Search This Blog

Sunday, November 19, 2017

Ăn chậm dưỡng sinh, ăn nhanh ‘tổn thọ’
Inline images 1
Một nghiên cứu ở hơn 1.000 người trung niên cho thấy những người ăn nhanh có nguy cơ mắc hội chứng chuyển hoá (béo phì, huyết áp cao, đường máu và cholesterol) cao gấp 5,5 lần so với những người ăn chậm.
Theo TS. Takayuki Yamaji, bác sỹ tim mạch tại Đại học Hiroshima (Nhật Bản) kết quả của nghiên cứu 5 năm này (bắt đầu từ 2008) cho thấy 11,6% nhóm ăn nhanh đã mắc hội chứng chuyển hóa trong khi ở nhóm có tốc độ ăn bình thường là 6,5%, và chỉ 2,3% ở những người ăn chậm.
alt
Ăn nhanh có nguy cơ mắc hội chứng chuyển hoá cao gấp 5,5 lần so với những người ăn chậm.
 

Theo đó, 642 nam giới và 441 nữ giới ( tuổi trung bình là 51) đều khỏe mạnh khi bắt đầu tham gia nghiên cứu. Họ được chia thành 3 nhóm theo nhận định của bản thân họ về tốc độ ăn uống là chậm, bình thường hay nhanh.
Nghiên cứu đã phát hiện ra rằng ăn chậm và cắn miếng nhỏ hơn giúp chúng ta có cảm giác đói ít hơn một giờ so với những người nuốt chửng thức ăn. Và những người ăn chậm cũng uống nhiều hơn nên nhanh no hơn.
Tiến sĩ Yamaji nói: “Khi mọi người ăn nhanh, họ sẽ không cảm thấy no và như thế, có thể sẽ ăn quá nhiều. Ăn nhanh khiến glucose tăng bất thường và có thể dẫn đến kháng insulin”.
Ăn chậm có chỗ nào tốt?
alt
Qua kiểm tra của điện não đồ, khi cơ nhai vận động, lượng máu trong não cũng tăng, tránh thiếu máu não. 

Nhai kỹ đối với tiêu hóa mà nói, quan trọng vô cùng. Bởi vì nó có thể thông qua mùi vị của thức ăn truyền dẫn tín hiệu đến dạ dày ruột, thông tin cho chúng biết có những chất béo, đạm và carbohydrate nào đang trên đường, như vậy ruột sẽ chuẩn bị enzym tương ứng để nghênh tiếp đồng thời phân giải chúng.
Quá trình này, không chỉ để hấp thụ dinh dưỡng từ trong thực phẩm, mà còn là để đảm bảo chắc chắn thức ăn không bị đình trệ tại chỗ cũ, để tránh những thức ăn đọng lại sau khi thối rữa sinh ra khí, đồng thời dẫn tới những phiền phức như táo bón, tiêu chảy và chứng không dung nạp thức ăn (chán ăn)…
Qua kiểm tra của điện não đồ, khi cơ nhai vận động, lượng máu trong não cũng tăng, tránh thiếu máu não, đồng thời còn giúp phòng chống căn bệnh Azheimer’s Disease. Nhất là người lớn tuổi, nên siêng nhai thức ăn. Có hàm răng khỏe, cần tranh thủ ăn những thứ cần độ nhai, giúp tăng lưu lượng máu trong não, qua đó tránh được bệnh tật.
Một nghiên cứu trước đây của các chuyên gia thuộc Trường Đại học North Carolina đã phát hiện ra rằng “ăn uống có tâm” tức là thưởng thức từng miếng ngon, tập trung vào mùi vị và “ăn uống có chủ đích” giúp chúng ta giảm trọng lượng gấp 6 lần so với những người nhịn ăn để cố giảm cân.
Họ đã phát hiện ra rằng tuân theo quy tắc “ăn uống có tâm” này, những người thừa cân đã giảm được 1,9kg trong 15 tuần trong khi những người nhịn ăn để giảm cân chỉ giảm được 0,2kg.
Theo đó, các nhà nghiên cứu cũng khuyến khích tắt tivi vào bữa tối và không ăn trưa tại bàn làm việc.
Ăn chậm nhai kỹ
Nhiều người ví miệng như cái bao tử đầu tiên, nơi đây, thực phẩm đi qua chặng đầu của quá trình tiêu hóa trước khi được đưa xuống bao tử thứ hai. Nếu bạn không để cho bao tử đầu tiên làm việc, bao tử thứ hai phải lãnh hết mọi trách nhiệm nặng nề, và trở nên suy yếu sau vài mươi năm lao tác. Không những thế, thức ăn không qua “cửa ải” thứ nhất sẽ trở thành một thứ phá hoại khi nó vào đến dạ dày.
Do đó, hãy ăn chậm, nhai kỹ khoảng 30 lần trước khi nuốt xuống là bước quan trọng đầu tiên để làm cho thức ăn nhuyễn giúp tiêu hóa dễ dàng. Khi ăn bất cứ thứ gì, thì nó cần phải được tiêu hóa trong miệng trước khi tiêu hóa trong dạ dày.
Những thức ăn có nhiều protein như thịt, cá, gà thì không cần phải nhai nhiều như những thức ăn từ bột. Nhưng dù sao thì bạn cũng nên nhai cho nhuyễn. Nếu thức ăn càng được nhai kỹ thì tính dinh dưỡng của nó càng gia tăng.
Hãy thử nhai cơm 30 lần cho nhuyễn, bạn sẽ cảm thấy vị ngọt của cơm. Điều này có nghĩa là nếu bạn biết nhai kỹ thức ăn thì lượng thức ăn mà bạn cần sẽ giảm đi phân nửa.
Không những thế, nhai kỹ giúp giảm nguy cơ mắc ung thư. Các nhà y học Nhật Bản cho rằng: nhai kỹ trong 30 giây sẽ khiến các độc tố gây bệnh ung thư mất tác dụng gây bệnh. Đây có thể chính là tác dụng của nước bọt.
Cao Sơn

