống thất nghiệp bấp bênh, Esther luôn vững tin rồi đây sự may mắn sẽ mĩm cười với nàng. Mỗi ngày nàng dành hàng giờ trao dồi ngón đàn điêu luyện dù gặp phải sự phản kháng của nhiều người chung quanh vì “tiếng đàn ồn ào” làm họ mất giấc ngủ…
Năm nay Esther đã 24 tuổi rồi còn gì. Nàng tìm việc làm một cách vô vọng. Nàng có thể dễ dàng tìm một chân hầu bàn trong nhà hàng, giúp việc trong một gia đình trưởng giả… Nhưng không, đã trót là một tài năng vĩ cầm, nàng quyết đeo đuổi nghiệp ấy đến cùng. Nàng dò la được thông tin vào buổi chiều giới nhạc sĩ Paris thường tụ họp tại quảng trường Blanche và tại khu Pigalle. Chính tại đây diễn ra các cuộc tuyển dụng nhạc sĩ và ngã giá tiền thù lao:
– Bar Sables d’Olonne cần một tuyển một nhạc công piano và một contrebassiste, thời gian chỉ một tháng thôi, bác có muốn nhận việc làm đó không?
– Ở quán Raspoutine, nhạc công vĩ cầm vừa nghỉ việc. Họ đang tìm người thay, thù lao khá đấy lại có thêm khoản tiền boa nữa…
Dù hơi nhút nhát và giọng nói còn nặng âm hưởng Ba Lan nhưng Esther quyết tham gia cuộc đối thoại với hy vọng nhận được chân vĩ cầm ở Raspoutine:
– Xin lỗi…, nếu quán cần một nữ nhạc công vĩ cầm thì tôi đây sẵn sàng.
– Rất tiếc, người đẹp. Họ chỉ tuyển nhạc công nam thôi, vả lại người chơi vĩ cầm phải thuộc danh mục các bản nhạc của dân tộc Digan…
Một lần nữa sự may mắn không mĩm cười với Esther. Ðể giết thời gian, nàng thường đi lang thang một mình khắp phố phường Paris. Mỗi đường phố là một khám phá mới đối với nàng. Những bước chân cô đơn không định hứơng đôi khi đưa nàng lạc vào các nghĩa trang của thủ đô Paris: nghĩa trang Père-Lachaise, Montmarne, Montparnasse… Tại nghĩa trang Père-Lachaise, Esther chú ý đến một ngôi mộ đề tên Allan Kardec. Ở đầu ngôi mộ, một bức tượng bằng đồng thể hiện nửa thân trên của người quá cố đã đứng tuổi với bộ râu mép chải chuốt được che chắn bởi một mái hiên theo lối kiến trúc cổ sắc sảo. Dòng chữ trên mộ bia ghi nhận người quá cố mất từ thế kỷ trước, thế nhưng mộ của ông ta luôn tràn ngập những bó hoa tươi thắm của người đến viếng. Ðiều này không ngớt gây sự tò mò nơi Esther.
Lại một phụ nữ đến viếng mộ Allan Kardec. Ðặt bó hoa đủ loại: hoa mỹ nhân, cúc tây, cúc lam… nơi mộ bia xong, bà ta đứng lên làm dấu thánh giá rồi nhắm nghiền đôi lầm thầm cầu kinh. Khi bà ta rời ngôi mộ, Esther làm gan đến hỏi chuyện:
– Xin lỗi bà, người trong mộ kia là ai mà mọi người dành cho ông ta sự sùng kính đặc biệt vậy?
– Ðó là ngài Allan Kardec, một người thuộc thành phố Lyon và là người đã sáng lập ra thuyết thuận thông linh. Lúc sinh thời ông luôn làm việc từ thiện. Ông được mọi người xem như một vị thánh dù không được nhà thờ công nhận. Cho đến bây giờ ông luôn che chở phù hộ những người đến đây cầu nguyện. Cô thấy đấy, mộ ông lúc nào cũng đầy hoa tươi và lời biết ơn…
Esther khẽ nói như lời xin lỗi:
– Nhưng tôi là người Do Thái…
– Người Do Thái thì đã sao. Ông Allan Kardec phù hộ tất cả những ai đến đây cầu nguyện bất luận dân tộc, tôn giáo. Về mang hoa đến đây khẩn cầu rồi cô sẽ được toại nguyện.
Esther cám ơn bà ta rồi rảo bước về khách sạn, đầu óc suy nghĩ mông lung: một người công giáo quá cố ở thành phố Lyon. Nàng thì đến từ khu nhà ổ chuột mãi tận Varsovie, Ba Lan. Nếu quả đúng như lời bà ta kể lại thì lời cầu nguyện của mọi người đều đến với Chúa.
Từ hôm đó, Esther thường xuyên đến cầu nguyện tại các nghĩa trang đặc biệt là nghĩa trang Père-Lachaise. Nàng luôn mang theo cây vĩ cầm. Khi chỉ còn một mình trong nghĩa trang, nàng tháo bao đàn ra và bắt đầu dạo những khúc nhạc thay lời cầu nguyện cho những người đã mất sớm về nước Chúa, những người còn sống khắp mọi nơi được mọi điều an lành. Chuỗi nốt nhạc tuôn trào ra như dòng suối. Những khoảnh khắc như thế, nàng tập trung toàn tâm toàn ý vào nốt nhạc đến độ không còn nhận biết vạn vật chung quanh. Ðôi khi có vài vị khách dừng chân lắng nghe tiếng thổn thức, nức nở thoát ra từ chiếc vĩ cầm. Khi dứt tiếng đàn, tuyệt nhiên không một tiếng vỗ tay vì ở nghĩa trang, điều này là cấm kị.
– Tuyệt diệu! Cô vừa chơi điệu nhạc gì thế?
– Xin cám ơn, đó là khúc nhạc cổ truyền của dân Do Thái.
– Nhưng cô đang ở trong nghĩa trang công giáo!
– Thì đã sao? Âm nhạc là âm nhạc, nó đâu có phân biệt dân tộc hay tôn giáo.
Một ngày kia, người gác nghĩa trang góp ý với Esther:
– Ngón đàn của cô thật là tuyệt kĩ nhưng cô hiểu cho qui định không cho phép chơi đàn trong nghĩa trang! Cô thông cảm nhé, điều này có thể làm thân nhân người quá cố không hài lòng. Thôi thì thế này, tôi yêu cầu cô không được chơi khi có mai táng trong nghĩa trang.
Esther cám ơn rối rít vì nàng chỉ mong chờ có bấy nhiêu.
Một buổi chiều thứ hai. Ánh mặt trời chiếu những tia nắng rạng rỡ. Esther đến nghĩa trang, bao đàn đã được tuốt ra. Chiếc vĩ cầm sẵn sàng nhả ra suối nhạc du dương say đắm. Esther nhủ thầm: “Hôm nay mình cảm thấy rất hứng khởi. Linh cảm báo rằng mình sẽ gặp may”. Lúc nàng so dây chuẩn bị khúc dạo đầu, một chiếc xe tang xuất hiện nơi cổng, từ từ chạy lên con đường thoải dốc dẫn vào nghĩa trang. Esther sực nhớ đến lời dặn dò của người gác nghĩa trang: không được chơi vĩ cầm khi có đám mai táng. Người gác nghĩa trang có mặt bên cạnh xe tang. Lúc đi ngang qua chỗ Esther đứng, ông ta đưa ngón tay lên miệng ra dấu giữ “im lặng”. Nàng gật đầu hiểu ý rồi cất chiếc vĩ cầm vào bao.
Xe tang chậm rãi leo lên con đường thoải dốc. Người quá cố có lẻ chỉ là một người bình thường vì ngoài người gác nghĩa trang không thấy ai theo đưa đám tang. À không, có thêm một người nữa đấy. Ðó là một người đàn ông trong bộ y phục màu đen, gương mặt buồn bã, tay cầm chiếc khăn.
Esther tự nhủ: “Ðám tang sao mà vắng vẻ và buồn tẻ thế này”. Tự động nàng chậm bước theo sau xe tang. Người đàn ông mặc đồ đen nhìn nàng giây lát rồi gật đầu chào mà không nói lời nào. Ông ta dường như đang nghĩ trong đầu: “Quái lạ, một nữ nhạc công vĩ cầm. Phải chăng cô ta là người thân trong gia đình người quá cố?”
Một lát sau, chiếc xe đến bên hầm mộ vừa được chuẩn bị xong trước đó không lâu. Esther đọc dòng chữ khắc trên bia đá: “Nơi an nghỉ của ông Jean-Jacques Rouard”.
