Search This Blog

Tuesday, March 20, 2018

Chủ nghĩa dân tộc (Nationalism)

Print Friendly, PDF & Email
Europe_Flag_map_by_lg_studio-1024x833
Tác giả: Trần Nam Tiến
Chủ nghĩa dân tộc đề cập đến một hệ tư tưởng, một tình cảm, một hình thức văn hóa, hoặc một phong trào tập trung vào quốc gia hay dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc đã trở thành một trong những động lực chính trị và xã hội quan trọng nhất trong lịch sử. Ở một góc độ khác, chủ nghĩa dân tộc là xu hướng tư tưởng tuyệt đối hóa giá trị dân tộc mình, đặt dân tộc mình ở vị trí cao nhất trong toàn bộ hệ thống giá trị, đi đến chỗ khoa trương, bài ngoại, tự phụ, coi dân tộc mình cao hơn tất cả và gây thiệt hại cho dân tộc khác. Nó đã giữ vai trò ảnh hưởng chính hay nguyên nhân của chiến tranh, cụ thể nhất là cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) và Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945). Tất cả đều liên quan đến những tư tưởng dân tộc chủ nghĩa cực đoan.
Nhà dân tộc học người Mỹ Louis Snyder cho rằng chủ nghĩa dân tộc là trào lưu chính trị bắt nguồn từ Cách mạng tư sản Pháp vào nửa sau thế kỷ 18. Sau cách mạng tư sản Anh, Pháp và cuộc chiến tranh giành độc lập ở 13 bang thuộc địa Bắc Mỹ, các “quốc gia dân tộc” (nation-state) lần lượt ra đời ở khu vực này. Thần quyền của giáo hội và vương quyền phong kiến được thay thế bằng “chủ quyền nhân dân” (theo khuôn khổ của pháp quyền tư sản). Từ đó, sản sinh tư tưởng tôn sùng dân tộc mình và quốc gia dân tộc mình. Vì vậy, nhà dân tộc học George Gooch đã nói rằng “chủ nghĩa dân tộc là con đẻ của Đại cách mạng Pháp”. Chủ nghĩa dân tộc tư sản còn đi đến chỗ bành trướng và xâm lược khắp nơi trên thế giới. Giai cấp tư sản nắm quyền thống trị ở Tây Âu lúc ấy cho rằng họ có quyền mở rộng quyền thống trị của mình để khai hóa các dân tộc khác. Đối mặt với cuộc xâm lược của chủ nghĩa dân tộc tư sản Tây Âu, nhân dân các nước Châu Á, Châu Phi và Mỹ Latinh đã anh dũng đấu tranh chống xâm lược, bảo vệ độc lập dân tộc. Phong trào giải phóng dân tộc vì vậy đã phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ 20, điển hình là hai cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Về nguồn gốc khái niệm “dân tộc”, theo các nhà nghiên cứu Trung Quốc, trong tiếng Hán cổ không có từ “dân tộc”. Từ này thực tế được du nhập từ Nhật Bản. Năm 1899, Lương Khải Siêu là người Trung Quốc đầu tiên đã sử dụng từ “dân tộc” trong bài viết của mình. Năm 1905, Tôn Trung Sơn bắt đầu nói về “dân tộc”. Từ đó, người Trung Quốc mới dần dần làm quen với khái niệm này. Theo các tác giả cuốn Tân thư, từ “dân tộc” có thể được các nhà Đông du Việt Nam như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh du nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam.
Tuy có những điểm chú trọng khác nhau, song phần lớn các nhà nghiên cứu theo khuynh hướng dân chủ tư sản đều cho rằng chủ nghĩa dân tộc bắt nguồn từ quá trình thế tục hóa tư tưởng chính trị do thời Phục Hưng và thời Khai Sáng sinh ra, từ quan điểm quân bình của chủ nghĩa tự do và từ khái niệm về chủ nghĩa cộng hòa và quyền công dân phổ biến qua các làn sóng cách mạng ở Mỹ và Pháp trong thế kỷ 18.
Trong khi đó, những người theo chủ nghĩa xã hội khoa học cho rằng chủ nghĩa dân tộc là hệ tư tưởng tư sản được thể hiện trong quan hệ dân tộc, là xu hướng chính trị tư sản trong việc giải quyết các vấn đề dân tộc. Sau khi giai cấp tư sản thực thi chủ nghĩa thực dân và xâm lược các dân tộc khác, chủ nghĩa dân tộc biểu hiện dưới hai hình thức: chủ nghĩa dân tộc nước lớn hoặc còn gọi là chủ nghĩa sô-vanh nước lớn, và chủ nghĩa dân tộc địa phương. Chủ nghĩa dân tộc của các dân tộc bị áp bức, đấu tranh chống thực dân, giành và bảo vệ độc lập dân tộc mang ý nghĩa tích cực và tiến bộ. Nhưng đáng chú ý, người ta không gọi đó là chủ nghĩa dân tộc, mà gọi là tinh thần dân tộc, ý thức dân tộc. Đó cũng chính là chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước là đặc trưng cơ bản của cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống thực dân đế quốc, giành độc lập dân tộc.
Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945), việc nghiên cứu chủ nghĩa dân tộc nhìn chung bị lu mờ, đặc biệt là ở Châu Âu do liên quan đến sự phát triển của chủ nghĩa Phát xít. Ở các nước Đông Âu, các quốc gia mới thành lập đều chịu ảnh hưởng bởi Liên Xô nên phần lớn đều đi theo khái niệm chủ nghĩa quốc tế vô sản. Ở Tây Âu, dưới sự chi phối của Mỹ, các thể chế được lập ra theo hướng tiến tới một Cộng đồng châu Âu được coi là một siêu quốc gia (super-nation). Vì vậy, mặc dù các phong trào dân tộc chống thực dân đang có bước phát triển mạnh hơn bao giờ hết ở Châu Á và Châu Phi, người ta vẫn coi chúng như là biểu hiện của sự lạc hậu ở các khu vực này và cho rằng chủ nghĩa dân tộc đang trong quá trình bị thay thế về mặt lịch sử ở Châu Âu văn minh.
Từ cuối thập niên 1970, chủ nghĩa dân tộc lại trỗi dậy trên phạm vi toàn cầu. Do đa số các quốc gia là đa sắc tộc hoặc có nhiều nhóm tự nhận vị thế quốc gia, trong nhiều trường hợp, sự theo đuổi quyền tự chủ mang tính dân tộc chủ nghĩa đã gây ra xung đột giữa nhân dân và nhà nước, trong đó có chiến tranh (cả nội chiến và ngoại chiến). Ở nhiều nơi, chủ nghĩa dân tộc đã biến tướng thành chủ nghĩa ly khai, gây ra hàng loạt cuộc xung đột sắc tộc, và trong những trường hợp cực đoan là diệt chủng, như vấn đề người Hutu và người Tutsi ở Rwanda; người Tamil ở Sri Lanka; người Sikh ở Ấn Độ; người Kurd ở Iraq; Iran và Thổ Nhĩ Kỳ; người Moro ở Philippines, hay giữa người Serbia và người Bosnia ở Nam Tư cũ.
Đặc biệt, xung đột sắc tộc trở thành căn bệnh trầm trọng ở nhiều nước Châu Phi. Liên bang Nga hiện nay cũng đang đối mặt với hàng loạt vấn đề mâu thuẫn và xung đột dân tộc, mà điển hình là vấn đề Chesnia. Chủ nghĩa dân tộc ly khai Chesnia đã được thúc đẩy dưới hình thức chủ nghĩa khủng bố. Chủ nghĩa dân tộc ly khai cũng đang dâng cao ở các nước phương Tây, điển hình như vấn đề Bắc Ireland ở Liên hiệp Vương quốc Anh hay xứ Basque ở Tây Ban Nha.
Từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay, hiện tượng chủ nghĩa dân tộc nổi lên gắn liền với xu hướng phục hồi của tôn giáo, tư tưởng bài ngoại, trào lưu chống chủ nghĩa xã hội và âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực phản động phương Tây. Bên cạnh đó, các thế lực chủ nghĩa ly khai dân tộc cũng ngày càng lớn mạnh ở mức độ khác nhau, hình thành nên các thế lực chính trị và lực lượng quân sự, thông qua các cơ chế dân chủ phương Tây hoặc hoạt động khủng bố thông qua bạo lực nhằm mở rộng chủ nghĩa ly khai, thực hiện quyền dân tộctự quyết, thành lập nhà nước độc lập. Tất cả các nhân tố đó kết hợp với nhau đang tạo nên một cục diện phức tạp và không ổn định không chỉ trong nội bộ nhiều nước mà còn đe dọa nghiêm trọng nền an ninh và ổn định thế giới.
Nguồn: Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (chủ biên), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế, (TPHCM: Khoa QHQT – Đại học KHXH&NV TPHCM, 2013).

Stephen Hawking tin hay không tin có Chúa? Nhà vật lý học nầy đã nói gì về sự sáng lập của vũ trụ

Sofia Lotto Persio, Newsweek/Người dịch: Chí Đỗ



Giáo sư Stephen Hawking tự giao cho sứ mạng của đời ông là giải thích sự huyền bí vĩ đại của vũ trụ - và hình như không có sự huyền bí nào vĩ đại hơn là sự sáng lập của vũ trụ.
Hawking qua đời ngày 14 tháng 3 năm 2018, hưởng thọ 76 tuổi của gần suốt một cuộc đời bị bệnh xơ cứng teo cơ ALS (Amyotrophic Lateral Sclerosis) mà bác sĩ đã chẩn đoán năm ông 21 tuổi. Khi đó, các bác sĩ cũng dự đoán là ông chỉ sống thêm được vài năm, vậy mà ông đã sống thêm hơn nửa thế kỷ thì phải coi như một phép lạ - nếu không là một phép lạ của y khoa hiện đại như lời tuyên bố năm 2015 với báo The Telegraph, của Jane Hawking, bà vợ đầu của ông, một người theo đạo Chúa.
“Khi tôi nghĩ đến 52 năm mà Stephen vẫn sống sau khi bị bệnh thì tôi phải cho đó là một phép lạ. Vâng, có thể đó là một phép lạ của y khoa hiện đại cộng với lòng can đảm và kiên trì của Stephen nhưng dù sao thì cũng có thể nói đơn giản rằng đó là một phép lạ.” 
Dù vậy, chính ông Hawking thì hoàn toàn không tin đó là một phép lạ và xác nhận trong một bài phỏng vấn quan trọng với nhật báo Tây Ban Nha El Mundo năm 2014 rằng ông là một người vô thần.

Trước đó thì quan điểm của ông về sự hiện hữu của Chúa được coi như hơi mơ hồ giữa hai chủ thuyết bất khả tri và vô thần. Trong tác phẩm “Một Lược Sử về Thời Gian” (“A Brief History of Time”), ông Hawking đã viết rằng khi “nguyên lý về vạn vật” được hoàn tất thì có thể coi như tư duy loài người đã đạt được thành quả tối hậu vì khi đó con người hiểu biết được trí óc của Chúa.” Điều này mâu thuẫn với cuốn “Đại Thiết Kế” (“The Grand Design”) xuất bản năm 2010, trong đó Hawking viết khái niệm về Chúa là “không cần thiết” để giải thích nguồn gốc của vũ trụ vì luật của vật lý học đã giải thích đầy đủ. Câu nầy được coi như một thay đổi so với quan điểm trước đây của ông về Chúa và vũ trụ trong một cuộc phỏng vấn với Reuters năm 2007. Trong đó ông nói: “Tôi tin rằng vũ trụ vận hành theo những định luật của khoa học”, nhưng ông thừa nhận thêm rằng “có thể Chúa ban ra những định luật nầy, nhưng Chúa không can dự vào để vi phạm những luật đó.”
Sau đó, Hawking chấp nhận có thể coi Chúa như luật của thiên nhiên. Nhưng ông không chấp nhận Chúa như một thực thể “giống như con người” mà ta có thể có một mối liên hệ cá nhân. Ông nói với phóng viên Diane Sawyer trong phần tin tức của đài ABC năm 2010, vài tháng trước khi cuốn “Đại Thiết Kế” được xuất bản: “Khi bạn nhìn vào kích thước mênh mông của vũ trụ và sự tầm thường của một mạng người tình cờ nằm trong đó thì bạn sẽ thấy mối liên hệ cá nhân đó gần như không thể xy ra.”
Cũng trong dịp đó, ông biện giải sự ưu việt của khoa học so với tôn giáo : “Có một khác biệt căn bản giữa tôn giáo, dựa trên uy quyền, và khoa học, dựa trên quan sát và lý trí. Khoa học sẽ thắng vì khoa học làm có kết quả.”
Trong một cuộc phỏng vấn với báo The Guardian năm 2011, Hawking cũng trình bày ý kiến của ông về đời sống, cái chết và sau cái chết. “Tôi không sợ chết, nhưng tôi cũng không vội vã gì để chết. Có quá nhiều chuyện tôi muốn làm trước khi chết. Tôi coi bộ óc như một máy vi tính. Máy nầy sẽ ngưng chạy khi các cơ phận của nó hỏng. Với một máy vi tính đã hỏng thì không có thiên đường mà cũng không có cõi vĩnh hằng. Đó là những chuyện hoang tưởng cho những người sợ bóng tối.”
Cuối cùng thì câu trả lời của Hawking với báo El Mundo đã đánh tan những thắc mắc về niềm tin của ông. “Trong thời xa xưa, trước khi chúng ta có hiểu biết về khoa học, tin vào chuyện Chúa sáng lập vũ trụ có vẻ hợp lý. Nhưng bây giờ thì khoa học đã cho ta một giải thích đầy tính thuyết phục. Khi tôi nói ta biết được trí óc của Chúa là tôi muốn nói ta biết được tất cả những gì Chúa có thể hiểu biết nếu Chúa hiện hữu. Nhưng Chúa không hiện hữu.”
Hawking nói: “Tôi là một người vô thần. Tôn giáo tin vào phép lạ, nhưng phép lạ thì không tương hợp với khoa học”.
Với tư cách là một hội viên của Viện Hàn Lâm Khoa Học của Giáo Hoàng, Hawking đã trình bày những ý kiến của ông về nguồn gốc của vũ trụ tại các cuộc hội thảo khoa học được tổ chức từ nhiều năm qua tại Vatican và ông đã có cơ hội gặp các Giáo hoàng John Paul II, Benedict XVI, và đương kim Giáo hoàng Francis.
Hawking cho biết trong cuộc hội thảo năm 2006, Giáo hoàng John Paul II đã khuyên răn các khoa học gia không nên nghiên cứu về sự sáng lập vũ trụ vì đó là việc của Chúa. Hawking cũng nói đùa thêm là Giáo hoàng đã quên là ông vừa trình bày lý thuyết của ông trên chính đề tài này tại cuộc hội thảo: “Tôi đã không tưởng tượng là sẽ bị đưa ra Toà án Dị giáo giống như ông Galileo”.
Mười năm sau tại Vatican, Hawking vẫn tiếp tục nói về đề thuyết (vũ trụ) không-biên cương để giải thích sự sáng lập của vũ trụ. “Đặt câu hỏi cái gì đến trước Big Bang (Vụ Nổ Lớn) là vô nghĩa vì trước Big Bang thì không có khái niệm về thời gian.” Ông nói như vậy tại Viện Hàn Lâm Khoa Học của Giáo hoàng năm 2016.

Người dch xin thêm hai điều đặc biệt về nhà vật lý học lừng danh một cách đặc biệt nầy:
Ngày ông sinh (8 tháng 1) là ngày chết của Galileo Galilei và ngày ông chết (14 tháng 3) là ngày sinh của Albert Einstein
Năm 1989, ông đã nhận nuôi một em bé Việt Nam - tên Nguyễn Thị Thu Nhàn - ở làng S.O.S. và ông đã âm thầm về Việt Nam năm 1997 để đích thân gặp mặt cô con nuôi nầy như bản tin sau đây:

Bật mí về cô con gái nuôi người Việt của thiên tài vật lý Stephen Hawking
QN 

Ít ai biết trí tuệ kiệt xuất của nhân loại có một cô con gái nuôi người Việt Nam và ông cũng từng sang Việt Nam để được tận tay ôm cô con gái bé bỏng vào lòng.              
                  
Hôm nay, ngày 14/3, nhà vật lý thiên tài, một bộ óc vĩ đại của nhân loại, Stephen Hawking, qua đời ở tuổi 76. Cuộc đời ông có thể được coi là một cuốn tiểu thuyết hoành tráng, về nghị lực sống, về niềm đam mê nghiên cứu khoa học.

Ông Stephen Hawking qua đời sau nhiều năm sống chung 
với các biến chứng của bệnh xơ cứng teo cơ (ALS).

Hôm nay, mọi người sẽ bàn tán nhiều về ông như một nhà khoa học vũ trụ thiên tài, nhưng ít ai biết, ông cũng là cha của một cô gái người Việt. Cô gái đó tên là Nguyễn Thị Thu Nhàn.

Năm 1989, Thu Nhàn được đưa vào làng trẻ S.O.S sau khi cha mẹ cô qua đời trong một vụ lật thuyền. Cô còn có một người anh, người này được đưa vào làng trẻ Birla ngay gần đó.

Theo quy định của tổ chức S.O.S quốc tế, mọi hồ sơ của những trẻ em được nhận vào làng sẽ phải gửi đến trụ sở chính ở thủ đô Vienna, nước Áo. Sau đó, hồ sơ của trẻ sẽ được gửi ngẫu nhiên đến các gia đình có mong muốn nhận con nuôi ở khắp nơi trên thế giới.

Nếu được nhận nuôi, các em sẽ được gia đình nuôi hỗ trợ tài chính cho đến khi các em đủ 18 tuổi.
Bằng một sự tình cờ, tập hồ sơ của Thu Nhàn được gửi đến gia đình của Stephen Hawking và Elaine Mason. Thu Nhàn trở thành con nuôi của nhà Vật lý thiên tài theo cách ngẫu nhiên như vậy đấy.

Thu Nhàn và cha nuôi Stephen Hawking, khi ông đến thăm làng trẻ S.O.S 
(Thu Nhàn là người mặc áo trắng đứng bên trái).

Kể từ khi có gia đình nuôi, Thu Nhàn thường xuyên trao đổi thư từ với bố mẹ. Nội dung đôi khi chỉ đơn giản là kể lại cuộc sống sinh hoạt thường ngày, hoặc những hình ảnh đời thường của cô tại làng trẻ.

Ở nước Anh xa xôi, Hawking và Mason cũng thường xuyên trả lời thư của con gái. Cứ thư qua thư lại như vậy, bố mẹ và con gái dù chưa từng gặp nhau bỗng trở nên thân thiết tự bao giờ.

Vào một ngày đông năm 1997, hai vợ chồng Stephen Hawking bí mật đến Việt Nam để gặp mặt cô con gái.

Ngay khi vừa gặp mặt, bố mẹ và con gái vui mừng khôn xiết, dù chưa từng gặp mặt nhưng tất cả đều có cảm giác gần gũi, thân thuộc.

Ông Hawking lúc này đã không điều khiển cơ thể và phải sống dựa vào xe lăn vì căn bệnh bại liệt quái ác, nhưng ông vẫn có gắng nắm tay cô con gái yêu, để cho cô biết rằng ông yêu cô nhiều lắm.
Trong thời gian vỏn vẹn 3 ngày ở làng S.O.S, Thu Nhàn đã được sống trong tình cảm gia đình ấm áp. Cả gia đình 3 người đã cùng nhau đi dạo trên những con đường Hà Nội, Thu Nhàn và mẹ nuôi thường xuyên nấu những món ăn ngon cho bố nuôi.

Dù không thể cử động và không thể nói chuyện bình thường, đồng thời vẫn phải chịu nhiều đau đớn vì bệnh tật, Hawking vẫn luôn cố gắng nở nụ cười trên môi.

Không chỉ là một ngươi cha tốt, nhà vật lý Hawking còn là một người vô cùng hài hước. Bọn trẻ khi được gặp nhà khoa học lỗi lạc đều rất thích thú. Bản thân ông cũng không hề ngại ngần mà biểu diễn điều khiển xe lăn chỉ bằng một nút bấm khiến lũ trẻ cứ ồ lên thích thú.


Stephen Hawking biểu diễn điều khiển xe lăn chỉ bằng một nút bấm 
cho trẻ em ở làng S.O.S xem.

Nói về kỷ niệm này, đã có lần Thu Nhàn trả lời với phóng viên: “Mọi người nói, tôi thật may mắn khi một nhà bác học nổi tiếng như vậy nhận làm con nuôi, nhưng ban đầu tôi cũng thấy bình thường thôi. Vì các bạn trong làng ai cũng có bố mẹ đỡ đầu.

Tuy nhiên, khi được gặp bố, thấy bố phải ngồi trên xe lăn, mọi hoạt động của bố rất khó khăn, nhưng bố vẫn luôn tỏ ra vui vẻ, lạc quan khiến tôi thấy thương bố lắm.

Ông bị bệnh tật cướp đi sức sống cơ thể nhưng bù lại ông đầy nghị lực và giàu tình cảm. Tôi rất yêu và quý trọng bố.

Hôm bố đến làng chơi, ấn tượng đầu tiên của tôi là hình ảnh bố biểu diễn đi xe lăn cho lũ trẻ trong làng xem. Chiếc xe lăn được ông điều khiển tiến, lùi, quay, lắc chỉ bằng thao tác ấn nút. Tụi trẻ con chúng tôi đứng xung quanh vừa ngạc nhiên, vừa thích thú, hò reo. Rất là vui!”

Trước khi quay trở về Anh, Thu Nhàn còn được bố nuối tặng cho một bộ áo dài của nhà may Ngân Anh. Chiếc áo dài giờ đây trở thành một kỷ vật vô giá, gợi nhắc cô về quãng thời gian quý báu khi được sống trong vòng tay gia đình.

Thu Nhàn trong chiếc áo dài của tiệm may Ngân Anh,
một món quà của Stephen Hawking.

Vào tháng 7/2000, Thu Nhàn được qua Anh thăm bố trong 1 tháng. Sau khi được mẹ Elaine ra đón và đưa về nhà, Thu Nhàn đã nhìn thấy cha nuôi đang chờ sẵn trước cửa, đôi mắt ánh lên niềm vui.

Hóa ra ông đã xin nghỉ làm một ngày để đón con gái. Nhớ về hành động đó, Nhàn vẫn còn cảm động đến bây giờ.

Những ngày tháng ở Anh là những kỷ niệm không bao giờ phai nhạt trong tâm trí Thu Nhàn.

Biết con gái ở nơi xứ lạ có thể cảm thấy cô đơn, ông luôn gần gũi, quan tâm cô con gái, cố gắng giúp cô cảm nhận được không khí gia đình thực sự. Ông biết Thu Nhàn thích ăn kẹo, nên hàng ngày sau khi đi làm về, ông đều mua một gói kẹo cho con con gái.

Thu Nhàn từng tâm sự: “Khi được cùng sống trong gia đình của ông, tôi không bao giờ thấy ở ông một nhà khoa học nổi tiếng mà xa lạ. Bố khiến tôi cảm thấy ông giống như một người bố bình thường như bao người bố khác.

Mỗi sáng thức dậy, tôi gặp bố trong phòng bếp, hôn lên má ông chào buổi sáng, và cả nhà ngồi ăn với nhau. Mẹ Elaine thường là người chuẩn bị đồ ăn sáng cho mọi người. Bố trò chuyện với tôi và không quên dặn mẹ đưa tôi đi chơi, rồi ông đi làm.”

Thu Nhàn khi ở bên Anh cùng với Stephen Hawking, 
bà Elaine Mason vợ của ông và người mẹ của nhà vật lý học.

Không chỉ là một người bố tâm lý, ông còn rất nghiêm khắc và quan tâm đến chuyện học hành của con gái. Ông bắt Thu Nhàn theo học một khóa tiếng Anh ở trường Đại học Oxford, thường xuyên nhắc cô học bài và kiểm tra bài của con.

Nhưng ông vẫn không quên khuyên con ngủ sớm từ lúc 9 giờ, vì theo ông phải ngủ sớm mới đảm bảo được sức khỏe.

Nhưng Hawking thường đi làm về muộn. Có những hôm bố về nhà, Thu Nhà đã ngủ say từ lúc nào. Vì vậy, mỗi buổi sáng trước khi đi làm, ông nhất quyết đợi đến khi con ngủ dậy để con nhìn thấy mình rồi mới ra khỏi nhà.

Trong mắt con gái nuôi có một điều đặc biệt nữa về người cha. Đó là mỗi khi mẹ Elaine mua quần áo cho cô, cô đều mặc thử cho bố xem. Nếu ông thích, ông sẽ cười. Nếu không thích, ông sẽ lắc đầu. Trước khi Thu Nhàn về Việt Nam, đích thân Hawking đi mua quần áo cho con, tất cả váy áo ông chọn đều màu xanh.

Stephen Hawking thích chọn váy áo màu xanh cho con.

Giờ đây, Thu Nhàn cũng đã có gia đình riêng với chồng và hai người con, một trai một gái. Kể từ khi có gia đình, liên lạc giữa cô và bố nuôi bị gián đoạn vì việc liên lạc bắt buộc phải thông qua làng SOS và nhà bác học đã ly dị người vợ thứ hai của mình, Elaine Mason.

Trước đó, Nhàn thường hay liên lạc với bà Elaine để biết về tình hình bố nuôi. Khi biết tin ông không khỏe, cô rất lo lắng. Cô cho biết, có lần bố từng nói:
“Lần sang Việt Nam, bố nói đây là lần đầu tiên, nhưng cũng có lẽ là lần cuối cùng bố sang được đây thăm con vì sức khỏe của bố giờ đã yếu lắm rồi!”.

Thu Nhàn cùng gia đình nhỏ của mình trong buổi tham dự lễ 
ra mắt bộ phim về cha nuôi của cô, “The Theory of Everything”.

Vì điều kiện gia đình không cho phép, sau lần đi Anh năm 2000 Thu Nhàn không thể sang thăm bố thêm lần nào nữa.

Hôm nay, nhà vật lý thiên tài Hawking đã đi xa. Thế giới mất đi một trí tuệ kiệt xuất, còn đối với Thu Nhàn, cô mất đi một người bố tuyệt vời.

Hawking từng nói với cô con gái bé bỏng của mình rằng, Thu Nhàn trở thành con nuôi của bố là một sự ngẫu nhiên, nhưng cô là một sự ngẫu nhiên tuyệt vời. Và đối với Thu Nhàn, việc được có ông làm bố nuôi cũng là một sự ngẫu nhiên ngọt ngào và quý giá nhất.

NGƯỜI GIỮ 16 TẤN VÀNG CỦA VNCH QUA ĐỜI TẠI CHIANG MAI

TS Đinh Xuân Quân


Người có trách nhiệm và giữ 16 tấn vàng của Ngân Hàng Quốc Gia (NHQG), tài sản của Việt Nam đã qua đời tại Chiang Mai, Thái Lan thọ 81 tuổi (tháng 9 1937-2018).  Ông mất ngày 26 tháng 1, năm 2018. Nhân dịp 49 ngày ông mất tôi xin có bài sau đây.

Trong giới Kinh Tế Tài Chính, nhất là vào những năm chót của VNCH, ai cũng biết đến Thống đốc trẻ tuổi của Ngân Hàng Quốc Gia là ông Lê Quang Uyển (LQU).

Sau khi tốt nghiệp HEC (Hautes Etudes Commerciales) tại Paris năm 1960, ông Lê Quang Uyển đã về VN phục vụ. Ông đã làm một thời gian ngắn làm cho Ngân Hàng Pháp Á (BFA – Banque Francaise de l’Asie).  Sau đó ông Lê quang Uyển cũng như nhiều chuyên viên trẻ khác cũng bị động viên vào quân đội lên đến cấp Đại Úy.


Từ quân đội ông được chuyển sang ngạch ‘chuyên viên phủ Tổng Thống,’ một ngạch công vụ của VNCH dành cho các chuyên viên trẻ, có học thức và nhiều tương lai.  Họ được đào tạo để trở thành các lãnh đạo tương lai trong nghành kinh tế, tài chính, giáo dục, các công ty của chính phủ - nhà đèn, công ty đường, Air VN, vv. Và sau này  có thể có những trách nhiệm cao cấp trong chính phủ. Ngạch này được thành lập từ thời Tổng Thống  Ngô Đình Diệm để kéo các chuyên viên giỏi phục vụ cho chính phủ VNCH.   

Trong cương vị này ông đã tham gia chiều chuyến đi của Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, trong đó có chuyên viếng thăm Manilla. Sau này ông đã được đề nghị vào giữ ghế Thống Đốc Ngân Hàng Quốc Gia. Người ta nhớ nhất về Thống Đốc Uyển là những việc sau đây :

Chuyện Tín Nghĩa Ngân Hàng (TNNH hay Con gà đẻ trứng Vàng), một si-că-đan  hồi thời VNCH. Lúc đó Tín Nghĩa Ngân Hàng là một trong những Ngân hàng có tiếng tại VN, có nhiều chi nhánh tại Saigon, Chợ Lớn và tại các tỉnh  [Vào 1969, sau khi đậu cao học kinh tế tôi có về làm tập sự tại Ngân hàng ở VN và được gởi đi nhiều chi nhánh để biết về các nghiệp vụ tài chính ngân hàng.]

Ban thanh tra ngân hàng của Ngân Hàng Quốc Gia có trách nhiệm theo dõi các nghiệp vụ cho vay của mọi ngân hàng có mặt tại VN.  Một người trong nhóm thanh tra có báo cáo ‘sơ hở’ trong quy trình cho vay của Tín Nghĩa Ngân Hàng và việc này đã trở thành si-căn-đan tài chính tại VN.  Ông chủ tịch Tổng Giám Đốc Tín Nghĩa Ngân Hàng đã dùng một số bộ hạ, người thân tín trong gia đình để vay các tín dụng.  Ông quên rằng những việc làm này cũng khó mà qua mắt các thanh tra ngân hàng của Ngân Hàng Quốc Gia. Các người đi vay có tài sản quá thấp làm sao có thể thế chấp để đi vay một số tín dụng khổng lồ của TNNH. Thật ra thì ông Nguyễn Tấn Đời (NTĐ) đã sử dụng những người này đứng tên vay tiền cho cá nhân ông và ông đã dùng các số tiền tín dụng này để đầu tư cho riêng cá nhân ông.

Hồi thời đó chưa có tin học hay máy computer cho nên muốn kiểm tra phải tới tận nơi và khám xét trực tiếp các hồ sơ cho vay (Các sổ sách và tính toán làm bằng tay hay bằng máy NCR).  Thống đốc Uyển đã trình TT Thiệu và thảo luận với nghành cảnh sát hình sự để giúp Ngân Hàng Quốc Gia đánh giá các hồ sơ cho vay của TNNH.

Thống đốc Lê Quang Uyển đợi lúc khi ông Nguyễn Tấn Đới đi nghỉ ở Đà Lạt để gởi các thanh tra ngân hàng làm cuộc truy tìm các hồ sơ tín dụng gian lận của TNNH.  Các thanh tra chặn các cửa của Tín Nghĩa Ngân Hàng ở bến Chương Dương không cho hồ sơ thoát ra ngoài. Trụ sở Tín Nghĩa Ngân Hàng không xa  Ngân Hàng Quốc Gia, có lẽ độ 1,000 m cùng ở bến Chương Dương. Qua việc kiểm tra này các thanh tra đã tìm thấy các hồ sơ tín dụng ‘dởm’. Lúc đó ông Nguyễn Tấn Đời là một Tổng Giám Đốc ngân hàng rất mạnh, có nhiều người che chở và việc kiểm tra sổ sách của TNNH là một kỳ công – phải được tổ chức như một chiến dịch quân sự. 

Qua việc thanh tra này ông Lê Tấn Đời đã bị đưa ra tòa. Ông bị tuyên án và phải vào khám Chí Hòa. Ở đây Thống đốc LQU đã làm đúng trách nhiệm của NHQG thanh tra hệ thống ngân hàng thương mại dưới quyền ông. Qua việc này ông đã chận các lạm dụng trong ngành tài chính.

Việc giúp các chuyên gia khối kinh tế tài chính – gởi đi làm việc tại các bộ

Một khó khăn của VNCH trong những năm 1970 là thiếu ngân sách và khó tuyển mộ chuyên viên vì lương thấp.  Trong kinh tế, muốn có thăng bằng ngân sách thì chinh phủ bán một số công khố phiếu ra cho công chúng. Với tiền công khố phiếu, chính phủ bù đắp thâm hụt ngân sách.

Ngân Hàng Quốc Gia (NHQG) có nhiệm vụ tham gia vào các chính sách tiền tệ và có đóng góp qua việc mua một số công khố phiều của chính phủ. NHQG mua một số công khố phiếu và tiền lời của công khố phiếu được bỏ vào một quỹ của Ngân Hàng Quốc Gia. Thống Đốc Uyển quyết định dùng số lời này để trả lương cho nhân viên kinh tế tài chính mà lúc đó VNCH rất thiếu và cần một số lời được chia cho nhân viên của Ngân Hàng Quốc Gia. Qua việc này, ông thống đốc giúp bồi đắp vào các chỗ hổng tài trợ chuyên viên mà trước đây cơ quan USAID tài trợ nhưng các ngân khoản viện trợ ngày càng giảm. Qua việc này, một số chuyên gia đã được gởi đi làm tại các bộ như Tài chính, Nha Thuế vụ hay bộ Kế Hoạch, nói chung mọi nơi cần chuyên gia.

Ông cũng có chương trình kéo các chuyên viên tài chính ngân hàng trẻ gia nhập Ngân Hàng Quốc Gia gây dựng nhân sự cho tương lai của ngân hàng.  Một số người trẻ, có khả năng và có tay nghề được tuyển mộ vào Ngân Hàng Quốc Gia làm trong văn phòng Thống Đốc.  

Ngoài việc dùng Quỹ tiền lời công khố phiếu, thống đốc Uyển còn sử dụng  Quỹ Phát Triển (QPT) Kinh tế Quốc Gia mà ông làm chủ tịch Hội Đồng Quản Trị (HĐQT) gởi các chuyên viên của QPT đi giúp các bộ. QPT là một chi nhánh - thành phần của NHQG được vốn của Hoa kỳ (USAID) trợ giúp.  Ngoài việc tái tài trợ các ngân hàng phát triển VN (Ngân Hàng Phát Triển Kỹ Nghệ, Ngân Hàng Phát Triển Nông nghiệp, SOFIDIV,vv.) Quỹ Phát Triển Kinh tế Quốc Gia có một số chuyên viên trẻ được gởi đi trợ giúp các Bộ Kế Hoạch, bộ Tài chính qua việc tham gia vào công tác xây dựng Kế Hoạch Phát Triển Hậu chiến, nhất là sau khi Hiệp Định Paris được ký.

Thống Đốc Lê Quang Uyển cũng cố vấn cho TT Thiệu chọn người trong khối Kinh tế Tài Chính, trong đó có việc giới thiệu ông Nguyễn Văn Hảo vào Quỹ Phát Triển và sau này làm phó Thủ Tướng đặc trách về Kinh tế Tài chính. 

Giữ 16 tấn vàng cho VN.

Trong những ngày chót của VNCH, Hoa Kỳ muốn VNCH đưa 16 tấn vàng gởi dự trữ tại Ngân Hàng Trung Ương tại New York (một việc làm bình thường vì đa số các nước đều có trương mục với ngân hàng FED New York). Sau khi bàn bạc, TĐ Lê quang Uyển đã quyết định gởi các thoi vàng đi Thụy Sĩ, tại Ngân Hàng Banque International Ressettlement - BIR tại Basle.

Theo kinh nghiệm thế giới, nhiều chính phủ Âu châu trước đây bị CS xâm chiếm đã gởi dự trữ vàng của họ tại đây để tránh chiến tranh và sau này giữ được tài sản quốc gia. Một kế hoạch đã được dựng lên để chở 16 T vàng sang Thụy Sĩ chứ không phải sang Hoa Kỳ. NHQG đã cho mướn một chuyến may bay để chở vàng này đi Thụy Sĩ.

Trong lúc hỗn loạn của những ngày miền Nam sắp mất, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích và máy bay được mướn chở vàng đã không có cơ hội đáp TSN và kế hoạch gởi vàng qua Thụy Sĩ đã không thực hiện được.

Vào các ngày chót một số nhân viên ngân hàng từ cấp cao đều được cấp Walkie Talkie để dễ liên lạc với nhau vào bảo vệ tài sản VN. Thống đốc LQU tử thủ trong NHQG và chỉ mở cửa NHQG khi CS mang nhiều xe tăng đến đòi bắn vào NHQG.

Cộng sản lúc nào cũng phao tin đồn là cựu TT Nguyễn Văn Thiệu đã mang 16 tấn vàng đi nước ngoài trong khi nhiều người cũng kể công về việc giữ số vàng này. Vậy sự thật ra sao ?  Bài báo sau đây của nhân chứng nói về kiểm tra vàng tại NHQG do báo Tuổi Trẻ đăng:



Bài viết trên tờ Tuổi Trẻ trích đoạn như sau:

“...Những ngày đầu tháng 5-1975, tôi vào trình diện tại Ngân hàng Quốc gia ở 17 Bến Chương Dương, thủ đô Sài Gòn cùng các đồng nghiệp khác, chỉ thiếu vắng một vài người. Chúng tôi được lệnh của Ban Quân quản Ngân hàng Quốc gia là chờ phân công tác. Trong khi chờ đợi, mỗi ngày mọi người đều phải có mặt tại cơ quan.
Lần kiểm kê cuối cùng … … Việc kiểm kê kho tiền và vàng là việc chúng tôi làm thường xuyên hằng tháng, hằng năm nên cảm thấy không có gì đặc biệt. Chỉ có một điều là tôi biết lần kiểm kê này chắc chắn là lần kiểm kê cuối cùng đối với tôi, kho tiền và vàng sẽ được bàn giao cho chính quyền mới. Tôi không lo âu gì cả vì biết chắc rằng số tiền và vàng nằm trong kho sẽ khớp đúng với sổ sách.

Trong những ngày hỗn loạn, các hầm bạc của Ngân hàng Quốc gia vẫn được chúng tôi quản lý một cách tuyệt đối an toàn. Cần nói thêm là các hầm bạc được xây rất kiên cố với hai lớp tường dày, mỗi lớp gần nửa thước, các cửa hầm bằng thép có hai ổ khóa và mật mã riêng, được thay đổi định kỳ, mỗi cửa nặng trên 1 tấn.

Đại diện Ban Quân quản là một cán bộ đứng tuổi, khoảng 50. Cùng tham gia với ông trong suốt quá trình kiểm kê là một anh bộ đội còn rất trẻ, trắng trẻo, đẹp trai và rất thân thiện. Anh hay nắm tay tôi khi trò chuyện. Sau này tôi mới biết tên anh là Hoàng Minh Duyệt - chỉ huy phó đơn vị tiếp quản Ngân hàng Quốc gia.

Số vàng đúc lưu giữ tại kho của Ngân hàng Quốc gia vào thời điểm đó gồm vàng thoi và các loại tiền vàng nguyên chất. Có ba loại vàng thoi: vàng thoi mua của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED); vàng thoi mua của một công ty đúc vàng ở Nam Phi - Công ty Montagu; và vàng thoi được đúc tại Việt Nam, do tiệm vàng Kim Thành đúc từ số vàng do quan thuế tịch thu từ những người buôn lậu qua biên giới, phần lớn từ Lào.

Tất cả những thoi vàng đều là vàng nguyên chất, mỗi thoi nặng 12-14kg, trên mỗi thoi đều có khắc số hiệu và tuổi vàng (thường là 9997, 9998). Các thoi vàng được cất trong những tủ sắt có hai lớp khóa và được đặt trên những kệ bằng thép, mỗi kệ được xếp khoảng năm, sáu thoi vàng. Nhưng qua năm tháng, bị nặng trĩu trước sức nặng của vàng, các kệ thép cũng bị vênh đi. 

Các đồng tiền vàng được giữ trong những hộp gỗ đặt trong tủ sắt. Đó là những đồng tiền vàng cổ có nhiều loại, được đúc và phát hành từ thế kỷ 18, 19 bởi nhiều quốc gia khác nhau... Ngoài giá trị của vàng nguyên chất, các đồng tiền này còn được tính theo giá trị tiền cổ, gấp nhiều lần giá trị vàng nội tại của nó. Tất cả số vàng thoi và tiền vàng cổ đều được theo dõi chi tiết từng đơn vị, số hiệu, tuổi vàng, số lượng ghi trong một sổ kiểm kê do bộ phận điện toán (computer) của ngân hàng theo dõi định kỳ hằng tháng và hằng năm, hoặc bất cứ khi nào có thay đổi xuất nhập tồn kho. Kết thúc, ai nấy đều vui vẻ thấy số lượng tiền và vàng kiểm kê đều khớp với sổ sách điện toán từng chi tiết nhỏ. Tôi ký vào biên bản kiểm kê, lòng cảm thấy nhẹ nhõm. Việc bàn giao tài sản quốc gia cho chính quyền mới đã hoàn tất. Sau chiến tranh, ít nhất đất nước cũng còn lại một chút gì, dù khiêm tốn, để bắt đầu xây dựng lại. Về phía chúng tôi, điều này cũng chứng minh một cung cách quản lý nghiêm túc của những người đã từng làm việc tại Ngân hàng Quốc gia...”

Tác giả Huỳnh Bửu Sơn cũng liệt kê từng tủ và từng Hầm kho tàng. Và cuối bài viết, ông ghi: 
“Tổng cộng: 1.234 thoi vàng.”

Qua việc bảo tồn tài sản quốc gia, việc này cho thấy là các công chức của NHQG và đứng đầu là Thống đốc Lê Quang Uyển đã làm việc một cách nghiêm túc – với tinh thần trách nhiệm của một công chức. Đó là niềm hãnh diện cho VNCH, không bỏ chạy (tình thần trách nhiệm) và rất trung thực. Thống đốc Lê Quang Uyển là một gương soi sáng cho thế hệ trẻ - cho tinh thần trách nhiệm của công chức miền Nam.

Thống Đốc Lê Quang Uyển và tù cải tạo

Ông Uyển, cũng như những người khác, đã phải đi cải tạo trên 3 năm  trong Nam (1975-1979). Trái với ông phó Thống Đốc Ngân Hàng Quốc Gia ông Dõng, ông không trình diện liền khi CS kêu gọi thành phần nội các ra trình diện học tập. (Họ không biết là Thống Đốc Ngân Hàng Quốc Gia có hàm bộ trưởng.) Ông Phó Thống Đốc Dõng đã ra trình diện và ông ta đã chết tại trại tù Thanh Cẩm, tỉnh Thanh Hóa. (Tác giả bài viết này còn gặp bà Dõng tại Saigon khi bị trục xuất ra khỏi nhà tại NHQG khi tôi đi cải tạo về vào 1979).

Ông Uyển là một sĩ quan VNCH cấp đại úy và đã ra trình diện khi CS gọi các sĩ quan cấp đại úy trình diện. Ông bị đi cải tạo 3 năm. 

Ông LQU đã đi Pháp cùng vợ vì bà vợ chị Geneviève LyLap (một huynh trưởng nữ hướng đạo hệ Scout et Guide de France) là công dân Pháp và là nhân viên Tòa Đại sứ Pháp tại Saigon.

Năm 1981 ông Uyển tham gia vào ngân hàng Banque Indosuez.Ông được gởi làm giám đốc chi nhánh tại Saudi Arabia và ở đây đến 1990. Ông đứng đầu chi nhánh "Al BankAl Saudi Al Fransi" (Saudi French Bank), ngân hàng duy nhất của Pháp tại Arập Saoudi. Sau 1990 ông LQU được phái đi làm cho nhiều chi nhánh của ngân hàng Indosuez tại nhiều nước khác nhau.

Ông Lê Quang Uyển đã về hưu tại Chiang Mai, Thái Lan. Ông là hình ảnh một công chức VNCH có tư cách và có tinh thần trách nhiệm rất cao. Trong dịp 49 ngày ông qua đời (ba má và gia đình ông LQU theo đạo Cao Đài), tôi viết vài hàng này để đề cao tinh thần trách nhiệm của cựu Thống Đốc Lê Quang Uyển.

Với tư cách một chuyên viên trẻ đã từng có thời gian làm việc với ông, tôi xin thành kính chia sẻ nỗi buồn với chị Uyển trong sự mất mát này và cầu mong ông sớm được về miền Cực Lạc.

TS Đinh Xuân Quân

* TS Đinh Xuân Quân là cựu nhân viên Quỹ Phát Triển trực thuộc NHQG. Ông là cựu GS Đại Học Luật Khoa, ban Kinh tế, Đại Học Saigon (khóa 1974-1975). Hiện nay ông là chuyên gia cố vấn kinh tế cho LHQ (UNDP+World Bank) và USAID tại nhiều nước như Afghanistan, Iraq, Indonesia vv.