Search This Blog

Friday, December 28, 2018

Biên giới sông Sai

HỒ ĐẮC TÚC
image.png
Nhà cửa dành cho du khách cạnh bờ sông Sai ở Mae Sai, Thái La

Mae Sai là quận lỵ cực bắc của Thái Lan, thuộc tỉnh Chiang Rai, cách biên quận Tachileik của Miến Điện dòng sông Sai.
Tôi từ Tam Giác Vàng thuê xe đến Mae Sai vào sáng sớm. Dọc đường có các chốt cảnh sát soát giấy, không phải để tìm cần sa vì thời đại Khun Sa đã chìm vào dĩ vãng, phần đất phía Thái cũng hết trồng cây anh túc. Họ kiểm tra di dân lậu từ Miến Điện trốn qua. Đường dài gần 50 cây số, xung quanh là núi, ruộng lúa, nhà rất thưa, mây sà xuống thật thấp. Đồi núi và cỏ cây yên bình.
Mae Sai không thấy hộp đêm.

Mae Sai không thấy karaoke.
Mae Sai không gặp em út đứng đường mời kéo vào coi múa cột.
Ấn tượng đầu tiên đến Mae Sai trong một sáng mùa mưa, là con đường chính Phaholyothin thênh thang và náo nhiệt với các quầy hàng nối nhau hai bên đường, ngang dọc bày bàn hàng trang sức bằng đủ loại đá quý.
Con đường này là đoạn cuối của quốc lộ 1 nối hai miền nam bắc.
Người đi lại hai bên lề đông mà im lặng. Đó là một bầu khí tương phản ít nơi nào của Á châu có. Người ta đi lên ngược xuống, nói năng nhỏ nhẹ, mời hàng dịu dàng. Dường như âm thanh của xe cộ trên đường cũng chìm xuống.

Khung cảnh đông đúc và yên lặng xung quanh cổng biên giới Mae Sai-Tachileik. Nơi đây có một chiếc cầu xi măng nhỏ và ngắn một phút đi bộ từ bên này Thái qua bên kia Miến, bắt qua dòng sông Sai phát nguyên từ Miến Điện.

Tôi ngồi trong một quán nước nhỏ phía bờ Thái, cạnh chân cầu. Mây đen vần vũ từ bờ Miến kéo qua. Cơn mưa không bất chợt kéo đến dào dạt. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông chưa đến đây bao giờ, nhưng nhạc phẩm của ông đến đúng khi ấy: Chiều mưa biên giới anh đi về đâu…

Tôi đến đây nhiều lần nữa trong ba ngày. Bên chân cầu, bên bờ cầu phía Thái, trong quầy hàng phía Thái, sáng, trưa, chiều, tối. Và chỉ thấy một không khí không đổi, lạ lùng.
Đó là sự nhộn nhịp trong yên lặng.

Buổi sáng, những người lao động Miến trên đủ mọi phương tiện thô sơ, xe máy, xe lôi đạp, cuốc bộ, đội các thúng và thùng to từ phía Miến qua cầu vào đất Thái.

Buổi sáng, những người đàn bà Miến gùi con sau lưng, lầm lũi qua cầu ngồi xin ăn rải rác quanh cửa khẩu.
Những đứa trẻ lam lũ lếch thếch qua bên này nhặt nhạnh nhiều thứ trong thùng rác Thái, cho vào một bao tải trắng quẩy trên vai.

Những bé gái Miến bồng em, đứa nhỏ quặt đầu trên vai chị, mỏi mệt hay ngất lịm, lang thang trên vỉa hè Mae Sai.

Buổi xế trưa, những chiếc xe hơi mới từ Thái nối nhau vượt cầu về phía Miến.
Người Thái giàu có qua bên kia chơi. Bên đó có kaoraoke, gái, sân golf.
Chiều chưa sẫm, những người Miến đội và xách hàng hóa từ phía Thái trở về làng.
Những người Thái lái xe ngược về phố họ.

Hai luồng người ngược nhau, đi về khác nhau.
Người Miến Điện, gọi chung thế chứ họ gồm nhiều sắc tộc, ở chỗ này là người Shan, nước da sẫm và khuôn mặt trầm ngâm, thao thức, từ bên này sáng choang chợ búa lầm lũi về quê hương tối mịt chờ lại sáng mai.
Buổi tối, cửa biên giới đóng. Cả một bầu khí quê hai bờ trộn với núi rừng chìm trong tịch mịch.
Buồn như đôi mắt của người thiểu số Akha ở quanh biên giới của hai nước.

Các thiếu nữ Akha đằm thắm, lông mày đậm, da sậm, sóng mũi cao thanh nhã. Khi đi lại trên phố chợ người Thái, tuy đã rủ bỏ trang phục rực rỡ truyền thống, nhưng làn da và ánh mắt của họ còn nguyên.
Trong đôi mắt dài xênh xếch sáng lên phiền muộn. Họ ở giữa người nhưng như đang ở một thế giới khác. Họ nhìn mà như không, ngơ ngác, không hiểu, lạc lõng, âm thầm.

Vẻ núi rừng của họ có một sức hút thật lạ lùng, vừa nguyên sơ cô độc, vừa chưng hửng.
Một chiều thứ Bảy, tôi gặp một nhóm trẻ em dưới và trên 10 tuổi, mặc áo quần đen đứng giữa các quầy hàng bán đá quý. Các thiếu nữ sáng và đẹp như trăng sớm, có đứa ranh mảnh lõi đời. Chúng múa và hát, phía trước có một thùng quyên tiền.

Nhóm trẻ phần đông là người Akha từ Miến Điện hay từ các làng Akha trong đất Thái, mồ côi, vong gia thất thổ, có đứa từng vào tù vì đem ma túy qua Thái, đứa ăn xin hay được giải thoát từ nhà thổ. Nếu sinh trong đất Thái thì vẫn là di dân bất hợp pháp do chính phủ Thái không cấp giấy tờ tùy thân cho người thiểu số, nên sống lang thang trên đường phố, ăn xin, nhặt rác, hay làm mọi thứ để có tiền. Tổ chức thiện nguyện chidlifemaesan (chidlifemaesan.org) gom chúng về một nơi cách biên giới bảy cây số.

Dol, nhân viên xã hội người Thái đang chăm sóc đám trẻ gây quỹ, nói mong muốn tổ chức cho chúng đi dã ngoại một chuyến lên Doi Tung. Bây giờ trung tâm chăm nuôi trên một trăm đứa, đưa đi ngần ấy thật khó.
Doi Tung, tiếng bắc Thái nghĩa là Kỳ Sơn (núi cờ), cách trung tâm biên quận Mae Sai 40 cây số, cũng thuộc tỉnh Chiang Rai. Một rặng núi gồm nhiều đỉnh nối nhau, mây giăng qua đường đi, cây xanh ngút tầm mắt. Trên các nương xanh rải rác các cụm làng người Thượng giữa các chim sóc. Cây cỏ được bàn tay người chăm sóc nên không hoang dã. Rặng núi toát lên vẻ sang trọng nhưng vẫn tự nhiên, không luộm thuộm giả tạo như người ta gắn thang máy cạnh thác Damri ở Lâm Đồng, kéo cáp treo lên núi hay băng qua biển Nha Trang.

Nhóm trẻ Akha đứng hát tập thể giữa phố đông người, cách dòng Mae Sai chừng vài trăm thước. Đi gần về phía sông, một giọng ca nam đơn độc khác, hòa trong tiếng guitar điện, vang lên trong chiều tà. Đó là một thanh niên cao lớn vạm vỡ, ôm đàn đứng giữa chợ, quần đen, áo cổ tròn đen, đeo một chuổi đá đen quanh cổ, tóc dài quá cổ, khuôn mặt sám đen cương nghị cúi xuống, duy đôi mắt mù ngước lên trời cố trông. Tiếng hát của anh quyến rũ lạ kỳ, điệu nhạc nhanh và mạnh nhưng thảm thiết, rồi anh ta chuyển qua một bản slow rock mượt mà, chùng xuống kể lể. Chiều biên giới buồn hơn, lẻ loi hơn với tiếng hát của người nghệ sĩ mù.

Thứ Bảy, sau khi các quầy hàng bán ngọc vàng đóng cửa lúc sáu giờ chiều, các quầy ăn đêm dọn ra. Tiếng hát của đám trẻ, của nghệ sĩ mù vang rất rõ trong một khu chợ yên tĩnh dù đông người. Cửa biên giới đã đóng nhưng quán nước bên dưới cầu biên giới vẫn mở cửa. Suốt con đường nhỏ cong theo bờ sông bên dưới cầu chỉ có cái quán này nằm sát sông nhìn qua Miến Điện. Bàn gỗ chữ nhật, ghế nhựa kê sát lan can gỗ, bếp nấu trong tầm mắt, dãy hành lang dài dọc theo sông vắng ngắt. Quán nghèo nhưng ngăn nắp. Bóng đèn trắng bên hiên quán le lói chiếu trên dòng sông nhỏ bên này không đủ soi sáng phía bên kia bờ Miến. Hai cô bé Miến Điện giúp việc cho bà chủ quán ngồi thù lu một góc, đối diện nhau nhưng không nói chuyện. Một trong hai đứa là người Akha, mặc áo ca rô xanh đậm, khuôn mặt sậm có một vẻ đẹp núi rừng mờ trong bóng tối, duy đôi mắt xếch và to phản chiếu ánh đèn hay màu nước sông thỉnh thoảng lóe lên.

