Search This Blog

Thursday, December 28, 2017

CON KIẾN ĐI KIỆN CỦ KHOAI

LƯƠNG TÂM CỦA NHỮNG TÊN BỊP BỢM


"Con người ai cũng có lương tâm nhưng lương tâm đối với những kẻ bịp bợm không có gía trị bằng lương tháng"

Chiều ngày 24 trước đêm giáng sinh 2017, xem lại email lần chót để thảnh thơi ăn uống, vui chơi với gia đình, chúng tôi thấy email của Mạch Sống chuyển bài viết có tên “Vận động Hoa Kỳ: từ lương tâm đến bổn phận” Ts. Nguyễn Đình Thắng, lướt qua bài viết thực tình chúng tôi không ngờ Nguyễn Đình Thắng nhận thức vớ vẩn đến như vậy và tất nhiên người đồng mưu, đồng tâm đang hợp tác chặt chẽ với Thắng BPSOS như một cặp bài trùng là Cao Quang Ánh cùng có chung một loại "lương tâm và bổn phận" giống hệt nhau. Đó là bổn phận phải xoay sở để có "lương tháng" để duy trì BPSOS chứ không phải "lương tâm" lo lắng, giúp đỡ bất cứ ai khác như Thắng nói. Câu chuyện Thắng cứu giúp 2000 người Việt nhập cư lậu ở Thái Lan là một câu chuyện huênh hoang khoác lác. Qúy độc giả chắc vẫn chưa quên trường hợp cãi cọ ầm ĩ đòi BPSOS công khai tài chánh trước dư luận giữa Nguyễn Đình Thắng BPSOS với cô Holly Ngô trước đây.

Holly Ngô là ai?

Đó chính là cô nữ sinh Gia Long từng được Nguyễn đình Thắng dùng làm một chứng nhân, một phát ngôn viên của BPSOS có chương trình do BP SOS trả tiền phát trên đài Ngô Thị Hiền hàng năm trời, đã cùng Nguyễn Đình Thắng, Cao Quang Ánh ra làm chứng trước tiểu ban nhân quyến ở hạ viện năm 2013 vì thế rất tin tưởng, ca tụng Thắng như "thánh sống". Cô Holly Ngô đã nộp số tiền $10,000 USD để mua chữ Hào Kiệt On Sale, đã từng tích cực vận động tổ chức quyên góp hàng mấy chục nghìn USD giao cho Nguyễn Đình Thắng chuyển qua giúp cho những người Việt sống bất hợp pháp ở Bangkok. Cuối cùng khi Holly Ngô sang tận Thái Lan mới phát giác ra đã bị lừa dối vì tiền bạc không trực tiếp đến tay nạn nhân nào ở Thái mà đi vào "cõi vô thiên lủng".

Khi phát giác ra sự thật phũ phàng này, cô Holly Ngô đòi hỏi Nguyễn ĐìnhThắng công khai tài chánh, đương sự không trả lời lẳng lặng xóa danh Hào Kiệt On Sale trong tổ chức mà còn xúc phạm danh dự cô Holly Ngô nên cô đã thuê luật sư kiện để làm sáng tỏ vấn đề.

Chúng tôi không muốn nói vế việc này nhưng bởi Thắng đem ra làm bằng chứng, khoe khoang cái gọi là "lương tâm" của đương sự nên phải có đôi dòng nhắc cho độc giả nhớ lại. Vụ "Holly Ngo kiện Nguyễn Đinh Thắng và BPSOS" sẽ ra tòa trong năm 2018 tại Nam Cali, lúc đó mọi việc sẽ rõ ràng với những bằng chứng cụ thể.

Trở lại với vấn đề "Đòi Tài Sản" mà Thắng gây lên thành phong trào lần thứ hai, chắc chắn cả cộng đồng Việt Nam ở Hoa Kỳ đều thấy Nguyễn Đình Thắng BPSOS & Cao Quang Ánh chẳng có "lương tâm và bổn phận" gì ngoài việc lừa thiên hạ bỏ tiền ra thuê Nguyễn Đình Thắng BPSOS & Cao Quang Ánh làm dịch vụ pháp lý, viết đơn khiếu nại đòi tài sản theo phong trào các đương sự đang vẽ vời lếu láo mà thôi.
Nếu căn cứ vào việc làm của các cơ sở chuyên nghề dịch vụ pháp lý, việc làm đơn từ khiếu nại, kiện cáo ra tòa để lấy tiền hoàn toàn không có gì là sai. Nhưng khi người ta cấu kết với nhau dựng lên một phong trào khiếu kiện "đòi tài sản" để không bao giờ thắng kiện thu hồi được tài sản hay tiền bạc mà chỉ nhằm vào mục đích cứ thu tiền lệ phí dịch vụ dài dài theo định kỳ thì đó là hành vi bất lương lừa đảo mà các nạn nhân chỉ từ "mất tiền - mất tiền - và tiếp tục mất tiền cho dịch vụ pháp lý" chứ không có cách gì khiếu nại.

Qúy vị hãy cùng chúng tôi đọc đoạn trích dẫn từ bài viết của Nguyễn Đình Thắng để thấy đương sự nổ, bốc phét quá sức tào lao trong tiểu đoạn Thời gian dài chuẩn bị:

TRÍCH: " Từ năm 1997, chúng tôi bắt đầu theo dõi và nghiên cứu vấn đề tài sản ở Việt Nam của công dân Hoa Kỳ. Đó là năm tổ chức BPSOS chuyển từ bảo vệ thuyền nhân sang các lĩnh vực nhân quyền khác sau khi các trại tạm dung cho thuyền nhân ở Đông Nam Á và Hồng Kông đều đã đóng cửa. Quyền sở hữu tài sản là một nhân quyền, thuộc điều 17 của Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Khi Nghị Quyết 23/2003/QH11 vừa được ban hành chúng tôi đã có luật sư ở Việt Nam nghiên cứu nội dung. Khi việc thực thi nghị quyết vừa hoàn tất vào cuối tháng 6, 2009 thì tháng 9 năm sau, BPSOS báo động Đại Diện Mậu Dịch Hoa Kỳ (trực thuộc Toà Bạch Ốc), Bộ Ngoại Giao và nhiều nghị sĩ Hoa Kỳ về tình trạng chính quyền Việt Nam đã xâm phạm tài sản công dân Hoa Kỳ. Tháng 9 năm 2012, chúng tôi phát động thỉnh nguyện thư trên trang mạng của Toà Bạch Ốc để công khai báo động Tổng Thống Hoa Kỳ về tình trạng này. Cùng lúc, chúng tôi thu thập hồ sơ đợt 1 để nghiên cứu và đối chiếu với luật Hoa Kỳ và với các chương trình đòi tài sản thành công của các nhóm dân Hoa Kỳ khác. Trong thời gian 2013-2016, chúng tôi liên lạc với nhiều chục vị dân cử liên bang, các giới chức Bộ Ngoại Giao và Toà Bạch Ốc để thăm dò phản ứng và lấy ý kiến. Thậm chí, chúng tôi đã đưa Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ra toà Liên Bang để lấy một số thông tin cần thiết. Điều này cho thấy là việc chiếm đoạt tài sản của công dân Hoa Kỳ tương đối mới xảy ra và chúng tôi đã phản ứng ngay. Và điều này cũng cho thấy là chúng tôi đã thử nghiệm và chuẩn bị nhiều năm trước khi công bố Chương Trình Đòi Tài Sản vào tháng 8 năm nay. HẾT TRÍCH


Theo đoạn văn thượng dẫn, tính chất phét lác, xạo láo của Nguyễn Đình Thắng BPSOS nên được phong cho một cái danh nổi hơn là "Thắng Nổ" đồng thời chúng tôi đề nghị mọi người chính thức công nhận bằng Tiến Sĩ Nổ siêu thượng ngoại hạng của Nguyễn Đình Thắng.

