Search This Blog

Monday, October 23, 2017

9 ân tình lớn nhất, cả đời nhất định đừng quên

Trong suốt cuộc đời mình, mỗi người đều chịu ơn dưỡng dục của tạo hóa, cha mẹ và mọi người xung quanh. Chẳng ai có thể tự mình làm nên tất cả. Một người trong lòng luôn chan chứa niềm cảm ơn với con người, cuộc sống thì ắt là luôn được hạnh phúc, gặp được quý nhân.
Ở đời có mấy loại ân tình này, hẳn là ai cũng cần phải nhớ kỹ.

1. Ơn sinh dưỡng của tạo hóa
Ngay từ khi sinh ra, từng hơi thở của chúng ta đã gắn liền với mẹ Tự Nhiên. Cơm ăn, nước uống, ánh nắng mặt trời và quy luật vận hành của các bộ phận trong cơ thể… có điều gì là chúng ta tự mình làm được đây?
Ta sinh ra đã thấy mọi thứ đều được an bài sẵn như vậy nên đôi khi coi đó là điều hiển nhiên và mặc nhiên hưởng thụ. Thế rồi đến khi gặp khó khăn, trắc trở, dầm mình những ngày mưa gió, bão bùng, ở thời điểm sóng gió ập đến, nhiều người lại mở lời oán hận số phận bất công, trách móc ông Trời “không có mắt”.
Những phong tục tế tự thần linh, Trời Đất xưa nay đều đang nhắc nhở con người nhớ tới ơn dày của Tạo hóa. Nếu luôn biết nhớ ơn cuộc sống, nhớ ơn Thần linh luôn che chở, nâng đỡ mình trước những nguy nan, kiếp nạn, người ta sẽ cảm nhận được sự tĩnh tại, bình yên và hạnh phúc sâu thẳm trong lòng mình. Các bậc Thánh nhân, dẫu là ở phương Đông hay phương Tây thì đều chung một ý niệm và nguyện ước con người hướng thiện, biết tu tâm dưỡng tính, biết chăm lo cho mọi người xung quanh.
“Ở hiền gặp lành” ,“Có đức mặc sức mà ăn” chính là lời nhắc nhở truyền đời của lớp tiền bối. Học cách cảm ơn mẹ Thiên Nhiên chính là cách một người đang hướng thiện và sống vị tha hơn.

2. Ơn dưỡng dục của cha mẹ
Ai cũng từ tinh cha huyết mẹ mà thành hình. Suốt 9 tháng 10 ngày nằm trong bụng mẹ là từng ấy thời gian cha mẹ khắc khoải chờ mong. Dẫu khó chịu vì những lần ốm nghén, vì dáng đi khệ nệ hay những đêm ngủ chẳng yên giấc, mẹ vẫn không một lời than trách. Dẫu ăn gì uống gì, nghĩ gì, làm gì, cha mẹ cũng chỉ canh cánh bên lòng, phập phồng lo lắng cho bào thai bé bỏng trong bụng.
Ngày con chào đời cũng là ngày mẹ trải qua những giây phút vượt cạn gian nan nhất. Mang nặng đẻ đau là vậy, những hiểm nguy và lưỡi hái tử thần luôn cận kề bên mẹ. Mẹ có thể chịu đựng nỗi đau thắt lòng, bất chấp hiểm nguy chỉ mong sinh mệnh bé nhỏ, yếu ớt của con có thể bình yên chào đời. Cha phập phồng lo lắng, từng phút từng giây bất chợt trở nên dài đằng đẵng như hàng thế kỷ. Tới khi nghe thấy tiếng con oa oa chào đời, nhìn thấy hình hài con lành lặn cha mẹ mới có thể yên lòng.
Nhưng thử thách cam go, dồn dập ấy mới chỉ là màn mở đầu. Những ngày tháng sau đó cha mẹ còn phải tổn hao tâm sức nhiều hơn. Nửa đêm khuya khoắt cho con bú mớm, chăm cho con từng miếng ăn giấc ngủ. Những khi con lên cơn sốt hay khó chịu trong người, cha mẹ lại thấp thỏm, ruột gan nóng bừng như lửa đốt.
Từng ngày con lớn lên là từng ngày cha mẹ dành bao tâm huyết dưỡng dục, chỉ bảo từng lời ăn tiếng nói, từng ánh mắt nụ cười. Ngay cả khi con đã lớn khôn thành người cha mẹ vẫn không ngớt đợi mong. Ánh mắt cha mẹ cứ mãi dõi theo bóng dáng của các con, dẫu con có đi tới chân trời góc bể, bay nhảy với sự nghiệp của mình hay đã yên bề gia thất, vui vầy cùng chồng tốt, vợ hiền.
Ngay cả khi cha mẹ lưng còng, tóc bạc, mắt mờ nhưng tấm lòng đau đáu hướng về con chẳng khi nào nguôi ngoai. Dẫu thế nào thì con vẫn luôn là những đứa trẻ trong lòng cha mẹ. Có lẽ tới khi nhắm mắt xuôi tay, đôi mắt khép lại cha mẹ mới có thể thôi không lo lắng cho các con mình.
“Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”. Đại ơn của cha mẹ cả đời cũng báo đáp không hết. Cha mẹ không cần chúng ta phải cung phụng vật chất đủ đầy, chỉ mong chúng ta luôn bình yên, hạnh phúc.
Hãy chăm sóc, trò chuyện với cha mẹ nhiều hơn, bày tỏ lòng biết ơn với cha mẹ nhiều hơn một chút, mở rộng trái tim đón cha mẹ vào trong cuộc sống của chúng ta. Chỉ có như vậy cha mẹ mới thực sự yên lòng và vui vẻ an hưởng tuổi già mà mỗi người cũng làm tròn được hiếu đạo của mình. Bởi vì “Bách thiện hiếu vi tiên” (trong trăm cái thiện, hiếu đứng đầu).

3. Ơn cứu mạng khi bị đe dọa tính mạng
Cuộc sống như mặt biển ngút ngàn, có những ngày trời yên bể lặng, cũng có những ngày sóng gió thét gào. Khi bình yên chúng ta có rất nhiều ước mơ, rất nhiều hoài bão. Nhưng nếu mất đi sinh mệnh thì một dung mạo đẹp, những tài năng tỏa sáng hay những giây phút huy hoàng trong cuộc đời, những khi hạnh phúc bình yên bên gia đình ấm áp và những người mà chúng ta yêu thương cũng đều khép lại.
Khi gặp nguy hiểm ngoài dự liệu, mắc bệnh hiểm nghèo hay thiên tai nhân họa đe dọa tới tính mạng mà lại có vị ân nhân nào đó xuất hiện cứu vớt chúng ta trước vực thẳm thì cần phải ghi nhớ đại ơn này suốt cuộc đời. Bởi lẽ không có họ thì sinh mệnh của chúng ta đã kết thúc, chúng ta sẽ chẳng còn có được thân xác con người trên thế gian này để yêu thương và thực hiện những sứ mệnh của mình.