Chính phủ Miến không trực tiếp xuất khẩu lao động, nhưng ngó lơ để dân trốn sang nước làng giềng giàu có làm đủ thứ nghề. Chế độ có hai món hàng trời cho là người và mỏ. Người thì không phải lo nuôi, tự lớn và tự tìm đường trốn qua Thái làm nghề nào cũng được, gửi tiền về nuôi nhà và lợi nước. Các mỏ đá quý ở tiểu bang Shan, sát biên giới, cũng nhờ trời cho, cứ khai lên và chở qua Thái (và qua Tàu). Cây rừng cũng không thiếu, chở qua biên giới Trung Quốc. Quý nhất là người thiểu số. Miến Điện có trên 130 sắc dân, ngôn ngữ bất đồng, thất học, nghèo. “Đầu ra” của những thôn nữ thiểu số có sẵn ở Thái Lan là các khách và khứa săn tìm thanh thiếu niên vị thành niên. 

Bang Shan, giáp biên giới Trung Quốc, Lào và Thái, có các nhóm vũ trang sắc tộc chống quân đội chính quyền để đòi độc lập hoặc vùng tự trị. Chính quyền đàn áp tàn bạo. Quân đội cư xử như đạo quân xâm lăng chứ không phải để bảo vệ đất nước. Lính tráng vào làng trộm cắp gà vịt, bắt dân đi xây dựng công sự, làm đường, rà mìn, nếu chỗ nào nghi có mìn họ lùa dân đi trước mở đường. Quân đội đuổi người sắc tộc, phần lớn là người Shan, để lấy đất. Phụ nữ và trẻ em là nạn nhân trực tiếp của quân đội. Theo rất nhiều phúc trình của các tổ chức phi chính phủ, lính Miến vào từng nhà hiếp dâm phụ nữ theo lịnh của chỉ huy. Phụ nữ thiểu số chỉ có hai con đường: một là bị lính hiếp dâm, hai là tìm đường qua Thái Lan bán thân. 

Qua Thái Lan, dù cuộc sống không còn là người nữa trong thế kỷ 21, vẫn đỡ tồi tệ hơn ở lại quê nhà.
Họ vượt biên bằng nhiều cách. Ngoài con đường hợp pháp là băng qua cầu xin chiếu khán có giá trị một ngày hay một tuần, họ bơi hay chèo qua sông, hay đi từng nhóm nhỏ trên các phao nổi bằng ruột xe hơi. Không có con số chính xác bao nhiêu người Miến qua Thái vì rất nhiều di dân lậu, nhưng ước tính có hơn hai triệu người Miến sống hợp lệ hay ngoài vòng pháp luật ở Thái Lan.

Cô bé Akha bán quán là một trường hợp may mắn hiếm hoi. Bà chủ quán tử tế, không thấy sai bảo quát tháo gì, cô bé chỉ việc bưng nước cho khách hay lau chùi bàn ghế. Ngoài ra cô chỉ việc ngồi nhìn nước sông Sai chảy, lặng lẽ.

Bên kia bờ Sai, chỉ cách non mười thước, là quê hương Miến Điện.
Cô có thể về lại quê, chỉ việc lội qua dòng nước sâu không tới đầu gối. Nhưng bên đó là lao tù. Một loạt trung tâm dựng rải rác trong tiểu bang Shan, nhốt những người Shan chống đối, hay bị Thái trục xuất theo giao kèo giữa hai chính phủ.

Cô còn một người cha đang làm ruộng bên đó, một người mẹ và chị gái đang dệt các hàng thủ công để tuồn qua chợ Mae Sai bán.

Mỗi tháng, cô bé tiếp viện cho gia đình 500 baht, chừng 16 đô Mỹ.
Nếu muốn có nhiều tiền hơn, cô phải rời cái quán này, đi sâu vào đất Thái. Nhưng muốn lọt vào các thành phố lớn như Chiang Mai hay Bangkok, cô phải chung tiền cho cò mới thoát rất nhiều trạm kiểm soát di dân trên mọi cửa ngõ ra vào Chiang Rai.

Buổi tối, ánh đèn từ quê nhà lay lắt đây đó. Sau lưng, ánh sáng trên đường cái rừng rực. Quốc lộ 1 chạy từ thủ đô Bangkok, đến chỗ cô là điểm cuối, đánh mốc cây số 891.
Phía sau lưng rất nhiều tiền và cạm bẫy.

Trước mắt quê hương mờ mờ.
Cô gái ngồi nhìn quê hương trong tầm mắt. Cách một dòng sông nhỏ, rất nhỏ. Nước sông xuất phát từ núi rừng bên nhà, chảy âm thầm và chia cắt.

Ấn tượng cuối cùng của tôi về Mae Sai không còn là khu chợ nhộn nhịp im lặng nữa.
Bây giờ chỉ còn một dòng sông rất nhỏ.
Sông Sai.
Và người ngồi yên nhìn quê hương bên kia.
Rất yên.

Thursday, December 27, 2018

‘Cặp đôi hoàn hảo’ Tân Sơn Nhất và Long Thành giờ ra sao?