Nhân viên mai táng bắt đầu việc chôn cất. Một vị linh mục làm dấu thánh giá và lời cầu kinh trầm buồn vang lên. Esther cũng làm dấu thánh giá theo họ, lòng thầm nhủ: “Mình sẽ đọc một bài kinh cho linh hồn người quá cố sớm siêu thoát”.
Niềm cao hứng bất chợt dâng lên trong lòng, Esther bạo gan đến bên người mặc đồ đen đề nghị:
– Tôi là nhạc công vĩ cầm. Nếu không phiền, ông cho phép tôi dạo một khúc vĩ cầm tiễn đưa người quá cố?”
– Lời đề nghị thật thú vị. Vả lại ông Rouard rất mê âm nhạc, đặc biệt là vĩ cầm.
Lấy cây vĩ cầm ra khỏi bao, Esther đưa lên cằm và bắt đầu điệu nhạc cổ truyền. Người đàn ông chăm chú lắng nghe trong khi nhân viên mai táng bắt đầu lắp đất.
Sau khúc nhạc đầu, Esther đề nghị tiếp:
– Ông cho phép tôi dạo khúc nhạc thứ hai chứ?
– Cô đàn tuyệt lắm. Không lý do gì phải ngưng ngang như vậy.
Esther khởi xướng bản nhạc thứ hai. Tiếng nhạc nhặt khoan xen kẽ giữa điệu trầm buồn ai oán và vồn vả vui nhộn. Bản nhạc gom nhặt những tinh hoa của nền âm nhạc Ðông Âu: Ba Lan, Rumani, Hungari.
Tiếng đàn vừa dứt, người đàn ông đến bên Esther hỏi:
– Cám ơn cô rất nhiều. Nếu không phiền, cô vui lòng cho tôi biết danh tánh.
Từ “danh tánh” khiến Esther phát run lên vì nó làm nàng liên tưởng đến giấy căn cước, kiểm soát, hải quan… Buổi chiều yên tĩnh trong nghĩa trang Père-Lachaise như xao động lên:
– Ông là cảnh sát?
– Ồ, không, tôi chỉ là người được giao quyền thi hành di chúc của ông Jean-Jacques Rouard. Tiếng vĩ cầm của cô chắc làm ông ta ngậm cười nơi chín suối.
Cảm thấy an tâm, Esther thổ lộ danh tính:
– Esther Borstein, sinh năm 1914 tại Varsovie.
– Liệu tôi có quá tò mò khi hỏi địa chỉ của cô không?
– À, không sao. Tôi đang thuê tạm một phòng tại khách sạn Voyageurs, đường Magenta. Tôi hy vọng sẽ sớm dời đến nơi ở tốt hơn khi có việc làm.
– Cô có bạn, bà con hay địa chỉ để có thể liên lạc trong trường hợp cô rời khách sạn?
– Ông có thể liên lạc với tôi qua người bác họ, ông Moshe Borstein, số 44 đường Jeuneurs.
– Rất tốt. Hy vọng sẽ sớm gặp lại cô.
Vài tuần sau, Esther nhận được lá thư tay từ gia đình người bác họ. Bác Moshe Borstein nói với Esther: “Một người tên M. Baranton muốn gặp cháu gấp. Số điện thoại của ông ta…” Esther tự nhủ: “Có lẽ ban nhạc nào đó muốn tuyển mình. Cuối cùng rồi mình cũng sẽ có được việc làm và đồng lương…”
Ðến nơi hẹn, Esther nhận ra ngay M. Baranthon chính là người đàn ông mặc đồ đen trong nghĩa trang. Ông ta đi thẳng vào vấn đề:
– Cô Esther, tôi có tin vui cho cô. Cô là người duy nhất đưa ông Jean-Jacques Rouard đến nơi an nghỉ cuối cùng. Do đó cô là người được chỉ định nhận toàn bộ di tặng của ông Rouard bao gồm 3 triệu francs.
Sáng hôm sau, Esther mang một bó hoa đặt tại mộ của Allan Kardec. Sau đó nàng chơi một nhạc khúc yêu thích nhất bên mộ ân nhân Rouard.
Tuần lễ sau, người ta thấy Esther Borstein trên boong tàu đi nước Mỹ, điều mà cô hằng mong ước khi vừa đặt chân đến nước Pháp..
Đào Duy HồPhỏng dịch từ nguyên tác “Pour passer le temps”

Khúc vĩ cầm trong nghĩa trang!

Đào Duy HồPhỏng dịch từ nguyên tác “Pour passer le temps”


alt
Ðệ Nhị Thế Chiến bùng nổ. Ðội quân tinh nhuệ của nhà độc tài Adolf Hitler lần lượt chiếm đóng các nước Ðông Âu. Là công dân của nước Ba Lan, gốc Do Thái, Esther Borstein trốn thóat khỏi nơi chôn nhau cắt rốn và chạy sang nước Pháp, lúc bấy giờ vẫn chưa lọt vào tay quân phát xít. Esther là một tay đàn vĩ cầm tài năng nhiều triển vọng. Nàng cảm thấy rất hạnh phúc được sống những ngày tự do trên đất Pháp. Nàng hy vọng một ngày kia sẽ được sang nước Mỹ biểu diễn.
Esther đến Pháp với một gói hành trang nhỏ nhoi và trong túi chỉ vỏn vẹn có vài đồng đô la do bố mẹ gom góp được. Những ngày đầu trên đất khách quê người, nàng da diết nhớ tổ quốc và tự hỏi đến bao giờ nàng mới được gặp lại bố mẹ và mấy đứa em nơi quê nhà.
Ðến Paris, nàng thuê một phòng nhỏ trong khách sạn bình dân gần ga xe lửa miền Ðông. Nàng lấy cuốn sổ tay ghi số điện thoại, địa chỉ ra xem. Ở Paris tất nhiên có không ít người Ba Lan gốc Do Thái, nhưng người mà nàng quen biết thì quả là hiếm. Bất chợt nàng reo lên: “À, bác Moshe Borstein đây rồi. Bác là người anh họ của bố. Bác hành nghề thợ may ở khu dân cư Sentier. Có điều bác đã trên 60 tuổi, khác ngành nghề… liệu bác có thể giúp được gì cho mình nhỉ?”
Tuy nhiên Esther vẫn quyết định đến gặp bác Moshe. Cả gia đình bác Moshe mở rộng cửa đón nàng. Tuy nhiên, tình thế nhanh chóng thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho tương lai âm nhạc của nàng. Ngay lần thăm viếng thứ hai, bác Moshe đi thẳng vào vấn đề:
– Esther, cháu là một cô gái trẻ đẹp. Cháu phải lấy chồng để không phí bỏ tuổi xuân. Cháu đã găp Isaac, con trai của bác rồi chứ? Cháu không nghĩ nó là một người chồng tồi? Rồi vợ chồng cháu sẽ sinh cho bác một đàn cháu nội kháu khỉnh.
Ðúng là Esther đã gặp Isaac. Nhưng trong đôi mắt nàng, Isaac chỉ là một chàng trai tầm thường, hoàn toàn không phù hợp với tâm hồn say mê âm nhạc của nàng chút nào cả. Esther không mấy quan tâm đến lời đề nghị của bác họ Moshe.
Mặc cho những cuộc tấn công của quân phát xít ngày càng ráo riết, cuộc sống thất nghiệp bấp bênh, Esther luôn vững tin rồi đây sự may mắn sẽ mĩm cười với nàng. Mỗi ngày nàng dành hàng giờ trao dồi ngón đàn điêu luyện dù gặp phải sự phản kháng của nhiều người chung quanh vì “tiếng đàn ồn ào” làm họ mất giấc ngủ…
Năm nay Esther đã 24 tuổi rồi còn gì. Nàng tìm việc làm một cách vô vọng. Nàng có thể dễ dàng tìm một chân hầu bàn trong nhà hàng, giúp việc trong một gia đình trưởng giả… Nhưng không, đã trót là một tài năng vĩ cầm, nàng quyết đeo đuổi nghiệp ấy đến cùng. Nàng dò la được thông tin vào buổi chiều giới nhạc sĩ Paris thường tụ họp tại quảng trường Blanche và tại khu Pigalle. Chính tại đây diễn ra các cuộc tuyển dụng nhạc sĩ và ngã giá tiền thù lao:
– Bar Sables d’Olonne cần một tuyển một nhạc công piano và một contrebassiste, thời gian chỉ một tháng thôi, bác có muốn nhận việc làm đó không?
