Search This Blog

Thursday, May 2, 2019

Mùa Phục Sinh, Giáo Hội làm thế nào để sống lại? (phần III)

Đinh Từ Thức
image.png
(tiếp theo phần II)
Qua phần I, quan điểm của hai Giáo Hoàng về cơn khủng hoảng Giáo Hội hiện nay đã được nêu ra. Không thể trình bầy hết quan điểm khác nhau của hàng ngàn giám mục, nên chỉ có thể chọn hai người tiêu biểu. Phần II là nhận định của Đức Cha Nguyễn Văn Long, tại Úc. Cái nhìn của ông có vẻ cấp tiến, gần gũi và táo bạo hơn cả vị chủ chăn của mình. Sự thành công hay thất bại của Giáo Hoàng Francis sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tới tương lai của Giám Mục Long, cũng như hàng ngũ những người có cùng tầm nhìn với ông, và tương lai Giáo Hội nói chung.
Phần III là quan điểm của Giám Mục Giuse Đinh Đức Đạo, đương kim Giám Mục Xuân Lộc. Với khoảng một triệu tín hữu, đây là giáo phận đông bổn đạo nhất tại VN; bao gồm cả Gia Kiệm, nơi sinh Đức Cha Long. Đức Cha Đạo sinh năm 1945, quê Thức Hóa, thuộc địa phận Bùi Chu, tỉnh Nam Định. Tuy nhận chức linh mục năm 1971 tại Sài Gòn, Đức Cha Đạo đã du học Roma từ năm 1965, tiếp tục học lên lấy hai bằng tiến sĩ, và đảm nhiệm nhiều vai trò quan trọng về lãnh vực truyền giáo trong gần nửa thế kỷ tại thủ đô Giáo Hội.
Là giám mục cuối cùng được Giáo Hoàng Benedict XVI bổ nhiệm trước khi từ chức vào ngày 28 tháng 2, 2013, với chức vụ giám mục phụ tá địa phận Xuân Lộc. Lễ tấn phong tân Giám Mục cử hành đầu tháng 4, 2013, với khẩu hiệu trong huy hiệu Giám Mục “Hoc est Corpus Meum” (Này là mình Thầy) là lời nói của Chúa Jesus trong Tiệc Ly (Mark 14:22), được chủ tế nhắc lại mỗi dịp cử hành Thánh Lễ Misa.
image.png
Đức Cha Giuse Đinh Đức Đạo, Giám Mục Địa Phận Xuân Lộc, Việt Nam.
Giữa năm 2016, ngày 05, tháng 05, Giám Mục phụ tá Melbourne Nguyễn Văn Long được Giáo Hoàng Francis cử làm Giám Mục chính tòa Parramatta, hai ngày sau, 7-5, 2016, Phó Giám Mục Đinh Đức Đạo của Xuân Lộc cũng được Giáo Hoàng Francis cử làm Giám Mục chính toà Xuân Lộc. Đức Cha Long, cũng du học và làm việc một thời gian trong Dòng Phan Xi Cô của mình tại Roma, nhưng thời gian tại đây ngắn hơn nhiều so với Đức Cha Đạo, tu học và làm việc theo hệ thống giáo triều. Có lẽ, do từ môi trường khác nhau, hai giám mục đã có lối nhìn, và chủ trương giải quyết khác nhau về cùng vấn nạn xâm hại tình dục.
Khác biệt rõ ràng. Theo Đức Cha Long, một nửa Giáo Hội đang chết đi, đó là cái nửa cấu trúc lỗi thời, tạo cơ hội cho thói hư tật xấu trong hàng giáo sĩ và tu sĩ; nửa đang chết này đã xa rời Jesus. Chỉ còn sống là nửa cốt lõi, gần gũi với Jesus. Giáo Hội muốn sống lại toàn vẹn, phải loại bỏ cái phần đang chết, như cắt một phần cây mục, hay một khúc ruột dư, với sự tích cực góp sức của toàn thể giáo dân, nhất là gồm cả vai trò của phụ nữ. Trong khi ấy, Lời Chủ Chăn của Đức Cha Đạo chỉ gửi cho các linh mục và tu sĩ, không đề cập tới giáo dân, không nói gì tới vai trò của phụ nữ. Có vẻ theo chủ trương muốn sống, thực tế nhất là hãy bảo vệ cuộc sống hiện tại, bằng cách góp phần làm nhẹ nhận thức về tai họa đang phải đối phó. Chẳng hạn, nêu vài trường hợp bị tố oan, trong khi bỏ qua điều các kết quả báo cáo đều nói rõ, là con số các vụ vi phạm thực sự có thể còn cao hơn; và đề cập tới hậu quả cuộc cách mạng tình dục, giống cách nhìn của Giáo Hoàng Benedict XVI.
image.png
Sau đây là Lời Chủ Chăn của Giám Mục Đinh Đức Đạo, gửi các Cha và các Tu sĩ, được các Mạng Công Giáo phổ biến rộng rãi, công bố vào đầu tháng Tư, 2019, mang tựa đề: KHỦNG HOẢNG LẠM DỤNG TÌNH DỤC VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT, nguyên văn tiếng Việt:
“Hiện tượng lạm dụng tình dục trong thế giới đang xoáy vòng như một cơn lốc mà đường kính cứ từ từ nới rộng, gây ra nhiều đổ vỡ tan hoang. Đối với Giáo Hội Công Giáo, tai tiếng lạm dụng tình dục đã gây ra một cơn khủng hoảng trầm trọng, ảnh hưởng tai hại đến đời sống Đức Tin, đến tinh thần, tâm tình và thái độ sống của nhiều tín hữu, làm suy giảm sự tín nhiệm của đoàn chiên đối với các mục tử, làm lu mờ ánh sáng của Tin Mừng và làm giảm sút nhiệt huyết của Giáo Hội làm chứng cho Tin Mừng.
Để giải quyết vấn đề nghiêm trọng này, Tòa Thánh đã nhiều lần lên tiếng và đưa ra những hướng dẫn cụ thể. Đặc biệt phải kể đến lá thư mục vụ ĐTC Biển Đức XVI gửi Giáo hội tại Ái Nhĩ Lan ngày 19 tháng 3 năm 2010, lá thư ĐTC Phanxicô gửi Hội Thánh trên toàn thế giới ngày 20 tháng 8 năm 2018 và Hội nghị của các Chủ tịch Hội đồng Giám mục với Đức Thánh Cha Phanxicô từ 21 – 24 tháng 02 năm 2019. Trong tâm tình lắng nghe và hiệp thông với các Đức Thánh Cha, tôi xin gửi đến quý Cha và quý Tu sĩ đôi dòng suy tư, hy vọng sẽ hữu ích cho chính đời sống của quý Cha, quý Tu sĩ và cho sứ vụ hướng dẫn đoàn chiên Chúa của mỗi người. Đề tài của bài chia sẻ là: “Khủng hoảng lạm dụng tình dục và Lòng Thương Xót.” Với đề tài này, tôi không trình bày những quy định đã được Tòa Thánh công bố để áp dụng trong những trường hợp cụ thể, nhưng đề nghị những yếu tố tâm linh để hướng dẫn và canh tân tâm tình, thái độ và đời sống dưới ánh sáng của Tin Mừng theo giáo huấn của các Đức Thánh Cha.
1. Những yếu tố quan trọng của một vấn đề phức tạp

Tình trạng lạm dụng tình dục là một vấn đề hết sức phức tạp, pha trộn lẫn lộn nhiều yếu tố: thần học, luân lý, tâm lý, văn hóa, xã hội, luật pháp, sức mạnh truyền thông, v.v. Trong hoàn cảnh này, cần phải giữ được cái nhìn tổng thể, dưới ánh sáng của Tin Mừng. Dưới đây là những yếu tố quan trọng cần được quan tâm.
a) Nỗi đau đớn của các nạn nhân
Yếu tố đầu tiên cần phải quan tâm là nỗi đau đớn dày vò tâm trí các nạn nhân, đặc biệt nếu nạn nhân là một em vị thành niên bị xâm phạm bởi một người đáng kính trọng, tin tưởng và yêu mến, chẳng hạn, là một giáo sĩ hay tu sĩ, trong gia đình là ông hay cha (ba, bố), là bà hay mẹ, nơi học đường là thầy hay cô… Trước đây ít người nhận thức được nỗi đau đớn, khắc khoải này; hơn nữa, trong môi trường văn hóa, xã hội Việt Nam, người ta ngại nói đến vấn đề tình dục. Do đó, nhiều khi người lớn còn coi thường, dọa nạt và cấm đoán các em nạn nhân nói đến việc mình bị lạm dụng tình dục. Hoàn cảnh này gây phẫn nộ, biến thành thù hận và khi có dịp sẽ bùng nổ, khó có gì có thể cản ngăn. Hy vọng sự khiêm nhường chân thành nhìn nhận tội lỗi và trách nhiệm của phạm nhân, cùng với sự cảm thông và kính trọng của cộng đoàn, nhất là của những người có trách nhiệm, cùng với ơn Chúa, vết thương sâu đậm này sẽ được xoa dịu và hàn gắn

b) Bản tính loài người giòn mỏng và cuộc cách mạng tình dục
Vì tội nguyên tổ, tất cả mọi người đều thừa hưởng một bản tính nhân loại giòn mỏng và chông chênh, nên mọi người, cả những người được coi là vững mạnh cũng có thể ngã quỵ trước sức mạnh của sự dữ. Thánh Phaolô đã từng cảnh giác: “Bởi vậy, ai nghĩ mình đang đứng vững, thì hãy coi chừng kẻo ngã.” (1 Cr 10,12).
Trong thời gian qua, con người thời đại vốn mang trong mình tính cách yếu đuối, giòn mỏng của bản tính nhân loại, lại phải đối đầu với sức mạnh vũ bão của cuộc cách mạng tình dục, bắt đầu nhen nhúm tại Hoa Kỳ vào năm 1920 rồi bùng nổ tại các nước Âu Mỹ vào thập niên 60, và từ từ lan rộng ra khắp thế giới. Cuộc cách mạng tình dục cũng được gọi là cuộc giải phóng tình dục, vì nó tìm cách phá đổ các quy tắc truyền thống hướng dẫn đời sống trong các tương quan nam nữ và những quy luật liên quan đến tình dục. Do đó, từ những năm 1960, sách báo, phim ảnh khiêu dâm, trụy lạc được công khai bày bán và chuyển đi khắp nơi. Khi bầu khí độc hại và ô nhiễm bao trùm, những người kém sức khỏe sẽ bị đau ốm, có khi tê bại, còn những người khỏe mạnh cũng dễ bị nhức đầu, sổ mũi.
c) Tính cách trầm trọng của những sai lỗi nơi các giáo sĩ, tu sĩ
Việc lạm dụng tình dục, nhất là đối với các em vị thành niên luôn là một lỗi lầm trầm trọng và là một tội ác. Khi phạm nhân là một giáo sĩ hay tu sĩ thì tính cách trầm trọng còn tăng lên nhiều lần vì phản bội lý tưởng ơn gọi thánh hiến, sứ mệnh thánh thiêng, lòng tin tưởng của đoàn chiên và vì hậu quả ảnh hưởng lớn lao trên nạn nhân.
d) Nhiều trường hợp bị vu oan
Nhiều giáo sĩ, tu sĩ bị tố cáo lạm dụng tình dục, nhưng không thiếu những trường hợp bị cáo gian. Có trường hợp bị rỉ tai hoặc tung tin lên mạng lưới xã hội mà không bằng chứng; có trường hợp được tòa án minh oan, nhưng cũng có những trường hợp đã bị tòa án kết tội, nhưng sau nhiều năm ngồi tù, bị can được minh oan. Hai trường hợp gần đây nhất là cha Adam Stanisław Kuszaj (Ba Lan) và Sư huynh John Francis Tyrrell (Úc).
Cha Adam Stanisław Kuszaj là một linh mục Ba lan dòng Đấng Cứu độ, phục vụ tại Cộng hòa Czechbị đưa ra tòa với cáo buộc lạm dụng tình dục một thiếu nữ 16 tuổi. Năm 2011, cha Kuszaj bị giáo quyền cấm thi hành tác vụ linh mục, bị Hội Dòng trục xuất, bị tòa án kết tội. Cha Kuszaj sống trong tủi nhục vì bị kỳ thị và bị bỏ rơi bởi hầu hết những người thân quen.Năm 2016, vụ án đã được mở lại và giữa tháng 02 năm 2019 tòa án thành phố Jesenik của Cộng hòa Czech đã tuyên bố cha vô tội. Người thứ hai là Sư huynh John Francis Tyrrellbị tố cáo là đã sách nhiễu tình dục em bé 10 tuổi và bị tòa án Melbourne kết án 11 năm tù. Sau 11 tháng tù, sư huynh John Francis Tyrrell được minh oan và được tha bổng.
e) Bầu khí thù hận gây ra bất công mới
Trong cao trào tố cáo hiện tượng lạm dụng tình dục, có ba sự kiện hiển hiện rõ ràng:
–  Sự kiện đầu tiên là nhiều người dùng phương tiện truyền thông loan tải tin tức một cách bừa bãi, làm mất thanh danh, xô đẩy, dập vùi những người bị coi là phạm nhân, trong khi tiếng nói yếu ớt của người bị coi là phạm nhân ít còn được ai lắng nghe. Nhiều người bị coi là phạm nhân sau đó được minh chứng là vô tội, nhưng con người của họ đã bị nhấn xuống bùn đen và cuộc đời của họ đã bị phá hủy. Bên cạnh họ, còn phải nghĩ đến những tủi nhục mà cha mẹ, gia đình và cộng đoàn tín hữu của họ phải gánh chịu. Đây không phải là tội ác và bất công sao? Ai có thể đền trả những thiệt hại lớn lao gây ra bởi những tội ác và bất công mới này?
–  Nhiều người nại vào lý do bênh đỡ các nạn nhân, nhưng trong thực tế là trút bỏ hận thù trên những người bị coi là phạm nhân, nhất là nếu đó là một giám mục, linh mục hay tu sĩ Công giáo. Các nạn nhân được gì nếu lòng họ không được giải thoát khỏi hận thù và không được chữa lành?Để bênh đỡ nạn nhân, một đàng phải tìm phương thức để nạn nhân không còn bị tái xúc phạm, đàng khác phải giúp nạn nhân biết giải thoát lòng họ khỏi thù hận và biết tha thứ với lòng quảng đại bao dung.
–  Nhiều tin tức về việc lạm dụng tình dục được loan truyền trên các phương tiện truyền thông làm cho người ta có cảm tưởng đây chỉ là vấn đề của Giáo Hội Công Giáo. Sự thật không phải như thế. Bài nghiên cứu nghiêm túc của hai tác giả Valerie Dobiesz và Julia Brooksvới tựa đề “It’s not just O’Reilly and Weinstein: Sexual violence is global pandemic” (Không phải chỉ có O’Reilly và Weinstein: Lạm dụng tình dục là thứ bệnh dịch toàn cầu), được đăng trên Báo điện tử “The Conversation” ngày 25 tháng 10 năm 2017 cho thấy một bức tranh hoàn toàn khác. Vấn đề lạm dụng tình dục bao trùm khắp nơi và ở các môi trường ngoài Giáo Hội Công Giáo còn trầm trọng hơn nhiều.
f)    Bao che hay khó khăn của một sứ vụ
Trong thời gian gần đây, một điều được báo chí đề cập nhiều là ‘tội bao che” của các giám mục, linh mục. Người ta đòi buộc các giám mục, linh mục phải tố cáo các phạm nhân cho chính quyền dân sự, đó là chưa nói đến một số quốc gia còn muốn bắt các linh mục phải tố cáo các hối nhân đã thú nhận tội lỗi trong tòa giải tội. Điều này rất trầm trọng vì liên hệ đến ấn tín tòa giải tội và sự thánh thiện của bí tích.
Chúng ta không loại trừ khả thể có những vụ bao che tội phạm, nhưng cũng có những yếu tố khác cần được lưu ý. Đó là trách nhiệm mục tử và sứ vụ cứu độ của các linh mục, giám mục. Sứ mệnh mục tử đòi phải yêu thương mọi người, không loại trừ ai, kẻ xấu cũng như người tốt, nạn nhân và phạm nhân (x. Mt 5,43-48); sứ vụ cứu độ đòi buộc phải tìm mọi cách để cứu rỗi những người lỡ lầm, tội lỗi (x. Ed 33,11). Đứng trước những kiện tụng, cáo buộc, một đàng phải cẩn thận lắng nghe, đàng khác phải tìm hiểu sự thật để không phạm tội bất công, kết án người vô tội; một đàng phải bênh đỡ nạn nhân để họ không bị tái xúc phạm, đàng khác phải giữ thanh danh của người lỗi phạm và tạo điều kiện để họ có cơ hội hối cải và làm lại cuộc đời. Trong nhiều trường hợp cụ thể, dung hòa được các đòi hỏi trên đây không luôn dễ dàng, nhất là trong một xã hội khi sự công bằng tách rời khỏi lòng thương xót và sự thù hận mạnh hơn lòng tha thứ. Hoàn cảnh này gây ra trong tâm hồn mục tử một sự giằng co và nỗi khắc khoải đớn đau, ít ai hiểu được nếu chưa có cảm nghiệm về tình yêu mục tử cứu độ và chưa nghe được lời nói phát xuất từ trái tim tràn đầy xót thương của Chúa Cứu Thế, tha thiết đem lại nguồn hy vọng và sức sống: “Thầy cũng vậy, Thầy không lên án chị đâu! Thôi chị về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa.” (Ga 8, 11).
2. Thái độ dưới ánh sáng Đức Tin
Đứng trước hoàn cảnh cụ thể và phức tạp, mỗi người sẽ phản ứng và hành động theo ánh sáng chiếu soi trong cõi lòng. Dưới ánh sáng Đức Tin, tôi xin đề nghị những tâm tình và thái độ sau đây:
a) Tin tưởng vào lời Chúa hứa cho Giáo Hội và hăng say rao truyền tình thương cứu độ
Cơn lốc của tin tức về việc lạm dụng tình dục trong Giáo Hội đã làm cho nhiều người hoang mang, mất tin tưởng vào Giáo Hội và đôi khi còn bị rúng động trong lòng tin vào chính Thiên Chúa. Trong hoàn cảnh này, chúng ta sẽ giữ được an bình và hăng say, nếu chúng ta tin tưởng vào lời Chúa đã nói với Thánh Phêrô: “Thầy bảo cho anh biết: anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên Tảng Đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.” (Mt 16,18).
Trong hành trình lịch sử, có những thời kỳ đen tối, Giáo Hội phải vượt biển cả, chèo chống với phong ba, bão táp, con thuyền chòng chành và xem ra Chúa vẫn ngủ (x. Mc 4,35-41). Cho dù Chúa có ngủ, Ngài vẫn ở trên thuyền với các môn đệ của Ngài, hiện diện với tất cả quyền năng của Ngài và Ngài có thể dẹp tan cơn bão trong giây lát (x. Mc 4,39-40). Điều này làm chúng ta an tâm và thúc đẩy chúng ta hăng say loan truyền tình yêu cứu độ của Chúa. Chỉ cần chúng ta ở với Ngài, tin tưởng vào Ngài và trung thành với Ngài và biết kêu lên như các môn đệ trong cơn bão táp: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi.” (Mc 4,38), hay như môn đệ Phêrô, khi thấy gió thổi mạnh và bắt đầu chìm, ông hoảng sợ la lên : “LạyThầy, xin cứu con!” (Mt 14,30).
b) Khiêm nhường và tin tưởng
Con cái Giáo Hội, cũng như mọi người, là những con người mang trong mình bản tính nhân loại mỏng giòn, nhưng hạnh phúc vì được cứu độ và với sức mạnh của ơn Chúa, vẫn bền bỉ nỗ lực cải thiện đời sống để nên thánh, trong chính hoàn cảnh yếu đuối và sai lỗi của mình.
Lòng khiêm nhường nhìn nhận tội lỗi và cố gắng ăn năn hối cải là tâm tình và thái độ của người tín hữu chân chính của Chúa. Chính nhờ tâm tình và thái độ này, Giáo Hội Chúa luôn vươn lên từ những khó khăn, yếu đuối của mình và trong mọi thời đại, vẫn có nhiều tín hữu thánh thiện. Hiện nay, đại đa số hàng giáo sĩ và tu sĩ vẫn can đảm phấn đấu với chính mình để trung tín và nhiệt thành phục vụ Chúa và tha nhân.

c) Tình yêu đối với Giáo Hội
Trong bầu khí của nhiều tin tức về lạm dụng tình dục trong Giáo Hội, giữ được tình yêu đối với Giáo Hội là một thách đố lớn lao. Đặt nền tảng trên tình yêu của chính Chúa Giêsu, Đấng đã “yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh để thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn” (Ep 5,25-27), mỗi Kitô hữu phải biết yêu mến Giáo Hội, diễn tả bằng tâm tình của người “đứng bên trong” để cảm thông, để chia sẻ và để hàn gắn, chứ không phải thái độ của người “đứng bên ngoài” để chỉ trích hay kết án. Tâm tình yêu thương của Chúa Kitô còn đòi chúng ta có khả năng đón nhận hy sinh và đau khổ để van nài lòng thương xót của Thiên Chúa cho anh chị em lỡ lầm trong yếu đuối của họ và cho anh chị em đau đớn vì bị lạm dụng.
3. Nguồn gốc của vấn đề và hành trình tu luyện hay tái tu luyện
Mặc dù số giáo sĩ và tu sĩ lầm lỡ là một thiểu số trong tương quan với toàn thể hàng giáo sĩ và tu sĩ, nhưng nói theo Đức Thánh Cha Phanxicô, trong diễn từ bế mạc Hội Nghị Bảo Vệ Trẻ Vị Thành Niên trong Giáo Hội, ngày 24.02.2019, “trong Giáo Hội mà xuất hiện dù chỉ một trường hợp lạm dụng mà thôi – chứ đừng nói đến chuyện nó đã tác oai tác quái – thì trường hợp đó phải được đối diện với sự nghiêm trọng nhất”. Do đó, cần phải suy nghĩ để tìm ra nguồn gốc của vấn đề và rút ra kinh nghiệm cho hành trình tu luyện và tái tu luyện, mong cho mọi người, đặc biệt những người yếu đuối tìm được nguồn trợ lực thích hợp. Chỉ đưa ra những luật lệ mới không thôi chưa đủ, mà phải đề ra một chương trình tu luyện và tái tu luyện để mọi người có khả năng chống chọi với cơn bão của cuộc cách mạng tình dục.
Như đã nói ở trên, bên Hoa Kỳ từ năm 1920 người ta đã nói đến cuộc cách mạng tình dục và đến thập niên 60, cuộc cách mạng này bùng nổ bên các nước Âu Mỹ, rồi từ từ lan ra khắp nơi, phá đổ các luật lệ gìn giữ phong hóa liên quan đến tình dục. Sách báo, phim ảnh khiêu dâm, đồi trụy được tự do bầy bán và chuyển tải khắp nơi. Hiện nay, tình trạng đang bành trướng tệ hại hơn vì được các phương tiện truyền thông đại chúng tân tiến, như điện thoại thông minh, các trang web tiếp tay, trở thành sức mạnh vũ bão, thâm nhập vào cả những nơi riêng tư, thầm kín như phòng ngủ, văn phòng làm việc. Sức mạnh này đã làm nhiều người ngã quỵ do tâm hồn trống rỗng vì hậu quả của ba cuộc khủng hoảng lớn trong Giáo Hội. Đó là khủng hoảng Đức Tin, khủng hoảng luân lý – thần học luân lý và khủng hoảng giáo dục.
a) Khủng hoảng Đức Tin
Trong thời gian sau Công đồng Vaticanô II, Giáo Hội bên Âu Mỹ rơi vào một cuộc khủng hoảng Đức Tin rất trầm trọng, được diễn tả qua ba hình thức chính yếu:
– Thay thế Thiên Chúa bằng những cuộc bàn cãi lý thuyết về Thiên Chúa. Sách báo về thần học nhiều vô kể, nhưng nhà thờ thì trống rỗng và trở thành nơi hoang vắng. Thậm chí, cả những người viết về cầu nguyện cũng không cầu nguyện.
– Bị lôi cuốn vào những nhu cầu xã hội, như bênh vực công lý và người nghèo đến độ bỏ rơi Chúa. Người nghèo, người bị áp bức chiếm chỗ của Chúa trong lòng các môn đệ của Ngài. Từ đó phát sinh hiện tượng giáo sĩ và tu sĩ hành động và phát biểu như thể một nhà chính trị, một nhân viên hoạt động công tác xã hội.
– Dựa vào trào lưu hội nhập văn hóa và đối thoại liên tôn, người ta kéo nhau đi học cách thức cầu nguyện và nguyện gẫm của các tôn giáo khác, nhất là Phật Giáo và Ấn Giáo. Có những Đan viện bên Hoa Kỳ thay thế giờ Kinh Thần Tụng bằng những giờ Yoga và Zen. Việc thay thế phương thức cầu nguyện, trong thực tế đã kéo theo việc thay thế đối tượng của cầu nguyện. Thay vì tìm kiếm Chúa để sống kết hiệp với Ngài và thực thi thánh ý Ngài, người ta chỉ tìm sự an bình nội tâm hoặc đi vào cõi mênh mông của vũ trụ.
Cả ba hình thức trên có chung một mẫu số là bỏ rơi Chúa Kitô, Đấng Cứu độ nhân loại, Đấng ban sự sống. Đây là hiện tượng Thánh Phaolô đã nói trong thư gửi tín hữu Roma: “Tuy biết Thiên Chúa, họ đã không tôn vinh hay cảm tạ Người cho phải đạo. Trái lại, đầu óc họ suy luận viển vông và tâm trí ngu si của họ hoá ra mê muội. Họ khoe mình khôn ngoan, nhưng đã trở nên điên rồ. Thay vì Thiên Chúa vinh quang bất tử, họ đã thờ hình tượng người phàm là loài phải chết, hay hình tượng các loài chim chóc, thú vật, rắn rết.” (Rm 1,21-23).
Sứ điệp độc đáo của ơn cứu độ là Thiên Chúa đã xuống thế làm người và tên Ngài là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Emmanuel). Chỉ sống trong tình hiệp thông với Ngài, nhân loại mới tìm được sự sống thật. Vì vậy, điều căn bản của cuộc đời Kitô hữu, nhất là linh mục và tu sĩ là sống trong tình thân với Chúa. Nhiệm vụ của các chương trình tu luyện và tái tu luyện là dẫn đưa người thụ huấn không chỉ biết về Chúa Kitô, mà còn gặp được Ngài và hạnh phúc trong cuộc gặp gỡ với Ngài.
b) Khủng hoảng luân lý và thần học luân lý
Những năm 1960 – 1980 là thời kỳ khủng hoảng luân lý, nhất là trong những giá trị liên quan đến tính dục. Nhiều thái độ và nếp sống mới được đề nghị ngược lại giá trị luân lý, chẳng hạn, sống thử, sống chung không ràng buộc, ngừa thai nhân tạo, phá thai, hôn nhân mở, v.v. Vấn đề trở thành trầm trọng hơn vì có những suy tư thần học về luân lý cũng chạy theo nếp sống mới, gây hoang mang cho nhiều người và ru ngủ giới trẻ chạy theo các đam mê, nhất là thú vui tình dục. Đây là thời kỳ phát sinh những lý thuyết thần học cho rằng việc thủ dâm là bình thường, hưởng thụ tình dục là thiết yếu và là quyền lợi của con người… Đây cũng là thời kỳ phát sinh lý thuyết “Luân lý không tội lỗi”, theo đó không có vấn đề tội, chỉ có vấn đề tâm lý. Từ đó các cha giải tội và các cha linh hướng “thất nghiệp”, nhưng các phòng tư vấn tâm lý lại đầy khách.
Chương trình tu luyện và tái tu luyện ngày nay phải giúp cho người thụ huấn thấy rõ và dứt khoát rằng việc sử dụng cơ năng tính dục và thú vui tính dục chỉ tốt đẹp và được phép trong tương quan vợ chồng.
c) Khủng hoảng giáo dục
Chương trình giáo dục tại các cơ sở huấn luyện của Giáo Hội (Đại học, Chủng viện, Nhà Tập) trong thời gian này hầu hết chú tâm vào việc học lý thuyết trừu tượng. Ngay cả môn Thần học Tu đức cũng chỉ là những giờ học lý thuyết về các nhân đức. Hậu quả là người ta biết rất nhiều, nhưng không sống theo điều mình biết.
Việc huấn luyện ngày nay cần rút kinh nghiệm từ những thất bại của các thế hệ trước để bổ túc chương trình bằng những hướng dẫn thực tập. Trong viễn tượng này, cần quan tâm đặc biệt đến bốn điều sau đây:
– Tập làm chủ giác quan, cảm xúc và tình cảm;
– Luyện tập ý chí;
– Tập tính dứt khoát trước những thú vui tình dục;
– Luyện tập khả năng hy sinh, từ bỏ kể cả những điều được phép.
Các nhà sư phạm đều đồng ý là nếu không từ bỏ được những điều được phép, sẽ không thể từ bỏ những điều không được phép.
Để kết thúc bài chia sẻ, tôi muốn mời gọi quý Cha và quý Tu sĩ dâng lời cầu xin, van nài lòng thương xót của Chúa cho Giáo Hội, nhất là cho những anh chị em yếu đuối lỡ lầm để không ai mất lòng trông cậy vào tình thương của Chúa và cho các nạn nhân được ơn chữa lành. Để lời cầu xin của chúng ta đáng được Chúa lắng nghe, chúng ta hãy mặc lấy tinh thần Mùa Chay: ăn năn, thống hối và cải thiện đời sống. Hành trình Mùa Chay sẽ giúp chúng ta tìm được sự an bình và niềm hạnh phúc trong tâm hồn để chia sẻ với mọi người, cả anh chị em là nạn nhân hay phạm nhân của việc lạm dụng tình dục và mời gọi họ cùng dấn thân canh tân đời sống của họ như chính chúng ta đã và đang làm, để tất cả được hưởng niềm vui của lòng Chúa xót thương.
Xin Mẹ Maria là Mẹ của Giáo Hội gìn giữ và che chở Giáo Hội, đặc biệt Giáo phận chúng ta để trong mọi hoàn cảnh, chúng ta luôn là chứng nhân của Lòng Thương Xót của Chúa.
Thân mến chào quý Cha và quý Tu sĩ.
+ Giuse Đinh Đức Đạo
Giám mục Giáo phận Xuân Lộc”
***
Giữa hai quan điểm khác nhau đã trình bầy, từ hai Giáo Hoàng đến hai Giám Mục, bên nào sẽ thắng và hậu quả là Giáo Hội sẽ ra sao?
Phần cuối thư ngỏ đầu tháng 4, 2019, Giáo Hoàng Benedict XVI đặt câu hỏi: “Phải làm gì?” (What must be done?), rồi trả lời “Có lẽ chúng ta nên tạo ra một Giáo Hội nữa để giải quyết vấn đề? Tuy vậy, cái kinh nghiệm đó đã từng xảy ra và đã thất bại.” (Perhaps we should create another Church for things to work out? Well, that experiment has already been undertaken and has already failed.”) Có lẽ Ngài nói tới kinh nghiệm đổ vỡ Giáo Hội vào giữa thế kỷ 16. Trước những tệ đoan thời bấy giờ, một bên đòi cải tổ, một bên chống cải tổ. Kết quả, ngoài Giáo Hội La Mã, có thêm Giáo Hội Tin Lành.
Những ai tin rằng mọi chuyện đều do Chúa định, không thể cả quyết kinh nghiệm nào thành công hay thất bại.
Tất cả đều do ý Chúa!
__._,_.___