25/12/2018

Máy bay của Vietnam Airlines và Vietjet đậu tại Tân Sơn Nhất.
Sau hàng chục năm trời tồn tại một cách bất hợp pháp, hoặc đạp trên đầu pháp luật, thách thức dư luận xã hội và gây nỗi thống khổ cho sân bay dân sự bằng nạn kẹt giao thông kinh hoàng cả dưới đất lẫn trên trời, phải đến cuối năm 2018 số phận của sân golf Tân Sơn Nhất (TSN) đã được định đoạt.
Một văn bản ‘lạ’ của Sở Quy hoạch - Kiến trúc TP HCM
Nhưng thật trớ trêu và cay đắng, bản án số phận đó không phải được phán quyết bởi áp lực chưa đủ lớn của một xã hội mà có đến hàng triệu người xuống đường diễu hành ăn mừng chức vô địch của đội tuyển bóng đá quốc gia nhưng lại không muốn hoặc không dám bước qua ngưỡng cửa nhà mình để tham gia vào những cuộc biểu tình đòi quyền sống, mà vẫn phụ thuộc phần lớn và chỉ được quyết định vào những cuộc điều đình, hoặc một thỏa thuận ngầm giữa các nhóm lợi ích với nhau.
4 tháng sau quyết định điều chỉnh quy hoạch chi tiết Cảng hàng không quốc tế TSN của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT), vào đầu tháng 12 năm 2018 Sở Quy hoạch - Kiến trúc TP HCM bỗng có một động thái lạ: cơ quan này gửi một văn bản cho Ủy ban nhân dân TP.HCM đề nghị loại bỏ sân golf Tân Sơn Nhất khỏi quy hoạch của thành phố. Văn bản này lấy cơ sở là quyết định hồi tháng 8 năm 2018 của Bộ GTVT về điều chỉnh quy hoạch chi tiết Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất. Phần diện tích sân golf sẽ được làm nhà ga, khu hangar và một phần cây xanh hồ điều tiết.
Đề xuất loại bỏ sân golf Tân Sơn Nhất chỉ có thể được ‘cho phép’ hiện ra với tín hiệu bật đèn xanh từ Bộ Quốc phòng - cơ quan chủ quản của chính sách kinh tế quốc phòng kiêm hoạt động kinh doanh sân golf Tân Sơn Nhất, Bộ GTVT - cơ quan được xem là tồn tại một nhóm lợi ích giao thông khổng lồ mà đã không ít lần ‘trùm mền’ cả Bộ Chính trị, và từ chính phủ ‘kiến tạo và hành động’ của Nguyễn Xuân Phúc.
Kẻ nào “bảo kê” sân golf TSN?
Dù diện tích đủ để thiết lập một sân bay khổng lồ với hơn 3.000 ha thời Việt Nam Cộng Hòa để lại, nhưng từ sau 1975 sân bay TSN đã bị thẳng tay lấn chiếm diện tích bừa bãi khi đại gia nhóm lợi ích quân đội đã chiếm 157 ha đất vàng làm sân golf, nhà hàng, khách sạn, chung cư.
Tập đoàn Him Lam của đại gia Dương Công Minh - người mà giờ đây đang ngự trị ở Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín - bị xem là thủ phạm chiếm dụng 157 ha đất của sân bay dân sự TSN từ hàng chục năm qua. Dự án sân golf TSN cũng do tập đoàn này làm chủ đầu tư. Tập đoàn này còn tai tiếng với loạt scandal như: xây không phép sân tập golf và nhà hàng Him Lam; tự ý lấn chiếm hành lang sông Sài Gòn, xây vượt tầng trái phép; coi thường pháp luật, ngang nhiên cưỡng đoạt tài sản của doanh nghiệp khác; lọt danh sách đen cưỡng chế nợ của Bộ Tài chính với số tiền nợ lên tới 34,8 tỷ đồng…. Theo nhà báo Nguyễn Đình Ấm là người có thâm niên trong ngành hàng không và hiện nay là hội viên Hội Nhà báo độc lập Việt Nam, thậm chí chủ tập đoàn này còn nhẫn tâm “đầu độc” người dân Sài Gòn bằng 200 tấn thuốc trừ sâu đổ xuống sân golf TSN mỗi năm nhưng vẫn không hề bị truy cứu trách nhiệm.
Từ tháng 7 năm 2017 khi bị dư luận phản ứng dữ dội về thực tồn sân golf TSN gây ra nạn kẹt cứng ở sân bay dân sự cùng tên, có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy vai trò “bảo kê” cho sân golf TSN đã cấp tập được chuyển từ một số quan chức Bộ Quốc phòng sang một số quan chức Bộ GTVT.
Bộ trưởng GTVT vào thời đó là ông Trương Quang Nghĩa, hiện là bí thư Đà Nẵng sau khi bí thư cũ là Nguyễn Xuân Anh bị ‘văng’ sau cuộc đấu đá sinh tử thất bại với Huỳnh Đức Thơ - chủ tịch thành phố này và được xem là ‘người thân’ của Thủ tướng Phúc.
Trương Quang Nghĩa là quan chức khư khư giữ quan điểm ‘chỉ mở rộng sân bay TSN về phía Nam’ (tức toàn bộ các khu dân cư của các quận Gò Vấp, Phú Nhuận, Tân Bình và cả Công viên Gia Định - một trong hiếm hoi lá phổi xanh cuối cùng của Sài Gòn), mà không phải là phía Bắc (nơi ngự trị sân golf TSN).
Trương Quang Nghĩa cũng là người bị nghi ngờ lớn về mối quan hệ chằng chịt và sâu đậm với các nhóm lợi ích ODA và giao thông ở Bộ GTVT.
Từ năm 2017 đến nay, đường vào sân bay TSN đang trở nên nỗi kinh hoàng với tất cả hành khách. Rất nhiều lần tuyến chính dẫn vào sân bay là đường Trường Sơn cùng các đường nhánh bị kẹt suốt 3-4 tiếng đồng hồ, khiến nhiều hành khách phải bỏ xe hơi, ôm hành lý chạy vội vào nhà ga phi trường để khỏi lỡ chuyến bay.
Vào đầu năm 2018, trước bầu không khí búa rìu dư luận ngày càng sắc bén và nguy hiểm chính trị, ông Trương Quang Nghĩa có thể đã phải chọn lựa “giải pháp tình thế” là xin trung ương cho chuyển về Đà Nẵng làm bí thư thành ủy như một cách “hạ cánh an toàn”.
Nhưng thay thế cho ông Nghĩa lại là một nhân vật mà đã gây tai tiếng đủ lớn về nạn “bảo kê BOT” chỉ vài tháng sau khi nhậm chức Bộ trưởng GTVT: ông Nguyễn Văn Thể.
Cùng lúc với việc để mặc cho các trạm BOT tha hồ ‘hút máu’ lái xe và doanh nghiệp mà đã khiến gây ra một phong trào phản đối rộng khắp từ Bắc chí Nam, tân bộ trưởng Nguyễn Văn Thể còn kế thừa nhiệm vụ “thuê tư vấn ngoại” của cựu Bộ trưởng Trương Quang Nghĩa, tức thuê Công ty tư vấn ADP-I của Pháp.
Vào đầu tháng Ba năm 2018, ADP-I đã công bố đánh giá “mở rộng sân bay TSN về phía Nam”. Nhưng ngay lập tức, công bố này bị dư luận xã hội phản ứng và nghi ngờ là tổ chức tư vấn này “đi đêm” với Bộ GTVT.
Một con số ước tính của giới chuyên gia cho biết nếu mở rộng sân bay TSN về phía Nam, kinh phí giải tỏa đền bù các khu dân cư sẽ lên đến hơn 9 tỷ USD, tương đương hơn 200 ngàn tỷ đồng. Ngân sách đang cạn kiệt sẽ tìm đâu ra con số đó?
Trong khi đó, phương án dễ nhất là thay vì mở rộng sân bay TSN về phía Nam, Chính phủ hoàn toàn có thể lấy lại 157 ha sân golf TSN để làm sân bay mà còn không tốn một đồng ngân sách nào.
Nhưng nếu làm theo phương án trên, ai sẽ đền bù cho nhóm lợi ích quân đội về tất cả chi phí nổi lẫn “ngầm” mà nhóm này đã bỏ ra?
Mắc nghẹn ‘cặp đôi hoàn hảo’
Hai sân bay TSN và Long Thành có một mối ‘tham duyên’ sâu kín. Không phải bỗng dưng mà từ năm 2015, các nhóm lợi ích ODA, giao thông và chính sách đã ‘hiệp đồng tác chiến’ một cách bài bản trên hai mặt trận thủ tục hành chính và truyền thông nhằm tống tiễn càng nhanh càng tốt trọng điểm sân bay từ TSN về Long Thành như mô hình ‘cặp đôi hoàn hảo’.
Trong thâm ý lẫn tham ý của các nhóm lợi ích, dự án sân bay Long Thành không chỉ nhằm “nuốt gọn” 18 tỷ USD đầu tư với phần lớn trong số đó dự kiến là vốn vay ODA, mà còn được khuếch trương tính tầm cỡ “khu vực châu Á” của nó để giúp giới quan chức đang “kẹt hàng” có điều kiện bán đất giá cao.
Trước đây vào thời thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và vào lúc ODA vẫn còn được giới quan chức tham nhũng Việt xem là ‘bò sữa’ và ‘tiền từ trên trời rơi xuống’, ý đồ này đã được hoạch định theo chiêu thức vay nguồn ODA ưu đãi để xây dựng sân bay Long Thành, đồng thời “đánh lên” bất động sản quanh khu vực này để giới quan chức dễ dàng “thoát hàng”. Một khi đã chuyển được ga hàng không chính về Long Thành, toàn bộ 800 ha đất vàng của sân bay TSN sẽ có thể rơi vào tay nhóm đặc quyền đặc lợi.
Nhưng người tính không bằng trời tính. Từ tháng 7 năm 2017, các nguồn vốn vay ODA ưu đãi hầu như đã đóng cửa với Việt Nam. Với các chủ nợ lớn nhất là Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng phát triển Á châu, Việt Nam sẽ phải vay vốn ODA của quốc tế với mặt bằng lãi suất tăng gấp ba lần trong lúc thời gian ân hạn giảm đi một nửa.
Trong tình thế quá khốn khó, Chính phủ lại không dám bảo lãnh cho vay. Nếu những năm trước số bảo lãnh cho vay lên đến 4-5 tỷ USD, thì năm 2017 chỉ còn khoảng 700 triệu USD. Với dự toán “vẽ” của sân bay Long Thành lên đến hơn 18 tỷ USD, cho dù chính phủ có bảo lãnh vay thì “quota” 700 triệu USD cũng chẳng làm được trò trống gì.
Từ năm 2017 đến nay, trong khi nguồn ODA từ quốc tế bị siết lại thì khu vực sân bay TSN lại "đổ đốn" đến mức kẹt cả dưới đất lẫn trên trời, khiến phát sinh làn sóng bức xúc trong kỳ họp quốc hội tháng 5 - 6 năm 2017 đòi sân golf TSN phải trả lại 157 ha cho sân bay cùng tên.
Ý đồ thực hiện “cặp đôi hoàn hảo” của hai nhóm lợi ích ODA và giao thông dành cho hai sân bay TSN và Long Thành ngày càng phải đối mặt với nguy cơ phá sản thấy rõ.
Chiến dịch “dời Tân Sơn Nhất về Long Thành” của các nhóm lợi ích cũng bởi thế càng thêm đổ bể.
Chỉ đến lúc này mới hiện ra một văn bản ‘lạ’ của Sở Quy hoạch - Kiến trúc TP HCM đề nghị loại bỏ sân golf TSN khỏi quy hoạch của thành phố.
Ăn không được thì phải nhả.
Trong khi đó và nếu không vay được ngoại tệ, tương lai của sân bay Long Thành vẫn chỉ là… bản vẽ. Vô số đất đai của giới đại gia và quan chức vẫn không cách nào hóa phép thành tiền hay ngoại tệ để tẩu tán ra nước ngoài…

