Search This Blog

Friday, August 4, 2017

Một Góc Khác của T.T. Nguyễn Văn Thiệu
Nhà văn Trần Phong Vũ vừa phỏng vấn ông Nguyễn Văn Ngân, phụ tá đặc biệt của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.Nội dung cuộc phỏng vấn giúp chúng ta hiểu thêm một vài góc cạnh khác của ông Thiệu, nhưng không trả lời được câu hỏi đau xót nhất là vai trò của ông trong việc phá tan hai quân đoàn 1 và 2, và để mất một nửa đất nước.Ông có thi hành mệnh lệnh của Hoa Kỳ không? Thái độ của ông, bỏ đất nước, bỏ dân chúng và quân đội để thoát thân theo vợ, con ra ngoại quốc có là chỉ dấu cho thấy ông “mua” sự an toàn của bản thân và gia đình ông bằng cái giá dâng hiến đất nước cho Việt Cộng không?
Trung tướng Ngô Quang Trưởng, tư lệnh Quân Đoàn 1, và thiếu tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh Quân Đoàn 2, đã nêu lên nhiều nghi vấn về những mệnh lệnh rút quân của ông.Tôi trân trọng đề nghị nhà văn Trần Phong Vũ và ông Nguyễn Văn Ngân khai phá những bí mật còn gói kín này. Ông Ngân có thể không biết chi tiết, nhưng chắc chắn ông cũng có thể giúp đánh giá thái độ của ông Thiệu trong những ngày Việt Nam bị bức tử, có thể với sự đồng lõa của ông Thiệu.Ông Vũ giải thích nguyên nhân thực hiện cuộc phỏng vấn, và giới thiệu ông Ngân: “Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, vai chính nắm giữ chìa khóa mở vào những bí ẩn của một giai đoạn lịch sử, đã vĩnh viễn ra đi ngày 29-9-2001 không để lại một vết tích nào, ít nữa là về phía ông. Không hồi ký. Không di chúc chính trị. Ông lặng lẽ trở về lòng đất mang theo một trời tâm sự u uẩn của một nhà lãnh đạo từng được dư luận đặt lên bàn cân với nhiều suy đoán, nhận định, lượng giá khác nhau, đôi khi đối nghịch nhau. Một khuôn mặt thời cơ? Một kẻ tham quyền cố vị? Một lãnh tụ gan lỳ, nham hiểm, nhiều thủ đoạn? Một người yêu nước cô đơn? Một nhà lãnh đạo quốc gia thông minh, mưu trí, nhưng sinh bất phùng thời?Do một trùng hợp tình cờ, 5 năm sau ngày TT Thiệu từ trần, chúng tôi đã gặp gỡ ông Nguyễn Văn Ngân, nguyên Phụ tá đặc biệt về chính trị của TT Nguyễn Văn Thiệu dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa để thực hiện cuộc phỏng vấn này trong nhiều ngày của tháng 9 năm nay (2006). Là một cộng sự viên lâu năm và là một Phụ tá trẻ tuổi nhất trong số những Phụ tá đặc biệt của TT Thiệu, ông Ngân thường được giới báo chí ngày đó coi là một khuôn mặt bí ẩn. Đối với các chính khách “vòng trong” thì ông là người đã nắm giữ nhiều quyền lực quan trọng trong hậu trường chính trị miền Nam bấy giờ.Ông Nguyễn Văn Ngân khởi sự làm việc với TT Thiệu năm 1965, thời gian ông Thiệu giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng trong chính phủ Phan Huy Quát. Năm 1967, ông là đại diện của Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia trong liên danh Nguyễn Văn Thiệu Nguyễn Cao Kỳ tại Hội đồng Tuyển cử Trung ương, trong cuộc chạy đua vào dinh Độc lập. Năm 1971, TT Thiệu ủy nhiệm ông chỉ đạo toàn bộ cuộc bầu cử tháng 10-71; ông là tác giả đạo luật bầu cử tổng thống với điều 10 khoản 7 đưa đến tình trạng độc cử.Năm 1974, ông là tác giả tu chính án Hiến pháp tháng 01-74 gia tăng nhiệm kỳ 3 tổng thống. Ông là người trách nhiệm điều hợp các cơ chế hiến định: Quốc hội, Tối cao Pháp viện, Giám sát viện và có ảnh hưởng quan trọng đến sinh hoạt của các cơ chế này; đồng thời là người tổ chức đảng Dân Chủ là đảng cầm quyền của TT Thiệu gồm hệ thống quần chúng, chính quyền và quân đội.Tháng 5-1974 ông bị TT Thiệu giải nhiệm và buộc phải rời khỏi Việt Nam. Cuối tháng 01-75, ông từ Mỹ và Gia nã đại về nước. Đầu tháng 4 năm ấy ông bị TT Thiệu hạ lệnh cho cơ quan an ninh “cô lập” và chỉ được trả tự do sau khi TT Thiệu rời Việt Nam đi Đài Loan tối ngày 25-4-1975.”
Ông Vũ hỏi ông Ngân: “Dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng như Tổng thống Thiệu, sự lãnh đạo đều có tính cách chuyên hoạnh cá nhân. Điều này có phải vì đầu óc độc tôn, tham quyền cố vị của lãnh tụ như hiện tượng phổ quát trong hầu hết các quốc gia chậm tiến?
Đ.- Tại miền Nam Việt Nam dưới thời Tổng thống Diệm và Tổng thống Thiệu có nhiều nguyên nhân đưa đến tình trạng lãnh đạo có tính cách chuyên hoạnh cá nhân: nền dân chủ phôi thai, sinh hoạt chính đảng yếu kém, xã hội phân hóa, chiến tranh v.v… nhưng một trong những nguyên nhân chính có tính cách quyết định là chính sách can thiệp của người Mỹ.Người Mỹ đã thay thế nguời Pháp với chánh sách thực dân mới. Vào thế kỷ 19 người Pháp nhân danh khai hóa để khai thác tài nguyên thuộc địa, nay người Mỹ nhân danh dân chủ đểå khai thác xương máu người Việt Nam trong việc thiết lập một tiền đồn chống Cộng tại Đông Nam Á của chủ thuyết Domino. Người Mỹ đến Việt Nam không vì quyền lợi người Việt Nam mà vì quyền lợi người Mỹ. Nền dân chủ mà người Mỹ xiển dương khi can thiệp vào Việt Nam là nền dân chủ được định nghĩa trong quyền lợi của Mỹ, một thứ phó sản được dùng làm bình phong để thực hiện chính sách chia để trị, thiết lập đạo quân thứ năm, khuyến khích tình trạng vô chính phủ, nội loạn… để dễ bề khuynh loát và khi cần thiết để thực hiện các cuộc đảo chánh và ám sát lãnh tụ quốc gia bằng bàn tay của các tay sai bản xứ.Chánh sách viện trợ hoàn toàn có tính cách tiêu thụ đã được sử dụng như lưỡi gươm Damoclès. Trong khi viện trợ của Nga-Tàu cho Bắc Việt nặng tính cách sản xuất thì viện trợ của Mỹ cho miền Nam Việt Nam hoàn toàn có tính cách tiêu thụ. Trong thời chiến Bắc Việt có khu kỹ nghệ nặng gang thép Thái Nguyên và cục quân giới của tướng Trần đại Nghĩa có khả năng cải tiến Sam 2 bằng cách ngăn chận hệ thống nhiễu sóng radar và đạt tầm cao hạ máy bay B52 của Mỹ bấy giờ được xem là loại máy bay bất khả xâm phạm có sức oanh tạc phá hoại ghê gớm thì kỹ nghệ quốc phòng của miền Nam Việt Nam là con số không. Những dự án xây dựng cơ sở đúc súng đạn, nhà máy lọc dầu, phân bón… từ thời tổng thống Ngô Đình Diệm đều bị người Mỹ ngăn chận. Đối với một dân tộc, dù viện trợ có tính cách sản xuất, muốn sử dụng hữu hiệu cũng đòi hỏi phải có tinh thần tự lực, tự cường; huống hồ dân tộc đó vừa thoát khỏi ách đô hộ trăm năm của thực dân Pháp, chính sách viện trợ hoàn toàn có tính cách tiêu thụ chỉ nhằm mục đích làm tê liệt ý chí đề kháng và nô lệ hóa.Cùng với chính sách viện trợ có tính cách tiêu thụ và nhân danh dân chủ để can thiệp vào nội bộ quốc gia được viện trợ, chính quyền của quốc gia được viện trợ bị xem là công cụ của ngoại bang, đã đẩy một số quần chúng đi về phía cộng sản và dưới mắt thế giới Việt Nam Cộng Hòa đã bị cô lập, cuộc chiến đấu bảo vệ dân chủ và tự do của nhân dân miền Nam Việt Nam bị mất chánh nghĩa.Những khó khăn thực sự của ông Diệm và ông Thiệu phát xuất từ chính sách can thiệp của người Mỹ, có thể nói nếu giải quyết được những khó khăn nầy thì sẽ giải quyết được 90% những khó khăn trong việc xây dựng đất nước và chống cộng. Để đối phó với chánh sách hai mặt của người Mỹ, ông Diệm và ông Thiệu bị dồn vào thế lãnh đạo có tính cách chuyên hoạnh cá nhân, và như một vòng luẩn quẩn không lối thoát, sự lãnh đạo có tính cách chuyên hoạnh cá nhân đã làm mất hậu thuẫn rộng rãi trong quần chúng.Chính sách thực dân mới của người Mỹ là yếu tố có tính cách quyết định đã làm sụp đổ miền Nam Việt Nam. Sau Thế chiến thứ I, Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thế Truyền đã đưa ra một bản cáo trạng lên án thực dân Pháp, thiết tưởng chế độ thực dân mới của Mỹ còn tàn bạo gấp nhiều lần so với thực dân cũ vì sau 30/4/75 Việt Nam Cộng Hòa đã hoàn toàn bị xóa sổ trên bản đồ thế giới.