Nhờ có Thắng Nổ tự nói ra nên người ta mới biết Thắng đã chuẩn bị từ ngày còn là một sinh viên "volunteer" làm công ích cho tổ chức phi lợi nhuận chuyên trách công việc giúp người tỵ nạn mau chóng hội nhập, ổn định đời sống, làm giấy tờ xin welfare, foodstamp, thẻ xanh, thi quốc tịch, chích ngừa cảm cúm v.v. và thực tế cho đến ngày nay thì BPSOS cũng chỉ làm nhiệm vụ như thời xa xưa chứ không tiến thêm được bước nào khác. Vậy mà Nguyễn Đình Thắng tự quan trọng hóa như đã lao tâm khổ tứ lo toan từ ngày mới rời khỏi ghế nhà trường trong khi thực tế cho thấy Nguyễn Đình Thắng hoàn toàn không biết gì về chuyện đòi tài sản mà chỉ mới khởi đi sau khi Cao Quang Ánh mất vai trò dân biểu vào năm 2012. Nếu đã chuẩn bị từ lâu tại sao những năm Cao Quang Ánh đang trong nhiệm kỳ dân biều, sẵn cơ hội rất thuận lợi cho việc đưa một dự luật ra hạ viện nhưng Cao Quang Ánh và Nguyễn Đình Thắng không tiến hành việc đòi tài sản để rồi đến ngày 4 tháng sáu 2013 khi Joseph Cao đã mất chức dân biểu mấy năm mới trở thành một nhân chứng trước tiểu ban của Hạ Viện cùng với Nguyễn Đình Thắng và Holly Ngô trong vụ đấu tranh chống Việt Cộng gia nhập TTP (chính thức đề cập vào ngày June 4-2013 như một bằng chứng đàn áp để chống TTP).

Điều đó cho thấy Nguyễn Đình Thắng chỉ là một tên ba hoa chích chòe, nói láo, nói lếu, lừa gạt những người thuộc thành phần Việt Ngu không có khả năng suy luận mà thôi. Trong một bài quảng cáo trước đây Thắng có viết:"Mười năm sau, tổ chức cộng đồng của người Việt ở Quận Cam thu thập đơn kiến nghị của trên 1 nghìn “khổ chủ” để gửi cho nữ Dân Biểu Loretta Sanchez (Dân Chủ, California). Năm 2005, DB Sanchez cùng với đồng viện là Dan Burton (Cộng Hoa, Indiana) đưa ra dự thảo nghị quyết kêu gọi chính quyền Hoa Kỳ giải quyết các đơn đòi bồi thường tài sản của người Mỹ gốc Việt. Dự thảo này chìm lỉm và rồi “chết” trong âm thầm vì thiếu sự vận động hiệu quả."

Vậy thì thời gian đó Thắng làm gì? Câm như hến! Sự thực lúc đó Thắng không biết gì, chưa nghĩ ra cái trò làm dịch vụ pháp lý kiếm tiền như Thắng đang quảng cáo hiện nay.nên Thắng chỉ lo đi xin phân.

Chỉ từ năm 2013 đến nay Thắng và Cao Quang Ánh mới nghĩ ra cách kiếm tiền qua trò dịch vụ làm đơn khiếu tố và dịch thuật hồ sơ cho việc kiện đòi tài sản cho những người mắc bệnh hoang tưởng.

Thắng rất đểu cáng và lưu manh khi kêu gọi mọi người đóng tiền, nộp hồ sơ làm dịch vụ pháp lý khiếu kiện trước rồi buộc họ nghe theo hắn đi vận động quốc hội làm ra luật. Trong khi cả đời Nguyễn Đình Thắng chưa bao giờ vận động thành công một dự luật cỏn con nào vì thế chuyện vận động cho một dự luật đòi tài sản như Nguyễn Đình Thắng NỔ chỉ là chuyện không tưởng còn ở tận thiên đường hay hỏa ngục vì thực tế cho thấy trước khi dân tỵ nạn Việt Nam tức các công dân Mỹ gốc Việt khiếu kiện thì sáu mươi bảy năm trước (2/3 thế kỷ) dân tỵ nạn Cuba đã vận động nhưng vẫn cứ chỉ là mơ thôi.

Sư thực vận động hạ viện hay thượng viện là chuyện rất bình thường ở Hoa Kỳ, tất cả các công dân Mỹ đều có thể ngồi nhà gửi thư đến các hạ nghị sĩ, thượng nghị sĩ tại địa phương của mình để nhờ ủng hộ hay khiếu nại. Điều quan trọng là ta nên cho họ thấy có bằng chứng vote cho đảng của họ. Khi nào sự việc gay cấn bắt đầu được đưa ra cứu xét lúc đó nên chuẩn bị chút tiền túi đi du lịch Washington DC .

Lẽ ra chúng tôi không cần phải lên tiếng về hiện tượng này nhưng nếu cứ để Nguyễn Đình Thắng và Cao Quang Ánh diễn trò bịp bợm ăn tiền đám Việt Ngu, bọn chúng sẽ lầm tưởng là chúng vẫn đủ tài năng và kiến thức để dùng lý luận, lấp liếm qua mặt toàn thể cộng đồng và không ai đủ bản lĩnh để vạch rõ chân tướng của bọn chúng ra trước công luận.

Bài trước chúng tôi đã viết rõ sự đểu cáng và bất lương của Nguyễn Đình Thắng BPSOS khi đứng ra tổ chức một trò bịp bợm mang tính chất hệ thống như trò ”đòi tài sản” này. Sau đó mấy hôm, trên diễn đàn có một y sĩ dởm tên Lê văn Sắc đưa ra ý kiến không nên quyết đoán việc đòi tài sản này là bịp khi không phải là người trong cuộc. Nhưng khi tôi phản ứng nhẹ ông ta lập tức im lặng, tôi cũng không truy đuổi vì chúng tôi biết những kẻ chủ trương trò bịp buộc phải lên tiếng.

Nhìn mấy chữ “Vận động Hoa Kỳ: Lương tâm và bổn phận” mới thấy bản chất trơ trẽn, đáng khinh bỉ của Nguyễn Đình Thắng BPSOS.

Lương tâm nào và bổn phận gì nhỉ?

Công việc của Nguyễn Đình Thắng BPSOS và Cao Quang Ánh đang làm chỉ là một dịch vụ pháp lý với mục đích “Đòi Tài Sản Bị Chiếm Đoạt ở Việt Nam”. Bọn ma đầu này đang lừa cả thiên hạ khi chúng cũng bày trò “files lawsuit” kiện chính phủ Hoa Kỳ với lý do không bảo vệ tài sản công dân như chúng tiết lộ.