4. Ơn thầy cô dưỡng dục
Từ những ngày đầu chập chững vào đời, các thầy cô đã dang tay đón nhận chúng ta vào lòng, dạy cho chúng ta từng con chữ, từng nốt nhạc, từng lễ tiết và đạo đức làm người. Lớp lớp các thầy cô luôn xuất hiện và nâng bước chân ta vào đời, từng bước từng bước một cách nhẫn nại.
Thầy cô kế thừa những tinh hoa mà cha ông truyền lại, dạy chúng ta cách chung sống với mọi người xung quanh, dạy chúng ta những kỹ năng nghề nghiệp, chắp cánh ước mơ cho chúng ta bay cao bay xa. Đôi khi vai trò giáo dục của thầy cô còn mang tính quyết định cuộc đời của bao thế hệ.
Công ơn thầy cô cần phải ghi lòng tạc dạ. Hãy nhớ: “Không thầy đố mày làm nên“, “Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy“.

5. Ơn đề bạt tiến cử
Đôi khi chúng ta nghe thấy câu “có tài mà không có đất dụng võ”. Bản thân mỗi người dẫu văn võ toàn tài đến đâu nhưng nếu không có nơi triển hiện tài hoa, không thể làm việc có ích cho đời thì cũng chỉ có thể ngậm ngùi mang về cùng lòng đất mà thôi.
Vậy nên khi được người khác phát hiện, được người khác tiến cử giúp tài năng đang ngủ yên của mình được phóng ánh quang huy, lập công cùng trời đất thì ơn này không thể không ghi lòng tạc dạ. Người phát hiện ra tài năng của bạn sẽ giúp bạn mở rộng cánh cửa tương lai bước trên một hành trình mới đầy hứa hẹn. Trên mỗi bước đường thành công của chúng ta có công sức của biết bao người.

6. Ơn chỉ đường mở lối
Cuộc sống giống như một hành trình liên tục góp nhặt từ những tiểu tiết tới những việc đại sự, từ những món quà tới những khảo nghiệm. Nhỏ thì như lạc đường, học hành không phương hướng, bài tập không biết lời giải, lớn thì phải tính tới việc đời người sa vào mê mờ, lạc lối.
“Sông có khúc, người có lúc”. Cuộc sống vốn đã mang trong mình quá nhiều bí mật thú vị và ẩn số khó lường. Khi bước trên chặng đường đời của mình, chúng ta khó tránh khỏi những lúc mê lạc, những khi bế tắc, những lúc bất lực, thở dài ngao ngán.
Có người thấy cô đơn, có người lại trầm uất, bất lực. Có người thì tìm quên trong làn khói thuốc của nàng tiên nâu, trong men rượu hay trong những dục vọng ái tình nhất thời của mình.
Lúc này nếu có người có thể chỉ ra phương hướng cho bạn, thổi bùng lên ngọn lửa tư tưởng của bạn, tháo gỡ những nút thắt trong tâm bạn giúp con đường phía trước của bạn đột nhiên trở nên sáng rõ, đoan chính, thậm chí mở ra một tương lai rạng ngời cho bạn thì ơn này cả đời bạn cũng không thể quên được. Ơn chỉ đường mở lối này càng cần đền đáp muôn phần.

7. Ơn tương trợ lúc nguy cấp
Khi gặp lúc nguy nan, khi rơi vào cảnh cùng quẫn con người dễ thấy cô đơn và bất lực. Có thể vì vậy mà bạn sẽ bỏ dở giữa đường, hay chuyển sang một hướng khác. Thậm chí có thể còn gặp phải nhiều điều không may mắn và bất hạnh.
Lúc này nếu có người chung vai tương trợ, giúp bạn thoát khỏi đường cùng, bạn sẽ có thêm sức mạnh để vượt qua, thêm động lực để bước tiếp, thêm niềm tin đi tới tận cuối con đường. Ơn này thật lớn biết bao!

8. Ơn dìu dắt của cấp trên
Trong công việc nếu gặp được cấp trên khoáng đạt, tấm lòng rộng rãi, không ganh ghét, đố kỵ với người hiền tài, vào thời khắc then chốt có thể đề bạt, tiến cử và mở rộng tiền đồ cho bạn thì ơn này chẳng thể nào quên.
Bạn thử nghĩ mà xem, nếu không có một cấp trên như vậy có thể sự nghiệp của bạn thật khó hanh thông, con đường quan lộ cũng chẳng thể có ngày thênh thang sải bước.

9. Ơn huynh đệ như thủ túc
Cha ông ta thường ví tình anh em như thủ túc, như tay với chân chẳng thể lìa xa, chẳng thể chuyển rời. Anh em cùng chung huyết mạch, chung giọt máu đào, chung gen di truyền của cha mẹ. Anh em cùng chung nguồn cội, cùng sinh trưởng trong một gia đình, trải qua những thời khắc tuổi thơ ấm áp bên nhau, cùng là mầm xanh hy vọng của mẹ cha. Anh em cùng mang trọng trách truyền thừa truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình. Tình thân luôn quy về một mối.
Dẫu khi trưởng thành mỗi người đều bận rộn với gia đình nhỏ của riêng mình, dẫu không thể cùng hàn huyên ấm lạnh, cùng dốc bầu tâm sự về những việc lớn việc nhỏ trong cuộc sống hàng ngày. Nhưng sợi dây vô hình kết nối anh em chẳng thể nào tan biến.
Cũng khó tránh khỏi những khi cơm không lành, canh chẳng ngọt, những khi bất đồng quan điểm và sở thích cá nhân. Nhưng dù đi đâu, về đâu, dù cuộc sống bộn bề trôi đi từng ngày, thì tình anh em vẫn như mạch nước ngầm mát trong chảy mãi trong huyết quản chúng ta.
Huynh đệ tình thâm, ơn như thủ túc. Cũng có tình huynh đệ bị hủy hoại bởi tiền tài, quyền lợi, tình sắc. Nhưng đó chỉ là hiện tượng cá biệt, không thể không lấy làm gương.
***

Nếu may mắn chúng ta có thể báo đáp phần nào công ơn trời biển của những vị ân nhân trong đời mình. Nhưng đôi khi họ đến và đi rất nhanh, không kịp ở lại để chúng ta bày tỏ tấm lòng biết ơn. Chúng ta có thể trả ơn họ bằng cách khác, bằng cách học theo những nghĩa cử cao đẹp của họ để giúp đỡ những người xung quanh chúng ta. Mở rộng hơn trái tim mình hòa chung vào trái tim của mọi người và lưu lại những câu chuyện ý nghĩa về lòng biết ơn của chúng ta cho thế hệ mai sau.