– Ở quán Raspoutine, nhạc công vĩ cầm vừa nghỉ việc. Họ đang tìm người thay, thù lao khá đấy lại có thêm khoản tiền boa nữa…
Dù hơi nhút nhát và giọng nói còn nặng âm hưởng Ba Lan nhưng Esther quyết tham gia cuộc đối thoại với hy vọng nhận được chân vĩ cầm ở Raspoutine:
– Xin lỗi…, nếu quán cần một nữ nhạc công vĩ cầm thì tôi đây sẵn sàng.
– Rất tiếc, người đẹp. Họ chỉ tuyển nhạc công nam thôi, vả lại người chơi vĩ cầm phải thuộc danh mục các bản nhạc của dân tộc Digan…
Một lần nữa sự may mắn không mĩm cười với Esther. Ðể giết thời gian, nàng thường đi lang thang một mình khắp phố phường Paris. Mỗi đường phố là một khám phá mới đối với nàng. Những bước chân cô đơn không định hứơng đôi khi đưa nàng lạc vào các nghĩa trang của thủ đô Paris: nghĩa trang Père-Lachaise, Montmarne, Montparnasse… Tại nghĩa trang Père-Lachaise, Esther chú ý đến một ngôi mộ đề tên Allan Kardec. Ở đầu ngôi mộ, một bức tượng bằng đồng thể hiện nửa thân trên của người quá cố đã đứng tuổi với bộ râu mép chải chuốt được che chắn bởi một mái hiên theo lối kiến trúc cổ sắc sảo. Dòng chữ trên mộ bia ghi nhận người quá cố mất từ thế kỷ trước, thế nhưng mộ của ông ta luôn tràn ngập những bó hoa tươi thắm của người đến viếng. Ðiều này không ngớt gây sự tò mò nơi Esther.
Lại một phụ nữ đến viếng mộ Allan Kardec. Ðặt bó hoa đủ loại: hoa mỹ nhân, cúc tây, cúc lam… nơi mộ bia xong, bà ta đứng lên làm dấu thánh giá rồi nhắm nghiền đôi lầm thầm cầu kinh. Khi bà ta rời ngôi mộ, Esther làm gan đến hỏi chuyện:
– Xin lỗi bà, người trong mộ kia là ai mà mọi người dành cho ông ta sự sùng kính đặc biệt vậy?
– Ðó là ngài Allan Kardec, một người thuộc thành phố Lyon và là người đã sáng lập ra thuyết thuận thông linh. Lúc sinh thời ông luôn làm việc từ thiện. Ông được mọi người xem như một vị thánh dù không được nhà thờ công nhận. Cho đến bây giờ ông luôn che chở phù hộ những người đến đây cầu nguyện. Cô thấy đấy, mộ ông lúc nào cũng đầy hoa tươi và lời biết ơn…
Esther khẽ nói như lời xin lỗi:
– Nhưng tôi là người Do Thái…
– Người Do Thái thì đã sao. Ông Allan Kardec phù hộ tất cả những ai đến đây cầu nguyện bất luận dân tộc, tôn giáo. Về mang hoa đến đây khẩn cầu rồi cô sẽ được toại nguyện.
Esther cám ơn bà ta rồi rảo bước về khách sạn, đầu óc suy nghĩ mông lung: một người công giáo quá cố ở thành phố Lyon. Nàng thì đến từ khu nhà ổ chuột mãi tận Varsovie, Ba Lan. Nếu quả đúng như lời bà ta kể lại thì lời cầu nguyện của mọi người đều đến với Chúa.
Từ hôm đó, Esther thường xuyên đến cầu nguyện tại các nghĩa trang đặc biệt là nghĩa trang Père-Lachaise. Nàng luôn mang theo cây vĩ cầm. Khi chỉ còn một mình trong nghĩa trang, nàng tháo bao đàn ra và bắt đầu dạo những khúc nhạc thay lời cầu nguyện cho những người đã mất sớm về nước Chúa, những người còn sống khắp mọi nơi được mọi điều an lành. Chuỗi nốt nhạc tuôn trào ra như dòng suối. Những khoảnh khắc như thế, nàng tập trung toàn tâm toàn ý vào nốt nhạc đến độ không còn nhận biết vạn vật chung quanh. Ðôi khi có vài vị khách dừng chân lắng nghe tiếng thổn thức, nức nở thoát ra từ chiếc vĩ cầm. Khi dứt tiếng đàn, tuyệt nhiên không một tiếng vỗ tay vì ở nghĩa trang, điều này là cấm kị.
– Tuyệt diệu! Cô vừa chơi điệu nhạc gì thế?
– Xin cám ơn, đó là khúc nhạc cổ truyền của dân Do Thái.
– Nhưng cô đang ở trong nghĩa trang công giáo!
– Thì đã sao? Âm nhạc là âm nhạc, nó đâu có phân biệt dân tộc hay tôn giáo.
Một ngày kia, người gác nghĩa trang góp ý với Esther:
– Ngón đàn của cô thật là tuyệt kĩ nhưng cô hiểu cho qui định không cho phép chơi đàn trong nghĩa trang! Cô thông cảm nhé, điều này có thể làm thân nhân người quá cố không hài lòng. Thôi thì thế này, tôi yêu cầu cô không được chơi khi có mai táng trong nghĩa trang.
Esther cám ơn rối rít vì nàng chỉ mong chờ có bấy nhiêu.
Một buổi chiều thứ hai. Ánh mặt trời chiếu những tia nắng rạng rỡ. Esther đến nghĩa trang, bao đàn đã được tuốt ra. Chiếc vĩ cầm sẵn sàng nhả ra suối nhạc du dương say đắm. Esther nhủ thầm: “Hôm nay mình cảm thấy rất hứng khởi. Linh cảm báo rằng mình sẽ gặp may”. Lúc nàng so dây chuẩn bị khúc dạo đầu, một chiếc xe tang xuất hiện nơi cổng, từ từ chạy lên con đường thoải dốc dẫn vào nghĩa trang. Esther sực nhớ đến lời dặn dò của người gác nghĩa trang: không được chơi vĩ cầm khi có đám mai táng. Người gác nghĩa trang có mặt bên cạnh xe tang. Lúc đi ngang qua chỗ Esther đứng, ông ta đưa ngón tay lên miệng ra dấu giữ “im lặng”. Nàng gật đầu hiểu ý rồi cất chiếc vĩ cầm vào bao.
Xe tang chậm rãi leo lên con đường thoải dốc. Người quá cố có lẻ chỉ là một người bình thường vì ngoài người gác nghĩa trang không thấy ai theo đưa đám tang. À không, có thêm một người nữa đấy. Ðó là một người đàn ông trong bộ y phục màu đen, gương mặt buồn bã, tay cầm chiếc khăn.
Esther tự nhủ: “Ðám tang sao mà vắng vẻ và buồn tẻ thế này”. Tự động nàng chậm bước theo sau xe tang. Người đàn ông mặc đồ đen nhìn nàng giây lát rồi gật đầu chào mà không nói lời nào. Ông ta dường như đang nghĩ trong đầu: “Quái lạ, một nữ nhạc công vĩ cầm. Phải chăng cô ta là người thân trong gia đình người quá cố?”
Một lát sau, chiếc xe đến bên hầm mộ vừa được chuẩn bị xong trước đó không lâu. Esther đọc dòng chữ khắc trên bia đá: “Nơi an nghỉ của ông Jean-Jacques Rouard”.
Nhân viên mai táng bắt đầu việc chôn cất. Một vị linh mục làm dấu thánh giá và lời cầu kinh trầm buồn vang lên. Esther cũng làm dấu thánh giá theo họ, lòng thầm nhủ: “Mình sẽ đọc một bài kinh cho linh hồn người quá cố sớm siêu thoát”.
Niềm cao hứng bất chợt dâng lên trong lòng, Esther bạo gan đến bên người mặc đồ đen đề nghị:
– Tôi là nhạc công vĩ cầm. Nếu không phiền, ông cho phép tôi dạo một khúc vĩ cầm tiễn đưa người quá cố?”
– Lời đề nghị thật thú vị. Vả lại ông Rouard rất mê âm nhạc, đặc biệt là vĩ cầm.
Lấy cây vĩ cầm ra khỏi bao, Esther đưa lên cằm và bắt đầu điệu nhạc cổ truyền. Người đàn ông chăm chú lắng nghe trong khi nhân viên mai táng bắt đầu lắp đất.
Sau khúc nhạc đầu, Esther đề nghị tiếp:
– Ông cho phép tôi dạo khúc nhạc thứ hai chứ?
– Cô đàn tuyệt lắm. Không lý do gì phải ngưng ngang như vậy.
