Search This Blog

Thursday, August 10, 2017

Người bắt “vụ buôn lậu còi hụ Long An” lên tiếng

 Người trung sĩ Quân Cảnh “bị bắn chết” sống dậy, vạch mặt kẻ nói dối
Gần đâymột số tờ báo trong nước đã đăng lại “Vụ buôn lậu còi hụ” ở Long An thời chế độ cũ với nhiều cái tựa rất sốc “Vụ buôn lậu chấn động của vợ chồng tổng thống Nguyễn Văn Thiệu”, “Bí mật vụ buôn lậu của vợ chồng Tổng Thống Thiệu”…. Hầu hết các bài viết này đều có nội dung, chi tiết na ná nhau và chừng như được dẫn lại từ bài viết của Đặng Văn Nhâm, một cây viết đầy “tai tiếng” hiện định cư ở Đan Mạch. Trong các bài đó, có nhiều thông tinsai sự thật, không có thật, thí dụ như cho rằng việc bắt đoàn xe buôn lậu xảy ra tại quận Gò Đen, quận trưởng quận Gò Đen có công bắt buôn lậu nhưng bị mất chức, bị giam…. Trong khi thực tế xưa nay, Việt Nam chưa hề có quận Gò Đen. Các bài viết cũng cho rằng, viên trung sĩ quân cảnh bắt giữ đoàn xe buôn lậu này đã không được tưởng thưởng mà còn bị đày đi PleiKu và chết bí ẩn, trung úy Thọ trưởng đồn quân cảnh Long An cũng bị mất chức và chết bí ẩn. Thông tin báo chí Miền Nam thời đó đã đăng rõ họ tên người bắt đoàn xe buôn lậu là Trung sĩ nhất quân cảnh Nguyễn Văn Sang thuộc Trạm kiểm sát quân xa Tân An thuộc đại đội 3 C, tiểu đoàn 3 quân cảnh. Chúng tôi đã tìm gặp anh Sang, người bắt đoàn xe buôn lậu đó nay vẫn còn sống ở tại xã Khánh Hậu, TP Tân An và xin giới thiệu câu chuyện của anh Sang đối chiếu, các nguồn tin khác.

Đặng Văn Nhâm đã nhiều lần đăng trên báo chí hải ngoại về vụ buôn lậu này với thái độ rất tự tin là đã quen biết, tiếp xúc với những người trong cuộc và dẫn ra tên tuổi, tướng mạo của từng người kể cả lai lịch họ hàng. Đặng Văn Nhâm cho rằng báo chí đương thời không dám viết lên bản chất vụ án. Chỉ có mình Đặng Văn Nhâm là người yêu nước, dũng cảm hàng chục năm sau khi trốn chạy ra hải ngoại đã dám nói lên sự thật về vụ buôn lậu này. Đặng Văn Nhâm quy kết vợ chồng tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và nhiều quan chức đứng sau vụ buôn lậu này. Những kẻ bị bắt, bị xử lý chỉ là những con vật tế thần, là tép riu phải chịu hàm oan.

Thông tin hấp dẫn nhưng sai sự thật
Rất tiếc là sự dũng cảm của Đặng Văn Nhâm khá muộn màng, quy tội Thiệu, Khiêm và nhiều người khác hàng chục năm sau khi họ đã mất hết chức quyền sống đời lưu vong, trong đó nhiều người đã chết. Trong khi đương thời khi vụ án xảy ra, báo chí miền Nam đã vào cuộc, điều tra, đưa thông tin sát sao. Linh mục Trần Hữu Thanh năm 1974 đã phát động “Phong Trào Chống Tham Nhũng và Kiến Tạo Hòa Bình” đã đưa vụ buôn lậu này vào bản cáo trạng số 1, tố cáo sự thối nát của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ra dư luận trong nước và quốc tế ngay lúc Thiệu đang đương chức Tổng thống.

Những thông tin của Đặng Văn Nhâm về vụ buôn lậu này sai thực tế rất xa, người viết đã nổ văng mạng, giỏi sáng tác mà thiếu kiến thức. Về đoàn xe buôn lậu, Đặng Văn Nhâm đã viết như sau: “Còn cái tên dị hợm "Còi Hụ Long An" là bởi vụ buôn lậu táo bạo từ cổ chí kim chưa từng xảy ra này, đã gồm cả đoàn công voa, hàng chục chiếc quân xa thuộc nha quân vận vùng 3, và có xe quân cảnh dẫn đầu đàng hoàng. Đoàn quân xa phủ bạt kín mít như bưng, di chuyển tới đâu, xe quân cảnh mở đường hú còi inh ỏi, báo cho các trạm kiểm soát dọc đường biết đây: Là đoàn xe có quyền ưu tiên, không được chận xét. Nếu là đoàn xe vận chuyển võ khí, đạn dược, nhiên liệu, quan trọng hơn, còn có cả phi cơ L 19, còn gọi là "máy bay bà già" bay rề rề trên không, để thám thính và phòng ngừa địch quân phục kích. Nhưng đoàn quân xa di chuyển có quyền ưu tiên như thế, không ngờ bất thình lình lại bị chận đứng ở một trạm kiểm soát thuộc tỉnh Long An. Khi ấy mới đổ bể ra là đoàn xe buôn lậu, toàn những mặt hàng xa xí phẩm, đắt tiền, đặc biệt dành để bán vào dịp Giáng Sinh và Tết, như: Các loại rượu quý, Cognac, Martel, Whisky, Champagne, các loại thuốc lá thơm hiệu con mèo Craven "A", 555, Marlboro, quần áo, hàng vải, tơ lụa, giày vớ của Pháp, Ý, nồi nấu cơm National, các loại đồ chơi điện tử của Nhật, đồng hồ hiệu Omega, Longine, Rolex, Seiko, Certina, đá lửa, bật quẹt máy đủ loại tối tân, bút máy Parker, Mont Blanc, Cross, các loại bánh kẹo trứ danh của Anh, Hoà Lan và Đan Mạch v.v....”



Cựu trung sĩ nhất Nguyễn Văn Sang.

Người bắt đoàn xe buôn lậu

Theo anh Sang, người trung sĩ nhất quân cảnh trực tiếp bắt đoàn xe, thì đoàn xe buôn lậu này chỉgồm bảy chiếc xe GMC và hai chiếc xe Jeep, một quân sự một dân sự chứ không phải hàng chục chiếc như Nhâm đã viết. Hàng hóa trên xe chỉ gồm hai loại là rượu Hennessy và thuốc lá chứ không phải đủ thứ hàng đồng hồ, nồi cơm điện….
Đặng Văn Nhâm không hiểu về quy chế phương thức hoạt động của các đoàn công voa quân sự. Không phải các đoàn công voa có xe quân cảnh dẫn đường, có còi hụ là được quyền bất khả xâm phạm không ai được xét.
Về nhiệm vụ, quân cảnh VNCH cũng giống như lực lượng Kiểm soát quân sự hiện nay có nhiệm vụ duy trì, kiểm tra xử lý những vi phạm về quân phong, quân kỷ, quân pháp trong quân đội. Vai trò của quân cảnh hộ tống các đoàn công voa, trước hết là nhằm bảo đảm kỷ luật và an toàn cho đoàn xe trên đường di chuyển. Theo quy định, để bảo đảm an ninh phải có một xe quân cảnh mở đường và một xe khóa đuôi, giữa hai xe quân cảnh là đoàn xe quân sự, tuyệt đối không để xen lẫn trong đó yếu tố dân sự nào (xe, hoặc người).

Không trình báo, đi sai quy định…trung sĩ có quyền ra lệnh bắt
Các đoàn xe công voa không phải được ưu tiên muốn đi đâu thì đi, không ai được xét, mà ngược lại được quản lý chặt chẽ theo sự vụ lệnh của Phòng Hành quân của đơn vị có thẩm quyền. Kế hoạch di chuyển, số lượng đoàn xe phải thông báo đến các bộ phận hành quân nơi đi, nơi đến, nơi có liên quan trước và sau khi đi. Trưởng đoàn hoặc quân cảnh hộ tống phải thông báo, trình báo qua hệ thống truyền tin với các trạm, đồn quân cảnh kiểm sát quân xa ở những địa phương mà đoàn đi qua. Nếu các đơn vị quân cảnh này thấy có dấu hiệu vi phạm vẫn có quyền xét, bắt giữ. Trường hợp trạm quân cảnh Long An bắt giữ đoàn xe buôn lậu còi hụ là một điển hình, mà cụ thể ở đây là chỉ một viên trung sỉ nhất quân cảnh đang làm nhiệm vụ trực trạm kiểm soát quân xa Long An đã có quyền bắt ông Đại úy quân cảnh hộ tống trái phép và cả đoàn xe.

Về diễn tiến việc bắt giữ, Đặng Văn Nhâm đã viết như sau: Khi đoàn quân xa do đại uý Nhiều dẫn đầu tới trạm kiểm soát hỗn hợp gồm Quân Cảnh và Cảnh Sát ở Long An thì mặt trời đã xế bóng, nhưng vẫn còn trông tỏ mặt người. Lúc bấy giờ trong trạm kiểm soát của quân cảnh ở Long An chỉ có mặt vỏn vẹn 2 viên hạ sĩ quan quân cảnh. Hai viên trung sĩ QC ấy không lạ gì đại uý Nhiều, tiểu đoàn phó Tiểu Đoàn 6 QC, thuộc Biệt Khu Thủ Đô. Lúc đoàn quân xa đi qua trạm gác, họ đã thấy rõ mặt đại uý Nhiều. Lúc ấy ông ta đang ngồi vách đốc trên xe, có vẻ dường như đã "SỈN" rồi!”