Ảnh chụp vệ tinh NASA và lời kể nhân chứng: Thế giới dưới lòng đất thực sự tồn tại








Nhiều truyền thuyết, sử thi các nước, đặc biệt là lời kể nhân chứng và ảnh chụp vệ tinh NASA đã chứng minh: Thế giới dưới lòng đất nhiều khả năng là tồn tại.
Từ tiểu thuyết “Cuộc du hành vào lòng đất”…
Bạn có còn nhớ cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “Cuộc du hành vào lòng đất” của nhà văn Jules Verne? Dù là tiểu thuyết hay kịch bản phim, câu chuyện đã miêu tả một thế giới thực tại, vô cùng thần kỳ dưới lòng đất, theo Sound of Hope.
Câu chuyện kể rằng, một đoàn thám hiểm 3 người bao gồm một giáo sư người Đức, đứa cháu trai Axel và người dẫn đường Hans đã đi xuyên qua một ống nham thạch trong lòng núi lửa Snæfellsjökull ở Iceland để tiến vào trung tâm Trái Đất. Ba người đã trải qua một cuộc phiêu lưu thú vị, gặp gỡ nhiều loài động vật tuyệt chủng thời tiền sử, kinh qua nhiều thảm họa tự nhiên,  trước khi quay trở lại mặt đất ở miền nam nước Ý.


Bìa sách “Cuộc du hành vào lòng đất” của nhà văn Jules Verne.

… cho đến những khái niệm khoa học táo bạo sơ khai
Ý tưởng về một “thế giới dưới lòng đất” gắn liền với khái niệm “trái đất rỗng” (hollow earth), được đưa ra lần đầu tiên bởi nhà thiên văn học người Anh Edmund Harley (người phát hiện sao chổi Halley) vào năm 1692.
Ông cho rằng Trái Đất chúng ta đang sinh sống không phải có một lõi rắn bên trong như nhận thức phổ biến của rất nhiều người, mà được rất nhiều lớp không gian rỗng thể xen kẽ các lớp không gian đặc rắn cấu tạo thành. Các lớp không gian rỗng thể này kỳ thực chính là một môi trường tương tự bề mặt Trái đất. Ở đó có cây cối tốt tươi và bầu không khí ấm áp dễ chịu.


Hình mô phỏng khái niệm “Trái Đất rỗng” của nhà thiên văn học Edmund Harley, được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1692. Lòng Trái Đất được rất nhiều lớp không gian rỗng thể xen kẽ các lớp không gian đặc rắn cấu tạo thành.
Hình mô phỏng khái niệm “Trái Đất rỗng” của nhà thiên văn học Edmund Harley.
Hình mô phỏng khái niệm “Trái Đất rỗng” của nhà thiên văn học Edmund Harley.
Những lớp không gian rỗng thể này có môi trường tương tự bề mặt Trái Đất, với cây cối tốt tươi và bầu không khí ấm áp dễ chịu.

Làm sao để đi đến những nơi này? Nếu có thể tìm thấy những thông đạo trên mặt đất đi xuyên xuống những nơi này, thì có lẽ chúng ta sẽ đến được thế giới thần bí huyền ảo bên trong lòng đất kia.


Minh họa một đường thông xuống lòng đất.

Trong nhiều cổ thư Ấn Độ, chúng ta có thể thấy các ghi chép về một hành lang dài dưới lòng đất với tên gọi là Shambhala (phiên âm: Hương Ba Lạp), hay “Agharti” theo tiếng Phạn, hay Agartha theo tiếng Anh, tựu chung có nghĩa là “Thế giới dưới lòng đất”.
Theo truyền thuyết, thế giới dưới lòng đất có vô số hang động, đường hầm và những thông đạo dài quanh co kết nối. Ở đó là một bảo tàng khổng lồ ẩn chứa vô tận những bí ẩn của nhân loại thời viễn cổ.


Hình ảnh mô phỏng vương quốc huyền thoại Shambhala. Biểu tượng này có hình tròn, trông rất giống Trái Đất.
Bức vẽ thế giới dưới lòng đất Agharta (Ảnh: WordPress.com)

… cho đến các nghiên cứu và những cuộc “chạm trán” có thật
Theo kết quả thăm dò khảo sát và tham khảo các tài liệu lịch sử, Agartha rất có thể là một hành lang dài ngầm dưới đất, xuyên qua đáy biển Đại Tây Dương và liên kết với nhiều châu lục như Châu Âu, Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ.
Tháng 3/1942, khi nhà khảo cổ học David Ram trở về sau chuyến công tác ở bang Chiapas (Mexico) thì được Tổng thống Mỹ Roosevelt ngay lập tức vội vã triệu tập. Vợ chồng ông Ram nói với tổng thống rằng họ đã gặp gỡ những người Agar (người từ vùng đất Agartha) với ba màu da: xanh, trắng và đỏ. Họ là những người canh giữ lối vào “Thế giới trong lòng đất Agartha”.
Vợ chồng ông Ram nhớ lại, khi băng qua vùng rừng ở Chapas (Mexico), đầu tiên họ đã bắt gặp những người agar da xanh canh giữ ở lối vào. Những người Agar này đứng chặn ở cửa, bao vây đoàn khảo cổ và nghiêm nghị yêu cầu họ lập tức rời khỏi đó.
Người dẫn đường của họ đã tiến lên phía trước và dùng thổ ngữ địa phương trò chuyện với những người Agar, sau đó mới biết đây là những hậu duệ của người Maya. Họ là một nhánh của tộc người bản địa Nam Mỹ có tên gọi là Lacan Dayton. Những người Lacan này cư trú trong vùng rừng rậm, cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Họ ở đây từ thế hệ này qua thế hệ khác để canh giữ thánh địa trong rừng sâu và lối vào thế giới trong lòng đất.
Dưới lòng đất là nơi cất giấu lượng lớn vàng bạc châu báu. Người Lacan nhất mực tuân thủ lời giáo huấn của tổ tiên để lại, không cho phép người ngoài tiến vào khu vực thánh địa. Vợ chồng David Ram thừa nhận đã phát hiện được cửa vào thế giới dưới lòng đất, tuy nhiên họ không thể tiến vào bởi nó được những người Lacan canh gác bảo vệ rất cẩn mật.


Hình ảnh mô phỏng chuyến phiêu lưu của Olaf Jansen, một thủy thủ người Na-uy cùng cha đã dong buồm vào trong lòng Trái Đất, thông qua lối vào ở Bắc Cực.

Đường hầm ngàn dặm dưới dãy núi Andes
Tháng 7/1960, đoàn thám hiểm Peru đã phát hiện một đường hầm ngầm trong lòng dãy núi Andes, cách thủ đô Lima 600 km về phía đông. Đường hầm này trải dài 1000 km, thông suốt tới Chile và Colombia.
Để có thể bảo vệ tốt hơn di chỉ văn minh cổ xưa này, và cũng bởi trình độ khoa học kỹ thuật cũng như công việc bảo tồn lưu trữ của đất nước này lúc đó còn hạn chế, nên khi đó chính phủ Peru đã ra lệnh đóng cửa lối ra vào đường hầm.