Esther khởi xướng bản nhạc thứ hai. Tiếng nhạc nhặt khoan xen kẽ giữa điệu trầm buồn ai oán và vồn vả vui nhộn. Bản nhạc gom nhặt những tinh hoa của nền âm nhạc Ðông Âu: Ba Lan, Rumani, Hungari.
Tiếng đàn vừa dứt, người đàn ông đến bên Esther hỏi:
– Cám ơn cô rất nhiều. Nếu không phiền, cô vui lòng cho tôi biết danh tánh.
Từ “danh tánh” khiến Esther phát run lên vì nó làm nàng liên tưởng đến giấy căn cước, kiểm soát, hải quan… Buổi chiều yên tĩnh trong nghĩa trang Père-Lachaise như xao động lên:
– Ông là cảnh sát?
– Ồ, không, tôi chỉ là người được giao quyền thi hành di chúc của ông Jean-Jacques Rouard. Tiếng vĩ cầm của cô chắc làm ông ta ngậm cười nơi chín suối.
Cảm thấy an tâm, Esther thổ lộ danh tính:
– Esther Borstein, sinh năm 1914 tại Varsovie.
– Liệu tôi có quá tò mò khi hỏi địa chỉ của cô không?
– À, không sao. Tôi đang thuê tạm một phòng tại khách sạn Voyageurs, đường Magenta. Tôi hy vọng sẽ sớm dời đến nơi ở tốt hơn khi có việc làm.
– Cô có bạn, bà con hay địa chỉ để có thể liên lạc trong trường hợp cô rời khách sạn?
– Ông có thể liên lạc với tôi qua người bác họ, ông Moshe Borstein, số 44 đường Jeuneurs.
– Rất tốt. Hy vọng sẽ sớm gặp lại cô.
Vài tuần sau, Esther nhận được lá thư tay từ gia đình người bác họ. Bác Moshe Borstein nói với Esther: “Một người tên M. Baranton muốn gặp cháu gấp. Số điện thoại của ông ta…” Esther tự nhủ: “Có lẽ ban nhạc nào đó muốn tuyển mình. Cuối cùng rồi mình cũng sẽ có được việc làm và đồng lương…”
Ðến nơi hẹn, Esther nhận ra ngay M. Baranthon chính là người đàn ông mặc đồ đen trong nghĩa trang. Ông ta đi thẳng vào vấn đề:
– Cô Esther, tôi có tin vui cho cô. Cô là người duy nhất đưa ông Jean-Jacques Rouard đến nơi an nghỉ cuối cùng. Do đó cô là người được chỉ định nhận toàn bộ di tặng của ông Rouard bao gồm 3 triệu francs.
Sáng hôm sau, Esther mang một bó hoa đặt tại mộ của Allan Kardec. Sau đó nàng chơi một nhạc khúc yêu thích nhất bên mộ ân nhân Rouard.
Tuần lễ sau, người ta thấy Esther Borstein trên boong tàu đi nước Mỹ, điều mà cô hằng mong ước khi vừa đặt chân đến nước Pháp..
Đào Duy HồPhỏng dịch từ nguyên tác “Pour passer le temps”
Mắt Thuyền
Nguyễn Xuân Tường Vy
Biển lặng những ngày sau. Tôi vẫn không đủ can đảm nhìn xuống lòng đại dương sâu hút. Đôi mắt thuyền vẫn ở đó. Trong thâm tâm tôi biết đôi mắt ấy vẫn dõi theo tôi từ khi rời khỏi mặt nước. Biển trong lòng tôi đã lặng. Cả những lượn sóng sôi. Nhưng đôi mắt vẫn ở đó trong sâu tận đáy lòng. Đôi mắt làm bằng ván của quê tôi, của Tam Kỳ tuổi thơ, của những gốc phi lao rì rào. Những gốc cây trơ gầy vậy mà chúng cũng ghép lại được để chở mang tôi ra xa, vượt những ngọn sóng, vượt những lượn triều, vượt trời nước mênh mông để khi tôi quay nhìn lại thì Tam Kỳ đã biến mất. Quê tôi không biến mất, Tam Kỳ chưa biến mất. Tam Kỳ gửi theo tôi đôi mắt ván thuyền.
Đó là năm 83, khi tôi bước chân xuống chiếc thuyền chòng chành ở mấp mé bờ nước.
Thuyền đi đã bao lâu, tôi không thể nhớ. Tôi thức giấc giữa lòng ghe. Chung quanh im phắc. Ánh sáng lờ mờ từ nắp ghe hắt xuống những thân người nằm ngồi ngả nghiêng. Các chị tôi ngồi dựa lưng vào thành thuyền, lờ đờ. Mùi nôn mửa xú uế trùm kín vùng không gian hẹp. Ngộp thở, tôi lại muốn nôn. Nhưng bao tử thắt chặt co bóp. Không còn gì để nôn ra. Tôi bò về phía có ánh sáng. Không ai la mắng khi tôi bò lên thân họ, dẫm lên mặt họ. Tôi đưa đầu lên khoảng sáng. Mùi gió mặn thốc vào mặt làm tôi tỉnh táo. Biển nhám hiện ra lờ mờ trong vũng sương. Trời và nước cùng xám đục. Hình dáng vài chiếc ghe hiện lên xa tít, lung linh mờ ảo như buổi sáng ban mai đang êm dịu.
Đêm qua, chúng tôi rời bến Bình Triệu. Thuyền xoáy đuôi tôm từ bên này bờ sang bên kia thì mắc cạn. Những giây phút chờ nước lên trở thành vô tận. Lúc đó tôi còn hồi hộp, tim đập thình thịch vì cách nhổ bãi chớp nhoáng. Hầm tàu tối om. Mọi người co rút lặng lẽ. Người theo đạo Công Giáo lẩm nhẩm đọc kinh. Người theo đạo Phật lầm thầm tụng niệm. Lúc chiều tôi để ý nhiều người xách theo tượng Phật và cả nhang đèn. Con người cầu cạnh thượng đế những khi yếu đuối nhất. Sao không yếu đuối khi tất cả diễn ra mong manh vừa thúc đẩy mỗi chúng tôi dấn bước vào định mệnh.
Từ buổi chiều nhập nhoạng, chúng tôi theo người dẫn đường đến tụ tập tại điểm hẹn tại một ngôi nhà thờ trong khu cư xá Tam Đa. Gia đình tôi và các anh chị họ được đưa đến đầy đủ. Thánh lễ chiều vừa xong, giáo dân lục tục ra về. Chúng tôi vào nhà thờ cầu nguyện. Đức Mẹ giang tay an ủi. Chúa Giêsu cúi nhìn từ thánh giá. Trời tối mau. Cơn mưa rả rích từ chiều vẫn chưa dứt. Ở bên ngoài, tôi thấy thêm nhiều tốp người đứng lố nhố. Họ không phải giáo dân ở đây. Như chúng tôi, họ chờ giờ khởi hành. Tôi thấy má bắt đầu bồn chồn. Đứa em nhỏ tám tháng của tôi khóc leo nheo. Đám đông đứng lớ ngớ, tay xách nách mang. Trong chiếc giỏ bàng ở chân cột có hình Quán Thế Âm và bát nhang.

“Không biết họ đi đâu? Hôm nay làm gì có chầu.”
Một con bé đang nhảy dây nơi sân đứng lại hỏi han. Không ai trả lời cho nó. Mắt tôi nhìn sững vào vòng dây quay đều trên sân. Tôi cũng hay cột hai tà áo dài để nhảy dây ở sân nhà thờ sau buổi lễ. Đám bạn tôi, Bích, Yến, Mai, Tươi. Chúng nó có thắc mắc tìm tôi sau buổi lễ chiều nay? Chúng nó có biết tôi đang ở đây, chờ một chuyến đi để phải xa chúng nó mãi mãi?
