Search This Blog

Sunday, June 30, 2019

Góc của Phan: với Exodus…

Phan

Mưa giông từ nửa đêm qua đã dựng tôi dậy vì sấm sét om xòm trên mái nhà thì ngủ nghê gì được. Tôi ngồi đọc lại quyển “Về miền đất hứa – Exodus” của Leon Uris. Không biết sao tôi thích tác phẩm đó từ khi còn đi học. Lần đó tới chơi nhà người bạn học, thấy quyển sách của cha anh đang đọc nên tôi đọc ké vài trang, rồi thích quá! Hỏi mượn bác trai thì bác lưỡng lự vì sách cấm, mà sách cấm thì đồng nghĩa với sách quý thời tôi mới lớn. May sao bác gái từ tâm, “Ông cứ cho nó mượn đi. Chẳng lẽ bạn của con mình là người kém văn hoá?!”
Nhớ cái văn hoá thời tôi mới lớn là, “cho mượn sách đã là ngu. Mượn được sách rồi mà đem trả là càng ngu.” Có một thứ văn hoá như thế ở quê tôi sau hoà bình lập lại. Nhưng dù sao tôi cũng đem trả quyển sách lại cho bác trai sau khi đọc. Thực sự lúc ấy là tôi mưu cầu có thể mượn thêm những quyển khác khi đã ngầm biết bác trai – cha của bạn tôi còn cất giữ nhiều sách cấm.
Thời gian cho tôi gần gũi hơn với gia đình tên bạn mà cụ thể là hai bác. Cứ thấy mặt là bác gái hỏi ăn cơm chưa? Nếu thưa bác gái là chưa… thì nhà có khoai luộc! Bác trai thường cười nụ cười khó hiểu là cười khẩy, cười khinh bạc thì bác không khinh bác gái, vậy khinh bạc ai? Khinh bỉ một thời những người thích chữ nghĩa chỉ ăn khoai luộc, mời cơm là thói quen thôi hay sao?
Nhưng tôi thích bác trai bòn túi thủng cũng ra chút tiền lẻ, bác ngoắc tôi ra hiệu là hai bác cháu ra quán cà phê. Nói cho sang chứ quán xá gì, một túp lều mục nát của một gia đình người Tàu trong hẻm sâu bắt đầu từ cầu Phú Lâm, đi luồn lách mãi ra tới khu Tân Bình. Nơi đó hơi ồn vì những người Tàu bình dân – dân mua bán gánh ve chai, họ nói chuyện thường lớn tiếng nên rất ồn. Nhưng bù lại hai bác cháu tôi nói chuyện, bình phẩm về một tác phẩm văn học nước ngoài – thuộc loại sách cấm thì cũng cóc ai thèm để ý tới mình.
Ngộ nghĩnh nhất trong đời là ngày lễ cha, từ khi tôi sống một mình nơi hải ngoại. Cái ngày tưởng nhớ tới thân phụ thì cha đẻ ra tôi vẫn trong lòng này với hai câu bảy chữ mãi hoài không viết nổi thêm hai câu cho thành tứ tuyệt. “Tâm dụ phụ thân sinh bất lão/ bất ly phụ tử khả vô sầu”. Hôm nhà thư pháp Vũ Hối ghé tệ xá thăm tôi. Ngồi hàn huyên với ông khá khuya, ông bảo: “Đôi khi ráng sẽ mất hay. Cái cảm xúc lúc hạ huyệt cha anh là vậy, là hai câu từ tâm anh phát ra… thì tôi thư hoạ cho anh hai câu đó để làm linh vị cho ông cụ. Nếu ông cụ thực sự có việc sống khôn thác thiêng thì nhìn hai câu thơ của thằng con ngổ nghịch cũng đủ cho ông cụ vui nơi suốn vàng…”
Nhưng người cha thứ hai mà tôi thường nghĩ tới trong ngày lễ cha là cha của thằng bạn không đọc sách. Bác trai buồn lắm, nhưng tôi an ủi bác, “Nó không đốt sách đã là may. Cha làm thầy, con đốt sách mà… sư phụ.”
Ừ. Thì ra tôi coi ông là sư phụ trong lòng tự bao giờ. Đến giờ ngẫu hứng gọi bác trai là sư phụ. Bác không chê đệ tử ngu hèn nên sư phụ (cũng từ bao giờ không rõ) đã trở thành người tôi tưởng nhớ sau cha đẻ ra tôi từ khi tôi sống đơn thân một mình nơi hải ngoại.
Nhớ linh xưa khi duyên nợ tới. Những giờ nghỉ trưa trong trường Sư phạm, tôi hay được bạn bè nói kể chuyện cho họ nghe… Và tôi kể có lẽ say sưa nhất là truyện “Về miền đất hứa”. Vì tôi yêu thích tác phẩm đó nên nhớ từng nhân vật. Rồi một trong những cô bạn hay nghe tôi kể chuyện, có cô kia tiếc hùi hụi khi kể tôi nghe là cô gặp được quyển Về miền đất hứa ngoài chợ trời bán sách… nhưng túi tiền cô có hôm đó không cho phép cô mua để tặng tôi.
Ngần ấy cảm tình đã trốc gốc cây cổ thụ, huống chi tôi mới là thằng nhóc tập đọc trong làng đọc sách. Từ đó, tình trong như đã, nhưng mặt ngoài còn e. Tới hôm chó ngáp phải ruồi. Theo em xuống phố trưa nay, đưa nhau đi trốn bạn bè để thổ lộ tâm tư chứ dạo phố kiểu cỡi ngựa xem hoa thì chán chết vì có tiền đâu mà mua quà lưu niệm cho chuyến đi vào đời, tiền ăn quà vặt cũng chỉ biết lắc đầu nguây nguẩy vì đâu đủ tiền mua… Nhưng tiền định có thật là sao lại đủ tiền mua quyển sách “Về miền đất hứa” từ một gánh ve chai… không bìa trước, mất hai mươi trang cuối.
Phải mấy năm sau, khi Sài gòn mở cửa. Em đã có thể mua tặng tôi nhiều quyển Về miền đất hứa, nhưng em chỉ mua một quyển… để chép hai mươi trang cuối, tặng tôi. Ân tình đâu trả lễ bằng gì khác được, nên sẵn cái quần jeans vừa rách gối do tranh banh với mấy thằng bạn học. Tôi xé luôn cái ống quần trong tiếc rẻ của bạn bè, vì tụi nó hết cơ hội mượn tôi cái quần jeans, mặc lấy le một hôm ra phố…
Tôi khâu vá hai mươi trang cuối của quyển Về miền đất hứa mà em đã chép tay tặng tôi vào đại tác phẩm Exodus của Leon Uris. Khi ngồi xỏ từng mũi kim, gút từng nút chỉ cắt ra từ bao xi măng, mượn con dao ăn trầu của mẹ để xén sách… rồi làm bìa cho quyển sách yêu thích càng trân trọng hơn là sự có được; làm bìa bằng vải từ cái ống quần jeans Levis là xa xỉ quá trong thời đại tôi. Cuốn sách thành vô giá nên ưu tiên một trong vali xuất ngoại phải cân đo đong đếm nhiều thứ theo nhiều nghĩa đem đi hay bỏ lại.
Sáng nay mưa như nơi tôi ở chưa từng biết mưa. Mưa giông từ nửa đêm qua, tới sáng mưa dầm, tới trưa mưa thưa, tới chiều mưa buồn như mưa tháng sáu. Giờ đêm về mưa vẫn còn mưa. Mưa như cố nhà báo Giang Hữu Tuyên đã tả mưa hải ngoại trên phận người làm báo,“mười mấy năm làm tên phát báo/ lòng buồn theo thành quách xa xưa/ đường ngã năm rồi năm bảy ngã/ ngã nào cũng mưa và mưa thôi…” Anh viết ra chữ “thôi” cuối câu quá trọn vẹn cho ngành báo chí Việt ngữ ở hải ngoại nên bạn hữu vẫn nhớ tới anh và một tấm lòng, dù anh đã quá vãng.
Lời thơ buồn như mưa tháng sáu khi nhớ tới tác giả là một nhà báo tận tâm giữ gìn tiếng Việt ở hải ngoại, tận lòng hết sức với báo chí, tận tình với anh chị em văn thơ hữu… Và nhìn lại quyển Exodus được bọc vải ống quần jeans làm bìa… đọc những trang chép tay đã phai màu mực viết big – mực bơm thời tôi, nhưng nét chữ thân quen cứ như ngàn vạn mũi kim châm vào ký ức, như những hạt mưa vỡ oà trên khung kỷ niệm. Bầu trời hình vuông hay hình tròn, hình chữ nhật, là tùy cái khung cửa; đời người tùy duyên nên không trách khởi đầu, cũngkhông buồn kết cuộc. Chỉ tiếc giống nòi không được cái kết cuộc như những dòng cuối cùng trong quyển Exodus, những dòng chữ chép tay đầy kỷ niệm,“Bằng một giọng run run, Dov đọc:
Tại sao đêm nay lại khác với tất cả các đêm trong năm?
Đêm nay khác với mọi đêm trong năm bởi vì đêm nay chúng ta ca tụng giây phút quan trọng nhất trong lịch sử của dân tộc chúng ta. Đêm nay chúng ta mừng cho cuộc khởi hành chiến thắng từ nô lệ tới tự do của đất nước chúng ta.”
dịch xong tháng 05/ 1960
Thế Uyên
Đêm nay tôi đọc lại sách cũ, đêm nay tôi đọc lại chuyện lòng từ khi còn trẻ. Tôi thấy hoang tàn trên tóc xanh đã bạc màu, quê hương vẫn tối đen dưới vòm trời bá đạo… hạt mưa nào vừa vỡ oà trên khung cửa như tôi.
Phan

Tuesday, June 25, 2019

Vì sao cha con Lý Tiểu Long đều chết trẻ?

image.png
Trong sách cổ đã ghi chép rất nhiều trường hợp nhân quả báo ứng, bài viết này nói về câu chuyện của hai nhân vật nổi tiếng thời hiện đại – hai cha con Lý Tiểu Long chết trẻ khi đang sức dài vai rộng, sinh lực tràn đầy.
Rất nhiều người cho rằng Lý Tiểu Long là người Trung Quốc, thực tế không phải vậy. Năm 1940, Lý Tiểu Long chào đời ở San Francisco, bang California Hoa Kỳ, quốc tịch Mỹ, là người Mỹ gốc Hoa.
Ông là diễn viên người Hoa đầu tiên ở Hollywood. Các bộ phim hành động của Lý Tiểu Long lấy chủ đề là võ thuật kungfu như “Đại ca” (The Big Boss) được đánh giá rất cao. Sau đó các phim “Tinh võ môn”, “Mãnh long vượt sông”, “Long tranh hổ đấu” và “Trò chơi tử Thần” do Lý Tiểu Long thủ vai chính đã chấn động giới điện ảnh, nhanh chóng tạo được danh vọng trên thế giới.
Lý Tiểu Long đạt được giải thưởng “Kỹ nghệ tốt nhất” của giải Kim Mã Đài Loan, giải thưởng “Thành tựu trọn đời” giải Kim Tượng của điện ảnh Hồng Kông, giải thưởng “Truyền kỳ” của Hiệp hội Truyền thông Anh.
Năm 1967, Lý Tiểu Long sáng tạo ra Tiệt quyền đạo (còn gọi là Triệt quyền đạo – Jeet Kune Do – lỗi dịch sai chữ Tiệt thành Triệt từ ban đầu nên dùng sai thành quen – ND). Ông hoằng dương kungfu Trung Quốc, và được coi là một trong 10 nhà võ thuật lớn nhất thế kỷ.
Vua boxing Muhammad Ali đánh giá: “Lý Tiểu Long là người vĩ đại. Anh là người kiệt xuất nhất trong lĩnh vực võ thuật. Tôi hy vọng có thể gặp anh, bởi vì tôi thực sự thích võ thuật của anh. Anh đã vượt thời đại của anh”.
Cha đẻ Jiu jitsu (Nhu Thuật) nước Mỹ là Jenny Lebel đánh giá rằng: “Tốc độ ra đòn của anh nhanh gấp đôi người bình thường. Quyền thuật, bộ pháp và cước pháp của anh thực sự siêu xuất người thường. Nếu nói về những vua võ thuật thì Lý Tiểu Long là vua của các vị vua. Anh là cao thủ đỉnh cao xuất chúng ở thời đại đó”.
Không chỉ người châu Á quen thuộc với Lý Tiểu Long mà cái tên Bruce Lee (tên tiếng Anh của anh) thì dường như người phương Tây không ai không biết, là danh từ thay thế cho kungfu. Hình tượng màn ảnh của anh có sức ảnh hưởng lớn đối với người Hoa và mọi người khắp các nơi trên thế giới. Tên anh đã trở thành tượng trưng cho kungfu Trung Quốc và tượng trưng cho điện ảnh võ thuật.
Cha con Lý Tiểu Long chết trẻ
Đúng lúc sự nghiệp Lý Tiểu Long đang lên như diều gặp gió, năm 33 tuổi anh tham gia diễn phim “Trò chơi tử Thần” thì ngày 20/7/1973 anh đột tử ở trong nhà của Đinh Bội tại Cửu Long Đường, Cửu Long Tây, Hồng Kông. Sự kiện này đã gây nên chấn động cực lớn, nguyên nhân cái chết của anh đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi bàn tán. Có người cho rằng anh bị mưu sát, có người nói anh chết bệnh, có người cho rằng anh đột tử bởi dị ứng thuốc, còn có người nói anh chết bởi “thượng mã phong” v.v.
Lý Quốc Hào (Brandon Lee, 1/2/1965 – 1/4/1993) là con trai duy nhất của Lý Tiểu Long, sinh ở California nước Mỹ. Năm Quốc Hào 8 tuổi thì cha là Lý Tiểu Long qua đời.
Lý Quốc Hào có thể nói là đã kế thừa được sự nghiệp của cha. Anh được mẹ là Linda truyền thụ võ công. Sau khi trưởng thành, anh đã đạt được trình độ võ thuật khá cao. Sau đó, anh vào học trường điện ảnh Emerson, làm phim và biểu diễn. Anh theo con đường của cha, cũng trở thành một diễn viên, diễn trong phim dài tập “Giới kungfu”, trở thành người thay thế Lý Tiểu Long trên màn bạc.
Lý Quốc Hào có ngoại hình tuấn tú và võ nghệ cao siêu khiến cho các nhà làm phim Hollywood đặc biệt chú ý, cho rằng chỗ trống do Lý Tiểu Long để lại sẽ do con trai ông lấp đầy. Tất cả mọi người đều thấy tiền đồ to lớn của Lý Quốc Hào. Bộ phim hành động “Quạ” chí phí 14 triệu đô la là bộ phim đầu tư lớn nhất mà Lý Quốc Hào diễn. Anh cẩn thận tỉ mỉ hoàn thành từng động tác có độ khó lớn theo yêu cầu của đạo diễn.
Vào lúc 12h30 đêm ngày 1/4/1993, trong khi đang quay cảnh đấu súng trong phim “Quạ” thì cây súng đạo cụ đã bất ngờ bắn ra đạn thật. Lý Quốc Hào bị trúng đạn phần bụng, bị mất máu nhiều dẫn đến tử vong, khi mới 28 tuổi.
Bi kịch của Lý Tiểu Long lại lần nữa diễn ra. Một ngôi sao võ thuật mới đang từ từ nổi lên đã bị cuốn theo gió đi như vậy. Tại sao cha con Lý Tiểu Long đang trong thời điểm khỏe mạnh cường tráng lại chết trẻ? Chúng ta hãy xem hành trình cuộc đời của cha Lý Tiểu Long.