18 kiến thức cơ bản chăm sóc sức khỏe ai cũng nên tìm hiểu

image.png
Chế độ sinh hoạt hằng ngày và sức khỏe có liên quan mật thiết với nhau. Đôi khi vì không hiểu nên có thể vô thức làm hại chính mình. Dưới đây là những điều cơ bản ai cũng nên tìm hiểu.
1. Uống canh bổ dưỡng cơ thể là không đủ
Canh bổ dù có hầm lâu tới mấy, cũng chỉ là dịch lỏng chứa các loại axit amin hòa tan, các chất dinh dưỡng vẫn ở trong xương, thịt. Canh xương cũng không thể bổ sung canxi, khi hầm trong nồi áp suất một vài giờ, chất canxi trong trong đó chỉ cao hơn nước máy một chút, hàm lượng chất béo cũng không nhiều.
2. Chỉ có 3 loại đồ ăn nhẹ lành mạnh tốt cho sức khỏe
Về cơ bản chỉ có ba loại đồ ăn nhẹ tốt cho sức khỏe đó là: Trái cây, các loại hạt và sữa chua. Tuy vậy, trái cây và các loại hạt không thể ăn quá nhiều. Nếu ăn sữa chua tốt nhất nên chọn loại nguyên vị, phụ gia ít.
3. Bánh mì, sữa không phải là bữa sáng lành mạnh
Vấn đề chủ yếu vì hàm lượng đường trong bánh mì và sữa cao. Ăn vào sẽ làm lượng đường trong máu tăng nhanh và cũng nhanh chóng tụt xuống từ đó dễ bị mệt mỏi. Bánh mì thường đều qua chế biến nên làm nhiều chất dinh dưỡng biến mất.
4. Ăn uống thanh đạm là chế độ ăn ít dầu và muối
Chế độ ăn ít dầu và muối không có nghĩa ăn rau luộc là tốt nhất cho sức khỏe. Cần bổ sung các loại chất béo, muối vô cơ và dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể.
5. Nước ép hoa quả không bằng nước ép rau củ
Một quả táo hoặc lê, nhiều nhất chỉ được nửa cốc nước ép. Uống hai hoặc ba ly nước trái cây, tương đương với hấp thu thêm 4 đến 6 phần đường. Nếu bổ sung nhiều rau củ tươi lẫn một chút hoa quả sẽ đầy đủ dinh dưỡng hơn.
alt
Nước ép các loại rau củ tốt cho sức khỏe.
6. Bữa chính ăn quá ít sẽ giảm thọ
Theo kết quả một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Lancet Public Health, bữa chính ăn quá ít nguy hiểm hơn nếu ăn quá nhiều.
7. Không nên bổ sung các loại thực phẩm bổ dưỡng một cách mù quáng
Nhiều người quan niệm, thực phẩm bổ dưỡng là hoàn toàn không có hại. Tuy nhiên, sử dụng chúng cần căn cứ vào thể chất của từng người. Đối với một số, thực phẩm bổ dưỡng cũng giống như thêm dầu vào lửa. Ví dụ, ung thư đại tràng có mối quan hệ nhất định với các chất dinh dưỡng hấp thu vào cơ thể, ăn càng nhiều thực phẩm bổ dưỡng càng ngược lại.
8. Không nên lái xe sau khi uống thuốc cảm
Sau khi uống thuốc cảm lạnh cần chú ý lái xe cẩn thận. Tốt nhất không nên lái trong vòng 24 giờ sau khi uống. Nguyên nhân vì 90% các loại thuốc cảm có chứa chlorpheniramine, dễ gây buồn ngủ và mệt mỏi, và sẽ gặp nguy hiểm nếu ngủ gật trên đường.
9. Người già thường cắn vào lưỡi có thể là tiền thân của đột quỵ
Thỉnh thoảng cắn lưỡi là bình thường, nhưng nếu xuất hiện tình trạng này có thể cẩn thận đây có thể là triệu chứng báo trước đột quỵ. Nguyên nhân vì khi các dây thần kinh của não bị chèn ép sẽ làm lưỡi không thể hoạt động linh hoạt.
10. Khối u trên cơ thể không đau nguy hiểm hơn đau
Có những khối u đột nhiên xuất hiện trên cơ thể không nguyên nhân. Ví dụ, ở vú, các triệu chứng đỏ, sưng và đau nhiệt thường là chứng viêm nhiễm thông thường. Tuy nhiên, nếu khối đó không đau, gây ảnh hưởng tới vận động như ban đầu, khả năng ác tính sẽ lớn hơn. Nếu phát hiện những khối u có tình trạng này, nên lập tức đến viện kiểm tra.
11. Gai xương là ‘sản phẩm bình thường’ của cơ thể
Gai xương là bệnh lý thay đổi bình thường khi cơ thể dần lão hóa, đại đa số nếu không có triệu chứng biểu hiện thì không cần trị liệu. Dùng bất kỳ loại thuốc nào cũng không loại bỏ được hoàn toàn mà chỉ làm giảm đau.
12. Nguyên nhân gây đái tháo đường không phải chỉ do ăn nhiều đường
Nguyên nhân chính của bệnh đái tháo đường type 1 là do di truyền, và của type 2 là béo phì. Tất nhiên, nếu lượng đường trong máu tăng cao, nên hạn chế hấp thu vào cơ thể.
13. Cảm lạnh là “bệnh nan y” không trị cũng khỏi
The Cold White Paper, được xuất bản bởi Đại học Y khoa và Sức khỏe Cộng đồng Wisconsin năm 2010 chia sẻ, thứ nhất, có hơn 100 loại virus có thể gây cảm lạnh, hiện tại trên thế giới không có thuốc chống virus cảm lạnh. Thứ hai, thuốc cảm lạnh không thể điều trị vì chúng không thể diệt virus, chỉ có hệ thống miễn dịch của cơ thể mới thực hiện được. Thứ ba, thông thường các triệu chứng biểu hiện sẽ kéo dài trong khoảng một tuần, và sẽ tự khỏi cho dù có dùng thuốc hay không.
alt
Cảm mạo là ‘bệnh nan y’ không dùng thuốc cũng có thể tự khỏi.
14. Tâm trạng của bạn có thể ảnh hưởng đến sức khỏe
Theo kết quả một cuộc khảo sát tại Hoa Kỳ, 75% số người bị đau cột sống cổ, 80% bị đau đầu, 99% đầy hơi và 90% mệt mỏi là do cảm xúc của cơ thể gây ra. Mọi cơ quan nội tạng đều liên quan mật thiết tới các loại tâm trạng cảm xúc.
15. Thuốc cảm lạnh nên uống cách nhau 4 giờ
Hầu hết các loại thuốc cảm lạnh đều chứa thành phần hóa học hạ sốt và giảm đau của acetaminophen. Nếu bạn dùng nhiều loại thuốc cảm lạnh hoặc kết hợp thuốc Đông y và Tây y, đều vô tình bị quá liều và gây tổn thương gan.
16. Không có thuốc nào có tác dụng đảo ngược đối với đục thủy tinh thể
Có nhiều loại thuốc nhỏ mắt sử dụng lâm sàng trong điều trị đục thủy tinh thể, nhưng không có loại nào có tác dụng nghịch chuyển bệnh. Nói cách khác, những loại này chỉ có thể làm giảm bớt sự phát triển bệnh ở mức độ nhất định, không thể đảo ngược. Để điều trị các bác sĩ về cơ bản đều khuyên phẫu thuật.
17. Không nên nhỏ thuốc nhỏ mắt rơi vào nhãn cầu
Nhiều người có thói quen nhỏ thuốc nhỏ mắt vào nhãn cầu, điều này không đúng. Nên nhỏ vào mí mắt dưới hoặc phần lòng trắng bên dưới.
18. Không xuất hiện triệu chứng gì chớ dùng viên ngậm họng
Các viên ngậm họng thường làm dạng kẹo, lạm dụng sẽ tiêu diệt rất nhiều vi khuẩn trong miệng, gây mất cân bằng, nhiễm nấm, hình thành loét và các bệnh về răng miệng. Vì vậy, tốt nhất không nên sử dụng khi không có bệnh.
Kiên Định
__._,_.___
TÓM-LƯỢC SỬ-LIỆU
BỨC-TỬ VIỆT-NAM CỘNG-HÒA
(trong cuốn hồi-ký Biến-Loạn Miền Trung” )


... Trong lúc đó, ngay tại Thủ-Đô, trong cơn dầu sôi lửa bỏng, những tay điệp-viên chiến-lược của Cộng-Sản, từ lâu vẫn nấp dưới lớp áo tu-hành, như các Linh-Mục Thanh LãngPhan Khắc TừTrương Bá CầnChân TínNguyễn Ngọc LanTrần DuNguyễn Quang LãmTrần Ngọc Nhuận, v.v… (cùng với Linh-Mụ c Trần Hữu Thanh trong “Phong Trào Chống Tham-Nhũng”), cũng sách-động quần-chúng xuống đường hằng ngày để gây thêm rối-loạn, hoang-mang trong quần-chúng, và tạo sức ép đối với Tổng-ThốngNguyễn Văn Thiệu, làm nản thêm lòng người Mỹ, và tạo thêm lợi-thế về mặt chính-trị cho Bắc-Việt xâm-lăng.  
(trang 436)

Phong-Trào Chống Tham-Nhũng

Nói đến “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”, tưởng cần nhắc lại một số hoạt-động nổi bật của giới Kitô-Giáo trong và ngoài Việt-Nam Cộng-Hòa.

Trong thời-gian diễn ra Hội-Nghị Paris (từ 1968 đến 1973), Giáo-Hoàng Phaolô VI đã nhiều lần “nhân đạo” kêu gọi chấm dứt chiến-tranh Việt-Nam.
Tháng 12-1969Giám-Mục Phạm Ngọc Chi, Phó Chủ-Tịch Hội-Đồng Giám-Mục Việt-Nam, qua Hoa-Kỳ, đã tuyên-bố với báo-chíMỹ:  “Miền Nam [Việt-Nam] đồng-tình với chính-sách ‘Việt-Nam-Hóa Chiến-Tranh’ của Tổng-Thống Nixon...”
Tháng 9-1972, Đại-Hội lần 2 của tổ-chức “Kitô-Hữu Quốc-Tế” gồm hơn 20 nước họp tại Quebec (Canada),  với đề-tài giải-phóng các dân-tộc ViệtLàoCampuchia, đã “tố-cáo các cuộc xâm-lăng và ném bom vô-nhân-đạo của Mỹ; khẳng-định quyền tự-quyết, tự-do được sống hòa-bình của nhân-dân Việt-Nam.”

Tức là việc Mỹ chuẩn-bị rút lui đã được Kitô-Giáo Việt-Namgiáo-dân mấy chục nước khác, và nhất là Giáo-Hoàng Phaolô VI tán-đồngkhông còn đánh nhau với Cộng-Sản nữa.

Ngày 20-9-1970Linh-Mục Phan Khắc Từ, Tuyên-Úy Thanh Lao Công Sài-Gòn, qua Châu Âu, đã tuyên-bố tại Thành-Phố Firenze(Ý, nơi có Tòa Thánh Vatican):  “Kinh-nghiệm trước mắt cho chúng tôi xác tín rằng Giáo-Hội [Kitô] tại Việt-Nam hôm nay là một công-cụ hữu-hiệu của người Mỹ.”
Tháng 3-1971Linh-Mục Nguyễn Viết Khai tuyên-bố:  “Từ chính-quyền trung-ương xuống cho tận anh Trưởng Ấp, người Miền Nam không được phép giải-quyết vấn-đề của mình mà không có người nước ngoài xen vào.”
Tháng 11-1971Linh-Mục Trương Bá Cần, Tuyên-Úy Thanh Lao Công toàn-quốc, tham-gia vụ đình-công tại Hãng Pin “Con Ó”, bị Cảnh-Sát bắt, đã viết:  “Giáo Hội của tôi không biết chọn, nhất là chọn để chống lại những kẻ đang nắm quyền-hành trong xã-hội này... Giáo Hội của tôi cũng đã biết lựa chọn, nhưng không biết lựa chọn người nghèo khổ...”  

Tức là giới Kitô-Giáo Việt-Nam đồng-ý với các lời cáo-buộc và chiêu-bài của đối-phương.

Nhưng, sau Hiệp-Định Paris 27-1-1973 [chấm dứt chiến-tranh Việt-Nam], thì Bắc-Việt gia-tăng nỗ-lực và quyết-tâm tiến-chiếm Miền Nam.

Ngày 19-9-1973Tổng-Giám-Mục Sài-Gòn Nguyễn Văn Bình đọc diễn-văn khai-mạc “Năm Thánh”:  “Chúng tôi hy vọng rằngnhững cuộc giết chóc và hận thù sẽ thực-sự chấm dứt trên mảnh đất này và đồng thời có được quan hệ hai chiều giữa Bắc và Nam, trong lúc đất nước tạm thời còn phân chia.”  
      Ngày 10-1-1974, sau cuộc Hội-Nghị toàn-thể hàng giáo-phẩmcác Giám-Mục Miền Nam đã công-bố một bản tuyên-ngôn “tha thiết kêu gọi hai chính phủ Bắc và Nam cùng đồng loạt, vì tình thương dân tộc, mà ngưng mọi hoạt động gây chiến và mọi chiến dịch bôi nhọ và thù ghét lẫn nhau.”  
Tức là giới Kitô-Giáo Việt-Nam [Cộng-Hòa] không đề-cập đến việc Bắc-Việt vi-phạm Hiệp-Ước Parisxâm-lăng Miền Nam, mà chỉ muốn Miền Nam bắt tay làm hòa với Miền Bắcđối-nghịch lập-trường “4 Không” của Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Giáo-Hội Kitô-Giáo Việt-Nam ở Sài-Gòn ra “Thư Chung” phát-động cuộc tranh-đấu “chống tham nhũng”, chống Tổng-ThốngNguyễn Văn Thiệu.  Họ đòi Thiệu phải từ-chức, vận-động trưng-cầu dân-ý buộc Thiệu phải ra đi.
Lời kêu gọi đó đã dấy lên liền một “Phong-Trào” gọi là “Chống Tham-Nhũng”.
* 
Phong-Trào Chống Tham-Nhũng” do Linh-Mục Trần Hữu Thanh cầm đầu, các LM Đinh Bình Định và Nguyễn Học Hiệu cùngBác-Sĩ Nguyễn Thị Thanh phụ-lực, qua một bản “Tuyên Ngôn” được sự bảo-trợ của 301 linh-mục khác, kể cả Tuyên-Úy Công Giáo”, ra mắt tại Giáo-Xứ Tân ViệtSài-Gòntừ năm 1973là một tập-hợp tương-đối lớn, có nhiều tín-đồ nhất, và tại nhiều địa-phương nhấtso với Nhóm các linh-mục cộng-sản nằm vùng và thân-Cộng tại Sài-Gòn.
Phong-Trào” được sự tham-gia của các nhân-vật ngoài Kitô-Giáo, như Thượng-Nghị-Sĩ  Hoàng Xuân Tửu và Dân-Biểu Nguyễn Văn Kim cùng nhiều DB thuộc Đảng Đại-Việt của Hà Thúc Ký và phía Dương Văn Minh; DB Đặng Văn Tiếp phía Nguyễn Cao Kỳ; DB Nguyễn Văn Cử chống Diệm và phía Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng; DB Vũ Công Minh phía Hòa-Hảo; DB Đỗ Sinh Tứ phía quân-đội; Bác-Sĩ Nguyễn Tuấn AnhLuật-Sư Đặng Thị TâmNhân-Sĩ Nguyễn Trân; v.v...
Linh-Mục Thanh được báo-chí ngoại-quốc tặng cho danh-hiệu “Hiệp Sĩ của Người Nghèo”.