Theo lời khai của cả 2 viên hạ sĩ quan trước uỷ ban điều tra, ngay lúc đó, họ đã thi hành phận sự, thổi còi chận đoàn xe lại, nhưng đoàn xe không ngừng. Bởi thế, họ không khỏi thắc mắc, lo ngại cho phận sự và trách nhiệm của mình. Theo lời khai của họ, mặc dù đoàn quân xa có quân cảnh mở đường hợp lệ, và trên xe có sự hiện diện của Đ.U. Nhiều, nhưng tại sao đoàn tuỳ tùng lại nhốn nháo một bầy lẫn lộn quân nhân và dân sự, ăn mặc lôi thôi, xốc xếch và tốc độ vận chuyển quá mức bình thường khi qua trạm gác. Họ chợt nhớ tới nghiêm lệnh của phủ tổng thống là phải kiểm soát chặt chẽ, bất kỳ một đoàn quân xa nào khả nghi vào đô thành, để phòng ngừa âm mưu đảo chánh, hoặc sự phá hoại của đặc công CSBV. Trong khi họ còn đang suy nghĩ, phân vân và lo ngại thì đoàn quân xa của Đ.U. Nhiều đã đi xa mất hút rồi. Hai viên hạ sĩ quan này chỉ còn cách duy nhất, là cấp tốc điện thoại liên lạc về đồn Quân Cảnh Long An, báo tin cho chỉ huy trưởng trực tiếp của họ là trung uý Thọ. Viên trung uý trưởng đồn được báo cáo khẩn như vậy cũng tá hoả tam tinh, nhưng vẫn không biết phải đối phó cách nào, liền báo cáo chuyền lên thượng cấp của ông ta, lúc bấy giờ là đại tá Lê Văn Năm, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Long An để xin chỉ thị. Được biết đại tá Lê Văn Năm vốn là bào đệ của chuẩn tướng Lê Văn Tư, cựu tỉnh trưởng Gia Định, người tình của nàng Ánh Hoa VÚ BỰ, vào đầu năm 1975 đã bị tống giam vào khám Chí Hoà vì tội tham nhũng”Trung sĩ Sang cung cấp thông tin thực tế cho thấy bài viết này hoàn toàn là sáng tác của Đặng Văn Nhâm, đó là sự tưởng tượng sai cả kiến thức lẫn thực tế. Về thực tế thì không hề có cái gọi là trạm kiểm soát hỗn hợp gồm Quân Cảnh và Cảnh Sát ở Long An” mà đây là Trạm kiểm sát quân xa Tân An là đơn vị cấp trung đội trực thuộc đại đội C3 của Tiểu đoàn 3 quân cảnh, phụ trách địa bàn tỉnh Long An, ngoài trạm này, Long An không còn đồn quân cảnh nào khác.

Trụ sở của trạm này nguyên là nhà ga xe lửa Tân An trên tuyến đường sắt Sài Gòn Mỹ Tho ngày xưa. Vị trí của trạm, ngày nay là dãy nhà dọc bên quốc lộ 1A đối diện Thánh thất Cao Đài Phường 2 TP. Tân An. Cũng không có hai hạ sĩ quan quân cảnh mà chỉ duy nhất có trung sĩ nhất Nguyễn Văn Sang làm nhiệm vụ trực trạm và có trách nhiệm và toàn quyền xử lý vụ việc, không cần trình báo và thực tế cũng không hề trình báo với trung úy Thọ. Thời điểm này, trung úy Thọ không vào ca trực, đang ở nhà riêng và cũng không có phương tiện liên lạc.
Thời điểm đoàn quân xa lậu đi qua không phải là lúc mờ tối nhưng còn thấy rõ mặt người để biết là Đại úy Nhiều đang sỉn như ông Nhâm viết mà khoảng 10 giờ 30 tối. Dấu hiệu để anh Sang chú ý đến đoàn quân xa là tốc độ chạy quá nhanh làm rung rinh cả nền Trạm kiểm soát và trên xe loáng thoáng có thấy người mặc quần áo dân sự.

Như đã nói ở phần trên, đoàn xe này này đã vi phạm quy định rõ ràng nhất là để lẫn xe jeep trắng dân sự ở giữa đoàn xe tải quân sự GMC. Hơn thế nữa, đoàn xe này không hề có thông tin trình báo với Trạm kiểm soát. Từ những dấu hiệu bất thường này, anh Sang đã gọi điện cho trung úy Hộ ở phòng 3 tiểu khu Long An và một đại úy phụ tránh hành quân của quân đoàn 3 để thẩm định hành trình các đoàn quân xa thì được biết là các đoàn quân xa đã về hết lâu rồi. Thấy có nhiều dấu hiệu bất thường, anh Sang quyết định chặn giữ đoàn xe để khám xét. Theo thẩm quyền của trạm kiểm soát, anh gọi điện cho chi khu (Quận) Bến Lức chặn đoàn xe nhưng đoàn xe chạy quá nhanh đã vượt qua cầu Bến Lức.

Lúc này, tại Gò Đen, có căn cứ của tiểu đoàn 332 địa phương quân thuộc tiểu khu Long An đóng sát quốc lộ. Anh Sang đã gọi điện cho Thiếu tá Bé, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 332 yêu cầu cho quân kéo kẽm gai lồng chốt chặn, buộc đoàn xe dừng lại. Đến lúc này, Đại úy Nhiều người đi xe quân cảnh mở đường cho đoàn xe lậu xưng danh tánh, chức vụ Tiểu đoàn phó quân cảnh Biệt khu Thủ đô hù dọa, trấn áp đơn vị địa phương quân, yêu cầu giải tỏa cho đoàn xe.

Trung sĩ bắt giam đại úy, Đại tá tỉnh trưởng không dám lên tiếng

Nghe báo cáo của trung uý Thọ, trưởng đồn Quân Cảnh Long An, đại tá Lê

Văn Năm không khỏi giật mình lo cho địa vị của mình. Ông liền cấp
tốc điện thoại cho viên sĩ quan thuộc cấp, quận trưởng kiêm chi khu
trưởng chi khu Bến Lức. Nhưng viên sĩ quan quận trưởng kiêm chi khu
trưởng Bến Lức trả lời, cho biết đoàn quân xa đã vượt khỏi trạm
kiểm soát của Bến Lức rồi. Mối lo sợ càng gia tăng dồn dập, đại tá Năm
lập tức ra lịnh cho viên sĩ quan quận trưởng kiêm chi khu trưởng chi
khu Gò Đen, bằng mọi giá phải chận đứng cho bằng được đoàn xe quân vận
ấy. Lúc bấy giờ, đoàn quân xa do Đại uý Nhiều Quân Cảnh mở đường
đang tiến trên lộ trình giữa Bến Lức và Gò Đen. Được lịnh khẩn của thượng cấp, viên sĩ quan quận trưởng kiêm chi khu trưởng Gò Đen lập tức ra công đốc xuất binh sĩ, và các lực lượng nhân dân tự vệ trong vùng, gần trạm kiểm soát Gò Đen đem hết các chướng ngại vật ra đặt giữa đường, đồng thời kéo dây kẽm gai chăng kín cả lối đi. Dân chúng trong khu gia binh gần đó cũng náo nức thi đua đem cả bàn ghế ra chận đường. Kết quả đương nhiên là đoàn quân xa do đại uý Nhiều, tiểu đoàn phó Tiểu Đoàn 6 Quân Cảnh thuộc Biệt Khu Thủ Đô dẫn đầu, dù muốn dù không cũng phải ngừng lại. Khi đó viên sĩ quan chi khu trưởng Gò Đen mới đánh điện báo cáo cho đại tá Lê Văn Năm tiểu khu trưởng Long An. Mặc dù trời đã tối sẫm, rất dễ bị quân du kích CS phục kích dọc đường, nhưng đại tá Lê Văn Năm vẫn phải cấp tốc lên xe cùng đoàn quân hộ tống tuỳ tùng chạy thẳng đến chi khu Gò Đen, để chứng kiến tại chỗ sự việc.”

Đây lại thêm là một đoạn tưởng tượng của Đặng Văn Nhâm. Xưa nay ở Việt Nam chưa bao giờ có quận Gò Đen và chi khu Gò Đen thì làm sao có quận trưởng? Gò Đen chỉ là tên gọi dân gian để chỉ vùng đất gồm các xã Mỹ Yên, Phước Lợi của huyện Bến Lức chứ không phải là một địa danh hành chánh. Do tình hình an ninh trên quãng đường này thường bị đặt mìn phục kích về đêm, nên sau khi bắt giữ đoàn xe, anh Sang không trực tiếp lên Gò Đen mà qua hệ thống truyền tin hướng dẫn cho đơn vị địa phương phương quân làm thủ tục kiểm tra sự vụ lịnh của đoàn công xa. Đại úy Nhiều không xuất trình được sự vụ lịnh. Khi được hỏi về chủng loại nội dung hàng vận chuyển, Đại úy Nhiều cho rằng đây là linh kiện thiết bị truyền tin. Theo quy định thời ấy, tuyệt đối cấm việc vận chuyển thiết bị truyền tin vào ban đêm nên lời khai này càng vô lý, anh Sang quyết định cho kiểm tra hàng và phát hiện ra toàn bộ lô hàng là rượu và thuốc lá ngoại. Thấy đã đủ cơ sở, anh Sang yêu cầu Địa Phương quân bắt tạm giữ toàn bộ hàng và những người áp tải kễ cả đại úy Nhiều chờ sáng mai sẽ lập biên bản điều tra.

Sau khi đã bắt giữ đoàn xe, anh Sang mới gọi điện báo cáo cho Đại tá Lê Văn Năm, tỉnh trưởng Long An và Thiếu tá Đức tiểu đoàn phó tiểu đoàn 3 quân cảnh. Chi tiết Đặng Văn Nhâm đã viết “Khi đó viên sĩ quan chi khu trưởng Gò Đen mới đánh điện báo cáo cho đại tá Lê Văn Năm tiểu khu trưởng Long An. Mặc dù trời đã tối sẫm, rất dễ bị quân du kích CS phục kích dọc đường, nhưng đại tá Lê Văn Năm vẫn phải cấp tốc lên xe cùng đoàn quân hộ tống tuỳ tùng chạy thẳng đến chi khu Gò Đen, để chứng kiến tại chỗ sự việc” là hoàn toàn không có thật. Anh Sang còn nhớ một chi tiết nhỏ nhưng hết sức quan trọng là đại tá Năm sau khi nghe anh điện báo, ông không có ý kiến gì. Khi ngừng đàm thoại và ông Năm nói lầm thầm (do gác ống nghe không sát) mà anh vô tình nghe được “ĐM. Sao tụi nó lại đi giờ này?”. Từ câu nói này cho thấy ông Năm có biết về đoàn xe và lẽ ra nó phải đi vào giờ khác. Ông Năm rõ ràng có liên quan đến đoàn xe này nhưng trước dấu hiệu sai phạm rõ ràng đã không dám lên tiếng bênh, làm gì có việc chạy xe đến hiện trường.Chi tiết này có liên quan đến chi tiết quan trọng khác dẫn đến kỷ luật ông Năm sẽ nói ở phần sau.

Riêng Thiếu tá Đức tiểu đoàn phó tiểu đoàn 3 quân cảnh, văn phòng trú đóng ở tận Bộ tư lệnh quân đoàn 3 Biên Hòa nhưng đến 1 giờ đêm đã có mặt tại Trạm quân cảnh của anh Sang để nắm chi tiết vụ việc. Đến lúc này, anh Sang mới cho người mời trung úy Thọ trưởng trạm (không nhằm phiên trực nên nghĩ ở nhà) đến làm việc với Thiếu Tá Đức.