Mộ cha con Lý Tiểu Long – Lý Quốc Hào. 
Cha Lý Tiểu Long là Lý Hải Tuyền chuyên bắt cóc giết người
Rất nhiều người cho rằng quê cha đất tổ của Lý Tiểu Long là ở Thuận Đức, Quảng Đông, nhưng thực ra là ở Nam Hải, Quảng Đông. Cha anh là Lý Hải Tuyền, quê gốc Cửu Giang, Nam Hải, vì hợp mưu bắt cóc mà chạy trốn đến Thuận Đức.
Lý Hải Tuyền là một kẻ ác bá, làm những việc như bắt cóc tống tiền, cướp của. Có một người giàu có có 5 người con bị bắt cóc, Lý Hải Tuyền đòi tiền chuộc theo đầu người. Nhưng người giàu có này chỉ chuộc mỗi đứa con trai trưởng về, không giao nộp tiền chuộc cho 4 người con kia. Kết quả là Lý Hải Tuyền đã giết chết cả 4 người con của người giàu có kia. Lý Hải Tuyền sợ người con trai trưởng vừa mới lớn của người giàu có kia sau này tìm đến báo thù, nên trốn chạy đến Thuận Đức để lẩn tránh.
Cô Lý Trân, người thôn Đôn Cân, Cửu Giang, Nam Hải đã công khai chứng thực rằng Lý Hải Tuyền không chỉ bắt cóc giết người gia đình kể trên. Lý Hải Tuyền tham gia bắt cóc trẻ em và giết người khi không có tiền chuộc, em trai của cô là Lý Tả Luân chính là trẻ bị bọn cướp đánh chết, khi đó mới 4 tuổi.
Thời kỳ chiến tranh thế giới thứ 2, nước Nhật chiếm phần lớn Trung Quốc. Lý Hải Tuyền từ Quảng Đông chạy trốn đến Hồng Kông. Sau đó quân Nhật tiến hành tấn công Hồng Kông bằng thế gọng kìm, tình hình rất nguy cấp. Lý Hải Tuyền lòng hoảng hốt dắt gia quyến đến nước Mỹ tránh xa khói lửa chiến tranh. Do đó, Lý Tiểu Long được sinh ra ở Mỹ, là người Mỹ gốc Hoa.
Sau này, Lý Hải Tuyền lại trở về Hồng Kông tìm cơ hội phát triển, diễn kịch. Năm 1948, Lý Hải Tuyền cùng với Liêu Hiệp Hoài, Bán Nhật An, Diệp Phất Nhược được mọi người gọi là “Tứ đại danh kép của Việt kịch”.
Nhân quả báo ứng?
Người Á Đông nói nhân quả, tổ tiên tích đức con cháu hưởng phúc, tổ tiên thất đức, tổn đức thì con cháu chịu tai họa, đều là sự thực. Con người làm việc xấu sẽ tổn đức và nhận lấy nghiệp lực, mà nghiệp lực có thể dẫn đến hiện tượng con người chịu tai họa hay bệnh tật đời này hoặc đời sau trong luân hồi. Cũng có khi nghiệp lực của tổ tiên tích tụ lại cho con cháu đời sau, tạo thành các ma nạn cho cháu con.
Rất nhiều câu nói của người xưa như “tự làm tự chịu”, “gây nghiệp ác thì không thể sống được”, “trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu”, “gieo cây nào gặt cây đó”, “ở hiền gặp lành, ở dữ gặp ác”, “thiện có thiện báo, ác có ác báo”, “nhân đời trước là quả đời sau”, “nhân quả báo ứng”… đều xoay quanh quy luật này.
Có người cho rằng Lý Tiểu Long truy cầu tốc độ và luyện tập hà khắc, đã dùng sức quá mức mà tiêu trước sinh mệnh, đó là một nguyên nhân khiến anh ra đi khi tuổi vẫn còn xanh. Thực ra không phải vậy. Lý Tiểu Long hơn 10 tuổi đã theo học Vịnh Xuân Quyền của sư phụ Diệp Vấn, từ dáng đi của Lý Tiểu Long, sư phụ Diệp Vấn đã có lời dự đoán rằng Lý Tiểu Long tướng đoản mệnh, không sống lâu được. Sau này, Lý Tiểu Long luôn luôn chú ý sửa đổi tư thế đi đứng. Khi Lý Tiểu Long từ nước Mỹ trở lại Hồng Kông, anh có nói với sư phụ Diệp Vấn rằng anh đã sửa được thế đi, bây giờ khi đi gót chân đã chạm đất rồi. Vào thập niên 60 khoảng trước và sau khi Lý Tiểu Long sáng lập ra Tiệt quyền đạo ở nước Mỹ, anh thực sự đã huấn luyện cường độ cao, nhưng đó không phải là nguyên nhân đoản mệnh.
Cường độ huấn luyện của Vịnh Xuân quyền không lớn (đó cũng là một trong các nguyên nhân mà người ta coi Vịnh Xuân quyền là ‘quyền đàn bà’). Lời dự đoán của sư phụ Diệp Vấn khi Lý Tiểu Long hơn 10 tuổi đã trở thành sấm ngữ. Có thể thấy nguyên nhân chết trẻ không phải ở huấn luyện cường độ cao, mà là nhân quả báo ứng chủ đạo hết thảy.
Lý Tiểu Long chết trẻ khi đang tráng niên, nguyên nhân còn chưa có lời giải. Nếu nói đó là ngẫu nhiên, thế thì con trai anh là Lý Quốc Hào đóng phim bị súng đạo cụ bắn chết cũng là ngẫu nhiên sao? Hai lần ngẫu nhiên thì không phải là ngẫu nhiên nữa mà là tất nhiên. Hơn nữa, cháu trai của Lý Tiểu Long mắc một số căn bệnh. Những sự việc bất hạnh này nối tiếp nhau xuất hiện thì khả năng ngẫu nhiên là rất thấp.
Văn hóa truyền thống phương Đông coi trọng giáo hóa đạo đức, dạy người hướng thiện, thuận theo Thiên lý. Khi văn hóa truyền thống bị phá hoại, con người không tin vào thiện ác hữu báo, dám đấu với Trời, đấu với Đất, đấu với người, đấu đá tranh giành lẫn nhau, cho rằng con người chỉ là cục thịt, là protein, chết đi thì tiêu mất không còn gì, chết là hết tất cả, có gì phải lo lắng đâu. Thế nên con người phóng túng làm càn, việc ác gì cũng dám làm, ngày càng tiến dần vào vực sâu tội ác, khiến đạo đức xã hội tiêu tan, khiến tội ác hoành hành trong mọi ngóc ngách cuộc sống.
Phép tắc nhân quả, thiện ác hữu báo là Thiên lý tồn tại khách quan, không bị thay đổi bởi ý chí chủ quan của con người, sẽ không vì con người cho rằng nó không tồn tại mà biến mất. Người xưa nói: “Xưa nay vận Trời đều tuần hoàn, báo ứng rõ ràng giữa thiện ác”. Vạn sự đều có nhân quả, “người đang làm Trời đang nhìn”. Từ xưa đến nay, thiện ác báo ứng không mảy may sai lệch, chỉ đến sớm hay đến muộn mà thôi. Cha Lý Tiểu Long là Lý Hải Tuyền giết người gây họa cho con cháu đời sau. Cha con Lý Tiểu Long đang sức dài vai rộng, chết ở tuổi thanh niên, tráng niên là minh chứng cho chúng ta thấy: Thiện ác ắt có báo ứng.
Theo Vision Times