"Nhất Đái Nhất Lộ" - vòng kim cô cho Việt Nam

HUỆ VŨ
Inline images 1

Người Việt dù ghét cay, ghét đắng đi nữa cũng phải thấy thực tế là bài diễn văn của Tập Cận Bình đọc trong hội nghị APEC ở Đà Nẵng đã nhận được những tràng pháo tay của thính giả trong hội trường. Thính giả là người của 21 nước APEC, hầu hết tin tưởng vào sự thành công của tự do thương mại, các hiệp ước tự do mậu dịch. Các tràng pháo tay khác đã nổi lên khi họ Tập đề cập tới Diễn Đàn Vành Đai và Con Đường (Belt and Road Forum-BRF) được tổ chức trong trung tuần tháng 5/17 ở Bắc Kinh. 

alt

(Abode of Chaos' flickr photostream)



Họ Tập tuyên bố: "Sáng kiến này là từ Trung Quốc, nhưng nó thuộc về thế giới. Nó bắt nguồn từ lịch sử, nhưng nó định hướng cho tương lai. Nó tập trung vào Châu Á, Châu Âu và Châu Phi, nhưng mở cửa cho các đối tác." 

Ông ta tin tưởng sáng kiến Vành Đai và Con đường sẽ tạo ra một nền tảng rộng hơn và năng động hơn cho hợp tác Á Châu-Thái Bình Dương.

Trên 2000 năm trước, vào năm 138 trước Tây Lịch, Trương Khiên (Zhang Qian) nhận lệnh Hán Vũ Đế công du các nước Tây Vực và ông ta đã đặt được liên hệ ngoại giao với nhiều nước Trung Á. Khi trở về ông ta mang theo nhiều sản phẩm quý giá, và viết cuốn Triều Dã Kim Tài, tả lại sự giàu có của các nước đã đi qua. Từ đó người Hán bắt đầu mang lụa qua các nước Trung Á để trao đổi, hình thành con đường tơ lụa từ Trường An đi tới tận Ba Tư (Iran) và La Mã. Vào đời Minh, con đường bộ Tơ Lụa chuyển qua đường biển.

Vào tháng 4/2012, Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk đã tổ chức Diễn Đàn Con Đường Tơ Lụa Mới (New Silk Road) với sự tham dự của hầu hết nguyên thủ các nước Đông Âu, và Thủ Tướng Ôn Gia Bảo đã tuyên bố dự án Cơ Sở Âu Á sẽ nối liền hai lục địa bằng đường bộ, đường tàu lửa và đường biển. Nhưng Sáng kiến "Nhất Đái Nhất Lộ," Một Vành Đai Một Con Đường (One Belt One Road) gọi tắt là OBOR chia làm hai nhánh gồm Vành Đai Kinh Tế Con Đường Tơ Lụa (SREB -Silk Road Economic Belt) và Đường Hàng Hải Tơ Lụa (MSR -Maritime Silk Road) đã được Tập Cận Bình giới thiệu lần đầu tiên trong chuyến viếng thăm Trung Á vào tháng 9 năm 2013 và viếng thăm Nam Dương (Indonesia) trong tháng 10 năm 2013. Vào giữa năm 2016, Tập Cận Bình đã chính thức gọi OBOR là Belt and Road Initiative (BRI).

Tính cho tới nay đã có 68 quốc gia tham gia BRI, chiếm gần 60% dân số và gần 40% Tổng sản lượng (GDP) toàn cầu. BRI có sáu hành lang (HL) chính: HL Cầu Đất Âu Á Mới (New Eurasian Land Bridge) chạy từ Hoa Tây tới Miền Tây Nga, đi xuyên qua Kazakhstan; HL Hoa-Mông-Nga chạy từ Hoa Bắc tới Đông Nga; HL Hoa-Trung Á-Tây Á, chạy từ Hoa Tây tới Thổ Nhĩ Kỳ; HL Trung Quốc- Đông Dương, chạy từ Hoa Nam tới Singapore; HL Hoa-Miến-Bagladesh-Ấn, chạy từ Hoa Nam tới Ấn Độ; HL Trung Quốc-Pakistan chạy từ Tây Nam Trung Quốc tới Pakistan; và đường hàng hải chạy từ các hải cảng Trung Quốc tới Địa Trung Hải qua kênh đào Suez đi tới Âu Châu.

Trước cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu (2007-2008), mức phát triển của Trung Quốc là 11%, nhưng sau đó suy giảm mạnh, con số thặng dư mậu dịch cũng giảm nhiều. Bắc Kinh đẩy mạnh BRI không chỉ là chiến lược phát triển kinh tế trong giai đoạn kinh tế bắt đầu suy giảm, nhằm tiêu thụ xi măng, sắt thép đang dư thừa, và chuyển hướng dùng số tiền dự trữ mua công khố phiếu Hoa Kỳ có tiền lời rất thấp qua đầu tư có lợi hơn, mà Bắc Kinh còn nhắm cạnh tranh với Hiệp Ước Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) do Hoa Kỳ và Nhật lãnh đạo. Và dĩ nhiên đàng sau là tham vọng vô cùng lớn, mong mở rộng ảnh hưởng kinh tế trên 3 châu lục, thực hiện chủ nghĩa Đại Hán bằng kinh tế. Họ Tập tuyên bố BRI là hy vọng của thế kỷ!