Tương tự, một đoạn khác viết về diễn tiến bắt giữ đoàn xe của Đặng Văn Nhâm cũng không phù hợp thực tế “Trong thời gian chờ đại tá Lê Văn Năm đến thị chứng, viên sĩ quan chỉ huy chi khu Gò Đen vẫn chưa biết đoàn quân xa này chở những vật liệu gì, đang được che kín bít bùng. Nhưng mấy binh sĩ dưới quyền của ông ta, vì tò mò, đã mở hí tấm bạt ra xem. Tình cờ họ thấy trong xe chứa toàn rượu, bánh, kẹo, vải, đồng hồ và các loại hàng xa xỉ đắt tiền khác, mắt họ hoa lên. Họ liền nảy lòng tham, mở mấy tấm bạt ra, xúm nhau vào ăn cắp. Lúc đầu chỉ có vài người lính làm phận sự canh gác ăn cắp hàng lậu, nhưng chỉ trong một thoáng, tin giật gân, ngon lành ấy loan truyền rộng rãi trong đám gia đình binh sĩ, cư ngụ sát lề đường. Thế là cả bầy đàn bà, con nít và lính tráng trong trại gia binh ùa nhau ra hôi đồ lậu. Lợi dụng tình hình rối loạn đó, bọn người mặc thường phục, đi theo đoàn xe chở đồ lậu, liền nương theo bóng tối, rủ nhau chuồn êm, và biệt dạng hết trọi. Cảnh hỗn loạn đó chỉ chấm dứt khi đại tá Lê Văn Năm và đoàn tuỳ tùng đã đến nơi. Lúc bấy giờ đã vào khoảng 8 hay 9 giờ tối rồi.”
Theo lời kể của anh Sang, việc khám xét kiểm tra hàng hóa đã thực hiện trước lệnh bắt. Đại tá Năm hoàn toàn không đến hiện trường và cũng không có vai trò gì trong vụ việc bắt người, hàng hóa. Việc kiểm tra và giữ hàng được thực hiện trong căn cứ của tiểu đoàn 332 địa phương quân nên không thể có chuyện người dân chung quanh đến hôi của. Đây cũng không phải là việc làm bộc phát do tò mò mà là kiểm tra để có cơ sớ bắt giữ đoàn xe và người.
Thực chất, lượng hàng lậu có bị thất thoát khoảng 30% so với khối lượng khai báo của những người áp tải do hai nguyên nhân: binh sĩ của tiểu đoàn 332 có “chôm chỉa” một phần, một phần khác đổ vỡ trong quá trình kiểm tra, bốc xếp. Đây chính là nguyên nhân mà Thiếu tá Bé Tiểu đoàn rưởng 332 bị tòa án Mặt trận cách chức còn binh nhì sau này.
Hoàn toàn không có, “bọn người mặc thường phục, đi theo đoàn xe chở đồ lậu, liền nương theo bóng tối, rủ nhau chuồn êm, và biệt dạng hết trọi”. Theo anh Sang, hơn hai mưoi người mặc đồ dân sự đi theo đoàn xe, chủ yếu là những người bốc xếp mà đa số là lao công đào binh đều bị bắt giữ, trong đó có một cựu trung sĩ quân cảnh đồng khóa với anh Sang, thượng sĩ Hảo huấn luyện viên bắn súng lục là thầy cũ của anh Sang ở trường quân cảnh. Tất cả đều bị bắt giam nghiêm túc.
Diễn tiến của vụ bắt buôn lậu còi hụ khác hẳn với những điều Đặng Văn Nhâm đã viết. Nhâm bịa rằng hạ sĩ quan quân cảnh bắt đoàn xe đã bị bắt giam đưa lên Pleuku và bị bắn chết nhưng thực tế là trung sĩ nhất Nguyễn Văn Sang được thăng đặc cách lên thượng sĩ và rút về làm Xử lý thường vụ Tiểu đoàn ở tại Biên Hòa và đến nay vẫn còn đang sống khỏe. Có một sự thật hết sức quan trọng mà Đặng Văn Nhâm không hề biết là chiếc xe Jeep trắng dân sự đã bỏ trốn ngay trong giai đoạn đoàn xe bị chặn. Theo lời khai của những người bị bắt thì chiếc xe Jeep này có mang theo sáu chục triệu đồng tiền mặt và hàng chục ký bạch phiến. Theo tỉ giá thời đó vàng chỉ có hơn sáu ngàn đồng/lượng, đây là số tiền rất lớn và lượng bạch phiến rất lớn lên đến hàng chục ngàn cây vàng.
Vấn đề quan trọng của vụ án này là trong điều kiện luật pháp rõ ràng minh bạch thì chỉ cần một trung sĩ nhất quân cảnh cũng có thể chặn đứng một đường dây buôn lậu quy mô lớn cấp quốc gia có nhiều tướng tá tham gia. Với những biểu hiện vi phạm về hình thức của đoàn xe, chạy không đúng quy định, ngoài giờ hoạt động, một trung sĩ nhất đương nhiệm có quyền bắt giữ, không cần phải báo cáo ai.

TRUNG TÁ TRỞ XUỐNG ĐI TÙ,  ĐẠI TÁ THUYÊN CHUYỂN, CẤP TƯỚNG KHỎE RE

Qua điều tra ban đầu của quân cảnh Long An cho thấy vụ buôn lậu ít nhất có dính líu trực tiếp của một ông tướng ở phòng 6 Bộ Tổng Tham Mưu quân đội Sài Gòn và có đường dây bảo kê của hải quân vùng 4, các tỉnh trưởng Long An, Định Tường.... Từ lời khai của các những người áp tải đã phát lệnh truy bắt bốn chủ hàng là Hoa kiều Chợ Lớn, trong đó có hai người đã trốn qua tận Singapore. Vụ việc được đưa ra tòa án quân sự mặt trận vùng 4 xét xử. Hàng chục sĩ quan quân đội cấp tá, úy có liên quan bị tuyên án hàng chục năm tù nhưng những quan chức như Đại tá Lê Văn Năm, tỉnh trưởng Long An, Đại tá Chung Văn Bông, tỉnh trưởng Định Tường chỉ bị điều chuyển ra làm trung đoàn trưởng bộ binh. Các ông tướng liên quan hoàn toàn vô sự. Dư luận râm ran bà Thiệu Khiêm đứng sau vụ án.
Theo anh Nguyễn Văn Sang, ngay khi bắt giữ đoàn xe, Ban chỉ huy Tiểu đoàn 3 Quân cảnh nửa mừng nửa lo vì vụ việc quá lớn. Trong hoàn cảnh chiến tranh thời đó, việc đi lại ban đêm trên quốc lộ 1A rất nguy hiểm vì thường xuyên bị phục kích, đặt mìn. Thế nhưng từ Biên Hòa, sau khi nhận báo cáo bằng truyền tin, thiếu tá Đức Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 3 đã tức tốc đi xe jeep về đến Long An vào 1 giờ đêm để nắm thông tin vụ việc. Sáng hôm sau, quân cảnh Long An đã lập biên bản và dẫn giải những người bị bắt về tiểu khu Long An điều tra trong khoảng nửa tháng.

Báo chí công khai, dư luận lên tiếng, quyền lực đen phải co vòi
Ngay ngày hôm sau, báo chí Sài Gòn và cả báo chí Mỹ đã đăng rộ lên thông tin này. Người anh rể của anh Sang đang học ở Mỹ đọc báo biết tin em mình làm chuyện động trời ở Việt Nam nên hết hồn lo ngại. Nhưng thực tế dù chỉ là viên chức cấp thấp, công việc điều tra của anh Sang đụng đến quan chức cấp trên rất lớn nhưng hoàn toàn thuận lợi và không bị một áp lực, cản trở nào.

Có lẽ thấy quy mô vụ án quá lớn, Đặng Văn Nhâm đã tưởng tượng theo lô gích và viết về sự trù dập đối với người phát hiện và điều tra án “Nhưng trong danh sách những người đã bị tổng thống Thiệu ra lịnh bắt, để điều tra còn gồm luôn cả những sĩ quan và hạ sĩ quan, rõ ràng đã có công khám phá ra, và chận đứng lại được vụ buôn lậu này, như: Thiếu tá quận trưởng kiêm chi khu trưởng Gò Đen, Trung uý Thọ, trưởng Đồn Quân Cảnh Long An. Hai viên hạ sĩ quan Quân Cảnh gác trạm kiểm soát Long An, đã có công báo cáo nội vụ cho trung uý Thọ trưởng đồn, để trung uý Thọ báo cáo lên đại tá Lê Văn Năm ra lịnh chận đoàn xe buôn lậu. Chính bản thân đại tá Lê Văn Năm, đã sốt sắng thi hành nhiệm vụ, ra lịnh chận lại cho bằng được đoàn xe bằng mọi giá, cũng không thoát khỏi tội vạ oan nghiệt đổ xuống đầu…”. Thực tế, như đã nói là không có quận Gò Đen nên không có thiếu tá quận trưởng Gò Đen nào có công mà bị bắt. Về anh Sang, sau khi hoàn thành hồ sơ điều tra, anh Sang được thăng đặc cách trước hạng từ trung sĩ nhất lên thượng sĩ. Anh được điều động về Ban Chỉ huy Tiều đoàn 3 Quân cảnh làm nhiệm vụ xử lý thường vụ. Lúc này anh mới 23 tuổi và là thượng sĩ trẻ nhất đơn vị. Công việc xử lý thường vụ tiểu đoàn buộc anh phải điều động, kiểm tra cả những sĩ quan và hạ sĩ quan lớn tuổi, thâm niên cao hơn. Đó là công việc tế nhị và rắc rối về quan hệ, nên chỉ thời gian ngắn sau, anh xin chuyển về đại đội C ở Đồng Dù, sau đó Gò Dầu và cuối cùng về lại Long An. Đặng Văn Nhâm còn bịa đặt chuyện anh Sang bị đổi ra PleiKu và chết bí ẩn “Trung uý Thọ, trưởng đồn Quân Cảnh Long An, mặc dù đã có công và rõ ràng không dính líu gì vào vụ buôn lậu, đã bị phạt mấy chục ngày trọng cấm, có ghi vào quân bạ, và bị thuyên chuyển đi làm trưởng đồn QC Phước Long, một hình thức dùng bàn tay của CSBV để tiêu diệt chứng nhân. Vì chỉ trong vòng một thời gian ngắn sau đó trung uý Thọ đã bị ghi nhận là mất tích! Hai viên hạ sĩ quan Quân Cảnh, thuộc trạm kiểm soát Long An, đã có công đầu tiên báo cáo về hành tung của đoàn quân xa, đều bị phạt mỗi người mấy chục ngày trọng cấm có ghi vào hồ sơ, và thuyên chuyển lên Pleiku, thuộc Tiểu Đoàn 2 Quân Cảnh. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, 2 viên hạ sĩ quan này đã bị bắn chết không ai biết do quân thù hay quân ta hạ sát.” Thực tế Trung úy Thọ, trưởng đồn quân cảnh Long An không tham gia vụ bắt buôn lậu và cũng không bị bắt giam hay thuyên chuyển.