H.- Ông có đồng ý rằng chế độ đệ I và đệ II Cộng hòa cũng như ông Diệm và ông Thiệu đã được Hoa Kỳ yểm trợ nếu không muốn nói là đã góp phần quyết định?
Đ.- Không ai phủ nhận điều đó.Cũng như chế độ miền Bắc với Hồ Chí Minh. Đó là hậu quả đương nhiên của một thế giới lưỡng cực sau thế chiến thứ hai mà Việt Nam là một điểm nóng trong cuộc tranh chấp giữa tư-bản và cộng-sản.Người ta có thể nói Hồ Chí Minh là công cụ của cộng-sản quốc tế nhưng ông Diệm và ông Thiệu trong thực tế không phải là tay sai của Mỹ.Hồ Chí Minh đã áp đặt chế độ cộng sản trên đất nước, thay thế xiềng xích nô lệ thực dân, phong kiến bằng xiềng xích cộng sản; sự dã man và tàn bạo như thế nào thì tất cả mọi người đều biết. Và hậu quả di lụy của tinh thần nô lệ đã khiến cho một dân tộc vốn giàu lòng hy sinh, siêng năng, nhẫn nại, đã chiến thắng trong chiến tranh nhưng đã thất bại trong hòa bình đất nước tụt hậu trong đà tiến của nhân loại.Sau Hiệp Định Genève 1954, người Pháp rút lui để lại miền Nam Việt Nam hoàn toàn bị kiệt quệ vì chiến tranh để chống lại cộng sản quốc tế và Bắc Việt, chúng ta chỉ còn tài nguyên nhân lực là máu để đánh đổi viện trợ Mỹ cùng với các điều kiện áp đặt, không còn một sự lựa chọn nào khác. Ông Diệm và ông Thiệu đã lãnh đạo đất nước trong những điều kiện vô cùng khó khăn: xây dựng chế độ dân chủ trên một xã hội băng hoại bởi phân hóa với lịch sử ngàn năm phong kiến, nô lệ ngoại bang, chưa hề kinh qua một giai đoạn quá độ có ý niệm về dân chủ, tự do không phải là một công việc dễ dàng; đồng thời phải chống lại xâm lăng cộng sản và chánh sách thực dân mới của đồng minh Mỹ, những người quốc gia Việt Nam đã phải chiến đấu sinh tồn trong một hoàn cảnh nghiệt ngã, trong cái thế trên đe dưới búa, giữa gọng kềm tư bản và cộng sản. Chế độ đệ I và đệ II Cộng Hòa của miền Nam trước 1975 dẫu có nhiều khuyết điểm nhưng không ai có thể phủ nhận rằng các cấu trúc chính trị, xã hội, kinh tế ngày đó đã đặt nền móng vững chắc làm bệ phóng dẫn đầu những con rồng Á Châu sau nầy để trở thành một quốc gia hùng cường tại Đông Nam Á. Tổng thống Ngô Đình Diệm là một nhà ái quốc, người của chủ nghĩa dân tộc, đã bị người Mỹ giết vì bảo vệ chủ quyền quốc gia. Chính biến 1/11/63 và cái chết của ông là sự thất bại chung cho tất cả mọi người quốc gia Việt Nam về một giải pháp quốc gia. Hậu quả là việc quân đội Mỹ trực chiến và sự sụp đổ miền Nam Việt Nam 30/4/75. Chúng ta đã bị lôi kéo vào một cuộc chiến hoàn toàn không cần thiết vì đã không làm chủ được số phận của mình và tất cả dân tộc Vịệt Nam đều là nạn nhân với hơn hai triệu thương vong, hơn bảy triệu tàn phế, hơn hai triệu người bỏ nước ra đi tị nạn với hàng vạn người vùi thân trong biển cả, đất nước đổ nát… Thời Tổng thống Thiệu khó khăn hơn thời Tổng thống Diệm rất nhiều: hơn nửa triệu lính Mỹ trấn đóng; tòa Đại sứ Mỹ thực tế là một chánh phủ Mỹ tại hải ngoại với một hệ thống cố vấn dày đặc trong tất cả mọi lãnh vực sinh hoạt quốc gia từ trung ương tới địa phương; số lượng nhân viên CIA chỉ sau trụ sở trung ương (Langley), là chi nhánh có nhân viên đông nhất trên thế giới; và ông Thiệu đã phải đối phó với một nghịch lý: trong khi khối cộng sản quốc tế và Bắc Việt tiếp tục leo thang chiến tranh thì người Mỹ thực hiện giải kết bằng cách rút quân trên chiến trường và nhượng bộ chính trị trên sinh mạng miền Nam Việt Nam tại hội đàm Paris. Trong cuộc chiến chống cộng và suốt thời gian lãnh đạo quốc gia, có thể nói 90% thời giờ của ông Thiệu được sử dụng trong nỗ lực không ngừng để tranh thủ và đối phó với người Mỹ mặc dầu phạm vi xoay sở của ông mỗi ngày một thâu hẹp; lý do giản dị là chánh sách của Mỹ sẽ quyết định sinh mạng của miền Nam Việt Nam chứ không phải cộng sản. Trong đời chánh trị của ông Thiệu có hai kẻ thù chính là cộng sản và Mỹ, và ông đã mang mối hận thù xương tủy người Mỹ đến tận cuối đời.Năm 1983, một buổi chiều ông lái xe cho tôi xem thành phố Londres, ông chỉ vào cái ảnh nhỏ của đứa con út sinh tại Londres sau 1975 gắn gần tay lái, ông nói: khi nó mới tập nói, tôi dạy cho nó: “kẻ thù của con là cộng sản và Mỹ…”. Lúc ông chết, ý nguyện của ông muốn hỏa táng để đem tro cốt về Việt Nam nếu có điều kiện, không thì sẽ rải xuống biển chứ không muốn chôn trong lòng đất Mỹ.
H.- Dù sao ông Thiệu đã cầm quyền 10 năm từ 1965-1975, hòa đàm Paris kéo dài từ 1968 đến 1973 thời gian đủ để tiên liệu và thực hiện những biện pháp cần thiết hầu ứng phó với vấn đề giải kết của Hoa Kỳ nhưng ông Thiệu đã hoàn toàn thụ động. Theo ông, phải chăng tình trạng nầy đã đóng góp vào sự sụp đổ của miền Nam ngày 30/4/75
Đ.- Ông Thiệu thực sự cầm quyền qua cuộc bầu cử tháng 9/1967. Trong khi quân đội Mỹ còn đổ quân vào Việt Nam thì ông Thiệu đã đưa vấn đề giải quyết chiến tranh như một trong ba vấn đề căn bản của chương trình tranh cử: Xây dựng dân chủ Giải quyết chiến tranh Cải tạo xã hội. Sau vụ Tết Mậu thân 1968, ông Thiệu là người chủ động đưa ra đề nghị Hoa Kỳ có thể thực hiện việc rút quân từng giai đoạn trong mục tiêu tranh thủ thời gian đổi lấy viện trợ kinh tế và quân sự vì ông hiểu Việt Nam Cộng Hòa sẽ không có tư thế tại hội nghị hòa đàm nếu không chủ động trên chiến trường v.v…. Nếu cai trị là tiên liệu thì ông Thiệu là người có khả năng tiên liệu nhưng ông không có khả năng để thay đổi được chính sách của Hoa Kỳ trong chiến lược toàn cầu mà vị thế địa lý chánh trị của miền Nam Việt Nam không còn nằm trong quyền lợi ưu tiên của Mỹ, mặt khác, chúng ta không còn ở vào thời đại có thể dùng “tầm vông vọt nhọn” để chống trả với quân thù. Năm 1967 cùng với việc tiếp tục đổ quân vào Việt Nam đại sứ Bunker đã được Tổng thống Johnson gởi sang Việt Nam với sứ mạng thực hiện việc giải kết để rút quân. Khi Nixon thắng cử 1968, đại sứ Bunker đã được yêu cầu lưu nhiệm cho đến tháng 5/1973 sau khi Mỹ đã thực hiện xong việc rút quân và lấy lại tù binh. Chính sách của đảng Dân Chủ và Cộng Hòa Mỹ trong vấn đề giải kết chiến tranh Việt Nam hoàn toàn có tính cách nhất quán. Nếu sau Hiệp Định Genève 1954, người Mỹ ủng hộ ông Ngô Đình Diệm lật đổ Bảo Đại để thiết lập nền đệ I Cộng Hòa (1956 – 1963) như căn bản chánh trị để biện minh cho nhân dân Hoa Kỳ và thế giới về chính nghĩa của sự can thiệp vào Việt Nam nhằm ngăn chận sự bành trướng của cộng sản tại Đông Nam Á, thì năm 1967, người Mỹ đã áp lực chánh quyền quân nhân phải khai sinh nền đệ II Cộng Hòa, thực hiện chánh quyền dân chủ hợp hiến, hợp pháp để đưa Việt Nam Cộng Hòa vào bàn hội nghị và tạo bàn đạp cho Hoa Kỳ hòa đàm với cộng sản để rút quân, lấy lại tù binh, chấm dứt sự can thiệp và để miền Nam cho các phe phái chính trị tự giải quyết trên căn bản “dân tộc tự quyết”, điều mà hai thập niên trước đó Hoa Kỳ không bao giờ chấp nhận.