Tuesday, December 25, 2018

Ấn tượng Atlanta

Nếu: Cali đi dễ khó về, thì Atlanta được nhiều người coi là cái nôi đất lành chim đậu. Vâng, quả nhiên vậy, nhìn vào khung sắt kiên cố bề thế của ngôi Thánh đường Các Thánh Tử Đạo Việt Nam đang xây cất trị giá hơn 14 triệu Mỹ kim trong giai đoạn thi công cơ bản, người ta có thêm bằng chứng tin đây là dẫn chứng cụ thể về mảnh đất hiền hòa dễ sống này, vì có “lực” mới “tòng tâm” được.
Những cây thông dáng cao, đứng thẳng là ấn tượng du khách đến đây nhận ra. Atlanta là vậy, xứ sở của những cây thông sừng sững khó nhầm lẫn. Cuối tháng 12, trời rét đậm. Mưa nhiều. Không gian ẩm thấp khiến những chiếc áo khoác dài, những chiếc khăn quấn cổ và những đôi ủng da như có thêm đất dụng võ. Những ánh mắt thân thiện chan chứa, chẳng ai ngờ nơi đây từng là bãi chiến trường khốc liệt của cuộc bầu cử tranh ghế thống đốc giữa hai ứng viên bên tám lạng, bên nửa cân: Stacey Abrams và Brian Kemp hồi đầu tháng 11.
Mùa phiếu 2018 tại đây đã đi vào lịch sử, một cuộc chạm trán nảy lửa giữa hai chiến dịch vận động cử tri chưa từng có trong lịch sử Georgia. Tiền đổ ra không ít. Rồi thì đã sao? Cũng xong. Bao háo hức mệt nhoài. Những nỗ lực vắt kiệt. Cuối cùng người ta không thể nấn ná hoài cổ mãi với các sự kiện chính trị. Atlanta năng động và bận rộn. Cuộc sống phải lăn bánh. Giá xăng 87 bỗng nhiên ở giá dưới $2/gallon, điều mà sau nhiều năm kinh tế khó khăn, quăng lên quật xuống, khiến người ta khó tin vào điều mình trông thấy.
Một anh bạn quen làm nghề build tiệm và các cơ sở kinh doanh mới (tên Hùng) vui vẻ kể: Năm nay em lãnh nhiều công trình, làm việc mệt quá bác ơi. Điều đó ít nhiều khẳng định kinh tế nơi đây đang khởi sắc. Sau nhiều năm ì ạch, chẳng trách ai được, nắng hạn ắt ao hồ phải cạn, người muốn đầu tư phải cẩn thận, dè dặt. Nay, phải chăng do Tổng thống Trump có tài thao lược, kinh bang tế thế, dân Mỹ nói chung, dân Atlanta nói riêng hưởng sái lây nên người ta tự tin hơn trong việc bỏ vốn làm ăn!
Đến thăm Atlanta, Freeway 85 vẫn kẹt xe như muôn thuở. Chuyện kể lại, hồi tháng 3 năm 2017 cây cầu chính của trục lộ (bản doanh của dân homeless sống dưới gầm cầu nơi có nhiều thùng hóa chất được họ tận dụng) phát hỏa. Bảy làn đường kẹt cứng. Quân đội được huy động để hỗ trợ cứu cháy. Xe cộ lưu thông bữa đó mạnh ai nấy tìm đường detour ngắn nhất về nhà cho sớm. Giao thông tắc nghẽn nhiều tuần liền. Atlanta là vậy, đất lành chim đậu, khả năng đáp ứng hạ tầng cơ sở gần như không theo kịp đà phát triển bùng nổ dân số nơi đây.
Bản thân Atlanta không phải là một thành phố lớn. Nghe vậy nhiều người tròn xoe mắt: Giỡn chơi hoài. Quả nhiên về mặt lý thuyết, thống kê dân số năm 2017 Atlanta có khoảng 486,290 người, xếp hạng 39 trong số những thành phố đông dân của Mỹ (most-populous city in the United States). Tuy nhiên đây chỉ là Atlanta nói riêng, thực tế Atlanta là trung tâm văn hóa kinh tế xã hội của riêng nó và vùng phụ cận với số dân lên tới 5.8 triệu người. Vâng. Chính xác như thế. Các thành phố vệ tinh xung quanh Atlanta giúp nơi đây trở thành metropolitan lớn thứ 9 của Mỹ! Còn so sánh trong phạm vi vùng đông nam của Mỹ, Atlanta và vùng phụ cận đứng thứ 3, chỉ sau Greater Washington và Greater Miami.
Không hổ danh, nội phi trường quốc tế Hartsfield-Jackson Atlanta International Airport không thôi đủ khiến bạn tâm phục, khẩu phục. Không ngoa, đây là phi trường lớn nhất Hoa Kỳ phục vụ một lượng khách khổng lồ (năm 2017 lên tới 101.491.106 lượt khách), sau đó là Phi trường Chicago O’Hare International Airport phục vụ khoảng 76.949.504 lượt khách (cùng năm). Xếp hạng ba là Phi trường Los Angeles International Airpor tiếp đón lượng khách lên tới 74.937.004 người. Phi trường Dallas-Fort Worth lớn cỡ vậy cũng chỉ đứng hạng tư với lượng khách 64.074.762 (năm 2017).
Trò chuyện với mấy anh bạn trà dư tửu hậu nơi đây, lý do Atlanta (nói gộp đặng dễ hình dung) đất lành chim đậu vì nhiều năm qua dân lánh nạn thiên tai nơi khác kéo đến. Florida thôi khỏi nói, bão tố ì đùng. Xích lên một chút là North Carolina tình trạng cũng chẳng khả quan lắm mỗi khi mùa bão đến. Ngay như Alabama lâu lâu còn bị bão lụt hăm he nữa mà. Còn Atlanta, nơi đây có vẻ bình an hơn. Lâu lắm rồi không nghe nói tới bão tố càn quét tàn phá Atlanta.
Với nụ cười thân thiện, anh Tuấn, người luôn tạo được ấn tượng gần gũi với đồng hương nhắc đi nhắc lại: Atlanta đất lành chim đậu. Vậy người ta mới dồn về đây. Bản thân anh từng sống ở Texas (anh hóm hỉnh kể: Tổng cộng hai mươi ngày). Anh đến Atlanta lập nghiệp tính đến nay đã hơn ba mươi năm. Minh họa lời anh nói, theo công bố của Phòng thương mại Metro Atlanta Chamber of Commerce (năm 2006) Atlanta và vùng phụ cận bao gồm 140 thành phố vệ tinh và thị trấn nhỏ thuộc 28 quận hạt. Whoa! Hèn gì Atlanta hoành tráng tới cỡ đó. Vì vậy để cho tiện, dân Atlanta thường nói mình sống ở Atlanta thay vì nói tên thị trấn mình đang sống như Lawrenceville, East Point, Redan, Milton, hay Dallas… (Thưa vâng, tại đây quả có một thị trấn tên Dallas với số dân lên tới gần 23.000 người)!
Dân địa phương có thời gian quỡn hoặc khách xa ghé thăm, Downtown Atlanta có nhiều điểm du lịch thu hút đầy ấn tượng. Không nói gì nhiều, nội Trung tâm Coca-Cola nơi đây đủ để cả nhà có một ngày tham quan thú vị. Nơi đây, thủ phủ của thương hiệu nước uống Cola-Cola với ê hề thông tin về một công ty doanh thu khổng lồ (năm 2017 – 35.41 billion USD) nổi tiếng mạnh thường quân hỗ trợ các giải thể thao lớn, trong đó có các giải thế vận hội Olympic. Sát cạnh bên có The Georgia Aquarium, một trung tâm thủy sinh địa chỉ thường trú của hơn trăm ngàn các loại động vật thủy sinh nước ngọt và nước mặn, các loại bò sát, ếch nhái… thuộc chục ngàn chủng loại; đáng kể hơn cả là những bể kiếng khổng lồ chứa hàng chục triệu gallon nước biển.
Nếu thích thăm thú những tác phẩm điêu khắc cây cảnh, vườn bách thảo Atlanta Botanical Garden là địa chỉ không nên bỏ lỡ. Được thành lập năm 1976, Atlanta Botanical Garden chiếm diện tích hơn 30 acres, giáp với Công viên Piedmont Park thuộc khu vực Midtown Atlanta. Mục tiêu của vườn bánh thảo: Phát triển, bảo tồn, triển lãm, giáo dục, nghiên cứu, và giải trí (Develop and maintain plant collections for the purposes of display, education, conservation, research and enjoyment). Vâng. Với bàn tay khéo léo của những nghệ nhân chăm sóc cây cảnh có tâm có tài, những hình ảnh sống động từ cây kiểng sẽ khiến bạn ngạc nhiên sửng sốt. Muốn biết rõ hơn, bạn có thể tìm hiểu qua những hình ảnh image do Google cung cấp, nhất định bạn sẽ thán phục bởi những sáng tạo nghệ thuật gần như khó tin nhưng có thật. Đặc biệt hàng năm nơi đây Lễ hội thắp đèn Christmas Light kéo dài từ Thanksgiving qua New Year, càng khiến địa chỉ này nên đưa vào danh sách những sinh hoạt lễ hội cuối năm cần tham quan.
Nếu hứng thú các hoạt động dã ngoại, adventure, bạn không nên bỏ qua Stone Mountain Park với những nét đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Tại đây lịch sử còn ghi dấu những tên tuổi lớn trong lịch sử Nội chiến Mỹ (phe Confederate Miền Nam) như Tướng Stonewall Jackson, Tướng Robert E. Lee hay Tổng thống Jefferson Davis. Bên cạnh đó là những trò chơi sinh hoạt thể dục thể thao lành mạnh cho mọi lứa tuổi.
Vâng. Atlanta – Niềm tự hào của nhiều gia đình người Việt coi đây là tổ ấm, quê hương thứ hai. Những tờ báo ấn bản Việt ngữ sôi động phát hành nhộn nhịp. Chợ búa. Ôi. Rẻ. Tươi. Đầy đủ đến độ ê hề. Có ai ngờ đi chợ Hong Kong ở đây người ta có thể tìm thấy đọt mì (ngọn sắn), lá lốt tươi, rau dền tía, đọt lang, hoa chuối, và bao loại rau thơm húng hẹ của Mễ vốn khó tìm tại những nơi khác. Bơ trái nào cũng tươi ngon, giá rẻ. Hơn 15 cửa tiệm bánh mì tại Atlanta gần như đủ tư cách khẳng định món ăn “thổi kèn” này đã chọn Atlanta làm thủ phủ.
Cứ thế, người dân nơi đây dường như rất tự hào về mảnh đất này. Anh Phong, một gương mặt quen thuộc với đồng hương hóm hỉnh cười: Không biết bà con Việt Nam ở Atlanta xếp hàng thứ mấy trên đất Mỹ! Nghe anh hỏi, những địa danh như: Quận Cam, Houston, Dallas, New Orleans, Washington DC, Chicago… được đưa ra so sánh. Ấn tượng chung về Atlanta là chẳng thiếu thứ gì, đặc biệt về mặt ẩm thực Atlanta nức tiếng (có lẽ) chỉ thua Phố Bolsa, Thủ phủ ẩm thực của người Việt trên xứ Mỹ!
Vâng. Atlanta, mảnh đất hiền hòa hiếu khách là vậy. Bất luận là bữa cơm tình thân gia đình, một bàn tiệc để anh em “chú, bác” có dịp gặp gỡ sau nhiều năm xa cách, một bữa tiệc sinh nhật bỏ túi dành riêng cho khách xa từ Thụy Điển ghé thăm, hay đơn giản chỉ là một bữa cơm ngày giỗ có linh mục đến làm phép nhà mới, thậm chí chỉ là những tô mì ăn liền nấu vội lót bụng khi đồng hương giúp nhau thay lại cánh cửa cũ, tiếng đàn guitar réo rắt, rượu ấm, tình nồng; những điều đáng quý ấy người ta có thể tìm thấy rất sẵn tại Atlanta, mảnh đất giàu tình, giàu nghĩa; giữa người với người…
Thực ra tinh thần bầu ơi thương lấy bí cùng của con cháu Giao Chỉ nơi đâu trên đất Mỹ cũng ấm áp chan hòa. Có điều với Atlanta, nhìn từ lăng kính khách phương xa ghé thăm, người ta sẽ thấy rõ hơn tinh thần đồng bào tương thân tương ái nơi đây, sáng đẹp hơn, lung linh hơn; rất đáng giữ gìn bảo tồn cho con cháu nhiều thế hệ sau.
Nguyễn Thơ Sinh