Lối vào một hang động ngầm ở Ecuador
Ẩn trong lòng núi Andes có rất nhiều đường hầm ngầm.
Ẩn trong lòng núi Andes có rất nhiều đường hầm ngầm.

Miệng núi lửa thần bí ở Shasta
Tháng 4/1972, ba sinh viên Đại học Berkeley (Mỹ) đi chinh phục đỉnh núi Shasta (California), với độ cao 4318m. Đây là ngọn núi lửa đã ngừng hoạt động trong nhiều năm. Khi leo lên, ba sinh viên này nhìn thấy một số vật thể hình đĩa đang bay ra bay vào miệng núi lửa.
Họ càng ngạc nhiên hơn khi nhìn thấy, trên miêng núi lửa đột nhiên xuất hiện 5 người “da trắng cao to”. Những người này đứng gần miệng núi lửa trong khoảng thời gian rất ngắn, sau đó biến mất phía sau một khối nham thạch trong miệng núi lửa.


Đỉnh núi Shasta ở California, Mỹ, và đám mây với hình thù kỳ dị.

Thế giới ngầm dưới cánh rừng Myanmar
Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, một người lính Mỹ tên là Heber đã bị lạc khỏi đồng đội của mình và bị bỏ lại trong vùng rừng ở Myanmar. Một ngày nọ anh vô tình phát hiện được một cửa hang, nhưng bị một tảng đá lớn che lấp.
Tò mò và hiếu kỳ, Heber đi vào bên trong thì phát hiện ra cả một thế giới rộng lớn bên trong, có nguồn chiếu sáng giống như ban ngày. Càng đi sâu vào trong, anh càng tròn mắt kinh ngạc, khi nhìn thấy một thành phố vô cùng to lớn tráng lệ. Khi đang ngây người đứng nhìn thì anh bị phát hiện. Cư dân ở đây đã bắt và giam giữ anh. Phải đến 4 năm sau, anh mới tìm được cơ hội thoát khỏi chốn này, và hé lộ bí ẩn của nó cho thế giới ngoài kia.
Theo lời kể của Heber, vương quốc dưới lòng đất có 7 đường hầm thông đi các hướng khác nhau trên thế giới, nên có lẽ ở 7 nơi khác trên thế giới cũng sẽ có 7 lối thông ra ngoài.
Đường hầm dưới lòng đất tại dãy núi Altai Hill
Theo một báo cáo vào năm 1916, nhà địa lý Berrochnov công bố phát hiện một đường hầm ngầm dưới đất tại dãy núi Altai Hill, trải dài từ khu vực phía nam Mông Cổ mãi cho đến tận sa mạc Gobi.
Sau khi phân tích tỉ mỉ bố cục đường hầm, Berrochonov cho rằng thành Đôn Hoàng của Trung Quốc rất có thể là lối vào một “thành phố dưới lòng đất” nào đó.


Đường hầm dưới chân núi Altai

Không chỉ vậy, khu vực có từ trường mạnh ở nam cực, “khu hắc động” ở bắc cực và vùng châu thổ tam giác quỷ Bermuda đều có thể là cánh cửa thông đến một thế giới khác.
Chuyến ghé thăm thế giới lòng đất Ariane của đô đốc hải quân người Mỹ
Đô đốc hải quân Mỹ Richard E. Byrd đã may mắn có được một cuộc kỳ ngộ với con người đến từ nền văn minh dưới lòng đất.
Trong cuốn nhật ký của mình, Byrd cho biết:
Năm 1947, ông dẫn đầu một đoàn thám hiểm đi sâu vào trong lòng đất thông qua một lối vào ở Bắc Cực. Tại đây, ông đã có một phen choáng ngợp. Những cảnh tượng đập vào mắt khiến ông chấn động không thôi; các thung lũng phủ đầy cây cối xanh tươi rậm rạp, trong lòng thung lũng còn có các khe suối nhỏ với dòng nước róc rách chảy qua.


Đô đốc hải quân Mỹ Richard E. Byrd.

Byrd còn phát hiện một khu căn cứ để đĩa bay với quy mô lớn và những loài động thực vật đã bị tuyêt chủng trên mặt đất.
Những người bí ẩn nói với ông rằng thế giới dưới lòng đất này có tên gọi là “Ariane”. Họ có trình độ công nghệ vô cùng cao, vượt rất xa con người trên mặt đất.
Họ vốn không định tiếp xúc với thế giới bên ngoài, nhưng từ khi Mỹ thả hai qua bom nguyên tử xuống hai thành phố ở Nhật Bản trong Thế chiến II, họ nhận ra thứ vũ khí con người đang nắm giữ rất có thể sẽ hủy diệt toàn bộ thế giới mặt đất, đồng thời liên lụy đến thế giới tronglòng đất của họ. Họ bèn điều các vệ tinh nhân tạo đến lãnh thổ của những cường quốc sở hữu loại vũ khí hủy diệt này để can thiệp nhưng không đạt được kết quả như ý, những vệ tinh này còn bị máy bay chiến đấu công kích.
Những người bí ẩn này còn cảnh báo, nếu con người trên trái đất tiếp tục sử dụng vũ khí nguyên tử, nhân loại rất có thể sẽ một lần nữa rơi vào thời kỳ đen tối như vào giai đoạn chiến tranh.
Sau khi về nước, Byrd lập tức báo cáo lại cuộc kỳ ngộ này với giới lãnh đạo cao nhất. Trong cuốn nhật ký của mình, ông có ghi: “Đây là một vùng đất ở bắc cực, đó là một căn cứ khổng lồ và vô cùng bí ẩn”.
Bắc Cực và Nam Cực đều có cửa thông đến thế giới dưới lòng đất
Trong những năm gần đây, nhiều ảnh chụp vệ tinh từ không gian của NASA cho thấy rõ nhiều “hố sâu” hoặc “lỗ tròn” bí ẩn tại hai vùng cực. Rất có thể đây là lối vào các thế giới dưới lòng đất.
Bắc Cực:


Ảnh chụp vệ tinh NASA cho thấy một hố tròn tại Bắc Cực vào năm 2008.
Ảnh cập nhập hố tròn ở Bắc cực vào năm 2009
Ảnh cập nhập hố tròn ở Bắc cực vào năm 2010. Độ tròn “gần như hoàn hảo” của hố tròn này quả thật là một điều bí ẩn.
Ảnh chụp cận cảnh hố tròn ở Bắc Cực.

Nam Cực:


Hai hang động bí ẩn ở Nam Cực, có thể là cửa vào thế giới dưới lòng đất, thông qua Google Earth. (Ảnh: Internet)

Xem thêm:
Nhiều sử tích, truyền thuyết và thần thoại các nước đều đề cập đến thế giới dưới lòng đất
Trong thần thoại Hy Lạp, vị anh hùng thành Babylon là Gilgamesh đã ghé thăm tổ tiên Utnapishtim trong lòng Trái Đất; Orpheus đã giải cứu vợ mình là Eurydice khỏi địa ngục dưới lòng đất; Pha-ra-ông Ai Cập đã tiếp xúc với thế giới ngầm dưới đất, thông qua lối vào nằm bí mật bên trong các Kim tự tháp.


Vị anh hùng Gilgamesh ghé thăm tổ tiên Utnapishtim trong lòng Trái Đất.
Orpheus giải cứu vợ mình là Eurydice khỏi địa ngục dưới lòng đất.

Nhiều sử tích, truyền thuyết, thần thoại, đặc biệt là lời kể của các nhân chứng và rất nhiều ảnh chụp vệ tinh của NASA qua các năm đều hội tụ lại ở kết luận khó tin:

Thế giới dưới lòng đất thật sự tồn tại, và ở nơi đây tồn tại các nền văn minh tiên tiến.

Một thực tế thú vị là, cựu nhân viên tình báo nổi tiếng Edward Snowden của CIA từng tiết lộ, có tồn tại nền văn minh tiên tiến trong lớp quyển manti của Trái Đất (lớp trung gian giữa vỏ và lõi Trái Đất). Nói cách khác, thật sự tồn tại nền văn minh trong lòng Trái Đất.
Theo Sound of Hope
Kiên Định – Quý Khải
Tìm hiểu về bức xạ và phóng xạ
00:12 30/09/2005: Các câu hỏi được trả lời trong bài này: Bức xạ là gì? Sự phân rã phóng xạ là gì? Đơn vị hoạt độ phóng xạ (Becquerel) là gì? Chu kỳ bán rã diễn ra như thế nào? Bức xạ tự nhiên và bức xạ nhân tạo là gì? Chất phóng xạ được sử dụng như thế nào trong cuộc sống? Bức xạ có ảnh hưởng như thế nào tới các mô sống?
Bức xạ là gì?
Mọi người và mọi vật đều cấu tạo từ nguyên tử.
Một người lớn trung bình là tập hợp của khoảng 4.000.000.000.000.000.000.000.000.000 nguyên tử oxy, hydro, cacbon, nito, phốt pho và các nguyên tố khác.
Khối lượng nguyên tử tập trung ở phần hạt nhân nguyên tử mà độ lớn của nó chỉ bằng một phần tỷ của nguyên tử. Xung quanh hạt nhân hầu như là khoảng trống, ngoại trừ những phần tử rất nhỏ mang điện tích âm quay xung quanh hạt nhân được gọi là electron. Các electron quyết định tính chất hoá học của một chất nhất định. Nó không liên quan gì với hoạt độ phóng xạ. Hoạt độ phóng xạ chỉ phụ thuộc vào cấu trúc hạt nhân.
Một nguyên tố được xác định bởi số lượng Proton trong hạt nhân. Hydro có 1 proton, Heli có 2, Liti có 3, Berili có 4, Bo có 5 và Cacbon có 6 proton. Số lượng Proton nhiều hơn, thì hạt nhân nặng hơn. Thori có 90 proton, Protatini có 91 và Urani có 92 proton được xem là những nguyên tố siêu Urani.
Số lượng các nơtron quyết định hạt nhân có mang tính phóng xạ hay không. Để các hạt nhân ổn định, số lượng nơtron trong hầu hết mọi trường hợp đều phải lớn hơn số lượng Protron một ít. Ở các hạt nhân ổn định protron và nơtron liên kết với nhau bởi lực hút rất  mạnh của hạt nhân mà không phần tử nào thoát ra ngoài. Trong trường hợp như vậy, hạt nhân sẽ tồn tại bền vững. Tuy nhiên mọi việc sẽ khác đi nếu số lượng nơtron vượt khỏi mức cân bằng. Trong trường hợp này, thì hạt nhân sẽ có năng lượng dư và đơn giản là sẽ không liên kết được với nhau. Sớm hay  muộn nó cũng phải xả phần năng lượng dư thừa đó.
Hạt nhân khác nhau thì việc giải thoát năng lượng dư cũng khác nhau, dưới dạng các sóng điện từ và các dòng phân tử. Năng lượng đó được gọi là bức xạ.
Sự phân rã phóng xạ là gì?
Quá trình mà nguyên tử không bền giải thoát năng lượng dư của nó gọi là sự phân rã phóng xạ. Hạt nhân nhẹ, với ít Proton và nơtron trở lên ổn định sau một lần phân rã. Khi một nhân nặng như Radi hay Urani phân rã, những hạt nhân mới được tạo ra có thể vẫn không ổn định, mà giai đoạn ổn định cuối cùng chỉ đạt được sau một số lần phân rã.
Ví dụ: Urani 238 có 92 proton và 146 nơtron luôn mất đi 2 proton và 2 nơtron khi phân rã. Số lượng proton còn lại sau một lần Urani phân rã là 90, nhưng hạt nhân có số lượng proton 90 lại là Thori, vì vậy Urani 238 sau một lần phân rã sẽ làm sinh ra Thori 234 cũng không ổn định và sẽ trở thành Protatini sau một lần phân rã nữa. Hạt nhân ổn định cuối cùng là chì chỉ được sinh ra sau lần phân rã thứ 14.
Quá trình phân rã này xảy ra đối với nhiều hạt nhân phóng xạ có ở trong môi trường.
Đơn vị hoạt độ phóng xạ (Becquerel) là gì?
Hoạt độ phóng xạ chỉ khả năng phát ra bức xạ của một chất. Hoạt độ không có nghĩa là cường  độ của bức xạ được phát ra hay những rủi ro có thể xảy ra đối với sức khoẻ con người. Nó được quy định bằng đơn vị hoạt độ Becquerel (Bq), phỏng theo tên một nhà vật lý người Pháp, Henri Becquerel.
Hoạt độ phóng xạ của một tập hợp các hạt nhân phóng xạ được tính bởi số các phân rã trong nó trong một đơn vị thời gian. Nếu số lượng phân rã là 1/1 giây, thì hoạt độ của chất đó được tính là 1 Bq. Hoạt độ không liên quan gì đến kích thước hay khối lượng của một chất. Một nguồn phóng xạ có độ lớn bằng điếu thuốc lá dùng trong  một dụng cụ quan trắc phóng xạ có thể có hoạt độ lớn hơn hoạt độ cả thùng lớn chất thải phóng xạ hàng tỷ lần. Nếu số lượng phân rã xảy ra ở một lượng nhỏ của một chất là 1000/1 giây, hoạt độ của chất đó lớn hơn 100 lần so với một số lượng lớn chất chỉ có 10 phân rã xảy ra trong 1 giây.
Chu kỳ bán rã diễn ra như thế nào?
Tốc độ phân rã được mô tả bằng  chu kỳ bán rã, đó là thời gian mà 1/2 số hạt nhân không bền của một chất nào đó phân rã. Chu kỳ bán rã là đơn nhất và không thay đổi cho từng hạt nhân phóng xạ và có thể là từ một phần giây đến hàng tỷ năm. Chu kỳ bán rã của Sulfua - 38 là 2 giờ 52 phút, của Radi - 223 là 11,43 ngày, và Cacbon - 14 là 5.730 năm. Trong các chu kỳ bán rã liên tiếp, hoạt độ chất phóng xạ giảm bởi phân rã từ 1/2, 1/4, 1/8, 1/16… so với hoạt độ ban đầu. Điều đó cho phép tính hoạt độ còn lại của bất cứ chất nào tại một thời điểm bất kỳ trong tương lai.
Bức xạ có khắp nơi trong môi trường. Hầu hết các chất phóng xạ có đời sống dài đều sinh ra trước khi có Trái đất, vì vậy một lượng xạ luôn tồn tại là điều bình thường không thể tránh khỏi. Trong thế kỷ vừa qua, phông phóng xạ đã tăng lên không ngừng do các hoạt động như thử vũ khí hạt nhân và phát điện hạt nhân. Mức độ phóng xạ phụ thuộc vào nhiều yếu tố: địa điểm, thành phần của đất, vật liệu xây dựng, mùa, vĩ độ, và mức độ nào đấy nữa là điều kiện thời tiết: mưa, tuyết, áp suất cao, thấp, hướng gió… tất cả đều ảnh hưởng đến phông bức xạ. Bức xạ được xem là tự nhiên hay nhân tạo là do nguồn gốc sinh ra của nó.
Bức xạ tự nhiên và bức xạ nhân tạo là gì?
Bức xạ tự nhiên
Một phần của phông phóng xạ là bức xạ vũ trụ đến từ không gian. Chúng hầu hết bị cản lại bởi khí quyển bao quanh Trái đất, chỉ một phần nhỏ tới được Trái đất. Trên đỉnh núi cao hoặc bên ngoài máy bay, độ phóng xạ lớn hơn nhiều so với ở mặt biển. Các phi hành đoàn làm việc chủ yếu ở độ cao có bức xạ vũ trụ lớn hơn mức bình thường ở mặt đất khoảng 20 lần.
Các chất phóng xạ có đời sống dài có trong thiên nhiên thường ở dạng các chất bẩn trong nhiên liệu hoá thạch. Trong lòng đất, các chất như vậy không làm ai bị chiếu xạ, nhưng khi bị đốt cháy, chúng được thải vào khí quyển rồi sau đó khuyếch tán vào đất, làm tăng dần phông phóng xạ.
Nguyên nhân chung nhất của sự tăng phông phóng xạ là Radon, một chất khí sinh ra khi Radi kim loại phân rã. Các chất phóng xạ khác được tạo thành trong quá trình phân rã tồn tại tại chỗ trong lòng đất, nhưng Radon thì bay lên khỏi mặt đất.
Nếu nó lan toả rộng và hoà tan đi thì không gây ra nguy hại gì, nhưng nếu một ngôi nhà xây dựng tại nơi có Radon bay lên tới mặt đất, thì Radon có thể tập trung trong nhà đó, nhất là khi các hệ thống thông khí không thích hợp. Radon tập trung trong nhà có thể lớn hơn hàng trăm lần, có khi hàng ngàn lần so với bên ngoài.
Loại trừ khí Radon, bức xạ tự nhiên không có hại đối với sức khoẻ. Nó là một phần của tự nhiên và các chất phóng xạ có trong cơ thể con người cũng là một phần của tạo hoá.
Bức xạ nhân tạo
Những hoạt động của con người cũng tạo ra các chất phóng xạ được tìm thấy trong môi trường và cơ thể. Một số chất đã được thải vào khí quyển do các vụ thử vũ khí hạt nhân và phần nhỏ hơn nhiều là các nhà máy điện hạt nhân. Những giới hạn phát thải được phép đối với nhà máy điện hạt nhân bảo đảm chúng không gây tác hại gì. Hầu hết các chất phóng xạ sinh ra từ phân hạch hạt nhân nằm trong chất thải phóng xạ và được lưu giữ cách biệt với môi trường.
Chất phóng xạ được sử dụng như thế nào trong cuộc sống?
Sản phẩm tiêu dùng
Một số sản phẩm tiêu dùng cũng có chứa chất phóng xạ. Các ngôi nhà thường được trang bị các thiết bị phát hiện khói có chứa nguồn phóng xạ alpha nhỏ, sơn dạ quang đồng hồ và các dụng cụ cũng có chất phóng xạ tác động vào chất phôtpho làm nó sáng lên.
Công nghiệp
Nhiều người phải tiếp xúc hàng ngày với các vật liệu phóng xạ trong rất nhiều ngành công nghiệp. Con mắt bức xạ nhìn được mọi thứ được sử dụng trong nhiều trường hợp khác nhau, thường để bảo đảm an toàn cho con người.
Tia X được dùng để soi hành lý tại các sân bay, kiểm tra các khuyết tật mối hàn và các vết hàn hoặc các vết nứt các trong công trình xây dựng, các đường ống và các cấu trúc khác. Trong quá trình kiểm tra, nó có thể giúp theo dõi những bất thường trong độ dày của sản phẩm giấy, của phim nhựa và các lá kim loại. Bức xạ được dùng đo mức độ chất lỏng trong các bồn chứa lớn.
Nông nghiệp
Bức xạ mạnh đã được sử dụng thành công trong việc phát triển 1500 giống cây lương thực và cây trồng khác cho sản lượng cao hơn, chống chịu tốt hơn với điều kiện thiên nhiên và sâu bệnh.
Bức xạ được dùng để kiểm soát ruồi Tsetse ở Zambia, ruồi hại hoa quả ở Mexico và sâu cuốn lá ở Nam Mỹ và Bắc Phi. Trong kỹ thuật vô sinh côn trùng, côn trùng đực được đem chiếu xạ làm cho chúng bị mất khả năng sinh sản trước khi thả chung với côn trùng cái, thế hệ sau sẽ không được sinh ra. Không giống các hoá chất diệt côn trùng, biện pháp này không gây ô nhiễm và có mức tác dụng chọn lọc cao.
Bức xạ trị bệnh
Trong lĩnh vực y tế, các ứng dụng bức xạ hầu hết được dựa vào khả năng của chất bức xạ cho phép nhìn xuyên qua và khả năng diệt các tế bào của các bức xạ mạnh.
Ở nhiều nước, phụ nữ trung niên được kiểm tra bằng thiết bị chụp để theo dõi bệnh ung thư vú. Nha sỹ dùng thiết bị chụp hàm để phát hiện các dị thường của xương hàm. Xương được chụp để phát hiện các hiện tượng sai khớp hay gẫy xương. Có khi điều trị cần phải chẩn đoán bằng cách tiêm chất phóng xạ vào cơ thể. Bức xạ có thể được dùng riêng để chữa ung thư hay được sử dụng hỗ trợ cho điều trị bằng phẫu thuật hoặc hoá chất.
Chẩn đoán sớm
Nhiều căn bệnh được phát hiện sớm bằng chụp X quang còn có thể chữa được.
Khi tia X vào cơ thể, nó tạo một hình ảnh có những vùng tối hơn và có những vùng sáng hơn, cho phép chụp các cơ quan nội tạng để chẩn đoán bệnh. Xương được tạo hình ảnh rất rõ trên phim nhưng để kiểm tra ruột hoặc sụn, bệnh nhân thường được tiêm, uống hoặc đưa vào cơ thể một chất tương phản, chất đó sẽ đọng lại ở nơi sẽ chụp và do tính dễ hấp thu bức xạ đó sẽ cho hình ảnh rất rõ về bộ phận được chụp trên phim X quang.
Xạ trị
Khi cần nguồn xạ năng lượng lớn hơn X quang như trong xạ trị, thì người ta dùng thiết bị Telecobalt, hay gần đây hơn là dùng máy gia tốc tuyến tính. Máy gia tốc tuyến tính truyền chùm electron năng lượng cao vào sâu trong khối tế bào cần điều trị như các khối u. Vì chùm tia electron rất dễ căn chuẩn, nó chiếu thẳng vào các khối u và phá huỷ khối u trong thời gian vài tuần mà không gây tổn hại gì nhiều cho tế bào xung quanh hoặc cho da. Các tế bào xung quanh nếu bị ảnh hưởng sẽ có thời gian hồi phục giữa các đợt điều trị. Khi cần thiết, máy gia tốc tuyến tính có thể chụp ảnh các cơ quan nội tạng với hình ảnh rõ hơn nhiều so với chụp X quang.
Một hình thức khác nữa của xạ trị là điều trị hocmôn tuyến giáp và một số dạng u giáp trạng. Bệnh nhân được uống một dung dịch có chứa iôt 131, chất này đi vào tuyến giáp và tạo ra nội xạ trị. Trong trường hợp đặc biệt, một nguồn xạ nhỏ liên tục được đưa vào trong cơ thể bên cạnh vùng cần điều trị để thực hiện vùng điều trị ngắn tại chỗ.
Chiếu xạ khử trùng và bảo quản thực phẩm
Nguồn phóng xạ rất mạnh có thể được sử dụng để khử trùng các dụng cụ như dụng cụ phẫu thuật, găng tay, những dụng cụ không thể khử trùng bằng nhiệt độ cao. Một số loại thuốc cũng được khử trùng bằng chiếu xạ; thực phẩm cũng có thể chiếu xạ để bảo quản được lâu hơn. Hiện nay khoảng 20% thực phẩm bị hỏng trước khi đến được với người tiêu dùng trong khi thực phẩm chiếu xạ cũng có thể bảo quản nhiều tháng. Chiếu xạ thực phẩm còn loại trừ được các ký sinh trùng và khuẩn có hại. Thực phẩm đã được chiếu xạ không mang tính phóng xạ và không nguy hại đối với người tiêu dùng.
Bức xạ có ảnh hưởng như thế nào tới các mô sống?
Bức xạ sinh ra dưới nhiều hình thức. Đối với sức khỏe con người, thì các dạng quan trọng nhất là các dạng có thể xuyên qua vật chất và làm cho nó bị điện tích hoá hay ion hoá. Nếu bức xạ ion hoá thấm vào các mô sống, các iôn được tạo ra đôi khi ảnh hưởng đến quá trình sinh học bình thường. Tiếp xúc với bất kỳ loại nào trong số các loại bức xạ ion hoá, bức xạ alpha, beta, các tia gamma, tia X và nơtron, đều có thể ảnh hưởng tới sức khoẻ.
Bức xạ Alpha
Bao gồm các phần tử nặng mang điện tích dương hoặc các tập hợp gồm hai proton và hai notron được phát ra bởi các nguyên tử của các nguyên tố nặng như Uran, Radi, Radon và Plutoni. Trong không gian, bức xạ alpha không truyền xa và bị cản lại toàn bộ bởi một tờ giấy hoặc bởi lớp màng ngoài của da. Tuy nhiên, nếu một chất phát tia Alpha được đưa vào trong cơ thể, nó sẽ phát ra năng lượng ra các tế bào xung quanh. Ví dụ trong phổi, nó có thể tạo ra liều chiếu trong đối với các mô nhạy cảm, mà các mô này thì không có lớp bảo vệ bên ngoài giống như da.
Bức xạ Beta
Bao gồm các electron nhỏ hơn rất nhiều so với các hạt alpha và nó có thể thấm sâu hơn. Beta có thể bị cản lại bởi tấm kim loại, kính hay quần áo bình thường và nó có thể xuyên qua được lớp ngoài của da. Nó có thể làm tổn thương lớp da bảo vệ. Trong vụ tai nạn ở nhà máy điện hạt nhân Chernobyl năm 1986, các tia Beta mạnh đã làm cháy da những người cứu hoả. Nếu các bức xạ Beta phát ra trong cơ thể, nó có thể chiếu xạ trong các mô trong đó.
Bức xạ Gamma
Bức xạ Gamma là năng lượng sóng điện từ. Nó đi được khoảng cách lớn trong không khí và có độ xuyên mạnh. Khi tia gamma bắt đầu đi vào vật chất, cường độ của nó cũng bắt đầu giảm. Trong quá trình xuyên vào vật chất, tia gamma va chạm với các nguyên tử. Các va chạm đó với tế bào của cơ thể sẽ làm tổn hại cho da và các mô ở bên trong. Các vật liệu đặc như chì, bê tông là tấm chắn lý tưởng đối với tia gamma.
Bức xạ tia X
Bức xạ tia X tương tự như bức xạ Gamma, nhưng bức xạ Gamma được phát ra bởi hạt nhân nguyên tử, còn tia X do con người tạo ra trong một ống tia X mà bản thân nó không có tính phóng xạ. Vì ống tia X hoạt động bằng điện, nên việc phát tia X có thể bật, tắt bằng công tắc.
Bức xạ Nơtron
Bức xạ Nơtron được tạo ra trong quá trình phát điện hạt nhân, bản thân nó không phải là bức xạ ion hoá, nhưng nếu va chạm với các hạt nhân khác, nó có thể kích hoạt các hạt nhân hoặc gây ra tia gamma hay các hạt điện tích thứ cấp gián tiếp gây ra bức xạ ion hoá. Nơtron có sức xuyên mạnh hơn tia Gamma và chỉ có thể bị ngăn chặn lại bởi tường bê tông dày, bởi nước hoặc tấm chắn Paraphin. May mắn thay, bức xạ Nơtron không tồn tại ở đâu, trừ lò phản ứng hạt nhân và nhiên liệu hạt nhân.