Thất bại của TPP sau khi Hoa Kỳ rút lui tạo thêm thuận lợi cho Trung Quốc, giúp Trung Quốc có khoảng trống để thúc đẩy BRI. Các nước đang chơ vơ sau khi Hoa Kỳ rút khỏi TPP, quay về chủ nghĩa bảo vệ, sẽ chỉ còn hy vọng BRI với số tiền đầu tư dự trù lên tới $1,600 tỷ Mỹ kim của Bắc Kinh sẽ giúp cải thiện cơ sở hạ tầng và gia tăng thương mại. Phi Luật Tân là nước đang có tranh chấp với Trung Quốc về lãnh hải, một quốc gia đồng minh lâu đời của Hoa Kỳ, cũng đã trở thành một nước đặt nhiều hy vọng ở BRI.

Qua BRF ở Bắc Kinh trong tháng 5/17, Trung Quốc hứa hẹn trong vòng 10 năm tới đầu tư mỗi năm $150 tỷ. Tập Cận Bình cũng cho biết thương mại giữa Trung Quốc và các nước BRI từ năm 2014 tới 2016 đã lên trên $3,000 tỷ và Trung Quốc đã đầu tư vào các nước trên $50 tỷ. Trong năm 2016, các công ty Trung Quốc đã mua tài sản ở hải ngoại trên $220 tỷ, họ mua bất cứ thứ gì, từ nhà hát cho tới các câu lạc bộ túc cầu ở Âu Châu. Trong năm nay, Trung Quốc đã ký 109 hợp đồng ở các nước BRI, so với 175 trong năm 2016 và 134 trong năm 2015. Hợp đồng lớn nhất trong năm nay là mua tập đoàn Global Logistics Properties của Singapore với số tiền $11.6 tỷ.

Trong năm 2013, Trung Quốc đã vận động thành lập Ngân Hàng Đầu Tư Hạ Tầng Á Châu (Asian Infrastructure Investment Bank - AIIB), khi AIIB bắt đầu hoạt động vào cuối năm 2016 đã có 63 nước tham gia, trong đó có nhiều nước Tây Âu. Số tiền vốn huy động của AIIB là $100 tỷ, là một trong những ngân hàng tài trợ cho các chương trình kiến thiết hạ hạ tầng cơ sở ở các nước BRI.

Tham vọng lớn của Bắc Kinh cũng đã và đang gặp nhiều trở lực và bất lợi từ dân chúng các nước, cho tới bối cảnh chính trị và gặp nhiều nghi ngại của các nước lớn khác. 

Công ty COSCO đang làm chủ 67% hải cảng Piraeus của Hy Lạp đã bị công nhân bến tàu biểu tình nhiều lần vì sự lạm dụng sức lao động và trả lương thấp.

Hiện đang có trên 10,000 công ty Trung Quốc hoạt động ở Phi Châu và họ đã đưa trên 250,000 công nhân qua Phi Châu làm việc, nhiều công ty Trung Quốc hoàn toàn không thuê người dân địa phương. Điều này đang gây tức giận cho người bản xứ và họ coi Trung Quốc là một nước Thực Dân Mới. Các nhóm Nhân Quyền cũng đang lên án điều kiện làm việc tại các công ty Trung Quốc ở Phi Châu.

Trong ba năm qua, ít nhất 54 công nhân Pakistan làm việc trong các công trình BRI bị giết. Hải cảng Gwadar nằm trong tỉnh Balochistan là cái nôi của phong trào Tân Taliban chống chính phủ, các công trình của Trung Quốc trong tỉnh Balochistan đang phải đối diện với phong trào khủng bố và các công trình này trở thành mục tiêu của chúng.

Ấn Độ đang ngờ vực các công trình mở đường sá trong Hành Lang Kinh Tế Trung Quốc-Pakistan. Trong tháng 7 năm nay, Tích Lan (Sri Lanka) cho công ty China Merchants Port Holdings thuê hải cảng Hambantoba 99 năm làm nhiều nhà bình luận Ấn Độ lên tiếng báo động Trung Quốc đang bao vây Ấn Độ. Lo ngại tham vọng của Trung Quốc đã làm cho Ấn Độ không gởi phái đoàn qua tham dự BRF ở Bắc Kinh. Để chống lại BRI, Ấn Độ còn đề nghi với Nga mở Hành Lang Giao Thông Quốc Tế Nam Bắc (International North-South Transport Corridor- INSTC) nhưng chưa được Nga đồng ý.

Trung Quốc đang tiến hành nhiều công trình ở Trung Á nhưng đang gặp chống đối rất mạnh của dân chúng. Theo kết quả các cuộc thăm dò, đa số người dân Kazakhstan và Kyrgyzstan coi Trung Quốc là mối đe dọa. Nhiều cuộc biểu tình phản đối các công ty Trung Quốc đối xử tệ bạc với công nhân bản xứ đã diễn ra. Trong năm 2015, công nhân người Kazakhstan và Trung Quốc đã đánh nhau tại một mỏ đồng do một công ty Trung Quốc khai thác.

Nga đang mạnh mẽ ủng hộ BRI, nhưng Nga và Trung Quốc có thể sẽ xảy ra tranh chấp ở Trung Á, vì xung đột quyền lợi giữa Liên Minh Kinh Kế Âu-Á đang do Nga lãnh đạo và mục tiêu BRI. Người Nga ở Miền Đông Nga cũng đang tỏ ra không ưa sự hiện diện của các công ty Trung Quốc.

Qua bài diễn văn ở BRF tháng 5/17, Tập Cận Bình đã nhấn mạnh năm điểm: Một là phải làm cho BRI thành con đường tiến tới hòa bình, Hai là con đường đi tới thịnh vượng, Ba là con đường đi tới mở cửa, Bốn là con đường đi tới canh tân, và Năm là con đường kết nối, trao đổi các nền văn hóa. 