Bóng tối lan nhanh. Mưa vẫn phớt mặt Chúa qua lớp tôn chắn kêu rào rào. Chúng tôi đứng ép vào hiên nhà thờ. Ông Từ nhà thờ bảo chúng tôi vào xin phép cha xứ. Nhà thờ đã đến giờ đóng cửa. Tôi thấy hai cánh tay Chúa chịu nạn vươn dài khỏi lỗ đinh rướm máu. Hai cánh cửa nhà thờ đóng lại. Không thể chờ ở đây, chúng tôi phải đi đâu đó khỏi khuôn viên nhà thờ. Đám người lục tục xách giỏ lên tay. Ai cũng nhìn nhau lo lắng. Ba và bác Niếp tới kịp ngay lúc ấy. Không cần hiệu lệnh, chúng tôi vội theo sát chân hai ông. Đám người bước hỗn loạn, tất tả trong con hẻm nhỏ ra bến đò. Mỗi người thúc nhau đi mau. Tôi xách đôi dép da chạy theo ba. “Họ đi đâu mà đông dữ vậy?” “Chắc đi ăn đám giỗ.” Cánh đàn ông trong hãng cưa đứng bên kia đường láo xáo hỏi. Không ai trả lời. Chúng tôi cắm đầu chạy. Mưa rơi lất phất lên tóc tôi, lạnh tanh trên trán, rồi lạnh buốt da mặt. Mặc, tôi cứ chạy. Thuyền neo tại bến đò. Một mảnh ván xiêu bắc ngang làm cầu. Ba tôi đứng bên kia đầu ván, kéo tay chị em chúng tôi và đẩy từng đứa xuống hầm. Tôi rớt xuống vùng không gian tối mù, đôi dép văng khỏi tay lúc nào không rõ. Chung quanh tôi, tiếng người và dép guốc rơi lộp bộp. Trong bóng tối, chị em chúng tôi tìm nhau. Má và mấy đứa em nhỏ không ở chung khoang thuyền. Tôi chỉ tìm thấy tay của các chị. Không có cảm giác nào an toàn hơn được nắm tay người thân của mình trong bóng tối lo âu, mịt mùng đầy bất trắc. Thuyền nổ máy. Tiếng vang rền, dòn tan. Mùi dầu, khói. Thuyền rú ga phóng ra khỏi bến, nhưng chỉ được ít phút, bỗng khựng lại. Máy thuyền tạch tạch một lúc rồi tắt lịm. Không khí đông cứng. Ngột ngạt. Mọi tiếng thì thầm bặt câm. Chúng tôi nín thở. Tôi nghe tiếng nước vỗ róc rách vào mạn thuyền; tiếng mưa rơi long tong lên mặt ván gỗ trên đầu. Thỉnh thoảng, có tiếng ghe máy sè sè vọng lại. Tim tôi vồng lên hồi hộp. Thời gian trôi chậm nặng nề. Nắp hầm đột nhiên mở rộng. Bác Niếp nói vọng xuống, thuyền mắc cạn, phải chờ nước lên. Mọi người tuyệt đối giữ im lặng. Hầm thuyền vẫn tối om. Mồ hôi tôi đổ đẫm lưng áo. Lưng con gái sớm biết sợ. Tôi khua tay tìm bàn tay chị. Chị đang lần hạt bằng những đốt ngón tay ẩm. Ngón tay chị lạnh ngắt. Một lát, có tiếng ì oạp của mái chèo, tiếng lục cục của gỗ va vào nhau. Chúng tôi hồi hộp chờ đợi. Nhất định là công an đến kiểm tra.
“Anh Uyển ơi, về đi. Trên bờ họ biết cả rồi. Họ còn biết thuyền đang mắc cạn nữa.” Tôi nhận ra giọng nói của chú Tôn. Chắc chú lọt lại trên bờ khi thuyền vội vã rời bến khi nãy. Tim tôi lại dội lên thình thịch. Trên bờ họ biết cả rồi. Chẳng mấy chốc, công an sẽ đến. Trời ơi! Nhóm tổ chức toàn là những người bạn tù của ba. Cái tội “Ngụy” chưa ráo, tội vượt biên sẽ mang họ về đâu. Tôi tưởng tượng đến lúc ba bị bắt đưa vào trại cải tạo lần nữa. Hiện ra trước mắt tôi đồi núi Nghệ Tĩnh khô cằn. Cả vùng chỉ trồng toàn sắn là sắn. Ba ốm nhom trong bộ quần áo lao động. Lưng áo ba đóng triện đỏ. Ba chữ Tù Cải Tạo đỏ lòm như cổng chào. Tiếng mái chèo ì oạp xa dần. Tôi thầm mong ba nghe lời chú Tôn lên ghe vào bờ. Nhưng hai cha con chú quyết định ở lại. Ba cũng ở lại. Tôi lại tìm tay chị. Chị vẫn lần hạt bằng những đốt ngón tay ẩm. Tôi lầm thầm đọc kinh, nghĩ đến cánh tay Chúa Giêsu chịu nạn. Tay Chúa có lạnh giá? Lưng Chúa có đổ mồ hôi? Dù Chúa ở trong nhà thờ đóng cửa, chị em tôi vẫn cầu nguyện. Tôi lần hạt hết Năm Sự Thương, Năm Sự Mừng, Năm Sự Vui mà nước vẫn chưa lên. Tôi chưa bao giờ lần hạt nhiều đến như vậy.
Tôi giật mình bởi những tiếng súng nổ. Thuyền tăng tốc độ. Máy rú gầm, phóng lao. Chị em tôi nắm chặt tay nhau kinh sợ. Thuyền bốc thêm người ở hai nơi. Địa điểm thứ nhất lên được cả. Địa điểm thứ hai bị công an gác bến đuổi bắn. Chúng tôi phóng chạy, bỏ lại một số người. Sau này tôi được biết vì thuyền mắc cạn hai giờ đồng hồ, công an gác bến đổi phiên. Toán công an sau không được ăn chia nên ra lệnh bắn. Hầm thuyền vẫn tối mù. Khoang tàu như thu nhỏ lại với số người mới lên. Chúng tôi ngồi dèn lên nhau, lưng khòm theo mạn thuyền. Hơi người hầm hập. Thuyền sóc mạnh. Vài người bắt đầu nôn oẹ. Tôi muốn ngộp thở. Mùi nôn mửa bốc lên chóng mặt. Chị đã thôi lần hạt bằng những ngón tay ẩm. Chị cũng gập người nôn thốc tháo. Tôi dựa vào vai chị, người mệt bã. Tôi nhắm mắt. Khoang thuyền tối. Tôi mở mắt. Khoang thuyền vẫn tối bưng. Khi mở mắt tôi không thấy gì ngoài bóng tối. Nhưng nhắm mắt tôi có thể hình dung đến tương lai. Tôi hình dung đến bờ bên kia của biển cả. Vượt biên đối với tôi lúc ấy giống như đi đò từ bên này sông sang bên kia sông. Chỉ một lát thôi, tôi sẽ đến bến. Ý nghĩ ấy làm tôi nhắm nghiền mắt lại. Tôi thiếp dần vào giấc ngủ mê mệt. Trong giấc ngủ, hình ảnh ba còm cõi cuốc đất trồng sắn không ngừng ám ảnh.
Cũng ngay tại đây, ngay tại ga xe lửa Bình Triệu, lần đầu tiên tôi biết đến sân ga. Chúng tôi mua vé tàu suốt đi từ ga Bình Triệu đến ga Vinh. Ba bị “cải tạo” ở đó. Chúng tôi mới được giấy phép thăm nuôi. Ba ra đi biệt tăm từ tháng Năm năm 75. Bây giờ đã là tháng Sáu năm 79. Tôi được mười tuổi, bằng tuổi của má ngày di cư vào Nam.
Gia đình tôi gốc Bắc. Hai bên nội ngoại di cư vào Nam năm 54. Chị em chúng tôi hầu hết sinh ra ở miền Trung, theo bước chân hành quân của ba. Tôi sinh ở Quảng Ngãi. Em M sinh ở Quảng Tín. Em K sinh ở Tam Kỳ. Gia đình tôi ở Tam Kỳ cho đến ngày phải di tản về Sàigòn. Tam Kỳ mưa phùn lạnh lẽo trong trí nhớ tôi non nớt. Tôi đứng bên song cửa thèm thuồng nhìn những đứa trẻ hàng xóm long nhong tắm mưa. Má cấm chị em tôi dầm mưa. Mùa đông Tam Kỳ chúng tôi mặc áo măng tô bên trong, áo mưa bên ngoài chờ chú Mới đưa đi học bằng xe Jeep. Thỉnh thoảng chú chở chúng tôi vào căn cứ Chu Lai thăm ba bận việc không về nhà. Căn cứ Chu Lai có lá Quốc Kỳ Vàng bay phất ở cổng vào. Cuối tuần chú chở chúng tôi ra Đại Chủng Viện Đà Nẵng thăm bác dạy học tại đó. Chúng tôi chạy nhảy tha hồ dưới những cây dừa rụng bông trắng xóa. Ba hay vắng nhà, chúng tôi ở nhà với má và bà vú. Chị em tôi hay cười khi bà bảo, “en cem meo meo rồi đi ngủ hỉ”. Mỗi chiều, tôi chờ tiếng xe Vespa của ba reo vui ở đầu ngõ. Chị em tôi chạy ùa ra đường, đứa trèo đứng đằng trước, đứa leo đằng sau để ba lái xe vào sân nhà. Đêm trăng sáng, trẻ con hàng xóm tụ tập ở sân nhà tôi múa hát. Chiến tranh đang xảy ra ở căn cứ Chu Lai hoặc nơi nào đó trên quê hương. Nhưng chiến tranh trong tuổi thơ tôi đầy êm đềm vì đã có những người lính như ba chết để bảo vệ chúng tôi. Cảnh nhà tôi vẫn ấm cúng. Những người lính đem đến ấm cúng, đem đến hòa bình giữa chiến tranh. Chúng tôi yên ấm giữa bom đạn mù lòa.