H.- Ông nghĩ sao về nỗi căm phẫn của đại đa số quần chúng đối với ông Thiệu sau 30/4/75?
Đ.- Quần chúng đánh giá lãnh đạo qua sự thành bại, họ có quyền căm phẫn vì họ là lớp người bị hy sinh nhiều nhất cho đất nước cũng như phải gánh chịu những hậu quả bi đát nhất sau 30/4/75 nỗi căm phẫn của họ là chính đáng; hơn nữa người lãnh đạo cũng như thuyền trưởng một con tàu, dù tàu chìm bởi bất cứ lý do gì thì thuyền trưởng phải là người rời tàu sau cùng hoặc phải chết theo tàu; mặt khác họ không ở cương vị để có thể nhìn vào mặt trái của cuộc chiến vừa có tính cách nội chiến vừa có tính cách ủy-nhiệm mà những yếu tố quyết định hoàn toàn nằm ngoài tầm tay của người quốc gia.Tôi nhớ vào khoảng 1990 ông Thiệu có buổi nói chuyện với một số đồng bào tại Westminster, California, một người đàn bà được một tổ chức chống đối sắp đặt đã cầm micro chửi bới ông Thiệu nặng nề. Ông Thiệu chỉ trả lời: tôi rất thông cảm với nỗi căm phẫn của bà.Tôi hiểu sự im lặng của ông, nỗi cô đơn và cay đắng ông đã mang theo đến cuối đời. Ông Thiệu đã chết chắc hẳn không cần tôi biện hộ. Tôi cũng không làm công việc biện hộ mà chỉ nói lên sự thực mà tôi biết ” tôi không có bổn phận tranh luận với bất cứ ai và cũng không nhằm thuyết phục bất cứ người nào. Đối với tôi, nói những điều tốt mà người ta không có cũng tệ hại như nói những điều xấu mà người ta không phạm phải vì tất cả đều là dối trá”, nhất là đối với những người có đời sống công liên hệ đến vận mạng quần chúng thì còn là vấn đề trách nhiệm.Ông Thiệu có những lỗi lầm trầm trọng trong vấn đề lãnh đạo quốc gia cũng như có những sai phạm cá nhân ảnh hưởng đến uy tín lãnh đạo. Ông là một nhà chính trị thực tiễn mà hoàn cảnh và môi trường trưởng thành không thể tạo ông thành một kẻ tử đạo. Tuy nhiên, đến nay tôi vẫn nghĩ rằng nếu sự hy sinh có thể cứu vãn tình thế thì ông sẽ không từ nan. Lần tôi gặp lại ông ở Londres, ông nói như tâm sự: làm một người lính ra trận và hy sinh là một hành động dũng cảm, nhưng làm sao có thể sống sót để tiếp tục cuộc chiến đấu thì thật là khó.Xét định một con người cần nhìn vào tổng thể và đặc biệt là những giờ phút nghiêm trọng sinh mạng bị thử thách. Không thể chỉ dùng những sự việc tiêu cực để tổng quát hóa mà phải xét đến các mặt tích cực của cá nhân đó. Tuy nhiên việc định công luận tội là công việc của lịch sử sau nầy.
H.- Nhiều hồi ký chánh trị nói rằng ông Thiệu luôn luôn bị ám ảnh bởi việc người Mỹ thảm sát các ông Diệm, Nhu nên thường thay đổi chỗ ngủ hàng đêm v.v…. Điều này có thực không, và nếu thực thì đã ảnh hưởng như thế nào đến vấn đề lãnh đạo?
Đ.- Hàng năm đến 1/11, ông Thiệu có xin thánh lễ cầu hồn cho cố Tổng thống Diệm và ông cố vấn Nhu tại dinh Độc-Lập. Ông Thiệu có kể cho tôi nhiều lần về sáng 2/11/63 sau khi thanh toán mục tiêu dinh Gia-long, ông về trình diện Bộ Tổng Tham- Mưu và sau đó có ra lệnh cho lính mở bửng thiết vận xa để chào thi hài ông Diệm, Nhu trước khi về nhà.Tôi thường qua chỗ ở của ông Thiệu để làm việc những khi ông không qua văn phòng và có khi làm việc trong phòng ngủ khi ông bị đau, tôi không thấy dấu hiệu thay đổi chỗ ngủ hàng đêm như đồn đại sau này. Có những biện pháp an ninh lúc ông đi ra ngoài, chẳng hạn mặc áo chắn đạn, hoặc cái podium ông đứng nói chuyện ngoài bằng gỗ nhưng trong có tấm thép chắn đạn, những biện pháp an ninh đặc biệt trong các cuộc diễn binh v.v… Tôi không để ý những chuyện nầy, đây là công việc của bộ phận an ninh. Chỉ có điều là những đề phòng nầy nhằm về phía Mỹ hơn là cộng sản. Thực ra ông Thiệu đã sống trong sự đe dọa thường trực của người Mỹ về đảo chánh và ám sát suốt thời gian từ lúc cầm quyền 1967, đến lúc rời Việt Nam đi Đài Loan 1975. Đồng minh Mỹ là một đồng minh bất trắc, khó tiên liệu, và ông Thiệu luôn ở trong tình trạng của người làm xiếc đi dây nguy hiểm. Có lần tôi lưu ý ông Thiệu về trường hợp Tổng Thống Magsaysay, Lý Thừa Vãn, Ngô Đình Diệm, ông Thiệu nói với tôi là ông không có an ninh… Trong giai đoạn giải kết, quyền lợi của Hoa Kỳ và của Việt Nam Cộng Hòa tách rời đi đến đối nghịch, trong khi đó quyền lợi của Hoa Kỳ và của cộng sản xích lại gần nhau để đi đến thỏa hiệp chung. Nếu cộng sản áp dụng chính sách vừa đánh vừa đàm với Việt Nam Cộng Hòa và phối hợp cuộc đấu tranh trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao thì chính sách của “đồng minh” Hoa Kỳ đối với “đồng minh” Việt Nam Cộng Hòa cũng tương tự: cà rốt và cây gậy đã được áp dụng triệt để với ông Thiệu trên mọi bình diện để buộc Việt Nam Cộng Hòa phải chấp nhận đường lối thương thuyết nhượng bộ cộng sản của Mỹ. Người Mỹ đã tiếp tay với cộng sản trong việc cổ võ, ủng hộ các phong trào phản chiến, đòi hòa bình, hòa hợp hòa giải dân tộc, lực lượng thứ ba… mà thực chất là những tổ chức trá hình của cộng sản nhằm phá vỡ thế hợp hiến, hợp pháp của chế độ VNCH, và đã không ngần ngại đâm sau lưng những người lính VNCH đang chiến đấu trong cái gọi là chương trình “Việt Nam hóa chiến tranh” để người Mỹ rút quân. Ông Thiệu nói với tôi vụ sư đoàn 3 rút bỏ Quảng Trị 1972 là một “sabotage politique”. Nixon đã viết thư cho ông Thiệu nhắc đến ý đồ thanh toán ông Thiệu của chính quyền Johnson vào năm 1968 và vụ đảo chánh 1/11/63 như một đe dọa trực tiếp nếu ông Thiệu không tuân thủ những đòi hỏi của Mỹ. Vào những tháng cuối trước khi ký HĐ Paris, ông Thiệu nuôi ý định tự sát như một phương cách chống trả cuối cùng. Vào lúc căng thẳng nầy chúng tôi đã triệu tập đại hội nghị viên toàn quốc về Saigòn, tuần hành vào dinh Độc Lập cùng các dân biểu, nghị sĩ ủng hộ lập trường “bốn không” của ông. Tài liệu của đại sứ Bunker đã ghi nhận ý định tự sát nầy của ông Thiệu qua một báo cáo của ông Trần Thiện Khiêm ghi âm cuộc đối thoại giữa ông Thiệu, Khiêm. Chính ý định tự sát nầy đã khiến ông Thiệu “lì lợm” trước những đe dọa của Nixon và đã đưa đến những nhượng bộ của Nixon bằng những cam kết mật.Mỗi lần nhớ đến ông Thiệu, thực sự tôi không nghĩ đến những vinh quang bề ngoài của một Tổng Thống mà là những chuỗi ngày khó khăn của đất nước, những áp lực có tính cách quyết định ngày đó của Hoa Kỳ đã đè nặng lên ông, ông đã chiến đấu như một người lính đơn độc không vũ khí, bằng lòng dũng cảm và sinh mạng của chính mình. Tôi không có đức tin tôn giáo nhưng tôi vẫn cầu mong cho ông, một tín đồ ki-tô-giáo, được bình an và thanh thản nơi vĩnh hằng.
H.- Có phải Tổng thống Thiệu nói với ông là việc sư đoàn 3 tháo chạy đã để lại “đại lộ kinh hoàng” và Quảng Trị thất thủ vào tháng 5/72 là một “sabotage politique” của người Mỹ?
Đ.- Đúng như vậy.Hậu quả đã để lại hơn 20 ngàn thương vong trên “đại lộ kinh-hoàng.”
H.- Ông Thiệu đã nói với ông trong bối cảnh nào?
Đ.- Ngay hôm Quảng Trị thất thủ. Hôm đó vào lúc xế chiều tôi đang họp trung ương đảng bộ Dân-Chủ tại lầu nhà trắng trong khuôn viên dinh Độc-Lập thì được điện thoại của nhân viên văn phòng cho biết đại tá Đỗ Đức Tâm, thuyết trình viên quân sự của Tổng Thống đang có mặt tại Văn Phòng của tôi để thuyết trình về tình hình quân sự sau khi vừa thuyết trình cho Tổng Thống xong. Vì bận họp nên tôi yêu cầu đại tá Tâm gặp tôi tại lầu nhà trắng để thuyết trình cho tất cả cùng nghe. Sau phần thuyết trình, tôi nhớ rõ câu hỏi sau cùng của nghị sĩ Trần Trung Dung, nguyên Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng của Tổng thống Diệm: “liệu chúng ta có giữ được Quảng Trị không?” Đại tá Tâm “…chắc chắn chúng ta giữ được.” Chừng nửa giờ sau, điện thoại trên bàn họp reo, tôi nhắc máy, đầu dây là đại tá Tâm cho biết trung tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh quân đoàn I vừa điện trình Tổng Thống là Quảng trị đã thất thủ trưa hôm nay. Sự việc cho thấy là Trung tướng Lãm không biết sư đoàn 3 rút bỏ Quảng trị và như vậy là đã có một “sự cố bất thường” xẩy ra nên tôi bỏ phòng họp đi gặp Tổng thống Thiệu ngay lúc đó. Tôi thấy ông rất bình tĩnh. Ông nhìn tôi nói: tôi điện thoại gần như mỗi ngày cho ông Lãm về tình hình quân sự Quảng trị, tối qua tôi còn nhắc ông Lãm phải coi chừng “thằng cộng sản” ngày 1/5, ông Lãm bảo đảm với tôi là không việc gì, thế mà như vậy. Ông dằn mạnh: đây là một “sabotage politique”.Lúc bấy giờ chỉ có tôi và ông.Những chuyện như vậy thuộc loại “cấm kỵ không phải có thể nói với bất cứ ai và không bao giờ ông nói khi có sự hiện diện của người thứ ba. Đó là nguyên tắc ngăn cách ông vẫn thường áp dụng và cũng là cách để bảo đảm sựï an toàn cho chính ông. Trong trường hợp này, ông Thiệu là người duy nhất có đủ yếu tố chính trị để thẩm định, vì ông là người trực tiếp chịu các áp lực của Mỹ. Bấy giờ là tháng 5/1972, trong mật đàm Paris Mỹ và cộng sản đã đạt được các thỏa thuận căn bản, chỉ còn trở ngại về phía ông Thiệu. Gần đây tôi có đọc một chứng liệu của Đại sứ Bunker thuật lại phiên họp tại dinh Độc-Lập một ngày sau khi Quảng trị thất thủ giữa Đại sứ Bunker, Tướng Abrams và Tổng thống Thiệu. Ông Thiệu đã không hề quy trách cho các giới chức quân sự Việt Nam, ông im lặng một cách khó hiểu và mãi đến phút cuối cùng “bật nói”: “…không có lý do gì Quảng trị lại bị thất thủ, tướng Giai phải chịu trách nhiệm về việc nầy.”Tướng Vũ văn Giai, Tư lệnh sư đoàn 3 giới tuyến, được di tản bằng trực thăng của Mỹ, bỏ lại binh sĩ và dân chúng với “đại lộ kinh hoàng” – đã bị đưa ra Tòa án quân sự, bị tước đoạt binh quyền và ở tù.Tổng thống Thiệu đã ra lệnh tái chiếm Quảng trị ngay sau đó mặc dầu biết rằng Quảng trị sẽ thành một đống gạch vụn, sẽ phải hy sinh những người lính thiện chiến của những đơn vị thiện chiến nhất mà tổn thất khó có thể bù đắp được trong thực tế bấy giờ nhưng ông đã phải quyết định như vậy, một quyết định chính trị để chứng tỏ quyết tâm của quân dân miền Nam với thế giới, với nhân dân Hoa Kỳ, nhằm chống trả các thỏa hiệp mật giữa cộng sản và Mỹ mà sau nầy được cụ thể trong Hiệp Định Paris 1973.Cũng tương tự như vậy, việc Trung Cộng chiếm Hoàng Sa vào đầu năm 1974 đã được sự thỏa thuận ngầm của Mỹ để đặt cộng sản Hà Nội sau nầy trước một “fait accompli”. Ông Thiệu biết Hải Quân Việt Nam không đủ sức đương đầu với hải quân Trung Cộng và hạm đội 7 Hoa Kỳ sẽ không can thiệp nhưng ông vẫn ra lệnh tái chiếm như một chứng liệu về chủ quyền lãnh thổ sau nầy.Bởi chính sách hai mặt của Hoa Kỳ, nhiều áp lực nặng nề riêng cá nhân ông phải chịu đựng không được chia sẻ và trong nhiều trường hợp ông phải đưa ra những quyết định chuyên độc mà không thể giải thích với đồng bào cùng chiến hữu của ông.
H.- Nhận định của ông Thiệu về vụ sư đoàn 3 tháo chạy có mâu thuẫn với các quyết định của người Mỹ mở rộng chiến tranh qua các cuộc tấn công của QLVNCH vào hậu cần của cộng sản tại Miên năm 1970 và hành quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào 1971 hay không?
Đ.- Không. Các cuộc tấn công vào hậu cần cộng sản tại Miên 1970 và Hạ Lào 1971 chỉ có tính cách nhất thời nhằm mục đích chính là dùng xương máu của quân đội VNCH để mở rộng hành lang an toàn cho việc triệt thoái quân đội Mỹ.Ông Thiệu miễn cưỡng phải chấp nhận mở cuộc hành quân Lam Sơn 1971 vì Hạ Lào tiếp giáp với hậu phương lớn Bắc Việt. Khi có dấu hiệu sa lầy ông đã ra lệnh cho trung tướng Hoàng Xuân Lãm đưa ngay một đơn vị vào Tchepone “đái một bãi” (nguyên văn) và rút ra ngay lập tức. Cần lưu ý là chương trình rút quân của Mỹ không phụ thuộc vào khả năng thay thế của quân lực VNCH, và chương trình Việt Nam hóa thực chất chỉ nhằm yểm trợ cho việc rút quân của Mỹ chứ không phải để VNCH có đủ sức đề kháng và tồn tại.
H.- Sau này, nhiều người trong đó có những viên chức chính phủ của ông Thiệu cho rằng ông Thiệu đã dựa vào những cam kết mật của Tổng thống Nixon nên đã chấp nhận ký kết Hiệp Định Paris vì không hiểu rõ tổ chức công quyền của Hoa Kỳ thẩm quyền của hành pháp và lập pháp. Như tiến sĩ Kissinger đã nhận định: đó chỉ là những ý định của Tổng thống Nixon, không có tính cách cam kết quốc gia vì không có phê- chuẩn của quốc-hội.
Đ.- Vào lúc bấy giờ ông Thiệu cũng hiểu như giải thích của Kissinger sau nầy, nhưng ông cũng hiểu rõ vị thế yếu kém của VNCH và giới hạn cuối cùng mà ông có thể đòi hỏi ở Nixon. Ông Thiệu có chủ định rõ ràng là mua thời gian còn lại của nhiệm kỳ Nixon trong hoàn cảnh “còn nước còn tát”.Chúng ta cần nhớ rằng không hề có một hiệp ước Việt Mỹ nào về việc Mỹ đổ quân và tham chiến ở Việt Nam cũng như không có một văn kiện pháp lý nào về quy chế trấn đóng của quân đội đồng minh trên lãnh thổ Việt Nam bấy giờ. Những tiểu đoàn TQLC Mỹ đầu tiên đổ bộ vào Đà Nẵng đầu năm 1965 dưới thời chính phủ Phan Huy Quát, ông Thiệu là Tổng trưởng Quốc Phòng kiêm Phó Thủ tướng; ông nói với tôi: tình hình bấy giờ hơn hai phần ba lãnh thổ bị cộng sản ung thối, nếu quân đội Mỹ không can thiệp kịp thì miền Nam mất. Thời đệ I Cộng Hòa, Tổng thống Diệm muốn có một hiệp ước hỗ-tương như ở Đại Hàn nhưng người Mỹ từ chối. Các cố vấn quân sự Mỹ đến và đi không qua sự kiểm soát của nhà chức trách Việt Nam. Miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến chống cộng sản hoàn toàn bị phụ thuộc Hoa Kỳ, chúng ta không ở vào vị thế có thể đặt điều kiện với họ. Quân đội Mỹ muốn đến là đến, muốn đi là đi, hậu quả là vấn đề đơn phương rút quân, Việt Nam hóa, Hiệp Định Paris. Tương quan Việt Mỹ là một tương quan thực tế mà người Mỹ cố tình không để bị ràng buộc vào những văn kiện pháp lý “giấy trắng mực đen” như ở Triều tiên, Nhật bản, Âu châu là những nơi Hoa Kỳ có mục tiêu dài hạn.

H.- Đến bao giờ thì ông Thiệu mất tin tưởng vào các cam kết mật của Nixon? Vụ ông Thiệu quyết định không tái chiếm Phước Long vào đầu năm 1975 có phải là một trắc nghiệm về những cam kết mật hay không?
Đ.- Ngay sau cuộc gặp gỡ Thiệu Nixon tại San Clemente tháng 4/73. Về phương diện biểu kiến cuộc gặp gỡ mang nhiều ý nghĩa tích cực như là một sự xác nhận các cam kết mật, sự tiếp tục ủng hộ của Hoa Kỳ với VNCH và đặc biệt với ông Thiệu, nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược. Cuộc gặp gỡ mặt đối mặt đã khẳng định cho ông Thiệu thấy không còn hy vọng vào các cam kết mật cũng như các viện trợ quân sự và kinh tế đã được hứa hẹn trước đây. Đây là lý do và thời điểm quyết định việc tu chính hiến pháp: gia tăng nhiệm kỳ 3 tổng thổng. Cuộc độc cử 1971 đã làm sút giảm uy tín chính trị của ông Thiệu; Hiệp Định Paris thừa nhận cho quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam, ngưng bắn tại chỗ, chinh phủ liên hiệp ba thành phần đã hoàn toàn xóa bỏ lập trường bốn không của ông; người Mỹ đã hoàn tất việc rút quân và lấy lại tù binh; và nay là hiểm họa Hoa Kỳ bỏ rơi… khiến ông Thiệu bị lột truồng như câu chuyện ông vua không quần áo (the emperor without any chothes) và hoàn toàn trắng tay. Tư thế lãnh đạo của ông Thiệu bị đặt trong hoàn cảnh thử thách nghiêm trọng và đây là lý do thực sự của vụ tu chính hiến pháp đã không bao giờ được tiết lộ. Nội dung tu chính bấy giờ được giữ mật vì phải chờ sau cuộc bầu cử bán phần Thượng nghị viện tháng 10/73 mới đủ túc số thực hiện. Việc tu chính không nhằm vào nhiệm kỳ 3 Tổng Thống mà mục đích thực sự là bày tỏ sự tín nhiệm của dân chúng qua Quốc Hội “để tái trang bị tư thế lãnh đạo của ông Thiệu hầu đối phó với tình thế mới. Dù muốn hay không sinh mạng chính trị của ông Thiệu đã gắn liền với sự còn mất của chế độ và sau ông sẽ là trận hồng thủy. Trong cuộc gặp các dân biểu, nghị sĩ ủng hộ tu chính Hiến Pháp tại hội trường khách sạn Majestic vào đêm trước hôm biểu quyết, tôi có nói rõ: “đây không phải là hành động ủng hộ cá nhân Tổng thống Thiệu mà là hành động của mỗi chúng ta để tự cứu”. Có thể họ hiểu là tình hình nghiêm trọng nhưng không biết là đang bị Hoa Kỳ bỏ rơi và đất nước đã ở trên bờ vực thẳm. Nếu Kissinger đã tiên liệu thời gian có thể coi được (decent interval) từ HĐ Paris 1/73 đến lúc miền Nam sụp đổ là một năm rưỡi thì ông Thiệu đã tiên liệu một thời gian ngắn hơn. Đầu năm 1974 cũng là lúc Quốc Hội biểu quyết tu chính Hiến Pháp, ông Thiệu nói tại Hội đồng Tổng trưởng: “…các quan sát viên quốc tế rất ngạc nhiên khi thấy chúng ta còn ngồi ở đây hôm nay, tất cả đều nghĩ rằng miền Nam Việt Nam chỉ có thể tồn tại không quá sáu tháng sau HĐ Paris…”. Như một người chết đuối vớ bất cứ bèo bọt nào, ông ra lệnh mật cho Bộ Tổng Tham Mưu kiểm thính điện đài các dàn khoan để tìm hiểu trữ lượng dầu hỏa với hy vọng Mỹ sẽ không bỏ rơi Việt Nam, ông nói: tôi sẽ làm bộ trưởng dầu hỏa chứ không làm tổng thống. Ông chỉ thị cho chính phủ tạo điều kiện dễ dàng cho ngoại quốc đầu tư, ông nói với tôi: bây giờ cho không để bọn nó vào (đầu tư) cũng phải “cho không”.Đối với cộng sản, cuộc tấn công chiếm Phước Long đầu năm 1975 là một trắc nghiệm về ý đồ tái can thiệp của Mỹ được mệnh danh là đòn “trinh sát chiến lược”, sau đó Bộ Chính trị đã quyết định mở chiến dịch Tây Nguyên và tiếp theo là chiến dịch Hồ Chí Minh. Đối với ông Thiệu quyết định không tái chiếm Phước Long vì sẽ tổn thất rất nặng không thể bù đắp, có chiếm lại cũng không giữ được, lực lượng trừ bị không còn và phải bảo toàn lực lượng cho các cuộc tấn công sắp tới của cộng sản.
H.- Ngoài việc tu chính gia tăng ba nhiệm kỳ Tổng Thống, còn có việc gia tăng thời hạn mỗi nhiệm kỳ từ 4 năm lên 5 năm. Lý do?
Đ.- Lý do được viện dẫn của tu chính là chương trình kinh tế ngũ niên nhưng sự thực là chúng tôi muốn có khoảng cách xa giữa cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ và Tổng Thống Việt Nam vì nhiệm kỳ Tổng Thống Mỹ cũng 4 năm, và cứ 4 năm thì nước Mỹ lại bị một cơn sốt chính trị ảnh hưởng nặng nề đến cuộc bầu cử Tổng Thống Việt Nam. Đây không phải là mục tiêu chính của tu chính Hiến Pháp nhưng nhân việc tu chính Hiến Pháp thì chúng tôi bỏ vào luôn.
H.- Ông Thiệu có tham khảo ý kiến của người Mỹ về việc tu chính Hiến Pháp hay không?

Đ.- Không.Như tôi đã nói ở trên, nội dung tu chính Hiến Pháp đã được quyết định ngay sau khi Tổng thống Thiệu ở San Clemente về nhưng được giữ mật cho đến sau cuộc bầu cử bán phần TNV tháng 10/73. Đại sứ Martin chỉ được Tổng thống Thiệu thông báo sau khi dự luật tu chính được đệ nạp tại Quốc hội tức là vào khởi đầu giai đoạn công khai. Ông Thiệu nói với tôi: Ngày hôm qua tôi có mời ông Martin vào đây (dinh Độc Lập) để thông báo về việc chúng ta tu chính Hiến Pháp tôi nói với ông Martin là tôi nhận thấy có bổn phận phải thông báo cho ông đại sứ vì Hoa Kỳ là đồng minh chính yếu đã giúp đỡ chúng tôi trong cuộc chiến. Cụ Hương được ông Thiệu thông báo vào lúc dự luật tu chính được đưa cho các dân biểu, nghị sĩ đứng tên tác giả v.v… Nội vụ hoàn toàn được giữ mật cho đến giờ cuối.ÔNG NGÂN NÓI NHIỀU về vai trò xấu xí của người Mỹ tại Việt Nam. Điều này không phải là một khám phá mới.Chúng ta cảm phục chế độ chính trị dân chủ và tổ chức kinh tế, xã hội công bằng và cổi mở của Hoa Kỳ, nhưng nhiều người bất mãn về ngoại chính của họ đối với Việt Nam ngày trước, và đối với nhiều nước khác hiện nay.Ông Ngân cũng thành công trong việc vẽ ra một ông Thiệu sợ Mỹ hơn sợ Việt Cộng, ưu tư và toan tính đối phó với Mỹ hơn là tìm cách bảo vệ miền Nam bằng những phương tiện quân sự eo hẹp hơn, nhưng cũng thích hợp hơn với hoàn cảnh của đất nước.Nhưng ông không trả lời đúng vào câu hỏi thứ 3, về việc ông Thiệu không làm những điều cần phải làm để bảo vệ đất nước trong giả thuyết người Mỹ giải kết. Ông nói ông không bào chữa cho ông Thiệu, nhưng trút toàn bộ trách nhiệm làm mất Việt Nam cho Hoa Kỳ lại là cách bào chữa kiến hiệu nhất.Ông Thiệu sợ Mỹ nhưng cũng chính ông lại tuyên bố là “không có viện trợ Mỹ, tôi không làm tổng thống nữa”, xin ông Ngân giải thích mâu thuẫn này.Quan trọng nhất vẫn là vai trò của ông Thiệu trong những ngày tháng cuối cùng của Nam Việt.
NÓI CHUYỆN VỚI TÚ GÀN VỀ LƯƠNG TÂM NGƯỜI CẦM BÚT: 
CẮT XÉN CÂU VĂN, XUYÊN TẠC SỰ THẬT, NHẮM TRẢ THÙ CÁ NHÂN, ĐẦU ĐỘC TINH THẦN QUẦN CHÚNG... LÀ MỘT HÀNH VI ĐÊ TIỆN CẦN PHẢI CHẤM DỨT NGAY!