Tuy nhiên, lời nói của Tập Cận Bình có đi đôi với việc làm, các công ty Trung Quốc có làm cho người dân các nước cảm thấy Trung Quốc thân thiện và có thiện chí cùng tiến tới hòa bình thịnh vượng hay không, hay càng ngày họ cảm thấy Trung Quốc là mối đe dọa lớn lại là hai điều khác nhau. Cảm nhận thứ nhất sẽ làm cho BRI thành công, cảm nhận thứ nhì sẽ làm cho BRI thất bại. Hòa Bình Trung Quốc -Pax Sinica trở thành giấc mộng.

Các nước Đông Nam Á đang là vùng giao thương lớn hàng thứ ba của Trung Quốc. Vào năm 2015, thương mại song phương lên tới $472 tỷ. Hai bên tin tưởng giao thương song phương sẽ lên $1,000 tỷ vào năm 2020. Tuy nhiên, việc Trung Quốc chiếm đoạt các hải đảo Việt Nam, vẽ đường lưỡi bò ở Biển Đông đã làm cho dân chúng nhiều nước Đông Nam Á nghi ngại tham vọng bá quyền của Bắc Kinh. Mặc dù Luật Hành Xử (COC) của hai bên đã được thi hành ở Biển Đông từ năm 2013, Trung Quốc vẫn tiếp tục vi phạm và hành xử thô bạo trong vùng.

Đối với Việt Nam, Tập Cận Bình kêu gọi kết hợp BRI với sáng kiến "Hai Hành Lang -Một Vành Đai" của Việt Nam.

CSVN đã đưa ra sáng kiến "Hai Hành Lang - Một Vành Đai" vào năm 2004 nhằm mở rộng giao thương với phương Bắc. Hành lang thứ nhất là Quảng Tây- Quảng Ninh -Hải Phòng; hành lang hai là Vân Nam-Lào Cai-Hà Nội- Hải Phòng. Vành đai gồm các tỉnh Hoa Nam và Bắc Việt. 

Tuy nhiên, vào năm 2006, "Hai Hành Lang - Một Vành Đai" dưới áp lực của Bắc Kinh đã trở thành "Một Trục Hai Cánh." Một Trục là từ Nam Ninh kéo tới Singapore. Hai cánh gồm Cánh Trái mở rộng cộng tác vùng sông Mekong, Cánh Phải mở rộng hợp tác vùng Vịnh Bắc Phần. VN đang là thị trường lớn nhất của Trung Quốc ở Đông Nam Á, các công ty Trung Quốc đã đầu tư rất lớn ở VN, trong đó có mua đất, lập khu chung cư. 

Hiện giờ con số du khách Trung Quốc chiếm 50% con số du khách tới VN mỗi năm. Số tiền Ngoại Quốc Đầu Tư Trực Tiếp (FDI) của Trung Quốc ở VN vào Đệ Nhất Tam Cá Nguyệt năm 2017 lên trên $800 triệu, chiếm 10.8% FDI đổ vô VN. Hầu hết các công trình do FDI Trung Quốc tài trợ nhằm khai thác tài nguyên và công nhân rẻ hơn ở VN. Nhiều công trình của Trung Quốc đã tạo ô nhiễm môi trường nặng nề.

Kinh tế VN có thể nói là đang lệ thuộc Trung Quốc rất lớn. CSVN đã tự đặt vòng kim cô "Một Trục Hai Cánh" cho chính mình, và đang đội thêm vòng kim cô "Nhất Đái Nhất Lộ" của Bắc Kinh sẽ càng khó vùng vẫy.
Rất có thể để trấn an các nước Đông Nam Á, Trung Quốc sẽ có thái độ hòa dịu hơn ở Biển Đông, giảm bớt các hành động hung hăng, không quan tâm tới các chuyến hải hành FONOF (Freedom of Navigation Operations) của hải quân Hoa Kỳ (dù đã ngưng trệ), có thể sẽ có những nhượng bộ nào đó với Phi Luật Tân, nhưng khi chế độ CSVN không mạnh mẽ đặt vấn đề tranh chấp lãnh hải và hải đảo, thì Bắc Kinh sẽ không bao giờ đề cập tới vấn đề này. Chế độ tham nhũng, giới chức chính quyền từ trung ương tới địa phương của VN rất dễ dàng mua chuộc và giới thương gia, đầu tư Trung Quốc lại là những người rất khéo léo trong việc mua chuộc, cho nên khó biết VN đi về đâu với vòng kim cô "Nhất Đái Nhất Lộ."