Đặng Văn Nhâm đã viết trong một đoạn khác của bài báo là “Đại tá Lê Văn Năm, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Long An bị giáng cấp xuống đại uý, và bị thuyên chuyển ra Sư Đoàn 21, đóng ở Chương Thiện, Gia Rai, và phải đi hành quân như một lao công chiến trường”. Theo lời anh Sang, Đại tá Lê Văn Năm hoàn toàn không sốt sắng ra lệnh chận bắt đoàn xe mà chỉ được biết sau khi anh Sang đã bắt và báo cáo lại. Nhận được tin dữ này ông Năm còn buộc miệng tức tưởi chưởi thề “ĐM tại sao đi giờ này?”. Kết quả điều tra cho thấy ông Năm có liên quan sâu trong đường dây buôn lậu, đáng lẽ phải bị bắt giam và ra tòa như những quân nhân khác nhưng không rõ vì tác nhân nào đó, ông Năm chỉ bị điều chuyển làm trung đoàn trưởng trung đoàn 14 của sư đoàn 9. Đại tá Quyến hoán chuyển về làm tỉnh trưởng Long An đến 30-4- 75. Lê Văn Năm hoàn toàn không  bị cách chức xuống làm đại úy và làm lính khổ sai như Đặng Văn Nhâm đã viết.

Siêu nổ, siêu xạo Đặng Văn Nhâm
Tổng thông Thiệu phải xử nghiêm, Đại tướng Viên không dám bênh đệ tử ruột
Qua điều tra, quân cảnh Long An phát hiện ra đường dây buôn lậu này bắt đầu từ một vị tướng ở phòng 6 (chuyên về tình báo quân sự, chỉ huy các lực lượng Biệt kích Dù, Lôi Hổ…) Bộ Tổng Tham Mưu, móc nối với một số đơn vị hải quân ở vùng bốn và các tỉnh trưởng Long An, Định Tường đưa hàng lậu từ biển vô bằng tàu hải quân và dùng quân xa đưa hàng về Sài Gòn giao hàng ở khu vực cây Da Sà. Chuyến hàng bị bắt là chuyến thứ 11. Một số chuyến trước đi từ hướng Cần Giuộc lên Sài Gòn. Nhưng do An Ninh quân đội phản ánh, Tiểu đoàn 3 quân cảnh đã cử hai sĩ quan chốt chặn ở Cần Giuộc nên nhóm buôn lậu chuyển địa bàn lên hàng ở Chợ Gạo. Cũng qua điều tra cho thấy, các chuyến trước hầu hết đều chuyển hàng vào ban ngày, đoàn xe lậu được các tỉnh trưởng bảo kê và hòa lẫn trong các đoàn xe công vụ nên không bị phát hiện. Lần này, do đi vào ban đêm lúc các đoàn xe công voa đã về hết và có những biểu hiện vi phạm rõ ràng về hình thức, thủ tục khi di chuyển nên mới bị bắt giữ.
Cũng theo anh Sang, ý thức đối diện với một vụ án lớn, các anh đã làm việc rất nghiêm túc. Trong số những người bị bắt có thượng sĩ Hảo (nguyên là huấn luyện viên bắn súng lục ở trường Quân cảnh) là thầy cũ của anh. Hảo là tay súng thiện xạ nổi tiếng có thể bắn đứt dây kẽm gai nhỏ xíu, từng thách thức bắn đứt đầu điếu thuốc đang ngậm trên miệng người khác… Dù kính trọng ông thầy cũ, anh Sang vẫn bắt giam theo đúng luật. Một người bạn học đồng khóa với anh nhưng đã đào ngũ và đi làm bốc vác cho đoàn buôn lậu cũng bị giam. Anh Sang chỉ dành một đặc ân duy nhất cho người này là mỗi sáng mang cho bạn ổ bánh mì, gói thuốc hút. Thiếu tá Đeo, trưởng ban 2 tiểu khu Long An vì tình cảm với anh Sang đã nới lỏng cho người này ngồi ở văn phòng. Người này lợi dụng sơ hở bỏ trốn, thiếu tá Đeo đã bị kỷ luật cách chức xuống còn binh nhì.
Cũng từ kết quả điều tra và báo cáo của quân cảnh Long An, An Ninh quân đội đã lần lượt bắt giam hàng chục sĩ quan từ cấp tá tới cấp úy có liên quan đến vụ án. Đây chỉ là phần việc của Bộ Tổng Tham mưu, thế nhưng Đặng Văn Nhâm đã lên gân gán ghép cho là âm mưu của Nguyễn Văn Thiệu “Theo sự tìm hiểu của tôi, những người đã bị tổng thống Thiệu ra lịnh tống giam ngay sau đó để điều tra, ngoại trừ đại tá Lê Văn Năm, tỉnh trưởng Long An, gồm toàn các sĩ quan cấp thấp và hạ sĩ quan, như: Đại uý Nhiều, tiểu đoàn phó Tiểu Đoàn 6 Quân Cảnh, thuộc Biệt Khu Thủ Đô. Đại uý Trần Hữu Thế, con rể của đại tá Luông, Giám Đốc Cảnh Sát quân khu 3, đàn em thân cận của vợ chồng thủ tướng Trần Thiện Khiêm. Đại uý Thế thuộc Tiểu Đoàn 4 Quân Cảnh, đặt dưới quyền sử dụng của Quân Đoàn 4, làm trưởng Đồn Quân Cảnh Mỹ Tho, tức thuộc cấp của đại tá Chung Văn Bông, tỉnh trưởng Mỹ Tho, kiêm tiểu khu trưởng Định Tường. Đại uý Quới, trưởng đoàn quân xa thuộc Quân Vận quân đoàn 3. Đại uý trưởng ty Cảnh Sát quận Chợ Gạo, một viên sĩ quan An Ninh Quân Đội, tôi không nhớ tên, thiếu tá chỉ huy trưởng Giang Đoàn ở Mỹ Tho (mấy người này tôi không nhớ tên)... “

Đặng Kim Thu (Thu Đen), trung tá quận trưởng Chợ Gạo, từng là sĩ quan tùy viên của tướng Cao Văn Viên đã tường thuật chi tiết hoàn cảnh bị bắt và xét xử của mình như sau “Trong khi đang làm nhiệm vụ, theo lệnh trên, tôi đã cho lính canh gác, giữ an ninh một chiếc tàu Hải quân nhỏ, đang đậu trên sông trong phạm vi cuả quận Chợ Gạo, đề phòng VC dùng B40 bắn. Vài ngày sau, chiếc tàu bị bắt vì dính liú đến vụ buôn lậu lớn, mà báo chí đặt tên là “Còi hụ Long An”, từ hải phận quốc tế. Ngày 31-1-74, vụ buôn lậu bị phát giác thì tới ngày 1- 3-74, tôi bị gọi lên cục An Ninh Quân đội để điều tra. Tại đây tôi đã trình bày rằng tôi chỉ thi hành theo lệnh trên, không biết đó là chiếc tàu dùng để buôn lậu, và không hề có chân trong tổ chức này. Trước khi tôi vào trình diện Cục An Ninh Quân đội, tôi vào nhà Đại Tướng Viên để cầu cứu thì được ông cho biết rằng tôi đã dính vào chuyện lớn ngoài tầm tay can thiệp của ông. Ông còn nói thêm, vụ này không còn là vụ buôn lậu bình thường nữa mà là một vụ liên quan tới thời cuộc. Không khéo thì chính phủ sẽ gặp rắc rối. Thôi thì chú ráng chiụ đựng trong lúc này, chờ đến khi tình hình lắng diụ, dư luận không còn ồn ào nữa, lúc ấy tôi sẽ liệu cách cứu chú. Hiện giờ không ai dám nói gì hết. Vì ông Thiệu đang tức giận. Còn báo chí ngoại quốc, và báo chí đối lập trong nước đang theo dõi để đả kích chính phủ. Với những lời khai như đã nói tới ở trên, tôi vẫn bị toà án kết án 20 năm tù, đầy ra Côn Đảo, cùng với những người chung vụ vào ngày 15-8-74 với tội danh “Làm lũng đoạn nền kinh tế quốc gia”. Lời kể của ông Thu cho thấy, rõ ràng đây là vụ án lớn, chịu nhiều áp lực của dư luận báo chí trong ngoài nước phải xử lý nghiêm ngay cả Đại tướng Cao Văn Viên cũng không dám can thiệp cho đệ tử ruột của mình. Và ngay trong hồi ký viết sau đó hàng chục năm, ông Thu cũng chưa thật sự thành khẩn.

Chỉ đánh từ trên vai xuống
Theo kết quả điều tra cho thấy đường dây buôn lậu này liên quan đến nhiều cấp nhiều đơn vị, binh chủng khác nhau: hàng lậu từ tàu đậu ở ngoài khơi đem vào đất liền là Giang Đoàn 56 Tuần Thám do HQ/Thiếu Tá Ninh Duy Định làm Chỉ Huy Trưởng vận chuyển đổ vào đất liền. Địa điểm đổ đồ lậu là Chợ Gạo, Mỹ Tho. Dù ông Đặng Kim Thu né tránh nói mình vô tội nhưng hồ sơ điều tra cho thấy để bảo vệ bí mật cho việc bốc vở 11 chuyến hàng lậu từ tàu lên xe, chính quyền địa phương đã báo động, ra lệnh giới nghiêm cấm người dân đi lại. Ông quận trưởng, cảnh sát trưởng quận không thể nào không biết và không ăn chia trong chuyện này, vì vậy việc ông Thu và trưởng chi cảnh sát Chợ Gạo ra tòa là hoàn toàn xác đáng.
Việc đoàn quân xa chuyên chở hàng lậu lại thuộc Quân Vận quân khu 3, và Quân Cảnh mở đường cho đoàn quân xa chở hàng lậu cũng thuộc Biệt Khu Thủ quân khu 3 như vậy, chắc chắn phải có sự thoả hiệp nào đó của các cấp cầm quyền quân sự từ cấp quân khu trở lên. Trong hồ sơ điều tra cũng cho thấy có ông tướng ở phòng 6 Bộ Tổng tham mưu ký sự vụ lệnh cho đoàn xe như vậy những người đã có dấu hiệu, bằng chứng tham gia còn ở cấp cao hơn. Ít nhấ phải là hai đại tá Lê Văn Năm, Chung Văn Bông, tướng trưởng phòng 7, tư lệnh Quân Đoàn 3, và tướng tư lệnh Biệt Khu Thủ Đô…. Nhưng những con cá lớn này hoàn toàn thoát lưới và không bị ra tòa, không bị cáo buộc về liên đới trách nhiệm. Từ cấp trung tá trở xuống, tất cả các đơn vị có liên quan đến đường dây buôn lậu hoặc thuộc địa bàn đoàn buôn lậu đi qua đều bị xử lý hết sức nặng nề. Tất cả đều bị đưa ra tòa và bị lột hết cấp bật lãnh án từ 7 đến 20 năm tù Côn Đảo.  Đại uý Nhiều, Tiểu đoàn phó Tiểu Đoàn 6 QC thuộc Biệt Khu Thủ Đô. Đại uý Thế trưởng đồn Quân Cảnh Mỹ Tho, thuộc Tiểu Đoàn 4 QC,  Đại uý Qưới chỉ huy đoàn quân xa, HQ/Trung Tá Lê Huệ Nhi, Thiếu tá HQ Ninh Duy Định, trung tá Biên quận trưởng quận Bến Tranh …. Ngay cả hạ sĩ quan quân cảnh nhằm phiên trực các trạm quân cảnh trên đường có đoàn xe đi qua cũng bị lột lon phạt giam.

Dựng lên những thông tin không có thật “Như trên vừa trình bày, hầu hết những sĩ quan và hạ sĩ quan đã có công chận bắt vụ buôn lậu "Còi Hụ Long An" đều bị tổng thống Thiệu trực tiếp ra lịnh tống giam để chờ ngày ra toà lãnh án” Đặng Văn Nhâm đã bình luận thêm những hệ quả không có thật về vụ án này nghe rất bi thương. “Vụ án này đã gây chấn động dư luận trong nước một thời gian khá dài, đồng thời cũng là một vết thương đau đớn cho toàn thể binh chủng Quân Cảnh, một đơn vị quan trọng có tác dụng duy trì quân phong, quân kỷ của quân lực VNCH. Riêng tinh thần của hai đơn vị Quân Cảnh thuộc Quân Khu 3 và Quân Khu 4 đều bị sa sút đến mức thảm hại. Họ không còn thấy được đâu là công lý và đâu là sự thực nữa!”

Muốn chống buôn lậu tham nhũng phải có báo chí tham gia
Cựu thượng sĩ Nguyễn Văn Sang lại cho thấy sự thật khác. Tiểu đoàn 3 Quân cảnh rất phấn chấn về vụ án này đã rửa được nỗi oan mà họ bị An Ninh quân đội gán cho là đã bảo kê buôn lậu trong những cuộc họp của Bộ Tổng Tham Mưu trước đó. Qua một người thân làm ở ngành quan thuế, anh Sang được biết ngành quan thuế đã trích thưởng theo giá trị lô hàng số tiền một triệu đồng và đại diện Tiểu đoàn 3 Quân cảnh đã nhận. Rất tiếc là cá nhân anh không được chia đồng nào trong số tiền này. Với mức lương thượng sĩ chỉ khoảng 23.000 đồng, giá vàng khoảng 7000 đồng lượng thì giá trị số tiền thưởng một triệu đồng thời điểm ấy là rất lớn.
Anh Sang cũng thấy rằng với kết quả điều tra của anh và mức độ xử lý vụ việc cũng còn có nhiều điểm chênh. Những người cấp cao có dấu hiệu phạm tội, có trách nhiệm liên quan đã không bị xử đến nơi đến chốn. Những người như thiếu tá Đeo vì thương người, sơ suất để bị can bỏ trốn phải cách chức xuống còn binh nhì hay thiếu tá Bé chỉ vì sơ suất để thất thoát một số hàng bị lột lon, đi tù là quá nặng. Điều này cho thấy chừng như những quan chức cao hơn của chính quyền mà cụ thể là tổng thống Thiệu chưa thật lòng, thật tâm chống tham nhũng mà việc xử lý chỉ nhằm đối phó với dư luận.

Nhưng cũng chính từ trường hợp này, anh Sang đã chiêm nghiệm ra một điều, chống tham nhũng, buôn lậu hoàn toàn không khó. Với anh là nhân viên cấp thấp, chỉ cần làm đúng chức năng theo luật định đã phá được đường dây tham nhũng, buôn lậu tầm cỡ quốc gia. Điều kiện không thể thiếu là pháp luật phải rõ ràng minh bạch, báo chí phải được thông tin công khai và phải có áp lực từ các tổ chức xã hội đối lập. Vụ buôn lậu còi hụ được phát hiện và anh dám quyết bắt giữ hàng, giữ người chính là nhờ những quy định về vận chuyển quân xa rất rõ ràng. Khi sự kiện được báo chí trong ngoài nước đưa tin, dư luận chú ý theo dõi và các phong trào của linh mục Trần Hữu Thanh, các dân biểu đối lập mạnh dạn lên tiếng đấu tranh đã tạo áp lực rất lớn cho chính quyền.

Trong câu chuyện thân tình, anh Sang đã nói nửa thật nửa vui là lúc nghe lời khai về chiếc xe Jeep trắng mang theo sáu chục triệu đồng tiền mặt (để dành chi trả hối lộ khi bị bắt) đã trốn mất trong lúc đang chốt chặn kiểm tra, anh đâm ra tiếc. Nếu đêm ấy chạy lên Gò Đen kiểm tra, chắc chắn anh sẽ tìm được chiếc xe ấy và nếu họ đưa hối lộ với số tiền ấy chắc anh sẽ cầm lòng không đậu mà sẽ nhận. Anh Sang kể, trong mấy năm làm quân cảnh anh chỉ phạt hoặc tha chứ chưa từng nhận tiền để tha. Có lần anh đã tha một xe hàng lậu, chủ hàng đã đưa cho người môi giới một triệu đồng và anh đã buộc người môi giới hoàn trả. Nhưng một triệu là chuyện khác, sáu chục triệu đồng lại là chuyện khác. Với sáu chục triệu, người ta có thể đổi đời và có thể đánh đổi mọi thứ an toàn. Đó là câu chuyện rất thật và mang tính người. Vấn đề với người, cơ quan có trách nhiệm quản lý nếu khôn ngoan phải có cơ chế, biện pháp phù hợp để tránh cho cấp dưới phải đối diện với những cám dỗ quá mạnh thì mới mong giữ được sự lương thiện của con người.
ĐÔI DÒNG CẢM NGHĨ SAU KHI ĐỌC QUYỂN “GIẶC THẦY CHÙA” CỦA ĐẶNG VĂN NHÂM


chân dung nhà văn Hồ Trường An


“Giặc thầy chùa” là một quyển điều tra, biên khảo của nhà văn Đặng Văn Nhâm nhằm đặt lại vấn đề hiện trạng tôn giáo và tâm linh của kiều bào chúng ta ở hải ngoại. Cũng có thể đây là một bản cáo trạng đen, một bản tường trình gai góc để mở cho kiều bào chúng ta nói chung, Phật tử VN nói riêng, nhìn thấu suốt thực trạng của những kẻ núp bóng cửa Thiền để mưu lợi, để chà đạp ý nghĩa thiêng liêng của Phật Giáo (PG) qua đủ trò gian dối, tham dâm, lường gạt vô cùng bỉ ổi. Rất có thể nhiều độc gỉa thiếu ý thức hay bị mê hoặc bởi lũ ác tăng gian ni, hoặc quá cuồng tín một cách mù quáng cho rằng tác giả Đặng Văn Nhâm cố tình chà đạp và đánh phá PG VN ở hải ngoại, hoặc làm lũng đoạn sự hòa hợp giữa các chư tăng vốn như nước với sữa.

Tôi xin thưa ngay, Đặng Văn Nhâm là kẻ thiết tha với tương lai và viễn ảnh của PG. Mục đích của anh khi viết quyển “giặc thầy chùa” là cốt bài trừ những tệ đoan trong hàng ngũ tăng ni để họ dựng lại một thứ PG căn cứ trên nền tảng Trí Tuệ và Từ Bi theo bổn hoài của thập phương chư Phật. Có thể là anh dùng thuốc sát trùng quá dung lượng, lau chùi vết bẩn quá mạnh tay, cốt dọn sạch sẽ cửa Thiền để cho PT được nhìn ánh đạo vàng rạng rỡ hơn và nhìn bằng một thứ ý thức trong sáng tuyệt vời.

Nói rộng ra, dù có đập tơi bời hoa lá một số tăng nivốn là tay sai bọn CS, trà trộn vào hàng ngũ QG chúng ta, hay một số tăng ni làm ô uế cửa Thiền, nhưng Đặng Văn Nhâm chẳng những không phỉ báng PG mà còn tha thiết với sự vững mạnh và sự trường tồn của PG trong tương lai.Đả kích ác tăng và gian ni ở trong tác phẩm “giặc thầy chùa” tác giả đã không chà đạp PG, đã không vét cạn sự sùng mộ của Phật tử đối với con đường mà Phật đã đốt đuốc soi sáng, mà anh còn làm công việc tẩy uế, sát trùng, dọn sạch con đường hành hương để Phật tử vững lòng tiến bước.

Chúng ta đã từng thấy có một số cây bút viết về Phật pháp trên tạp chí Hoa Sen ở Nam Cali. do thương tọa Pháp Châu làm chủ nhiệm. Những cây bút này công kích tệ trạng trong Thiên Chúa Giáo (TCG) , nhưng đồng thời là phỉ báng đạo TC một cách ác ý, ác tâm, dùng lời báng bổ của kẻ vô thần, nhưng nổi tiếng ở Âu Mỹ để chứng minh lập luận của họ. Những kẻ phỉ báng một tôn giáo lớn như TCG với cái nhìn tiêu cực, một chiều, phiến diện như thế, chúng ta không thể nào đối thoại với họ được.

Nhưng với tác giả Đặng Văn Nhâm trong “giặc thầy chùa” chúng ta có cảm tưởng mình có thể đối thoại với anh. Anh có một sở tri rộng rãi (connaissance étendue) về đạo Phật. Anh hiểu thế nào là giới luật, thế nào là tà đạo, thế nào là ngôi tăng bảo đúng nghĩa trong Tam Bảo. Và thú vị quá, anh còn nắm bắt được cốt tủy PG đặt trên nền tảng tinh thần Bát Nhã (tinh thần bất nhị mà người Pháp gọi là: Le non-deux, le non-dualisme). Cái tinh thần then chốt đó, bọn tăng ni ở hải ngoại phần đông (99%) không nắm bắt được.

Viết quyển “giặc thầy chùa”, tóm lại tác giả đầy thiện chí, không hề vẩn đục một chút ác ý của kẻ vô thần (athée) hay tên phạm thánh (blasphémateur). Tác giả Đặng Văn Nhâm nêu rõ nguyên nhân nào, động cơ chính yếu nào thúc đẩy anh viết quyển “giặc thầy chùa”: Tất cả mọi loài vật trên mặt điạ cầu này chỉ biết sống trong tình trạng hiện hữu với một ký ức về quá khứ giới hạn rất ngắn ngủi. Hầu hết loài vật chỉ nhận thức được những gì chợt xảy đến và so sánh điều đó bằng những kinh nghiệm trong quá khứ mà thôi. Thí dụ như con chim đã bị bắn hụt một lần, hễ thấy cành cây cong là sợ. “Kinh cung chi điểu”!

Ngược lại, con người còn biết cố thử tiên liệu xem điều gì sắp xảy ra trong tương lai. Năng khiếu thích nghi với tương lai của loài người dường như đã phát sinh từ thời kỳ đồ đá (néolithique), khi con người bắt đầu biết canh tác. Từ đó, con người từ bỏ việc hái quả và săn bắn, là hai nguồn thực vật bấp bênh, để lo việc canh nông. Việc này đòi hỏi con người phải biết suy nghĩ, tiên đoán thời tiết, tính toán kết quả mùa màng trong tương lai. Dĩ nhiên những suy tư và tiên liệu về tương lai đều có tính cách chủ quan, thành tựu tùy theo trí thông minh của từng người. Nhưng nếu đã là người, lại biết nghĩ đến tương lai, nhất thiết phải nhớ nằm lòng câu: “Ăn cây nào rào cây nấy”. Một người trồng cây ăn trái không bao giờ bứng cả gốc cây lên để bán, hay xịt thuốc khai quang lên vườn cây của mình.

Cũng một cách nnhư thế, những ông sư, bà vãi không nên để cho lòng tham danh lợi sai xử quá đáng, tranh cướp chùa chiền lẫn của nhau, không nên tỏ ra kiêu căng xấc láo, ăn nói mất dạy với cả những Phật tử đáng tuổi ông, bà, cha, mẹ. Nhất là chớ nên hành động phá hoại gia cang của tín đồ PT, hãm hiếp nữ đệ tử, bày trò mê tín dị đoan, giở thủ đoạn buôn thần bán Phật, làm tình ngay trong chốn Thiền môn. Như thế là bôi bẩn Phật pháp, hủy hoại uy danh của PG, tức là không biết nghĩ đến tương lai, là tự tay đập bể nồi cơm của mình, và tạo khó khăn cho các thế hệ hậu sinh.

Tôi vốn chỉ là một người bình thường như muôn triệu con người khác, bây giờ tôi viết quyển sách này chẳng phải để chỉ trích một số cá nhân gian tăng, ác ni, và một số PT ngu muội, ngày nay đang bôi bẩn và phá hoại Phật pháp. Tôi viết quyển sách này nhắm vào tương lai cao cả của PGVN, mong ước chấn hưng đạo này, và để cho các thế hệ tương lai khỏi bước vào vết xe đã đổ!...” (trg. 19,20).

Bọn tăng ni phá giới thường lấy câu “trọng Phật kính tăng” để làm lá bùa che đậy hành vi đốn mạt của họ. Nhưng tác giả đã đặt lại vấn đề về ngôi Tam Bảo, một trong 3 ngôi cao qúi là Phật, Pháp, và Tăng. Những kẻ mượn áo cà sa để mưu lợi, để quyến rũ phụ nữ trong cuộc cẩu hợp, gian dâm, hoặc xây dựng các dịch vụ thương mãi bịp bợm có phải là tăng, ni đúng nghĩa, hay chỉ là phường trộm cướp trá hình? Bọn chúng có xứng đáng ở ngôi Tam Bảo không?

Đặng Văn Nhâm nói có sách mách có chứng: “Trong xã hội, nếu giới côn đồ đã dùng vũ khí và hình thức bạo động, giết chóc , để trấn lột tài sản, làm giàu, thì ngược lại giới tăng ni tu hành bịp bợm, biết rõ tâm lý quần chúng, giở trò đóng kịch. Họ núp dưới bóng Phật, lợi dụng tấm áo cà sa, mượn lời từ bi, bác ái, của Phật, dùng những hình thức dụ dỗ, trấn lột êm đềm như: quyên góp tiền bạc để xây chùa lập thất, ấn tống kinh kệ, đúc chuông, đắp tượng Phật, tổ chức bán thực phẩm chay, tổ chức du ngoạn danh lam thắng cảnh thế giới, tổ chức đại nhạc hội ca vũ kịch, kêu gọi bá tánh cho vay tiền không lời (để bỏ vào ngân hàng lấy lời!), tậu mãi bất động sản, mua khách sạn cải trang làm nhà dưỡng lão, mua bán đất cát, điền thổ, ngăn các trú phòng trong chùa ra làm nhiều phòng nhỏ chẳng khác nào phòng ngủ, để cho khách thập phương mướn làm trại nghỉ hè bày đặt ra trò coi bói, bốc thuốc, chữa bệnh, thư ếm bùa ngải, làm bùa trừ tà ma, qủi quái... Ngoài ra, giới tăng ni còn bày ra gía biểu cho mỗi cuộc cúng tế, ma chay, cầu hồn và trốn sâu lậu thuế. Tóm lại, không một hình thức kinh tài đê tiện, dù hạ cấp đến đâu, giới tăng ni bất chính vẫn không từ nan.

Nên biết, trước đây cả hàng ngàn năm chính đức Phật đã phải gọi bọn tăng ni bịp bợm, tu hành bất chính, như đã kể trên là: Những tên cướp lợi hại nhứt! Xin trích dẫn một đoạn trong Tạng kinh, bộ Anguttaranikãya chakkanipãta, bài kinh Rattisutta, gồm những câu như sau: “Những tỳ khưu chỉ lo làm giàu bằng cách bòn rút của bá tánh là đống rác thúi, là tên cướp lợi hại nhứt, vì tướng cướp thật còn bị nhà chức trách truy tầm, trái lại tỳ khưu phá giới vẫn sống thong thả, được người cúng dường vật thực ngon ngọt, y phục, thuốc men, chỗ ở tốt đẹp với tất cả tấm lòng cung kính. Nếu khi dâng cúng mà các thầy không dùng, người thí chủ thấy mình rất buồn. Đã được người cho mà còn lạy lục, yêu cầu, thật là tên cướp lợi hại nhứt. Đức thế tôn gọi bọn này là Mahãcora (tên cướp vĩ đại). [Ghi chú thêm: Trong Tạng Luật Mahãvibhanga, đoạn I, cũng có ghi lời Phật dạy tương tự].

Mặt khác , ta còn thấy đại đa số tăng , ni trong giới tu hành PG từ trong quá trình lịch sử dân tộc và lịch sử đạo pháp, đều xuất thân từ giới cùng đinh, nghèo khổ, nếu gặp thời kỳ chiến tranh thì còn có thêm hạng tứ thời thất nghiệp, trốn quân dịch, lính đào ngũ, bọn “trốn việc quan đi ở chùa!...” (trg. 95,96)

Để nhấn mạnh về vấn đề phá giới của bọn tăng ni ở hải ngoại, tác giả Đặng Văn Nhâm đã mượn lời đức Đạt Lai Lạt Ma ở mục “Đức Đạt Lai Lạt Ma nói gì về mối tương quan thầy chùa/đệ tử ?” như sau: “Dù vậy, ta vẫn phải bình tĩnh, lấy công tâm mà nhận định:

Lỗi tại ai? Thầy chùa hay nữ PT?

Dĩ nhiên, xét một cách tổng quát, cả thầy chùa lẫn nữ PT đều chịu liên đới trách nhiệm, vì đã cùng nhau can dự vào tội gian dâm giữa chốn Phật đường. Nhưng muốn cho rõ ràng hơn, ta hãy lóng tai nghe lời phân tách của đức Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng. Xin tóm tắt sau đây:

- “Một phần lỗi thuộc về nữ PT. Vì họ đã dại dột coi các ông thầy như thần thánh, lầm tưởng mọi hành động của ông thầy đều cao thượng , nên đã tỏ ra tuân phục, cưng chiều các thầy quá đáng, làm hư hỏng họ... Điều quan trọng là đừng nên vội vàng coi ai là thầy của mình. Vì đó là mối quan hệ rất quan trọng. Phải đợi một thời gian dài, có khi cần đến 10 năm hay lâu hơn thế nữa, để quan sát cách xử sự, cách giảng dạy, khả năng tu hành của kẻ ấy cho thật chính xác. Trong thời gian đó ta chỉ nên coi họ như một người bạn thiện trí thức mà thôi.

Không nên tin cậy gì nơi họ hết thảy! Nếu PT thấy ông thầy nào hành động bất xứng, không hợp đạo lý, có quyền phê bình ngay những hành động đó. Trong sách Phật đã dạy rất rõ: Ta chỉ nên theo học những người thầy có tư cách đàng hoàng. Kẻ nào bất xứng , nói những điều trái đạo lý, hành động gian tà, người PT phải xa lánh ngay.

Trong Mật Tông Du Gìa Tối Thượng, đã nói rất rõ: Thầy dạy điều gì trái với Phật pháp, chớ có theo, mà phải phê bình, chỉ trích ngay... Tóm lại người PT có trách nhiệm không để bị lôi cuốn vào con đường tội lỗi!

Về phía tăng sĩ, đức Đạt Lai Lạt Ma cũng nói, tóm tắt như sau: Về phía người thầy, họ phải chịu trách nhiệm về những hành xử của mình. Nếu người thầy mà để cho PT quyến rũ vào con đường bất chính, thì người đó đã tỏ ra thiếu nội lực, thiếu nhân cách của kẻ tu hành. Trong khi rao giảng Phật pháp, nhân danh một kẻ tu hành, chính ông thầy lại phạm những lỗi lầm mà ông ta thường khuyên kẻ khác nên tránh, tức là ông ta đã phản bội công việc mình làm. Thực là một điều đáng xấu hổ...” ( trích lời trao đổi giữa đức Đạt Lai Lạt Ma với tiến sĩ tâm lý học Jack Engler, và GS tâm lý Jean Shinoda Bolen).(trg. 554,555)

Quyển “giặc thầy chùa” không thuần túy là một bản tường trình, một cáo trạng hay một thiên phóng sự. Nó vượt cao hơn những yếu tố đó. Nó cũng là một thiên tiểu luận về Phật pháp, dù sơ sài, nhưng được xây dựng trên những vấn đề xương sống, những căn bản chính yếu, và nhất là cái cốt tủy tinh hoa của PG. Tác giả trình bày sáng sủa, đơn giản để người đọc ở mức độ sơ cơ có thể nắm bắt trọn vẹn những điều anh đã giải bày. Như thế chứng tỏ anh có trình độ khá cao về Phật học, để khỏi bị bọn tăng ni ở hải ngoại lấy le, lòe đời, lừa bịp được anh.

Qua cáo trạng của anh, đã cho chúng ta mới biết vì sao cách dạy Thiền của Thích Nhất Hạnh đã làm cho nam đệ tử ông ta là Thanh Hương bị chứng hoạt tinh và làm cho Thích Nữ Trí Tánh điên loạn cho tới chết. Đặng Văn Nhâm đã nắm bắt được cái trình độ hiểu biết giáo lý Phật học của Nhất Hạnh ra sao, phương pháp dạy Thiền hổ lốn của ông ta thế nào, khi ông ta xưng mình thuộc dòng Thiền Lâm Tế:

- “...Thiền sư Lâm Tế, hiệu Nghĩa Huyền, người tỉnh Hà Nam, đã được thiền sư Hoàng Bích truyền tâm pháp. Lâm Tế có một nhân cách ngang tàng có thể sánh với Bồ Đề Đạt Ma... Tư tưởng thiền Lâm Tế đặt nặng trên nguyên lý “vô tâm” và “chúng sinh với Phật không khác”. Lâm Tế có nhiều phương pháp giáo hóa rất đặc biệt, như: Tam cú, tam huyền, tam yếu, tứ chiếu dụng, và tứ tân chủ. Đặc biệt nhất là phép dùng bổng yết ( gậy đánh và tiếng hét), một cách đánh thức sự giác ngộ.

Căn cứ trên những chủ yếu kể trên của thiền Lâm Tế, ta thấy ngay Thiền cuả Nhất Nạnh chỉ là một thứ thiền ba rọi, chẳng khác gì lối tập Yoga của mấy người Ấn Độ!

Thêm một chứng minh nữa về trình độ thiền học của Nhất Hạnh. Viết về tương lai văn hoá, Nhất Hạnh cho rằng mai sau VĂN sẽ là GIÁC. Có lẽ ông ta đã nhầm lẫn giữa BẢN THỂ và HIỆN TƯỢNG ( noumène et phénomène). BẢN THỂ thuộc về TÁNH (être,essence, noumène). HIỆN TƯỢNG thuộc về TƯỚNG (état, phénomène). Một đàng còn nằm trong dạng thức trừu tượng, vô hình. Một đàng đã hiển lộ, hữu hình. Điều này chứng tỏ Nhất Hạnh đã không biết rằng VĂN HÓA là cái gì còn nằm trong vòng khái niệm, tức vẫn còn là HIỆN TƯỢNG. Còn GIÁC là cái gì đã lọt ra khỏi khái niệm, trở thành BẢN THỂ, là CHÂN TÂM, là BỒ ĐỀ...

Quan niệm về văn hoá như Nhất Hạnh vậy là sai lầm! Viết về Duy Thức học, Nhất Hạnh cóp nhặt lung tung, và viết lem nhem chằng đụp, kiểu giật gấu vá vai, không mạch lạc. Người đọc thấy quyển Duy Thức Học của Nhất Hạnh còn thua xa quyển “nỗi đau lòng mẹ” của BS Nguyễn Thanh Giản.

Viết về Thiền, Nhất Hạnh đã xuất bản quyển “Đường vào Thiền học”. Không cần phải đọc, chỉ cần liếc qua cái tựa nghèo nàn đó ta cũng đã nhận ra cái dốt và chân tướng bịp của tác giả rồi. Thiền làm gì có “đường xá” nào mà vào với ra?! Một khi đã có đường vào, tất có tới có lui, có qua có lại, tức là những động tác đối đãi. Trong khi đó, Thiền vốn tối kỵ sự đối đãi. Thiền căn cứ trên tinh thần bất nhị (le non-deux, le non-dualisme).

Tu Thiền mà tâm ta còn trụ chấp là còn bị trói buộc vào cuộc đời. Chí như trụ chấp vào việc chân chính cũng chưa phải là đã giaỉ thoát. Vì ta vẫn chưa gạt bỏ được hai niệm đúng/sai, còn bị vướng mắc trong cái lưới vô hình của sự đối đãi. Kinh Phật Bảo Đàn dạy: “Vô niệm gỉa, ư niệm nhi ly niệm. Vô tướng gỉa, ư tướng như ly tướng” (không niệm có nghĩa là trong niệm mà không chấp niệm, vô tướng nghĩa là trong tướng nhưng không chấp tướng).

Đó là lý Bát Nhã, cốt tủy của Thiền Đại Thừa. Với trình độ sơ cơ như Nhất Hạnh làm sao thâm nhập nổi, để mà viết sách! Tóm lại, ta nên nhớ rằng: Thiền vốn nằm sẵn trong ta. Khi ta còn mê còn chìm đắm trong cơn đại mộng của cuộc đời, thì chưa có Thiền. Chỉ khi nào ta tỉnh thức lúc đó ta mới chứng ngộ được Thiền!

Đến đây, thiết tưởng tôi cần phải lưu ý những người tập “thiền với Nhất hạnh một điều cực kỳ quan trọng này: “Thiền là thiền. Yoga là Yoga. Nếu tập yoga, người ta có thể tập cả bầy như các lớp tập thể dục dưỡng sinh. Nhưng Thiền khác hẳn: Lấy TÂM làm gốc. Mục tiêu chuyên chú huấn luyện tinh thần, tư tưởng, giải thoát tâm linh. Trong Thiền, vai trò hướng dẫn của người thầy đối với học trò phải toàn diện, rất trực tiếp, và hết sức kiên trì trên căn bản tâm cảm sâu xa, đầy lòng từ ái, chẳng khác nào như sự dìu dắt của người mẹ đối với đứa con còn trứng nước.

Như vậỵ, muốn đạt ngộ trong khuôn khổ “tâm truyền tâm”, các bạn không thể tập Thiền kiểu “hội chợ” như Nhất Hạnh đã làm. Thử hỏi, trong đời này mấy ai đã đạt ngộ? Huống chi Nhất Hạnh đã chứng ngộ gì đâu mà hòng có được cái “TÂM” nào để trao chuyền cho bạn. Nếu không chỉ là trò đóng kịch với cái tâm bịp bợm, để làm tiền. Ấy là chưa kể đến đại tội đã phạm đủ ngũ đại giới, tức đã bị mất giới thể, thì giới đâu nữa mà truyền cho ai?!” (trg. 287,288,289).

Để định nghĩa giáo lý nhà Phật cho đúng đắn, Đặng Văn nhâm đã viết mục “Phật giáo có phải là một triết lý không?” Xin đọc: “Về mặt tôn giáo, Như Điển càng tỏ ra ấu trĩ và sai lầm thảm hại hơn. Ngay từ đầu, khi viện dẫn câu “bất lễ quân vương, bất lễ phụ mẫu”, Như Điển đã cho là “TRIẾT LÝ CỦA PHẬT GIÁO”. Thực không thể nào tha thứ được!

Là một tăng sĩ PG mà cho đến tận giờ phút này Như Điển vẫn không biết được rằng PG vốn chẳng có một cái thứ gì gọi là “triết lý” (philosophy) hết thảy! Mà “philosophy” là gì?- Phân tách danh từ này ta thấy có 2 chữ: PHILOS = sự thương yêu; và SOPHY = trí tuệ. Vậy, PHILOSOPHY có nghĩa là: yêu thương bằng trí tuệ.

Ngoài ra, cũng có người định nghĩa “triết lý” là môn học tìm hiểu nguyên lý của vạn vật, hoặc phương pháp lý luận để tìm hiểu rốt ráo nguyên tố hiểu biết sự thật. Nếu hiểu triết học như một hệ thống trí thức luận đem lại lời giải đáp đầy đủ cho câu hỏi: “Đời sống là gì?”, thì Phật Giáo hoàn toàn không phải vậy.

Theo Webster’s Dictionary, Phật Giáo không phải là một triết học vì Phật Giáo không phải chỉ là sự yêu chuộng trí tuệ, lòng ham thích thúc đẩy đi tìm trí tuệ. Theo William Durrant, trong “The history of Philosophy”, trang 2, Phật Giáo cũng không phải là một lối gỉai thích căn cứ trên lý thuyết, cái không bao giờ được biết (như trong siêu hình học) hay cái được biết không rành mạch (như trong triết học luân lý hay chính trị).

Trong Đại Thừa Tuyệt Đối Luận, Nguyệt Khê Pháp Sư đã viết: “Phật Giáo chẳng phải là triết học”. Là tín đồ Phật Giáo, chúng ta đã nhiều lần nói rõ. Mục đích của triết học là cầu tri kiến, mà mục đích của Phật pháp là “lìa tri kiến”. Việc làm cuả triết học là nơi lời nói; còn Phật pháp là ở chỗ “lìa lời nói”.

[Dẫn chứng thêm của ĐVN : Sau khi thuyết pháp xong, Thích Ca liền phủ định công việc thuyết pháp của mình. Ngài nói: “Ta đã ròng rã 49 năm thuyết pháp, nhưng chưa từng nói một lời nào!”. Sau đó Lục Tổ Huệ Năng nói cũng không khác: “Nếu ta nói có Pháp cho ngươi, đó là ta đã dối ngươi rồi vậy!”


Như thế, ta phải hiểu những lời nói, hay văn tự giảng pháp khi vào được cảnh giới chân như rồi thì văn tự và ngôn ngữ đã trở thành “giải thoát tướng “, vì không muốn cho chúng sinh sa vào lầm lạc: nhận ngón tay chỉ mặt trăng là... mặt trăng!].

Triết học thì dùng lý trí để làm con đường đi đến chân lý; còn Phật pháp thì lại cho rằng lý trí là “sở tri chướng” và bài xích nó là vọng tưởng.

Các triết gia Tây phương thì cầu nơi lý trí, ỷ lại vào lý trí; còn nhà Phật thì lại đi phá trụ lý trí, phủ định lý trí. Cho nên có thể bảo rằng hai bên nghịch lẫn nhau. Bản thân của triết học là thuộc về tương đối luận, chưa đạt đến cảnh giới tuyệt đối, thường bị sự hạn chế của thời gian, không gian, nên nội dung của triết học thường tùy theo thời đại mà thay đổi, thật chẳng một ai dám công nhận triết học là triết lý tuyệt đối.

Phật pháp thì khác. Phật pháp là sự chân thực tuyệt đối, siêu việt thời gian, không gian, nên trải qua muôn đời chẳng hề thay đổi...”

Theo tôi, nói cách khác cho dễ hiểu, triết học chỉ đặc biệt chú trọng đến sự hiểu biết, thuộc về trí tuệ; mà không quan tâm đến phần thực hành. Trong khi đó PG lại đặc biệt quan tâm đến việc thực hành và chứng ngộ. Vậy tất nhiên PG không phải là một triết lý!

Do đó, một kẻ học Phật, dù mới nhập môn, cũng phải biết ngay Như Lai không phải là một triết gia như: Socrate, Descarte, Hegel, Schopenhauer, Henri Bergson, William James, Albert Einstein hay Karl Marx...Như Lai cũng không phải là đấng tiên tri Mohammed, giáo chủ của đạo hồi, hay là đức Chúa Trời Jésus Christ v.v...