VÂN NAM

Mới đây bỗng nhiên tôi nhận được bài “Tay sai và lính đánh thuê” cuả ông Tú Gàn gửi vào E. Mail cho tôi. Sau đó chắc bài này sẽ được đăng lại trên tờ Sài Gòn Nhỏ, ở Bolsa, Cali. Thú thực cho đến nay, tôi vẫn chưa hề gặp mặt ông Tú Gàn, chưa từng liên lạc xã giao, mà chỉ nghe phong phanh dường như trước kia, ở VN, dưới thời TT Thiệu, ông từng làm thẩm phán xử án tại một tỉnh nhỏ nào đó ở miền Trung với tên thật là Nguyễn Cần. Sau năm 1975, qua Mỹ ông sinh sống qua ngày bằng tiền trợ cấp xã hội vì không đủ khả năng lao động, nên có nhiều thì giờ rảnh rỗi bèn xoay sang viết lách lai rai cho tờ Sài Gòn Nhỏ, dưới bút hiệu Tú Gàn. Trong thời gian qua, tôi vẫn chưa có dịp nào thưởng thức văn tài cuả Tú Gàn. Nay nhận được bài cuả ông, tôi tò mò đọc, trong lòng cứ tưởng sẽ được thưởng thức những lời hay ý lạ cuả một ông cựu thẩm phán cuả nền đệ nhị CH miền Nam. Nhưng chẳng dè tôi đã nếm phải một con cá ươn đã bốc mùi xú uế đến mức phải nhăn mặt, bịt mũi ngay kẻo lộn mửa!
Bài này, ông Tú Gàn nhắm đả kích các ông Đỗ Mậu, Trần Chung Ngọc, Đặng Văn Nhâm, và thiền sư Nhất Hạnh, sau khi đã đăng trọn vẹn bài thơ cuả Lê Thu Trần, một cây bút CS ở VN mạt sát thậm tệ quân đội và chính quyền miền Nam bằng những câu mà tôi xin trích lại một đoạn ngắn như sau:
“Lũ chúng là ai – bọn tay sai gớm ghiếc,
Từ thuở Tây sang, cha chúng cũng đã
Biết quì...
Chúng là ai nhân dân ta thưà biết
Từ Bảo Đại, Kim, Diệm, Nhu, Thiệu, Kỳ, Minh Khánh
Và bọn nguỵ quyền cố chết bám đuôi Sam.
Ta cứ tưởng bài học 30/4 làm cho chúng
Hết thời lầm lỡ
Mà học làm con người tránh kiếp ngưạ dê!
Nhưng sức mạnh cuả Đô la làm chúng mụ....
Nay chúng cứ tiếp tục lao mình làm
Con thiêu thân trên ngọn lưả...”
Đọc hết bài thơ dẫn nhập này, không một lời bình phẩm cuả ông Tú Gàn, tôi chợt nhận thấy ông ta muốn thực hiện trò “dương đông kích tây” hay thủ thuật “một tên hai đích”, hoặc nói theo thuật ngữ CS là dùng diện để thực hiện điểm, mượn cớ công kích những kẻ thù riêng gồm các ông Đỗ Mậu, Trần Chung Ngọc, Đặng Văn Nhâm, Nhất Hạnh... để thực hiện chủ đích phổ biến rộng rãi bài thơ nguyền rủa, chửi bới thậm tệ tòan thể ngụy quân và nguyền miền Nam mà không sợ bị tố giác là “tay sai CS nằm vùng, phổ biến thi văn nhục mạ toàn thể quân dân miền Nam từng làm nô lệ cho Tây, đến bây giờ lại tiếp tục làm kiếp ngựa dê chạy theo đuôi Mỹ để hưởng Đô La!”...
Trước độc chiêu và thâm ý đó cuả Tú Gàn, tôi không khỏi rùng mình!
Như mọi người đều biết, từ ông Tú Gàn đến các ông Đỗ Mậu, Trần Chung Ngọc, Đặng Văn Nhâm và Nhất Hạnh trong truyện này, tôi đều chỉ “văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình” và đều “kính nhi viễn chi” như nhau mà thôi. Tôi không hề có thiên kiến hay định kiến nào với một ai. Mặc dù hiện trong tay tôi đang có một số tài liệu về “tiền tích” cuả đồng chí Lữ Giang Nguyễn Cần hồi còn ở VN, thời gian sau khi CSBV chiếm miền Nam và trước khi Nguyễn Cần chuồn sang Mỹ. Nhưng tôi vẫn không vội qui kết và đặt vấn đề “nằm vùng” ra đây làm gì. Như thế thiếu quân tử!
Sau khi đọc xong bài này cuả ông Tú Gàn, ngoài cảm giác rùng mình ghê sợ như đã nói trên, tôi còn khám phá ra được những hiện tượng sa đoạ đến mức vô luân cực kỳ đáng lo ngại trong một vài người cầm bút ở hải ngoại ngày nay. Vì thế, bất đắc dĩ tôi phải mất thêm chút thì giờ viết bài này để thương xác với ông Tú Gàn về một vài điều thuộc phạm vi lương tâm tối thiểu cuả người cầm bút, đồng thời cũng muốn nhân dịp này cảnh giác các giới đọc giả hải ngoại hãy nên thận trọng trước những ngòi bút tẩm thuốc độc, có thể gây nên bệnh dịch hạch trong dư luận quần chúng.
Tuy không phải là người cầm bút nhà nghề, cũng không phải là một cựu thẩm phán, nhưng với thiên bẩm “nhân chi sơ, tánh bản thiện”, tôi hiểu được rằng: Phàm làm người không nên biạ đặt và vu cáo cho thiên hạ, dù cho người đó là kẻ thù cuả mình!
Vả chăng, tôi quan niệm: Ngay đối với kẻ thù ta cũng phải tỏ ra quân tử và biết lấy lễ mà đối đãi với nhau. Như thế mới đúng đạo nhân luân!
Trong bài này, có lẽ vì thù hận gì đó với ông Đặng Văn Nhâm dữ lắm, nên ông Tú Gàn đã viết nguyên văn như sau:
“Trong cuốn “Bí mật hậu trường chính trị miền Nam” Đặng Văn Nhâm đã phịa ra những chuyện ngu xuẩn ít ai tưởng tượng được. Đặng Văn Nhâm viết: “Tụi cán binh CS vào Nam đem theo mỗi đưá cả kí lô thuốc phiện, dĩ nhiên phải nhằm vào một mục tiêu chính trị thâm độc, lâu dài. Trước hết, nếu tên cán binh ấy sống sót, thì nó sẽ bán số thuốc phiện ấy ra lấy tiền tiêu pha, thay vì lãnh lương. Trong trường hợp thằng cán binh ấy bị bắn chết, thì khi thu dọn chiến trường, tụi lính quốc gia ăn cắp thuốc phiện trên xác lính VC để về hút. Như thế, tuị lính QG sẽ lần hồi nghiện thuốc phiện hết... (trang 338). Thằng lính QG chết, lục xác nó, thế nào cũng bắt được một cái muỗng nhôm, một cái đèn cầy nhỏ và một ống chích...(trang 339)”.
Tiếp đến một đoạn khác, ông Tú Gàn lại còn không tiếc lời sỉ vả ông Đặng Văn Nhâm bằng những câu hết sức lỗ mãng nguyên văn như sau:
“Đặng Văn Nhâm chỉ là một thứ cặn bã cuả xã hội miền Nam, trốn quân dịch, có trình độ cũng chỉ ngang Đỗ Mậu, viết lách nham nhở, nhiều đoạn câu bất thành cú, không biết gì về đời sống quân ngũ, cứ nghe người khác kể hay tưởng tượng ra rồi viết bưà.... Đặng Văn Nhâm đã một thời được thổi lên làm chủ tịch hội Văn Bút VN Hải Ngoại...”
Thoạt tiên mới đọc những lời đó cuả ông Tú Gàn, tôi không khỏi phân vân. Nhưng kinh nghiệm cuộc đời gian manh lưà đảo khôn lường đã dạy tôi chớ bao giờ vội tin vào những lời cuả kẻ khác, huống chi lại là những lời cuả một kẻ thù phun ra nhằm ám hại nạn nhân cuả họ. Những lời đó chưá đựng bao nhiêu phần trăm sự thật? Ai là người chịu khó dụng công để tìm cho ra trắng đen / hay dở, phải / quấy?
May thay, trong nhà tôi lại sẵn có toàn bộ 3 quyển sách BMHTCTMN cuả ông Đặng Văn Nhâm, tôi vội theo lời chỉ dẫn cuả ông Tú Gàn mà tìm đọc 2 trang 338 và 339 để kiểm chứng. Ngay giây phút đầu tiên làm việc kiểm chứng, tôi đã nhận ra mánh khoé vặt vãnh cuả ông Tú Gàn nằm ở chỗ không chỉ rõ quyển nào (quyển 1, 2, hay 3?), khiến tôi đã phải mất thêm thì giờ. Nếu ai không kiên nhẫn, hoặc không có sách, chắc đành phải tặc lưỡi, bỏ qua cho rồi. Thế là mặc nhiên ông Tú Gàn thành công trong mục tiêu đánh lưà và đầu độc tinh thần độc giả!

Kế đến, sau khi đã đọc hết chương “HÍT TÔ PHE TRÊN GÁC CAO MINH ĐỈNH” từ trang 337 đến trang 343, tôi càng sửng sốt hơn. Tôi thấy câu chuyện trong sách – khác hẳn lời cáo buộc kể trên cuả ông Tú Gàn -, xin tóm lược để hải nội chư quân tử phán xét như sau:
“Ký giả Anh Quân bị vồ đi quân dịch. Bị giải giao ra vùng 2 CT, Anh Quân cầu cứu với tướng Phú. Được tướng Phú che chở, Anh Quân theo thiếu tá Châu, còn gọi là Châu Mặt Mẹt, bí thư mà cũng là bồi tiêm thuốc phiện cuả tướng Phú, về gác Cao Minh Đĩnh, nằm vách đốc lên hút thuốc phiện chơi cho đỡ ghiền.