VỀ MỘT NGƯỜI ĐỠ ĐẦU CHỮ QUỐC NGỮ BỊ LÃNG QUÊN

Lãng Điền
alt
Vài năm trở lại, các phương tiện thông tin đại chúng có thông báo một số cuộc hội thảo về lịch sử chữ quốc ngữ. Trong hội thảo các nhà nghiên cứu có dẫn tư liệu quí đó là “ Bản tường trình về sứ mạng mới của các linh mục thuộc phái đoàn Dòng Tên ở vương quốc Đàng Trong”, do Cristoforo Borri chấp bút. Trong bản tường trình, C.Borri viết nhiều về một nhân vật lịch sử cấp tiến, rất có cảm tình với các linh mục Dòng Tên, giúp đỡ các vị ấy với sự ưu đãi lớn trong việc truyền Thiên chúa giáo ở Đàng Trong, gián tiếp đỡ đầu chữ quốc ngữ được thai nghén và sinh thành trong giai đoạn từ 1618 đến 1631. Tuy nhiên nhân vật này chưa bao giờ cải đạo. C. Borri trong suốt bản tường trình cũng như các đồng sự đều gọi nhân vật này là “Tổng trấn xứ Puluciambi”. Thế là có người vội suy đoán rằng “ Tổng trấn xứ Puluciambi” là Cống quận công Khám lý Trần Đức Hòa.
Vậy Tổng trấn xứ Puluciambi là ai?
Nguồn gốc bản tường trình
Năm 1931, B.A.V.H đăng tải bài “Những người Âu đã thấy Huế xưa: CRISTOFORO BORRI”, L.Cadière viết tựa, cho rằng C.Borri đã đến Touran [Đà Nẵng} của Đàng Trong từ năm 1618 sau đó vào Puluciama[Nước Mặn], sống và truyền giáo, đến năm 1622 thì về Châu Âu. B.A.V.H 1931 lại đăng bài “Ghi chú về Cristofro Borri và về các ấn bản của bản tường trình của ông” do Charles B.Maybon viết nhằm xử lý về văn bản học của bản tường trình. B. Maybon cho biết ẩn phẩm đầu tiên C. Borri viết bằng tiếng Ý, xuất bản năm 1631 và năm sau tác giả qua đời do bị tai nạn. Bản tường trình được soạn thảo với tư liệu do chính C.Borri thu thập trực tiếp hoặc do các đồng sự kể lại khi trao đổi trực tiếp và tác giả có thể kiểm nghiệm khi còn ở Đàng Trong. Ngoài ra có những sự kiện xảy ra từ 1622 đến 1631 là do tác giả chọn lọc từ những bức thư của các đồng sự như Francesco Buzomi gửi cho ông. Thật vậy, trong bản tường trình C.Borri có tự sự: “Ở Quảng Nam[Cacciam] cũng có nhiều người cải đạo theo đức tin thánh thiện của chúng ta; về chuyện này ông nghè đã giúp chúng tôi nhiều, ông khâm phục chúng tôi về chuyện tiên đoán nhật nguyệt thực như chúng ta đã thấy ở chương IV nên ông xác định một cách công khai rằng không có đức tin và điều luật nào xác thực hơn của các linh mục đã giảng dạy. Các chuyện đó đã ở trong tình trạng như thế khi tôi [C.Borri] rời xứ này vào năm 1622 để đi Châu Âu.
Từ đó, tôi biết do các bức thư hằng năm do các đồng sự của tôi gởi cho tôi; rằng họ đã gặt hái các kết quả ở đây… (t.l.đ.d, tr.488).
Hành trạng của “Tổng trấn Puluciambi” chứng tỏ ông là Nguyễn Phúc Kỳ
Linh mục Francesco Buzomi đến Turon năm 1615, theo thuyền buôn của những người Bồ Đào Nha, ban đầu giúp người Bồ việc hành lễ Công giáo, dần dần linh mục truyền giáo cho một số người Việt ở Turon, trong đó có một phu nhân quí tộc, khi cải đạo có tên thánh là Jeanné. Bà này tạo điều kiện cho linh mục F.Buzomi rất nhiều trong việc truyền giáo. Gặp hạn hán mất mùa nặng, các sư sãi có uy vọng đã đổ lỗi cho sự truyền giáo của F. Buzomi và chúa Nguyễn Phúc Nguyên ra lệnh trục xuất. Do gió mùa, chưa rời cảng, F.Bozumi trốn ở bãi biển và mắc bệnh nặng với ung nhọt ở ngực, khó qua khỏi. Bất ngờ vị “ Tổng trấn xứ Puluciambi” xuất hiện ở cảng Turon cùng đoàn thuyền chiến, đã cứu linh mục F. Buzomi, đưa linh mục về dinh của mình ở Puluciambi, nhờ thầy thuốc giỏi, vợ con của ông săn sóc suốt một năm và kết quả linh mục F. Buzomi lành bệnh. Sự kiện này cho thấy một quan võ, với chức Khám lý của một địa phương cấp tỉnh, lo cầu đường, chưa phải là Đề lĩnh lấy đâu ra thuyền chiến để từ Puluciambi đến Turon, cứu F.Buzomi đang có lệnh trục xuất của Sãi vương, qua mặt các cấp trên đang trấn đóng Turon, Cacciam ư ?
Bốn năm sau, 1618, khi C. Borri đang truyền giáo ở Turon, F. de Pina đang truyền giáo ở Faifo[Hội An], F.Buzomi đang truyền giáo ở Puluciambi [Nước Mặn], lại vị Tổng trấn xứ Puluciambi đưa thuyền chiến, có chở F.Buzomi đến Turon, Faifo để các linh mục gặp nhau và bàn thảo việc truyền giáo ở Puluciambi. Đoàn thuyền chiến do vị Tổng trấn xứ Puluciambi trực tiếp chỉ huy một cách công khai, trang trọng, đi đến hải cảng nào của Đàng Trong cũng được tiếp đón nồng hậu và các vị linh mục được tiếp rước như các vị thượng khách vào hàng hoàng tử của các vua châu Âu. Để thấy Tổng trấn xứ Puluciambi có uy vọng lớn ở Quảng Nam chúng tôi trích lại một số đoạn trong bản tường trình viết về vị Tổng trấn xứ Puluciambi: “Các linh mục Francesco Buzomi, Francesco de Pina và tôi[C.Borri] từ Hội An đi Pulucambi với vị tổng trấn xứ này…Ông dành riêng cho chúng tôi một chiếc thuyền cùng với các thông ngôn của chúng tôi, không cho mang theo hành lý của chúng tôi mà để chúng ở một thuyền khác. Với tiện nghi này chúng tôi đi biển suốt 12 ngày trường, cập bến ở các hải cảng vào buổi sáng hoặc buổi tối, vì tất cả các hải cảng đều ở gần các xóm hoặc thị trấn lớn của dinh Quang Hoa[Quảng Nghĩa], nơi vị tổng trấn cũng có quyền như ở Puluciambi của mình. Tất cả mọi nơi đều chúc tụng ông và tặng quà quý giá, và người ta đang cho chúng tôi trước theo lệnh của ông” (t.l.đ.d.tr. 430).Một vị quan võ, chức Khám lý, phụ trách một bộ phận của quân đội địa phương, liệu có đủ quyền và lực, trái lệnh cấm của chính quyền trung ương, chưa kể các cấp trên đang đóng bản doanh ở địa phương mình công tác, dám có những hành xử với những linh mục đang bị cấm truyền đạo như ghi chép của C.Borri như sau không ? “Ông muốn làm vui chúng tôi nên ra lệnh đem đến 7 con voi và làm vinh dự thêm chúng tôi ông cho 100 lính hộ tống; một nửa số đó đi ngựa, nửa kia đi bộ. Bởi lẽ cuộc hành trình làm vui thích chúng tôi nên chúng tôi dùng vào đó trọn 8 ngày tròn; tiệc tùng theo phong cách Hoàng gia, bất cứ nơi nào chúng tôi đi qua” (t.l.đ. d, tr.431).