Sau đó, “Phong-Trào” công-bố các bản “Cáo Trạng” trong các cuộc biểu-tìnhxuống đường rầm-rộ dữ-dội và liên-tục của các tín-đồ do các linh-mục lãnh-đạo có khi có hàng chục ngàn người tham-dự tại HuếĐà-NẵngQuy-NhơnNha-TrangCam-RanhSài-GònMỹ-ThoCần-Thơ, v.v...

Cuối năm 1974, nhất là đầu năm 1975những cuộc biểu-tình chống-chính-phủ của nhóm Linh-Mục Trần Hữu Thanh, có sự tham-gia của một số chính-khách, lãnh-tụ đảng-phái, cộng với việc Hội-Đồng Giám-Mục Việt-Nam phổ-biến “Thư Chung”, kêu-gọi các Nhà Thờ toàn-quốc “chống tham nhũng”, thúc-đẩy giáo-dân xuống đường rầm-rộliên-tục… đã khiến cho các binh-sĩ ngoài tiền-tuyến chán-nản, mất tinh-thần, và ảnh-hưởng tai-hại đến sự sống-còn của đất-nước.

Bên cạnh “Phong-Trào” của LM Trần Hữu Thanh, còn có các Nhóm linh-mục tay sai Cộng-Sn và thân-Cộng, là các LM Trương Bá CầnThanh Lãng, Huỳnh Công MinhVương Đình Bích, Hồ Thành BiênNguyễn Thành TrinhNhóm “Đối Diện” của 11 linh-mục phản-chiến Nguyễn Ngọc LanChân TínPhan Khắc TừNguyễn Hữu Khai, v.v... trong mấy tháng cuối-cùng của Việt-Nam Cộng-Hòa, đã lợi-dụng các buổi thuyết-giảng tại các Nhà Thờ để công-khai tuyên-truyền cho người anh em bên kia”.
(Điển-hình là Linh-MPhan Khắc Từtừ năm 1969 đã đi dự đại-hội Thanh Lao Công Thế-Giới có xu-hướng thân-Cộng đượcMạc-Tư-Khoa đỡ đầu, tại Liban.  Ở Pháp thì đến hội-ý với Nguyễn Thị BìnhTrưởng Phái-Đoàn thương-thuyết của “Mặt Trận Giải Phóng”; tham-gia đình-côngbiểu-tình đòi công-bằng cho giới lao-động; cùng sinh-viên và công-nhân đòi hòa-bình cho Việt-Nam.  Sau này về nước thì dính vào Mặt Trận Nhân-Dân Tranh-Thủ Hòa-BìnhPhong Trào Học-Sinh Sinh-Viên Đòi Quyền SốngPhong-Trào Chống Tăng Học-PhíChống Độc-Diễn; đóng vai “linh-mục hốt rác” gây sự chú ý của dư-luận; dùng Nhà-Thờ Vườn Xoài làm nơi chế-tạo bom xăng cho phong-trào đốt xe Mỹ trên đường phố; cùng công-nhân đình-công để gây trở-ngại cho các cuộc hành-quântiếp tay CS dựng lên Ủy-Ban Bảo-Vệ Quyền-Lợi Lao-Động Miền Namrồi lại giả-danh từ-thiện hoạt-động trong tổ-chức trá-hình của CS là Mặt Trận Nhân Dân Cứu Đói...)

Chủ-Tịch Thượng-Nghị-Viện Trần Văn Lắm lên án Tổng-Thống Thiệu “lạm quyền, tham nhũng”.

Một số lãnh-tụ đảng-phái và tôn-giáo, như Phan Bá Cầm (Hòa-Hảo), Trần Quang Vinh (Cao-Đài), Hà Thế Ruyệt (Duy-Dân),Thượng-Tọa Pháp-Tri (Phật-Giáo) và các Ông Ngô-Văn-KýNguyễn Văn LụcXuân Tùng (Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng) thành-lập “Trận Tuyến Nhân Dân Cách Mạng”, kêu-gọi TT Nguyễn Văn Thiệu từ-chức và các phe liên-hệ “chấm dứt chiến-tranhgiải-quyết vấn-đề Miền Nam bằng phương-thức hòa-bình”.

Nhóm “Sóng Thần” thì tổ-chức “Ngày Ký-Giả đi Ăn Mày” rồi tiếp theo là “Ngày Công-Lý và Báo-Chí Thọ-Nạn” vào tháng 10-1974.

Các Tuyên-Úy Công-Giáo thì tổ-chức Đại-Hội tại Thủ-Đô.  Họ rao giảng với giáo-dân quân-nhân rằng “cộng-sản cũng là con-cái của Chúa”, rằng “Công-Giáo và CS có thể sống chung hoà-bình”…  

Bản “Cáo Trạng số 1” được ghi là ký tại Huế vào ngày 8-9-1974, khi được tung ra tại Nhà Thờ Tân-Sa-ChâuSài-Gòn, có báo bảo là “làm lung-lay ghế Tổng-Thống Thiệu.”
       Các báo TimeNewsweek; các đài BBCVOA đều loan tin.  
      Hậu-quả là Quốc-Hội Mỹ quá chán-ngán Chiến-Tranh Việt-Nam và mệt-mỏi vì đã yểm-trợ một đồng-minh có quá nhiều khuyết-điểm và thối-nát.  

Tức là giới Kitô-Giáo Việt-Nam đã tiếp tay cho Hoa-Kỳ chấm dứt viện-trợ và phủi tay đối với Việt-Nam Cộng-Hòa.

Việc Mỹ cắt-giảm quân-viện đã làm tê-liệt hẳn khả-năng chiến-đấu của Quân-Lực VNCH, và từ đó làm suy-nhược tinh-thần kháng-cự, yếu-tố quan-trọng nhất trong bất-kỳ cuộc chiến-tranh nào.
 *
Về phần Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu thì ông đích-thân đi trực-tiếp cầu-cứu tại chính-quốc Hoa-Kỳ, nhưng đã không được nghênh-đón long-trọng tại Thủ-Đô Hoa Thịnh Đốn.  Năm 1968Johnson (dù là Dân-Chủ nhưng chủ-chiến) chỉ tiếp Thiệu tại thành-phố đảo Honolunu, và chỉ để thảo-luận sách-lược hòa-đàm với Cộng-Sản.  Năm 1969Nixon (dù là Cộng-Hòa nhưng chủ-hòa) cũngchỉ tiếp Thiệu tại Đảo Midway, và cũng chỉ để thỏa-thuận về chính-sách Việt-Nam-Hóa và lịch-trình rút quân của Mỹ.

Thiệu lại đích-thân đi trực-tiếp cầu-cứu với Giáo-Hội Kitô La-Mã, là một trung-tâm quyền-lực chính-trị khác của thế-giới. Tuy nhiên, Giáo-Hoàng Paul VI, trong cuộc viếng-thăm lục-địa Á-Châu lần đầu-tiên, đã không ghé đến Việt-Nam là quốc-gia đang bị Cộng-Sản đe-dọa, nhất là Việt-Nam có tỷ-số giáo-dân đông thứ nhì tại lục-địa này.  Thiệu đến Tòa Thánh, nhưng không được Giáo-Hoàng tiếp-kiếndù Thiệu là một Tổng-Thốngmột con chiênvì lập-trường của Vatican về vấn-đề Chiến-Tranh Việt-Namlà chỉ bênh-vực Hà-Nộichỉ muốn chấm dứt chiến-tranh dù Miền Nam có rơi vào chế-độ Cộng-Sản sắt máu.  Đã thế, Giáo-HoàngPaul VI còn chỉ-trích Tổng-Thống Thiệulại còn tiếp-kiến cặp Nguyễn Thị Bình và Xuân Thủy, trưởng phái-đoàn Cộng-Sản tại Hòa-Hội Paris.  

