Search This Blog

Monday, July 24, 2017

VỤ ÁN NGUYỄN VĂN LÝ

VỤ ÁN NGUYỄN VĂN LÝ
Trần Chung Ngọc
nguồn http://giaodiemonline.com/2007/04/vuan.htm

http://sachhiem.net/TCN/TCNdt/TCNdt0.php

         
10-Oct-2011

Vụ án Nguyễn Văn Lý [trong bài này tôi không viết lên chức vụ Linh mục của Nguyễn Văn Lý vì người bị truy tố trước tòa án không phải là “linh mục Nguyễn Văn Lý” mà là một công dân Việt Nam bị cáo là phạm tội vi phạm luật pháp quốc gia, và tôi cũng tin rằng công an Huế không bao giờ lại bắt giữ và truy tố một “Chúa thứ hai” (alter christus) trong người tràn đầy Thánh Linh của giáo hội Công giáo. Vả chăng, trước vành móng ngựa không có linh mục, không có địa vị, chức tước v..v.., chỉ có bị cáo trước quan tòa với một cáo trạng] đã làm sôi nổi dư luận hải ngoại vì tấm ảnh “bịt miệng”, tuy rằng chẳng có ai đặt vấn đề tại sao công an phải bịt miệng Nguyễn Văn Lý.

Đúng như Matt Steinglass đã nhận định ở Huế ngày 30 tháng 3, 2007: ;“Cũng tương tự như những vụ án trước đây, phiên tòa xử Linh mục Nguyễn Văn Lý hôm thứ sáu đã gặp phải sự chỉ trích dữ dội của các nhà tranh đấu cho dân chủ Việt Nam ở hải ngoại cùng với các tổ chức nhân quyền quốc tế.”

Cho nên, trên những diễn đàn truyền thông hải ngoại chúng ta thấy xuất hiện những bình luận gia nhà nghề quen thuộc rất nổi tiếng, tiếng gì thì còn tùy theo quan điểm mỗi người, như Bùi Tín, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Thanh Hiệp, Ngô Nhân Dụng, Minh Võ, Trần Phong Vũ, Lưu Vũ, Thông Luận, Quê Mẹ v..v.. và một số không nhỏ những tên tuổi không có ai biết đến, lên tiếng phê bình, bình luận và lẽ dĩ nhiên đồng thanh kết tội chính quyền là đã đàn áp, bịt miệng giữa tòa một ngôi sao không đồng chính kiến với chính quyền và đang tranh đấu cho tự do, dân chủ. Hình ảnh “bịt miệng” đã được khai thác triệt để và tối đa, để “chứng minh” hơn 80 triệu người dân Việt Nam đang sống trong ngục tù “cộng sản vô thần” [Voltaire: “Vô Thần là thói xấu của một số ít những người thông minh” (Atheism is the vice of a few intelligent people)] , không có tự do tôn giáo [của mấy vị tu sĩ], và những tiếng nói thần thánh cho tự do dân chủ đều bị công an bịt miệng.

Chỉ có điều, tất cả những nhân vật nổi danh này, cộng với vài chính khách hạng hai, hạng ba, hay viên chức của vài tổ chức nhân quyền quốc tế đều sống ở nước ngoài, không có mặt khi công an vào lục xét tư gia của Nguyễn Văn Lý, và cũng không có mặt nơi tòa án khi xử Nguyễn Văn Lý. Cho nên những lời phê bình hay bình luận hay gì gì đi chăng nữa chẳng qua chỉ là dựa theo những thông tin đưa ra từ trong nước, và từ đó chