Search This Blog

Wednesday, October 18, 2017

Tham nhũng trong chính quyền VNCH
(Đây là lời nhận xét của tác giả Trọng Đạt một người đã sống dưới chính thể VNCH.. )
Thật vậy những năm đầu của chế độ Nguyễn Văn Thiệu, 1967, 1968, guồng máy tương đối còn có kỷ cương nhưng dần dần đi tới chỗ tham nhũng thối nát tồi tệ, nó đã phá hoại kinh tế vật chất và làm suy sụp tinh thần quân dân. Tham nhũng hối lộ có từ thời Tây nhưng dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu có thể nói đã tiến tới chỗ tột cùng của thối nát. Các chế độ, chính phủ Quốc Gia từ thời Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, Ngô Ðình Diệm, Nguyễn Cao Kỳ… cũng ít nhiều có tham nhũng nhưng người dân còn chấp nhận được, đến Nguyễn Văn Thiệu thì thật hết nước nói. Sau khi miền Trung thất thủ lọt vào tay Cộng quân, chúng tôi có nghe một ông công chức than thở “chế độ Thiệu đi theo vết xe đổ của Tưởng Giới thạch, các ông tỉnh trưởng chết gục trên đống vàng”!
Trong cuốn sách Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975 trang 56, Phạm Huấn có nói:
“Theo dư luận, cái giá để mua chức Tỉnh trưởng qua đường giây bà Thiệu, bà Khiêm, thường thường từ 10 đến 20 triệu”
Tệ nạn mua quan bán tước ngày càng lộ liễu, những chức vụ, công việc hái ra tiền đều được mua bán trả giá cả sòng phẳng, ngoài ra quan chức phải nộp tiền hụi chết cho cấp trên theo hệ thống quân giai, Quận nộp cho Tỉnh, Tỉnh nộp cho Vùng, Vùng nộp cho Trung Ương. Nguyễn Ðức Phương nói các hình thức tham nhũng tại miền Nam đã được nhóm nghiên cứu thuộc tổ hợp Rand xếp thành bốn loại chính buôn lậu, hối lộ, mua quan bán tước và lính kiểng, lính ma.. Trong phim Vietnam History by television, ông giám đốc CIA khi trả lời phỏng vấn cho biết tham nhũng (corruption) đã phát triển quá độ tại miền Nam VN , chỗ nào cũng có, chính phủ Mỹ biết rõ như vậy và họ đã phải che dấu không cho báo chí biết sợ người ta làm um lên, nếu đến tai Quốc hội viện trợ sẽ bị cắt giảm.
Tại các tỉnh, viện trợ kinh tế, xã hội, bình định phát triển.. bị đục khoét trầm trọng, tiền viện trợ của Mỹ không được dùng vào mục tiêu kinh tế quân sự mà vào túi bọn quan lại tham ô. Tham nhũng bắt nguồn từ lòng tham vô đáy của con người hơn là vì thiếu thốn. Các quan chức có được căn nhà, cái xe hơi thì cũng được rồi, so với đời sống nhân dân như thế cũng là được quáưu đãi. Nhưng kẻ tham ô không dừng chân ở đó, được voi tròi tiên, họ tậu rừng tậu ruộng, tậu đồn điền, mua dăm bẩy căn nhà nghỉ mát, cái ở Nha Trang, cái Ðà Lạt, Vũng Tầu, chuyển ngân ra ngoại quốc… Tham nhũng như đã nói ở trên vừa phá hoại kinh tế quốc gia, vừa làm suy yếu tinh thần người dân cũng như người lính chiến. Sau đây là tham nhũng dười con mắt người ngoại quốc.
Hậu quả của tình trạng tham nhũng này đã được một sĩ quan nhận xét:
‘ Tham nhũng luôn luôn tạo ra sự bất công trong xã hội. Tại Việt Nam, một nước đang trong thời chiến thì sự bất công trong xã hội lại càng rõ ràng hơn so với các nước khác.Tham nhũng đã tạo ra một thiểu số nắm giữ tất cả các quyền lực và tài nguyên, phần lớn giai cấp trung lưu và nông dân trở thành nghèo hơn và phải chịu hy sinh.Họ mới chính là người đóng thuế cho chính phủ, hối lộ cho cảnh sát, phải mua phân bón với giá cắt cổ để rồi phải bán gạo với giá rẻ do chính phủ ấn định, và cũng chính họ đã cho con cái đi chiến đấu và hy sinh cho đất nước trong khi các công chức cao cấp của chính phủ và những kẻ giầu có lại gửi con cái ra nước ngoài.Một bác sĩ quân y đã nói với tôi rằng ông đau lòng khi nhìn thấy những thương binh, các binh sĩ cụt chân tay nằm đầy tại quân y viện đều thuộc giai cấp bình dân, thuộc các gia đình nông dân, các thương binh này phải chịu đựng và hy sinh cho thiểu số tham nhũng thống trị. Chính phủ tuyên bố tìm cách chiếm lòng dân nhưng thực tế chỉ làm lớn hơn khoảng cách giữa giai cấp lãnh đạo và quần chúng.”
Nguyễn Ðức Phương, Chiến Tranh Việt Nam Toàn tập, trang 804, 805.
Hồi ấy trên báo chí đã có người lên án bất công xã hội tại miền Nam ngày càng trở lên ghê tởm, trong khi binh sĩ chết như rạ ngoài mặt trận thì tại các thành phố lớn, bọn nhà giầu mua xe hơi bóng lộn, xây nhà cao năm bẩy tầng lầu, ai nấy mặt vênh mày vác, khinh người rẻ của. Bọn con buôn hái ra tiền nhờ chiến tranh rồi dùng tiền cho con cái đi du học ngoại quốc trong khi những kẻ sông pha mũi tên hòn đạn ngoài chiến trường phải chịu cảnh nghèo nàn thiếu thốn. Thực trạng xã hội đã ảnh hưởng rất nhiều đến tinh thần người chiến sĩ, họ phải hy sinh, chiến đấu cho một chế độ bất công thối nát.
Phạm Huấn có ý chê các Tướng lãnh Việt Nam không có sự ngay thẳng, tư cách như các Tướng lãnh ngoại quốc. Năm 1950 De Lattre, Tướng 5 sao, Tư lệnh Ðông Dương nhưng vẫn để cho người con một, Bernard De Lattre đóng tại đền Non nước Ninh Bình. Mặc dù vua Bảo Ðại đề nghị đưa Bernard về làm trong văn phòng Quốc trưởng nhưng ông Tướng vẫn để con chiến đấu tại chiến trường và tử trận tháng 5-1951. Khi Mỹ bắt đầu ném bom Bắc Việt, Ðô đốc Sharps, tư lệnh các lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương đã để con trai ông, Thiếu tá phi công Mac Cain tham gia oanh tạc và đã bị bắn rơi.
“Trong khi đó, suốt cuộc chiến 21 năm sau cùng tại Việt Nam, chắc chắn không thể tìm thấy con một ông tướng nào chiến đấu ngoài mặt trận”
(Phạm Huấn,Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước, trang 133)
“..con những ông Tướng khác thì cứ gần đến tuổi động viên đã bằng cách này, cách khác, được xuất ngoại du học. Chung qui chỉ có những sinh viên, học sinh con nhà nghèo và không thế lực, sẽ bị thi hành lệnh Tổng động viên một cách rất kỹ lưỡng. Ngoài ra, vì không có tiền bạc để chạy chọt, chắc chắn không bao giờ họ được phục vụ tại ‘chỗ ngon, chỗ bở’ ở Sài Gòn hay hay các tỉnh”
Phạm Huấn, Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước, trang 134, viết theo lời kể của Thiếu uý Phạm văn Trung, sư đoàn 18 BB.
Trần Phan Anh trong cuốn Trận Chiến Mùa Hè 1972 trang 155, 156 có nêu ra một vụ tham nhũng hối lộ động trời của các Tướng lãnh VNCH, chẳng biết hư thực ra sao.
“Trong khoảng thời gian từ tháng giêng đến tháng 3-1972, tình báo VNCH báo cáo sự hiện diện của công trường 5 Bắc Việt tại căn cứ địa 712, gần thị trấn Snoul, Cam Bốt, khoảng 30 cây số Tây Bắc Quận lỵ Lộc Ninh trên Quốc Lộ 13. Hai công trường 7, 9 được phát hiện tại vùng đồn điền cao su Dambe và Chup trên đất Cam Bốt, nơi đó là hai mục tiêu hành quân của Quân đoàn III thiết kế cho Ðệ tam cá nguyệt 1971. Kế hoạch đã bị đình hoãn sau cuộc tử nạn của Trung Tướng Ðỗ Cao trí, Tư lệnh quân đoàn III QLVNCH.
Trung Tướng Ðỗ Cao Trí đã bị thảm sát vì đã cùng Nguyễn Văn Thiệu, Ðặng Văn Quang nhận hối lộ 30 triệu đô la do tòa Ðại sứ Nga tại Paris trao cho Quang để thả Trung Ương Cục và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chạy trối chết qua Cam Bốt sau khi bị liên quân Việt Mỹ bao vây tại vùng rừng Tây Ninh vì những cánh quân của Quân đoàn III tiến quá nhanh, cục R chậm chân kẹt lại bị CIA phát hiện do việc họ đánh điện cầu cứu Hà Nội. MACV phối hợp Ðệ 2 Quân đoàn tiền phương Hoa Kỳ (US II Field Forces) cùng Quân đoàn 3 VNCH được tăng cường một lữ đoàn Dù, Liên đoàn 5, 6 Biệt động quân tung quân bao vây, Cục R chỉ còn một trung đoàn bảo vệ, cá nằm trong rọ chờ lên thớt. Khi Liên quân Việt Mỹ siết chặt vòng vây, Lữ đoàn Dù thọc mũi tấn công khuấy động, một liên đoàn Biệt Ðộng Quân lãnh nhiệm vụ án ngữ biên giới Cam Bốt thì bất ngờ nhận được lệnh Trung Tướng Ðỗ Cao Trí cho lệnh rút về chi khu Phước Thành, Tây Ninh nghỉ dưỡng quân thì tối hôm đó bị trung đoàn bảo vệ Cục R đánh úp để che chở cho toàn bộ Trung ương Cục chạy trối chết qua Cam Bốt về hướng đồn điền Snoul.
Sau đó CIA tức giận nghĩ rằng Ðỗ Cao Trí là người của Cộng sản nên ra tay tiêu diệt, những chuyện này do chính Ðặc sứ Komer (hàm Ðại sứ) kể lại, ông đặc trách Bình định phát triển MACV.”
Khởi đầu từ 8 tháng 9 năm 1974, linh mục Trần Hữu Thanh Chủ tịch Phong trào Nhân dân chống tham nhũng cho phổ biến bản cáo trạng số 1 tố cáo ông Thiệu tham nhũng và yêu cầu từ chức. Tướng Thiệu bị tố tham nhũng nhiều vụ như nhà cửa, đất đai, đầu cơ phân bón, gạo miền Trung, buôn bán bạch phiến.. . phong trào lôi cuốn các nhóm khác như sinh viên, ký giả, chính khách.. Ðầu tháng 2 năm 1975, phong trào phổ biến cáo trạng số 2 tố cáo ông Thiệu nhiều tội và hô hào lật đổ bằng võ lực khiến ông ta phải dùng biện pháp mạnh cho bắt giam nhiều nhà chính khách, đảng phái.
Người dân trong nước đã quá chán ghét chính quyền thối nát, dĩ nhiên người Mỹ phải chán nản hơn thế nữa, tiền của họ đổ vào từ bao lâu nay y như gió lùa vào nhà trống, cựu đại sứ Bùi Diễm nói.
“Một quốc hội quá chán ngán chiến tranh và mệt mỏi vì đã yểm trợ một đồng minh có quá nhiều khuyết điểm và thối nát”
Nhà bào Trần Văn Ân, Tướng Trưởng, Phạm Huấn, chính khách, ký giả… đều cho rằng đất nước đã được giao phó vào tay lãnh đạo tồi. Trần Việt Ðại Hưng cũng như nhiều nhà báo khác cho rằng Thiệu, Kỳ không phải là những nhà lãnh đạo mà chỉ là những anh cai thầu chiến tranh, hễ có tiền thì đánh, không tiền thì chạy. Trong tám, chín năm cầm quyền, ta không thấy chính phủ Thiệu có một kế hoạch gì về chính trị, kinh tế cũng như quân sự mà chỉ trông chờ vào Mỹ, ông Nguyễn Tiến Hưng cho rằng ta đã hoàn toàn lệ thuộc vào Mỹ từ quốc phòng, ăn ở, giao thông, vận chuyển…
Ðương đầu với một kẻ thù nguy hiểm, công chức quân nhân không được học tập về đường lối, lý tưởng chủ nghĩa quốc gia.. hoặc có chăng chỉ là hình thức. Tổ chức hoạt động tuyên truyền của chính phủ rất yếu kém, không lôi cuốn được sự ủng hộ của nhân dân trong khi kẻ địch thường xuyên tuyên truyền nhồi sọ cán binh, nhân dân, bộ đội để lái họ theo đường hướng chúng đã vạch ra. Bộ Thông tin, tuyên truyền của ta không giáo dục, tuyên truyền cho người dân, quân nhân, công chức một lý tưởng Quốc gia, lý tưởng Tự Do Dân chủ để quân dân ta có một tinh thần vững mạnh mà chỉ là chính sách tự vệ, gặp VC ở đâu thì đánh đấy.
Ông Nguyễn Ðức Phương cho rằng người dân không tích cực yểm trợ cho công cuộc chiến đấu.
“Cuộc chiến tranh quá dài đã khiến mọi người mệt mỏi, giao khoán hoàn toàn việc bảo vệ đất nước cho quân đội. Phần lớn thanh niên không thiết tha, đôi khi còn trốn tránh nghĩa vụ quân sự trong thời chiến. Tất cả những mục nát của chính quyến, thờ ơ của dân chúng và sự ung thối của xã hội miền nam đã cấu thành yếu tố tự hủy”
(CTVNTT, trang 806)
Một điều không thể chối cãi được là người Quốc Gia luôn luôn chia rẽ khiến cho CS đã thừa cơ nước đục thả câu. Ngay từ những năm 1945, 46.. các đảng phái Quốc Gia đã chia rẽ nhau khiến cho CS lợi dụng thời cơ tuyên truyền lôi cuốn quần chúng để rồi cướp được chính quyền. Ông Ngô Ðình Diệm chấp chánh ngày 7-7-1954, so với các Thủ Tướng tiền nhiệm như Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn tâm, Bửu Lộc… ông Diệm là người có bản lãnh cao nhất, dám chơi bạo hất cẳng Pháp để đi theo Mỹ. Ðụng chạmvới Bảo Ðại thân Pháp, tháng 4-1955, ông Diệm được triệu hồi sang Pháp để Quốc trưởng cất chức. Các đảng phái Quốc gia, nhân sĩ.. đều nhiệt tình ủng hộ Thủ tướng Diệm, đả đảo và truất phế ông vua vong bản Bảo Ðại. Năm 1956 ông Diệm Trưng Cầu dân ý lên làm Tổng thống rồi từ từ xung đột với các đảng phái, nhân sĩ Quốc gia. Những người Quốc gia trước đây ủng hộ ông nay quay lại chống ông. Chính phủ cũng chống đối đàn áp những người đối lập ra mặt.
Sau ngày đảo chính 1-11-1963, miền Nam lại lâm vào tình trạng chia rẽ trầm trọng gấp bội lần hơn trước. Các Tôn giáo, Tướng lãnh tranh giành quyền hành biến miền Nam thành một đất nước vô chính phủ. Phật Giáo, Công giáo chia rẽ đả kích nhau trên báo chí, rồi lại có phe chủ trương chia rẽ Bắc Nam để hòng thủ lợi. Năm 1966 chính quyền quân nhân đã tạm ổn định được tình hình lại bị phong trào Phật Giáo miền Trung chống đối dữ dội, phong trào đã gây tình trạng sáo trộn nhiễu nhương khiến cho nhân tâm sao xuyến, kẻ thù thừa cơ len lỏi phá hoại cơ cấu Quốc gia.
Cho đến gần giờ thứ hai mươi lăm, cuối 1974 và đầu 1975, những cuộc biểu tình chống chính phủ của Linh mục Trần Hữu Thanh, đảng phái, chính khách… khiến cho các binh sĩ ngoài tiền tuyến mất tinh thần chán nản và ảnh hưởng tai hại đến sự sống còn của đất nước.


CÁC BẢN NHẠC ÐÃ XUẤT HIỆN Ở VIỆT NAM VỚI TƯ CÁCH LÀ QUỐC THIỀU VÀ QUỐC CA

Nguyễn Ngọc Huy


1. Quốc ca xuất hiện đầu tiên: bản Ðăng Ðàn Cung của Hoàng Ðế Bảo Ðại
Ở Việt Nam trước đây, cũng như ở các nước quân chủ cổ thời khác, có những bản nhạc và bài hát được dùng trong các lễ long trọng để đánh dấu sự hiện diện của nhà vua. Về ý niệm quốc thều hay quốc ca, nó chỉ xuất hiện ở nước ta khi dân tộc ta bị lọt vào ách thực dân Pháp.
Tuy nhiên, trong gần suốt thời kỳ Pháp thuộc, dân Việt Nam vẫn chưa có quốc thiều và quốc ca. Nam Kỳ lúc ấy là thuộc địa Pháp và khi có các cuộc lễ lớn thì bản nhạc được dùng là bài Marseillaise của người Pháp. Ở Huế thì triều đình nhà Nguyễn có một số bản nhạc được dùng khi có sự hiện diện của nhà vua. Nhưng các bản nhạc trên đây không phải là quốc thiều hay quốc ca theo đúng nghĩa kim thời của nó.
Ðến thời Thế Chiến II, Hoàng Ðế Bảo Ðại mới ấn định quốc thiều và quốc ca một lượt với quốc kỳ. Bản quốc thiều và quốc ca này là bản Ðăng Ðàn Cung. Ðó là một bản nhạc cổ điển của Việt Nam và được triều đình Huế dùng khi nhà vua ngự đến đài Nam Giao để đại diện cho tất cả thần dân làm lễ tế trời. Lễ này ba năm cử hành một lần và được xem là cuộc lễ quan trọng hơn hết của triều đình. Do đó, bản Ðăng Ðàn Cung được xem là bản nhạc trang nghiêm nhứt. Vì vậy, Hoàng Ðế Bảo Ðại đã dùng nó làm quốc thiều và quốc ca trong khi cờ long tinh được chọn làm quốc kỳ. Cũng như cờ long tinh, bản Ðăng Ðàn Cung chỉ được dùng trên lãnh thổ Ðại Nam tức là Trung Kỳ và Bắc Kỳ, còn ở Nam Kỳ bị xem là lãnh thổ Pháp thì bản Marseillaise vẫn phải được dùng.
2. Quốc ca thứ nhì: bản Việt Nam Minh Châu Trời Ðông thời chánh phủ Trần Trọng Kim
Sau khi Nhựt đảo chánh Pháp và Việt Nam tuyên bố độc lập, chánh phủ Trần Trọng Kim đã ban bố một chương trình hưng quốc ngày 8 tháng 5 năm 1945, trong đó bản Việt Nam Minh Châu Troi Ðông của nhạc sĩ Hùng Lân được chọn làm quốc ca. Lời ca của bản nhạc này như sau:
Việt Nam, minh châu trời Ðông!
Việt Nam, nước thiêng Tiên Rồng!
Non sông như gấm hoa uy linh một phương,
Xây vinh quang ngất cao bên Thái Bình Dương.
Từ ngàn xưa tài danh lừng lẫy khắp nơi.
Tiếng anh hùng tạc ghi núi sông muôn đời.
Máu ai còn vương cỏ hoa
Giục đem tấm thân xẻ với sơn hà.
Giơ tay cương quyết,
Ta ôn lời thề ước.
Hy sinh tâm huyết,
Ta báo đền ơn nước.
Dầu thân này nát tan tành gói da ngựa cũng cam,
Thề trọn niềm trung thành với sơn hà nước Nam.
Bản quốc ca này được dùng chung với cờ quẻ Ly ở Bắc và Trung Việt, nhưng không được dùng ở Nam Việt vì Nam Việt đã bị người Nhựt thay người Pháp điều khiển một cách trực tiếp và chỉ được trả cho triều đình Huế lúc Hoàng Ðế Bảo Ðại đã sắp thoái vị rồi. Vậy, trong thời kỳ từ khi người Nhựt đảo chánh Pháp cho đến khi Mặt Trận Việt Minh củng cố được chánh quyền của nó ở Nam Việt, cả lãnh thổ này không có quốc ca. Bài hát được người quốc gia ở Nam Việt dùng khi đứng lên tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam thời đó là bài Thanh Niên Hành Khúc hay Tiếng Gọi Thanh Niên của Thanh Niên Tiền Phong, chung với cờ vàng sao đỏ cũng của tổ chức này. Như chúng tôi sẽ trình bày sau đây, bản nhạc của bài Thanh Niên Hành Khúc hay Tiếng Gọi Thanh Niên này chính là bản nhạc của bài quốc ca mà chúng ta đang dùng.
3. Quốc ca thứ ba: bản Tiến Quân Ca của tập đoàn CSVN
Khi cướp được chánh quyền, tập đoàn CSVN đã dùng làm quốc ca bản Tiến Quân Ca của nhạc sĩ Văn Cao. Bản nhạc này đã được họ bắt đầu dùng khi tổ chức các đơn vị võ trang đầu tiên và cho đến nay, vẫn được họ dùng làm quốc ca.
4. Quốc ca của Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc
Khi Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc thành lập năm 1946, những người cầm đầu phong trào Nam Kỳ Tự Trị đã dùng làm quốc ca một bản phổ nhạc của mấy câu thơ đầu trong Chinh Phụ Ngâm Khúc mà tác giả là Giáo Sư Võ Văn Lúa, một giáo sư trung học thời Pháp thuộc. Sau đó, Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc lại dùng một bản nhạc khác cũng của vị giáo sư này làm quốc ca, nhưng về nhạc và lời, bản sau này cũng chẳng hơn gì bản trước. Các bản quốc ca quái đản trên đây thật xứng với lá cờ sốt rét dùng làm quốc kỳ cho Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc. Nó đã là một đề tài chế giễu của ngưoi dân Nam Việt lúc đó và ngày nay nhắc lại nó, chúng tôi không biết nên cười hay nên khóc vì tuy hết sức lố bịch, nó đã được dùng làm biểu tượng cho một tổ chức chống lại nền thống nhứt của Việt Nam và đã gây nhiều đau khổ chết chóc cho những người tranh đấu cho nền thống nhứt này.
5. Quốc ca của chúng ta ngày nay
Bản quốc ca của chúng ta hiện nay có một lịch sử đặc biệt. Người sáng tác bản nhạc là Lưu Hữu Phước, một cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký và cựu sinh viên Viện Ðại Học Hà Nội. Nếu tôi không lầm thì bản nhạc này đã được soạn ra lúc Lưu Hữu Phước còn học ở trường Pétrus Ký. Năm 1942, anh ta là sinh viên của Viện Ðại Học Hà Nội. Thời Thế Chiến II, Viện Ðại Học này là Viện Ðại Học duy nhứt của các nước Ðông Dương. Nó có khoảng 800 sinh viên trong đó phân nửa là người Việt Nam, còn lại là người Khmer, người Lào, người Pháp và ngay cả người một số nước láng giềng như Trung Quốc và các nước Ðông Nam Á Châu.
Vì là Viện Ðại Học duy nhứt của Ðông Dương nên Viện Ðại Học Hà Nội đã họp tập tất cả sinh viên Việt Nam thời đó. Các sinh viên ái quốc gia nhập các chánh đảng cách mạng tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam đã tổ chức những tổ bí mật tại đó. Ðặc biệt Ðại Việt Quốc Dân Ðảng có đảng trưởng Trương Tử Anh và một cán bộ nồng cốt là Anh Nguyễn Tôn Hoàn học tại Viện Ðại Học Hà Nội thời Thế Chiến II. Anh Nguyễn Tôn Hoàn là người giỏi về nhạc nên được bầu làm Trưởng Ban Âm Nhạc của Tổng Hội Sinh Viên Ðông Dương (Association Générale des Étudiants Indochinois) và anh đã lãnh nhiệm vụ bí mật hướng dẫn các sinh viên hoạt động về văn hóa theo chiều hướng tranh đấu chống thực dân.
Chiều ngày 15 tháng 3 năm 1942, Tổng Hội Sinh Viên Ðông Dương (THSVÐD) đã tổ chức tại Ðại Giảng Ðường của Viện Ðại Học Hà Nội một buổi hát để lấy tiền giúp các bịnh nhơn nghèo của các bịnh viện được dùng làm nơi thực tập cho các sinh viên Khoa Y Dược. Các sinh viên Việt Nam đóng vai tuồng chủ động trong Tổng Hội đã quyết định nhơn cơ hội này tung ra một bản nhạc đặc biệt là Sinh Viên Hành Khúc, tên Pháp là Marche des Étudiants. Anh Nguyễn Tôn Hoàn được ủy nhiệm chọn bản nhạc dùng vào công việc đó. Lúc ấy, Lưu Hữu Phước đã đưa cho anh một số bài nhạc do anh ta soạn. Anh Nguyễn Tôn Hoàn nhận thấy rằng trong tất cả các dự thảo của Lưu Hữu Phước, bản nhạc mà chúng ta hiện dùng làm quốc thiều có tánh cách khích động tinh thần tranh đau hơn hết nên đã chọn nó làm nhạc cho Sinh Viên Hành Khúc. Sau đó, một ủy ban soạn lời ca cho bản nhạc này đã được thành lập với Ðặng Ngọc Tốt, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Phan Thanh Hòa, Hoàng Xuân Nhị. Lời ca này gồm ba đoạn với một điệp khúc chung:
I. Này sinh viên ơi! Ðứng lên đáp lời sông núi!
Ðồng lòng cùng đi, đi, mở đường khai lối.
Vì non sông nước xưa, truyền muôn năm chớ quên,
Nào anh em Bắc Nam! Cùng nhau ta kết đoàn!
Hồn thanh xuân như gương trong sáng,
Ðừng tiếc máu nóng, tài xin ráng!
Thời khó, thế khó, khó làm yếu ta,
Dầu muôn chông gai vững lòng chi sá.
Ðường mới kíp phóng mắt nhìn xa bốn phương,
Tung cánh hồn thiếu niên ai đó can trường.
(Ðiệp khúc)
Sinh viên ơi! Ta quyết đi đến cùng!
Sinh viên ơi! Ta thề đem hết lòng!
Tiến lên đồng tiến! Vẻ vang đời sống!
Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng!
II. Này sinh viên ơi! Dấu xưa vết còn chưa xoá!
Hùng cường trời Nam, ghi trên bảng vàng bia đá!
Lùa quân Chiêm nát tan, thành công Nam tiến luôn,
Bình bao phen Tống Nguyên, từng ca câu khải hoàn.
Hồ Tây tranh phong oai son phấn,
Lừng tiếng Sát Thát Trần Quốc Tuấn.
Mài kiếm cứu nước nhớ người núi Lam,
Trừ Thanh, Quang Trung giết hằng bao đám.
Nòi giống có khí phách từ xưa chớ quên,
Mong đến ngày vẻ vang, ta thắp hương nguyền.
(Trở lại điệp khúc)
III. Này sinh viên ơi! Muốn đi đến ngày tươi sáng,
Hành trình còn xa, chúng ta phải cùng nhau gắng!
Ngày xưa ai biết đem tài cao cho núi sông,
Ngày nay ta cũng đem lòng son cho giống dòng.
Là sinh viên vun cây văn hoá,
Từ trước sẵn có nhiều hoa lá.
Ðời mới kiến thiết đáp lòng những ai
Hằng mong ta ra vững cầm tay lái.
Bền chí quyết cố gắng làm cho khắp nơi
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời!
(Trở lại điệp khúc)
Các lời ca tiếng Việt như trên đây được dùng cho sinh viên Việt Nam và có mục đích thúc đẩy người Việt Nam tranh đấu cho đất nước Việt Nam. Nhưng vì như trên đã nói, Viện Ðại Học Hà Nội lúc ấy còn có nhiều sinh viên không phải Việt Nam nên ngoài lời ca tiếng Việt, lại còn có lời ca tiếng Pháp để mọi sinh viên của Viện đều có thể dùng nó được. Lời ca tiếng Pháp này dĩ nhiên là không thể nói riêng về Việt Nam mà phải nói đến cả Ðông Dương để cho phù hợp với tên THSVÐD. Lời ca tiếng Pháp cũng do ủy ban nói trên đây soạn ra:
Étudiants! Du sol l'appel tenace
Pressant et fort, retentit dans l'espace.
Des côtes d'Annam aux ruines d'Angkor,
À travers les monts, du sud jusqu'au nord,
Une voix monte ravie:
Servir la chère Patrie!
Toujours sans reproche et sans peur
Pour rendre l'avenir meilleur.
La joie, la ferveur, la jeunesse
Sont pleines de fermes promesses.
(Ðiệp khúc)
Te servir, chère Indochine,
Avec coeur et discipline,
C'est notre but, c'est notre loi
Et rien n'ébranle notre foi!
Buổi hát chiều ngày 15 tháng 3 năm 1942 đã đưa đến những kết quả mỹ mãn và bản Sinh Viên Hành Khúc tên Pháp là Marche des Étudiants đã được chánh thức công nhận là bản nhạc của THSVÐD. Mùa hè năm đó, Tổng Hội này lại tổ chức một buổi lễ mãn khoá tại Nhà Hát Lớn Hà Nội. Lần này, có Toàn Quyền Ðông Dương và nhiều viên chức cao cap Pháp khác đến dự. Bản Sinh Viên Hành Khúc được dàn nhạc của Hải Quân Pháp trình tấu. Âm điệu hùng hồn của nó đã làm mọi ngưoi khích động và khi nó được trổi lên, tất cả mọi ngưoi tham dự lễ mãn khoá năm 1942 của Viện Ðại Học Hà Nội, kể cả các viên chức cao cấp Pháp, đều đã nghiêm chỉnh đứng dậy để chào nó. Sau đó, nó được phổ biến khắp nơi. Các sinh viên Pháp, Khmer và Lào dĩ nhiên là theo lời ca Pháp. Về phía Việt Nam thì các sinh viên chỉ lo đi học chớ không có nhiệt tâm tranh đấu chánh trị cũng chỉ biết có lời ca Pháp. Phần các sinh viên Việt Nam có nhiệt tâm tranh đấu cho nền độc lập của dân tộc thì đem ra phổ biến ở khắp cả ba kỳ trong kỳ nghỉ hè năm đó với lời ca tiếng Việt, nhứt là đoạn I nói trên đây. Vì thế, từ năm 1943, bài Sinh Viên Hành Khúc đã được người Việt Nam ở cả ba kỳ biết.
Năm 1945, sau khi Nhựt đảo chánh Pháp, Thanh Niên Tiền Phong được thành lập ở Nam Việt và lấy bản nhạc trên đây làm đoàn ca. Tên bản nhạc được đặt lại là Thanh Niên Hành Khúc hay Tiếng Gọi Thanh Niên. Về lời thì hai chữ sinh viên được thay bằng hai chữ thanh niên. Lúc người Pháp trở lại chiếm Nam Việt cuối năm 1945, Thanh Niên Tiền Phong đã huy động người ái quốc Việt Nam ở Nam Việt đứng lên chống lại họ dưới lá cờ vàng sao đỏ và bản Thanh Niên Hành Khúc hay Tiếng Gọi Thanh Niên.
Năm 1948, trong phiên họp lịch sử ở Hongkong giữa Cựu Hoàng Bảo Ðại và một số thân hào nhơn sĩ cùng đại diện các đoàn thể chánh trị và tôn giáo ở Việt Nam, Anh Nguyễn Tôn Hoàn đã đề nghị lấy bản nhạc của Thanh Niên Hành Khúc làm quốc thiều cho Quốc Gia Việt Nam. Hội nghị đã đồng ý và tên bản nhạc được đặt lại là Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân. Về lời ca, đoạn I của bài Thanh Niên Hành Khúc nói trên đây đã được dùng, với hai chữ công dân thay cho hai chữ thanh niên.
Ngày 2 tháng 6 năm 1948, chánh phủ lâm thời Việt Nam được thành lập với Tướng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ Tướng và Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân được chánh thức dùng làm quốc ca. Lúc Ông Ngô Ðình Diệm lật đổ Quốc Trưởng Bảo Ðại để thành lập chế độ cộng hoà, Quốc Hội Lập Hiến được bầu năm 1956 đã có đặt vấn đề chọn một bài quốc ca khác. Tuy nhiên, lúc đó, phần lớn các bản nhạc được đề nghị dùng làm quốc ca đều không đủ tiêu chuẩn để được chấp nhận. Bài duy nhứt được xem là xứng đáng làm quốc ca chính là bài Việt Nam Minh Châu Trời Ðông của nhạc sĩ Hùng Lân đã được chánh phủ Trần Trọng Kim chọn làm quốc ca năm 1945. Tuy nhiên, hai Ông Ngô Ðình Diệm và Ngô Ðình Nhu cuối cùng đã không chấp nhận việc dùng bản Việt Nam Minh Châu Trời Ðông làm quốc ca vì một lý do đặc biệt.
Năm 1945, hai Ðảng Việt Nam Quốc Dân Ðảng (VNQDÐ) và Ðại Việt Quốc Dân Ðảng (ÐVQDÐ) đã sáp nhập lại làm một với tên chung là Quốc Dân Ðảng và Ðảng này đã lấy bài Việt Nam Minh Châu Trời Ðông làm đảng ca. Sau đó, VNQDÐ và ÐVQDÐ lại tách nhau ra, nhưng cả hai đều giữ đảng ca Việt Nam Minh Châu Trời Ðông. Vì biết được việc này nên hai anh em Ông Diệm đã không chấp nhận bản nhạc này làm quốc ca.
Rốt cuộc, Quốc Hội Lập Hiến năm 1956 đã quyết định giữ lại bản Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân làm quốc ca, nhưng đổi lời lại như sau:
Này công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng.
Ðồng lòng cùng đi, hy sinh tiếc gì thân sống!
Vì tương lai quốc dân, cùng xông pha khói tên,
Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền.
Dầu cho thây phơi trên gươm giáo,
Thù nước lấy máu đào đem báo.
Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy,
Ngưoi công dân luôn vững bền tâm trí,
Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi
Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời!
(Ðiệp khúc)
Công dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ!
Công dân ơi! Mau làm cho cõi bờ
Thoát cơn tàn phá, vẻ vang đời sống
Xứng danh ngàn năm dòng giống Lạc Hồng.
Bản nhạc và lời ca này đã được dùng suốt thời Ðệ Nhứt và Ðệ Nhị Cộng Hòa cho đến ngày nay.
C. VẤN ÐỀ THAY ÐỔI QUỐC CA
Nói tóm lại, trừ các bản nhạc vô duyên đã được Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc dùng làm quốc ca, nhưng thật sự không thể xem là quốc ca được, dân tộc Việt Nam có cả thảy bốn bản nhạc xứng đáng với danh nghĩa quốc ca là Ðăng Ðàn Cung, Việt Nam Minh Châu Trời Ðông, Tiến Quân Ca và Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân. Bốn bản quốc ca này đã được dùng song song với bốn lá quốc kỳ: bản Ðăng Ðàn Cung với cờ long tinh, bản Việt Nam Minh Châu Trời Ðông với cờ quẻ Ly, bản Tiến Quân Ca với cờ đỏ sao vàng và bản Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân với cờ vàng ba sọc đỏ.
1. So sánh các bản quốc ca với nhau
Bản Ðăng Ðàn Cung là bản nhạc cổ điển Việt Nam thuộc loại nhã nhạc. Loại nhạc này có tánh cách nghiêm trang và ôn hòa, trái với dâm nhạc là loại nhạc biểu lộ tình cảm một cách nồng nhiệt và chỉ được dùng trong việc giải trí hay hội họp vui chơi. Bản Ðăng Ðàn Cung là một bài nhã nhạc dùng trong lễ tế Nam Giao của nhà vua. Do đó, nó có tánh cách trang trọng, nhưng không hùng hồn và không khích động được tinh thần người nghe. Bản Việt Nam Minh Châu Trời Ðông là một bản tân nhạc có tánh cách khích động hơn bản Ðăng Ðàn Cung, nhưng cái hùng của nó là loại trầm hùng nên không khích động tinh thần người nghe bằng bản Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân. Vì là một hành khúc, bản quốc ca hiện nay của chúng ta khích động tinh thần người nghe một cách mạnh mẽ hơn. Mặt khác nữa, hoàn cảnh lịch sử đã làm cho nó đóng một vai tuồng tích cực trong cuộc tranh đấu cho nền độc lập và tự do của dân tộc Việt Nam. Thời Thế Chiến II, với tên là Sinh Viên Hành Khúc, nó đã được dùng để đánh thức tinh thần tranh đấu của nhơn dân Việt Nam. Ðến lúc người Pháp đem binh đến để tái chiếm Nam Việt, dưới tên Thanh Niên Hành Khúc hay Tiếng Gọi Thanh Niên, nó đã được dùng để thúc đẩy các chiến sĩ cầm tầm vong vạt nhọn đứng lên tranh đấu với Quân Ðội Viễn Chinh Pháp. Khi nước Pháp chánh thức nhìn nhận nền độc lập và thống nhứt của Việt Nam, nó đã thành bản quốc ca với tên là Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân.
Bản Tiến Quân Ca của CSVN cũng có tánh cách khích động tinh thần người nghe như bản quốc ca của chúng ta. Nhưng về lời ca thì từ hình thức Sinh Viên Hành Khúc qua Thanh Niên Hành Khúc đến Quốc Dân Hành Khúc, bản quốc ca của chúng ta nhiều lắm là nói đến "thù nước lay máu đào đem báo", còn Tiến Quân Ca với lời "thề phanh thây uống máu quân thù" rõ là sắt máu quá và có thể làm cho thế giới xem dân tộc Việt Nam là dã man. Về mặt chánh trị, bản Thanh Niên Hành Khúc đã được dùng để thúc đẩy các thanh niên ái quốc Nam Việt cầm tầm vông vạt nhọn chống lại Quân Ðội Viễn Chinh Pháp trong khi bản Tiến Quân Ca đã được trổi lên để chào đón Quân Ðội này lúc họ đổ bộ ra Bắc Việt theo sự thoả thuận với Hồ Chí Minh trong Sơ Ước ngày 6 tháng 3 năm 1946. Sau đó, nó đã được dùng khi bộ đội Việt Minh cùng với bộ đội Pháp hợp tác nhau trong Ban Liên Kiểm Việt-Pháp để tiến đánh các chiến khu của Ðại Việt Quốc Dân Ðảng, Việt Nam Quốc Dân Ðảng và Việt Nam Cách Mạng Ðồng Minh Hội.
2. Lý luận của những người muốn đổi quốc ca
Những người muốn đổi quốc ca đã đưa ra nhiều lý luận khác nhau. Trong các lý luận được đưa ra, chỉ có một cái đáng cho chúng ta lưu ý. Lý luận này đặt nền tảng trên chỗ tác giả bản nhạc được chúng ta dùng làm quốc ca là Lưu Hữu Phước, hiện là một cán bộ cộng sản, và Lưu Hữu Phước đã lên tiếng sỉ vả người quốc gia Việt Nam là vô liêm sỉ khi lấy bản nhạc của anh ta và đặt lại lời ca để dùng. Một số người quốc gia Việt Nam đã tỏ ra khó chịu về việc này và những người muốn thay đổi quốc ca đã dựa vào đó để kêu gọi mọi người bỏ bản quốc ca hiện tại.
a. Nhận định về cá nhơn Lưu Hữu Phước
Vì lý luận trên đây dựa vào cá nhơn Lưu Hữu Phước nên chúng ta cần phải biết về cá nhơn này trước khi phán đoán. Thời Thế Chiến II, Lưu Hữu Phước là một sinh viên có tinh thần quốc gia và cũng như nhiều sinh viên khác của Viện Ðại Học Hà Nội, chỉ có chủ trương giành độc lập cho Việt Nam mà không gia nhập đoàn thể chánh trị nào. Lúc CSVN chưa cướp được chánh quyền, Lưu Hữu Phước đã hoạt động với Anh Nguyễn Tôn Hoàn là một cán bộ của Ðại Việt Quốc Dân Ðảng tại Viện Ðại Học Hà Nội.
Lúc CSVN cướp được chánh quyền, Lưu Hữu Phước và một số sinh viên khác gia nhập Ðảng Tân Dân Chủ, một chánh đảng hợp tác với CSVN trong Mặt Trận Việt Minh, nhưng lúc đầu phân biệt với Ðảng CSVN và nhiều khi cạnh tranh lại đảng này. Tuy nhiên, bằng cách vừa mua chuộc, vừa lấn ép, CSVN đã lôi phần lớn các đảng viên Tân Dân Chủ vào Ðảng CS và chỉ còn dùng tên Ðảng Tân Dân Chủ làm một nhãn hiệu để làm cho người ta lầm tưởng rằng chế độ họ xây dựng lên không phải là chế độ độc đảng.
Lưu Hữu Phước thuộc thành phần đảng viên Tân Dân Chủ bị lôi kéo vào Ðảng CS. Anh ta không đủ khí phách để chống lại việc đó và bị loại ra khỏi trường chánh trị như Ðặng Ngọc Tốt, cũng không đủ tinh thần sắt máu để được CSVN tin dùng như Huỳnh Tấn Phát, Huỳnh Văn Tiểng, Trần Bửu Kiếm. Mặt khác, anh ta không có một khả năng đặc biệt về chánh trị mà CSVN có thể khai thác được như Mai Văn Bộ. Trước sau, Lưu Hữu Phước chỉ là một nhạc sĩ. Do đó, CSVN đã dùng anh ta như một văn công, sản xuất nhạc theo lịnh Ðảng và lên tiếng về các vấn đề khác những khi Ðảng thấy cần. Nói tóm lại, Lưu Hữu Phước đã sáng tác bản nhạc của Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân lúc còn là một sinh viên có tinh thần quốc gia. Ngày nay, anh ta là một văn công của CSVN và mọi lời phát biểu của anh ta chỉ là do Ðảng CSVN mớm cho.
b. Quan niệm chung của người các nơi trên thế giới về quốc ca
Nhưng dầu cho lúc sáng tác bản nhạc của Quốc Dân Hành Khúc, Lưu Hữu Phươc đã là một đảng viên cộng sản rồi và việc chỉ trích chúng ta dùng bản nhạc đó là do ý anh ta, chúng ta cũng không phải bận tâm về vấn đề này, vì theo quan niệm chung của người các nơi trên thế giới về quốc ca thì khi một bản nhạc đã được quốc dân nhận làm quốc ca, nó không còn của riêng ai nữa mà là của toàn dân. Do đó, cá nhơn người sáng tác bản nhạc cũng như người chọn bản nhạc làm quốc ca không thành một vấn đề đem ra thảo luận. Chúng ta có một tiền lệ đáng lưu ý về việc này.
Ðó là trường hợp bản Marseillaise được dùng làm quốc ca Pháp. Bản quốc ca này được một nhà quí tộc Pháp là Rouget de Lisle sáng tác năm 1792. Lúc ấy, Vua Louis thứ XVI còn trị vì và Rouget de Lisle là một sĩ quan trong Quân Ðội Pháp. Năm 1793, Vua Louis thứ XVI bị xử tử và Rouget de Lisle bị bắt vì là người quí tộc theo phe bảo hoàng chống lại Cách Mạng. Lúc ấy, Ông Lazare Carnot, Ủy Viên Quốc Phòng của Hội Ðồng Cách Mạng vì muốn cứu một sĩ quan cùng binh chủng với mình, lại là tác giả bản Marseillaise, đã đề nghị Rouget de Lisle tuyên thệ trung thành với Cách Mạng thì sẽ được tha, nhưng Rouget de Lisle từ chối vì không chịu phủ nhận lý tưởng bảo hoàng của mình. Cuối cùng, ông ta chỉ thoát chết vì chánh phủ cách mạng chủ trương Ðại Khủng Bố do Robespierre cầm đầu đã bị lật đổ trước khi bản án tử hình của ông ta được đem ra thi hành. Nhưng mặc dầu sau năm 1793, Rouget de Lisle đã trở thành người chống lại Cách Mạng, chánh quyền cách mạng Pháp vẫn tiếp tục dùng bản Marseillaise do ông sáng tác và năm 1795 đã chánh thức quyết định lấy nó làm quốc ca.
c. Trường hợp bản Tiến Quân Ca được tập đoàn CSVN dùng làm quốc ca
Bản Tiến Quân Ca được tập đoàn CSVN dùng làm quốc ca vốn do nhạc sĩ Văn Cao sáng tác trong thời kỳ CSVN chưa cướp được chánh quyền ở Việt Nam. Không rõ lúc ông sáng tác bản nhạc này, Văn Cao đã là một đảng viên cộng sản hay chưa. Nhưng chắc chắn là về sau, ông đã vào Ðảng CSVN. Tuy nhiên, cũng như nhiều văn nghệ sĩ có nhiệt tâm yêu nước thời đó, Văn Cao đã lần lần nhận chân được bộ mặt thật của Cộng Sản. Ðiều đáng quí là ông đã can đảm hơn nhiều người khác như Lưu Hữu Phước chẳng hạn, và đã dám nói lên sự bất mãn và chống đối của mình. Ông đã tham dự phong trào Nhân Văn Giai Phẩm hồi năm 1956 và đã dứt khoát chống lại Ðảng CSVN. Trong con mắt của CSVN hiện nay, Văn Cao là một phần tử phản Ðảng, phản động, phản cách mạng.
Với chủ trương độc tài sắt máu và lòng tự hào là Ðảng mình lúc nào cũng hành động hợp với chánh nghĩa, CSVN rất xấu hổ về chỗ bản quốc ca họ dùng là sáng tác của một nhạc sĩ phản Ðảng, phản động và phản cách mạng. Bởi đó, họ không chịu theo quan niệm thông thường bắt đầu với lịch sử bản Marseillaise của Pháp, nghĩa là bất chấp lập trường chánh trị về sau của tác giả bản quốc ca. Họ đã treo một giải thưởng lớn cho người sáng tác được một bản nhạc đáng làm quốc ca mới. Nhưng trong nhiều trăm bản nhạc gởi đến dự thi, họ đã không chọn được bản nào ra hồn. Cuối cùng, họ phải hậm hực giữ bản Tiến Quân Ca làm quốc ca.
Người quốc gia Việt Nam chúng ta theo quan niệm thông thường trên thế giới về quốc ca nên không có gì phải hậm hực vì tác giả bản quốc ca chúng ta đang dùng hiện đã trở thành một văn công của CSVN. Và nếu có người nào đem việc Lưu Hữu Phước sỉ vả chúng ta về chỗ đã lấy bản nhạc do anh ta sáng tác làm quốc ca, chúng ta có thể bảo họ nên dùng các lời sỉ vả đó đặt trong miệng Văn Cao để gởi cho tập đoàn CSVN.
3. Nhiệm vụ của người quốc gia Việt Nam đối với bản quốc ca Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân
Người quốc gia Việt Nam may mắn có một bản quốc ca hùng hồn được dùng để thúc đẩy người ái quốc tranh đấu cho nền độc lập và sự tự do của dân tộc. Bản quốc ca này rất xứng đáng với lá quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ. Với giá trị nội tại của chính nó, thêm vào vai tuồng lịch sử mà nó đã đóng, nó lúc nào cũng gây sự xúc động mạnh mẽ trong tâm trí người Việt Nam ái quốc. Từ khi được chánh thức dùng làm quốc ca của nước Việt Nam độc lập, nó đã được nhiều quốc gia trên thế giới biết đến. Tại Việt Nam, nó đã cùng với quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ làm yếu tố hội tập nhiều triệu chiến sĩ quân nhơn như dân sự tranh đấu cho sự tự do của dân tộc Việt Nam. Nó đã là bản nhạc tiễn đưa ra nghĩa trang nhiều trăm ngàn người đã chết vì Tổ Quốc Việt Nam. Như vậy, nó cũng là một bảo vật thiêng liêng của chúng ta y như quốc kỳ.

Hiện nay, bản Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân không còn được chánh thức dùng bên trong nước Việt Nam, nhưng như mọi người Việt Nam ở quốc nội đều biết rằng đó là bản nhạc của người quốc gia chống lại Cộng Sản. Bên ngoài Việt Nam, nó cũng được người ngoại quốc xem là bản nhạc biểu tượng cho người quốc gia chống cộng. Không bản nhạc nào khác có thể thay thế Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân về mặt này. Vậy, việc tôn trọng bản quốc ca đó và tiếp tục dùng nó chung với quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ một cách rộng rãi ở mọi nơi là một công cuộc đóng góp vào việc giải phóng Việt Nam khỏi ách Cộng Sản. Nếu mọi người Việt Nam ở hải ngoại đều đồng tâm nhứt trí để tranh đấu chung nhau thì một ngày không xa lắm, bản Quốc Dân Hành Khúc hay Tiếng Gọi Công Dân sẽ được hát lên ở khắp các nẻo đường đất nước Việt Nam từ mũi Cà Mau đến ải Nam Quan. Chúng tôi nghĩ rằng lúc ấy, chắc chắn không có bài khải hoàn ca nào hay hơn nó được .
Những canh bạc để đời của đệ nhất phu nhân Tổng thống Thiệu

 (Phunutoday) - Vấn nạn tham nhũng, buôn lậu, cậy quyền thế, gia đình trị dưới triều đại Nguyễn Văn Thiệu dù đã lùi xa trong ký ức hơn 35 năm về trước, nhưng tính thời sự của nó vẫn còn nóng hổi. Người phụ nữ nổi tiếng hiền từ, “mẫu nghi thiên hạ” Nguyễn Thị Mai Anh chưa một lần đi buôn lậu, nhưng tất cả sự việc liên quan đến tiền bạc, kinh doanh, dựa quyền thế, mua quan bán tước đều phải qua cửa ải trần đường của đệ nhất phu nhân.
Đằng sau dáng vẻ ôn hòa, hiền lành bẩm sinh ấy là những vụ áp phe buôn lậu, những vây cánh được chính bà bảo bọc, che chắn để thực hiện những canh bạc tiền tỷ. Lúc đó ở Sài Gòn ai cũng biết rằng, chính vợ chồng Thiệu đã bảo kê cho buôn lậu, tham nhũng, điều đó làm cho con đường dẫn đến suy vong của ông ta càng nhanh hơn. Vụ án buôn lậu "còi hụ Long An" và gian kế "bắt dê tế thần" của vợ chồng Thiệu Những ai sống và chứng kiến những nhiễu nhương của đất Sài Gòn sau ngày Thiệu đăng cơ lần 2 vào năm 1971, đều biết vụ án buôn lậu táo bạo nhất chưa từng có trong lịch sử, đã khiến một số sĩ quan, hạ sĩ quan bị bắt bớ, tước hết binh quyền, lưu đày ra Côn Đảo và một số sĩ quan cao cấp cũng bị liên lụy kẻ mất lon, người bị đày oan ức ra vùng lửa chiến. Sau khi báo chí truyền thông đăng tải sự việc, đã gây nên làn sóng phẫn nộ rất dữ dội trong sĩ quan và binh lính Việt Nam Cộng hòa, vì kẻ chủ mưu cầm đầu vụ buôn lậu vẫn giấu mặt, tránh thân an toàn khi bắt vài con dê cỏn con ra tế thần hòng làm dịu dư luận. Nhưng với Nguyễn Văn Thiệu và phu nhân Nguyễn Thị Mai Anh, vợ chồng Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và “Cô tư quần lãnh đen” vợ Đại tướng Cao VănViên thì bắt đầu lo lắng đêm ngày, nơm nớp lo sợ một cuộc đảo chánh, bạo loạn từ phía các quân nhân bất đồng, giận dữ. Sài Gòn một ngày đẹp trời. Khoảng 4 giờ chiều hôm đó, bỗng có hai người đàn ông mặc đồ dân sự đến gặp đại úy Nhiều, rủ đi Mỹ Tho ăn nhậu chơi bời. Về sau, được biết hai người đàn ông là: cựu thượng sĩ quân cảnh giải ngũ Quách Văn Hảo và cựu trung sĩ Công đào ngũ là đàn em của Nhiều trong trường Quân Cảnh. Đại úy Nhiều đã nhận lời đích thân lái xe đưa Hảo và Công đi Mỹ Tho. Đến ngã ba Trung Lương, nơi đây hai bên đường có nhiều hàng quán, buôn bán rất sầm uất, những quán ăn nhậu thịt quay thơm ngon bốc khói xông vào mũi. Nhiều ghé vào nhậu, Hảo với Công bận công việc riêng. Lúc bấy giờ hàng lậu gồm những thứ xa xí phẩm, mà chủ yếu toàn là thuốc lá thơm thượng hạng, và các loại rượu ngon như Cognac, Whisky danh tiếng thế giới cất giấu trong một lò gạch cũ hoang phế, nằm giữa đoạn ngã ba Trung Lương vào trại Đồng Tâm, đã chất sẵn trên hai chiếc GMC của quân vận quân khu 3, sẵn sàng đợi lịnh di chuyển vào đô thành Sài Gòn. Khi Đại úy Nhiều đã ngấm hơi men, chếnh choáng là lúc Hảo và Công quay trở lại quán nhậu bên đường ở ngã ba Trung Lương tỉnh bơ như không có việc gì xảy ra. Lúc xe đã ra ngoài quốc lộ quay về đô thành, Nhiều chợt nhận thấy phía sau có 2 chiếc GMC mở đèn pha chạy nối đuôi sau lưng nên hơi hốt hoảng định né nhường đường. Hảo ngồi bên cạnh liền chặn ngang: “Không sợ gì cả ! Về Sài Gòn cả mà…”. Đoàn xe buôn lậu qua đồn quân cảnh Long An, nằm ngay ga xe lửa cũ, xe hụ còi inh ỏi chạy tiếp qua cầu Tân An (cầu xe lửa cũ) mà không dừng lại trình sự vụ lệnh. Quân cảnh thổi còi nhiều hồi liên tiếp nhưng xe vẫn cứ chạy. Nhận tin cấp báo, đại tá Lê Văn Năm – tỉnh trưởng Long An liền ra lịnh bằng vô tuyến cho chi khu Gò Đen (cách Tân An 20km về hướng Sài Gòn) chận bắt xe Zeep có còi hụ. Được lịnh, chi khu Gò Đen liền sai binh sĩ mang rào chắn ra lộ. Xe của Nhiều tới nơi thấy chặn nhưng vẫn không ngừng, còn lái xe lách lên bờ cỏ, vượt qua rào cản. Qua khỏi khu vực cản trở, Nhiều quay lại, gặp thiếu tá tiểu đoàn trưởng địa phương quân Gò Đen giở thói hù: “Tôi, đại úy Nhiều thuộc Biệt Khu Thủ Đô có công tác đặc biệt. Hai xe GMC sau là của tôi đó!”. Nói xong, Nhiều lại tỏ ra chảnh chanh, cho dừng lại chờ 2 GMC đến sau để bảo lãnh. Lúc này Hảo và Công đánh hơi được sự nguy hiểm trước mắt, nên đã âm thầm nhảy ra khỏi xe chuồn êm hồi nào không biết. Binh sĩ địa phương quân đóng bên bờ ruộng gần đó thấy chuyện lùm xùm, động tánh hiếu kỳ xúm vào xem. Họ bu vào mở những tấm bạt che 2 xe GMC ra coi, thì thấy chất đầy nhóc các loại hàng lậu xa xí phẩm, mà chủ yếu toàn là thuốc lá thơm thượng hạng, và các loại rượu ngon như Cognac, Whisky danh tiếng thế giới. Vốn đã nghèo đói sẵn, đồng lương không đủ nuôi thân, lại thêm người nào cũng có tật thích ăn nhậu và hút xách, nên họ như một bầy sói dữ đói ăn lâu ngày, hè nhau, xúm vào “bề hội đồng” chôm chỉa thả cửa vì không có ai ngăn cản. Khi ông tỉnh trưởng Lê Văn Năm nghe báo cáo đến hiện trường thì số hành hóa trên 2 xe GMC đã bị hôi của hơn phân nửa. Nổi xung thiên, đại tá Năm ra lệnh bắt tống ngục tên đại úy Nhiều ngay và báo cáo lên Biệt khu Thủ đô và Phủ Tổng thống. Sáng hôm sau báo chí đã loan tin ầm ĩ và dư luận trong bộ Tổng Tham Mưu đã ồn lên về vụ buôn lậu có xe quân cảnh hụ còi mở đường, khiến bàng dân thiên hạ xôn xao bàn tán. Tình thế bắt buộc Tổng thống Thiệu không thể lặng im, đành phải ra lệnh cho thành lập ngay một ủy ban điều ra cấp chính phủ trung ương, gồm bộ quốc phòng, tổng thanh tra, quân cảnh và an ninh quân đội, do ông Tôn Thất Chước, Đổng lý Bộ Quốc Phòng làm chủ tịch ủy ban bắt tay vào việc điều tra. Phần Trần Thiện Khiêm, khi được báo cáo, không có ý kiến gì. Nhưng Nguyễn Văn Thiệu ra lịnh tống giam các đương sự đã can dự vào vụ buôn lậu từ chỉ huy các chốt chặn đến người tham gia trực tiếp, trừ đại tá tỉnh trưởng Long An Lê Văn Năm, và chỉ thị áp tải đoàn quân xa chở đồ lậu đó về một kho hàng của người Tàu trong Chợ Lớn, nói rằng đó là kho vật dụng của Hội Cô Nhi Quả Phụ Tử Sĩ. Đây là Hội do bà Thiệu, bà Khiêm và bà đại tướng Cao Văn Viên, "Chị Tư Quần Lãnh Đen" đứng đầu. Ai cũng biết, đơn vị bốc hàng lậu từ tàu đậu ở ngoài khơi đem vào đất liền là Giang đoàn đóng ở Mỹ Tho cũng là quê hương bà Thiệu, bà Tám Hảo (Hảo Heo) em bà và Đặng Văn Quang – phụ trách Đặc ủy trung ương tình báo là bạn và cậu vợ Thiệu. Địa điểm đổ đồ lậu là Chợ Gạo, Mỹ Tho, thuộc vùng 4 chiến thuật. Nhưng đoàn quân xa chuyên chở hàng lậu lại thuộc Quân Vận quân khu 3, và Quân Cảnh mở đường cho đoàn quân xa chở hàng lậu cũng thuộc quân khu 3. Mục tiêu xuống hàng lậu, và đem ra bán ngoài thị trường thuộc Biệt Khu Thủ Đô, lãnh thổ của Quân Khu 3. Kết quả tòa xét xử, ba sĩ quan trong đó có đại úy Nhiều lãnh án cao nhất, tước hết binh quyền, lưu đày ra Côn Đảo. Số còn lại lãnh án, hạ bậc tụt lon, đày ra chiến trận. Những con tốt đã được thí trên bàn cờ mà người chơi bị thất nước là gia đình bên vợ Nguyễn Văn Thiệu. Đầu cơ phân bón, gạo cứu tế miền Trung để thu bạc tỷ Sau những vụ việc như buôn lậu, bí mật sắm vợ bé của Thiệu xảy ra, dư luận trong hàng ngủ sĩ quan to nhỏ xầm xì, bất mãn…Lại vào lúc, ai cũng biết, ngoài dinh Độc Lập, vợ chồng Thiệu còn có căn nhà vật vã trong Bộ Tổng Tham mưu, và biệt thự rất rộng nằm trên đường Công Lý (Nam Kỳ khởi nghĩa ngày nay), trị giá đến 98 triệu đồng, một con số khổng lồ vào đầu thập niên 70. Nhưng toàn bộ việc đứng tên mua bán bất động sản đều do Nguyễn Xuân Nguyên – chồng bà Tám Hảo là Chủ tịch “công ty phân bón Hải Long” ký chi phiếu trả cho ông Tây chủ đồn điền Đất Đỏ. Cho mãi đến lúc làm giấy tờ trước bạ, đăng ký sang tên tân sở hữu chủ, lúc đó cái tên Nguyễn Thị Mai Anh - đệ nhất phu nhân mới lòi ra trên giấy tờ. Vấn đề nóng bỏng đặt ra: Thiệu mới lên ngôi tổng thống vỏn vẹn có 3 năm, lấy đâu ra tiền để tậu mấy ngôi biệt thự tính sơ bộ cũng trên trăm triệu rồi? Một số dân biểu và nghị sĩ đối lập lên tiếng yêu cầu thành lập ủy ban điều tra đặc biệt, có cả thông tin cho rằng có đường dây buôn lậu hàng hóa và ma túy. Từ ngày Thiệu lên “ngai vàng” đến ngày bỏ trốn khỏi Sài Gòn, người dân miền Trung nghèo đói vô cùng thê thảm, có nhiều người phải ăn khoai độn, củ mì, củ năng, khoai chuối để sống qua ngày. Đây cũng là thời gian chiến sự xảy ra ác liệtt khắp nơi. Nguyên nhân chính của nạn đói kém này là do vợ chồng Thiệu che chở cho bọn đầu cơ phân bón, ép giá lên cao gấp ba bốn lần bình thường. Rất dễ hình dung việc này, khi giá phân bón cao, giá lúa cũng lên cao dẫn đến hậu quả giá gạo tăng cao lên. Giống lúa Thần Nông 3 tháng lúc bấy giờ là giống mới nhất, ngắn ngày, cho năng suất cao nhưng đòi hỏi lượng phân bón, thuốc xịt rầy chi phí cũng cao. Lập tức gian thương (chủ yếu là thân nhân vợ chồng Thiệu và các quý bà như vợ Thủ tướng Khiêm, Chị Tư quần lãnh đen vợ đại tướng Cao Văn Viên) lợi dụng thời cơ, mua tích trữ lúa gạo, phân bón bán ra, mua vào gây nên tình trạng thiếu đói thê thảm cho dân nghèo. Theo thống kê của chính quyền lúc bấy giờ, dân số miền Trung khoảng trên 6 triệu người. Nhu cầu tiêu thụ gạo hàng tháng ước tính trên 80.000 tấn. Lập tức một chương trình tiếp tế béo bở 40.000 tấn gạo mỗi tháng cho miền Trung được các quân sư quạt mo của vợ chồng Thiệu bày vẽ ra rất hoành tráng. Người được Tổng thống Thiệu cho phép đứng ra bao thầu việc cung cấp gạo hằng tháng ấy là bà Ngô Thị Huyết, cô ruột của Thiệu, mẹ của tổng trưởng Thông Tin và Dân Vận Hoàng Đức Nhã, Đại tá Hoàng Đức Ninh, thân tộc của Ngô Khắc Tĩnh, tổng trưởng Giáo Dục ( nguyên Tổng ty Thông Tin Chiêu Hồi) và Ngô Xuân Tích (Chủ tịch Giám Sát Viện)...Người đứng thầu chuyên chở gạo ra miền Trung là Phạm Sanh (đồng bọn của bà Sáu Huyết) Chủ tịch Nam Việt ngân hàng, trụ sở chính tại đại lộ Hàm Nghi. Nhưng gạo miền Nam gửi ra Trung tiếp tế phải cộng thêm tiền chuyên chở và các sai biệt linh tinh khác, khiến cho giá thành trở nên quá đắt. Dân nghèo và gia đình binh sĩ không đủ khả năng vói tới, nên vẫn chịu chết đói như thường. Để hạ bớt giá gạo tiếp tế cho miền Trung xuống ngang với giá gạo ở Sài Gòn, Chính phủ phải đài thọ khoản trợ cấp sai biệt tính trên mỗi tấn gạo và tùy theo từng vùng. Thí dụ gạo tiếp tế cho các tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Tín, Quy Nhơn...mỗi tấn được trợ cấp khoảng 2.500 đồng. Các tỉnh Thừa Thiên, Huế, Đà Nẵng, được trợ cấp mỗi tấn 3.000 đồng. Các tỉnh Nha Trang, Tuy Hòa được trợ cấp mỗi tấn 2.000 đồng. Tổng cộng mỗi tháng tiền trợ cấp chuyên chở gạo tiếp tế của chính phủ cho miền Trung lên đến khoảng 90 triệu đồng ! Nhưng đó chỉ là những con số tính theo lý thuyết và ghi trên giấy tờ, còn trên thực tế, người dân miền Trung không được hưởng một đồng xu tiền trợ cấp nào. Số tiền đó đã chảy vào túi của bè lũ buôn gạo và hẳn nhiên là được chung chi cho gia đình Thiệu. Sau mấy tháng điều tra đầy quyết tâm, các thành viên của ủy ban đã xác định đầy đủ chứng cứ về thủ phạm đầu cơ phân bón và lúa gạo không ai khác là Nguyễn Xuân Nguyên, Chủ tịch công ty phân bón Hải Long, người đã ký chi phiếu 98 triệu đồng trả cho Tây đồn điền Đất Đỏ, để mua lại bất động sản cho bà Thiệu, nhưng đành phải ngậm ngùi bó tay. Để “cứu bồ”, vợ chồng Thiệu đã mời Ủy ban điều tra vào dinh Độc Lập, chiêu đãi một bữa ăn rất thịnh soạn, ôn hòa, vui vẻ đầy trách nhiệm, đồng thời yêu cầu ủy ban đem toàn bộ hồ sơ vụ “đầu cơ phân bón của công ty Hải Long” đệ trình lên Phủ Tổng thống. Một tay cầm ly rượu chạm cốc những “Bao Thanh Thiên” của Đệ nhị Cộng hòa, mắt liếc sơ qua tập hồ sơ dày cộm như vẻ rất quan tâm, Thiệu liền giữ lấy luôn, rồi quay sang các nghị sĩ trong Ủy ban điều tra đặc biệt vừa cười vừa nói giọng rất sắc : “Thôi , xin các ông đừng làm khó dễ ”công ty của chúng tôi” nữa!” Chỉ một câu nói úp mỡ “công ty của chúng tôi” đã khiến cho các thành viên trong Ủy ban đủ hiểu nên biết điều, chớ động vào. Ai cũng biết, Nguyễn Xuân Nghiêm là cột chèo của Tổng thống nên lặng thinh nuốt không trôi. Về sau, báo giới và các nghị sĩ chất vấn, Chủ tịch Ủy ban điều tra Trần Trung Dung - một tay chân thân tín của vợ chồng Thiệu ấm ớ cho rằng cần có thêm thời gian điều tra bổ sung và sau đó đã phải xóa toàn bộ những gì liên quan đến Cty Phân bón Hải Long bố cáo trước thiên hạ. Bà Thiệu mất 5 triệu Mỹ kim Đầu thập niên 70, dư luận Sài Gòn bắt đầu xầm xì bàn tán về những hoạt động gian tham, phi pháp trong bóng tối hậu trường chính trị của bà Thiệu mà lâu nay mọi người lầm tưởng là “mẫu nghi thiên hạ”. Có người phát hiện đệ nhất phu nhân thường xuyên bay qua Génève –Thụy Sĩ tá túc cả tháng trời trong ngôi biệt thự bên bờ hồ Léman, mà Thiệu đã đem chức Tổng trưởng Tài chính cho Hà Xuân Trừng để đổi lấy. Có một nghị sĩ dạng đối lập vợ chồng Thiệu tình cờ qua Thụy Sĩ kể lại chuyện gặp bà Thiệu thình lình bị ngất xỉu phải đưa vào bịnh viện ở Geneve cấp cứu vì bị mất 5 triệu Mỹ kim trong tài khoản. Chánh phủ lúc bấy giờ có qui định, mỗi lần muốn chuyển ngân khoản nào từ 10.000 Mỹ kim trở đi đều phải thực hiện nhiều thủ tục rất phức tạp và phải trải qua nhiều chặng kiểm soát rất gắt gao của các giới chức Việt-Mỹ.
Thông thường muốn chuyển ngân lậu ra ngoại quốc, để gửi vào các ngân hàng, mỗi lần công du xuất ngoại, các phu nhân của Thiệu, Khiêm, Kỳ, Viên đều sử dụng giấy thông hành cấp ngoại ngoại giao, đi qua cổng VIP trót lọt không ai khám xét, đặc biệt là “người nhà” quan chức cơ quan Đặc ủy trung ương tình báo thì càng an toàn hơn. Mà người phụ trách cơ quan này không ai khác hơn là Đặng Văn Quang, cậu vợ vừa là bạn thân của Thiệu.
Nhiều người còn nhớ, vào tháng 4/1947, con gái của Cao Ủy Pháp ở Đông Dương Émile Bollaert, tên Jacqueline, đã đem một va li chứa 600.000 đồng bằng ngoại hối (devises étrangères) ra phi trường Tân Sơn Nhứt để đi Hồng Kông trao cho Bảo Đại, khi qua cửa Hải quan bất ngờ bị quan thuế người Pháp khám xét đổ bể, khiến báo chí đăng rùm trời. Như vậy, việc mắt nhắm, mắt mở để người nhà Nguyễn Văn Thiệu mang Mỹ kim “đen” do trấn lột, buôn lậu phi pháp mà có ra nước ngoài nhập vào nhà băng ngoại quốc để cất giữ, rồi việc bà Thiệu ngất xỉu khi hay tin tài khoảng bị kẻ cắp xơi mất 5 triệu Mỹ kim, có lẽ thủ phạm không ai ngoài CIA Mỹ.
Tuy bị một vố đau như trời giáng nhưng vợ chồng Thiệu phải ngậm bồ hoàn làm ngọt vì sợ vụ việc đỗ bể ra “xấu thiếp, hổ chàng”. Tin bà Thiệu mất 5 triệu Mỹ kim gây chấn động dư luận khắp miền Nam một thời. Một câu hỏi đặt ra: Tiền ấy từ đâu Sài Gòn, phải truy tìm dấu vết những phi vụ canh bạc tỷ của bà. Mặt khác, con trai Nguyễn Văn Thiệu là Nguyễn Quang Lộc lấy con gái ông Nguyễn Tấn Trung, một ông trùm ngành hàng không quốc gia lúc bấy giờ được mệnh danh là “Lã Bất Vi”, việc chuyển ngân lậu là việc không mấy khó khăn. Đổi biệt thự bên hồ Léman Thụy Sĩ, lấy chức tổng trưởng tài chính Trong thời gian quân Mỹ rục rịch rút quân, vợ chồng Nguyễn Văn Thiệu đã tậu cho cậu quí tử này một biệt thự đồ sộ trị giá đến trên 40 triệu bạc thời bấy giờ. Còn ông bà Thiệu thì tậu đất bên hồ Xuân Hương- Đà Lạt và ở Khánh Hải quê hương cho người chị thứ năm đứng tên và các dinh thự nghỉ mát, du hí tại Nha Trang, Đại Lãnh, Vũng Tàu, Mỹ Tho…
Lại nói về chuyện Hà Xuân Trừng, một sinh viên còn ở tuổi chíp hôi, chưa đến 30 tuổi, chưa từng làm việc gì ngoài việc đi học. Trừng quê ở Phú Cam – Huế theo đạo Công giáo là em cột chèo của Nguyễn Cao Thăng –một ông trùm thuốc Tây ở Miền Nam thời bấy giờ từng bị Thiệu “bóp cổ” tức tưởi lấy 20 triệu đồng ủng hộ quỹ tranh cử. Và cũng nhờ đó mà Thăng trở thành chân rết cho phu nhân Mai Anh và các phu nhân khác thao túng đường dây buôn bán lậu thuốc Tây trên thị trường bấy giờ. Được đám quân sư quạt mo hiến kết, hót nghe hay về căn biệt thự của Hà Xuân Trừng rất đẹp bên hồ Léman, thủ đô Thụy Sĩ, vợ chồng Thiệu nghe bùi tai, nên bảo Nguyễn Cao Thăng gọi Trừng về gặp tại Dinh Độc Lập để bàn bạc, thương lượng. Tính Thiệu rất thô mộc, liền nói thẳng: “Chính phủ đang cần một cơ sở bên Thụy Sĩ để tiện lợi việc qua lại ngoại giao, đàm phán. Nên đề nghị anh nhượng lại căn biệt thự trên cho Chính phủ. Bù lại tôi sẽ mời anh về nước đảm nhiệm chức vụ Tổng trưởng Tài Chính trong Chính phủ”. Lúc này, hội nghị bốn bên đang vào giai đoạn cuối tại Paris, nên Trừng cảm thấy vinh dự đóng góp cho quốc gia và có cơ hội thăng tiến, mặc dù chưa bao giờ biết làm quan bao giờ. Cuộc thương lượng chóng vánh, thành công mỹ mãn, ngôi biệt thự bên hồ Léman tại Gèneve, Thụy Sĩ có giá 300.000 Mỹ kim được chuyển tên cho tân sở hữu là Nguyễn Thị Mai Anh - đương kim đệ nhất phu nhân.

Vụ việc này là cái gai trong mắt Thượng Viện, nên Thiệu bị yêu cầu điều trần. Hôm đó Thiệu đã không chịu ra điều trần, mà cử Nguyễn Cao Thăng đại diện. Các Thượng Nghị sĩ xoay quanh mấy vấn đề về tiền, làm cách nào chuyển tiền mua biệt thự giá 300 ngàn Mỹ Kim qua mặt các cơ quan bảo vệ luật pháp tuyệt đối cấm theo luật hối đoái và quan thuế. Nhưng kết cục vẫn là con số không, mọi việc lại rơi vào im lặng. Một vài tờ báo lên tiếng ám chỉ xa gần lập tức bị Hoàng Đức Nhã – Tổng trưởng Dân Vận- Thông tin bịt miệng câm như hến. Xây bệnh viện Vì dân để tiêu thụ thuốc men, trục lợi bệnh nhân hốt bạc tỷ Noi theo gương của bà cố vấn Trần Lệ Xuân, phu nhân Nguyễn Văn Thiệu đứng ra lập “Hội Phụ Nữ phụng sự xã hội” mang tên rất kêu, đầy tính nhân đạo và thiện nguyện. Nhiều đấng mệnh phụ phu nhân, vợ các tướng tá khác cũng ầm ầm lập hội này, sở đoàn nọ nhân danh khác bảo vệ cô nhi quả phụ tử sĩ, giúp đỡ người nghèo, trại tế bần, nhà thương thí, xây chùa…v.v.Thực chất đây chỉ là việc “lấy vải thưa che mắt thánh”, để rửa tiền bẩn, lừa bịp kẻ nhẹ dạ, moi tiền thiên hạ, châm đầy túi tư. Bà Mai Anh cùng con trai và con dâu Lợi dụng danh nghĩa hội thiện nguyện, bất vụ lợi, bà Thiệu đã được phép chiếm công vi tư một khoảng công thổ rộng mênh mông, tọa lạc ngay góc ngã tư Bảy Hiền, vận động các tài phiệt, tỷ phú gom tiền xây bệnh viện Vì Dân (nay là Bệnh viện Thống Nhất) tại một vị trí rất đẹp và thuận lợi, sát nách thủ đô Sài Gòn. Nấp bóng từ thiện vì dân nghèo, “dành 100 giường bệnh” miễn phí là những trò nhằm hướng dư luận trong dân và báo giới ca tụng việc làm nhân đạo của đệ nhất phu nhân Nguyễn Thị Mai Anh. Đây là bệnh viện tư của bà Thiệu như cách nói của dân Sài Gòn ngày trước. Rất ít người biết được, các y bác sĩ là người do Bộ Y tế , Cục Quân y đưa vào làm việc, ngoài việc chữa trị cho thường dân còn lại chủ yếu phục vụ cho quân nhân và thân nhân lính Cộng hòa, quan chức đô thành. Do đó, bà Thiệu không phải trả một đồng xu nào. Nguồn thuốc men, thiết bị y tế lấy từ ngân khố Chính phủ danh cho quân đội. Thực chất đây là sân sau tiêu thụ các loại thuốc Tây nhập khẩu, sản xuất, bào chế trong nước của vợ chồng Thiệu kết hợp với ông trùm thuốc Tây, dược phẩm miền Nam là Nguyễn Cao Thăng. Lâu la dưới trướng “đệ nhất phu nhân” đã nhân danh bệnh viện Vì Dân đi vơ vét các hãng thuốc Tây, dược phẩm, cơ sở sản xuất, nhập khẩu thiết bị y tế để phục vụ cho việc làm thiện nguyện, nhân đạo của bà Thiệu. Trong suốt những năm từ 1967 đến 1975, bệnh viện Vì Dân của bà Thiệu mang về số lợi nhuận kết xù cho bà, trái ngược với ý nghĩa, tôn chỉ mà họ rêu rao. Gần như rất hiếm hoi người nghèo, nếu không quen thân, mà chỉ dòng họ các quan bà mới được trị bệnh theo tiêu chuẩn “100 giường bệnh miễn phí”. Nhiều người lắc đầu: đó là bịnh viện Vì Tiền! Ngay cả lời tuyên bố mị dân của Nguyễn Văn Thiệu: diệt gian thương, đầu cơ, tích trữ, cấm buôn lậu ma túy và chủ trương “Bốn không”, người dân phải hiểu ngầm ngay đó là “bốn có” hễ cái có là không, cấm là làm được. Bài 4 : Nàng Cyrnos Kim Anh- vợ bé của Nguyễn Văn Thiệu Nam Yên TIN LIÊN QUAN Nguyễn Thị Mai Anh và thế giới tâm linh của vợ chồng TT Thiệu
Dưới Tầng Địa Ngục
Hồ Đắc Huân
Vận nước chuyển đổi, sau ngày 30-4-1975 cuộc chiến tranh giữa Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Cộng sản Bắc Việt (CSBV) kết thúc! Thay vì hòa hợp, hòa giải dân tộc để cùng nhau xây dựng một nước Việt Nam phú cường thì ngược lại nhà cầm quyền Hà Nội say men chiến thắng, tạo dựng lên hằng trăm nhà tù lớn, nhỏ với mỹ từ cải tạo để giam giữ: Quân, Dân, Cán, Chính. đảng phái, Tôn giáo, giới trí thức, văn nghệ sĩ... của VNCH còn ở lại trong nước vì nhiều lý do khác nhau.
          Qua thông cáo của Ủy Ban Quân Quản Saigòn và các địa phương họ đã ra lệnh tập trung thành phần trên trong thời hạn một tháng để học tập chính sách của đảng CS. Bản chất CS đã lộ nguyên hình khi họ ấn định thời gian ngắn hạn là Một Tháng để đánh lừa sự thành tâm của các viên chức và sĩ quan của miền Nam VN muốn thi hành đúng đắn mọi yêu cầu của kẻ chiến thắng để rồi an phận trở về với công việc canh tác, sản xuất...
của người công dân trong thời hậu chiến. Nhưng tiếc thay, họ đã tráo trở lợi dụng cơ hội nầy để giam giữ những người chiến bại một cách dài hạn không bản án và được mệnh danh Trại tập trung cải tạo . Thời gian bị tù đã kéo dài ít nhất là 3 năm, còn lại đa số chịu đựng khổ nhục trong vòng 7, 10, 18 hay 20 năm.
          Trong số tù nhân có hơn 30 tướng lãnh và trên 400 đại tá. Căn bản chính yếu để giam tù được căn cứ theo lý lịch của tù nhân để trả hận thù bằng nhiều hình thức như bắn bỏ, tra tấn, nằm nhà cùm, giam vào ngục tối để chịu đói lạnh, lao động khổ sai, bệnh nặng không thuốc men làm cho nhiều người phải vùi thây dưới tầng địa ngục.
          Trong vòng ba mươi năm nữa, những quân nhân thuộc vào thế hệ trẻ nhất của cả hai bên đã tham gia vào cuộc chiến 1945-1975 sẽ lần lượt qua đời. Thế hệ kế tiếp muốn tìm hiểu lịch sử của thời cha ông sẽ phải tìm đọc những tài liệu, sách báo, phim ảnh có tính cách lịch sử do những người trong cuộc lưu lại.
          Là tù nhân qua hai trại Kỳ Sơn và Tiên Lãnh, tôi xin ghi lại những chuyện đau thương nhất mà chính tôi đã từng chứng kiến. Các chuyện được hình thành không nhằm mục đích gây thêm lòng hận thù và chia rẽ mà chỉ nêu lên những kinh nghiệm đau thương
trong lịch sử cận đại để cho các thế hệ tiếp nối học được những kinh nghiệm quý báu hầu tránh được những lỗi lầm tai hại của những người đi trước vì thiếu đạo đức cũng như kiến thức trong việc lãnh đạo toàn dân mà chỉ dựa trên lòng đố kỵ và mưu đồ trả thù khiến cho tương lai của dân tộc Việt mỗi ngày một tuột xuống hàng thấp nhứt của lịch sử nhân loại.
          Cưỡng chiếm các thành phố miền Nam xong, Ủy ban Quân Quản kêu gọi những viên chức, sĩ quan của chế độ cũ mang theo tiền ăn 1 tháng để học tập. Nhưng tại Đà Nẵng vào sáng ngày 5-4-1975 Ủy Ban Quân Quản thông báo: Đúng 8 giờ sáng hôm nay, tất cả sĩ quan chế độ cũ tập trung đầy đủ, không chậm trễ tại số 2, Đống Đa để nghe nói chuyện tình hình đất nước . Tập đoàn CS đã dùng nơi nầy như cái nôm để tóm gọn các sĩ quan. Đến tối họ chuyển tất cả những người đã đến trình diện về Vĩnh Điện, Hội An để giam giữ. Tại Quảng Nam Đà Nẵng CS đã thiết lập ngay những trại tù mang tên của những địa danh: Hội An, Vĩnh Điện, Hiếu Đức, Hòa Cầm, Phú Túc, Thượng Đức, An Điềm, Kỳ Sơn, Tiên Lãnh... là nơi ngục tù của các sĩ quan và viên chức VNCH. Không đưa tù quan trọng ra Bắc:
          Cuối năm 1975, Trung Ương ra lệnh chuyển ra Bắc tất cả các sĩ quan chế độ cũ trước đây giữ chức vụ quan trọng đang bị giam giữ tại Kỳ Sơn, Tiên Lãnh và An Điềm. Viên Tỉnh Ủy Quảng Nam Đà Nẵng liền trình xin Trung Ương giữ tại chỗ các cải tạo viên qua các lý do sau đây:
          - Quân đội Mỹ đã chọn Đà Nẵng để đổ bộ đầu tiên 2 Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến vào ngày 8-3-1965.
          - Quảng Nam Đà Nẵng đi đầu trong công tác diệt Mỹ cứu nước.
          - Bộ đội, Công An Quảng Nam Đà Nẵng có đủ khả năng, kinh nghiệm để quản lý cải tạo tốt, làm ra nhiều của cải vật chất để nuôi tù, cung cấp cho Tỉnh và đóng góp về Trung Ương. Trung Ương đã chấp thuận đề nghị trên.

Trại tù cải tạo Kỳ Sơn:

         Kỳ Sơn là tên của một xã thuộc huyện Tam Kỳ gần mỏ vàng Bông Miêu chừng 3 cây số, có đường trải nhựa và sông Bông Miêu chảy qua, rừng già âm u, thời tiết rất lạnh, có nhiều thung lũng để canh tác. Kỳ Sơn có 4 trại tù: trại 1, 2, 3 và 4 giam giữ toàn sĩ quan từ cấp Chuẩn Úy đến cấp Đại Tá, phần đông phục vụ tại Quân Đoàn I. Các trại trên trực thuộc Tổng Trại 2 do Bộ đội quản lý. Trung tá VC Ngô Câu làm Tổng trại trưởng. Đến ngày 28-9-1978, Tổng trại chuyển giao tù còn lại cho Công an quản lý tại hai trại Tiên Lãnh và An Điềm. Sau đây là những chuyện đau buồn nhất đã xảy ra tại địa ngục

Kỳ Sơn:

          Trung Tá Lê Đình Ái, Đại Úy Nguyễn Văn Lộc vượt thoát khỏi trại tù KỲ Sơn.
          - Trung Tá Lê Đình Ái, sinh ngày 12-3-1943 tại Huế, khóa 13 Ấp Chiến Lược, Sĩ quan Trừ bi. Thủ Đức, Quận Trưởng Quận Tiên Phước.
          - Đại Úy Nguyễn Văn Lộc, số quân 58.600.570, sinh tháng 10-1938 tại Định Tường, Trường Không Quân VN, Phi công Quan sát Sư Đoàn 1 Không Quân. Hai anh Ái và Lộc bị tù trại 1 Kỳ Sơn. Tuy khác Tổ trong lao động thường gặp nhau trò chuyện, cả hai đồng tâm muốn trốn trại nên bàn kế hoạch vượt thoát. Móc nối được người thân cung
cấp cho giấy tờ. Đúng 9 giờ sáng ngày 20-11-1975 hai người trốn khỏi nơi lao động gặp nhau tại điểm hẹn rồi tức tốc di chuyển nhanh bằng xe Honda chờ sẵn ra khỏi khu vực, băng theo đường rừng vượt thoát về hướng Nam. Hay tin tù trốn, Tổng Trại 2 bủa vây lục kiếm suốt 2 tuần không tìm được. Cuộc vượt thoát hết sức gian nan. Hai anh biết rất rõ địa thế rừng núi của 2 tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngãi vì thường hành quân trước đây. Bài học mưu sinh thoát hiểm lúc học sĩ quan được áp dụng để sống còn. Qua 27 ngày len lỏi trong rừng già khi ra đồng trống hết sức mừng vui nhìn thấy xe chạy ở Quốc Lộ 1 nên bàn nhau ra lộ đón xe đò đi tiếp. Tắm rửa, cạo râu, thay quần áo dân sự xong điền tên vào giấy tờ, nghĩ lấy lại sức rồi đến cầu Bà Di, Đập Đá Bình Định đón xe. Khi xe ngừng xui ơi là xui! Lại gặp ngay đoàn xe chở công an từ Bắc vào công tác trong Nam. Lỡ rồi, hai anh vẫn lên xe tự nhiên. Phụ xe cho ngồi ghế xếp phía sau. Qua cặp mắt nghi ngờ của tên công an ngồi cạnh. Đến trạm kiểm soát Cam Ranh tên công an ngồi cạnh báo nhân viên kiểm soát để xét giấy tờ. Kiểm soát giấy thấy không nghi ngờ nên tiếp tục cho đi. Hú hồn! Hai anh vui mừng không xiết kể. Về đến Sài gòn, anh Lộc tìm đường vượt biển. Thật tội nghiệp về sau nghe tin anh Lộc đã mất tích trên biển cả. Còn anh Ái gia nhập Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng VN. Đến ngày 27-12-1977 lại bị bắt, tiếp tục ăn cơm tù. Tháng 9-1986 được thả ra rồi tổ chức vượt biển thành công. Tháng 4-1990 cả gia đình định cư tại Hoa Kỳ. (Tuy cuộc vượt thoát của anh Ái thành công song những đau thương
tan vỡ gia đình rồi tù tội từ ngày về lại Saigòn qua câu chuyện dài chính anh Ái kể lại hết sức thương tâm cho một chiến hữu VNCH đã gãy súng theo vận nước).

          * Y Sĩ Thiếu Tá Phạm Văn Lương tự tử sau một năm trong tù! Thiếu Tá Phạm Văn Lương số quân 54.226-453, sinh vào tháng 11.1934 tại Quảng Trị, xuất thân khóa 4 Cương Quyết Thủ Đức, sau theo học ngành Quân Ỵ Nguyên Bác sĩ Trưởng khu Ngoại Thương, Tổng Y Viện Duy Tân Đà Nẵng. Trước 1975, qua hệ thống truyền thông và báo chí khá đông người Miền Nam biết đến Thiếu Tá Phạm Văn Lương qua các việc ông đã làm:
         - Mang lựu đạn đến tiền đình Hạ Viện yêu cầu Hạ Viện điều tra làm sáng tỏ việc bắn chết Y sĩ Đại Úy Hà Thúc Nhơn, người bạn cùng khóa Quân Y, phục vụ tại quân Y Viện Nguyễn Huệ Nha Trang đã can đảm đứng lên chống bọn tham nhũng giết một sĩ quan tố tham nhũng tại bãi biển Nha Trang.
         - Thực hiện thành công cuộc giải phẫu lấy đầu đạn M79 ghim trong người quân nhân Đinh Né.
         - Trách nhiệm tổ chức việc gom tử thi trên đại lô. Kinh Hoàng (mùa hè đỏ lửa 1972) đưa về mai táng, lập bia kỷ niệm tại Quảng Trị.
          - Xây dựng làng Đồng Thạnh tại Hội An, Quảng Nam định cư đồng bào phía Bắc Quân Khu 1 lánh nạn CS (ngân khoản do Bác sĩ Phan Quang Đán, Quốc Vụ Khanh, tài trợ).
          - Ngày 29-3-1975, Cộng Quân cưỡng chiếm Đà Nẵng, Bác sĩ Lương cùng một số bác sĩ khác ở lại nhiệm sơ? Tổng Y Viện Duy Tân cứu chữa đồng bào và thương binh. Cùng lúc Đài BBC Luân Đôn loan tin Bác sĩ Phạm Văn Lương đã được CS cử làm Thị Trưởng Đà Nẵng.
          - Ngày 5-4-75, Cộng quân tập trung các Bác sĩ đưa vào giam tại Hội An, trong số có Bác sĩ Lương, rồi di chuyển đến Tổng Trại 2 Kỳ Sơn, Quảng Tín. Các Bác sĩ đều bị đưa về Trạm xá Kỳ Sơn làm việc chuyên môn ngoại trừ Bác sĩ Vương Ngọc Lâm cho đi lao động bởi gia đình ông chống Cộng triệt để.
          - Ngày 25-8-75, có thêm Y sĩ Trung Tá Nguyễn Văn Cơ (gốc Y sĩ Dù) nguyên Chỉ Huy Trưởng Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương Huế từ trại giam Hiếu Đức chuyển lên Trạm xá. Qua một năm trong Trạm Xá Tổng Trại 2 tù Kỳ Sơn, Bác sĩ Lương cùng các bác sĩ khác tận tình cứu chữa các bệnh nhân gồm Bộ đội, tù binh và dân chúng trong vùng.
          - Chủ Nhật 28-3-1976 bà Đỗ Khánh Niệm lên thăm chồng, trong dịp nầy Bác sĩ Lương ngồi bên vợ, bà Lương sắp thức ăn mời chồng. Ông không thiết tha việc ăn uống mà chỉ than cùng vợ: Chắc anh khó về lắm em ơi!!! Có người tố cáo anh cùng Bác sĩ Phan Quang Đán là CIA... Hai vợ chồng đang bịn rịn dặn dò việc nuôi dạy các con, bỗng có tiếng la lớn của vệ binh: Hết giờ thăm nuôi, về lại Trạm xá . Bác sĩ Lương và vợ đứng dậy, nước mắt bà Lương trào ra, chân ông Lương không dỡ lên được, đàng sau lưng tên vệ binh mang súng AK hối thúc đi về, bà Lương lau nước mắt nhìn đồng hồ lúc ấy là 12 giờ trưa. Đó là giây phút biệt ly định mệnh của hai vợ chồng Bác sĩ Phạm Văn Lương. Khoảng cách giữa hai người mỗi lúc một xa thêm, rồi hình bóng Bác sĩ Lương khuất dần dưới ngọn đồi thăm nuôi trại Kỳ Sơn. Một tuần sau, vào ngày 3-4-1976, Bác sĩ Lương đã uống nhiều viên thuốc ngủ cùng 10 viên cloroquine làm người ông quay cuồng, lăn lộn. Bằng mọi cách các bác sĩ tại trạm xá cố gắng cứu chữa nhưng ông Lương báo là đã uống quá nhiều thuốc nên không thể cứu được. Sau khi thốt lên lời từ biệt mọi người, mắt ông từ từ nhắm lại.
          Tin Bác sĩ Lương tự tử được loan truyền nhanh chóng trong anh em tù, ngược lại Ban Chỉ Huy Trại cho biết Bác sĩ Lương chết vì trúng gió! Ít ngày sau, thân nhân thăm nuôi đưa tin về Đà Nẵng: Bác sĩ Lương đã tự tử chết. Nhận được hung tin, bà Lương lên Trạm xá khóc lóc đòi biết rõ nguyên nhân cái chết của chồng mình. Lúc đầu cán bô. Trạm xá cho biết không có chuyện Bác sĩ Lương chết nhưng bà tiếp tục than khóc và la ầm lên. Thiếu tá VC Đinh Văn Nhất là Trưởng Trại 1 liền tới cho bà biết: Bác sĩ Lương chết vì trúng gió. Viên y sĩ VC nói thêm là đã chôn cất Bác sĩ Lương cẩn thận. Số ván dự trù để đóng bàn mổ cho Bác sĩ Lương sử dụng lại được dùng vào việc đóng quan tài cho ông. Bà Lương xin chuyển xác chồng về Đà Nẵng nhưng Trại không chấp thuận.
         - 1984, mộ phần Bác sĩ Lương được dời về Hội An, an nghỉ trong nghĩa trang gia đình người bạn thân.
          - 1985 Bà Quả phu. Phạm Văn Lương cùng 7 người con (4 trai, 3 gái)
và các cháu được thân nhân bảo lãnh sang định cư tại Hoa Kỳ.

          * Trung Tá Võ Vàng bị bắn chết như thế nào? Trung Tá Võ Vàng, số quân 60.211.412, sinh tháng 10 năm 1940 tại Quảng Ngãi, khóa 17 Lê Lai, Trường Võ Bị Quốc Gia VN. Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 21.BĐQ. Quân Sự Vụ Trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia VN. Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 5, Sư Đoàn 2 Bộ Binh. Được chỉ thị của Ban Chỉ Huy trại 1 Kỳ Sơn, hai Vệ binh Đinh Văn Hương và Âu Thái Trương tức Bốn hướng dẫn toán tù binh thuộc nhà 9, khối 2 đi lao động tại khu Cò Bay, Bông Miêu. Sau khi cắt đặt lao động, hai vệ binh gọi đích danh anh Võ Vàng đi theo vệ binh Trương cắt đốt về làm chỗi. Độ chừng 15 phút, một loạt AK nổ dồn lúc ấy là 10 giờ sáng ngày 13 tháng 4 năm 1976. Anh em tù nghi là vệ binh Trương đã bắn anh Vàng vì ngày hôm trước có sự sắp đặt để cãi nhau giữa vệ binh nầy và anh Vàng tại khu thăm nuôi. Quả thật liền thấy tên Trương chạy ra hớt hải la lên: Tên Vàng đá, đạp tôi để giật súng, may phát hiện kịp nên bắn chết nó rồi. Thật ra đây là một hành động sắp xếp bắn anh Vàng để trả thù của CS. Trước đây Trung Tá Vàng đã chỉ huy Tiểu Đoàn 21 Biệt Động Quân tham chiến vào dịp Tết Mậu Thân 1968 tại Huế. Đến năm 1973, anh chỉ huy Trung Đoàn 5, Sư Đoàn 2, tái chiếm cửa khẩu Sa Huỳnh. Tại hai nơi nầy đều gây tổn thất nặng cho Cộng Quân thuộc Liên khu 5. Ít ngày sau bà Võ Vàng nhận được hung tin tức tốc đến trại Kỳ Sơn, tại đây Ban Chỉ Huy trại đã báo cho Bà biết là chồng bà đã đánh vệ binh, cướp súng nên bị bắn chết. Trại có trao cho bà 1 biên bản về sự việc xẩy ra trong đó có 5 chữ ký của đại diện trại và tù, cùng 1 biên bản kiểm kê tư trang. Sau khi Trung Tá Vàng bị bắn chết, bà quả phu. Võ Vàng nhũ danh Lê Thị Đường, giáo sư trung học tại Quảng Ngãi, bị nhà trường thông báo cho nghỉ dạy (trước 1975 bà Đường là Hiệu Trưởng Trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi). Để tránh hậu quả của việc xét lý lịch ba đời cho các con nên bà cùng 6 con (2 trai, 4 gái) đành liều chết vượt biển qua Hongkong. Cuối cùng gia đình cố Trung Tá Võ Vàng được may mắn định cư tại Hoa Kỳ vào tháng 8 năm 1984. Ngôi mộ anh Vàng được cải táng vào năm 1997. Âm mưu ám hại Trung Tá Võ Vàng đã được nhân chứng sống, Thiếu Tá Phạm Văn Hồng, số quân 61.203.947, sinh tháng 10 năm 1941 tại Nam Định (cựu SVSQ khóa 20 Nguyễn Công Trứ Trường Võ Bị Quốc Gia VN, bi. Trung Cộng bắt giữ tại Quảng Châu, sau cuộc hải chiến với VNCH ngày 20-1-1974 tại quần đảo Hoàng Sa) trình bày rất chi tiết trong chương trình Huynh Đệ Chi Binh của đài Truyền Hình SBTN do nhà văn Huy Phương phụ trách vào tháng 4 năm 2008.

* Trung Tá Nguyễn Văn Tố và Hải Quân Thiếu Tá Nguyễn Công Anh Kiệt thoát chết trong đêm tối
- Trung Tá Nguyễn Văn Tố, sinh tháng 5 năm 1930 tại Thừa Thiên. Số
quân 50.201.605, khóa 2 VBĐP Huế.
+ Tham Mưu Trưởng Tiểu khu Thừa Thiên.
+ Phó Thị Trưởng Thành phố Huế.
+ Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu khu Trưởng Phú Yên.
+ Trung Tâm Phó Trung Tâm Điều Hợp Bình Định Phát Triển Quân khu
1.
- Hải Quân Thiếu Tá Nguyễn Công Anh Kiệt sinh tháng 6-1940 tại
Saigon, số quân 60.701.173, khóa 13 Đệ Nhị Dương Cưu Trường HQNT.
+ Phân cuộc Trưởng Hải Cảng Sâu Tiên Sa Đà Nẵng (con rể ông
Nguyễn Văn Kiểu, nguyên Đại Sứ VNCH tại Đài Loan, bào huynh cố
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu).
Vào lúc 12 giờ 30 một đêm đầu tháng 7-1976 tại Trại 1 Kỳ Sơn, một Vệ Binh mang súng AK vào nhà 9 gọi anh Nguyễn Văn Tố và sang nhà 6 gọi anh Nguyễn Công Anh Kiệt đi nhanh ra ngoài rồi dẫn đến phía ngoài vọng gác cổng chính của trại. Nơi đây có sẵn vệ binh Trương tức (Bốn) tay cầm AK chờ sẵn. Anh Tố và Kiệt đoán chúng sắp đem mình đi bắn rồi vì trước đây vệ binh Bốn đã được chọn bắn Trung Tá Võ Vàng vào ngày 13 tháng 4 năm 1976 tại khu Cò Bay Bông Miêu. Sau khi Bốn nhận 2 anh Tố và Kiệt xong chỉ tới ngồi nơi tảng đá gần đó. Tại đây anh Tố nói nhỏ với anh Kiệt: Chắc chúng đưa mình ra bờ rào bắn rồi hô hoán là trốn trại. Sự tù tội chắc còn lâu dài lắm. Thôi chết sớm khỏe xác mình, vợ con bớt khổ trong việc lặn lội lên rừng sâu, núi thẳm thăm nuôi. Qua lời anh Tố, anh Kiệt thở dài!!! Thời gian lo lắng lần đến 2 giờ 30 sáng, thấy đèn pile lập lòe sáng rồi lần hồi một cán bộ từ Bộ Chỉ Huy xuống nói nhỏ gì với tên Bốn xong về lại. Lúc nầy hai anh Tố và Kiệt rất hồi hộp, chắc chúng sắp đem mình đi bắn rồi. Hai anh thầm cầu nguyện theo tôn giáo của mỗi người. Năm phút sau, tên Bốn gọi anh Tố và Kiệt đến rồi bảo hai anh về lại nhà ngủ để mai tiếp tục lao động. Suốt đêm nầy hai anh không sao ngủ được và cứ lo lắng mãi, kể từ sáng hôm sau hai anh Tố và Kiệt luôn được Quản giáo theo dõi sát cho đến khi chuyển qua Trại 4 rồi đến Trại Tiên Lãnh. Đến ngày 28 tháng 9 năm 1978, toàn bộ tù nhân Kỳ Sơn được chuyển đến Trại Tiên Lãnh. Ba ngày sau khi đến Tiên Lãnh, hai anh Tố và Kiệt liền vào nhà cùm cùng với một số sĩ quan khác chúng cho là nguy hiểm. Hai tháng sau khi đến Tiên Lãnh, một buổi chiều qua âm thanh rùng rợn của 2 tiếng kẻng, tất cả mọi tù nhân vào phòng đóng cửa sắt. Công An trang bị vũ khí rải canh giữ từng phòng một. Các cửa nhà cùm được mở ra, khoảng 100 tù nhân từ các phòng biệt giam được đưa ra ngoài trói lại bằng giây dù cột vào nhau với 5 người một do một Công An canh giữ rồi chuyển đến Trại Đồng Mộ, Nhà Trắng để giam tiếp, trong số tù trên có hai anh Tố và Kiệt bị giam cho đến 1983. Đến 1988, cả hai anh Tố và Kiệt mới nhận giấy ra trại sum họp gia đình. Ngày 24 tháng 6 năm 1992, anh Tố cùng vợ và 4 người con được các con cháu cùng đông thân hữu vui mừng chào đón tại phi trường Los Angeles theo diện H.Ọ 10. Anh Kiệt đã sang Hoa Kỳ và định cư tại Houston Texas. Chắc chắn hai anh Tố và Kiệt chỉ quên đêm tối ấy tại Trại 1 Kỳ Sơn khi nào được thuyên chuyển về Vùng 5 Chiến Thuật (thế giới bên kia, hy vọng bên ấy không có hận thù).
* Thiếu Tá Nguyễn Tâm Miên trốn trại thành công, thời gian sau bị bắt lại Thiếu Tá Nguyễn Tâm Miên sinh tháng 1 năm 1946 tại Thừa Thiên, Số quân 66.100.004, Thiếu Sinh Quân, khóa 20 Nguyễn Công Trứ. Võ Bị Quốc Gia VN. Khối Kế Hoạch, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 SVSQ Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị. Tiểu Đoàn Trưởng.Sư Đoàn 3 Bộ Binh. Vận nước đổi thay, Thiếu Tá Nguyễn Tâm Miên cũng như hằng trăm ngàn chiến hữu của mình không thoát khỏi ngục tù khổ sai CS. Chúng đưa anh vào Trại 1 Tổng Trại 2 Kỳ Sơn Quảng Nam Đà Nẵng. 5 tháng 9 năm 1976: Sau khi thả một số tù, Trại 1 giải tỏa, số tù còn lại nhập vào Trại 4. Chúng tôi khoảng 40 người đưa vào Nhà 9, Khối 4. Đa số cấp bậc Trung Tá, về Thiếu Tá có các anh Nguyễn Tâm Miên, Phạm Văn Hồng, Nguyễn Văn Lai và tôi. Đặc biệt ít ngày sau có Thiếu Úy Ông Văn Tụng nhập vào! Từ đó chúng tôi rất dè dặt qua các câu chuyện khi có viên Thiếu Úy nầy!
Những Chiến hữu xuất thân từ Thiếu Sinh Quân, Võ Bị Quốc Gia trong tinh thần giúp đỡ bao bọc khắng khít nhau với các bạn đồng khóa, đồng môn bất cứ hoàn cảnh nào nhất là trong lao tù CS. Một phần thời gian họ học ở trường lâu dài, hơn nữa với nội quy, chương trình học được sắp xếp rất ư khoa học để khi tốt nghiệp trở thành cán bộ có đạo đức, văn võ song toàn. Cùng xuất thân khóa 20 Đà Lạt nên hai Thiếu Tá Miên và Hồng chơi thân nhau, luôn chia sẻ ngọt bùi, lại có tâm ý trùng hợp là muốn trốn trại. Đến khi thực hiện trốn trại tiếc thay Thiếu Tá Hồng không cùng đi được lý do bịnh hoạn kéo dài. Sắp xếp xong với người thân qua chuyến thăm nuôi trước đó, người nhà đã đưa cho Miên 1 thẻ bầu cử chưa điền tên với đầy đủ chữ ký, con dấu cùng vài giấy tờ khác. Trước đó 1 ngày, chính Hồng là người đã điền tên vào chỗ trống lý lịch cho Miên sử dụng trong lúc đi đường. Là Nhà Trưởng nên việc cắt đặt lao động do chính Miên phụ trách. Một ngày đầu tháng 9-1977, sau khi phân công anh em đi lao động, Miên liền lấy cây rựa ra cổng trại báo cáo vệ binh đi đốn củi. Thật nhanh đến điểm hẹn có người chờ sẵn với xe Honda. Thay xong quần áo dân sự chạy nhanh vào hướng Saigon. Chiều lại, điểm danh thấy thiếu Miên. Trại báo động, tìm kiếm thâu đêm, lúc nầy Miên đã thoát ra khỏi khu vực trách nhiệm của Quân Khu 5 VC. Cuộc vượt thoát thành công, sống tại Saigon ít tháng, đáng tiếc! Vì lý do nào đó cán bô. Trại tìm được vào tận Saigon bắt Miên đem về Trại đưa vào nhà cùm. 28 tháng 9 năm 1978: Tất cả tù do Bộ đội quản lý được chuyển giao Công An Trại Tiên Lãnh trong đó có Miên và không thoát khỏi cảnh vào phòng biệt giam, qua nhiều năm kế tiếp. Sau nầy nghe tin Thiếu Tá Miên đã sang Hoa Kỳ qua chương trình H.Ọ

* Trung Tá Ngô Hoàng, bị bắn tại Kỳ Sơn! Trung Tá Ngô Hoàng, sinh vào tháng 2-1932 tại Thừa Thiên. Số quân 52.200.968, Khóa 10, Trần Bình Trọng, Võ Bị Đà Lạt.
- Trưởng Phòng Phản Gián An Ninh Quân Đội Quân Khu 2.
- Trưởng Ty An Ninh Quân Đội, Tham Mưu Trưởng Tiểu Khu Phú Yên.
- Sĩ Quan Thanh Tra Trung Tâm Điều Hợp Bình Định và Phát Triển
Quân Khu 1.
1977: Từ Trại 1, Trung Tá Ngô Hoàng, Khối Phó khối 4 chuyển qua Trại 4 Kỳ Sơn. Ông bị cận thị rất nặng. Sau thời gian dài cùng anh em tù đến Phú Ninh, Tam Kỳ để khai hoang làm lòng hồ, khi trở về Trại 4 được ít tuần lễ thì xảy ra vu. Thiếu Tá Nguyễn Tâm
Miên trốn trại. Hai anh Hoàng và Miên thường ăn cơm chung với nhau. 1978: Vào một ngày đầu năm, khối 4 được lịnh sang Trại 2 để đào sắn. Cơm trưa vừa xong, vệ binh tên Tư đến bảo Đại Úy Công Binh Nguyễn Đắc Phúc (khối Trưởng) cho người theo anh ta để đi xem bãi sắn khác để ngày hôm sau đào tiếp. Anh Phúc hỏi: Tôi đi với cán bộ? Vệ binh Tư lắc đầu và nói:
Anh ở lại trông coi anh em. Anh cho anh Hoàng, Khối Phó, theo tôi. Anh Hoàng liền xách cúp đi theo. Vệ binh Tư bảo: rẫy có nhiều gai, anh đem theo rựa để phát quang tiện hơn. Sau khoảng 20 phút, nghe tiếng nổ của một loạt AK. Anh em tù nhìn nhau thở dài, ai nấy đều lo lắng, vì thầm nghĩ chắc anh Hoàng bị tên Tư sát hại. Quả nhiên, vài phút sau tên Tư cầm súng AK chạy ra và hô lớn: - Các anh ngồi yên tại chỗ, thằng Hoàng lấy rựa chặt tôi định giật súng, may tôi nhanh tay đỡ kịp, đã bắn nó chết rồi. Lúc nầy anh em tù nhìn khẩu súng của tên Tư không thấy dấu rựa chặt nơi báng súng. Nhưng đến khi Bộ Chỉ Huy Trại lập biên bản cần có chữ ký của anh Phúc, đại diện tù, thì khẩu súng trưng bày có dấu rựa chặt vào báng súng. Liền sau đó, một số anh em tù trong đó có Trung Tá Lê Văn Thành (số quân 60.211.374, khóa 17, Lê Lai, Đà Lạt) lấy ván tại khu nhà Trại 2 đóng quan tài chôn anh Ngô Hoàng tại rẫy sắn. Có điều gây chú ý về con số 4 là con số kỵ đối với Trung Tá Võ Vàng và Trung Tá Ngô Hoàng vì hai vệ binh sát thủ gây cái chết cho hai anh, một có tên là Trương tư. Bốn và một có tên là Tư .
          Sau 2 cái chết oan nghiệt của anh Vàng và Hoàng, anh em tù Kỳ Sơn hết sức hoang mang lo lắng nhất là các anh cấp Tá. Người lo nhiều nhất là anh Tố và anh Kiệt vì khi anh Nguyễn Văn Tố làm Tỉnh Trưởng Phú Yên thì anh Hoàng là Tham Mưu Trưởng Tiểu Khụ Anh Tố muốn báo tin cho chi. Hoàng biết là anh Hoàng bị bắn rồi, chôn ở rẫy sắn, cây cối um tùm rất khó tìm. Khổ nỗi vì chị Tố đã đi thăm anh trong tuần vừa qua, nên anh phải chờ 3 tháng sau, trong lần thăm nuôi kế tiếp, anh mới nhờ vợ về báo tin cho
chi. Hoàng biết. Nhận được hung tin, chi. Hoàng cùng gia đình liền đến trại Kỳ Sơn 2 để tìm hiểu cái chết của anh Hoàng và xin bốc mộ chồng. Khi khai quật mộ, thi thể anh Hoàng chưa bị phân hủy nên phải dùng rượu để tuốt thịt ra đốt tại chỗ, còn xương thì đem về để mai táng. Cái chết đau thương đầy tủi hận nầy đã gieo vào lòng chi. Hoàng một nỗi buồn sâu đậm khiến chi. Hoàng phải lâm bịnh nặng trong một thời gian rất dài.
1992: Khi lập hồ sơ theo chương trình H.Ọ vì các con đã lớn và có gia đình, không hội đủ tiêu chuẩn để xuất ngoại nên chị Hoàng đã quyết định cùng ở lại quê nhà với con cháu. 1994: Từ Hoa Kỳ, anh Tố nhận được thư của chi. Ngô Hoàng nhũ danh Nguyễn Thị Hương Thủy, nguyên là Y tá của bệnh viện Tuy Hòa trước năm 1975, cho biết về tình trạng gia đình đang gặp khó khăn. Anh Tố cùng một số anh em cựu tù Tiên Lãnh đóng góp được 700 Mỹ kim để gửi giúp chi. Hoàng. Chị dùng số tiền nầy để mở quán cơm chay, rồi chuyển sang bán xì dầu, nhưng tiếc thay công việc mưu sinh của chị đều bị thất bại và từ đó anh Tố mất liên lạc với chi. Hoàng. Ngoài những chuyện nêu trên, Tổng Trại 2 Kỳ Sơn còn xảy ra những cái chết đau lòng khác:
- Thiếu Tá Lũy (Trung Tâm Hành Quân Quân Đoàn I) chết dưới suối do vệ binh sai bắt cá, không may bị đạp phải lựu đạn ném cá từ trước chưa nổ.
- Thiếu Tá Khóa (Phi công phản lực) đói lạnh kiệt sức nằm
chết trong lùm cây bên bờ sông trong ngày mưa to, gió lớn.
- Thiếu Tá Bình (TTHL Hòa Cầm) ăn chay trường, quản giáo bắt ăn mặn, ông tuyệt thực đến chết. Riêng tại Trại 2 Kỳ Sơn có nhiều sĩ quan trốn trại, nhiều ngày sau mới bị phát hiện, một số đã vượt thoát, số người bị bắt lại bị chuyển đến trại An Điềm để lãnh án tử hình. Còn nhiều chiến hữu khác đã qua đời tại các Trại 2, 3, 4 do trốn trại, đau bịnh, đói lạnh... (người viết không biết rõ chi tiết). Đến ngày 28 tháng 9 năm 1978, số tù còn lại tại Tổng Trại 2 Kỳ Sơn được Bộ đội chuyển giao cho Công An quản lý tại hai trại Tiên Lãnh và An Điềm. Trại tù Tiên Lãnh Tiên Lãnh là một xã thuộc huyện Tiên Phước Quảng Nam, Đà Nẵng. Thời VNCH là xã Phước Lãnh, Quận Tiên Phước, tỉnh Quảng Tín. Trại tù mang tên Tiên Lãnh nằm cạnh ngã ba sông Tranh, cạnh trại có đường trải đá. Theo đường tỉnh lộ cách Tam Kỳ 50 cây số. Ngoài trại chính Tiên Lãnh còn các trại trực thuộc như: Trại Thôn Tư, Thôn Năm, Na Sơn, Đồng Mộ và Trại Nữ do Công an quản lý. Khác với Trại Kỳ Sơn do Bộ đội quản lý chỉ giam sĩ quan chế độ cũ. Trại Tiên Lãnh ngoài sĩ quan còn có thành phần Hành Chánh, đảng phái, văn nghệ sĩ... VNCH, tù hình sự và tù phạm CS. Các nhà giam xây gạch, cửa sắt, bao bọc bởi nhiều rào kẽm gai kiên cố. Đặc biệt cán bộ quản lý Trại đều là cán binh, bộ đội từng hoạt động tại liên khu 5 trước tháng 4-1975. Trước 1954 tại Tiên Phước có nhà tù khét tiếng Liên khu 5 mang tên nhà lao Tiên Hội. Nhắc đến Tiên Lãnh có biết bao nhiêu điều cần nói. Xin kể hai trục trặc đau lòng nhất như sau:
* Trung Tá Nguyễn Văn Bình và Đại Úy Trần Văn Quy trốn trại Tiên Lãnh không thoát khỏi!
- Trung Tá Nguyễn Văn Bình, sinh tháng 10-1943 tại Thừa Thiên. Số quân 63.210.574, khóa 19 Nguyễn Trãi, Trường Võ Bị Quốc Gia VN. Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 51, Sư Đoàn 1 Bộ Binh.
- Đại Úy Trần Văn Quy, sinh tháng 9-1939 tại Kiến An. Số quân 59.153.270, Sĩ Quan Thủ Đức. Tiểu Đoàn 39 BĐQ. 28 tháng 9 năm 1978: Từ Trại tù Kỳ Sơn chuyển giao Công An quản lý tại Trại tù Tiên Lãnh. Sau khi đến Trại chừng 2 tháng, một buổi sáng nhân cơ hội đi vác củi từ xa về Trại. Trung Tá Nguyễn Văn Bình cùng Đại Úy Trần Văn Quy liền bỏ trốn. Đoàn tù về đến Trại, điểm danh lại thấy thiếu 2 người tù. Ban Chỉ Huy Trại tức tốc báo động lùng kiếm suốt một tuần không thấy. Trại báo các Buôn Thượng trong khu vực để theo dõi. Qua tuần lễ thứ 2 không rõ hai anh Bình và Quy qua mưu sinh thoát hiểm thế nào không may bị địch phát hiện. Anh Bình bị bắn chết còn anh Quy bị bắt
sống. Thi hài anh Bình đưa về chôn bên vệ đường mòn nơi anh em tù thường đi lao động ngang qua. Anh Quy đưa vào nhà cùm sau một ngày trói ngay nơi cổng để dằn mặt anh em tù. Nhân dịp nầy người viết xin ghi lại cử chỉ bất khuất của anh Nguyễn Văn Bình: Sáng hôm sau ngày nhập Trại Tiên Lãnh, anh em tù tập họp trình diện viên Đại úy Công An để xác nhận lý lịch. Mỗi tù khi nghe đọc tên phải lấy mũ xuống rồi hô lớn có mặt. Đến lượt anh Bình (đứng trước tôi) không lấy mũ, chỉ nói nhỏ có thay vì có mặt như anh em khác. Tên Đại úy nhìn thẳng anh Bình giận dữ lớn tiếng: Anh có biết lấy mũ xuống không? Anh coi thường tôi. Giờ nầy anh là tù phạm, không phải tù binh hay Trung Tá ngụy đâu . Anh Bình hết sức tức giận, trước kẻ thù anh đành nuốt hận! Hành động của anh Bình, in đậm tâm trí tôi không bao giờ quên.

* Thiếu Úy Trần Quang Trân với bản án tử hình Thiếu Úy Trần Quang Trân, sinh 30 tháng 9 năm 1949 tại Phú Lộc, Thừa Thiên. Sĩ Quan An Ninh, chi An Ninh Phú Lộc, Thừa Thiên. Nói đến trại tù Tiên Lãnh phải kể vụ án Trần Quang Trân, một vụ án chấnđộng Quảng Nam Đà Nẵng. Cuối 1975 tại Kỳ Sơn có phái đoàn địa chất của Tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng đã sử dụng máy dò tìm địa chất của Trung Cộng để tìm vàng tại Bông Miêu. Máy bị hỏng về Đà Nẵng không tìm ra chuyên viên sửa chữa. Phái đoàn nhờ Tổng Trại 2 tìm cho người sửa. Anh Trân nhận sửa và máy hoạt động tốt trở lại. Từ đó anh Trân được đưa về Bộ Chỉ Huy Tổng Trại để sửa máy. Cán bộ có radio hỏng đều nhờ anh Trân sửa. Anh lén nghe đài BBC, VOA... có tin hay tìm cách phổ biến cho các bạn tù được tin tưởng biết hầu an tâm. Ngày 28 tháng 9 năm 1978, Bộ đội bàn giao số tù còn lại tại Kỳ Sơn cho Công An trại Tiên Lãnh. Anh Trân được giao theo danh sách chuyên viên. Qua tin đồn anh Trân sửa máy giỏi Công An Trại nhờ sửa Radio. Có máy anh lén nghe các đài ngoại quốc về sau ráp 1 máy nhỏ để nghe. Những tin quan trọng như: Tôn Đức Thắng qua đời, VN đánh qua Campuchia, Tàu xâm lăng miền Bắc, nhất là Hoa Kỳ và VN thương thảo để chuyển tù VNCH sang định cư tại Hoa Kỳ,... Được tin anh em tù hết sức vui mừng và phổ biến cho nhau. Đầu 1981 vụ nghe lén Radio bị bại lộ. Ban Chỉ Huy trại cho điều tra, gom bắt gần 100 tù nhân liên quan trong tổ chức nghe radio đưa vào nhà cùm. Đến ngày 5 tháng 11 năm 1981 Tòa án Nhân dân Quảng Nam Đà Nẵng mở phiên tòa suốt một ngày tại Tiên Lãnh để xét xử 92 tù nhân với tội: Âm mưu tổ chức lật đổ chính quyền nhà nước VN . Bản án tuyên đọc anh Trần Quang Trân tử hình. Một số khác từ chung thân, 20, 18, 13, 12, 10, 5 và nhẹ nhất là 3 năm còn lại 75 người miễn truy tố chỉ bị phạt giam. Đặc biệt trong phiên xử anh Trân không gọi Ban xử án là Quan Tòa mà gọi các ông. Anh nói: Các ông không xứng đáng và có quyền xử chúng tôi, lịch sử VN sẽ xử tội các ông. . Viên Chánh Án luôn đập bàn gọi anh Trân phải thưa Quan tòa không được gọi các ông. Sau khi tuyên án tử hình viên Chánh Án cho anh Trân nói lời cuối cùng. Anh không mất tinh thần, không sợ hãi và hùng hồn tuyên bố: Tôi không có gì nói với các ông, chỉ tiếc là khả năng của tôi không có cơ hội để phục vụ tổ quốc sau khi chế đô. CS sụp đổ!!! Vào lúc 12 giờ trưa ngày 19 tháng 6 năm 1982, chúng đưa xe đến tận phòng giam rồi bịt mắt anh Trân để chuyển ra pháp trường. Khi xe ra đến cổng Trại anh cố hô to: Đả đảo HCM! Đả đảo CS. Khoảng hai mươi phút sau nhiều tiếng súng oan nghiệt nổ để tiễn đưa linh hồn của một anh hùng VNCH thuộc Trại Tiên Lãnh đã hiên ngang đi vào lòng dân tộc. Ngày 10 tháng 5 năm 1989 mộ phần anh Trân được gia đình cải táng và chôn tại xã Lộc Điền, Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên. Chị Trân nhũ danh Vũ Thị Rần cùng hai con là Trần Diễm Trang và Trần Diễm Nga đã lập thủ tục xin định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.Ọ Công An Đà Nẵng từ chối không cấp giấy khai tử nên hồ sơ chưa được giải quyết. Ngày 30 tháng 1 năm 2008, Ban Đại Diện Hội Tù Tiên Lãnh gửi đơn đến Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ ở Saigon, nhờ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cứu xét và giải quyết nguyện vọng của chi. Trân.
***
Những người tù không bản án tại trại Tiên Lãnh không thể nào quên được. Hàng trăm người đã chết trong tù hoặc mang bệnh về nhà rồi chết. Trong số người chết trong trại người viết chỉ nhớ các bạn như sau:
- Trung Tá Trần Phước Xáng, khóa 10, Trần Bình Trọng Đà Lạt, Tiểu Khu Phó Quảng Nam chết tại khu Nhà Trắng Thôn 5 do bịnh kiết lỵ kéo dài quá lâu.
- Trung Tá Nguyễn Trinh, khóa 4 Cương Quyết Thủ Đức, Tham Mưu Phó CTCT Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn I, chết vì bệnh nặng tại Tiên Lãnh.
- Trung Tá Huỳnh Như Xuân, khóa 19 Nguyễn Trãi Đà Lạt, Trung Đoàn Phó Trung Đoàn 3 Sư Đoàn 1 BB chết tại Đồng Mộ do bịnh gan.
- Ông Đinh Văn Biền, Bí thư Quốc Dân đảng Quảng Nam chết tại Đồng Mộ do bịnh suyễn kinh niên.
- Thiếu Tá Hồ Minh, Phó Ủy Viên Chính phu? Tòa Án Quân sự Thường Trực Quân khu 1 nhịn đói đến chết tại Nhà Trắng Thôn 5.
- Thiếu Tá Đoàn Văn Luyến, Tiểu khu Quảng Nam, vì đói quá nên ăn nhiều lá sắn và môn, bị phù thủng và qua đời tại Tiên Lãnh.
- Thiếu Tá Trương Đình Phước, Xuất thân Trường Võ Bị Quốc Gia VN. Thanh tra Quân Tiếp vu. Quân Khu 1. Chết vì bệnh nặng. Thành phần Sĩ quan và tù chính trị tại Tiên Lãnh, do bị tù quá lâu nên anh em biết nhau nhiều. Ra hải ngoại rất đông anh em tiếp tụcsinh hoạt chính trị, tiêu biểu trong số có người bạn tù chúng tôi hằng quý mến ngay từ trong trại như Bác sĩ Phùng Văn Hạnh:

* Y sĩ Thiếu Tá Phùng Văn Hạnh cứu sống nhiều tù nhân Tiên Lãnh Y Sĩ Thiếu Tá Phùng Văn Hạnh, số quân 51.120.936, sinh tháng 10-1931 tại Quảng Nam, được trưng dụng vào Quân đội. Nhiệm vụ sau cùng là Bác sĩ chỉnh hình tại Trung Tâm Y tế toàn khoa Đà Nẵng đồng thời Ông cũng là Giám đốc Dưỡng Đường Độc Lập tại Đà Nẵng (Dưỡng Đường tư của Bác sĩ). Anh em trại tù Tiên Lãnh không quên được một bạn tù đặc biệt như Bác sĩ Phùng Văn Hạnh. Tinh thần chống Cộng rất cao, khi vào tù trại bắt lao động rồi đưa vào trạm Y tế chữa bệnh cho anh em tù. Qua lần lao động sau cùng ông đạp nhằm đinh sét bị phong đòn gánh rất nặng phải đưa về Bệnh viện Tam Kỳ chạy chữa. Nhờ một số Bác sĩ tại đây là học trò cũ của ông đã tận tình chữa khỏi bịnh. Khi trở về Tiên Lãnh ông được tiếp tục giao phó việc chữa bệnh cho các anh em tù. Bác sĩ Hạnh đã cứu sống biết bao đồng đội bịnh nặng sắp đi vào cõi chết. Ông được phóng thích sau 12 năm tù, ông vượt biển vào năm 1989, sau đó được sum họp cùng phu nhân là bà Nguyễn Thị Bạch Nhạn và 7 người con gồm 4 trai, 3 gái tại Montréal, Canada. Hiện ông đang vui hưởng tuổi già cùng 8 cháu nội ngoại. Điều đáng ghi nhận là tất cả các con của ông đều thành đạt mỹ mãn. Ông ghi lại những nỗi vui buồn của cuộc đời mình qua 2 tác phẩm:
- Tình Yêu Hiện Sinh, xuất bản năm 2000.
- Một Kiếp Người, xuất bản năm 2004.
Thay lời kết
Qua tâm ý của người viết cố hồi tưởng lại những gì mắt thấy, tai nghe trong thời gian bị tù CS tại Kỳ Sơn và Tiên Lãnh cùng nghe qua lời kể của các bạn tù. Tham khảo ít tài liệu Quân đội trước 1975. Xin cám ơn tất cả mọi người trong cuộc cùng thân nhân và anh em
cựu tù Kỳ Sơn, Tiên Lãnh đã cung cấp hình ảnh, tin tức và khuyến khích tôi viết lại các câu chuyện đầy thương tâm để hoàn thành loạt bài này. Nhân tiện người viết xin có mấy lời cùng các bạn trẻ thân mến: Sau biến cố năm 1975, các bạn được cha ông tạo cơ hội vượt thoát khỏi chế độ bạo tàn CS và may mắn có nhiều cơ hội để học hỏi và tiến thân mưu cầu một tương lai ổn định và tươi sáng. Sự thuận lợi các bạn đang có đã đánh đổi bao sự hy sinh của cha ông đã lâm vào cảnh lao lý. Các chuyện kể trên tiêu biểu cho hàng ngàn vụ đau thương xảy ra trong các trại tù trên toàn quốc. Hiểu được lý do chính đáng về sự hiện diện của các bạn tại quê người, các bạn nên luôn ghi ơn các chiến sĩ VNCH đã đóng góp phần xương máu để xây dựng và bảo vệ miền Nam. Trước 1975 cuộc sống của đồng bào miền Nam được tự do, hạnh phúc hơn hẳn một số Quốc Gia trong vùng Đông Nam Á, thủ đô Saigon được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông. Các bạn hãy hãnh diện về thành quả trước đây, nỗ lực hơn nữa để phục hưng nước Việt trong tương lai được phú cường và không CS hầu thực hiện nguyện vọng của toàn dân hiện đang mong ước từng ngày. Hiện nay, tình hình chính trị trong nước đã chín mùi, ngày toàn dân mong ước không còn xa.

Bolsa, ngày 28 tháng 8 năm 2008

Hồ Đắc Huân