Lê Hoa (Theo tài liệu của IAEA “Bức xạ, Sức khoẻ và Xã hội”)

Di tích biến hình qua sự trùng tu dị hợm

175
Hình ảnh của các di tích cổ bị người ta “tân trang” chẳng khác nào bắt một cụ bà trăm tuổi đi “cắt mí, xẻ môi, căng da, bơm ngực” trên một thân hình già nua, tiều tụy, tiêu điều. Rồi khoác cho cụ già hàng trăm tuổi ấy những bộ cánh xanh, đỏ với đôi giày gót cao cho… hoành tráng, “hợp xu thế thời đại”.
Đau lòng thay, trước hình ảnh “dị hợm” “chẳng giống ai” của mình, “cụ” di tích không khỏi bàng hoàng, xót xa, kinh hãi, khóc than, còn các “con, cháu” cụ thì lấy làm thích thú, hoan hỉ và tiếp tục “nhân bản” với rất nhiều “cụ” di tích cổ khác tại Việt Nam.
Thành nhà Mạc chẳng khác gì một cái lò gạch sau khi được trùng tu
Những bài học như thành Nhà Mạc cổ kính được tu sửa thành “lò gạch mới” hay thành cổ Sơn Tây… vẫn chưa dừng lại. Việc sửa chùa theo kiểu “thẩm mỹ dị hợm” này một lần nữa gióng lên hồi chuông về sự trùng tu di tích kiểu đập cũ, xây mới.
Điển hình như công trình tu bổ, tôn tạo chùa Trấn Quốc trên Hồ Tây. Cho tới tận thời điểm dự án được động thổ thì Ban Quản lý vẫn chưa hoàn tất được hồ sơ hoàn chỉnh về kế hoạch tu bổ để trình cơ quan chức năng là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch (VHTTDL) xem xét. Vì thế, hạng mục cầu đá xuất hiện trong bản vẽ của công trình đưa ra đã lập tức gặp sự phản ứng gay gắt từ các nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử. Nhiều giải thích được đưa ra, thậm chí còn có ý kiến khẳng định việc động thổ này chỉ là “lấy ngày”.
Điều tương tự xảy ra đối với công trình tu bổ, tôn tạo đền Voi Phục. Với tổng mức kinh phí trên 18 tỷ đồng, chủ đầu tư là UBND quận Ba Đình, đền được khởi công tu bổ. Thế nhưng, chỉ nửa tháng sau lễ khởi công, dư luận lại ồn ào về việc nhiều cây xanh, trong đó có một số cây cổ thụ trong khu di tích này bị chặt bỏ trái phép.
Công trình tu bổ, tôn tạo di tích được cấp Bằng kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, đình Xuân Tảo, huyện Từ Liêm. Với nguồn vốn đầu tư lên tới nhiều tỷ đồng, song mọi thủ tục về tháo dỡ, thi công tu bổ công trình di tích được xếp hạng cấp quốc gia đều bị bỏ qua.
Cụ thể: không có thỏa thuận của Bộ VHTTDL về việc tu bổ, tôn tạo; không đánh giá kết cấu công trình trước khi hạ giải… Chính điều này đã khiến nhiều mảng chạm, cốn dư, đầu kê… được chạm trổ tinh xảo – một trong những đặc trưng cho kiến trúc nghệ thuật của đình – bị tháo bỏ, thay thế bằng chất liệu mới.
Với di tích đình thờ Chu Văn An, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, sai phạm xảy ra nghiêm trọng hơn khi việc tu bổ đình hoàn toàn không có ý kiến của Bộ VHTTDL nên địa phương đã “hy sinh” lầu bình thơ để lấy đất quy hoạch sân hành lễ. Khi cơ quan chức năng phát hiện thì mọi sự đã rồi, lầu bình thơ trước kia từng được cho là nơi Chu Văn An cùng học trò đàm đạo văn chương, thơ phú giờ chỉ là đống gạch vỡ.
Còn một khu đền nổi tiếng cách Hà Nội 30 km, nơi thờ 8 vị Vua triều Lý – đền Đô, người dân đã xây dựng mới bức cuốn thư (Chiếu dời đô, chữ Hán bằng gốm sứ Bát Tràng màu xanh trên nền trắng) tại phía trái tam quan đền (dài khoảng 10m, cao 5m) và đặt 2 sư tử bằng đá trên bệ trước cửa sân đền Đô phía giáp hồ. Việc xây bức cuốn thư, đặt sư tử đá và 2 pho tượng vào di tích lịch sử đền Đô không được sự thỏa thuận và đồng ý của Bộ VH-TT&DL, là vi phạm Luật Di sản văn hóa.
Ở một vài nơi, thay vì phát huy đã vô tình hủy hoại hoặc có bảo tồn nhưng việc làm không đúng với bảo vệ di sản. Điển hình là trường hợp của Quần thể di tích Cố đô Huế, Đàn Nam Giao, di tích Thành nhà Hồ – Thanh Hóa…
Theo Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế, sau khi quần thể di tích này được UNESCO công nhận là Di sản thế giới, trong khoảng từ năm 1996 đến năm 2010 đã được đầu tư trên 600 tỷ đồng để trùng tu hơn 100 công trình.
Tuy nhiên, không ít người lại tiếc nuối vì nhiều công trình đã trở nên “hiện đại”. Những mái ngói cổ được thay bằng vật liệu hoàn toàn khác, những vết tích xưa cũ được sơn mới lòe loẹt, không ít những chi tiết hoa văn cổ bị bỏ bớt hoặc thiết kế lại. Không chỉ dừng lại ở đó, gần đây nhất là Đàn Nam Giao của Thành nhà Hồ đã được phục dựng bất chấp cơ sở khoa học đang làm buồn lòng những người dân yêu mến di tích này.
Nguyên nhân do một số địa phương làm ẩu trong việc lập hồ sơ chi tiết, xin phê duyệt. Những người trực tiếp quản lý chưa có kiến thức kỹ thuật trong tu bổ di tích và bảo quản các hiện vật… Thêm vào đó, người dân địa phương thường có tâm lý, ước nguyện làm hoành tráng, khang trang, “long lanh” hơn, nên đã đưa một số vật liệu mới vào thi công, đưa các đồ trưng bày hiện đại vào trang trí khiến cho di tích trở nên xa rời với tính chất nguyên bản của nó.
Nói như ông Trần Lâm Biền (Cục Di sản văn hóa) thì “sai phạm trong công tác tu bổ di tích nhiều lắm, kể ra không hết”. Cả nước hiện có hơn 4 vạn “cụ” di tích. Với phong trào “thẩm mỹ dị hợm” diễn ra trên diện rộng như hiện nay, chẳng bao lâu nữa những di tích rêu phong cổ kính, giàu giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật sẽ chỉ còn là hoài niệm.
Thùy Dương