Từ năm 1968, Giáo Hoàng Phaolồ Đệ-Lục đã lập ra “Ngày Quốc-Tế Hòa-Bình”, cổ-vũ Hòa-Bình bằng thương-thuyết tại Việt-Nam.  Vatican xác-định lập-trường là chấm dứt chiến-tranhquan-hệ tốt với Miền Bắc và Chính-Phủ Lâm-Thời Miền Nam.  Chính Giáo-Hoàng này trao-đổi công-điện trực-tiếp với Hồ Chí Minh.  

Vào tháng 6-1971, đang lúc tên gián-điệp cộng-sản Vũ Ngọc Nhạ (kẻ được Linh-Mục Hoàng Quỳnh che-chở) bị Việt-Nam Cộng-Hòa cầm tù ở Côn-Đảo, mà Tòa Thánh và Giáo-Hoàng Phaolô VI lại tặng Bằng Khen và Huy Chương “Vì Hòa Bình” cho y.  

Tức là Giáo-Hoàng Paul VI đã biến Vatican và nhiều Giáo-Hội địa-phương thành một guồng máy chính-trịngoại-giaotình-báokhổng-lồ để giúp Hà-Nội tiến chiếm Miền Nam.
*
Thế mà Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng vẫn chưa thấy là Hoa-Kỳ sắp bỏ rơi Việt-Namkhông thay-đổi đường-lối chính-trị, vẫn cứ sử-dụng giải-pháp quân-sự, và không tin là Hà-Nội có đủ sức tấn-công đại-quy-mô.
Ông sửa-đổi Hiến-Pháp để làm Tổng-Thống thêm một nhiệm-kỳ năm năm nữa, khiến Đại-Tướng Thủ-Tướng Trần Thiện Khiêmphải ra mặt chống-đối, làm tình-hình chính-trị trong nước càng rối-ren thêm.

Ðầu tháng 2-1975, “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng” phổ-biến tiếp bản “Cáo-Trạng số 2” tố-cáo TT Thiệu nhiều tội và hô-hào lật đổ bằng vũ-lực, khiến ông phải dùng biện-pháp mạnh, cho bắt giam nhiều chính-khách, trí-thức, lãnh-tụ đảng-phái, như cácThượng-Nghị-Sĩ Thái Lăng NghiêmPhạm Nam SáchNguyễn Văn Chức; các ông Hà Minh LýTrần Thúc Linh, và một số ký-giảtrong đó có những nhân-vật nổi tiếng chống-Cộng như Mặc ThuLê TrầnVũ BằngĐinh Từ ThứcTrương Cam VĩnhNgô Đình Vận...

Để đối-phó với “Phong-Trào”, Thiệu vận-dụng nhiều đồng-đạo ủng-hộ mình.
Có sáu linh-mục, trong đó có cả Linh-Mục Hoàng Quỳnh, sáu đêm liền, thay phiên nhau lên đài truyền-hình bênh-vực và ca-ngợiThiệu; ngoài ra, còn có các Nghị-QuyếtQuyết-ĐịnhĐề-Nghịcó chữ ký của 70 Dân-Biểu ủng-hộ Thiệu.
Có cả Giám-Mục Lê Văn Ấn, đặc-trách Tuyên-Úy, Giám-Mục Nguyễn Văn ThuậnLinh-Mục Cao Văn Luận, đứng ra cãi giùm choThiệu...

Tình-hình gay-cấn đó, do “Phong Trào Chống Tham-Nhũng* gây nên, đã tạo ra thế “nội công, ngoại kích”, quả là đã phá rối hậu-phương, làm lung-lạc tinh-thần binh-sĩ nơi tiền-tuyếnlàm lợi cho Cộng-Sản, trong khi đó thì Bắc-Việt xua quân tấn-công Miền Nam...

-------
*Năm kia, nhà văn Nguyễn Văn Lục có hỏi xin tôi tài-liệu về “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng” của Linh-Mục Trần Hữu Thanh; nhân dịp, tôi đã giới-thiệu với anh nhà văn Nguyễn Lý Tưởngcũng ở miền Nam Bang CaliforniaUSA.
(Thời-gian 1973-75 anh Tưởng chưa nắm vững vấn-đề, nhưng đến năm 1989, anh Tưởng sống ở trong nước Việt-Nam Xã-Hội Chủ-Nghĩa, đã trực-tiếp hỏi chuyện Linh-Mục Trần Hữu Thanh ở bên đó nên biết rõ-ràng hơn.)


 Kết-Luận

Có người cho rằng “Phật-Tử Tranh-Đấu”, tức [số người hậu-thuẫn cho] Phái Ấn-Quang của Phật-Giáo Việt-Nam (về sau là Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhất) đã liên-tục chống-đối Chính-Quyền Việt-Nam Cộng-Hòa, khiến cho Nền Đệ-Nhất Cộng-Hòa sụp-đổ, rồi Nền Đệ-Nhị Cộng-Hòa cũng suy-tàn theo.   Nghĩa là, theo ý họ, chính cuộc tranh-đấu của Phật-Giáo Ấn-Quang năm1963 đã đưa đến sự sụp-đổ của VNCH vào năm 1975 (!)

Như thế thì:

Cả một khối lớn, gồm có:
Giáo-Hoàng Phao Lồ Đệ-Lục
Tòa Thánh Vatican
100% Giáo-Hội Ky-Tô-Giáo Hoàn-Vũ [ hơn một tỷ tín-đồ]
20 nước Ky-Tô-Giáo Quốc-Tế
100% Hội-Đồng Giám-Mục Việt-Nam
Phong-Trào Chống Tham-Nhũng và Kiến-Tạo Hòa-Bình
đã tạo biến-loạn vào chính những năm 1974-1975, không những chỉ musử-dụng vũ-lực lật đổ tức-thời Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệumà còn chống cả chính-thể Việt-Nam Cộng-Hòa  

mà không có tội đối với Quốc Dân, lại đi gán hết trách-nhiệm cho:
                  Một Thượng-Tọa Thích Trí-Quang
                  50% Phật-Tử Ấn Quang [chỉ hơn mươi triệu]
                  vốn đã chấm dứt tranh-đấu sau khi đã có Hiến-Pháp từ 1967, và Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc chỉ mít-tinh ôn-hòa tại chùa và chờ sử-dụng lá phiếu hợp-hiến & hợp-pháp mà thôi?

                                                   ? ? ?

Nhưngtheo như tôi đã lược-dẫn trên, thì:

Phật-Tử Tranh-Đấu” đã chấm dứt hoạt-động từ ngày thành-lập Nền Đệ-Nhị Cộng-Hòa, cuối năm 1967.  Mãi đến lâu sau Hiệp-Định Paris 1973 mới tái-xuất-hiện trong “Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc”.

Cả phía “Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc” bên giới Phật-Tửlẫn phía “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng” bên giới Giáo-Dânđều tranh-đấu chống Thiệu để có được một Tổng-Thống trong-sạch.

Tuy nhiên, các điểm khác nhau là:  

Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc” chỉ họp tại Chùasinh-hoạt ôn-hòabất-bạo-độngkhông đòi lật Thiệuchỉ chờ đến ngày bầu-cử Tổng-Thống vào cuối năm 1975 sẽ sử-dụng lá phiếu hợp-Hiến và hợp-Pháp của mình.
Phong-Trào Chống Tham Nhũng” thì rầm-rộ xuống đườngbiểu-tình tuần-hànhđòi Thiệu từ-chức, và hô-hào dùng bạo-lực để lật đổ Thiệu tức-thời.

Phật-Tử Tranh-Đấu” mít-tinh ôn-hòa thì không xáo-trộn trật-tự công-cộng, tiến-hành trong vòng luật-pháp cho phép, và theo truyền-thống sinh-hoạt dân-chủ tại các nước Tự-Do.
Giáo Dân Tranh Đấu” thì triệt-hạ uy-tín và hiệu-năng quyền-lực của một Tổng-Tư-Lệnh Quân-Đội đang đứng trước họng súng của quân thù, lại còn đòi dùng vũ-lực để lật đổ một Tổng-Thống dân-cử, tức là xóa bỏ Hiến-Pháp, tức là trở thành nội-phản/nội-thù của Quốc/Dân.

Phía “Giáo-Dân Tranh Đấu” thì đòi trừng-phạt một cá-nhân tham-nhũngmà tổng-số vật-sản bị lạm-chiếm so ra không đáng bao lăm đối với tài-nguyên quốc-gia, lại vẫn còn đó, rồi sẽ lấy lại, chưa mất đi đâutrong lúc Phía “Phật-Tử Tranh Đấu” thì đặt “nợ nước trước thù nhà”, mọi người chung sức đồng lòng chống giặc trước đãtrước hết là để trì níu lại cái Cơ-Đồ Dân-Chủ đang trong cơ nguy bị vĩnh-viễn cướp mất đi.
  *
Phần tôi, tôi đối-lập với chính-sách quân-phiệt của Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệucũng như với chế-độ độc-tôn của Tổng-ThốngNgô Đình Diệm trước kianhưng tôi đã chọn trước tiên là làm tròn bổn-phận của một công-dân đối với Chính-Thể Cộng-Hòa.