Tất nhiên 61 người đã nộp hồ sơ và nộp tiền cho Cao Quang Ánh cảm thấy yên tâm khi quả thật Cao Quang Ánh có files lawsuit vào tòa Super Claim Court do họ không đủ trình độ nhận thức để thấy đó chỉ là một vụ kiện cho có bằng cớ để moi tiền người đi kiện dài dài nhưng không bao giờ đạt được mục đích sau cùng là lấy lại tài sản ở Việt Nam.
Chúng tôi đã từng là người đứng đầu vụ “Lost Army Comandos vs US Government”, chúng tôi cũng mướn luật sư để giúp đỡ làm thủ tục pháp lý khiếu kiện theo hình thức “class action” với 220 người đứng tên kiện chính phủ Hoa Kỳ đã vi phạm hợp đồng ký kết khi tham gia công tác.
Luật sư không lấy của chúng tôi một đồng tìền cọc mà từng người chỉ ký hợp đồng nhận trả 23% tổng giá trị bồi hoàn sau khi vụ kiện thắng lợi. Tất nhiên vụ kiện nào cũng phải có bằng chứng và nhân chứng cụ thể mới mong đạt được kết thúc thắng lợi, vì lý do đó nên tôi là người duy nhất còn hồ sơ quân bạ và báo tử tại văn khố quân đội Hoa Kỳ ở Maryland phải đứng ra làm đại diện đảm đương công việc, ra hầu tòa nhiều lần. Phiên tòa cuối cùng chánh án tòa tối cao chấp thuận nhưng vỉ không có luật để xử nên ông “pending” vụ kiện, chuyển hồ sơ qua Quốc Hội cứu xét làm ra luật mới để giải quyết, và bào chúng tôi phải nhờ các thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ đứng ra bảo trợ cho dự luật.
Thời gian đó một mình tôi phải đơn thân độc mã xách cặp hồ sơ đi “lobby” vận động tại các văn phòng Hạ Nghị Sĩ, Thượng Nghị Sĩ từng tham chiến ở Việt Nam để nhờ họ bảo trợ đưa dự luật ra trước lưỡng viện.
Muốn gặp các nhà lập pháp trong tình trạng chưa có quốc tịch, chúng tôi phải nhờ các tổ chức cựu chiến binh Hoa Kỳ như American Legion, Special Forces Association và National League of POW/MIA Families viết thư giới thiệu. Cuối cùng vụ kiện đã thành công, thắng lợi và chúng tôi được bồi hoàn 20 triệu USD. Vụ kiện của chúng tôi rất khó vì chưa đến thời hiệu giải mật hồ sơ nhưng đạt thành công sớm trước thời hiệu giải mật 7 năm vì có nhân chứng và hồ sơ cá nhân làm bằng chứng để yêu cầu vận dụng FOIA (hồ sơ của những công tác tình báo dưới sự điều động của CIA và DIA chỉ được giải mật sau 30 năm). Điều cần nhấn mạnh là trong số 397 người được hưởng bồi hoàn không ai phải tốn đồng xu cắc bạc nào để làm hồ sơ trước khi đạo luật được thông qua ngoài việc trả 23% tổng số tiền bồi hoàn theo hợp đồng.
Trong bôn mươi hai năm vong quốc, người Việt Nam ở hải ngoại chỉ có duy nhất một lực lượng phục vụ trong cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội do đứng ra kiện chính phủ Mỹ đạt được thắng lợi từ pháp đình cho đến Quốc Hội Hoa Kỳ.
Điều đáng buồn là một số tên BK "nằm chờ sung rụng" phản phúc, bần tiện, đã quỵt cả luật sư phí khiến chúng tôi phải bỏ dở vụ kiện thứ hai đòi thiệt hại về thể xác và tinh thần sau hai mươi năm tù tội.
Thời gian đó rất nhiều chiến sĩ Biệt Kích các ngành QLVNCH gọi điện thoại và gửi thư nhờ tôi chuyển đơn đòi bồi thường cho họ, những anh em này đề nghị sẵn sàng trả 500 hay 1000 cho một hồ sơ nhưng chúng tôi trả lời không thể giúp đỡ họ được vì số người đủ điều kiện bồi hoàn chỉ nằm trong thành phần không được trao trả khi thực hiện Hiệp Định Paris 27/1/1973. Có một số năn nì nói tôi cứ nhận tiền để cho họ mua niềm hy vọng chứ đâu phải buộc chúng tôi đòi được tiền bồi hoàn nhưng chúng tôi vẫn từ chối đến nỗi có người tức chửi tôi là ngu tiền đến nhà mà không biết lấy. Số lượng đó sau này qua con số tổng kết của Uỷ Ban Bồi Thường hơn 1600 đơn bị bác.Chúng tôi rất biết cách ăn xài phung phí đồng tiền của mình tạo ra nhưng không có cái lương tâm xài bạc giả.
Trong khi đó Nguyễn Đình Thắng và Cao Quang Ánh tiến hành một vụ kiện mà chúng tôi khẳng định không bao giờ thành công nhưng tôi biết Nguyễn Đình Thắng Cao Quang Ánh cũng chẳng cần thành công miễn sao có hai ba trăm khách hàng chịu đóng hụi chết là nặng túi. Nghĩa là tuy họ có nộp hồ sơ kiện thật nhưng là “con kiến đi kiện củ khoai” mà thôi.

Đó là thứ "lương tâm và bổn phận" của Thắng Nổ và Joseph Cao.

Muốn biết lý do tại sao tôi dám khẳng định xin mời quý độc giả đón đọc tiếp phần hai.

Kim Âu
DEC 26/2017

Monday, December 25, 2017

4 chữ “Không” của người quân tử

Cổ nhân nói: người Quân tử, đâu cần cứ phải là bậc thánh hiền. Chỉ cần: làm người phải biết giới hạn, hành sự phải biết điểm dừng, như trong bài chia sẻ Ở đời phải biết đâu là điểm dừng mà SEE đã từng đề cập. Chỉ cần có thế, đã đủ để được gọi là quân tử rồi.
Biết việc gì không nên làm, việc gì nên làm, đó là nguyên tắc của người quân tử.
Hiểu được “không làm”, cũng chính là “làm”, đó là tu hành của người quân tử.
Vậy, 4 việc “không làm”, 4 nguyên tắc trong đạo tu hành của người quân tử là gì?
Thứ nhất: Quân tử không làm việc tùy hứng, hành động phải theo chữ “đạo”
Xét về cá nhân, người quân tử là người phải có trách nhiệm với hành động của mình, nên họ làm việc gì đều phải chín chắn, trưởng thành. Xét về tập thể, người quân tử phải hiểu được mỗi một hành động của bản thân mình, dù nhỏ, cũng đều gây ảnh hưởng đến tập thể chung.
Bởi vậy, người quân tử không hành động mù quáng, làm bừa. Người quân tử chân chính đối với bản thân vô cùng nghiêm khắc, đây là một loại “tự giới luật” bản thân. “Không làm việc tùy hứng” chính là không tùy tiện, trong tâm họ luôn có nguyên tắc và đường giới hạn của mình. Đây được gọi là phẩm đức, phẩm đức này cũng chính là chữ “đạo” trong lòng người quân tửBởi vậy trước khi làm việc gì, quân tử thực thụ đều sẽ suy nghĩ kỹ lưỡng, nhìn trước ngó sau, cân nhắc được mất.
Thứ hai: Quân tử không nói năng mập mờ, phát ngôn phải theo chữ “lý”
“Nói năng mập mờ” nghĩa là lời nói không rõ ràng, nhất quán. Cổ nhân có câu “Nhất ngôn cửu đỉnh” ( Một lời nói nặng như chín cái đỉnh) Do đó, người quân tử đối với từng lời ăn tiếng nói đều cẩn thận, kỹ càng. Quân tửchỉ nói điều mình biết, điều mình chắc chắn, mỗi lời nói ra đều phải chính xác; tuyệt đối không nói hai lời, không lèo lái, thêm thắt.
Lời nói của người Quân tử phải theo chữ “lý”, không chỉ là trong lời nói có đạo lý, mà còn phải theo nguyên tắc hợp lý. Những lúc nên phát ngôn, thì nhất định phải lên tiếng, còn những lúc không nên nói, thì hãy im lặng. Vì “Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy” ( Một lời nói của người quân tử, bốn con ngựa tốt cũng không đuổi kịp), người Quân tử nhất định phải ghi nhớ điều này.
Thứ ba: Quân tử không tham lam, có mong cầu phải theo chữ “nghĩa”
Quân tử là người không có lòng tham quá độ, những mong cầu của họ đều phải hợp chữ “nghĩa”, đây là điều mà người quân tử luôn cân nhắc trước khi quyết định.  Nghĩa ở đây không phải là “nghĩa khí anh hùng”, mà là đạo nghĩa, chính nghĩa, được định đoạt đo đếm thông qua pháp luật, đạo đức, nguyên tắc làm người...
Người quân tử không tham lam, không có nghĩa là người không hề màng tới vật chất, mà là đối diện với vật chất tiền tài, điều nào hợp với đạo nghĩa, có thể nhận thì sẽ nhận, còn không hợp đạo nghĩa thì không liếc mắt nhìn qua. Điều này cũng là thể hiện tấm lòng độ lượng, phóng khoáng, thứ không phải của mình thì nhất định không truy cầu. Vì thế mà trong tâm người quân tử luôn rộng rãi, khoáng đạt, quang minh lỗi lạc.
Mặt khác, một người quân tử nếu có cho mình điều mong cầu, thì mong cầu đó phải là mong cầu hướng đến lợi ích của quốc gia, xã hội, nhân dân - đó là hợp chính nghĩa.
Thứ tư: Quân tử không làm việc mờ ám, hành vi phải theo chữ “chính”
Là người quân tử, mỗi nhất cử nhất động, đều không thể tùy tiện, muốn làm việc gì đều phải suy xét kỹ càng, trước khi làm đều phải đặt mình vào hoàn cảnh người khác để cân nhắc 3 điều: Việc này có chính đáng không? Việc này có phải là việc hại người không? Việc này có gây tổn hại cho ai không? Nghĩ thông suốt, rồi mới làm. Cho nên những việc làm, hành vi của người quân tử đều đường hoàng, chính đáng.

Mỗi người cần ghi nhớ “4 không”, lấy 4 chữ “Đạo, Lý, Nghĩa, Chính” làm thước đo trong nguyên tắc làm người của bản thân, để từ đó tu thân dưỡng tính, trở thành người quân tử thực sự.
Lá đa, lá nho
Hay sự sai lầm của Thánh kinh ?
Nguyễn thị Cỏ May
Inline images 2


Noël là dịp gợi lại cho nhiều người có đạo hay không những kỷ niệm tình cảm thời trẻ thường rất đẹp . Ở Sài gòn vào thập niên 50, học trò, cứ tới từ giửa tháng 12, bắt đầu để dành tiền ăn sáng, tức nhịn ăn, tìm mua thiệp chúc Noël và Tết Tây để gởi cho bạn cùng lớp hoặc bạn khác trường, với những lời chúc tốt đẹp . Thiệp thuở đó so với ngày nay thì thật là quê mùa : hình vẻ ngôi sao, cành thông, viền kim tuyến chớp sáng . Nhưng giá lại mắc hơn gói xôi nhiều .
Khi lên Trung học Đệ II cấp, tới Noël, chúng tôi, vốn là những người ngoại đạo, nên vội vàng gia nhập «Đạo vòng» để lượn hết nhà thờ Đức Bà, Catinat, rồi Nguyễn Huệ, Chợ Sài gòn .
Thật ra, chúng tôi chỉ làm tín đồ « Đạo vòng » mà thôi, không dám vào nhà thờ . Vì gốc nhà quê nên quen tánh giử sự tôn trọng những nơi trang nghiêm . Trong lúc đó cũng thường nghe kể chuyện bạn bè trang lứa, không thiếu những người bám theo bạn gái vào nhà thờ, quì bên cạnh, bạn đọc kinh thì anh ta cũng thành tâm lăm răm khấn nguyện :
                                
« Lạy chúa, chiên lành xin thú tội,             
Vì nàng đẹp quá khiến con thương … » 
(Thơ Jean Leiba ?)


Nước mất, người Việt nam chạy tủa ra bốn phương tìm lại đời sống tự do . Họ tới đâu thì mang theo tín ngưởng của mình tới đó . Chùa, nhà thờ lần lược mọc lên, theo từng bước đời sống ổn định,vẫn giử nếp củ như lúc còn ở quê nhà .
Lớp trẻ sau này dạng dỉ hơn . Đêm Noël, chúng theo bạn gái đi nhà thờ, vào thẳng bên trong . Và từ đây nảy sanh những mối tình giửa người có đạo, người không . Nhưng ngày nay, có lẽ do ảnh hưởng thời cuộc, và Cộng đồng II Vatican, giáo hội dễ giải cho phép kết hôn, đạo ai nấy giử . Nhờ vậy những chàng trai lấy được vợ có đạo, khởi phải cầu nguyện như trước kia :                
 « Con quỳ lạy Chúa Ba ngôi,                      
Con lấy được vợ, con thôi nhà thờ »
Cỏ May tôi có 2 người bạn : kẻ ở Úc, người ở Thụy sĩ . Khi nói tới lễ Noël, tôi thường nhớ tới 2 người bạn này . Với chuyện tình của họ .
Người bạn ở Úc, lúc trẻ yêu một cô người công giáo thuần thành, công giáo gốc bồ đào nha rất khắc khe về phép đạo, nên không thể làm đám cưới được vì làm đám cưới, thì anh phải chịu phép rửa tội, học giáo lý, vô đạo trong lúc Bà Cụ là phật tử thuần thành, ăn chay trường, xuống tóc . Mà ván đã đóng xong thuyền rồi . Anh hứa khi Bà Cụ qua đời, hết kẹt, anh sẽ vô đạo . Cách nay ít lâu, bạn bè được tin anh làm đám cưới, chịu đủ phép, có linh mục làm lễ . Có người bảo nếu anh quên luôn thì chúa cũng đâu có phạt vì chúa đã rao dạy bác ái cho mọi người mà . Vả lại, hai người nay cũng đã già . Nhưng anh là mẫu người của xứ Nam kỳ Lục tỉnh, thời « Luân lý giáo khoa thư », thuộc lòng câu « Quân tử nhứt ngôn » !
Người bạn ở Thụy sĩ, gốc linh mục . Lúc dạy ở Đại học Văn khoa Huế, anh yêu một cô sinh viên . Hai người kết hôn . Dĩ nhiên anh phải xin phép giáo hội, trả lại chén . Ít lâu sau khi đã có với nhau 2 cô con gái, chị vợ xin phép anh chị đi tu và vào chùa ở luôn . Lên Trung học được vài năm, 2 cô con gái cũng theo mẹ vào chùa đi tu luôn . Chán đời, anh xin phép trở lại đi tu nhưng giáo hội không cho .
Anh mất một thân một minh ở Thụy sĩ . Có bạn bè tiển anh .
Phải chi anh đi tu theo Phật giáo thì anh đâu bị đau khổ như vậy . Vì chỉ cần 5 phút cạo trọc, anh trở thành thầy chùa ngay . Kinh kệ đã thuộc sẳn rồi .
Người công giáo ở Pháp

  
  

Nhiều ông linh mục việt nam ở Pháp than phiền người công giáo không được như người phật tử việt nam . Họ có chùa riêng của họ . Ngày tư ngày Tết, họ kéo nhau tới chùa tổ chức lễ, gói bánh tét, bánh chưng, giống như ngày Tết hồi còn ở Việt nam trong lúc đó, ông không xin được phép cất nhà thờ việt nam, riêng cho giáo dân việt nam, với kinh phí hoàn toàn của giáo dân đóng góp vì nhà thờ pháp hảy dư xử dụng . Giáo dân việt nam ở địa phương nào thì chỉ cần coi thời biểu lễ của nhà thờ ở thành phố đó mà đi lễ . Muốn đi lễ với linh mục việt nam thì linh mục việt nam hợp tác với nhà thờ, thu  xếp thời biểu với nhau . Gói bánh tét, bánh chưng lại không nhằm lễ Noël, lễ Phục sinh nên không kéo nhau vào nhà thờ được .
Nghi lễ công giáo ở Pháp cũng giống như ở Viêt nam bởi công giáo pháp tới Việt nam cùng với chánh quyền thực dân, truyền bá công giáo . Nhưng ở Đức, Anh, Hòa lan, …có nhiều khác bìệt.
Người Đức tổ chức mừng lễ Giáng Sinh rất tươm tất . Ngay từ đầu tháng mười một, người ta đã bày bán những vòng hoa Advent với bốn ngọn nến để chuẩn bị cho tuần vọng, và chưng như vậy mãi cho đến lễ Ba Vua, ngày mùng sáu tháng Giêng mới tháo đèn, tháo hoa và mang thông đi bỏ . Đốt nến cũng phải có qui củ . Đợi đến đầu tháng mười hai mới được đốt lên ngọn nến đầu tiên. Tuần kế tiếp, đốt ngọn nến thứ hai . Và cứ như vậy cho tới ngày lễ Noël .
Ở Hoa Kỳ cũng có bán nhiều Advent wreath, nhưng phần lớn người ta chỉ chưng chứ không đốt. Và nếu có đốt thì thường là đốt cả bốn ngọn vào đêm Giáng Sinh . Không có ai mỗi tuần đốt một ngọn như vậy. Có lẽ vì người Mỹ quá thực tế !


Những ngày Noël
Inline images 6
Ngày lễ Noël cho tới nay vẫn không thống nhứt . Người chánh thống giáo (orthodoxe) có ngày Noël khác hơn . Nhứt là Giáo hội chánh thống giáo Nga và Grèce còn giử lịch julien nên Noël nhằm ngày 7 tháng giêng, không giống người công giáo trên thế giới theo Vatican chọn ngày Noël là 25 tháng 12 theo lịch grégorien . Lịch julien do Jules César ban hành, lịch grégorien do giáo hoàng Grégoire XIII ở thế kỷ XVI thiết lập, áp dụng chung trên phần lớn Âu châu và phần còn lại của thế giới . Lịch julien nhiều hơn lịch grégorien 13 ngày nên có sự chênh lệch đó .
Phật giáo trước đây lấy ngày mùng 8 tháng 4 là ngày lễ Phật đản nhưng từ sau đại hội phật giáo thế giới năm 1960 họp ở Nam vang (Cao miên) thống nhứt chọn ngày 15 tháng 4 (ngày rằm) làm ngày Đản sanh .
Thật ra, kinh sách phật giáo không có ghi chép rỏ ràng ngày Đản sanh, mà chỉ ghi Phật ra đời nhằm ngày trăng tròn tháng Vesaka theo lịch ấn độ . Chiếu theo âm lịch thì đó là tháng 4 mà trăng tròn thì phải là ngày rằm .
Với Thiên chúa giáo, thời gian 40 ngày trước Noël, để sửa soạn lễ, gọi là Carême de Noël, nghĩa là giai đoạn cho người tín đồ dọn mình mừng lễ . Trong suốt thời gian này, họ nhịn đói hay ăn kiên, ăn ít thịt, phần ăn nhỏ lại và có thể bớt đi bửa ăn trong ngày . Nhưng ngày nay, người tín đồ được phép chỉ cử ăn từ sau bửa ăn trưa ngày 24, chờ làm lễ nửa đêm xong, mới ăn . Nên bửa ăn Noël sau 12 giờ đêm trở thành quan trọng, rượu thịt ê hề . Để ăn bù cho nửa ngày nhịn đói .


Là đa hay lá nho ?
Inline images 5
Trong nền văn minh Tây phương, nhiều bức tượng hi lạp xưa trình bày người đàn ông khỏa thân tự nhiên, trái lại tượng người đàn bà, thì phần từ bụng xuống được phủ một chiếc áo dài hay chiếc áo choàng . Nét nghệ thuật này được thấy trong nghệ thuật la-mã cô điển cho tới khi đế quốc la-mã nhập đạo thiên chúa thì hình ảnh khỏa thân hùng dũng không còn nữa . Trong thời Trung cổ, khỏa thân nghệ thuật bị xóa bỏ . Nên Adam và Eve được trinh bày dưới dạng tranh hay tượng đều có chiếc là nho che, đúng theo lời dạy trong thánh kinh .
Tới thế kỷ XVI, ở Vatican, trần của nhà thờ Sixtine trang hoàng những bức họa của Michel Ange bị phản đối mạnh vì tất cả nhơn vật trong tranh đều khỏa thân . Giáo hoàng Paul IV phải nhờ họa sĩ Daniele da Volterra thêm vào những nhơn vật đó vài nét để che khuất bớt vùng nhạy cảm, bằng khăn, bằng cành cây hoặc bằng lá cây . Còn những pho tượng, người ta lại dùng lá nho che .
Tại sao người ta chọn là nho che bộ phận nhạy cảm của Adam và Eve trên nhiều tranh ảnh hoặc tượng ? Thật ra trong Thánh kinh và Cựu Uớc, che chổ kín của 2 kẻ phạm tội không phải lá nho mà lá «sung» (lá cây figuier- Genèse 3:7)
Cũng như bà Eve không chìa ra cho ông Adam trái táo (pomme) mà là trái sung (la figue) . Cây sung (le figuier) là thứ cây duy nhứt của Âu châu thuộc họ nhiệt đới, sống ở vùng địa trung hải, gồm tới hơn sáu trăm loại . Cây sung được trồng từ nhiều ngàn năm ở Âu châu . Nó xuất hiện trong nhiều chuyện thần thoại. Trong Kinh Tân ước, người ta chỉ thấy ghi thứ trái bị cấm là «pomum», tiếng la-tinh có nghĩa là «trái» . Rồi những nghệ sĩ cảm hứng vẻ thành « trái táo » (la pomme) . Có người lại lấy chùm nho .
Nhưng hai vị thủy tổ của chúng ta, sau khi cải lời Chúa Trời, bổng ý thức mình không phải như trước đây nữa, mà là hai kẻ khác giới tính, nam-nữ rỏ ràng . Tâm động, thiên đàng, địa ngục liền xuất hiện . Họ vội vàng hái lá sung (la feuille du figuier) che lại . Từ đó, lá sung trở thành một biểu tượng khiêu dâm nên bị giáo hội cấm (Genèse 3, chương 7) .
Ai cũng dễ quả quyết phải lá sung mới đúng vì lá sung lớn hơn lá nho và chắc chắn hơn là nho . Nhứt là đối với Adam .

Nguyễn thị Cỏ May
Người Tị Nạn và Việt Kiều(Tựa nguyên tác của tác giả)

alt

Sau năm 1975, người Việt Nam bỏ nước ra đi tị nạn đã bị Cộng Sản gọi bằng những danh từ khác nhau. Những danh từ nầy mang những hậu ý chính trị gian xảo, do đó việc tìm hiểu ý nghĩa chính xác những danh từ nầy thật cần thiết để chúng ta sử dụng chính xác trong từng trường hợp.

Người tị nạn.
Khi vào cưỡng chiếm đất miền Nam, cưỡng đoạt tài sản dân miền Nam, Cộng Sản đã gọi tất cả dân miền Nam là bọn Mỹ Ngụy. Đối với người dân có cơ may vượt thoát được bằng những cuộc vựơt biển, vượt biên để xin tị nạn ở các xứ tự do, cộng sản dùng nhiều danh từ thô tục để điểm mặt người tị nạn.

Trước tiên, trong một hội nghị với các cán bộ tại Hà nội năm 1975, Trần Phương, Chủ nhiệm Ủy Ban Khoa học Xã hội đã ví von một cách tục tĩu dân miền Nam là những con điếm cho Mỹ làm tình để đổi lấy viện trợ. Cùng trong tư tưởng dâm ô ấy, Lê Duẩn mạt sát những người di tản là một bọn ma-cô, đĩ điếm, Phạm văn Đồng chửi người ra đi là bọn phản quốcvà các nhà báo nhà văn cộng sản, kể cả bọn cộng sản 30 cũng chửi hùa theo là những đáng bị chặt đầu.

đồ rác rưởi trôi dạt khắp năm châu bốn bểcặn bả xã hội, trây lười lao động, chạy theo bơ thừa sửa cặn» . Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng Y tế còn hằn học hơn khi tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn năm 1993 tại AmsterdamNhững người di tản đáng bị chặt đầu
Nhưng chẳng bao lâu, Cộng Sản hiện nguyên hình là bọn gian manh. Năm 1990, khi Cộng Sản bắt đầu nhận tiền của người tị nạn gởi về, bọn đĩ điếm được cộng sản «nâng cấp» lên là Việt kiều, và ân tình hơn, Đỗ Mười tuyên bố Việt Kiều là những khúc ruột ở bên ngoài ngàn dặm của dân tộc.

Tưởng cần hiểu từ nguyên chữ Việt kiều để thấy rõ thâm ý của Cộng Sản. «Kiều» chữ Hán có nghĩa là ở nhờ, ở làng khác hay nước khác được dùng làm tỉnh từ cho những danh từ như «kiều dân» là người sống ở ngoài lãnh thổ mà người đó đã được sinh ra, «kiều bào» là đồng bào ở nước ngoài. Dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, người Hoa sống ở VN được gọi là Hoa Kiều và chế độ Hà Nội gọi những người Việt sống ở nước ngoài và ủng hộ họ là «Việt kiều yêu nước».

Người Việt bỏ xứ ra đi tị nạn không phải là Việt kiều, kiều bào, vì những người nầy đã không chấp nhận chế độ Cộng Sản, đã sinh cơ lập nghiệp vĩnh viễn trên một quốc gia khác, đã có quốc tịch của một quốc gia khác. Gọi người tị nạn là Việt kiều, Cộng Sản có gian ý là muốn «tóm thâu» cái khối chất xám nầy là «con dân» của họ, còn đặt dưới quyền sinh sát của họ. Nghị định số 78/2009/NĐ ngày 22/09/2009 về luật quốc tịch xác định rõ quan niệm nầy, theo đó bao giờ người mang quốc tịch VN chưa được chính phủ VN cho phép từ bỏ quốc tịch, người ấy vẫn còn quốc tịch VN dù rằng người ấy đã có quốc tịch Mỹ, Canada, Úc…Càng lộng ngôn và ngang ngược hơn, với con cháu của người Việt tị nạn, dù sinh ra và lớn lên tại các quốc gia của ông cha họ đã định cư, cộng sản cũng xem những người nầy vẫn có quốc tịch Việt Nam nếu chưa phép làm đơn xin bỏ quốc tịch và chưa được chính phủ VN chấp thuận.