Tóm lại, Phật Giáo không phải là một triết học (philosophy) cũng không phải là một tôn giáo (religion), không phải là một học thuyết, hay một chủ nghĩa (doctrine), càng không phải là khoa học luân lý (éthic); và Phật Tổ Như Lai chỉ là đấng “vô thượng y vương” chữa được các loại “khổ bệnh nan y” cho nhân loại, hoặc ngài là “người chỉ đường” cho dân gian bước vào “chánh đạo”, để tiến tới “Niết Bàn”. Những lời bày đường chỉ lối, dạy dỗ của Như lai để cho hậu thế, chỉ nên gọi là những “di ngôn của Phật Tổ”.

Chú ý: Những chữ “Phật Giáo” tôi dùng trong bài này, chữ “GIÁO” có nghĩa: Lời giáo huấn, lời dạy, chứ không phải tôn giáo! [Muốn chứng minh tường tận PG không phải là một tôn giáo, cần phải viết riêng một quyển sách. Điều đó ra ngoài chủ đề của sách này!].(trg. 435, 436,437).

Như thế chúng ta gặt hái thêm một căn bản hiểu biết: Về bên Thiền Tông, muốn có đốn ngộ (santori immédiat), hành gỉa không nên suy luận về Niết Bàn. Niết Bàn là một vũ trụ bao la không ngằn mé, trí óc ta thì bé tẻo teo như trái dưa chuột.

Làm sao chúng ta đo được một bầu trời, huống chi cái trí vô biên của Phật? Càng suy luận chúng ta càng gặp nhiều sai hỏng và rớt qua tà đạo. Chúng ta phải dùng chính tư duy trong Bát Chánh Đạo, tức là tư duy những chặng đường mà đức Phật soi sáng: Bố thí, giữ giới, trì niệm, tinh tấn để trong cõi Thiền đầu óc được rỗng rang, vọng niệm tiêu tan, chân tâm hiển lộ. Giây phút mà chân tâm hiển lộ là giây phút mà trực giác thù thắng bùng lên, hoát ngộ. Lúc đó cái tri kiến của ta sẽ vô biên như tri kiến Phật và nhập vào tri kiến Phật. Thiền chỉ nhằm mục đích vun quén cái trực giác thù thắng ấy, chứ không phải vun quén cái suy luận về cái Niết Bàn mà chúng ta cho rằng là đối tượng để suy niệm.Niết Bàn dùng làm đối tượng thì là Niết Bàn ở ngoài ta, nhưng thực ra nó ở sẵn nơi ta, cần chi suy luận vô ích.

Còn vấn đề tu chứng, trong mục “ai ăn nấy no, ai tu nấy chứng”, Đặng Văn Nhâm , thêm một lần nữa đã ý thức một cách trong sáng diệu kỳ về chuyện hành trì, tu tập. Xin đọc: “Trong phạm vi chữ “HIẾU”, đạo Nho chẳng khác nào PG, cũng đều dạy môn sinh và đệ tử phải ghi khắc, tôn thờ công ơn cha mẹ. Trong bài nêu trên của Như Điển, ông sư này tỏ ý kích bác giới nhà Nho bằng những câu nguyên văn sau đây: “Vì vậy nên đã có không hiếm những nhà Nho chê trách đạo Phật và đặc biệt là những tăng sĩ bất hiếu với phụ mẫu. Vì lẽ tóc râu là những vật mà cha mẹ sinh ra, ta không dưỡng nuôi chúng thì chớ. Ở đây các vị tu hành đều cạo râu, cạo tóc. Lại chẳng lạy cha mẹ khi đã khoác áo nhà tu. Như thế không phải là bất hiếu chăng?

Nếu nhìn theo cái nhìn của thế gian thì đúng vậy; nhưng nhìn theo cái nhìn của người xuất thế gian thì không đúng...”

Trước hết, không cần để ý, ta cũng thấy ngay trong câu đầu Như Điển đã cố tình dùng chữ vu khoát cáo buộc Nho gia “chê trách đạo Phật” bất hiếu với phụ mẫu. Nói như thế tức Như Điển muốn ngầm cho mọi người biết hành động “bất lễ phụ mẫu “của Như Điển là do chủ trương và đường lối của đạo Phật, chứ không phải do sở nguyện hay bản chất cá nhân của ông ta. Đó là một “sảo thuật” núp bóng tượng Phật rất khéo của Như Điển. Nhưng không ngờ sảo thuật đó đã đưa đến hậu quả ngược, chứng minh cách hết sức hùng hồn cho người đọc thấy rằng: Sư Như Điển đã chẳng biết tí gì về những hành động hiếu thảo của đức Phật đối với vua cha lúc ngài tạ thế. Như Điển cũng mù tịt luôn cả những lời Phật ngôn về đạo hiếu, và chuyện con qụa mà tôi vừa kể trên.

Nếu Như Điển đã biết trước những điều đó, chắc chắn ông ta không bao giờ dám hạ bút viết mấy chữ “Nho gia chê trách đạo Phật và đặc biệt là các tăng sĩ bất hiếu với phụ mẫu”.

Trong vấn đề này sau khi đã biết đạo Nho và đạo Phật đều coi trọng chữ HIẾU, thiết tưởng ta phải tách rời đạo Phật ra khỏi những hành động của cá nhân tăng sĩ. Như Điển cũng như tất cả những người hiện đang quấn cà sa trên cổ nên biết rằng họ không phải là đạo Phật. Họ càng không bao giờ nên đồng hoá cá nhân của họ với đạo Phật, và cho rằng đạo Phật tức là họ. Người PT cũng cần phải sáng suốt nhận định phân biệt minh bạch như thế, để ngăn ngừa bọn gỉa dạng tu hành làm ô uế PG.

Bây giờ trở lại vấn đề Như Điển cho rằng nhà Nho chê trách các tăng sĩ bất hiếu với cha mẹ. Lời đó có đúng không? Thực ra những ai đã biết chút đỉnh về Nho học, hay chỉ cần đọc qua câu: “thân thể phát phu thụ ư phụ mẫu bất cảm hủy thương” (thân thể, râu tóc là của cha mẹ sinh ra,không nên hủy hoại) và câu: “Bất hiếu hữu tam: Vô hậu vi đại” (bất hiếu có 3 điều: lớn nhất là không con thừa tự), tất phải hiểu đó là chủ trương của Nho gia, và các môn đệ ở nơi cửa Khổng sân Trình, hoàn toàn không nhắm chỉ trích riêng những kẻ tu hành theo PG, vì giới luật của nhà chùa phải cạo trọc đầu, và không được lấy vợ, không có con.

Trong suốt quá trình văn hoá dài hàng nghìn năm của dân tộc VN chuyện này chưa bao giờ được đặt thành vấn đề.Vì từ hàng nghìn năm qua, dân tộc VN vốn có truyền thống “tam giáo đồng môn”. Nhiều chùa còn thờ cả 3 ông Phật, Lão, Khổng. Nhiều vị cao tăng rất uyên thâm Nho học. Ngược lại, ta cũng đã thấy nhiều nhà Nho rất làu thông kinh kệ. Trong lịch sử văn hoá cuả dân tộc VN ta có thể tìm thấy rất nhiều Nho gia, sau một thời gian đem tài trí và khả năng ra phục vụ quân vương và đất nước, đến khi về già đã qui ẩn trong câu kinh tiếng kệ, hoặc theo gót của Lão, Trang...

Nhưng Như Điển còn cố vớt vát bằng câu: Vì một người đi tu có thể làm siêu thăng cho nhiều đời cha mẹ “Cho nên sự xuất gia cao qúi là dường ấy!”

Viết đến đây, thực sự tôi đã không khỏi vò đầu bứt tóc kêu trời. Tôi không ngờ nhà sư này, đã lên tới chức thượng toạ, mà còn không biết rằng trong PG: “AI TU NẤY CHỨNG”, cũng như “AI ĂN NẤY NO, AI ĐI NẤY TỚI”. Tức chẳng có một kẻ đi tu nào, dù đã chứng ngộ, huống chi loại tu hành bịp bợm (kiểu Như Điển) vẫn không thể làm siêu thăng cho nhiều đời cha mẹ được!” (trg. 441,442, 443).

Tôi vốn không mấy quan tâm những hành vi điếm nhục cuả tăng ni ở hải ngoại. Tôi cũng không thích đọc những chuyện phá giới công khai hay bí mật của họ. Ở “giặc thầy chùa”, tôi chỉ thích lấy ra những kiến thức về PG của Đặng Văn Nhâm. Và tôi rất thích thú tìm được một người bạn, hoặc hơn nữa một người anh, có thể đối thoại với mình, có thể chia sẻ với tôi giáo lý mà đức Thế Tôn đã cầm đuốc soi đường. Còn công việc tẩy uế, sát trùng trong đám giặc thầy chùa là công việc của riêng anh, thiết nghĩ rất hữu ích, nhưng vẫn không phải là cái mục đích tìm hiểu của tôi. Và tiện đây, tôi cũng cần bày tỏ sự mến mộ những bài thơ chua của Trạng Phét cuả Hồ Công Tâm , mà Đặng Văn Nhâm đã đưa vào quyển sách.

Như thế, quyển “giặc thầy chùa” là một cuốn sách phổ thông. Ai muốn tìm hiểu một vài điều then chốt trong Phật pháp thì nó sẽ cung cấp những gì bổ ích cho sở tri của đương sự. Ai tha thiết với vấn đề làm sạch PG, chấn hưng PG, thì bản tường trình hành vi về đốn mạt của tăng ni mượn cửa chùa làm trung tâm dịch vụ kinh tài hay làm kỹ viện dâm phòng, trong sách sẽ cung cấp cho đương sự rất nhiều tài liệu quí giá.

Tôi còn nhớ trong quyển “Le Pavillon des Femmes” của nữ sĩ Pearl Buck, có đoạn nói về bà phu nhân họ Vũ đọc cuốn dâm thư “Kim Bình Mai”. Bà Vũ có năng khiếu đọc sách rất bén nhạy và uyển chuyển tuyệt vời. Theo bà , ai thích cảnh giao hoan dâm dật trong phòng khuê, cuốn sách đã có sẵn nhiều pha cụp lạc, có thể kích thích nhục cảm cho đương sự. Ai muốn tìm hiểu xã hội thối nát trong giới tham quan ô lại, quyển sách cũng có luôn!

Ở “Le Pavillon des Femmes” độc giả có thể tìm cái tồi tệ lẫn cái tốt đẹp của văn chương. Nhưng ở “giặc thầy chùa”, Đặng Văn Nhâm, qua cách tấn công các ác ni, dâm ni, gian tăng, dâm tăng, và qua cách trình bày kiến thức về Phật pháp đều làm sáng tỏ hai khía cạnh tích cực, nói lên cái niềm thiết tha về đạo đức và sự mến chuộng đạo hạnh của tác gỉa.

Hiển Vân Các, cuối Xuân 2002
HỒ TRƯỜNG AN