Tổng trấn Puluciambi có một bà chị ruột đầy uy vọng, vợ một đại quan, khoảng năm 1621-1622 được triệu hồi về chính dinh Phước Yên, để bàn bạc với Sãi Vương việc ông sẽ làm đại sứ ở Cao Miên. Khi ba linh mục cùng tổng trấn Puluciambi vừa đến Puluciambi, liền viếng nhà của bà chị gái, vợ đại quan sắp đi đại sứ Cao Miên và được chiêu đãi một bữa tiệc tuyệt diệu: “ Tại nhà của một trong những bà chị gái của ông người ta đãi chúng tôi một bữa tiệc tuyệt diệu, không chỉ vì sự phong phú của cách nếm gia vị; chúng tôi được dọn các món theo cách nấu ăn Âu châu của chúng tôi mặc dù vị tổng trấn cũng như những người trong nhà không quen dùng những món đó” (t.l.đ. d, tr. 431). Bà chị của tổng trần thuộc vào hàng quí tộc, khi bà đến gặp linh mục C.Borri để xin cải đạo, bà được rước bằng voi: “Như vậy là tôi [C.Borri] ở lại Pulucambi một mình, lo lắng, không có một hy vọng gì liên quan đến việc cải đạo cho các linh hồn những người ngoại quốc này. Và rồi một ngày kia, khi đang một mình ở nhà, tôi không suy nghĩ gì cả và bổng thấy hiện ra trước cửa một đàn voi với rất nhiều các bà và một nhóm đàn ông; đàng sau có một bà lớn dáng vẻ sang trọng, phục sức, trang điểm nhiều nữ trang quý giá theo cách địa phương…Khi đi ra để đón tiếp bà, tôi nghe nói rằng bà là vợ của vị đại sứ mà vua xứ Đàng Trong gởi sang xứ Cam Bốt và vị đại sứ này sinh trưởng ở Nước Mặn, nơi chúng tôi cư ngụ, sau vị tổng trấn là nhân vật đầu tiên và chính yếu của xứ này; hiện giờ ông ta đang ở triều đình Sinua (Thuận Hóa) để bàn bạc với nhà vua ông việc đại sứ của ông” (t.l.đ.d, tr.447).Cả hai vợ chồng ông đại sứ đều cải đạo, tên thánh của ông là Ignac và của bà là OrsolaC. Borri ca ngợi ông đại sứ: “…khi vị đại sứ đi vào cung điện ở Cao Miên của mình, nơi có bao nhiêu người vợ hầu thường lệ theo hầu vợ ông; ông liền ra lệnh đuổi đi và không ngước mắt nhìn một ai trong số đó. Và nhờ đó khắp nơi biết tiếng ông như một người đạo đức cao trọng, trong sạch; và tất cả nghĩ rằng ông là người có khả năng nhất vương quốc Pulucambi rửa tội” (t.l.đ. d tr, 458). Dịch giả A. Bonifacy đã thấy C. Borri quá coi trọng địa phương Puluciambi và “thông cảm” bút pháp của tác giả bản tường trình khi chú thích: “ (1) Văn bản ghi : regno (vương quốc), thay vì tỉnh.Câu cuối cùng này căn cứ vào văn bản tiếng Ý, cho ta một ý niệm chính xác về bút pháp của linh mục Borri” (t.l.đ.d, tr.458). Nhờ đoạn trích vừa nêu, chúng ta thấy nếu Tổng trấn xứ Puluciambi là quan Khám lý Trần Đức Hòa thì hóa ra còn có một “phó quan Khám lý”, anh rể của Trần Đức Hòa, đầy uy vọng, vợ và vài chục nàng hầu, người nhà khi đến thăm linh mục C.Borri được rước bởi một đàn voi!
Bây giờ trở lại hành trạng của vị Tổng trấn xứ Puluciambi, qua ghi chép của C.Borri.
Cuối cùng đến dinh thự của tổng trấn, tất cả lễ lược tiệc tùng của cuộc du hành được kết thúc bằng một cuộc tiếp đón và đãi đằng như người ta có thói quen đối đãi với các vị chúa, công hầu. Người ta đãi tiệc liên miên trong suốt 8 ngày, ông mời chúng tôi ngồi trên ngai vàng của ông, cùng ăn giữa công chúng với chúng tôi, bên cạnh có các con trai và các bà vợ của ông, trước sự kinh ngạc đến sững sờ của triều đình ông; họ đều xác nhận chưa bao giờ thấy được một cuộc tiếp đãi như thế nếu không là tiếp đãi các bậc vua chúa, và do đó trong vương quốc lan truyền cái tin cho rằng chúng tôi là các Hoàng tử và chúng tôi đến đây vì những việc vô cùng quan trọng…”(t.l.đ.d.tr,431)
Chỉ cần vài sự kiện nêu trên như “vì tất cả các hải cảng đều ở gần các xóm hoặc thị trấn lớn của dinh Quang Hoa[Quảng Nghĩa], nơi vị tổng trấn cũng có quyền như ở Puluciambi của mình”, ông mời chúng tôi ngồi trên ngai vàng của ông, cùng ăn giữa công chúng với chúng tôi, bên cạnh có các con trai và các bà vợ của ông, trước sự kinh ngạc đến sững sờ của triều đình ông”… có thể suy đoán như dịch giả A.Bonifacy từng suy đoán và chú thích; rằng “Tổng trấn xứ Puluciambi” không ai khác hơn là Trấn thủ Quảng Nam dinh Nguyễn Phúc Kỳ. Thật vậy C. Borri từng viết về đồng sự F.Bozumi có nhắc đến dinh trấn Thanh Chiêm, nơi cư ngụ của Nguyễn Phúc Nguyên và về sau là Nguyễn Phúc Kỳ: “ Tất cả đều có cảm tình với linh mục Francesco Buzomi thật thế, mặt khác ông là một người hiểu biết rộng và rất đạo đức, bằng sự hòa nhã dịu dàng của mình, ông chinh phục linh hồn của những người ngoại quốc này và tất cả họ đều theo ông. Điều này đặc biệt xảy ra ở Cacciam, thành phố nơi nhà vua cư ngụ (1) cách Turon sáu hay bảy dặm đường sông” (t.l.đ.d. tr, 420). A.Bonifacy đã chú thích (1) như sau: “Người ta thấy rằng vị vua này không ai khác là viên trấn thủ tỉnh Quảng Nam, đó là ông hoàng Kỳ, con trưởng của Sãi Vương, người hiện đang trị vì. Chính là Nguyễn Hoàng năm 1602 đã gởi người sau này là Sãi Vương, là con trai và là người kế vị ông vào làm trấn thủ Quảng Nam; Sãi Vương lên thay cha vào năm 1613 đã để người con trưởng ở tỉnh này. Kỳ, người thường được nói đến trong bản tường trình này, chết trước cha của ông vào năm 1632.” (t.l.đ.d.tr, 420). Nếu Tổng trấn xứ Puluciambi là Khám lý Trần Đức Hòa thì ông hoàng Nguyễn Phúc Kỳ hoàn toàn không được nói tới trong bản tường trình của C.Borri ư ?
Tại sao C.Borri sử dụng danh xưng “Tổng trấn xứ Puluciambi” ?
Trong danh xưng trên có hai phần: “Tổng trấn” và “xứ Puluciambi”; từ Tổng trấn mà C.Borri dùng trong tác phẩm được A. Bonifacy chú thích: “Chữ ajo hay aio do linh mục Borri dùng không có nghĩa là “tổng trấn ở tỉnh” mà là “người cai quản trẻ” …”(t.l.đ.d,tr.403). Như thế “Tổng trấn xứ Puluciambi” phải hiểu là Người cai quản trẻ đang ở xứ Puluciambi. Thế thì “Tổng trấn xứ Puluciambi” là Tổng trấn Quảng Nam dinh (trẻ) có bản doanh ở xứ Puluciambi. Giai đoạn 1620-1621 thời Sãi vương là thời chiến, phía Bắc phải lo cuộc nổi loạn của hai người em Hiệp và Trạch, rồi lo đối phó quân Lê-Trịnh, phía Nam phải lo sự tráo trở của Champa, sự can thiệp của Xiêm vào Chân Lạp mà vua nước này là con rể của Sãi vương, vì thế Tổng phó trấn Quảng Nam dinh thường xuyên đóng đại quân ở phên giậu phương nam, lúc bấy giờ là xứ Puluciambi vậy. Chính trong bản tường trình C.Borri từng chép: “ Nhà vua [Sãi vương] lại phải đương đầu với một cuộc chiến tranh mà người ta có thể gọi là nội chiến; cuộc chiến này chống lại ông và do hai người em của ông muốn được ngang hàng về địa vị và quyền lợi…Ông thường xuyên tiến hành chiến tranh ở vùng thứ ba, trong miền đất khác ở miền Tây, ở đàng cuối vương quốc ông, xứ gọi là Renran [Đà Rằng/Phú Yên] để chống lại vua xứ Champa, không mấy mạnh, mà cuộc va chạm dễ dàng chịu đựng đối với vị tổng trấn tỉnh này và lực lượng đủ để chống trả.