Về điểm nầy, chúng ta thấy rõ chánh sách trơ tráo, đánh lận con đen của Cộng Sản. Theo điều 13, khoản 2, Luật Quốc tịch sửa đổi năm 2008 , «Người VN định cư ở nước ngoài vẫn có quốc tịch VN. Sau 5 năm từ khi luật nầy có hiệu lực, kiều bào phải đến cơ quan đại diện của chính phủ VN tại nước ngoài để đăng ký xin giữ quốc tịch, nếu không, sau ngày 1/7/2014 sẽ mất quốc tịch».

Sau 5 năm, chỉ có khoảng 6000 người ghi tên xin giữ quốc tịch. Trái với dự tính vì số người xin giữ quốc tịch quá ít, tháng 7/2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký luật gia hạn cho người muốn giữ quốc tịch thêm 5 năm nữa, tức là sẽ chấm dứt ngày 1/7/2019.

Ngôn từ Cộng Sản thật lươn lẹo, lật lọng. Cho đến ngày 1/7/2019, người Việt ở hải ngoại mặc nhiên vẫn còn quốc tịch VN, vẫn bị chi phối bởi Luật quốc tịch VN giải thích «rộng rãi» theo luật rừng. Chính bà Ngô Bá Thành, chuyên viên xách động xuống đường thời VNCH, được CS phong cho chức Chủ nhiệm Ủy Ban Pháp Luật của Quốc Hội đã ví von : Việt Nam có một rừng luật và áp dụng luật rừng. 

Và cho đến đầu năm 2014, chính phủ VN vẫn còn khư khư giữ quan niệm cha chú nầy với người Việt tị nạn. Trong bài huấn từ của Nguyễn Thanh Sơn, Thứ Trưởng Bộ Ngoại giao đặc trách Cục Người Việt nước ngoài đã nhắn nhủ cho phái đoàn «Việt Kiều yêu nước» về quê ăn Tết, ông nhắc lại lời của Thủ Tướng Võ Văn Kiệt 20 năm trước như sau : «Cộng đồng người Việt ra đi sau chiến tranh và định cư ở nước ngoài rất đặc thù, không giống các cộng đồng ngoại kiều khác. Những thuyền nhân ra đi đa số là vì mục tiêu kinh tế chứ không phải mục đích chính trị.(both) Có bộ phận những người ra đi sau cuộc chiến tranh mang theo tư tưởng hận thù của những người thua trận và được tuyên truyền rất nhiều điều ghê sợ không có thực về chủ nghĩa cộng sản ... Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị đã khẳng định rõ chủ trương, chính sách của đảng, nhà nước, coi cộng đồng người Việt nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam, tức là những người máu mủ ruột thịt thực sự, không phân biệt đó là thành phần nào, đó là ai. (Xuân quê hương 2014 – danlambao 3/2/2014).

Đối với những Việt Kiều yêu nước, Cộng Sản muốn gọi tên gì thì cứ gọi và sai bảo điều gì thì cứ làm. Nhưng đối với người Việt tị nạn Cộng Sản, họ không phải là Việt kiều mà là người Mỹ, người Canadiens, người Pháp, người Úc, người Đức gốc Việt… Phải gọi chính danh như vậy và phải tôn trọng quyền chọn lựa của họ là không chấp nhận chế độ cộng sản.
alt

Việt Kiều và Nghị Quyết 36.
Không người Việt tị nạn nào ngu xuẩn tự xưng mình là Việt kiều, nếu có, đó là những Việt kiều yêu nước. Tưởng cần biết qua lai lịch của những Việt kiều yêu nước nầy.
Đa số những Việt Kiều nầy là những sinh viên xuất ngoại du học từ thời Việt Nam Cộng Hòa nhờ học bổng của Plan Colombo hay các quốc gia Âu Mỹ. Từ cuối năm 1970, một số con em của những người có thế lực, nhà giàu cũng được xuất ngoại tự túc. Những sinh viên có học bổng sau khi hết học bổng không chịu về nước vì sợ đi quân dịch, nên tìm cách ở lại tại các quốc gia đã du học một cách bất hợp pháp. Phương thức thông thường là kết hôn với người dân sở tại để có quốc tịch, và để biện minh cho hành động hèn nhát, họ chạy theo các phong trào sinh viên phản chiến ở Pháp, Mỹ, Canada để chống chiến tranh Việt Nam mà theo họ là do Mỹ và chế độ quân phiệt miền Nam chủ động. Họ được cộng sản lợi dụng để tuyên truyền và được phong danh hiệu là Việt kiều yêu nước. Sau 1975, nhiều đám sinh viên phản chiến phản quốc nầy từ Nhựt, Âu châu, Mỹ chạy sang Canada xin tị nạn cùng lúc với thân nhân của họ vừa di tản đến. Họ trương cờ đỏ sao vàng ở những tụ điểm của họ, một số xin về nước để lấy uy với bạn bè, nhưng chính phủ cộng sản lạnh lùng với họ, có khi còn bắt họ bởi lẽ cộng sản dư biết những Việt kiều yêu nước nầy chỉ là bọn hèn, theo đóm ăn tàn.

Từ cuối thập niên 1990 xuất hiện thêm một số Việt kiều yêu nước già, nguyên gốc là HO, có học và vô học, vì không hội nhập được vào xã hội định cư nên đi đi về về Việt Nam để sống với tiền xã hội của quốc gia định cư, một số khác thất nghiệp muốn về VN để kiếm việc, làm ăn buôn bán.
 Để đạt được ý định, họ lập công với cộng sản bằng những mưu chước hèn hạ, phản bội lại đồng hương và đồng đội họ, xâm nhập vào các hội đoàn, cơ quan ngôn luận để quấy phá. Nghị Quyết 36 nhờ sự tiếp tay của những Việt Kiều trở cờ phản bội nầy.

Nhiều người Việt tị nạn không biết hay xem thường những tác hại của Nghị Quyết 36 viện lẽ không làm chính trị. Ban hành vào tháng 3 năm 2004, Nghị Quyết 36 nhằm mục đích chiêu dụ người Việt ở hải ngoại về nước và đem tài sản về nước để gọi là đầu tư, đồng thời tìm cách khống chế lực lượng người Việt ngoài nước. Nói chung, Nghị Quyết 36 có thể tóm lược trong 5 điểm:

- Giúp người tị nạn trong việc sinh sống
- Giúp người tị nạn đoàn kết lẫn nhau
-Thu góp tiền bạc và chất xám
- Biện pháp đối với các thành phần chống lại chánh phủ và Đảng ở hải ngoại
- Tổ chức văn hóa vận và tình báo ở hải ngoại

Nhận định từng điểm, NQ 36 mang bản chất gian xảo, trịch thượng . Làm sao CS có khả năng và uy tín giúp người Việt hải ngoại trong cuộc sinh sống trong khi họ đã đẩy đa số người dân trong nước đến chổ bần cùng và mất cả đạo lý, và càng tệ hại hơn, họ xuất cảng tệ trạng ăn cắp tràn lan tại những nơi mà cán bộ của họ đi qua, làm xấu xa dân tộc. Tại Nhật, Mã Lai, Thụy Điễn, nhiều cửa hàng treo bảng hiệu : Cảnh cáo Ăn cắp vặtNo dogs, no Vietnamese...

Họ nói giúp người tị nạn đoàn kết với nhau, nhưng thực sự họ đưa công an và Việt kiều yêu nước xâm nhập các đoàn thể để gây đố kỵ, đánh phá nhau.. Chuyện thu góp tài sản thì quá rõ, từ việc gởi tiền đến Việt kiều du lịch mang về nước tiêu xài cung cấp cho cộng sản 12% GDP, duy chỉ có chuyện thu góp chất xám là một cuộc thảm bại .

Một số tác hại của NQ 36 đã thấy rõ trong một số công tác chiến lược như sau:

- Trường dạy tiếng Việt và sinh hoạt tập thể cho thanh thiếu nhi là lò huấn luyện, tuyên truyền
Tại những nơi có đông đảo người Việt, cán bộ cộng sản chủ động hay hợp tác với các đoàn thể, tư nhân mở trường dạy tiếng Việt, đưa sách báo từ VN sang, hay soạn sách theo quan điểm tuyên truyền cho cộng sản. Những buổi sinh hoạt tập thể là những cơ hội thuận lợi để cán bộ hay thầy cô thân cộng rỉ tai, hướng dẫn những măng non theo tư tưởng cộng sản. Tùy mức độ ảnh hưởng, chính sách văn hóa vận nầy tạo một tư tưởng chống đối của giới trẻ với ông cha trong công cuộc chống cộng.