Quang Minh Đĩnh vốn là một trụ sở “đi mây về gió” cuả tướng Phú, nơi đây là một kho chưá đầy thuốc phiện thượng hạng, Anh Quân không khỏi ngạc nhiên hỏi TT Châu Mặt Mẹt, thì được Châu cắt nghiã cho nghe nguyên văn như sau:
“Tụi cán binh CS vào Nam, đem theo mỗi đứa cả kí lô thuốc phiện, dĩ nhiên phải nhắm vào một mục đích chính trị thâm độc, lâu dài. Trước hết, nếu tên cán binh ấy sống sót, thì nó sẽ bán số thuốc phiện ấy ra lấy tiền tiêu pha, thay vì lãnh lương. Trong trường hợp thằng cán binh ấy bị bắn chết, thì khi thu dọn chiến trường, tụi lính QG ăn cắp, đem về hút. Như thế tụi lính QG sẽ lần hồi nghiện thuốc phiện hết. Ngược lại, nếu bọn lính QG không hút, lén bán ra quần chúng, thì chẳng bao lâu miền Nam sẽ tràn ngập thuốc phiện và đầy rẫy tiên ông, hết xíu quách, đâu còn đánh đấm gì nổi nưã! Đó nhà báo thấy không bọn CSBV thâm độc chưa?”...[Chú ý: Đoạn chữ đậm có gạch dưới này đã bị Tú Gàn cắt bỏ để xuyên tạc!]
Anh Quân nhìn quanh phòng, nhận thấy đây quả là một kho thuốc phiện. Mặc sức mà hút. Hút đến mức địt ra khói cũng chưa chắc đã hết nổi cái kho thuốc phiện khổng lồ này... Một lần nưã TT Châu lại giải thích:
- “Đó là quà chiến lợi phẩm cuả các tiểu đoàn tặng đó!... Ngoài ni, xác chết của VC và QG đều có đặc điểm khác nhau. Thằng VC chết, thế nào lục trong người cũng có thuốc phiện toàn hàng Hoa Lá, Cao Bắc Lạng, không hè! Còn thằng lính QG chết, lục xác nó thế nào cũng bắt được một cái muỗng nhôm, một cục đèn cầy nhỏ và một ống chích... [Chú ý: nguyên đoạn văn chữ đậm có gạch dưới này lại bị Tú Gàn cắt bỏ thêm để xuyên tạc và vu khống!]
Ngưng một lát để lấy hơi, Châu lại giảng giải tiếp:
- “Trước cái chết như chơi trước mặt, thằng nào lại chả muốn” bừng lên trong giây lát, rồi nhắm mắt ngàn thu...”! [Chú ý: nguyên đoạn văn chữ đậm có gạch dưới này đã bị Tú Gàn cắt bỏ để xuyên tạc, vu cáo!]
Tóm lại, ai đã đọc qua chuyện này đều nhận thấy đây là đoạn tường thuật nguyên văn những lời trao đổi giưã TT Châu với Anh Quân cuả tác giả Đặng Văn Nhâm. Theo ông Đặng Văn Nhâm những lời tường thuật đó đã được thâu băng và có thủ bút cuả Anh Quân hẳn hoi. Ông Nhâm đã trình bày trung thực đúng theo lương tâm cuả người làm báo nhà nghề. Trong khi đó ngược lại, ông Tú Gàn chẳng những đã trích dẫn sai, sót lại còn có gian ý, cắt xén câu văn đến 3 lần, trong 3 đoạn khác nhau, để bóp méo sự thật, nhắm mục đích vu khống cho tác giả.
Lâu nay, thiên hạ ai cũng tưởng trò tiểu nhân vu khống chỉ là hành động đốn mạt, hèn hạ cuả những kẻ bất lương, thất học. Nhưng người ta không ngờ ngày nay, ở hải ngoại, nó đã xâm nhập cả vào giới văn chương, báo chí, mà thủ phạm lại chính là một ông cựu thẩm phán cuả chế độ VNCH miền Nam. Thật đáng ghê tởm biết chừng nào!
Nếu tôi không lầm, trước đây cả năm, trò cắt xén câu văn trong bộ sách BMHTCTMN cuả Đặng Văn Nhâm để xuyên tạc sự thật và vu khống tác giả đã do một cây bút hạ cấp, viết bẩn nổi tiếng là Kiều Phong Lê Tất Điều khởi xướng trên tờ Sài Gòn Nhỏ. Trong số báo Saì Gòn Nhỏ 710, ra ngày 3.3.2000, trong mục “TRỪ TÀ”, Kiều Phong Lê Tất Điều đã vu cáo cho tác giả, lôi cả tổ tiên gia đình cuả ông Đặng Văn Nhâm ra chửi bới, rồi còn dùng lời nỉ non, giả vờ thương sót anh em binh sĩ VNCH, kiểu nhân nghiã “bà Tú Đễ” để tả oán não nùng với thâm ý xách động bạo lực trong giới cựu quân nhân VNCH ở Mỹ, tức chơi trò” mượn dao giết người”, bằng mấy câu như sau:
- “Tội nghiệp nhất là người chiến binh VNCH. Họ xả thân bảo vệ miền Nam, trong đó có cả gia đình mồ mả tổ tiên Đặng Văn Nhâm, cũng bị hắn chửi luôn. Trang 339 cuốn HTCTMN, hắn chửi họ thế này:” Thằng lính QG chết, lục xác nó thế nào cũng bắt được một cái muỗng nhôm, một cục đèn cầy nhỏ và một ống chích (dụng cụ để chích bạch phiến).”

Như thế rõ ràng luận điệu vu khống chửi bới và chụp mũ cuả ông Tú Gàn bây giờ, cách hơn một năm sau, chẳng qua chỉ là trò nhai lại lời cuả Kiều Phong mà thôi. Chẳng những nhân cách và hành động đã tệ lậu đến như thế, nhưng trong bài này, ông Tú Gàn còn chê ông Nhâm là” một thứ cặn bã cuả xã hội miền Nam, trốn quân dịch, có trình độ cũng chỉ ngang Đỗ Mậu, không biết gì về đời sống quân ngũ...”.
Đọc câu này, tôi không khỏi bàng hoàng kinh sợ trước trò lật lọng, tiền hâụ bất nhất cuả ông Tú Gàn, tức cựu thẩm phán Nguyễn Cần. Tôi còn nhớ trước đây không lâu, cũng trên mặt báo Sài Gòn Nhỏ và trên tờ truyền đơn lậu “Người Cõi Trên” phát không ở Paris, ông Tú Gàn đã đoán mò ông Đặng Văn Nhâm chỉ có bằng Tú Tài một, tự khoe là giáo sư, ký giả, chủ bút và chủ báo... Bây giờ thì ông Tú Gàn lại tự sưả sai cho rằng trình độ cuả ông Nhâm cũng chỉ ngang ông Đỗ Mậu!
Về chuyện ông Tú Gàn vu cáo cho ông Nhâm ”trốn quân dịch”, tôi tin chắc trong thời gian đó ở VN, ông Tú Gàn đang ở một xó xỉnh nào ở miền Trung làm sao có thể biết được ông Nhâm trốn quân dịch? Vả lại, đến bây giờ, quân đội VNCH đã bị tướng nằm vùng Dương Văn Minh khai tử từ 26 năm rồi, và nước CH miền Nam đã bị xoá tên trên bản đồ thế giới rồi, mà ông Tú Gàn còn lải nhải đem trò vu khống “trốn quân dịch” ra tố cáo nhau trên mặt báo thì chẳng những đã xưa quá, tồi quá, mà lại còn tỏ ra khinh thường độc giả quá lắm!
Bởi thế tôi tò mò phải tìm hiểu cho ra lẽ. Thì ra trong quyển 1 BMHTCTMN, từ trang 361 đến trang 381, ông Nhâm đã kể lại rành mạch chuyện ông bị nhà cầm quyền quân phiệt thời bấy giờ – TT Thiệu – cưỡng bách nhập ngũ, áp giải vào Quang Trung, và trong thời gian đó ông Nhâm đã bị bọn tham nhũng trong quân đội mưu sát hụt!
Sau 2 tháng thụ huấn, ông Nhâm đã được một người bạn chí thân, đồng nghiệp dạy học, là giáo sư Thái Lăng Nghiêm, thượng nghị sĩ VNCH, đích thân can thiệp với tướng Nguyễn Văn Vỹ. Cuối cùng, giưã đêm 30 tết, đúng giờ giao thưà, tướng Vỹ tổng trưởng Quốc Phòng, đã phải ký công điện thượng khẩn mang tay chạy bay vào Quang Trung ra lịnh trả ông Nhâm về nguyên quán, và lập tức sau đó bộ Quốc Phòng đã phải trả lại cho ông Nhâm giấy phép hoãn dịch hợp lệ như cũ. Điều này quả là hãn hữu, chưa từng xảy ra trong quân đội nào bao giờ! Có đúng như thế không ông Tú Gàn?