Năm 74 tôi chỉ mới vài tuổi. Tôi không biết đấy là lúc “quân cách mạng” ồ ạt vượt dãy Trường Sơn để vào “giải phóng” chúng tôi. “Anh Lê Văn Tám hy sinh làm bó đuốc sống phá tan kho đạn Thị Nghè. Anh giao liên Kim Đồng thông minh lanh lợi lập nhiều chiến công. Em bé quê dùng dầu gió bắt sống lính Mỹ. Chị Út Tịch mang bầu bảy tháng giả kế mỹ nhân quyến rũ sĩ quan Ngụy chiếm bót Tám Thế”. Sau này tôi được trường học dạy như thế. Tôi học những bài học lịch sử đứt đoạn, từ thời Ngô Quyền nhảy vọt đến “cuộc kháng chiến chống Mỹ”.
Tháng Ba năm 75. Chiến tranh lan như vết rắn bò trườn. Ba đi hành quân liên miên. Má lo âu võ vàng. Bom đạn phủ xuống đời sống. Đạn pháo cách mạng rình rập. Lưỡi lê giải phóng canh chừng. Chúng tôi lo lắng. Chú Mới đón chị em tôi ở trường học. Con đường yên tĩnh từ trường về nhà giờ mang đầy thương tích. Dãy phố cháy, khói bốc cao thành cột. Bụi tre ở đầu ngõ bị bom đánh gẫy. Cờ phủ vàng những chiếc quan tài trong xóm. Chiến tranh phơi bày bộ mặt tàn khốc. Tam Kỳ chìm vào lửa. Chúng tôi phải chạy về Sài gòn bằng máy bay quân sự, không có ghế phải ngồi trên sàn. Ba ở lại với các đồng đội. Khi miền Trung mất, chúng tôi mất liên lạc với ba nhiều ngày. Ở Sài gòn ông nội lo lắng từng giây. Hai người con trai của ông còn kẹt lại ở miền Trung không có tin tức. Cả ngày ông ôm khư khư cái radio theo dõi từng biến chuyển của cuộc tháo chạy, sừng sộ với bất cứ một tiếng động nào. Không khí trong nhà nghẹt thở. Cuối cùng, ba và chú cũng trở về được vài ngày sau đó. Ông bà nội rơi nước mắt khi thấy hai con trai của mình tơi tả bước vào cổng.
Chúng tôi về bên ngoại tá túc. Bà ngoại ở gần bến Bạch Đằng. Mỗi chiều, ba dắt một hai đứa chúng tôi ra bến xem người ta di tản. Họ rủ ba đi, nhưng ba lắc đầu. Ba dẫn chúng tôi xuống tàu chơi, rồi lên bờ khi tàu nhổ neo. Sau này, trong những năm ba ở tù, tôi thường tự hỏi tại sao ba không theo tàu di tản vào thời gian đó? Ba có bao giờ ân hận vì cái lắc đầu ngày ấy? Ba nghĩ gì? Ba tin vào điều gì?
Tháng Năm năm 75, ba ra trình diện chính quyền mới. Tôi nhớ ngày đi ba mặc chiếc áo in hình bánh qui. Bánh rơi đầy vai ba như có ai vừa mở tung nắp hộp thiếc. Những chiếc bánh qui hình vuông, viền răng cưa thơm thơm ngọt tan trong miệng. Chúng tôi không cho ba đi. Chúng tôi đeo theo, đứa đu tay, đứa ôm chân. Ba đeo túi lên vai, hẹn mười ngày sẽ về. Em trai út vừa sinh chưa tròn tháng, ba bảo chờ ba về hãy rửa tội cho em. Ba thanh thản đến nơi tập trung. Ba nghĩ đến tình anh em Nam Bắc một nhà. Ba tin vào lòng “khoan hồng của kẻ chiến thắng”. Ba tin vào lời hứa “mười ngày”. Nhưng ba đã thất vọng. Gia đình tôi đã tuyệt vọng. Niềm tin không cứu được ba. Hòa bình bắt đầu bằng sự khát khao thanh trừng của kẻ chiến thắng. Ba đột nhiên biến mất khỏi cuộc đời chúng tôi lúc đó. Tôi không thể hiểu. Đất nước thanh bình mà gia đình tôi tan nát.
Chị em chúng tôi lớn lên với má và bà ngoại trong một căn nhà ở ngoại ô Sàigòn. Hai người đàn bà chật vật nuôi năm đứa trẻ. Chị cả mới lên tám và em út chưa đầy tháng. Ngoài giờ dạy học, má đạp xe chạy lùng khắp nơi, đến từng nhà giam trong thành phố tìm tin tức của ba. Bà ngoại ở nhà nuôi đứa bé sơ sinh bằng nước cháo pha muối. Đứa bé ba đặt tên Hòa Bình. Vừa ra đời đã thiếu cha. Ba còn sống hay đã chết? Đối với mọi người chung quanh, ba đã không còn hiện hữu. Tấm hình ba oai phong trong bộ quân phục bị nhét sâu dưới đáy rương, nằm lẫn lộn giữa quần áo cũ và những viên băng phiến hắc. Ba có khác gì một người đã khuất. Chỉ còn thiếu tấm hình của ba trên bàn thờ là bà ngoại sẽ xin lễ giỗ cho ba hàng năm.
Ba ra đi, mang theo những chiếc bánh thơm lừng tuổi thơ của chúng tôi. Nắp hộp thiếc đóng chặt từ ngày ấy. Sau này, lâu lắm, khi sang Mỹ tôi mới được nếm lại mùi bánh qui. Tôi nhai bánh như nhai giấy. Mùi vị không còn ngọt ngào béo ngậy như trong trí nhớ. Tôi không còn là con bé sáu tuổi đeo lên lưng ba vờ ăn bánh. Tôi không còn thèm bánh qui nữa. Tôi thèm ly nước chanh mát lạnh trên đường vượt biển.
Từ lúc lên được boong, tôi không muốn xuống hầm nữa. Boong thuyền không còn chỗ trống. Người nằm ngồi la liệt. Tôi chỉ đủ chỗ dựa lưng vào thùng phi chứa nước. Nước trong thùng chỉ còn lấp xấp. Chúng tôi chưa đi được bao xa. Nước uống phải để dành, phải dè sẻn. Tôi khát khô cổ. Tôi tìm bóng dáng một chiếc tàu ngoại quốc. Tàu nào cũng được. Tàu nào có thể cho tôi một ly nước đá chanh ngọt lịm. Buổi sáng nắng trong. Mặt biển óng ánh như kính nhuyễn. Thuyền phóng băng băng mà cứ như đứng một chỗ, giống xả hết tốc độ mà vẫn như neo lại trên vũng nước. Tôi nhìn đại dương bao la không thấy bến bờ, không thấy tàu bè. Mênh mông bạt ngàn những trận gió. Con thuyền như chiếc tàu giấy con con tôi xếp thả vào ao nước mưa. Những cơn mưa ngập lụt đất Tam Kỳ. Tôi vẽ đôi mắt thuyền nguệch ngoạc. Đôi mắt ấy giờ theo tôi ra đại dương. Cũng như thuyền, tôi chưa bao giờ ra biển. Tôi hoàn toàn không hình dung hết được hiểm nguy chực chờ. Nếu chúng tôi bị giông bão? Nếu chúng tôi gặp hải tặc? Nếu chúng tôi chết trên biển? Dù sao chúng tôi cũng có nhau. Ba nói: chết thì chết cả nhà.