Trong đại hội «Tổng kết 10 năm thực hiện NQ36 và công tác đối với người Việt nước ngoài» ngày 22 tháng 5, 2014, Thứ Trưởng Giáo Dục Trần Quang Quý đã có chỉ thị rõ rệt «…Cần sớm có quy chế về việc dạy tiếng Việt cho người Việt nước ngoài, đặc biệt thế hệ thứ ba, thứ tư để việc kết nối giao lưu được thuận lợi…»

Xâm nhập các cơ quan truyền thông
Cộng Sản đã tung ra hàng triệu mỹ kim để thành lập, hùn vốn để mua chuộc các cơ sở truyền thông ở hải ngoại, bề mặt chửi bới Cộng Sản linh tinh, nhưng thỉnh thoảng gài vào những bản tin, bài viết vận động chính trị chiến lược có lợi cho cộng sản. Trong bản tổng kết Hội nghị Người Việt nước ngoài lần thứ hai từ ngày 27-29 tháng 09 năm 2012 ở TP Hồ Chí Minh, Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy Ban Người Việt nước ngoài đã nói rõ chương trình hành động: «Tăng cường công tác thông tin đối ngoại , tăng cường đầu tư cho các chương trình dành cho người Việt ở nước ngoài như đài phát thanh, TV, báo chí, thông qua tổ chức các buổi giao lưu văn hóa, nghệ thuật, triễn lãm tranh ảnh về đất nước, các hoạt động từ thiện, du lịch, sinh hoạt khoa học, sinh hoạt các nhóm trong cộng đồng người Việt hải ngoại…» 

Khuynh đảo, lừa gạt, xảo trá là sở trường của Cộng Sản. Chúng áp dụng kỹ chiến thuật tuyên truyền của Goebbels (Bộ Trưởng Thông tin Tuyên truyển của Đức Quốc Xã) : Nhắc đi nhắc lại hoài một sự việc không đúng sự thật, ban đầu người ta không tin, lần lần người ta bán tin bán nghi sau cùng người ta tin là sự thật. Internet và báo chí là những phương tiện hữu hiệu dể chúng bôi lọ những người quốc gia tranh đấu chân chính, làm yếu đi lực lượng chống cộng. để từ đó chúng đưa người của chúng vào các hội đoàn. Nhiều tổ chức tranh đấu chính trị đã bị chẻ làm đôi, làm ba và khi các cộng đồng hay tổ chức này bị chúng đánh cho yếu đi hay tan vỡ thì chúng dùng tiền để mua chuộc đám Việt kiều - Việt gian nhảy ra làm bình phong cho chúng hoạt động. Mặc dù chúng dùng mọi mưu chước nhưng cho đến nay, chúng vẫn không thành công lắm trong công tác vận động quần chúng ở Bắc Mỹ, Úc và vài quốc gia ở Tây Âu.

Nhưng Cộng Sản có hai bộ mặt chồng chéo nhau : dịu ngọt và bạo lực.

Tạp chí Cộng Sản gần đây đã viết: «…Tính đến nay, có hơn 100 tổ chức chính trị phản động người VN ở hải ngoại đang nuôi chí phục thù nhằm thực hiện ý đồ đen tối phục quốc. Cầm đầu các hội, các nhóm trên là những phần tử cực đoan, từng là ngụy quân ngụy quyền cũ, có nhiều nợ máu với cách mạng. Chúng đã, đang móc nối, cấu kết chặt chẻ với nhau và với bọn phản động trong nước để hoạt động chống phá cách mạng nước ta …» (TCCS. Phát huy vai trò của Cộng đồng @ttp://tapchicongsan.orgv n ngày 28/05/2013)

Chánh sách vừa chiêu dụ vừa khủng bố của Cộng Sản đã có tác dụng phần nào trên các vùng đất có người Việt định cư ở Bắc Âu và Đông Âu, nơi có đông đảo người lao động xuát khẩu, di dân bất hợp pháp và du sinh. Trong thập niên qua, các tòa đại sứ hay lãnh sự Cộng sản đã nỗ lực thiết lập 13 cộng đồng người Việt theo chủ trương của NQ 36: «… Nếu chúng ta phát huy cao độ các lợi thế của các lực lượng người Việt Nam ở nước ngoài để phân hóa, cô lập các lực lượng phản động thì chúng ta có thể hạn chế một cách hiệu quả, thiết thực các thế lực thù địch…». Mười ba cộng đồng cộng sản nầy là : 4 tại các quốc gia trước đây là cộng sản (Ba Lan, Tiệp Khắc, Nga, Đông Đức), 4 tại các quốc gia có nhiều lao động xuất khẩu (Hàn Quốc, Đài Loan, Qatar, Angola), 5 tại các quốc gia ít có người tị nạn (Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Thụy Sĩ – ( chú thích: tại Thụy Sĩ còn có một cộng đồng chống Cộng của người Việt tị nạn). Các chủ tịch các cộng đồng nầy là người cộng sản, chỉ làm bù nhìn, việc điều khiển Cộng Đồng do sứ quán hay tòa lãnh sự đảm nhiệm theo quyết định Q12 năm 2008 (Mobiliser les Vietnamiens à l’étranger, p.50).

Ngày 18 tháng 8 , 2014, Trung ương đảng đã tổ chức một cuộc «mạn đàm» tại Praha (Tiệp Khắc) qui tụ những nhân vật cao cấp của Bộ Chính Trị từ trong nước và các đại sứ, đại diện 14 cộng đồng người Việt ở Đông Âu, Bắc Âu , kể cả Thụy Sĩ, Anh, Bỉ để «trao đổi công tác xây dựng tổ chức, vận động quần chúng, lôi cuốn giới trẻ tham gia và phát huy các sinh hoạt cộng đồng»

- Gởi sư quốc doanh ra hải ngoại lập chùa, tu viện
Chùa là nơi gia đình người Việt tị nạn gặp nhau để lễ Phật, niệm kinh, và còn là nơi sinh hoạt xã hội, văn hóa. Biết như vậy, Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy Ban Người Việt nước ngoài đã ký kết với Hòa Thượng Thích Thanh Tứ (Tứ chớ không phải Thích Thanh Từ) Phó Chủ tịch Hội Đồng Trị sự Giáo Hội Phật giáo VN ngày 16 /07/2009 một văn kiện nhằm «phối hợp cộng tác phât sự ở nước ngoài, mở rộng quan hệ, hoạt động của giáo hội sang các nước có đông kiều bào sinh sống». Từ mươi năm nay, tại hải ngoại có nhiều chùa, tu viện được thành lập, mà sinh hoạt chùa không theo truyền thống tôn nghiêm của Phật pháp. Những ngôi chùa nầy tổ chức đại nhạc hội, du lịch, thi hoa hậu và nhiều sinh hoạt của đời thường. Một số thầy chùa, sư nữ gốc là công an, tác phong không phù hợp với người tu hành, làm người phật tử chân chính chán ngán... Ngôi chùa trở nên cơ sở kinh tài cho cá nhân và đảng, sư quốc doanh làm công tác báo cáo, 
tuyên truyền cho chế độ. Nghị Quyết 36 đã làm tổn hại rất nhiều đời sống tâm linh của người tị nạn.

Người Việt ở hải ngoại
Ngoài ra, chúng ta thường có thói quen gọi chúng ta thuộc cộng đồng người Việt hải ngoại (diaspora) mà Cộng Sản gọi là người Việt nước ngoài. Nếu từ ngữ nầy đúng với tất cả các sắc tộc khác nhưng đối với người Việt, có khi không đúng hẳn bởi lẽ trong số người Việt hải ngoại lại có thêm những người không phải là người tị nạn. Đó là những người xuất khẩu lao động, di dân kinh tế hợp pháp và bất hợp pháp, các du học sinh thân cộng hay theo Cộng. Hiểu như vậy, sự chính xác của từ ngữ sử dụng cần phân biệt theo nội dung và hoàn cảnh.