Mặt khác ông thường xuyên chuẩn bị và cho lên đường các lực lượng để nâng đỡ vua xứ Cambốt, chồng của một trong các con gái ông, con hoang (sic), giúp ông ta bằng chiến thuyền và lính của mình chống lại vua xứ Xiêm La. Cứ như thế mà rải khắp nơi, trên đất liền và trên biển, vang dội cái tên vinh quang, và giá trị được khẳng định của quân đội xứ Đàng Trong” (t.l.đ.d.tr. 405). Chính sử chép phó tổng trấn Quảng Nam dinh Nguyễn Hữu Vinh [Mạc Cảnh Vinh, con trai của Mạc Cảnh Huống] đưa quân đánh Vân Phong làm phản ở Phú Yên năm 1629, được thưởng công lớn, được Sãi vương ban ấn đồng nghĩa là có quyền cắt đặt các chức quan ở đất phương nam. Ông này là chồng của trưởng công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Liên, chị cùng mẹ với Tổng trấn Quảng Nam dinh Nguyễn Phúc Kỳ. Vậy giai đoạn 1620-21632, Tổng trấnvà phó tổng trấn Quảng Nam dinh đóng đại bản doanh ở vùng ven Puluciambi, trại quân lên đến 100 ngôi nhà như C.Borri đã chép.
Để khách quan chúng tôi dựa vào Đại Nam chính biên liệt truyện để chép lại thân sử của Khám lý Cống quận công Trần Đức Hòa để soát xét những hành trạng của ông, coi thử ông có người chị với chồng từng đi đại sứ Cam Bốt từ 1622 không?: “Đức Hòa là người huyện Bồng Sơn, Bình Định. Ông nội là Ngọc Chính, làm quan nhà Lê, được tặng phong Vinh lộc đại phu.Cha là Ngọc Phẩn,đến chức phó tướng Quảng Nam doanh. Hòa là người hào hùng cao cả, vì là con nhà tướng, ban đầu được ấm thụ làm hoằng tín đại phu rồi thăng cẩm y vệ đô chỉ huy sứ thự vệ sự. Vì có quân công, Vì có quân công, Đức Hòa được phong làm Qui Nhơn Khám lý Cống quận công…”(s.đ.d,tr.89). Cũng trong sách này, mục chép về Đào Duy Từ [rể của Trần Đức Hòa], có chép một chi tiết chứng tỏ Khám lý Trần Đức Hòa qua đời sau thời điểm 1627: “Hy tông hoàng đế năm 14, Đinh Mão[1627] quân ta đánh thắng quân Trịnh ở Nhật Lệ. Đức Hòa nghe tin thắng trận, vào mừng, thong dong lấy ra bài “Ngọa Long cương”ngâm dâng lên chúa và nói: đây là thầy đồ nhà tôi, Đào Duy Từ làm ra.”(s.đ.d, tr.91). Tác giả Hà Đình Nguyên đã điền dã về quê hương Bồng Sơn, đã viếng mộ của Cống quận công Khám lýTrần Đức Hòa và biết khoảng cách từ nơi có mộ đến Nước Mặn là 80 km, đoàn đưa tang đi trong 3 ngày thì quá chậm!
Thân sử Khánh quận công:
Khánh quận công Nguyễn Phúc Kỳ là con trai trưởng của Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên[1563;1635] và bà Mạc Thị Giai[1578;1630]. Ông sinh năm nào không rõ nhưng có thể đoán trong khoảng từ 1597đến 1599, dưới thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613), tại dinh phủ Trà Bát, ở gần thị xã Quảng Trị ngày nay. Ông kết hôn với bà Tống Thị [Toại (?)], là con gái của Tống Phúc Thông (sau khi con rễ qua đời, ông đã vượt biên ra Đàng Ngoài). Khánh quận công còn có bà phu nhân Bùi Thị Phượng. Khánh quận công có bốn con trai là Nguyễn Phúc Nhuệ, Nguyễn Phúc Xuân, Nguyễn Phúc Tài, Nguyễn Phúc Trí và về sau các vị ấy đều được giữ chức Chưởng Dinh. Dưới thời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng, khi thân phụ Nguyễn Phúc Nguyên của ông, đang làm quan trấn thủ Quảng Nam dinh (1602-1613) thì ông Nguyễn Phúc Kỳ được Chúa Tiên giao cho chức Chưởng Cơ, chỉ huy một đơn vị quân đội bảo vệ dinh trấn Quảng Nam ở Thanh Chiêm.Năm 1613 Chúa Tiên băng hà, quan trấn thủ Quảng Nam dinh Nguyễn Phúc Nguyên sớm trở thành Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên và về sống và làm việc ở Dinh Phủ Trà Bát, Quảng Trị. Năm 1614, chúa Sãi đã phong chức Hữu Phủ Chưởng Phủ Sự cho Nguyễn Phúc Kỳ và cử ông làm quan trấn thủ Quảng Nam dinh thay cho mình. Trong thời gian làm trấn thủ Quảng Nam, Nguyễn Phúc Kỳ có chính tích tốt, cởi mở với người nước ngoài đến giao thương, truyền giáo, biết thương người nghèo, xử phạt công minh và có nhiều cảm tình với Thiên Chúa giáo. Lúc bấy giờ trong dinh phủ Sãi vương, một số nhân vật hoàng gia đã cải đạo như Minh Thái vương, vợ thứ của chúa Tiên, chị Nguyễn Thị Ngọc Liên của Khánh quận công, ….
Khánh quận công có phủ thờ ở Huế:
alt
Ảnh chụp vê tinh khu vực Xóm Chay
Ngày 9-6-2013, chúng tôi tìm gặp ông Tôn Thất Sơn, 47 tuổi, hậu duệ đời thứ 13, thường trú bên phải phủ thờ Khánh quận công, ven đường Chợ Mai (Phú Thượng), được vị này cho biết con cháu phủ Khánh quận công từng vào Thanh Quýt viếng mộ. Ở phủ thờ Khánh quận công có câu đối được đắp ở cổng : “ 驸 國 公 侯 光 大 族齊 家 孝 道 顯 前 規”(Phò quốc công hầu quang đại tộc/Tề gia hiếu đạo hiển tiền quy). Khi chúng tôi thông báo lăng mộ Khánh quận công đã được cải táng sau năm 1975 để xây dựng sân vận động của xã Thanh Quýt, ông Sơn rất ngạc nhiên, không biết mộ Khánh quận công cải táng đi đâu(?).
alt
Phủ thờ Khánh quận công ở chợ Mai.
Nguyên nhân trấn thủ Nguyễn Phúc Kỳ qua đời và việc an táng ông:
Trong B.A.V.H, tập XIV, 1931, tác giả Charles B. Maybon viết bài “Ghi chú về Cristoforo Borri và về các ấn bản của bản tường trình của ông”, cho biết Cristoforo Borri là vị giáo sĩ chứng kiến từ khi trấn thủ Nguyễn Phúc Kỳ lâm bệnh cho đến khi lễ an táng chu toàn (nếu ông có trở lại Đàng Trong) hoặc có khả năng đồng sự của C.Borri có chứng kiến và ghi lại trong thư gửi C.Borri vào cuối năm 1931. Đây là tài liệu có độ tin cậy cao. Dựa vào tài liệu này xin lược thuật hậu sự của Khánh quận công:
Ngaỳ 22 tháng 6 năm Tân Mùi (20-7-1631) quan trấn thủ đang ở dinh thự, xứ Puluciam (Bình Định), tổ chức một cuộc đi săn. Quan mải mê theo bắt con mồi, không kể vào vùng đang có nắng gắt, lam chướng, nhuốm bệnh, và khi về dinh thự của quan thì sốt mê man. Các thầy thuốc đang chửa thì lính hầu phải vác giáo chém vào không trung để xua đuổi tà ma. Chỉ sốt ba ngày, quan trần thủ đã lìa đời, gia đình đã theo ý kiến của các vị sư, kiêm pháp sư lo việc mai táng theo như tục lệ. Người ta đã ò hội ý để tìm nguyên nhân…kết quả có người khai rằng, vào một ngày trước khi quan trấn thủ Nguyễn Phúc Kỳ đi săn, một xà nhà của dinh thự đã rơi xuống, người ta buộc đốt luôn dinh thự của quan tổng trấn. Lại làm lể “sai vong”, hồn ngài đã nhập vào chị gái là bà Nguyễn Thị Ngọc Liên, đã cải đạo theo Thiên chúa giáo, …Khi nhập hồn của người em, bà Ngọc Liên đã rất giận dữ, có những cử chỉ khiếm nhã, …và khi hồn của quan trần thủ xuất, bà Ngọc Liên té xuống, phải nằm bệnh 8 ngày mới hồi phục. Tang lễ được tổ chức 8 ngày với các nghi tiết trang trọng, đặc biệt Sải vương đã ca ngợi quan trấn thủ trong văn tế. Borri kể rằng, linh cửu của Nguyễn Phúc Kỳ đưa về vùng Chifu (hay đọc theo ngôn ngữ Ý là Kijou). Chúng tôi đoán Kijou là Kiệu hay Trà Kiệu, ở phía Đông Nam dinh trấn Thanh Chiêm, nơi ấy có nhiều mẫu đất tư cấp cho thân mẫu Mạc Thị Giai của quan trấn thủ sau khi bà qua đời. Trên cánh đồng rộng của xứ Trà Kiêu, người ta vội vàng xây dựng một công trình bằng gỗ, giống như ngôi nhà của Nguyễn Phúc Kỳ ở Pulliciambi. Linh cửu được quàng ở đây ba năm. Trên quảng trường rộng người ta làm đồ mã: xe, thuyền, voi ngựa,…và tiến hành những nghi lễ trong ba năm, đào 12 huyệt mộ khắp các vùng chung quanh, không biết gia đình nhà chúa chọn huyệt mộ nào; cuối cùng đã táng ở làng Thanh Quýt. Như thế ngài Nguyễn Phúc Kỳ qua đời do bạo bệnh sau một chuyến đi săn ở vùng núi gần Phú Yên, không phải tử trận rồi sau đó gia đình nhà chúa táng thủ cấp của ngài ở Thanh Quýt vậy.