-

Đức Phật là thầy dẫn đường bậc mô phạm đạo đức
Sự trải nghiệm trong suốt quá trình tụ tập của biết bao nhiêu bậc hiền Thánh đã đi trước, để lại cho chúng ta những lời chỉ dạy rất bổ ích, chúng tôi xin chân thành trình bày ra đây bằng tất cả tấm lòng với trái tim yêu thương và hiểu biết.
Sự sống của con người là luôn tìm kiếm hạnh phúc cho thể xác lẫn tinh thần, ai muốn tìm về cội nguồn của an lạc hạnh phúc thì phải tìm hiểu lại lịch sử, xem đức Phật là gì? Là ai? Chúng ta muốn học hỏi và bắt chước đi theo con đường giác ngộ, giải thoát, thì ta phải biết đức Phật là ai trước khi tin Phật. Tin như như vậy là niềm tin chân chính vì có tìm hiểu, học hỏi và tu tập. Phật có phải là con người lịch sử, hay là một đấng thần linh thượng đế như người cổ xưa đã gán cho Ngài, hoặc Ngài là một nhân vật huyền thoại không có thật.
Phật là danh từ chung, nói cho đủ là Phật-đà, nói gọn lại là Phật. Phật là người giác ngộ, là người tỉnh thức, là người vì lợi ích tha nhân, vì sự sống của con người, giúp cho mọi người biết cách làm chủ bản thân, tin sâu nhân quả, tin chính mình chủ của bao điều họa phúc.
Trước khi thành Phật, Ngài là hoàng thái tử chuẩn bị kế thừa ngôi vua ở đất nước Ấn Độ. Ý thức được sự khổ đau của nhân loại vì bị sinh – già – bệnh – chết, Ngài chấp nhận từ bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, thần dân thiên hạ, để ra đi tìm cầu chân lý, giúp cho mọi người thoát khỏi sinh - già – bệnh – chết.
Sau 5 năm học và tu với hai vị đạo sư nổi tiếng thời bấy giờ. Ngài vẫn không hết được phiền muộn, khổ đau do tham – sân – si chi phối. Nghe nói lối tu khổ hạnh ép xác, hành hạ thân thể sẽ thành tựu đạo quả, nên Ngài kiên trì, bền bỉ thực hành liên tục sáu năm, cho đến khi thân thể chỉ còn lại da bọc xương, và cuối cùng Ngài ngất xỉu.
Nhờ một cô thôn nữ cúng dường bát sữa, Ngài tỉnh lại và tìm ra lối tu trung đạo, ăn uống vừa đủ để nuôi sống thân này, và dùng trí tuệ để phá tan vô minh phiền não. Cuối cùng, Ngài đã biết cách làm chủ bản thân, an nhiên, tự tại giải thoát, không còn bị mọi dục vọng trên cõi đời này làm lung lạc, và thành Phật.
Điểm đặc biệt ở đây là, Ngài là một con người bằng xương bằng thịt, giống như tất cả mọi người chúng ta. Ngài cũng được sinh ra từ bụng mẹ, lớn lên Ngài vẫn có vợ, có con như tất cả mọi người. Ngài là một con người đi tu, và cuối cùng thành Phật để cứu độ chúng sinh. Chúng ta cũng là con người, nếu ai chịu tu theo lời Ngài chỉ dạy, thì cũng sẽ thành Phật trong tương lai.
Trong các bản kinh Ngài thường nói rằng “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”. Ai trong chúng ta đều có khả năng thành Phật như Ngài, bởi vì Phật là tánh biết sáng suốt ngay nơi thân mỗi người, chỉ vì chúng ta chẳng chịu thừa nhận, nên đời đời kiếp kiếp sống trong đau khổ, lầm mê. Phật là con người như tất cả mọi người, vẫn sống làm việc, phục vụ vì lợi ích chúng sinh, không tham lam, sân hận, si mê, dính mắc như người đời.
Thế cho nên, trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Bồ-tát Thường Bất Khinh dù bị người mắng chửi, đánh đập, nhưng vẫn không buồn, không giận, không oán, không ghét, mà còn nói rằng “tôi không dám khinh các người, vì các người đều sẽ thành Phật”. Bồ-tát Thường Bất Khinh suốt cả cuộc đời chỉ làm một việc nhắc nhở mọi người đều có tính Phật sáng suốt.
Người Phật tử hãy nên nhớ, hạnh phúc trong cuộc sống đời người không thể kéo dài mãi mãi vì bản chất của nó là vô thường đổi thay.
Thất bại là mẹ của thành công với những người có ý chí và quyết tâm cao độ, chính sự thất bại đã dạy cho ta những bài học kinh nghiệm để làm mới lại chính mình.
Thực tế cho chúng ta thấy, đức Phật là người dám buông xả hết tất cả những gì thế gian mong muốn, để dấn thân đóng góp, phục vụ, giúp đỡ, sẻ chia không biết mệt mỏi, nhàm chán bằng trái tim yêu thương, hiểu biết, giúp con người biết cách làm chủ bản thân, cùng nhau chia vui sớt khổ bằng tình người trong cuộc sống.
Về khía cạnh tâm linh. Phật giúp cho ta nhận ra tính biết sáng suốt đang tiềm ẩn nơi mỗi người, nương nơi mắt thì thấy rõ ràng không lầm lẫn, thấy tức là biết, biết mà không dính mắc, không bị dòng đời cuốn trôi, vậy không phải Phật tính là gì? Tai - mũi – lưỡi – thân – ý cũng lại như thế, ai nhận ra và trở về sống với chân tâm của mình thì đời đời kiếp kiếp sẽ thoát khỏi kiếp sống trong đau khổ lầm mê.
Làm phước, bố thí, cúng dường, giúp đỡ, chia sẻ, niệm Phật, tụng kinh, thiền quán, hồi hướng công đức cho tất cả chúng sanh, đó là những tiêu chí đầu tiên Phật dạy chúng ta. Nhờ vào công đức của những việc làm trên, ta sẽ giảm bớt lòng tham, ích kỷ, nhỏ nhoi, ti tiện.
Nhân quả tốt khi ta đã gieo, cho dù chúng ta không thấy kết quả ngay bây giờ, nhưng nó đang giúp chúng ta ngày càng sống tốt hơn. Những gì chúng ta đang thấy không phải thước đo chính xác của thực tại mà đó chỉ là ảo ảnh tạm thời trong dòng chảy của cuộc đời.
Thấy rõ sự sống của mình không thể tách rời nhau mà phải nương vào nhau, nên mọi người cần có trách nhiệm thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau bằng tình người trong cuộc sống với tinh thần chia vui, sớt khổ.
Tụng kinh nhằm mục đích hiểu lời Phật dạy, để ta biết được điều này, nhằm chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại.
Tụng kinh để thấm nhuần lời Phật dạy, có ích thiết thực trong việc hành trì, gội rửa thân tâm chúng ta ngày càng trong sạch hơn. Tụng kinh là cơ hội tốt nhất để ta học hỏi, tìm hiểu, tư duy, quán chiếu, soi xét lại chính mình. Nhờ thường xuyên nghiệm xét lời Phật dạy, chúng ta thấy biết rõ ràng chỗ si mê chấp ngã, làm tổn hại cho người và vật.
Chúng ta tụng kinh không phải để cầu nguyện, van xin Phật hay Bồ Tát giúp tai qua nạn khỏi, gia đình được hạnh phúc, làm ăn được khấm khá.
Mình tụng kinh để ba nghiệp thân-miệng-ý hằng thanh tịnh, nhờ thân ngồi ngay ngắn, miệng tụng lời Phật dạy, ý nhiếp tâm vào lời kinh, nhờ vậy ta cảm thấy bình yên, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ.
Niệm Phật giúp ta nhớ nghĩ chân chính, không nhớ nghĩ lăng xăng, có hại cho mình và người. Niệm Phật tức nhớ Phật. Tâm Phật được được thanh tịnh, sáng suốt, thấy biết đúng như thật.
Niệm Phật là quá trình chuyển hóa ba nghiệp ác thành ba nghiệp thiện, có công năng dừng lắng được điều ác chưa sinh, không cho phát sinh, điều ác đã sinh, không cho tái phát. Niệm Phật để nhớ nghĩ việc làm tốt của Ngài để chúng ta cố gắng thực hành theo, nhằm soi sáng muôn loài vật.
Thiền quán để chúng ta thấy rõ sự sai biệt trong cuộc đời đều do con người tạo lấy, giàu nghèo, tốt xấu, nên hư, phải quấy, thành bại, được mất, hơn thua, thông minh, dốt nát, sống thọ, chết yểu đều có nguyên nhân sâu xa của nó. Người Phật tử chân chính ngoài việc học hỏi còn phải dùng thiền quán để soi sáng muôn loài vật.
Nhờ quán chiếu sâu xa lời Phật dạy, giúp chúng ta dễ dàng cảm thông và tha thứ, bao dung và độ lượng, giúp đỡ và sẻ chia, an ủi và nâng đỡ bằng trái tim yêu thương và hiểu biết, trong tinh thần đoàn kết hòa hợp với tấm lòng vô ngã, vị tha, không thấy ai là kẻ thù của mình, chỉ có người chưa thông cảm với nhau mà thôi.
Chúng ta không thể thay đổi những gì mình mong muốn, nếu không dám đối mặt để tìm ra nguyên nhân mà tìm cách chuyển hóa các bế tắc cuộc đời. Quá khứ đã qua dù tốt hay xấu nó không phải là của mình vì ta đang sống trong giờ phút hiện tại bằng ý nghĩ, lời nói và hành động vì lợi ích nhân loại.
Nhờ hiểu và quán chiếu lời Phật dạy, chúng ta biết cách buông xả mọi chấp trước do bám víu vào xác thân này, mà có cuộc sống bình yên, hạnh phúc, và cuối cùng là phát nguyện hồi hướng.
Bài viết: "Đức Phật là thầy dẫn đường bậc mô phạm đạo đức"
Thích Đạt Ma Phổ Giác/ Vườn hoa Phật giáo

Friday, June 21, 2019

PHẠM LÃI & TÂY THI VÀ MỘT THỜI TAO LOẠN

alt
Trước khi vô đề tài này, tôi xin nêu lên một hai điều mà đã từ lâu, một số chúng ta đã hiểu lầm hay nhìn không đúng thực tế về một số giai thoại lịch sử của nước Tầu ngày xưa:
Thứ nhất: trong “Tứ Đại Mỹ Nhân” của nước Tầu xưa gồm: Tây Thi, Chiêu Quân, Điêu Thuyền, Dương Qúy Phi… thì Tây Thi là người luôn luôn đứng đầu sổ, vậy Tây Thi phải là người đẹp nhất trong “Tứ đại mỹ nhân”. Điều này có lẽ không đúng vì hai lý do sau đây:
 – Sự xắp xếp ai trước ai sau là theo diễn biến trước sau của lịch sử: Tây Thi sống vào thời Xuân Thu (thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên)- Vương Chiêu Quân: vào thời Tây Hán (thế kỷ thứ 1 TCN – Điêu thuyền: thời Tam Quốc (thế kỷ thứ 2 sau CN) và Dương Qúy Phi (thế kỷ thứ 8 sau CN): như vậy, ta thấy rõ ràng là sự sắp xếp này là theo niên biểu trước sau của lịch sử mà thôi 
 – Nếu ta nói là bà này đẹp hơn bà kia, thì ít ra ta phải để hai bà đứng cạnh nhau để so sánh (kiểu như thi hoa hậu ngày nay vậy). Tuy nhiên, khi Vương Chiêu Quân sinh ra thì Tây Thi đã ra người thiên cổ từ lâu, và cái kẻ có diễm phúc được nhìn thấy Tây Thi thì đã khuất bóng từ vài thế kỷ trước khi Vương Chiêu Quân ra đời. Do đó, ai là người có thể nói là Tây Thi đẹp hơn Chiêu Quân hay Dương Qúy Phi? Vậy thì khi chuyện nhìn thấy để so sánh đã không có, thì chuyện nói người này đẹp hơn người kia chỉ là chuyện tưởng tượng mà thôi. Ấy vậy mà các thi nhân nước Tầu qua các triều đại, hầu như không thời nào là thiếu những thi sĩ ca tụng sắc đẹp Tây Thi: đời Đường (thế kỷ thứ 8) có Lý Bạch, Bạch Cư Dị, Vương Duy…, đời Tống (thế kỷ thứ 11) có Tô Đông Pha.v.v. Các ông này đều làm thơ theo trí tưởng tượng của các ông về một người đẹp trong lịch sử. Họ có được nhìn thấy Tây Thi bao giờ đâu?
Thứ hai: Chuyện trầm ngư, lạc nhạn… (chim sa, cá lặn): trong tứ đại mỹ nhân của Trung Hoa, thì Tây Thi được coi như là người có sắc đẹp “trầm ngư” (cá thấy nàng đẹp quá… nên lặn sâu đáy nước). Chiêu Quân: lạc nhạn (chim thấy nàng, mải ngắm nhìn ngưng vỗ cánh và rơi xuống đất). Điêu Thuyền: bế nguyệt – nàng đẹp đến nỗi trăng phải thẹn và núp vào mây. Và Dương Qúy Phi: Tu hoa (khi nàng ngắm hoa thì hoa rũ héo vì hổ thẹn trước sắc đẹp của nàng!). Tất cả những mô tả trên đây đều là những tưởng tượng thái quá của những anh Tầu thời xưa, nhưng ngặt một nỗi là các cụ ta xưa đều nhắc lại bằng những câu như: Hoa nhường, nguyệt thẹn, chim sa, cá lặn v.v Xin thưa: tất cả đều là hoang tưởng. Chuyện Tây Thi có sắc đẹp “trầm ngư”, thì hãy thử hỏi khi ta ra bờ sông, cá thấy bóng người đều lặn xa. Như vậy là ta có vẻ đẹp “trầm ngư” của Tây Thi chăng? Cũng như khi ta đụng vào cây “xấu hổ” (cây hoa trinh nữ) thì cây này cụp xuống, vậy thì ta cũng đẹp như Dương Qúy Phi? Do đó, ta hiểu là những mô tả này đều là mộng của mấy anh Tầu xưa mà thôi
Thứ ba: Chuyện Phạm Lãi & Tây Thi: sau binh biến trở về, thì hai người cùng nhau hưởng cảnh thần tiên của Thái Hồ (nơi có 90 đảo nhỏ, và thành Tô Châu soi bóng; Thái Hồ ở giữa hai tỉnh Giang Tô và Chiết Giang ngày nay) và không về với thế giới trần tục: chuyện này cũng lại là mộng nữa. Lý do tại sao thì xin đọc phần dưới bài
 Bối cảnh lịch sử của thời Phạm Lãi & Tây Thi:
 Đời Xuân Thu (722-481 tr CN): đây là một thời đại hỗn loạn với sự suy đồi của nhà Chu (hoàng đế Tầu thời đó) và nước Tầu gồm nhiều nước chư hầu hợp lại. Nhà Chu có danh nhưng không có thực quyền: các chư hầu người xưng hùng, kẻ xưng bá đánh nhau không ngớt. Nhân dân phải đi xâu, đi lính, và chiến tranh liên miên. Ông Khổng Tử sống vào thời binh đao này, làm ra cuốn sử nước Lỗ (là một chư hầu) kể chuyện thời gian đó, ông gọi tên sách là “Xuân Thu”. Người sau nhân đó gọi thời đại này là thời “Xuân Thu” (tức là cùng thời với ông Khổng Tử). Trong thời loạn lạc, ta hãy kéo trọng tâm tầm nhìn của ta vào hai chư hầu ở phía đông nước Tầu quanh vùng Thượng Hải ngày nay là: Ngô (nay thuộc tỉnh Giang Tô với thành phố Tô Châu) và Việt (nay thuộc tỉnh Chiết Giang với thành phố Hàng Châu). (Chú thích: xin nêu rõ nước Việt này không phải là nước Việt của chúng ta, vì vào thời đại này nước ta có tên là Văn Lang, gồm các bộ: Giao Chỉ, Cửu Chân, Việt Thường…, do họ Hồng Bàng (2879- 258 tr CN) với các vua Hùng trị vì).
 Năm 496 tr CN: vua Ngô là Hạp Lư nghe tin vua Việt tên là Doãn Thường chết, bèn đem quân đánh Việt. Vua Việt là Câu Tiễn (con Doãn Thường), sai quân quyết tử ra khiêu chiến. 300 quân quyết tử cầm dao ngắn, chỏ vào cổ mình, rồi dàn thành 3 hàng, tiến vào trận tuyến quân Ngô, thét to, rồi tự đâm vào cổ. Quân Ngô bàng hoàng lấy làm quái lạ, mải nhìn rồi hỏi lẫn nau, mà không hiểu đây chỉ là một màn tự sát tập thể để cho quân Ngô chú ý theo dõi và không phòng bị: trong khoảng khắc quân Việt nổi hiệu trống và cầm dao ngắn, cắp mộc xông vào đánh úp. Quân Ngô hoảng hốt và trở thành rối loạn. Lúc này Câu Tiễn – vua Việt – đem đại binh tràn qua. Quân Ngô bị thua to ở thành Huệ Lý, vua Ngô Hạp Lư bị tên bắn trúng. Hạp Lư, trong lúc sắp chết, trối trăn với con là Phù Sai: Phải trả thù này. Việc này có thể coi là khởi thủy cho một mối thù đưa tới sự tiêu diệt một nước trong cổ sử 
Phạm Lãi (517 trCN – 448 trCN): Phạm Lãi (tên tự là Thiếu Bá) là một chính khách lỗi lạc, một kinh tế gia, một người làm từ thiện đầu tiên và lớn nhất trong lịch sử Trung quốc, một nhà quân sự đại tài, trên thông thiên văn dưới hiểu điạ lý. Ông là cha đẻ của ngành thương nghiệp Trung quốc: điều đáng chú ý là nhờ thương nghiệp, ông trở nên giầu có 3 lần – và cả 3 lần, ông đều mang hết tài sản hiến cho từ thiện. 
Dưới thời Việt vương Câu Tiễn, Phạm Lãi cùng với Văn Chủng đều làm Đại Phu (quan đầu triều) và là quân sư cho Câu Tiễn.
Mùa xuân năm 493, Ngô Phù Sai đã hết tang cha, mới cáo nhà Thái Miếu, rồi bái Ngũ Viên (tức Ngũ Tử Tư) làm đại tướng, Bá Hi làm phó tướng, cử đại binh qua đường thủy Thái Hồ sang đánh nước Việt. Vua Việt là Câu Tiễn họp triều thần để thương nghị. Đại phu Phạm Lãi tâu: “Nước Ngô bị ta giết mất vua, lập chí báo thù 3 năm nay rồi, khí lực đang ngất trời, ta khó lòng mà địch nổi. Cách tốt nhất là cố thủ mà thôi.” Đại phu Văn Chủng cũng khuyên là nên hòa
 Câu Tiễn nói “Nước Ngô là kẻ thù của ta, đem quân sang đánh. Nay nếu ta không đánh lại thì tưởng cũng là hèn lắm ru?”. Câu Tiễn đem 3 vạn quân ra đón đánh quân Ngô ở dưới núi Tiêu Sơn. Lúc mới giao chiến, Quân Ngô giả lui, Câu Tiễn thừa thắng tiến vào- thì gặp đại quân của Phù Sai. Hai bên giàn trận quyết chiến. Phù Sai đứng ở mũi thuyền, tay cầm dùi trống đích thân đốc suất quân sĩ. Tướng sĩ hăng hái quên mình xông lên trước. Lúc đó gió bắc nổi lên, sóng xô dữ dội đưa thuyền của quân Ngô vun vút về Nam. Ngũ Viên và Bá Hi mỗi người một chiếc thuyền lớn giương buồm thuận gió mà tiến. Quân Ngô đem cung nỏ bắn như mưa. Quân Việt từ phía Nam, bị ngược gió, thua to bỏ chạy, quân sĩ chết không biết bao nhiêu mà kể. Câu Tiễn và tàn quân – lúc đó chỉ còn 5 ngàn người – chạy về cố thủ ở núi Cối Kê (nay thuộc phủ Thiệu Hưng- tỉnh Chiết Giang). Trong lúc khốn cùng ông thở dài mà than rằng “Bởi ta không nghe lời Phạm Lãi và Văn Chủng nên mới nên nông nỗi này”. Sau đó muốn giết hết vợ con, đốt của cải châu báu, xông ra đánh một trận để tìm cái chết. Phạm Lãi can: “Kẻ nào hóa giải được tình hình nguy ngập là kẻ biết lòng người. Nhà vua hãy dùng lễ hậu để mua lòng người ta. Nếu người ta không nghe thì xin thân hành đến thờ người ta”. Văn Chủng tiến lên hiến kế: “Lúc này xin hòa cũng còn kịp. Thần biết phó tướng nước Ngô là Bá Hi là người tham của và mê sắc. Ta nên sang dinh Bá Hi khéo nói với hắn, để hắn chủ việc giảng hòa cho”. Câu Tiễn nghe theo và tức khắc sai sứ về đô thành tuyển 8 mỹ nữ trong cung, trang sức thật lịch sự và một nghìn nén vàng, gấp rút sai Văn chủng sang dinh Bá Hi xin yết kiến. Bá Hi nhận lễ vật cùng mỹ nữ và nhận lời giúp cho Văn Chủng được gặp vua Ngô.
Câu Tiễn chịu nhục nằm nhà đá 
Lúc vào chầu vua Ngô, Chủng lết đi bằng đầu gối, rồi đập đầu xuống đất mà nói: “Kẻ bề tôi của bệ hạ là Câu Tiễn, sai bồi thần là Văn Chủng tâu bệ hạ là Câu Tiễn xin làm tôi nước Ngô, vợ Câu Tiễn xin làm thiếp của bệ hạ. Nếu bệ hạ không tha cho thì Câu Tiễn sẽ giết vợ con, đốt tất cả châu báu, đem 5 ngàn quân ra đánh để chịu chết.” Phù Sai nói: “Nay vua ngươi đã xin làm tôi Ngô, vậy có chịu theo ta về Ngô hay không?” Chủng xụp lậy và tâu: “Kẻ đã xin làm tôi thì sống chết ở trong tay nhà vua, thế nào cũng xin vâng mệnh”. Vua Ngô sắp ưng thuận, thì tướng quốc nước Ngô là Ngũ Tử Tư tiến ra can: “Trời đem nước Việt cho nước Ngô, nếu nhà vua không diệt họ hôm nay thì sau này sẽ hối hận”. Phù Sai không nghe lời can của Ngũ Tử Tư, tha cho Câu Tiễn, cho ông về nước sửa soạn ngọc ngà châu báu sang cống và hẹn tháng 5 năm đó (493 tr CN) thì vợ chồng Câu Tiễn phải sang Ngô- nếu không thì sẽ đem đại quân diệt nước Việt. Sau đó sai làm một cái nhà đá bên cạnh mộ Hạp Lư, cho vợ chồng Câu Tiễn ở đấy, lột mũ áo đi mà cho mặc quần áo vải thô, bắt giữ việc chăn ngựạ. Mỗi khi Phù Sai đi đâu lại bắt Câu Tiễn cầm roi ngựa, đi đất ở trước xe. Người nước Ngô đứng ở ven đường chỉ trỏ mà bảo nhau rằng: Đấy là vua nước Việt. Câu Tiễn cúi đầu mà đi.
 Tiễn ở nhà đá, Phạm Lãi sớm hôm hầu hạ không rời một bước. Một hôm Phù Sai triệu Câu Tiễn vào yết kiến. Tiễn sụp lạy, Phạm Lãi đứng đàng sau. Phù Sai bảo Phạm Lãi rằng: “Ta nghe nói danh hiền không làm quan ở một nước diệt vong. Nay Câu Tiễn vô đạo, nước sắp bị diệt, chịu nhục trong tù. Vậy ta tha tội cho nhà ngươi, và nếu ngươi bỏ Việt theo Ngô, thì ta sẽ trọng dụng. Đó là bỏ nơi tối tăm mà tìm về với ánh sáng. vậy nhà ngươi nghĩ sao?”. Bấy giờ Câu Tiễn phục ở dưới đất khóc ngất, chỉ sợ Phạm Lãi theo Ngô.
 Phạm Lãi xụp lậy và tâu Phù Sai rằng: “Kẻ mất nước không dám nói hay, tướng đã thua không dám nói giỏi. Tôi là kẻ bất trung ở nước Việt đã không biết giúp chúa công tôi, để đến nỗi đắc tội với đại vương. Nay đại vương đã tha cho không giết mà để cho vua tôi được gần nhau, sớm hôm cùng hầu hạ đại vương. Như vậy là tôi được mãn nguyện rồi, đâu còn dám mong phú qúy!”.
Phù Sai biết không lay chuyển được Lãi, truyền cho vua tôi được trở về nhà đá. 
 Sau 2 năm bỏ Câu Tiễn trong nhà đá, một hôm Phù Sai lên Cô Tô đài (nay thuộc Tô Châu), thấy vợ chồng Câu Tiễn ngồi cạnh đống phân ngựa, Phạm Lãi cầm chổi đứng hầu một bên, mới ngoảnh lại bảo quan Thái tể Bá Hi rằng: “Họ chẳng qua là người nước nhỏ, vậy mà trong khi hoạn nạn, vẫn giữ được lễ vua tôi, ta rất có lòng kính trọng, nay ta muốn tha cho vua Việt về nước”. Tướng quốc Ngũ Tử Tư nghe Phù Sai sắp thả Câu Tiễn, vội vào yết kiến và tâu rằng: “Xưa Vua Kiệt nhà Hạ giam vua Thang mà không giết, vua Trụ nhà Thương giam Văn Vương rồi tha, đến lúc đạo trời quay lại, thì vua Kiệt bị vua Thang đuổi, Trụ bị Văn Vương nhà Chu diệt. Nay đại vương giam Câu Tiễn mà không giết, lại có ý thả, tôi e rằng lại sắp có họa như nhà Hạ và nhà Thương”. Phù Sai không nghe vì tin rằng vua Việt thực lòng phục tùng mình như nghĩa chúa tôi và vài hôm sau thả vợ chồng Câu Tiễn cùng Phạm Lãi về nước.
Nung đúc mối thù: 
Khi Câu Tiễn về tới Việt, Văn Chủng đem triều thần và dân trong thành ra đón ở bến Chiết Giang. Câu Tiễn lòng bồi hồi nhìn cảnh xưa người cũ mà bật khóc, nói vài lời ủy lạo, rồi giục ngựa vào thành. Muốn ghi sâu trong lòng cái nhục ở Cối kê, Câu Tiễn muốn thiên đô ra đấy để luôn luôn nhớ tới, bèn giao việc này cho Phạm Lãi lo liệu. Khi thành Cối Kê xây xong, Câu Tiễn dời đô ra nơi đây. Nay Phạm Lãi làm tướng quốc, tâu vua rằng: “Xin chúa công chớ khi nào quên cái nhục ở nhà đá, thì mới có cơ báo thù được nước Ngô”. Câu Tiễn ngày đêm muốn báo thù, cho nên khổ mình, nhọc sức, sai treo một quả mật ở chỗ ngồi, khi ngồi hay nằm đều nhìn mật, khi uống hay ăn đều nếm mật. Câu Tiễn thường tự nói với mình: “Mày quên cái nhục ở Cối kê rồi hay sao?”. Mùa đông thì ngồi gần nước băng, mùa hạ thì ngồi gần đống lửa, xếp củi mà nằm lên trên chứ không nằm giường nệm (Tiễn thực hành đúng mấy chữ “nằm gai nếm mật”). Trong 7 năm, chưa tháng nào, Câu Tiễn không sai sứ sang triều cống nước Ngô. Nhân Phù Sai trong khi đắc chí, muốn xây thêm cung thất để lấy chỗ vui chơi, nên cho xây đài Cô Tô lên cao để có thể từ đây nhìn ra trăm dậm, và dự trù đài có thể chứa cả nghìn người, rồi đưa nghệ nhân mỹ nữ vô đây để ca múa mua vui. Đài cần gỗ qúy, thì Văn Chủng khuyên Câu Tiễn gởi ba ngàn thợ khéo đi vô rừng, tìm những cây gỗ lớn và qúy nhất của nước Việt sang cống Phù Sai. Văn Chủng nhân chuyện này tâu: “Con cá lặn dưới vực sâu, chỉ chết vì miếng mồi thơm. Nay chúa công muốn báo thù nước Ngô thì phải tìm mồi xem họ thích cái gì rồi mới có thể trị nổi. Nay tôi có 7 thuật để đánh Ngô. 7 thuật này là: 1. Chịu tốn của cải để đút lót vua Ngô 2. Xuất tiền mua lúa Ngô, để cho Ngô thiếu lương thực 3.Dâng mỹ nữ để mê hoặc vua Ngô 4. Đút lót cho các nịnh thần 5. Xui dục người can gián để gây mâu thuẫn 6. Làm cho nước giàu để bồi đắp võ lực 7. Tích quân nhu, luyện sĩ tốt, chờ lúc Ngô kiệt quệ thì động binh”.
 Câu Tiễn nói: “Hôm trước quan Đại phu khuyên nên đem thợ khéo gỗ tốt sang dâng để cho hắn xây cung thất tốn hại tiền của, làm lao lực dân chúng, làm dân oán hận. Nay chúng xây đài to, cần mỹ nữ để mua vui trên đài thì ta nên làm sao?”, Chủng tâu: “Tôi có một kế, có thể xem mặt hết con gái trong nước. Xin chúa công phái một trăm nội thị đi cùng với bọn thầy tướng, giả cách đi xem tướng khắp nơi, thấy mỹ nữ thì lấy tên và chỗ ở. Dùng cách này mà chọn thì sẽ không thiếu gì mỹ nữ”. Câu Tiễn theo kế ấy, mới trong nửa năm mà đã tuyển được hai nghìn mỹ nữ, trong số này có Tây Thi và Trịnh Đán
Tây Thi, cô gái Trữ La Thôn
 Tây Thi tên thật là Thi Di Quang, sinh năm 506 Tr CN tại thôn Trữ la (nay thuộc phủ Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang). Trữ La có hai thôn: thôn Đông và thôn Tây. Tây thi là người ở thôn Tây, nên gọi là Tây Thi- Nàng sinh ra trong một gia đình nghèo khó, cha nuôi tằm ươm tơ, mẹ thì giặt lụa mưu sinh. Tây Thi lớn lên ở chốn sơn khê song hương sắc tuyệt trần. Vì gia cảnh khó khăn nên quanh năm suốt tháng, nàng phải mặc xiêm y bằng vải bố, nhưng vẫn không thể che lấp được vẻ đẹp hiếm có. Nơi thôn Trữ la, có con suối gọi là suối Hoán Sa, bên trong suối có tảng đá lớn cũng gọi là đá Hoán sa, nới Tây thi cùng các cô gái trong thôn giặt lụa tại đây.
Lúc bấy giờ, Câu Tiễn nghe nội thị về báo là có người đẹp nghiêng nước đang sinh sống tại Trữ la thôn, bèn phái Phạm Lãi đem một trăm nén vàng đón về, ra lệnh cho nàng bỏ đồ vải bố, mặc đồ the lụa, ngồi xe có màn phủ. Người trong thành Cối Kê nghe tiếng có mỹ nữ, ai cũng muốn xem mặt, tranh nhau đổ ra ngoài làm đường phố chật ních. Phạm Lãi để Tây Thi và Trịnh Đán ở ngoài quán xá, rồi truyền dụ rằng ai muốn xem mặt mỹ nữ phải nộp một đồng tiền. Chỉ trong một lúc mà tiền bỏ đầy quỹ. Hai nàng trèo lên lầu, đứng tựa vào bao lan, từ dưới trông lên, khác nào tiên nữ đứng trên không. Tây Thi và Trịnh Đán ở lại ngoại thành 3 ngày, tiền thu được rồi bỏ vô kho không biết bao nhiêu mà kể. Từ ngày đó cũng như về sau, sắc đẹp của Tây Thi (cũng như Trịnh Đán) được truyền miệng đi khắp nước Việt và ra ngoài biên cương. Câu Tiễn cho hai mỹ nữ ở riêng tại Thổ Thành, rồi sai một nhạc sư già dậy hát múa. Sau ba năm rèn luyện tác phong qúy phái và học cách làm vừa lòng Phù Sai tại Việt cung Cối Kê, Tây Thi và Trịnh Đán được giao phó trọng trách là làm thê thiếp cho Phù Sai, đưa Phù Sai đắm chìm trong tửu sắc mà quên chính sự.
 Khi sang tới Ngô, Phạm Lãi tâu: “Vua của tôi là Câu Tiễn tìm được hai mỹ nhân. Hiện nước Việt gặp khó khăn nên không dám giữ lại hai nàng. Nay kính dâng lên đại vương, kẻo không thì ngọc tàn hoa úa”. Tướng quốc Ngô là Ngũ Tử Tư biết được dụng ý của Câu Tiễn, nên lên tiếng can ngăn: “Thần nghe nói ngũ sắc làm mắt ta mờ, ngũ âm làm tai ta điếc. Nhà Hạ mất vì Muội Hỷ, nhà Ân vong bởi Đắc Kỷ, Chu diệt bởi Bao Tự, nếu đại vương thâu nhận, e có tai họa về sau.” Tuy nhiên Phù Sai sau khi nhìn thấy Tây Thi thì lòng mê mẩn, quyết có nàng cho bằng được, nói với Tử Tư: “Người ta ai không thích cái đẹp? Câu Tiễn tìm được mỹ nữ, mà chịu đem tiến ta. Điều đó chứng tỏ Câu Tiễn một lòng trung thành với ta. Quan tướng quốc chớ nghi”. Rồi không nghe lời Ngũ Viên, mà nhận Tây Thi và Trịnh Đán làm thê thiếp. Phù Sai yêu cả hai, nhưng đẹp lộng lẫy và lôi cuốn lòng người, thì Tây Thi có phần hơn. Sau đó, tại Ngô cung, đúng như mong đợi, Tây Thi đã dắt Phù Sai vào mê cung tình ái mà sao lãng bổn phận làm vua của mình
Mê cung tình ái:
Tây Thi vô ở đài Cô Tô với Phù Sai lúc nàng ở tuổi đôi mươi nhưng mỗi khi đi chơi đâu, thì nghi vệ chẳng khác gì hoàng hậu. Trịnh Đán ở Ngô cung, ghen với Tây Thi, uất ức không nói ra được, sau một năm thì chết. Phù Sai là con người tình cảm, rất thương tiếc, cho đem chôn ở núi Hoàng Mao và lập đền thờ cúng. Vì yêu Tây Thi, Phù Sai sai quan đại phu Vương Tôn Hùng lập ra cung Quán Khuê ở núi Linh Nham, trang hoàng toàn bằng châu ngọc để làm chỗ cho Tây Thi ra chơi. Tại nơi đây, Phù Sai lập ra Hưởng Điệp Lang- đây là một hành lang, bên dưới đặt rất nhiều chum, trên lát ván. Nàng Tây thi đi guốc (tức là điệp) lượn ở trên, tiếng kêu như chuông, như nhạc cho nên gọi là hưởng điệp. Trên núi Linh Nham có hồ ngoạn hoa (Hồ xem hoa), ao Ngoạn nguyệt, giếng Ngô Vương để Tây Thi soi mặt. Trên núi có động Tây Thi để Phù Sai và Tây thi ngồi chơi ở nơi này (nay đá ngoài cửa động có chỗ sụt, người ta gọi là vết chân Tây Thi). Trên núi có Cầm Đài, là nơi Phù Sai nghe Tây Thi chơi đàn. Phù Sai sai người trồng hoa ở Hương sơn, là một giải nước ở phía nam núi Linh Nham, để Tây Thi và cung nhân chở thuyền đi hái hoa. Phù sai thường cùng tây Thi ra nghỉ mát tại Nam Loan. Đây là một cái vịnh độ hơn mười dậm, ba mặt là núi, chỉ có mặt nam trống không, trông như cửa núi mở ra bầu trời, mới đặt lại tên nơi này là Tiên Hạ Loan.
 Báo thù 
Phù Sai sau khi được Tây Thi, thì luôn luôn ở trên Cô Tô đài, bốn mùa vui chơi, rượu chè đàn địch mà quên hết việc nước. Chỉ cho Bá Hi và Vương Tôn Hùng được hầu ở bên cạnh. Mỗi khi Ngũ Viên xin yết kiến, Phù Sai đều từ chối không cho vào. Về phần nước Việt, thì Câu Tiễn cho Phạm Lãi ngày đêm luyên tập tướng sĩ quyết chờ ngày báo thù. Sau khi thắng Việt và được Việt triều cống thần phục, thì thanh thế nước Ngô gia tăng rất nhiều. Phù Sai muốn cất quân đánh Tề (ở phía bắc nước Ngô- thuộc Sơn Đông ngày nay) để hỏi tội là đã xin thần phục Ngô nhưng không chịu cống hiến. Câu Tiễn nghe tin Ngô sắp đánh Tề, nên sai đại phu Chư Kê Dĩnh đem ba nghìn quân Việt phụ giúp Ngô đánh Tề theo nghĩa thần tử với vua Ngô. Ngũ Viên nghe Phù Sai sắp cất quân đánh Tề, liều chết xin vào gặp vua và can rằng: “Đại vương tin nước Việt thần phục nước Ngô. Nay hạ thần nghe tin Việt dùng Phạm Lãi ngày đêm luyện tập quân sĩ, nay mai khi ta đánh Tề, Việt thừa cơ sang đánh nước ta thì nguy lắm. Nước Việt chính là bệnh trong tim ruột của ta, còn Tề chỉ như bệnh ghẻ ở bên ngoài. Nay đại vương đem quân đi xa, thì tôi nghĩ rằng chưa thắng được Tề mà phải khổ với Việt”. Phù Sai nổi giận nói rằng: “Ta sắp xuất quân mà lão tặc đã nói gở để cản trở quân ta, nghĩ có đáng tội không?”. Lúc bấy giờ Phù Sai đã có ý giết Ngũ Viên, nên sai Viên đem thư khai chiến sang Tề, trong thư dùng lời lẽ nặng nề kể tội nước Tề, chủ ý mượn tay Tề giết Viên để khỏi mang tiếng là giết công thần. Tuy nhiên Tề không giết Viên và sau khi giao chiến với quân Ngô, Tề thua to ở Ngải Lăng, và phải xin triều cống.
 Riêng Ngũ Viên, khi sang Tề đã biết là Phù Sai có ý giết mình, hơn nữa ông nghĩ nước Ngô chẳng còn tồn tại bao lâu nữa, nên mang theo người con trai sang gởi ở bên Tề để phòng khi nguy biến. Riêng ông, ông không nỡ bỏ Ngô, nên trở về đất nước. Đây là một quyết định sai lầm trong đời Ngũ Viên và đưa tới cái chết của chính ông. Phù Sai sau khi thắng trân trở về, biết Ngũ Viên có gởi một người con ở Tề, nên cho là ông có ý phản Ngô. Phù Sai lấy cớ này cho người mang thanh kiếm Chúc Lâu đưa cho Viên. Viên hiểu ý Phù Sai và cầm thanh kiếm đứng giữa sân nhà nói: “Đại vương muốn ta chết đây. Khi ta chết rồi, các ngươi phải khoét mắt ta, mà treo ở cửa đông để xem quân Việt kéo đến”. Nói xong tự đâm cổ mà chết.
Phù Sai từ ngày dẹp Việt, thắng Tề uy danh lừng lẫy trong các chư hầu, nên trở thành kiêu bạc muốn tranh ngôi bá chủ Trung nguyên. Đo đó, vào năm 483 Tr CN, Phù Sai để thế tử Hữu cùng một số người già yếu ở lại giữ nước, còn mình thì đem tất cả quân tinh nhuệ tới hội quân với chư hầu ở Hoằng Trì (thuộc nước Vệ, nay thuộc tỉnh Hà Nam, gần Lạc Dương) mong tranh nghiệp bá với nước Tấn. Trong khi Phù Sai đang hội quân với chư hầu, thì Câu Tiễn, theo lời khuyên của Phạm Lãi, đem quân đánh úp nước Ngô. Thế tử Hữu của Ngô bị quân Việt bắt sống và sau đó tự sát. Phù Sai phải bỏ Hoằng Trì kéo quân về – tuy nhiên vì quân Ngô đi đường xa mỏi mệt, bị Câu Tiễn đánh thảm bại. Phù Sai phải mang nhiều của cải sai sứ sang giảng hòa với nước Việt. Trong nhiều năm sau, Ngô bị bị Việt tấn công liên tiếp, và sau khi Ngũ Tử Tư bị bức tử, thì những phò tá của Phù Sai như Bá Hi, Vương Tôn Hùng.. chỉ là những bị thịt, so với những người tài của Việt như Phạm Lãi, Văn Chủng… Cho nên chuyện gì phải đến đã đến: trong 3 năm, từ 476 TCN tới 473 TCN, quân Việt vây hãm quân Ngô rất ngặt trên núi Cô Tô (Tô Châu ngày nay). Phù Sai không còn đường thoát, sai đại phu Công Tôn Hùng ở trần, đi bằng đầu gối đến xin gặp vua Việt, tâu rằng: “Kẻ bề tôi cô độc là Phù Sai trước đắc tội ở Cối Kê, nhưng không dám trái mệnh, được cùng với đại vương giảng hòa (ý nói đã tha cho Câu Tiễn trước đây). Nay kẻ bề tôi cô độc cũng mong đại vương nghĩ đến việc Cối Kê trước mà mà xá tội cho”. Câu Tiễn có ý không nỡ, đã toan cho hòa. Phạm Lãi nói: “Nhà vua đã lo lắng hai mươi năm trời để trả thù Ngô, nay trời đem nước Ngô trao cho nước Việt, ta có nên làm trái mệnh trời mà bỏ đi chăng?”. Câu Tiễn nghe lời Phạm Lãi không cho hòa. Tuy nhiên Tiễn thương hại cho người tới nói với vua Ngô: “Ta cho nhà ngươi làm vương một trăm nhà ở đất Dũng Đông (điều này có nghĩa là đày vua Ngô ra Dũng Đông)”. Phù Sai thấy nhục nhã không thể chấp nhận, nói “Ta không còn mặt mũi nào nhìn thấy Tử Tư” và che mặt rồi dùng dao tự đâm cổ chết. Từ đó, nước Ngô bị Việt tiêu diệt, và Phù Sai trở thành vị vua cuối cùng của nước Ngô. 
Ngày tàn chinh chiến 
 Sau khi thắng trận, Câu Tiễn giết tất cả các bề tôi của Phù Sai, kể cả Bá Hi, là người thực ra đã xin Phù Sai tha cho Câu Tiễn nhiều lần. Câu Tiễn không ban thưởng hay chia đất phong hầu cho các công thần, lại không muốn kề cận các công thần. Một hôm Câu Tiễn bày tiệc ở Văn Đài nước Ngô cũ, cùng với các quan uống rượu. Trong tiệc nhạc công gảy đàn cầm hát mừng chiến thắng, trong bài hát có câu: “Sự nghiệp lẫy lừng sử sách ghi. Thưởng phạt xứng đáng không tiếc gì.” Câu Tiễn nghe câu hát, nét mặt không vui. Phạm Lãi thấy vậy, hiểu rằng Tiễn không muốn nói đến cái công của kẻ thần hạ, và nay thì mọi chuyện đã rõ. Đêm hôm đó Phạm Lãi bỏ hết vợ con, đi một chiếc thuyền nhỏ qua Tam Giang, vào Ngũ Hồ. Khi đã ra khỏi nước VIệt, Phạm Lãi gởi một bức thư về cho Văn Chủng. Thư nói rằng: “Chim đã trúng tên thì cung tốt phải cất, thỏ đã chết thì chó săn bị nấu. Địch quốc diệt thì mưu thần cũng chẳng còn. Vua Việt là người cổ dài, mỏ qụa, có thể cùng lo lúc hoạn nạn, nhưng không thể cùng hưởng lúc thanh bình. Sao ông không bỏ đi?”. Văn Chủng nhận được thư, cáo ốm không vào triều. Có người dèm nói với Câu Tiễn: “Văn Chủng ỷ có công to mà được thưởng ít, nên có ý oán vọng!”. Câu Tiễn vốn biết tài của Văn Chủng, nhưng nghĩ là Ngô đã bị diệt rồi, nay ông ta (Tiễn) oai trùm chư hầu, nên cũng chẳng cần tới tài của Chủng nữa. Vậy chỉ sợ y làm loạn thì chẳng ai trị nổi. Do đó Tiễn vờ tới thăm bệnh Văn Chủng. Khi vô nhà, Tiễn cởi thanh kiếm ra mà ngồi. Tiễn nói: “Nhà ngươi dạy quả nhân bảy thuật để đánh Ngô. Nay quả nhân mới dùng có ba, mà đã diệt được Ngô. Còn bốn thuật nữa, nhà ngươi hãy giúp ta dùng những thuật ấy với tiên vương xem sao?” (câu nói này chứng tỏ tâm địa tàn độc của Câu Tiễn với một người đã hết lòng giúp ông ta nên nghiệp vương bá). Tiễn nói xong lên xe đi về, bỏ lại thanh kiếm ở chỗ ngồi. Chủng cầm lên xem thì thấy trên vỏ kiếm có hai chữ “Chúc Lâu”, tức là thanh kiếm của Phù Sai đưa cho Ngũ Viên để tự tử khi trước. Chủng hiểu ý, cầm thanh kiếm tự đâm cổ chết.
 Mấy hôm sau, Câu Tiễn rút quân về Nam, đem cả Tây Thi về. Câu Tiễn phu nhân mật sai người bắt Tây Thi ra bờ sông buộc viên đá lớn vào rồi đẩy xuống sông mà nói rằng “Nó là một kẻ vong quốc, còn để làm gì”. Sự thực thì vợ Câu Tiễn thấy Tây Thi quá đẹp, sợ Câu Tiễn cũng si mê Tây Thi như Phù Sai trước đây, nên giết nàng mà thôi. Nếu chuyện này là đúng thì Tây Thi mất năm 473 TCN (cùng năm Phù Sai thất trận và tự sát). Lúc đó nàng mới 33 tuổi 
Gần 100 năm sau, Mặc Tử trong thiên “Thân sĩ”, có liệt kê những cái chết đáng chú ý, ông viết: “Ngô Khởi chi liệt, kỳ công dã, Tây Thi chi trầm, kỳ mỹ dã.” (Ngô Khởi chết vì cái kỳ công của mình, Tây Thi trầm mình vì cái đẹp của mình) ý đoạn này nói là những người được nêu tên đều đã chết vì cái sở trường của họ: sở trường từng người đều thu nhận tai họa tương đồng. Mặc Tử đồng thời cũng xác minh cái chết của Tây Thi chính là do bị dìm trên sông
Thời gian trôi và cả ngàn năm sau, người ta vẫn coi Tây Hồ, nơi thành Hàng Châu soi bóng, là hình ảnh của Tây Thi. Và để tưởng nhớ Tây Thi, vào đời Đường thuộc thế kỷ thứ 8, thi sĩ Lý Bạch có những vần thơ như sau:
 Tú sắc yểm cổ kim
 Hà hoa tu ngọc nhan
 Cán sa nộng bích thủy
 Tự hưng thanh ba gian
Tạm dịch: 
 “Nhan sắc mờ kim cổ
 Hoa thắm thẹn sắc hương
 Giặt lụa bên giòng biếc
 Sóng bạc tỏa ngàn phương.”

Vũ Ngọc Tấn
Sydney 1/05/2019
Vài lời của người viết bài:
 – Qua câu chuyện kể trên, ta thấy Tây Thi là một người đẹp có “nhan sắc mờ kim cổ”. như Lý Bạch mô tả, nhưng về phương diện ảnh hưởng tới lịch sử, thì thực ra, nàng đã đóng một vai trò rất khiêm nhượng. Có những tác giả mô tả nàng như một nữ anh thư đã cứu nước Việt: họ nêu lên chuyện chính nàng đã áp lực với Phù Sai để ông này thả Câu Tiễn sớm. Sự thực thì Câu Tiễn bị tù tại Ngô từ năm 493 Tr CN tới 491Tr CN. Sau khi được thả về nước Việt, Câu Tiễn mới nghe theo kế của Văn Chủng mà tìm ra Tây Thi để cống cho Phù Sai. Vậy chuyện nữ anh thư Tây Thi cứu vua Việt ra khỏi nhà tù Ngô là chuyện mộng mà thôi. Khi sang Ngô, nàng được Phù Sai thương yêu say đắm, đưa vào “mê cung” để vui hưởng những giây phút thần tiên với nàng. Nhưng có thực nàng làm cho Phù Sai đam mê tới mức mất nước hay không? có lẽ là không. Quyết định đem hết quân tinh nhuệ đi Hoằng Trì phó hội (và bỏ trống nước Ngô – năm 483 Tr CN) là do Phù Sai và Tây Thi không đóng một vai trò gì trong đó. Hơn nữa, về phía đối phương của Phù Sai, ta cũng phải kể đến lòng kiên trì và quyết tâm của Câu Tiễn: trong suốt 10 năm trước ngày đánh úp nước Ngô, thì Câu Tiễn và các bề tôi của ông ta đã đóng một màn kịch chúa tôi, thầy trò rất tài tình đối với Phù Sai, và cuối cùng thừa cơ Phù Sai bỏ trống kinh thành rồi tấn công chớp nhoáng, sau đó liên tục tấn công trong 10 năm. Vậy chuyện Phù Sai thua trận và đi tới mất nước, không phải là do Tây Thi. 
 – Riêng về cái chết của Tây Thi thì có nhiều giái thích khác nhau. Vì Phạm Lãi và Tây Thi cùng biến mất khỏi xứ Việt vào năm 473 Tr CN, cho nên có một số giải thích là Phạm Lãi đã đưa Tây Thi lên Thái Hồ rồi từ đó buông lỏng cuộc đời như thần tiên và không muốn tiếp xúc với trần tục. Tuy nhiên, kẻ viết bài này tin rằng Tây Thi chết chìm là vì những lý do sau đây:
 – Mặc Tử (người đứng đầu học phái Mặc Gia, khoảng 100 năm sau thời Tây Thi), xác nhận là Tây Thi chết chìm (Tây Thi chi trầm, kỳ mỹ dã) như đã nói ở phần trên 
 – Tư Mã Thiên (145 Tr CN- 86 Tr CN – tức là khoảng 300 năm sau Tây Thi) tác giả bộ “Sử Ký”, sống dưới thời Hán Vũ Đế. Cuốn “Sử Ký” là công trình sử học lớn nhất của Trung Quốc và cũng là một trong những cuốn sử lớn nhất của thế giới. Để viết sử, Tư Mã Thiên năm 20 tuổi đã theo lời khuyên của cha ông (cũng là một sử gia thời nhà Hán) lên đường du lịch khắp nước Tầu để xem tận mắt những nơi sau này ông sẽ viết sử. Ông tới thăm mộ mẹ Hàn Tín, thăm Cối Kê nghe những chuyện kể về vua Việt Câu Tiễn và đặc biệt là ông đi thuyền trên Thái Hồ, sưu tầm truyền thuyết về Tây Thi và Phạm Lãi, sau đó ông viết cuốn Sử Ký. Trong Sử Ký, không có một chữ nào ông viết về Tây Thi nhưng lại viết rất nhiều về Phạm Lãi. Trong chương “Việt Vương Câu Tiễn Thế Gia”, ông ghi sự kiện Phạm Lãi rời Việt, đi biển sang Tề, đổi tên họ là Chi Di Tử Bì, khổ thân khổ sức, cha con cùng lo làm ăn, vả trở nên giàu có của cải có hàng nghìn lạng vàng. Tề biết ông là người có tài, mời làm tướng quốc. Một thời gian sau ông từ quan vì nghĩ rằng tiếng tăm lừng lẫy là không tốt. Ông trả ấn tướng quốc, đem tài sản cho hết bạn bè, người nghèo khó rồi ra đi. Ông sang đến đất Đào (nay là huyện Định Đào, tỉnh Sơn Đông) tự gọi mình là Đào Chu Công. Ông lại thành danh và sau đó chết ở đất Đào. Người ta có thể nghĩ rằng Tư Mã Thiên không nhắc tới Tây Thi vì có thể là ông là người bị tội cung hình (bị cắt dương vật) cho nên không muốn nói chuyện về đàn bà? tuy nhiên, trong cuốn Sử Ký, ông viết khá nhiều về các nhân vật nữ, điển hình là ông dành cả một chương viết về bà Lữ Hậu (chương này tựa đề: Lữ Hậu Bản Kỷ), là vợ của Hán Cao Tổ Lưu Bang. Vậy lý do ông không nói gì về Tây Thi trong suốt hành trình của Phạm Lãi sau khi rời xứ Việt, cho ta hiểu rằng Tây Thi đã không hề đi cùng Phạm Lãi sau ngày tàn chinh chiến.
 – Đông Chu Liệt Quốc: đây là cuốn dã sử về đời nhà Chu (gồm thời Xuân Thu và Chiến Quốc), được viết dưới thời nhà Minh. Cuốn này kể rất nhiều về Tây Thi và Phạm Lãi. Riêng về Tây Thi, cuốn này mô tả là nàng bị dìm chết trên sông vì lòng ghen của vợ Câu Tiễn
VNT

Sunday, June 16, 2019

THỨC CHO XONG BÀI THƠ1

Ý Nhi 

1.Năm 1993

Tôi đã được nghe Trường Sa hành, Chiều trên phá Tam Giang, Thi sĩ…trước khi gặp Tô Thùy Yên. Vì vậy, có phần bất ngờ khi đối diện với tôi, con người từng mộng du trên trái đất tròn, từng chạy cắm đầu trên sợi kinh hoàng/giăng qua đôi bờ vực lạnh hư vô, con người từng hỏi han hiu quạnh lớn, từng bay trên phá Tam Giang với những suy nghĩ ở một tầng cao đáng kinh ngạc về cuộc chiến tàn khốc đang diễn ra, lại là một người đàn ông tầm thước, lịch duyệt, từ tốn. Bất ngờ khác, ông gần như không có sự ngại ngần khi trò chuyện với tôi- một nhà thơ từ Hà Nội vào. Có lần, ngồi ở quán nước vỉa hè cùng nhà văn Nguyễn Đình Toàn, sau khi nghe tôi kể một giai thoại chính trị, ông cười: tôi hiểu vì sao tôi chơi được với cô rồi. Nhưng có lẽ, không chỉ do những giai thoại.

            Ông thường ghé qua nơi tôi làm việc- Chi nhánh Nhà xuất bản Hội nhà văn tại thành phố Hồ Chí Minh, nơi ông có thể gặp những nhà văn miền Nam còn ở Sài Gòn như Huỳnh Phan Anh, Bùi Giáng, Nguyễn Đình Toàn, Thế Phong…và những nhà thơ trẻ như Nguyễn Quốc Chánh, Bùi Hoằng Vỵ,Thảo Phương, Phạm Thị Ngọc Liên…Hồi đó, hẻm 361 Hai Bà Trưng (nơi có trụ sở Nhà xuất nản) còn vắng vẻ. Phía trước mặt trụ sở có một khoảnh đất trống.  Gia đình nọ đã dựng tạm gian quán lợp giấy dầu bán cà-phê nước ngọt, kiểu một cái quán cóc. Chúng tôi thường “tụ tập” ở đó. Nhiều khi chúng tôi là những người khách duy nhất. Sáng nọ, trong gian quán quạnh quẽ, Tô Thùy Yên đã đọc cho chúng tôi nghe bài thơ Quán vắng vẻ của ông: Quán vắng vẻ/ không ai người đến gặp/ ngọn đèn như nỗi đợi thiên thu…Giọng ông nhẹ nhàng, cách đọc chậm rãi khiến người nghe dễ dàng nhập vào tâm trạng của tác giả: Việc đời lầm lẫn vậy/ Hối mấy chẳng hơn gì/ Thôi thì hãy cố nán/ Cho đáng một lần đi… Nghe đâu, trong tù, ông còn hát vang lên một ca khúc của Trịnh Công Sơn, để báo với bạn tù sự có mặt của mình, để thiên hạ biết mình vẫn có thể hát. Hỏi, ông cười, tôi hát cũng được lắm đó cô.

            Đôi lần, sáng ra ông đã ghé lại. Ông bảo, dắt xe ra khỏi nhà, chẳng biết đi đâu, lại tạt vô đây. Đôi lần, ông xuống nhà tôi ở quận 6, không gặp tôi, ông trò chuyện với nhà tôi và các con tôi. Khi nghe vợ chồng tôi có ý định xây nhà trên mảnh đất ở Gò Vấp, ông đã đưa chúng tôi đến Biên Hòa gặp kiến trúc sư Đinh Thiên Tứ- bạn ông- nhờ thiết kế. Từ khi ra tù, Đinh Thiên Tứ bỏ nghề, không nhận bất cứ công việc chuyên môn nào. Nếu không có Tô Thùy Yên, chắc chắn chúng tôi không thể có được ngôi nhà trang nhã, thanh thoát, chan hòa nắng gió này.

          Ông nói với tôi, ông mong có dịp ra Hà Nội, nơi ông từng qua giữa đêm khuya trong chiếc xe chở tù bít bùng, chật chội. Ông một mình chạy xe đến hồ Trị An “đi giữa trảng tranh/ràn rạt gió lùa/hư rỗng tuênh toang/ bốn phíarừng xa mịt mịt”…

          Những quấn quýt bạn bè, những lo toan giúp đỡ, những tỏ bày, những chuyến đi…phần nào nói lên tâm trạng của Tô Thùy Yên lúc này. Ông vừa ra khỏi tù lần thứ 3 chưa bao lâu và đang chuẩn bị cho việc rời bỏ quê cha đất tổ. Có thể nói, đó là quãng thời gian rất đặc biệt trong cuộc sống của ông: chưa dứt khỏi ký ức nặng nề, bàng hoàng giữa những ngày đang sống(Lang thang rã rời ngoài phố đông người/ không gặp một ai quen…Bất chợt nghe như đời đã muộn/ Muộn đến chán chường rũ thõng đôi tay/Tưởng không cái vội nào còn bắt kịp…) và, đứng trước một chuyến ra đi không dễ dàng, thậm chí, là một chuyến đi đau đớn, đầy ưu uất:  Anh ra đi/Bứt ruột mà đi/ Như đã một lần cũng bứt ruột/Đi những mười năm tưởng chẳng còn vế…Anh lên đường/ Giả tảng không nhìn nỗi sỉ nhục…Anh ngậm nghẹn lời từ biệt/ Liên tưởng việc xe chôn kẻ tội đồ…Anh ra đi/ Cầu sao cho thoát được/ Con mắt miên man/ Trừng nộ từ tối tăm tàn lụi/ Quét rạt chỉ điểm người xổng chạy vô phương…Anh ra đi, cầu sao cho thoát được/ Bộ da đó của mình/ Đánh lạc hướng truy tầm của định mệnh…Phần anh ra đi/ Gắng gượng chút hơi tàn/ Hân hoan ròn rã/ Như người ngửa mặt trong trời mưa/ Mong trôi khỏa nhẹ nhàng những nếp rạn…

            Cuối năm, trước khi cùng gia đình rời Việt Nam, ông đem cho tôi một số bài thơ chép tay, như món quà dành cho người bạn vong niên: Ngoài cõi võ vàng, Giấc hoành môn, Những mẩu giấy rời, Những thành phố mà ta không ghé lại, Bài thơ chia tay dành cho người duy nhất đọc, một bài không có tựa đề và bản in bài Ta về (Có lẽ trên 1 tạp chí ở Hải ngoại) với các ghi chú: Nhớ đừng phổ biến hay: Bà đọc qua cho biết thôi. Xin đừng phổ biến. Đa tạ. Trong số này, không hiểu sao có tới 4 bài được viết bằng bút chì, trên những tờ giấy mỏng, ngả vàng. Chữ Tô Thùy Yên rất đẹp. Các bài thơ đều được viết trong năm 1993. Sau này, trong Thơ tuyểnBài Thơ chia tay…được lấy tựa Giã biệt và không thấy có Những mẩu giấy rời, Ngoài cõi võ vàngbài thơ không tựa đề. Có thể Tô Thùy Yên không chọn. Mà cũng có thể ông không còn lưu giữ chúng. Tô Thùy Yên dường như không có thói quen lưu giữ các bài thơ của mình, dưới bất cứ hình thức nào. Làm thơ từ cuối những năm năm mươi mà đến năm 1995 ông mới cho xuất bản tập thơ đầu tiên. Được biết, khi làm sách, ông đã phải nhờ cậy bạn bè và những người yêu thơ còn lưu giữ thơ ông.

          Một trường hợp hy hữu.

          Năm 1993, tôi đã gặp Tô Thùy Yên.

2. Thơ của gã du hành muôn năm muôn nơi2

       Nhưng một cuộc gặp khác, cuộc gặp Thơ Tô Thùy Yên thì phải chờ  đến mấy năm sau. Có thể nói, đây là một cuộc gặp gây chấn động với tôi. Mười mấy năm trôi qua, kể từ khi có Thơ tuyển3 và Thắp tạ3, tôi luôn có ý định viết về thơ Tô Thùy Yên nhưng lại luôn ngần ngại, lo mình không đủ sự thấu hiểu, không đủ sự đồng cảm 4. Chỉ khi nhận được thư điện tử của ông vào cuối năm 2015 5, tôi mới khởi sự. (Chợt nhớ câu thơ:” Chúng ta khởi sự lại mối sầu”/Hải phận). 
          
           Như mọi nhà thơ lớn, khi bắt đầu, Tô Thùy Yên đã định vị chỗ đứng của mình. Thi sĩ 18 tuổi lựa chọn sự đối đầu. Với Thượng đế;” Đầu tôi cứng và trơn/ Thượngđế làm sao ngự”, với Hư vô:” Có đọc thuộc thánh thư/Linh hồn tôi vẫn vậy/Tôi vẫn không thể lạy/Dù đứng trước hư vô”, với cuộc đời:”Với thứ linh hồn quốc cấm/ Tôi tù tội chung thân”, với Thơ:”Tôi giựt dành đổ máu với tôi/ từng chữ một” . Và, thi sĩ chấp nhận nỗi cô đơn: ” Tôi thấy đã mất mát/ Tất cảtrừ cô đơn”, chấp nhận “cuộc tuần du bất tận…về nơi hẹn nào không định trước”, chấp nhận những đau đớn, những oan khiên, những trượt lỡ của cuộc đời. Đó là một lựa chọn có ý thức. Và vì vậy, đã được nhà thơ giữ trọn suốt một đời thơ dài hơn sáu mươi năm.
           Có thể nói, Thơ Tô Thùy Yên là câu chuyện của “gã du hành muôn năm muôn nơi”5 . Cách khác, chính xác hơn, đó là cuộc độc thoại của con người đầy ý thức về cõi thế, về cõi người, về lẽ mất, còn, về dựng xây và hủy diệt, về hy vọng và tuyệt vọng…Cách khác nữa, là lời tự vấn, là những câu hỏi, nhiều khi không lời đáp, sau những gì đã đi qua, đã trải qua, sau những hạnh ngộ và chia lìa, sau những hân hoan hiếm hoi và những khổ lụy lâu dài của kiếp người. Dù là cách nào đi nữa, cuối cùng, thơ Tô Thùy Yên cũng đem lại cho ta  những suy nghĩ lớn lao, những rung cảm mãnh liệt, những dày vò khôn nguôi, và, vẫn còn đó, những câu hỏi mà ta cũng không tìm ra lời đáp hay chỉ là “Câu hỏi vạn niên/ Lời đáp nhất thời”.

             Đó là câu chuyện của bậc thượng thừa, bậc tiên tri. Chẳng phải thế sao. Ngoài hành giả này, đã có ai từng ao ước :” Giá ta được lên cao, lên cao/ Để ngắm nhìn một lần thấu suốt định mệnh ta/ Trước ngày từ biệt nó”. Ngoài hành giả này, đã có ai từng hỏi han “Hiu quạnh lớn”, ai từng nhìn thấy:” Trên dốc thời gian hòn đá tuộtlăn dài kinh động cả hư vô“,  “ mặt tinh cầu xếp nếp/ Như lằn nhăn tuổi tác hư không”, ai từng nghe thấy “Những âm thanh chuyển động buồn rầu/ Của nhân thế trên nẻo mòn vĩnh cửu”. Ai, ngoài ông, có thể có được tiên cảm kinh hoàng về những tai ương, những tang tóc mà nhân loại hôm nay đang hứng chịu:

          Một ngày, ngọn gió lạ thường sẽ thổi tới
          Ngoài biển khơi, trên lục địa
          Sò hến, côn trùng cũng chẳng yên thân

          Ngọn gió lạ thường sẽ thổi tới
          Quật ngã những bức tượng, xô sập những đền đài
          Tiếng hú chạy dài suốt lịch sử

          Ngọn gió lạ thường sẽ thổi tới
          Xé rách một kỷ nguyên, phân tán các dân tộc
          Để mọi người câm lặng ăn năn…

          Ngọn gió lạ thường sẽ thổi tới
          Sườn núi rát đỏ, đồng ruộng khô ran
          Rồi mặt đất cũng vô danh như mặt biển…

            Trong thơ Tô Thùy Yên, Ta Egan với  Thượng đế, với Thiên thu, với Trời đất, Nhân loại, với Biển lớn, với Non cao, với Hạnh phúc, với Khổ lụy…Đầu tiên ta kể về im lặng/ Dưới vòm trời, dưới mái tóc ta… Ta hỏi han, hề, Hiu quạnh lớn…Làm sao ta biết được/Niềm vô lượng không gian cuốn hút/ Cõi trăm năm tiếp tiếp miệt mài…Chiều, chiều của đời ta, chiều của thiên nhiên…Ta nghe thấy cả những âm thanh lịch sử thịnh nộ/ rây lọc mơ hồ qua màn lưới yên bình…Ta cảm ơn người đời. Cảm ơn trời đất…Nhiều khi ta ngước lên ngơ ngẩn/Nghe tiếng chim quen bay lướt qua…Ta khóc lẻ loi, cười một mình…Ta nghe cánh cửa lâu đời sập/ Những xích xiềng han rỉ đứt tung...Ta suy ngẫm đau thương về hạnh phúc/ Hạnh phúc thực hư như hoa đốm nắng hè/Như cơn gió không thể nào lưu trữ/ Như lượn sóng xô lên rồi tan hoang…Ta suy gẫm đau thương về tình yêu/ Tình yêu giả trang mối sầu phiêu bạt của nhân thế trăm năm trong bát ngát thời gian…Ta bất chấp hạnh phúc và ta hạnh phúc/Hạnh phúc không chờ trông, không tiếc thương…Tự do, ta thết mừng điên đảo/ Cuộc tiệc trăm năm nhục thánh thần…Ta mò đoán nghĩa dòng hư tự/ Mòn nét trong thiên địa ngập ngừng… Ta bằng lòng phận que diêm tắt/ Chỉ giận sao mồi lửa cháy suông…Ta ra đi/ Đường mở tự lòng ta…Ta về-một bóng trên đường lớn…Ta khóc tạ ơn đời máu chảy /Ruột mềm như đá dưới chân ta…Ta về khai giải bùa thiêng yểm…Đi như đi lạc trong trời đất/ Thủy tận sơn cùng xí xóa ta…Để khi mở mắt ta nhìn thấy/ Cả cuộc đời ta chẳng đáng chi…Có ai trong cõi vô cùng tận/ Bắt gặp lòng ta bay đảo điên…
           
          Chỉ có sự ngang bằng ấy, nhà thơ mới có thể làm “cuộc phiêu lưu tinh thần bi liệt” của mình.

          Có lúc, “Ra đi như một bình minh lạ/ Trên kỷ nguyên chưa kịp hiện hình…Ra đi như một âm thanh sáng/ Xuyên suốt tâm linh, dội cảm sầu”, có khi khao khát mãnh liệt :” Chúng ta sẽ gia giáo hóa thiên nhiên/ Chúng ta sẽ đồng loạthóa định mệnh/ Chúng ta sẽ nhật tu đời sống miên man trong từng phạm vi chi tiết nhất…Cầu cho ta khôi phục con người ta, vết lóe của thiên nhiên” nhưng thường khi là nỗi buồn, thường khi là nỗi lo âu, thậm chí, tuyệt vọng. Liệu có hành giả nào tự cổ chí kim không buồn khổ, lo âu, tuyệt vọng.

Vinh quang cho ai đang ở trên đường nhưng Một bước đã muôn trùng...  Vinh quang cho người chọn được mệnh mình nhưng Làm sao ta biết được/ niềm vô lượng không gian cuốn hút/ Cõi trăm năm tiếp tiếp miệt mài, làm sao ta biết được/ Dâu biển ngoài kia chung cuộc chưa…Trời đất kia còn bao thiên thu?
Đi. Đi qua. Đi qua nữa. Đi qua nữa nữa nhưng chỉ nhìn thấy Trùng trùng những lớp cửa liên hồi mở, đóng, mở…Từng ngày, từng ảo tưởng phai buông…
Ta đi tới, mong còn đi tới nữa/ nhìn thế giới diệu kỳ nhưng chỉ trong khoảng sáng buồn rầu/ Chừng của một que diêm…
Nhưng Vũ trụ tạo hủy dở dang mãi
Nhưng Con đường đi mỏi mà không tận
Nhưng Thiên thu lóe tắt vệt phù du
Nhưng Việc đời thường khi bất xứng ý
Nhưng Đến ngả ba đành theo một lối/ Tiếc ngẩn không cùng theo lối kia
Nhưng Hoài công không định nổi chân hư
Nhưng Cánh cửa lớn lao nào/ Mở ra và đóng lại/ Kín như bưng/ Tưởng chừng không có cửa
Nhưng Mặt trời chiếu rã rưng rưng biển/ Vầng khói chim đen thảng thốt
quần; Mòn gót chân sương nắng tháng năm/ Thấy, thấy sóng tan tành lũ lượt; Cụm mây trôi rã trong trời lớn/ Như giấc chiêm bao thấy nửa chừng; Tàu chuối xác xơ reo ngất ngất/ Nỗi đời bi thiết xé lưa tưa; Trời đất thì buồn như trái rỗng/ Ta thì như gió tuyệt bơ vơCó đi ngàn dặm cũng là quẩnCàng nhìn trời đất càng hoang mang…

            Đây không phải là câu chuyện của một người, của một khoảnh khắc, của một miền đất mà là câu chuyện của muôn năm muôn nơi, câu chuyện của  hành giả mang tên Tô Thùy Yên, kể cho Hư không. (Ta chỉ là người trộm nghe. Bởi vậy, đâu dám chắc đã thấu hiểu thâm ý.)
Đặng Tiến tinh tế khi cho rằng thơ Tô Thùy Yên là “ những bài thơ ngoài thời gian và vô quốc tịch”(Ngựa phi, ngựa phi đường xa)

3. Câu thơ soi mệnh viết mà khóc

          Vào năm 1972, trong bài thơ Bất tận nỗi đời hung hãn đó, Nhà thơ từng cầu ước được một lần thấu suốt Định mệnh của mình, được một lần  nhìn thấy toàn cảnh những con đường mình sẽ đi. Nhưng, vẻ như, ông đã không được toại ước, không thể biết rằng, chỉ vài ba năm sau đó, đã phải đặt chân lên đoạn đường tàn khốc của đời mình:” Đất ta, ta giẫm mà ghê chân"
Đó là thời của những Mùa hạn: mùa hạn của trời đất, mùa hạn của thể xác, của tâm tưởng:

Ở đây địa ngục chín tầng sâu  
Cả giống nòi câm lặng gục đầu
Cắn chết hàm răng, ứa máu mắt
Chung xiềng nhưng chẳng dám nhìn nhau

…Nước khe, cơm độn, thân tàn rạc
Sống chẳng khôn, cầu được thác thiêng

…Sông hồ nẻ đáy, giếng vô vọng
Muôn thú điên lầm lũi bỏ đàn

…Như tên phù thủy già điên loạn
Lịch sử lên cơn giận bất thường

…Gõ lấy đầu mình như gõ cửa
Liên hồi kêu cứu giữa đêm khuya
Đầu ta như chiếc đầu lâu cổ
Tiếng rỗng không khô khốc não nề…

Đó là thời của những chuyến Tàu đêm lao vào cõi mịt mù tựa như một mũi khoan xoáy vào tâm trí đớn đau của người tù:

          Toa đêm lúc nhúc hồn oan khốc
          Đèn bão mờ soi chẳng rõ ai
          Ta gọi rụng rời ta thất lạc
          Ta còn chẳng đủ nửa ta đây

          …Ngồi đây giữa những phân cùng bụi
          Trong chuyển dời xung xát bạo tàn
          Ta trở thành than, thành súc vật
          Tiếng người e cũng đã quên ngang

          …Đem thân làm gã tù lưu xứ
          Xí xóa đời ta với đất trời
          Ngàn dặm lìa tan tình cố cựu
          Bàng hoàng thân thế cụm mây trôi

          …Dường như ta chợt khóc đau đớn
          Lệ nóng cường toan cháy ruột gan
          Lệ chảy không ra ngoài khóe mắt
          Nghẹn ngào đến cả tiếng than van

          …Tàu đi như một cơn điên đảo
          Sắt thép kinh hoàng va đập nhau
          Ta tưởng chừng nghe thời đại động
          Xô đi ầm ĩ một cơn đau…

        Đó là thời của Tiếng kêu cứng nghẽn cổ u tình, của Tháng tháng năm năm/ Lòng như núi nặng/ Ta đứng lên/ đi tới đi lui/ Trăm lượt nghìn lần/ Như một hồn ma cổ đại/ Trong hầm mộ muôn đời…Ta cố nhớ giấc mơ/ Nhưng rồi không nhớ được/ Ta nằm xuống/ Dỗ mình hãy cố ngủ/ Tập quen dần với giấc thiên thu…thời của Tập lịch lâu ngày không gỡ tới/ Thờ ơ giữ đủ cả âu sầu…của những đêm tối lền xòe tay cũng chẳng thấy…Thời của tang thương, cay đắng, u uất. Thời của “ những ngày câm nín”, theo cách nói của Chân Phương.6

          Có thể vị Hành giả đã không thể hiểu hết những dòng lược sử của mình (Thoáng nhớ có lần ta đọc trộm/ Lược sử ta trong bí lục nào/ Văn nghĩa mơ hồ không hiểu trọn/ Thiên thu lóe tắt vệt phù du) để biết được rằng: Định mệnh buộc người phải trải qua những khổ nạn này, như một thử thách. Một lò luyện.