Bảng 1- Tổng số người Việt tị nạn Cộng Sản ở hải ngoại

alt

Bảng 2Số người Việt xuất khẩu lao động, du sinh, định cư 
hợp pháp và bất hợp pháp tại hải ngoại (Việt Kiều)

alt

Nguồn :
- Người Việt ờ nước ngoài @ww.vietkieu.info;
- Wikipedia,
- Migration Policy Institute.
- World Facts Book
Chú thích :
Bảng thống kê trên, tuy xuất xứ từ các cơ quan thẩm quyền nhưng chỉ là những con số ước lượng gồm có:

- 700 000 người Việt ở Cambốt, Thái Lan và Lào là người Việt đã sống lâu đời nhiều thế hệ tại các quốc gia nầy, đại đa số đã nhập tịch. Về người Việt ở Cambot, số thống kê chỉ là phỏng định vì quốc gia nầy không có thống kê. TheoWikipedia, và World Facts Book, người Cambốt gốc Việt chiếm 5% dân số tức khoảng 600 000 người. Bertrand Didier trong bài Vietnamiens au Cambodgevà Annuska Derks trong A picture of the Vietnamese in Cambodia trình bày chi tiết các giai đoạn di cư, định cư, diện mạo của người Việt ở Cambốt (có thể đọc online).

Migration Policy Institute thiết lập thống kê người di dân VN (immigrants) vào tháng 9 năm 2013 dựa vào ước lượng của United Nations Population Division công bố một con số thấp hơn chỉ gồm người di cư xuất khẩu lao động: Cambot: 37 000, Lào: 11 000, Thái Lan: 6000.

- 700 000 người ở Đài Loan, Hàn Quốc, Mã Lai, Nhựt, Trung Quốc, Đông Âu , Nga, Bangladesh, Trung Đông và Phi Châu. Dân số VN tại các quốc gia nầy thuộc nhiều diện khác nhau:

- một số là cư dân hợp pháp phần lớn là phụ nữ lấy chồng người Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Mã Lai và những du học sinh tại các quốc gia Đông Âu, Nga, được nhập tịch tại các quốc gia nầy
- một số là người xuất khẩu lao động và cư dân bất hợp pháp.
Như vậy tổng số người Việt ở hải ngoại là :
- Người tị nạn Cộng sản: 2.500 000 người (số tròn) Bảng 1
- Người Việt di cư kinh tế, xuất khẩu lao động, du học sinh, định cư bất hợp pháp: 1 400 000 người Bảng 2 

Tổng cộng số người Việt ở hải ngoại: 3 900 000 người. 
Một cách dễ nhớ: 4 triệu người.

Nguồn : Lâm Vĩnh Bình, Giá Tự Do

Về tổng số người Việt ở hải ngoại, thống kê của nhiều người viết, ngay cả những nhà nghiên cứu khoa bảng thường có khuynh hướng khuếch đại con số, bởi lẽ thay vì sử dụng thống kê chính thức của các quốc gia sở tại, họ lại sử dụng những thống kê của Cục Người Việt nước ngoài của Cộng Sản mà bản chất là gian dối, thiếu chính xác. Đan kể như luận án tiến sĩ : Mobiliser les Vietnamiens de l’étranger : enjeux, stratégies et effets d’un nationalisme transnational của Christophe Vigne do Institut de recherche sur l’Asie du Sud-Est contemporaine (IRASEC) xuất bản năm 2012 cho biết là người Việt ở hải ngoại là 4.3 triệu người trong đó người Việt ở Mỹ là 2.2 triệu (thay vì 1.5 triệu) và ở Canada là 250 000 (thay vì 220 000). «Le RSVN estime à environ 4.3 M le nombre de Vietnamiens résidents à l’étranger. La communauté vietnamienne des États-Unis est de loin la plus nombreuse avec 2.2M de personnes. Environ 250 000 Viet Kieu vivent au Canada, 120 000 en Allemagne et 60 000 en Russie…(p. 13).

Kết luận
Chúng tôi vừa phân tích hai từ ngữ người tị nạn và Việt kiều để phân biệt hoàn cảnh lúc ra đi và vị trí chính trị đối với chế độ cộng sản. Tuy nhiên, khi phải nhắc đến một từ ngữ khác có chữ kiều là kiều hối (mà cộng sản dùng thay cho danh từ ngoại tệ), cái biên giới giữa người tị nạn và Việt Kiều như không còn nữa bởi cả hai đều dùng kiều hối để nuôi dưỡng và củng cố chế độ trong nước.

Thật vậy, kể từ khi Clinton bắt tay với VN năm 1995, người Việt tị nạn về nước ào ạt vì đủ thứ lý do, thăm gia đình, du lịch, du hí… Thật là khó hiểu khi nhiều người đã ra đi tìm cái sống trong cái chết để vượt biển, vượt biên sau những ngày đói rách, khổ nhục hay bị lao tù, và trên đất mới, sau đó cũng không bao lâu, họ lại quay trở về để tiếp tục luồn cúi, nịnh bợ công an, cán bộ phường xã, những người trước đó không lâu là kẻ thù của họ. Vui thú, vinh quang gì? Cứ mỗi lần Tết đến, có khoảng nửa triệu người về VN ăn Tết, mỗi người mang về VN để chi tiêu trung bình khoảng 4000 mỹ kim, như vậy Cộng sản có được dễ dàng ít nhất 2 tỷ mỹ kim kiều hối chỉ trong hai thángNgoài raviệc gởi tiền về VN triền miên từ 40 năm nay để nói là giúp đỡ thân nhân cũng là hiện tượng cần suy nghĩ, bởi lẽ chính số kiều hối khổng lồ nầy đã nuôi dưỡng, củng cố chế độ và duy trì một lớp thân nhân ỷ lại lười biếng, thỏa hiệp với công an để được dễ dàng trong cuộc sống. Dưới lăng kính nầy, người tị nạn có khác gì những Việt kiều yêu nước hay xuất khẩu lao động thân cộng?

Theo Viện Nghiên cứu Quản Lý Kinh Tế Trung Ương (Central Institute for Economic Management CIEM), « tính từ năm 1991 đến 2013, lượng kiều hối gởi về hơn 90 tỷ mỹ kim, là chiếc phao cứu tinh cho nhiều doanh nghiệp và là nguồn tài chính quan trọng cho quốc gia. Số tiền trên không kể đến 28% «kiều hối chui» không qua đường dây chính thức và những khoản tiền tiêu khi Việt kiều về thăm nhà. Chỉ năm 2013, số kiều hối gởi về là 11 tỷ. Mỹ là quốc gia chuyển kiều hối về VN nhiều nhất (57% trong tổng số kiều hối chính thức), kế đó là Úc (khoảng 9%), Canada (8%), Đức (6%), Pháp (4%) . Kiều hối là nguồn vốn thứ hai tại VN sau FDI (chú thích của người viết: Foreign Direct Investment là tiền ngoại quốc đem vào VN đầu tư) giúp tăng tiết kiệm, đầu tư, giảm nợ, cải tiến bảng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, giúp ổn định tỉ giá, cán cân thanh toán và tăng dự trử ngoại hối . Tóm lại, kiều hối dùng để trả sinh hoạt hằng ngày, đầu tư vào sản xuất kinh doanh và trả nợ». (Cứu tinh của nền kinh tế VN /Alan Phan - ngày 18/12/2014.)

Thông tin trên phát xuất từ một cơ quan kinh tế chiến lược đầu não của cộng sản đã cho thấy không phải là nhóm Việt kiều Đông Âu, hay nói chung những Việt kiều thân Cộng đã gởi tiền về nước để nuôi chế độ mà chính đa số làngười tị nạn. Chỉ tại 5 quốc gia có đông đảo người tị nạn, đặc biệt là Hoa Kỳ, đã đóng góp hàng năm cho cộng sản VN 84% ngoại tệ... Có gì phi lý hơn, khi người Việt ở Mỹ, Úc, Canada, Pháp, Tây Đức là thành trì chống Việt Cộng, nhưng đồng thời cũng là đại ngân hàng tài trợ cho Việt Cộng. Giải quyết cái phi lý nầy phải là chuyện số một phải làm, tuy đã muộn màng lắm rồi, trước khi nói đến những chuyện tranh đấu khác.
Lâm Văn Bé

Về tác giả Lâm Văn Bé:
Trước 1975, tác giả làm việc và từng giữ các chức vụ:

  • Giáo sư, Giám học, Hiệu trưởng Trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho
  • Tổng Thư Ký Viện Đại Học Tiền Giang
  • Chánh Sở Học Chánh Định Tường

Sau 1975, ông làm Giám đốc Thư Viện Mile End ở Montreal, Canada. Hiện nay, ông về hưu và dành thời gian viết biên khảo.