Tinh thần chống Trung Quốc của người Việt Nam dù đang rất cao, nhưng cứ bùng lên rồi tắt. Bắc Kinh hình như chỉ cần cứ tiếp tục nắm đầu Hà Nội là đủ.
Cùng lội ngược dòng sử Việt, đi tìm 3 người thầy vĩ đại nhất mảnh đất hình chữ S
Inline images 1
Nổi tiếng với đủ ba yếu tố: Tâm, tầm và tài, những “người chèo đò” vĩ đại này mãi mãi được sử sách Việt Nam lưu danh.
1. Thầy giáo Chu Văn An (1292-1370)
Ngược dòng thời gian trở về hơn 600 năm trước để cùng tìm hiểu về một người thầy lỗi lạc mà nhân dân đời đời ngưỡng mộ – thầy Chu Văn An, người đã có công lớn trong việc xây dựng Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Cả cuộc đời thầy đã “làm thầy giỏi của một thời đại, để đạt tới thầy giỏi của muôn đời”, dạy dỗ Vua Trần Hiển Tông và đào tạo ra những vị quan có tài và thanh liêm cho triều đình nhà Trần.
Trong thời gian đứng đầu Quốc Tử Giám, thầy Chu Văn An có nhiều đóng góp trong việc hoàn thiện chương trình truyền dạy tư tưởng Nho giáo vào Việt Nam và được lưu danh là “ông tổ của đạo Nho ở Việt Nam”. Thầy là người tài cao đức trọng, giữ chức Tư nghiệp đầu tiên và trong một thời gian dài, cũng là người đầu tiên được đưa vào thờ tại Văn Miếu.
Thầy Chu Văn An từng thi đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) nhưng không ra làm quan mà mở trường dạy học ở quê nhà (làng Huỳnh Cung bên sông Tô Lịch (Hà Nội). Thầy nổi tiếng có học vấn sâu rộng, tư cách thanh cao, không cầu danh lợi, danh tiếng lan xa, học trò theo học rất đông.
Thầy Chu Văn An luôn đối xử bình đẳng và công bằng với các lứa học trò từ bậc cao nhất cho đến lớp học trò bình thường ở nông thôn. Thầy cũng rất nghiêm nghị và gương mẫu. Những học trò cũ đã làm quan to như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát lúc về thăm thầy vẫn phải khép nép giữ gìn, và nếu có điều gì chưa đúng phép, thầy vẫn nghiêm khắc dạy bảo. Điều này càng khiến thầy được học trò kính mến hơn.
alt
Thầy Chu Văn An được tôn là Vạn thế sư biểu – người thầy chuẩn mực của Việt Nam muôn đời

Thầy được tôn là Vạn thế sư biểu – người thầy chuẩn mực của Việt Nam muôn đời. Trần Nguyên Đán đã đánh giá về những đóng góp của thầy như sau: Nhờ có Chu Văn An mà “bể học xoay làn sóng, phong tục trở lại thuần hậu”.
Sự liêm khiết, chính trực và công tâm của Thầy giáo Chu Văn An cũng nhắc nhở những thế hệ nhà giáo luôn vì sự tiến bộ của giáo dục, sự nâng cao dân trí mà không ngừng phấn đấu để làm phong phú và dồi dào nguồn nguyên khí quốc gia. Không phải chỉ 6 thế kỷ qua, mà hàng thiên niên kỷ sau, có lẽ người ta vẫn không thôi nhớ đến người thầy vĩ đại đã dành cả cuộc đời chở đạo, những công lao và tiếng thơm về thầy đã khắc sâu trong tâm tưởng mỗi con dân Việt từ thủa ấu thơ.
2. Thầy giáo Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585)
Một cây đại thụ tỏa rợp bóng ở thế kỷ XVI – Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ là một danh nhân văn hóa, một nhà thơ lớn, một bậc hiền triết, một nhà tiên tri đại tài mà còn là một nhà giáo vĩ đại, một bậc sư biểu được người đời tôn vinh, ngưỡng mộ.
Thầy Nguyễn Bỉnh Khiêm thi đỗ Giải Nguyên đời nhà Mạc (1527-1592). Làm quan được 8 năm, năm 1542, thầy dâng sớ hạch tội 18 lộng thần nhưng không được vua nghe nên xin cáo quan về ở ẩn lập Am gọi Bạch Vân Am và hiệu Bạch Vân Cư Sĩ mở trường dạy học.
Hơn 40 năm lui về Bạch Vân am dạy học là hơn 40 năm thầy dồn hết tâm huyết đào tạo nhiều tri thức lớn cho đất nước. Học trò của thầy đều là những nhân tài xuất chúng, văn võ song toàn như Phùng Khắc Khoan, Lý Hữu Khánh, Nguyễn Quyện… Danh tiếng và tài năng của thầy và trường Bạch vân bên dòng Tuyết Giang vang dội khắp nơi. Thầy được các môn sinh tôn là “Tuyết Giang phu tử”  – Một danh xưng tôn kính cho những bậc sư biểu đức độ.
alt
“Tuyết Giang phu tử” – Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà tiên tri số 1 Việt Nam.

Đồn rằng, do được truyền cho quyển “Thái ất thần kinh” nên thầy Nguyễn Bỉnh Khiêm tinh thông về lý học, tướng số, có thể tiên đoán được biến cố trước và sau 500 năm. Với những câu “sấm truyền”, thầy được người đời suy tôn là “nhà tiên tri” số một của Việt Nam. Giai thoại cùng với những lời sấm tiên tri của thầy vẫn còn được truyền tụng tận đến ngày hôm nay và ứng nghiệm đến bất ngờ.
Lúc sinh thời, thầy đã dùng tài lý số của mình “cứu vãn” cho triều nhà Mạc tồn tại được một thời gian khá dài. Tương truyền rằng, lúc nhà Mạc sắp mất liền sai người đến hỏi thầy. Thầy đã đưa ra lời sấm cho nhà Mạc rằng: “Cao Bằng tàng tại, tam đại tồn cô”. Nghĩa là nếu chạy lên Cao Bằng thì sẽ tồn tại được 3 đời. Quả nhiên, nhà Mạc lên Cao Bằng thì tồn tại được thêm 3 đời.
Thầy cũng đưa ra lời sấm cho nhà Nguyễn, mà nhờ đó nhà Nguyễn mới tiến vào Nam mở rộng bờ cõi để đất nước ta có hình thái như ngày hôm nay.
Còn với triều đại thứ 3 cùng tồn tại khi ấy là nhà Trịnh, thời điểm vua Lê Trung Tông mất không có người nối dõi, Trịnh Kiểm định soán ngôi nhà Lê nhưng chưa dám quyết nên đã sai người tới hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm. Thầy cũng chỉ nói: “Giữ chùa thờ phật thì ăn oản”, ý nói giữ là bề tôi của các vua Lê thì lợi hơn. Trịnh Kiểm nghe theo liền sai người đi tìm tôn thất nhà Lê đưa lên ngôi. Họ Trịnh mượn tiếng nhà Lê nhưng thực chất nắm quyền điều hành chính sự, hai bên cùng tồn tại tới hơn 200 năm. Vì thế mà có câu: Lê tồn, Trịnh tại.
Có đôi câu đối ở đền thờ Bạch Vân am “Kế tuyệt, phù suy Chư Cát Lượng/ Tri lai, tàng vãng Thiệu Nghiên Phu” (Nối được cái đã đứt, đỡ được cái đã suy như Chư Cát Lượng/Tìm hiểu việc đã qua, dự đoán việc mai sau như Thiệu Nghiên Phu). Tiếng tăm của thầy không chỉ nổi ở trong nước mà còn vang đến tận Trung Hoa, khiến giới học giả ở đó cũng ngưỡng mộ xưng tụng: “An Nam lý số hữu Trình Tuyền”.
3. Thầy giáo Lê Quý Đôn (1726-1784)
Lê Quý Đôn nguyên là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng; cha là tiến sĩ Lê Trọng Thứ, quê ở Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Ngay từ nhỏ thầy đã nổi tiếng thông minh, chăm học. Năm 14 tuổi, thầy theo cha lên học ở kinh đô Thăng Long. Lúc ấy thầy đã học xong toàn bộ sách kinh, sử của Nho gia. 18 tuổi, thầy thi Hương đỗ Giải Nguyên. 27 tuổi đỗ Hội Nguyên, rồi đỗ Đình Nguyên Bảng nhãn.
Sau khi đã đỗ đạt, thầy được bổ làm quan và từng giữ nhiều chức vụ quan trọng của triều Lê – Trịnh. Thầy là người học rộng, tài cao, am thông nhiều lĩnh vực như: khoa học tự nhiên, địa lý, khoa học xã hội, văn chương, sử học,… luôn được vua, quan và nhân dân kính nể.
Thầy Lê Quý Đôn không chỉ là một nhà bác học mà còn là người thầy xuất sắc ở nước ta hồi thế kỷ XVIII. Thầy từng mở trường dạy học, có nhiều học trò theo học, và còn lưu được ân tình đằm thắm đối với học sinh. Thầy phụ trách các kỳ thi, lo lắng quan tâm tới việc đào tạo và tuyển dụng các nhân tài.
alt
Thầy Lê Quý Đôn không chỉ là một nhà bác học mà còn là người thầy xuất sắc ở nước ta hồi thế kỷ XVIII

Trái với những nho sĩ chỉ biết nhồi nhét những lý luận kinh điển xa xôi mà coi thường, thậm chí không biết gì đến các môn học khác thì thầy cho rằng cần phải học tập toàn diện. Thầy cũng đã nêu lên một số ý kiến về phương châm học tập, chủ trương học phải biết nắm lấy cái chính: “Không thể vu vơ theo việc ngọn ở ngoài mà không tìm tòi đến chỗ gốc ở trong. Nếu không thể mà cứ vật gì cũng xét cho đến cùng, cho đủ cả thì chẳng hoá ra vì đường có nhiều lối rẽ mà đến nỗi lạc mất dê ư?”
Thầy cũng căn dặn rằng học hành phải có óc suy luận, không chỉ phụ thuộc vào sách vở: “Sách không hết lời, lời không hết ý… Phải hiểu ngầm ý của thánh nhân ở ngoài lời sách mới được”. (Dịch kinh phu thuyết).
Thầy còn khuyên: “Dù ngu dốt đến đâu, cũng nên kính giấy, tiếc chữ, dù keo bẩn đến đâu cũng tìm mua sách vở”. Thầy cho rằng biết học thì không thể biện lẽ thiếu thì giờ.
Hình ảnh thầy Lê Quý Đôn tận tụy truyền dạy phương pháp học tập tiến bộ và kiến thức cho học trò đã là tấm gương sáng cho nhiều thế hệ noi theo. Thầy giáo Lê Quý Đôn thực sự xứng đáng với danh hiệu Người thầy mẫu mực và luôn được người đời tôn kính.
Hiểu Minh

Tại sao người giàu càng giàu hơn

Ngô Nhân Dụng

Cả nước Mỹ đang bàn chuyện thuế. Hạ Viện mới thông qua một dự luật cải tổ thuế vụ. Thượng Viện sẽ làm một dự luật khác, rồi hai bên sẽ thương thảo để có một dự luật chung đưa cho Tổng Thống Donald Trump ký ban hành.
Các dự luật trên đều nói đến việc cắt thuế, tức là giảm suất thuế, một tỷ lệ lợi tức phải đóng cho chính phủ. Các đại biểu quốc hội đều nói muốn làm giảm mức chênh lệch lợi tức sau khi đóng thuế của người dân. Thuế có thể phân phối lợi tức bằng cách đánh thuế nặng hay nhẹ; do đó ảnh hưởng tới công bình xã hội, ít nhất trong lợi tức và tài sản.