Nên biết, ông Nhâm đã dạy học và làm báo từ năm 1952, tức đã hợp lệ quân dịch từ thời Tây còn có mặt ở VN. Lúc đó nhiều thanh niên VN trang lứa ông Nhâm(sanh năm 1933) đã bị Tây động viên vào học trường võ bị liên quân Đà Lạt, hay Thủ Đức, hoặc một quân trường nào khác...
Nếu không có giấy phép hoãn dịch hợp lệ liên tục, đến thời đệ nhất CH ông Nhâm cũng khó thoát nghiã vụ phải đi lính, huống chi ông lại còn được chính phủ cấp giấy phép cho ra báo và cho xuất ngoại tháp tùng phái đoàn thương thuyết ở Ba Lê đến 2 lần từ 1968 đến 1972...
Ngoài ra ông Nhâm còn đã từng giữ những chức vụ quan trọng trong ngành báo chí trong nhiều năm như: tổng thơ ký Hội Chủ Báo, Chủ Tịch Uỷ Ban Kỷ Luật Hội Đồng Báo Chí VN... Ở miền Nam, thời đó có bao nhiêu nhà báo tạo được điạ vị như thế?
Xem vậy đủ biết những lời ông Tú Gàn đã viết về ông Đặng Văn Nhâm chỉ căn cứ vào sách cuả ông Nhâm, rồi biạ đặt và vu khống thêm, với ác tâm đầu độc dư luận và trả thù cá nhân cách quá thấp hèn. Đó là hành động mà một người cầm bút có tối thiểu liêm sỉ không ai dám làm.
Riêng ông Tú Gàn còn là cựu thẩm phán Nguyễn Cần, chắc phải biết rõ hơn tôi, luật pháp nước nào cũng xử phạt rất nặng bọn người can tội vu cáo, và luân lý cuả loài người bất kỳ đông tây, ai cũng phỉ nhổ bọn vô liêm sỉ độc ác manh tâm vu cáo cho người khác. Nếu ông Nguyễn Cần là người có tín ngưỡng, chắc ông cũng biết lời Chuá và Phật đã dạy về tội vu khống, cáo gian kẻ khác. Trong kinh sách Phật giáo còn kể chuyện những kẻ chuyên vu khống, cáo gian, khi chết xuống âm phủ sẽ bị qủy sứ cắt lưỡi, xẻo tai, móc mắt và quăng xác vào vạc dầu sôi để đền tội... Chắc ông Tú Gàn cũng biết điều đó chứ nhỉ?!
Bây giờ, đề cập đến lời đánh giá cuả Tú Gàn đối với cá nhân ông Đặng Văn Nhâm. Tú Gàn cho rằng ông Nhâm là”cặn bã cuả xã hội miền Nam ”(!). Trong cộng đồng người VN tị nạn khắp nơi trên thế giới biết ông Nhâm từ thời còn là giáo sư và chủ báo ở Sài Gòn khá nhiều, nên tôi không cần bàn đến. Xin để cho ông Tú Gàn tự soi gương mà nhận diện mình rồi so sánh với ông Nhâm thì hơn.
Chẳng những vậy, Tú Gàn còn viết bướng, cho rằng ông Nhâm “không biết gì về đời sống quân ngũ ”! Điều này chứng tỏ ông Tú Gàn chưa đọc một chữ nào trong 3 quyển BMHTCTMN cuả ông Đặng Văn Nhâm, chỉ nhái lại lời cuả Kiều Phong. Vả lại, nếu lời nhận xét đó do một ông tướng nào trong quân đội VNCH nói ra, có lẽ người ta còn tin được. Nhưng nực cười nhất và lố bịch nhất là câu ấy lại do một kẻ què quặt bẩm sinh, hiển nhiên thuộc thành phần phế thải và bất khiển dụng, chưa hề nếm cơm nhà binh một bưã nào viết ra. Đọc câu ấy, tôi cảm thấy dường như ông Tú Gàn có máu thích kể chuyện tiếu lâm, thuộc loại cù không cười, mà thương hại thay cho ông!
Nhờ bài báo này cuả ông Tú Gàn mà tôi đã có dịp đọc một mạch hết 3 quyển BMHTCTMN cuả ông Đặng Văn Nhâm. Bất ngờ trong phần Phụ LuÏc cuả quyển 3, nơi trang 612, tôi đã bắt gặp mấy câu thanh minh vắn tắt cuả ông Nhâm viết cho Kiều Phong và Tú Gàn, xin trích lại nguyên văn như sau, để ông Tú Gàn có thêm tài liệu để phản bác nếu cần:
”...Vì trong tay không có báo, lại chẳng muốn lời qua tiếng lại với bọn cầm bút vô lương tâm, nên tôi chỉ viết một vài câu đơn giản trong một lá thơ ngắn gọn gửi đến một số văn hữu thân quen để giải thích như sau: “Vì trình độ quá trhấp kém, không đủ để biết gì về chuyện “hậu trường”, nhưng lòng thù hận cuả kẻ cầm bút có bản chất lưu manh lại quá cao, nên Lê Tất Điều [tức cả Tú Gàn] đã dùng đến thủ đoạn bẩn nhất mà văn giới đông tây kim cổ đều khinh tởm, phỉ nhổ là: Cắt xén câu văn, xuyên tạc sự thật. Lê Tất Điều (và Tú Gàn) đã cắt xén đoạn văn cuả tôi trong 2 trang 338-339 (BMHTCTMN, quyển I) để vu cho tôi cái tội “bôi nhọ lính VNCH chơi bạch phiến, với mục đích xách động bạo lực.”
Trong phạm vi văn học, phê phán loại hành vi kể trên cuả Lê Tất Điều (và Tú Gàn), nhà văn Thu Giang Nguyễn Duy Cần đã viết trong “THUẬT TƯ TƯỞNG” như sau: “...Những kẻ có tính ưa phản đối công kích chỉ để phản đối, công kích mà thôi, thì thực tế rất là khả ố. Họ lầm lẫn óc phê bình với óc phản bác. Hai tư cách đó khác nhau rất xa.Những kẻ đụng đâu phê bình đó, không kể gì đến liêm sỉ, thường lại được bọn người vô học ưa thích, vì họ tưởng lầm hạng người ấy là hạng đại tài, bởi có tài mới phê bình kẻ khác một cách dễ dàng được... Trong một bài có nhiều câu này ăn với câu kia mới có nghiã. Nếu lấy rời ra một câu thôi có khi nghe nó vô lý và ngây ngô là thế nào. Bảo đọc riêng nó lên, và dụng ác tâm mà tha hồ giải thích nó...thì không làm trò cười cho kẻ khác sao đặng!...”
Ngoài ra, nhà phê bình văn học trứ danh Tây phương, Rudier, còn viết một câu nguyên văn: “Donnez-moi deux lignes d’un homme et je me charge de le faire pendre” (dịch: Hãy đưa cho tôi 2 câu văn cuả một người nào, tôi sẽ làm cho hắn bị treo cổ cho mà xem) [trích : Techniques de la critique, page 19]”
Vậy, theo tôi và tất cả những ai có lương tâm, hành động cắt xén câu văn, xuyên tạc sự thật như ông Tú Gàn và Kiều Phong Lê Tất Điều đã làm với ông Đặng Văn Nhâm là một hành động tội ác phản lại mọi thứ luân lý cuả loài người!...
Viết đến đây, chợt tôi nghĩ đến Tú Gàn có thời từng làm thẩm phán ở miền Trung mà không khỏi giật mình. Một kẻ tâm điạ gian manh, dám vu cáo trắng trợn, đổi trắng thay đen dễ như trở bàn tay, mà đóng vai trò cầm cán cân công lý thì thứ công lý ấy đáng gọi là công lý gì, và dân chúng trong vùng đó đã khốn khổ đến mực nào? Hèn chi miền Nam đã chẳng bị tan vỡ và mất vào tay CS!...
Tóm lại, viết bài này tôi không có ý bào chữa hay bênh vực cho ông Nhâm. Chuyện vu khống và xuyên tạc sự thật để bôi nhọ ông Nhâm đã diễn ra trên tờ báo Saì Gòn Nhỏ từ hơn một năm qua, nhưng ông Nhâm đã không lên tiếng thanh minh. Bởi lẽ ai cũng biết tờ báo đó chỉ chuyên môn loan tin một chiều, vu khống và mạ lị, không chấp nhận cho bất kỳ ai thanh minh hay cải chính.
Trước cảnh hỗn loạn và vô luân như thế cuả báo giới hải ngoại, nên tôi không khỏi động tâm, sẵn lòng dành trang báo này cuả tờ Đại Chúng để giúp bất cứ một nạn nhân nào – chẳng cứ gì ông Đặng Văn Nhâm- bị vu khống, có dịp minh oan. Đồng thời tôi cũng muốn giúp độc giả khắp nơi hải ngoại có cơ hội tìm ra sự thật trong mọi vấn đề.
Vì thế, tôi mong, khi bài này đã đến tay ông Tú Gàn, nếu ông thấy có điều gì không đúng sự thật như ông đã biết, với bằng chứng cụ thể và lý lẽ hẳn hoi, xin ông cứ viết bài biện minh. Chúng tôi sẽ sẵn sàng đăng tải cho ông, hầu rộng đường dư luận. Ngược lại, từ nay xin ông nên chấm dứt ngay trò dùng báo chí vu khống mạ lị thiên hạ, để cho không khí cuả cộng đồng tị nạn trên đất Mỹ bớt phần ô nhiễm!
VÂN NAM

Số 79 - Đại Chúng 1-8-2001