           Nhưng, ông đã đi qua, tự giác đi qua. Với con người ấy, những oan khiên, những mất mát, những khổ lụy của cá nhân không làm lụi tắt tình yêu thương bất tận với đồng loại, không làm lụi tắt nỗi lo âu nhân thế. Chính trong cáiMùa hạn kinh hoàng ấy, trong cảnh tù đày khốn khổ ấy, những câu thơ vẫn bật lên ánh sáng nhân ái kỳ diệu nhất mà con người có thể có được:

Xứ khổ, thêm chi mùa thảm khốc
Than ôi, trời đã bỏ rơi dân

Người mẹ trẻ buồn đôi mắt trũng
Thân gầy nhom, tóc cháy, da cằn
Địu con, một nhúm thịt nhăn nhúm
Ra ruộng khê tìm mót cái ăn

…Làng mạc giờ đây đã trống trơn
Con dê, con chó cũng không còn
Người đi bỏ xác nơi bờ bụi
Miếu sạt, thần hoàng rũ héo hon

…Ta thương vô kể mầm cây lụi
Con suối trinh nguyên chết cạn lòng

          …Ta gom từng hạt cây luân lạc
          Mong mỏi gầy lên một địa đàng

…Tất cả rồi đây sẽ đổi thay
Đổi thay từ quặng mỏ, mầm cây
Đổi thay cả mặt người tăm tối
Những bớt chàm xưa được xóa trôi

…Đi nào, chú bé của ta ơi
Đem tấm lòng trang trải với đời
Yêu cả con sâu cùng cái kiến
Thả hồn vào cỏ lá bung phơi

…Những ai hôm trước từng gây tội
Hãy lắng tâm tha lấy lỗi mình
Tự tại, thời gian chôn chính nó
Đời lên lại mãi tự bình minh…

Chính trên chuyến tàu đêm mịt mùng, vô vọng ấy, những câu thơ lại như những lời kêu gọi vang vọng, những khắc ghi sâu đậm trên ngày tháng:

    Thức dậy, những ai còn sống đó
    Nhìn ra nhớ lấy phút giây này
     Tàu đi như một cơn giông lửa
Cuồn cuộn sao từ ống khói bay

…Nghe cả hồn ta bị cán nghiến
Trên đường lịch sử sắt tuôn mau

…Lịch sử dường như rất vội vã
Tàu không đỗ lại các ga qua

…Thời đại đang đi từng mảng lớn
Rào rào những cụm khói miên man

… Có nghe lịch sử mài thê thiết
Cho sáng lên đời đã rỉ han

…Tàu ơi, hãy kéo còi liên tục
Cho tiếng rền vang dội địa cầu
Lay động những tầng mê sảng tối
Loài người hãy thức, thức cùng nhau.

Thật khó hình dung đó là tiếng nói của một người tù nhưng thật dễ hiểu, khi biết, người tù đó là nhà thơ Tô Thùy Yên- người từng chọn cho mình một cách giã từ đẹp đẽ nhất, sang cả nhất:

          Rồi đến một hôm nào
          Ta mắc lại
          Trên cành cây bất chợt gặp bên đường
         Tấm áo sinh thời nặng trĩu bụi
         Như một lời từ biệt nghe rồi quên.
  
Đó là những vần thơ Lấy mình soi mệnh mình.

4. Lòng ta vô sự, ta vui vẻ.

         Câu thơ này nằm trong bài thơ Hề, ta trở lại gian nhà cỏ, một bài thơ hiếm hoi dường như chứa chất nỗi vui, sự thanh thản của tâm hồn. Dù vậy, ngay lần đầu đọc câu thơ, tôi đã ngờ ngợ có điều chi đó bất ổn. Có thể vì tôi đã đọc quá nhiều những câu thơ đau đớn, dằn vặt, thảng thốt về nỗi đời của Tô Thùy Yên. Chúng phủ trùm lên tâm trí người đọc, không nhường chỗ cho bất cứ điều gì khác. Mà cũng có thể, chính âm hưởng của câu thơ đã phủ định ý nghĩa của từ ngữ. Nếu quả ta vui vẻ, ta vô sự, hẳn ta chẳng cần “tuyên bố” như vậy. Trong lời tuyên bố này hàm chứa một điều gì giống như sự gắng gượng. Gắng tỏ ra vô sự, gắng tỏ ra vui vẻ. Gắng buông mình. Gắng quên những lo âu, phiền lụy:

          Ta rảo quanh làng hóng chuyện phiếm
          Đời người cũng chuyện phiếm mà thôi…

          Trận lốc cười tròn trên quá vãng
          Ta làm lại cả tâm hồn ta…

          Thôi vướng mắc dài duyên với nợ
          Ân oán đời, phong kiếm rửa tay…

          …Nên ta phó mặc cho trời đất
          Trời đất vô ngôn lại bất nhân…

          Ví dù ta ngủ không còn dậy
         Ắt hẳn lòng ta cũng dửng dưng…

Vẻ như, cuộc gắng gượng không thành. Xem ra, lòng chẳng hề vô sự. Xem ra, cuộc “làm lại tâm hồn” cũng chỉ là một dự tính bất thành.

           Hạnh phúc, tình yêu, niềm vui…trong thơ Tô Thùy Yên thường ở trạng thái của một mơ ước, thường ở thế khả năng, thế của một dự tưởng, một hồi tưởng. Bản trạch yêu thương kia chỉ về trong tưởng tượng. Vườn hạ trong xanh dịu dàng kia chỉ là việc của “mai kia mốt nọ”, những cảnh thanh bình yên ả chỉ là nỗi nhớ tiếc:

          Còn ở đâu miền xanh bóng cây
          Để ta đến đó ngồi trưa nay
          Dường như hơi mát trong vòm lá
          Có chất men làm ta thoảng say…

          Còn ở đâu làn nước giếng khơi
          Để ta đến uống một hơi dài…

          Ở đâu còn trận gió thênh thang
          Thổi mới trần gian mùa rộn ràng…

          Bao giờ, cho đến bao giờ nữa
          Em gánh vui về họp chợ đông…

Và, tình yêu. Và niềm vui chỉ là một khát vọng khôn cùng, một mong mỏi khiêm nhường:

          Anh yêu em, yêu nuối tuổi đôi mươi
          Thấy trong lòng đời nở thật lẻ loi
          Một nhành mai nhị độ…

          Anh muốn viết một bài thơ mới cho em
          Trên trang giấy đã ố vàng quên lãng
          Anh muốn ngắt một cành hoa lạ cho em
          Trên cuộc đất đã phơi trần hạn hán…

          Cũng có lần anh muốn nhìn em
          Thành cây nước phun nở
            Hân hoan và rã tan
         Cùng kiệt tình yêu chất giấu một đời
          Một đời hiển hiện và lãng quên
          Như quyển sách mở trên bàn mặc tình cho gió lật…

          Những thành phố mà ta không ghé lại
          Biết đâu chẳng có một con người
          Mà ta yêu suốt đời ta thắm thiết mãi…

          Vui đi em
          Vui được chút nào vui…

          Thôi, chẳng tiếc túi vàng đã phung phá
          Mà mừng mẩu nến chợt tìm ra…

          Hãy hạnh phúc nhất thời
          Như dấu lặng
          Hãy hạnh phúc nhất thời
          Như tiếng mưa rào, như lời cỏ hát
          Như ánh chớp đùa, như hạt sương gieo
          Như giọt nước lan reo mà tự hủy…

Liệu con người này có lúc nào vô sự, có lúc nào vui vẻ, thảnh thơi  như câu thơ ông từng viết?

5.     Ta về, khai giải bùa thiêng yểm

Cuộc “khai giải” này dường đã được bắt đầu từ rất lâu, trước tai ương, trước 10 năm tù lưu xứ, trong căn cốt, trong tri cảm của Thi sĩ/ Hành giả.

     Ví như, từ một lần đi đến ngôi quán vắng vẻ kia: Lỗi tự mình, lỗi tự mình thôi/ Đã chẳng nhớ ra ngày tháng hẹn…Tội cho người, tội bấy cho người/ Cũng đến đây chờ chẳng gặp ai…Việc đời lầm lẫn vậy/ Hối mấy chẳng hơn gì.

     Ví như, từ một lần đến Trường Sa: Ta hỏi han, hề, Hiu quạnh lớn/ Mà Hiu quạnh lớn vẫn làm ngơ…Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt/ Bãi Đông lở mất, bãi Tây bồi/ Đám cây bật gốc chờ tan xác/ Có hối ra đời chẳng chọn nơi…

     Ví như, từ bao nhiêu chiêm nghiệm về lẽ đời: Đừng loạn tâm, đừng loạn tâm/ Cuối chặng hành trình quay đảo nhất/ Cả thảy sẽ an nhiên/ Trong trật tự hằng hằng của vũ trụ…

     Và, cuộc “ khai giải” sâu đậm nhất đã diễn ra trong một lần gặp mặt tưởng tượng với người lính bên kia chiến tuyến:

               Ví dù ngươi bắn rụng ta
               Như tiếng hét
               Xé hư không bặt im
               Chuyện cũng thành vô ích
               Ví dầu ngươi gục
               Vì bom đạn bất dung
               Thi thể chẳng ai thâu
               Nào có chi đáng kể
               Nghĩ cho cùng, nghĩ cho cùng
               Ví dầu các việc ngươi làm, các việc ta làm
               Có cùng gom góp lại
               Mặt đất này đổi khác được bao nhiêu?
               Ngươi há chẳng thấy sao

Phá Tam Giang, phá Tam Giang ngày rày đâu đã cạn?...

Ta thương ta yếu hèn
Ta thương ngươi khờ khạo
Nên cả hai cùng cam phận quay cuồng
Nên cả hai cùng mắc đường Lịch sử…
                         (Chiều trên phá Tam Giang)

         Chắc chắn, nếu không có cuộc “khai giải” trong tâm tưởng ấy, không có cuộc khai giải tự lòng mình ấy, không thể có hình ảnh người tù: Ta về một bóng trên đường lớn; không thể có cảnh tượng: Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa/Làng ta, ngựa đá đã qua sông/ Người đi như cá theo con nước/ Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng; không thể có nỗi hàm ơn: Ta về cúi mái đầu sương điểm/ Nghe nặng từ tâm lượng đất trời/ Cám ơn hoa đã vì ta nở/ Thế giới vui từ mỗi lẻ loi; không thể có sự bình tâm: Em hãy yêu lấy thành phố của anh/ Như tất cả những gì anh gửi lại/ Trong buổi chiều dịu lãng đời em/ Thành phố của anh/ Bây giờ đã thuộc về em/ Như lời nói thuộc về nhà thơ phe thắng trận; không thể có cuộc lễ tạ đơn độc mà kỳ vĩ: Ta về như lá rơi về cội/ Bếp lửa nhân quần ấm tối nayChút rượu hồng đây, xin rưới xuống/ Giải oan cho cuộc biển dâu này

           Cuộc khai giải huy hoàng và đau đớn này, chỉ có thể được làm nên bởi chính tri cảm của một người lớn, một nhà thơ lớn.

           Mà,

           Bài thơ ông muốn viết vẫn chưa xong.7



                                                ***
           Các nhà Phê bình văn học danh tiếng như Đặng Tiến, Thụy Khuê, Nguyễn Hưng Quốc, Bùi Vĩnh Phúc…đều đã thử bút với thơ Tô Thùy Yên.  Và, dường như chưa ai trong số họ cho rằng họ đã nói lời sau cùng về ông. Chắc chắn, những nhà phê bình tiếp sau họ, những độc giả của tương lai, sẽ đọc Tô Thùy Yên với một định chuẩn thẩm mỹ mới, bởi vì Thơ Tô Thùy Yên là kho báu của thơ Việt, bởi vì Tô Thùy Yên ” một trong những tiếng thơ lớn, của 20 năm văn chương miền Nam” (Du Tử Lê ). Chính xác hơn, Tô Thùy Yên là nhà thơ lớn của nền thơ Việt Nam hiện đại.

                                                                     Sài Gòn 3/2016
                                                                           Ý Nhi.

1.Thơ Tô Thùy Yên: Thức cho xong bài thơ/Mai sớm ra đi/ cài hờ lên cửa tặng. (Tặng phẩm)
2.Thơ Tô Thùy Yên: Có một gã du hành muôn năm muôn nơi trở về kể chuyện/ ý chừng kể để Hư không nghe (Chim bay biển Bắc).
3.Tên 2 tập thơ của Tô Thùy Yên.
4.Đặng Tiến:Tác giả kén chọn người đọc và cách đọc, có lẽ vì thế mà 40 năm sau khi có thơ thường xuyên đăng trên báo, anh mới cho xuất bản một tập thơ tuyển, viết về anh có phần khó, không phải ở khâu bình giải khen chê, mà ở mức độ đồng cảm (Ngựa phi, ngựa phi đường xa)
5. Trích thư Tô Thùy Yên trả lời về việc xin đăng thơ ông trên Văn Việt:…Riêng tôi sức khỏe ngày càng lôi thôi, khó lòng đến thăm cô ở ngôi nhà Gò Vấp của cô…hay đi ăn bánh xèo Đinh Công Tráng…Về những bài thơ, xin cô cứ tùy nghi. Tôi thiết nghĩ, dù xa mặt, bao giờ cô cũng chẳng nỡ làm gì có thể hại thanh danh và khí tiết của tôi…
6. Tên một tập thơ của Chân Phương: Chú thích cho những ngày câm nín.
7.Trời rạng/Chuyến đi không hoãn được/ Bài thơ tâm phát dẫu chưa xong/ Xin vẫn cài hờ lên cửa tạ. (Thơ tạ).
8Tất cả các câu thơ in nghiêng trong bài viết là thơ Tô Thùy Yên.

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 29-9-17