Riêng về “Phong Trào Chống Tham Nhũng”, có ít nhất là ba vấn-đề quan-trọng hàng đầu mà phía “Giáo Dân Tranh Đấu” (“trả thù cho [cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm]”, theo lời trối-trăn của Diệm “Tôi chết thì trả thù cho tôi”) cố ý không đề-cập đến:
   
IViệc hạ bệ Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu:  

a/ Họ muốn đảo-chánh quân-sự, nhưng không thuyết-phục được ai, nên không thành-công.
b/ Họ quyết hạ Thiệu, nhưng không tìm ra được một “ứng-viên” nào của “phe ta” xứng-đáng để lên thay Thiệu.  Chỉ nhắm trước mắt mà không nhìn thấy xa hơntình-hình hậu-Thiệuthì tức chỉ là “không lấy thì khuấy cho hôi” mà thôi.

IILý-do hạ Thiệu:  

1) Thiệu là thủ-phạm, đã tấn-công Dinh Gia-Longđưa đến cái chết của Diệm.
2) Nhưngcái tội lớn nhất của Thiệu, là đã có Đảng Dân-Chủlan trong quần-chúnglen trong chính-quyềnluồn trong quân-ngũ, mà lại chỉ lo gia-tăng phe-cánh cho cá-nhân mìnhchứ không chịu dùng nó [như một Đảng Cần-Lao tái-sinh] để “mở-mang nước Chúa”.

IIIMục-đích đích-thực của Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”:

Danh-xưng thực-thụ của Nhóm này (cái đuôi mà họ cố giấu) là:
Phong trào nhân dân chống tham nhũng để cứu nước và kiến tạo hòa bình”.
Toàn câu đã được ghi rõ phía dưới “Cáo Trạng số 1”, làm tại Huế, ngày 8 tháng 9 năm 1974.
Trong các hoạt-động sôi-động trước mọi người, họ cố tình nhấn mạnh mấy chữ “chống tham nhũng” mà lơ đi cái đuôi là mấy chữkiến tạo hòa bình”.

Thử hỏi: trong tình-thế dầu sôi lửa bỏng lúc bấy giờ, có ai còn có cách nào kiến-tạo hòa-bình” khác hơn là tuân giữ “đức vâng lời”, tuân lệnh Giáo-Hoàng PhaoLô VI và ngoại-bang Vaticanbỏ súngbắt tay với cộng-sảnrước địch vào nhà?
* 
Sau Hiệp-Định Paris năm 1973, nói chung là sau “Mùa Hè Đỏ Lửa” năm 1972các vụ “Bàn Thờ Phật Xuống Đường” cũng như “Tổng-Công-Kích Tết Mậu-Thân đã là chuyện cũđã lùi vào dĩ-vãng rồi.
Các ván cờ đó đã được các bên tham-dự xóa hết rồi.  
Hệ-quả có chăng là sau vụ “Bàn Thờ Phật Xuống Đường” năm 1966 thì Nhóm “Phật-Tử Tranh-Đấu” đã không còn “tranh-đấu” nữa sau khi đã có Hiến-Pháp năm 1967; và sau vụ VC “Tổng-Công-Kích Tết Mậu-Thân” năm 1968 và Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972thì tinh-thần chống-Cộng của Dân và Quân Miền Nam đã lên cao hơn.  
Cho nên Biến-Động Miền Trung là chuyện đã xưa rồi.

Mới nhấtgian-xảo nhất, và nham-hiểm nhấtlà chuyện Biến-Loạn Miền Trung.
Trên bàn cờ thời-sự Miền Nam Việt-Nam, vào giai-đoạn cuối-cùng của lịch-sử Việt-Nam Cộng-Hòachỉ còn có một ván cờ mớichung-kết và chung-quyết:

Đối-thủ chính bên phía đối-lập với Chính-Quyền là các Nhóm “Giáo-Dân Tranh Đấu”, do đại-khối hơn 300 linh-mục trong “Phong Trào Chống Tham Nhũng” và cả đám linh-mục nằm vùng và thân-Cộng, “lãnh-đạo tinh-thần” Kitô-Giáo Việt-Nam, đứng ra thao-túng tình-hình.
Ở trên đầu và sau lưng họ là Tòa Thánh La-Mã với đích-thân Giáo-Hoàng Phaolô VI cùng với hàng chục quốc-gia chư-hầucủa Vương-Quốc Vatican.
(Nhưng quốc-gia Việt-Nam của Kitô-Giáo đâu được làm một chư-hầu.  Chư-hầu là một nước nhỏ/yếu, tùng-phục một nước lớn/mạnh, để được tồn-tại, nghĩa là vẫn còn là một nước.  Đằng này, chỉ một Dòng Chúa Cứu-Thế là một giáo-đoàn/chi-phái của Giáo-Hội Kitô, mà đã tự xem là một Quốc-Gia, và thu-tóm cả nước Việt-Nam làm thành một Tỉnh nội-thuộc của Nước họ rồi:
Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam.)

Thế đánh cạn-tàu ráo-máng của nội-thù đã chiếu bí Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu, trực-tiếp mở đường cho ngoại-địch hạ gục đối-thủ trong nước cờ kết-thúc giữa Bắc-Việt Xâm-Lược với Việt-Nam Cộng-Hòa.
*
Vận Nước suy-đồi, mỗi người dù nhiều dù ít đều có một phần trách-nhiệm (thất-phu hữu-trách).

Chỉ có những kẻ đầy thiên-kiến, mù lương-tri, có ác-ý, và không tôn-trọng Sự Thật, mới đổ hết lỗi cho một riêng ai.
Ngày nay, mang thân-phận thất-quốc, lưu-vong, chỉ trừ những kẻ đã ở hẳn bên phía cộng-sản Việt-Nam rồi, còn thì không có “Phật-Tử Tranh-Đấu” nào mà không luyến-tiếc Việt-Nam Cộng-Hòa.

Trong lúc đó, có một số “Giáo-Dân Tranh-Đấu”, đến tận ngày hôm nayđã gần 40 năm quamà vẫn còn tự-hào, hãnh-diện về những âm-mưu, toan-tính, nỗ-lực, và hành-động của cái-gọi-là “Phong-Trào Chống Tham Nhũng”, vì mình không những chỉ chống-phá cá-nhân Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu mà đã đạp đổ cả cơ-chế Hiến-Phápvới Lập-Pháp, Hành-Pháp, Tư-Pháp ở trong Chính-Quyềnvà các Khối, các Nhóm trong Dân-Nhânvới các Chính-Đảng và các Giáo-Hội sống dưới Chính-Thể Việt-Nam Cộng-Hòanói chung là Việt-Nam Cộng-Hòa.  

Chính những kẻ ủng-hộ “Phong-Trào Chống Tham Nhũng” ngày nay cũng đã công-khai nhìn-nhận là LM Trần Hữu Thanh và cảPhong Trào đó đã chống VNCH.
*
Tóm lạinếu vì một lý-do nào đó mà phải gán riêng cho đích-danh một số người nào đó là “thủ-phạm chính” quấy-rối an-ninh trật-tự công-cộng nhất, lũng-đoạn tình-hình chính-trị quốc-gia nhất, gây cho tinh-thần dân-chúng hoang-mang nhất, khiến cho ý-chí chống-Cộng của chiến-sĩ giao-động nhất, vào mấy năm cuối-cùng của Chiến-Tranh Việt-Namtức là đâm một nhát dao chí-tử vào Việt-Nam Cộng-Hòa khi đang hấp-hốithì số người đó rõ-ràng, không thể chối-cãi được, phải là thành-phần cực-đoan trong Nhóm “Giáo-Dân Tranh-Đấucác linh-mục cộng-sản nằm vùng, tay sai và thân-Cộng, cùng với Ban Lãnh-Đạo của Phong-Trào Chống Tham-Nhũngdù là một bộ-phận nhỏcủa giới tín-đồ Kitô-Giáo Miền Nam Việt-Nam.
(các trang 472-84)

    LÊ XUÂN NHUẬN  



Thật là mâu-thuẫn và buồn cười, theo ý của một số người
chống lại nhóm Phật-Tử Tranh-Đấu năm 1963, thì cán cân Cong Lý
tính đến Tháng Tư năm 1975 hóa ra là:





        Cước-Chú:

         Hồi-Kí Biến-Loạn Miền Trung được in vào năm 2012.
         Lúc sắp in xong, tôi đã rút bớt 2 trang 484 và 485.
         Nhưng nay tình-hình đã khác, tôi xin phổ-biến 2 trang liên-hệ dưới đây:

L.M. Trần Hữu Thanh cùng với 301 linh-mục khác
ký tuyên-ngôn lập Ủy Ban Chống Tham Nhũng,
chống VNCH.
 Cựu Thiếu-Tá Liên Thành, cựu Chỉ-Huy-Trưởng
                         Cảnh-Sát Quốc-Gia Tỉnh Thừa-Thiên & Thị-Xã Huế,
                          đã viết gọn là:
                             “LM Trần Hữu Thanh chống VNCH năm 1974

                            Sunday, July 18, 2010
                          Liên thành - LM Trần Hữu Thanh cùng với 301 Linh Mục khác 
                           ký tuyên ngôn lập Ủy Ban Chống Tham Nhũng.1974

                            “LM Trần Hữu Thanh chủ động dấn thân vào chính trị:
                              đó là năm 1974 ở Sài-gòn.
                           LM Trần Hữu Thanh cùng với 301 Linh Mục khác
                            ký tuyên ngôn lập Ủy Ban Chống Tham Nhũng,
                            chống VNCH