Tại Mỹ, mức chênh lệch giàu nghèo ngày càng cao hơn. Viện Nghiên Cứu Brookings Institution thấy năm 1992, 1% những người giàu nhất nước Mỹ, tức là tài sản lớn nhất, chiếm 27% tổng số tài sản, đến 2013 thì nhóm 1% này chiếm 32% tài sản cả nước. Năm 1992 lợi tức của họ bằng 12% tổng số lợi tức cả quốc gia làm ra, tới năm 2013 lên thành 18%. Trong 35 nước tư bản giầu nhất, không có nước nào mức lợi tức chênh lệch tăng nhanh như vậy. Trong 25 năm từ 1980 tới 2014, nhóm 1% lợi tức cao nhất ở Đan Mạch tăng từ 5% lên 6% lợi tức cả nước.
Lợi tức cao dẫn tới tài sản lớn, điều này dễ hiểu. Nhưng tại sao người ta lại kiếm ra tiền nhiều hơn người khác? Trước hết vì khả năng làm những việc khó hơn, ít người làm được. Những người chuyên nghiệp như bác sĩ giải phẫu não hay họa sĩ nổi danh có thể kiếm tiền hơn người làm nghề lái xe hoặc nấu bếp. Những nhà chuyên nghiệp ở Mỹ có lợi tức trung bình hơn ba lần (3.5 lần) số lương trung vị, tức mức lương đứng giữa trong bậc thang lợi tức của tất cả các nghề nghiệp.
Tại các nước tiên tiến như Thụy Sĩ, Hòa Lan, Phần Lan, Đan Mạch, tỉ số chỉ là gấp đôi. Những nhà chuyên nghiệp thường được một hàng rào bảo vệ, vì ai muốn hành nghề, thí dụ bác sĩ quang tuyến, phải được hiệp hội những người cũ chấp nhận. Nhưng lợi tức của họ cũng không thuộc loại cao nhất nước. Lợi tức của họ cũng thuộc loại “tay làm hàm nhai,” không làm thì ngưng. Ngay cả giới quản đốc xí nghiệp, loại người được chú ý nhiều nhất nếu xí nghiệp lớn, cũng không cao nhất nước. Những chuyên gia kỹ thuật, nhất là trong các kỹ nghệ liên quan tới tin học, được tiếng là kiếm nhiều tiền. Nhưng cũng rất ít người gia nhập được nhóm 1%, tức là lương bổng từ $390,000 trở lên.
Những ai thực sự kiếm nhiều tiền nhất, do đó, có tài sản cao nhất? Đó là những người bỏ vốn, họ làm chủ nhiều cổ phần các xí nghiệp, và biết cách mua, bán cổ phiếu để kiếm nhiều hơn.
Ngoài khả năng làm việc, lợi tức của mọi người chênh lệch còn do cách tổ chức của cả xã hội, do luật pháp quy định. Chúng ta sống trong một nền kinh tế được rất nhiều luật lệ quy định, trong đó có luật thuế vụ. Kinh tế tư bản có hai thành phần tạo ra lợi nhuận; một là tiền vốn để mua máy móc thiết bị, hai là những người làm việc. Khi một xí nghiệp phát triển, kiếm lời nhiều, là do cả hai đóng góp. Lợi tức chênh lệch, nếu không vì khả năng làm việc khác nhau, còn vì xã hội tưởng thưởng, bằng tiền, cho những người bỏ vốn nhiều hơn những người dùng sức lao động. Luật lệ thuế khóa tạo nên tình trạng này.
Tỷ phú Warren Buffett, người giàu hàng thứ ba ở Mỹ, giải thích trường hợp của ông nhiều năm trước đây: Năm ngoái, tôi phải đóng thuế $6,938,744. Coi là nhiều lắm. Nhưng đó chỉ là 17.4% lợi tức kiếm được. Và đó là suất thuế thấp nhất so với 20 nhân viên làm việc trong văn phòng của tôi! Họ đóng thuế mất từ 33% đến 41% lợi tức. Nhưng nếu các bạn đi làm, mức thuế bạn phải trả chắc chắn cao hơn suất thuế tôi trả.
Những tay giàu nhất nước Mỹ phần lớn kiếm tiền nhờ đầu tư, với suất thuế 15%. Bạn đóng thuế an sinh xã hội (Social Security – SS), còn những đại phú gia gần như không phải đóng. Vì thuế SS này chỉ đánh trên số lợi tức $106,800 đầu tiên thôi (ông dùng con số năm 2010). Nếu đánh thuế SS trên tất cả số tiền họ kiếm được (có thể nhiều trăm triệu), như những người đi làm khác, thì chính phủ Mỹ sẽ kiếm thêm được khối tiền! Trong khi những người trung lưu ở Mỹ, lợi tức dưới $110,000, suất thuế từ 15% đến 25%, họ phải đóng thuế SS trên tất cả số tiền kiếm được.
Nghe ông Buffett nói thì chúng ta hiểu hệ thống thuế khóa ưu đãi các nhà đầu tư, những người có lợi tức cao nhất. Chính ông, và tỷ phú Bill Gates giàu nhất nước, đều chống lại việc cắt giảm thuế cho người giàu.
Nhiều người làm nghề quản lý quỹ đầu tư như ông Buffett có thể kiếm khối tiền và số tiền kiếm ra được coi là “lợi tức đầu tư,” chỉ đóng thuế 15%. Ông nói: Nhiều người mua bán “index futures” trong thị trường chứng khoán trong 10 phút, kiếm bạc triệu, cũng chỉ phải đóng thuế 15%.
Những chính trị gia muốn duy trì tình trạng trên thường nói rằng giảm thuế cho các nhà đầu tư và các xí nghiệp sẽ khuyến khích họ đầu tư nhiều hơn, nhờ thế sẽ tạo thêm công việc làm cho giới tay làm hàm nhai.
Gần đây, ông Gary Cohn, cố vấn kinh tế của ông Donald Trump và phụ trách việc thúc đẩy quốc hội cải tổ thuế, mời một số người đứng đầu (CEO) của các doanh nghiệp lớn tới họp ở Tòa Bạch Ốc. Ông hỏi ai đồng ý sau khi cắt giảm thuế họ sẽ tăng số tiền đầu tư trong công ty thì đưa tay lên. Ông Cohn ngạc nhiên khi thấy một số người ngồi im, không đưa tay lên.