Trời nóng. Gió biển rì rì nhưng vẫn nóng. Mặt trời phả hơi xuống những thân người nằm phơi như cá. Tôi say nắng. Người nóng rực như sốt. Biển trải rộng. Biển vô cùng. Màu xanh bất tận chạy dài ngút ngàn. Tôi thấy bà ngoại mấp máy, miệng móm mém. Bà pha cho tôi ly nước chanh thật to. Chiếc ly sành vẽ hai con cò trắng lung linh. Uống đi con! Vậy là chúng mày bỏ bà mà đi. Tôi muốn cầm ly nước bà đưa, nhưng tay mỏi rã rời. Bà ngoại không đi. Bà ở nhà giữ hộ khẩu, nhỡ bị bắt còn có bà thăm nuôi, còn có nhà để về. Bà nuôi chị em chúng tôi từ ngày giải phóng. Em út tôi là con trai của bà mới đúng. Bà chăm sóc nó từ ngày lọt lòng. Không có bà, tôi biết má không sao đứng vững được. Chạy về từ Tam Kỳ, chúng tôi không còn gì ngoài hai bàn tay trắng. Chúng tôi mất tất cả. Ngôi nhà nhỏ xinh có mảnh vườn trồng rau. Mỗi buổi sáng tôi theo ba ra vườn bắt ốc sên. Đất Tam Kỳ đỏ quạch bám nhão gót giầy. Sau nhà có con sông nước lênh láng mỗi chiều. Hoa lục bình trôi tím mặt sông. Tôi dõi mắt cố tìm một cánh lục bình trên biển, chỉ thấy sóng bạc nhấp nhô. Sóng bạc của Thái Bình Dương ngợp nắng. Người tôi vẫn nóng hực. Tôi nhắm mắt lại cho đỡ lóa. Lẽ ra chúng tôi đã ra biển trước đây mấy tuần. Lần ấy chủ thuyền định đổ bến gần Bà Rịa. Gia đình tôi từ Sàigòn ra Hải Sơn chờ ngày đi. Ông bà nội ở đó. Ngày đi, bà nội dậy lúc gà gáy, lục đục thổi xôi luộc gà. Chúng tôi mặc quần áo ấm, khăn gói ngồi chờ đến khi trời sáng rõ. Ông nội nói bể rồi không đi được nữa đâu. Giọng ông buồn mà mắt ông lại tựa như đang vui mừng. Ông cười lấp lánh răng vàng. Ông bảo bà rỡ xôi gà ra cho chúng nó ăn. Con cháu ông đã rủ nhau ra biển.Chúng tôi đi, ông chẳng còn ai. Ngày di cư vào Nam, chắc ông chẳng bao giờ ngờ lịch sử lập lại. Con cháu phải bồng bế nhau xa rời quê hương lần nữa.
Chiều đến. Mặt trời biến nhanh lắm. Một thoáng thôi, đã mất hút. Nền trời xám xịt. Gió bắt đầu thổi mạnh. Mây sà xuống boong, trĩu nước. Sóng không còn đập hiền hòa vào mạn thuyền. Từng con sóng giận dữ quật xuống. Sóng nhồi suốt cho đến đêm. Trời tối đen. Tôi không thấy gì ngoài bóng tối đặc sệt. Tôi hình dung đến đôi mắt thuyền phăng phăng rẽ sóng. Thuyền đưa tôi đi qua biển dữ. Gió vẫn mạnh. Sóng đập vào mạn thuyền tung nước lên boong. Thỉnh thoảng mưa đổ ào rồi ngưng. Người tôi ướt đằm. Cái lạnh thấm vào da thịt, buốt giá. Thái Bình Dương đen. Đêm bao la chỉ một ánh đèn le lói trên cabin. Gương mặt chú Thiện căng thẳng. Chú Thiện Sĩ quan Hải Quân bạn ba. Chú vẫn nghiêm trang ít nói mỗi lần đến nhà. Lần nào chú cũng trốn ngay lên lầu làm việc gì đó với chiếc la bàn. Ba dặn: có người lạ tới phải báo ngay cho ba. Tôi hồi hộp với vai trò gác cửa, mắt đau đáu nhìn ra ngõ. Đột nhiên có tiếng la to: Tàu lớn kìa! Tôi mở choàng mắt. Xa thật xa, trong tối đen mịt mù, một ánh đèn bập bềnh ẩn hiện. Mắt tôi mở dán vào vùng không gian phía trước. Ánh đèn chấp chới tựa bóng ma lúc ẩn lúc hiện. Tôi dụi mắt ngỡ mình nằm mơ. Không phải tôi mơ. Ánh sáng có thật. Ánh sáng bừng lên chói lọi như mặt trời vừa mọc. Nhưng lạ quá, ánh sáng cứ bừng lên rồi tắt lịm. Thuyền chao qua. Ánh sáng tắt ngúm. Sóng bắn tung vào người tôi. Thuyền nhảy lên. Ánh sáng bừng lấp lánh. Chúng tôi cứ tiến tới. Tôi tưởng tượng đến con tàu đằng xa. Con tàu đèn điện sáng trưng. Những người đàn ông đàn bà tóc vàng mũi lõ tử tế. Tôi cầm trong tay ly nước đá chanh. Màu xanh lá mạ dịu dàng sóng sánh. Những viên đá nhỏ reo lanh canh. Chúng tôi đi về phía mặt trời ẩn hiện. Sau này tôi biết chẳng phải mặt trời chơi trò ú tim. Chúng tôi đang vật lộn với sóng lớn. Khi sóng đưa thuyền lên cao, tôi nhìn thấy ánh sáng. Khi con thuyền rớt xuống chân sóng, ánh sáng biến mất vào biển đêm. Tôi vẫn rùng mình mỗi khi nghĩ lại.
Chúng tôi vẫn đi về phía mặt trời. Khối đen trước mặt hiện dần hình con tàu. Mặt trời chiếu ra từ cột quan sát. Chúng tôi bật đèn cấp cứu. SOS. Đèn đỏ nhấp nháy. SOS. Chúng tôi đến gần hơn. Boong tàu thấp thoáng bóng người. Tôi không nằm mơ. Thật sự là một con tàu. Một con tàu to kềnh càng. Tôi cầm lấy ly nước đá chanh. Mặt trời vẫn sáng rực trên cao.
“Tàu Liên Xô! Chạy ra, chạy ra.”
Tiếng người hét thất thanh. Tôi sực nhìn lên. Mặt trời sáng rực lóa mắt.
“Cờ búa liềm! Cờ búa liềm. Trời ơi!”
Tài công dùng dằng, tiếc rẻ. Tôi cũng tiếc. Một con tàu to kềnh hẳn an toàn hơn chiếc thuyền mỏng manh. Tôi thèm được cuộn mình trong chăn ấm. Tôi đang lạnh run. Và khát. Ly nước đá chanh vẫn ám ảnh. Con thuyền quay đầu, phóng chạy. Sau giây phút xôn xao, rồi sợ hãi, mọi người im lặng. Chỉ còn tiếng gió gầm gừ. Chỉ còn tiếng sóng đập tung vùng biển động. Chúng tôi chạy trốn mặt trời.
Cơn bão thứ hai dội xuống đại dương một ngày sau đó. Lúc ấy chúng tôi đã an toàn trú ẩn trong khoang tàu Nhật Shonan Maru. Những con tàu mang ly nước đá chanh không thèm ngừng lại. SOS. Tín hiệu báo lâm nguy chưa đủ thảm thương. Shonan Maru ngừng lại và chúng tôi lập tức leo lên. Ba ghi tên điểm danh 105 người. Số thuyền nhân nhiều gấp hai số thủy thủ trên tàu. Chiếc Shonan Maru chở sinh viên thực tập trên biển. Cả tàu không có một nữ sinh viên. Vị thuyền trưởng cho kéo theo chiếc thuyền rách nát vượt đại dương của chúng tôi. Mắt thuyền lập cập. Thuyền như con nhái bám vào vách giếng. Thủy thủ đoàn đưa chúng tôi xuống hầm tàu. Họ không có đủ chăn đắp nhưng sàn tàu sạch sẽ láng bóng. Quanh chỗ tôi nằm là nơi dự trữ gạo. Gạo Nhật hạt to tròn trĩnh. Nấu lên ăn dẻo như cơm nếp. Ngày đầu nhà bếp mang ra một khay cá sống. Từng lát cá tươi rói trong veo bắt mắt nhưng không ai dám ăn. Lúc đó tôi chưa biết mê sushi. Tôi chỉ dám ăn món cháo cá nấu nhão với rong biển suốt những ngày trên tàu.