Trấn thủ Nguyễn Phúc Kỳ mất 24 tháng 6 năm  Tân mùi (22-7-1631), được truy tặng là Thiếu Bảo Khánh quận công. Chính sử không ghi chép về nguyên nhân tạ thế của Khánh quận công. Đại Nam nhất thống chí xác nhận lăng mộ của Khánh quận công ở làng Thanh Quýt: “Sơn phần của Hữu Phủ Tôn Thất Kỳ: ở xã Thanh Quýt huyện Diên Phước, khoảng đời Gia Long đặt 5 người mộ phu” (sđ d, tập 2, tr.383).
Theo Trương Điện Thắng thì khi dựng sân vận động có tên sân Lăng, gần Xóm Chay, người ta đã cải táng lăng Khánh quận công về bên cạnh mộ mẹ của ngài. Trương Điện Thắng đã nhầm lẫn bà mẹ của quận công là Đoàn quí phi, vì bà họ Đoàn là phi của chúa Nguyễn Phúc Lan. Mẹ của Khánh quận công là bà Mạc Thị Giai (Nguyễn Thị Giai). Như vậy người ta đã cải táng hài cốt của Khánh quận công về gần lăng Vĩnh Diễn. Nguyễn Phước Tương cung cấp thông tin: “Lăng mộ của Hoàng hậu tọa lạc trên một khu đất của Gò Hàm Rồng thuộc làng Chiêm sơn, xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên hiện nay mà nhân dân địa phương gọi là Lăng Dưới. Chắc chắn lăng được xây dựng vào cuối năm 1630 trên một diện tích rộng 8 mẫu, 4 sào, 5 tấc, ứng với lô đất số hiệu 1220 theo địa bộ xã Duy Trinh.
Chúa Nguyễn Phước Nguyên đã cấp cho Hoàng hậu Nguyễn Thị Giai sau khi qua đời 4 mẫu, 8 sào, 12 thước đất tư điền thuộc hai làng Trà Kiệu Đông và Trà Kiệu Tây trên đất huyện Duy Xuyên và 2 mẫu thuộc làng Hương Quế trên đất huyện Quế Sơn để con cháu thu hoa lợi hương khói cho bà hằng năm.
Hoàng hậu được thờ ở Chùa Vĩnh An tức Chùa Vua, được xây dựng dưới triều Nguyễn, cùng với Hoàng Hậu Đoàn Thị Ngọc trong Vườn Chùa trên đất làng Chiêm Sơn, xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên.
Đến năm gia long thứ 5, 1806 Lăng của Hoàng hậu Nguyễn Thị Giai được đặt tên là Lăng Vĩnh Diễn”. Như thế sau khi bà Mạc Thị Giai mất năm 1630, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã cấp đất tự điền để làm đất hương hỏa cho bà Mạc thị Giai ở Trà Kiệu, Quế Sơn. Gia đình con cả Nguyễn Phúc Kỳ đương nhiên quản lý phần đất hương hỏa này. Thực ra vẫn có một nhánh, hậu duệ của Khánh quận công ở Duy Xuyên, từng chăm sóc lăng Vĩnh Diễn (hoàng hậu họ Mạc) và lăng Vĩnh Diên (quí phi họ Đoàn), họ đã cải táng mộ của Khánh quận công về nghĩa trang của gia tộc Nguyễn Phúc, gần hai lăng của bà Mạc Thị Giai và bà dâu Đoàn Thị Ngọc.
alt
Thay lời kết:
Dưới thời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng, khi thân phụ Nguyễn Phúc Nguyên của ông, đang làm quan trấn thủ Quảng Nam dinh (1602-1613) thì ông Nguyễn Phúc Kỳ được Chúa Tiên giao cho chức Chưởng Cơ, chỉ huy một đơn vị quân đội bảo vệ dinh trấn Quảng Nam ở Thanh Chiêm.Năm 1613 Chúa Tiên băng hà, quan trấn thủ Quảng Nam dinh Nguyễn Phúc Nguyên sớm trở thành Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên và về sống và làm việc ở Dinh Phủ Trà Bát, Quảng Trị. Năm 1614, chúa Sãi đã phong chức Hữu Phủ Chưởng Phủ Sự cho Nguyễn Phúc Kỳ và cử ông làm quan trấn thủ Quảng Nam dinh thay cho mình. Trong thời gian làm trấn thủ Quảng Nam, Nguyễn Phúc Kỳ có chính tích tốt, cởi mở với người nước ngoài đến giao thương, truyền giáo, biết thương người nghèo, xử phạt công minh và có nhiều cảm tình với Thiên Chúa giáo. Lúc bấy giờ trong dinh phủ Sãi vương, một số nhân vật hoàng gia đã cải đạo như Minh Thái vương, vợ thứ của chúa Tiên, chị Nguyễn Thị Ngọc Liên của Khánh quận công, …. Quan trấn thủ Quảng Nam rất cởi mở với đạo Thiên chúa. Đặc biệt quan trấn thủ đã cho xây dựng một nhà thờ lớn ở Nước Mặn (Bình Định hiện nay). Nhờ sự cởi mở, cấp tiến nên Nguyễn Phúc Kỳ, Mạc Cảnh Vinh,…đã giúp Quảng Nam phát triển về kinh tế, ngoại thương, tín ngưỡng,…Đặc biệt, quan chánh phó tổng trấn cấp tiến thì một số nhà nho, nhà sư cũng cấp tiến, đã cải đạo và giúp các linh mục tạo ra chữ Việt, được phiên theo mẫu tự La tinh và suốt mấy trăm năm được nhiều học giả, nhà văn, nhà thơ,…góp phần hoàn thiện dần dân, trở thành chữ quốc ngữ, được nhà nước Việt nam thời phong kiến ban chiếu dạy và học ở trường. Tất nhiên, bất cứ ngôn ngữ nào vẫn chưa hoàn hảo, cần liên tục bổ sung một cách hợp lý, khoa học nhưng phải có tính đại chúng, kế thừa và phát triển, khả thi tự nhiên. Còn một công trình khoa học của một cá nhân, chưa được kiểm nghiệm một cách khoa học, minh bạch, đôi khi thiếu khách quan (do nể vì chẳng hạn) và để triển khai cái mới phải đào tạo mới thầy cô, phải in ấn lại sách vở, chưa kể phụ huynh khó hỗ trợ con em khi bọn trẻ học ôn ở nhà …thì cái mới chưa được thuyết phục lắm! Càng dày vò về lịch sử quốc ngữ, càng thấy công lao to lớn của người xưa, trong đó có Khánh quận công Nguyễn Phúc Kỳ đã dung dưỡng cho những người đầu tiên, khai sinh chữ quốc ngữ có tính đại chúng cao, thoát khỏi chữ Hán Nôm. Chữ Hán Nôm khó đại chúng hóa, làm cộng đồng dân tộc chậm phát triển vậy. Đời xa người khuất, khi vinh danh những người có công với chữ quốc ngữ, chúng ta lại bỏ quên một nhân vật lịch sử có đại công trong mở mang đất nước như Khánh quận công Nguyễn Phúc Kỳ là một điều quá thiếu sót vậy.
Lãng Điền
Huế, 14-12-2018
Tài liệu tham khảo:
1/L.Cadière, “Những người Âu đã thấy Huế xưa: CRISTOFORO BORRI”, B.A.V.H. tập XVIII,1931, người dịch Nguyễn Cửu Sà,NXB Thuận Hóa Huế, 2003.
2./Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam chính biên liệt truyện, tập 1, người dịch Đỗ Mộng Khương, Viện Sử Học, Nhà XB Thuận Hóa 1997.
3/Hà Đình Nguyên, “Cống Quận Công Trần Đức Hòa : Người đỡ đầu các giáo sĩ tiên khởi ở Đàng Trong”, Web Công giáo và dân tộc, 14 Tháng Bảy, 2016
4/ Nguyễn Thanh Quang, “Từ 2 hội thảo chữ quốc ngữ tổ chức ở Bình Đình & Quảng Nam: thử đánh giá về vai trò của các thừa sai đầu tiên trong việc sáng tạo chữ quốc ngữ”, Web Dòng Tên Việt Nam, 26-9-2016.