Vì những CEO này sống trong thế giới kinh doanh thật. Họ quyết định đầu tư dựa trên những cơ hội kinh doanh có lời chứ không phải vì suất thuế giảm.
Ông Warren Buffet viết: “Tôi nghe nhiều người nói tăng thuế trên lợi tức (capital gains) đầu tư và cổ tức (dividends) sẽ làm nản lòng khiến người ta ngưng đầu tư. Tôi không ngừng, những nhà đầu tư khác cũng vậy. Tôi làm việc với nhiều người đầu tư trong 60 năm, tôi chưa thấy ai từ chối bỏ vốn làm ăn dù thuế đánh trên capital gains, dù đánh thuế tới 39.9% như những năm 1976-77. Người ta đầu tư để kiếm lời. Thuế không làm cho người ta sợ.”
Ông Buffet cũng bác bỏ lý luận nói rằng hạ thấp thuế sẽ tạo thêm công việc làm. Ông nhận xét: “Trong những năm từ 1980 đến 2000, nước Mỹ tăng thêm 40 triệu công việc làm. Sau đó, Chính Phủ Bush cắt thuế. Năm 1992, nhóm 400 người giàu nhất nước có lợi tức tổng cộng $16.9 tỷ, họ đóng thuế trung bình 29.2%. Năm 2008, lợi tức nhóm giàu nhất này tăng $90.9 tỷ, và họ chỉ đóng thuế 21.5% thôi. Trong số 400 người đó có 88 người không khai món lợi tức vì làm việc nào, tất cả mọi người đều khai lợi tức đầu tư. Nhưng số việc làm không tăng lên bằng những năm trước.”
Năm 2008 bắt đầu cuộc khủng hoảng làm mất đi hàng triệu công việc làm. Tám năm thời Tổng Thống Bill Clinton tạo ra thêm 21 triệu việc làm mới, thời Tổng Thống George W. Bush thêm được 5.7 triệu, thời Tổng Thống Barack Obama tăng thêm được 9.3 triệu. Có thể nói rằng cắt giảm thuế không nhất thiết thúc đẩy đầu tư, cũng không tăng số việc làm.
Cho nên, có 400 nhà triệu phú đã ký bản kiến nghị yêu cầu Quốc Hội Mỹ đừng cắt giảm suất thuế mà họ đang đóng. Những người này thuộc nhóm 5% những người giàu nhất nước, có tài sản trên $1.5 triệu và lợi tức trên $250,000, trong đó có nhiều tỷ phú đô la. Họ nói rằng các xí nghiệp Mỹ và chủ nhân các cổ phần đã giàu hơn rất nhiều trong hàng chục năm qua.
Trong tám năm ông Obama làm tổng thống, chỉ số Dow Jones đã tăng gấp ba, từ 6,000 lên 18,000 và trong mười tháng với ông Trump mới tăng thêm 5,000 nữa. Chủ nhân các xí nghiệp không cần chính phủ giúp! Thay vì cắt thuế cho họ, bản kiến nghị xin chính phủ và quốc hội hãy dùng tiền đó đầu tư vào trường học, cơ sở hạ tầng, và nghiên cứu, để cho tất cả mọi người được hưởng và bảo đảm những chương trình như Medicaid (Medi-Cal) không bị cắt giảm.
Một điều trong dự luật thuế đang nằm tại quốc hội cũng bị nhiều người phản đối là việc bỏ hoặc giảm bớt thuế di sản, là tài sản để lại cho con cháu sau khi chết. Số người được lợi nhờ cải tổ này chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, trong 1,000 người qua đời có hai người. Bãi bỏ và giảm thuế di sản sẽ tặng mỗi người trung bình $20 triệu cho 330 di sản ở Mỹ với giá trị trên $50 triệu.
Bức thư của 400 người giàu vạch ra rằng số thuế di sản cắt giảm, khoảng 269 triệu trong 10 năm, lớn hơn ngân sách của các cơ quan Kiểm Soát Thực Phẩm, Dược Phẩm (FDA), Trung Tâm Ngừa Bệnh Truyền Nhiễm (CDC) và Cơ Quan Bảo Vệ Môi Trường (EPA) cộng lại!
Bãi bỏ thuế di sản là cách hiệu quả nhất khiến tình trạng chênh lệch giàu nghèo gia tăng. Thí dụ, một người đầu tư 10 triệu, sau một thời gian giá trị tăng lên thành 100 triệu. Nếu đem bán thì còn bị đánh thuế 15% trên số tiền lời 90 triệu; nhưng nếu qua đời, để lại cho con cháu thì không phải đóng đồng thuế nào cả!
Có những biện pháp được ghi vào dự luật thuế mới tuy không liên can tới thuế suất nhưng cũng ảnh hưởng khiến tình trạng chênh lệch giàu nghèo nặng hơn. Đó là điều khoản bãi bỏ luật bắt mọi người đều phải có bảo hiểm y tế, theo luật thời Obama. Khi hàng chục triệu người trẻ và khỏe mạnh không mua bảo hiểm nữa, giá mua bảo hiểm của những người còn lại trong thị trường cá nhân tự mua lấy bảo hiểm sẽ tăng lên. Đó là một thứ “thuế vô hình” đánh trên giới trung lưu tự lập, không làm việc trong các xí nghiệp.
Tóm lại, dự luật thuế quốc hội Mỹ đang bàn vẫn duy trì và củng cố một cách tổ chức xã hội trong đó lợi tức quốc gia được chia cho những người bỏ vốn nhiều hơn là cho những người làm việc, tay làm hàm nhai. Trong mười năm qua, thị trường chứng khoán đã tăng gấp bốn lần, các nhà đầu tư không cần được giúp đỡ nữa! Nhiều người đã từ chối được giúp cắt giảm thuế, vì lương tâm bảo họ hãy từ chối. Họ thấy mình giàu đủ rồi, chỉ muốn xã hội công bằng hơn. 
Ngô Nhân Dụng