Sau đêm bão lớn, tôi lò dò lên boong. Biển êm. Gió đã nhẹ lắm tuy sàn tàu vẫn còn đẫm nước. Bên cabin, vài người con trai đứng lố nhố chõ mắt vào hai ô cửa kính. Tôi cũng tò mò chen vào xem. Bên trong, đám sinh viên Nhật đang xem tivi. Màn ảnh màu rực rỡ hiện ra đôi trai gái. Họ ăn mặc rách nát hơn chúng tôi hôm lên tàu Nhật. Đứa con gái tóc dài đến lưng, quấn hai mảnh vải tả tơi ôm chầm lấy đứa con trai đóng khố. Những đôi mắt thuyền nhân mở to chiêm ngưỡng. Đó là phim The Blue Lagoon sau này tôi xem khi đến Mỹ. Biển trong phim êm ả không dữ dằn những đợt sóng sôi. Từ chỗ tôi đứng, biển bao la xanh ngắt. Tàu Nhật thênh thang, tôi hay đi thơ thẩn dưới hầm và trên boong. Tôi ngỡ mình đang ngắm biển Cà Ná hùng vĩ từ trên xe lửa. Chuyến xe lửa đưa tôi đi gặp ba tại trại cải tạo Tân Kỳ. Từ ga Vinh, chúng tôi đi một chuyến xe đò gập ghềnh, thêm một quãng đi bộ mới đến trại. Buổi trưa u buồn vắng vẻ. Cả vùng núi lặng lẽ dưới nắng. Đâu đó vọng lại tiếng gà gáy kêu lơ thơ ở một hốc bụi nào. Xa về phía núi là nơi giam giữ ba. Chúng tôi chờ ba cả buổi chiều. Tôi thấy ba từ ngoài cổng. Ba ốm nhom. Da đen sạm. Tôi chạy thật nhanh ra cổng. Ba đón lấy, nhấc bổng tôi lên lòng. Tôi khóc. Khóc chan hòa vì tưởng sẽ không bao giờ còn được gặp ba. Khóc cho hết nỗi cô đơn không cha, cho vơi những nhọc nhằn từ ngày giải phóng. Tôi khóc trên vai ba như tôi đeo lên vai ba trong ngày ba ra đi. Vai áo ba không còn những chiếc bánh thơm. Tôi ngửi mùi nắng cháy khét trong tóc ba. Ba lấy trong túi ra một nhánh hoa tím.
“Đây là hoa mua, ba hái cho con. Giống như hoa sim ngoài Bắc mình.”
Lúc ấy tôi chưa biết buồn vì màu tím, cũng chưa thuộc thơ Hữu Loan tím cả chiều hoang biền biệt. Tôi chỉ thấy cảnh tù đày phi lý. Ba có tội gì? Chúng tôi có tội gì? Má xoay sở đầu chợ cuối chợ mới mua được vé xe. Chúng tôi đứng nhìn con tàu Thống Nhất sang trọng sáng choang chạy qua trước mắt. Tôi nhặt bao nhiêu lon sắt, giấy vụn; tôi dang bao nhiêu cơn nắng, nhưng tôi phải đi xe lửa chợ cũ rích ghế gỗ cứng ngắc đau mông. Con tàu Thống Nhất không dành cho tôi một chỗ ngồi như đất nước đã từ chối ba làm một công dân. Chúng tôi lặn lội ba ngày ngủ đứng ngủ ngồi trên xe lửa. Chúng tôi bị mất cắp bị chen lấn bị chèn ép trong các toa xe. Qua ngần ấy gian nan để chỉ được gặp ba một giờ đồng hồ. Chú cán bộ ngồi đầu bàn theo dõi từng cử động. Tôi có bao điều muốn kể với ba. Nhưng tôi chỉ dám ngồi yên trong lòng ba. Một giờ đồng hồ qua nhanh như chớp mắt. Tôi và má đứng ngẩn nhìn ba bước về trại giam. Lưng áo ba in chữ đỏ. Tù Cải Tạo.
Tôi theo ba lên cabin gặp vị thuyền trưởng. Phòng ông có tivi màu và tủ đựng nước ngọt. Ông bấm vào nút, một lon nước ướp lạnh chạy ra. Tôi tròn mắt nhìn ông làm ảo thuật. Ông đưa cho tôi lon nước mở sẵn. Tôi ủ lon nước lạnh ngắt vào đôi tay. Ly nước đá chanh tôi ao ước. Ngụm nước đọng trên đầu lưỡi, lạnh buốt suốt tuổi niên thiếu. Vị thuyền trưởng nói chuyện với ba bằng cuốn tự điển. Ba nói tiếng Anh. Ông tra tự điển rồi trả lời. Tôi ngồi xem tivi, không hiểu gì cả. Mãi mãi ghi sâu trong trí nhớ tôi vùng không gian nhỏ bé bình yên, màn hình tivi với ngôn ngữ lạ, nước cam lạnh, chiếc tủ nước ngọt, và ông Nhật biết làm ảo thuật. Mỗi lúc tình cờ bấm tivi sang một đài nước ngoài hoặc lạc vào đám đông với ngôn ngữ lạ, tôi thấy mình nhỏ lại như năm mười bốn, ngồi bên cạnh ba và vị thuyền trưởng. Ba múa tay giải thích với vốn liếng Anh ngữ từ thời đi dạy. Tôi nhìn ba ung dung, tự tin, nhớ lại những lần đứng thập thò nghe ba nói chuyện e dè với công an khu phố.
Ba trở về sau sáu năm sáu tháng hai mươi hai ngày “cải tạo”, thể xác héo mòn, tinh thần kiệt quệ. Tôi không biết thực sự ba đã được “cải tạo” những gì trong những năm tháng đó, ngoài những cơn đói triền miên và những ngày lao động cực khổ. Ba ra tù, về chịu sự quản thúc của chính quyền địa phương. Công an dân phố ghé qua sáng chiều. Ở trường học, mỗi tuần chúng tôi xếp hàng đi bộ đến nghĩa trang liệt sĩ làm cỏ. Trời đổ lửa. Chúng tôi mặc áo trắng quần đen đi theo hàng. Nghĩa trang liệt sĩ nằm kề bên con đường lớn. Ở giữa, một khung đài tưởng niệm nhang khói lâm thâm. Lần nào về tôi cũng ấm đầu.
Ra đi là con đường duy nhất để chúng tôi được sống đúng với ý nghĩa một con người. Đối với ba má, đó là một sự chọn lựa đau đớn và liều lĩnh. Ra đi là đánh cuộc với mạng sống của tám thành viên trong gia đình. Tôi không ngạc nhiên vì quyết định của ba má. Như thể đó là định mệnh. Chúng tôi không còn con đường nào khác.
Biển lặng những ngày sau đó. Tôi vẫn không đủ can đảm nhìn xuống biển từ lan can tàu. Màu xanh hun hút làm tôi chóng mặt. Nếu không được tàu Nhật vớt, chúng tôi có thể chống nổi với cơn bão chiều ấy? Biển đẹp man rợ. Biển mênh mang không thấy bến bờ. Biển lan như trên mặt đất chỉ toàn nước. Biển xanh lục như trên mặt đất toàn rêu. Biển nhấp nhô như tinh thần chúng tôi hãy còn chông chênh chưa tin đang hít thở khí quyển tự do.
Chúng tôi dần lại sức. Cháo cá rong biển đậm đà không còn vô vị. Chúng tôi sẽ đáp bến Manila nay mai. Vị thuyền trưởng ra lệnh chặt dây thừng bỏ con thuyền rách nát đã theo chúng tôi dọc Thái Bình Dương. Tôi nhìn đôi mắt thuyền ướt nước ngỡ như đang nhìn chính mình. Chiếc thuyền tang thương bẩn thỉu mang hình ảnh của chúng tôi ngày hôm qua. Đêm nay thuyền sẽ về đâu? Con mắt thuyền ướt đẫm. Mắt thuyền lặng câm. Thuyền xa bến như tôi xa quê hương. Biết thuyền có tìm được đường về. Thuyền lênh đênh tôi cũng lênh đênh. Thuyền trôi dạt, tôi cũng trôi dạt. Mười bốn năm, tôi mất tuổi thơ hai lần. Tôi mất Tam Kỳ tháng Tư năm 75. Năm 83, tôi mất Sàigòn. Chiến tranh phá hủy tuổi thơ. Hòa bình đẩy tôi dạt ra biển cả. Những giọt nước mắt con gái khóc chia tay; không phải tôi khóc mà mắt thuyền đang khóc.
Nhiều năm sau tôi vẫn nhớ đôi mắt thuyền ai oán. Mỗi khi soi gương tôi vẫn thấy mắt thuyền long lanh trong mắt mình. Tôi mang đôi mắt ấy, đôi mắt Tam Kỳ và những mảnh vụn ký ức không thể ráp nối. Tôi chưa vào đến đất liền. Chưa vào đến Bataan hay hải đảo Palawan huyền hoặc. Tôi trôi mãi trên biển Đông ở vùng hải phận quốc tế.
Ngày mai mất biển Đông, tôi sẽ trôi về đâu ?

Nguyễn Xuân Tường Vy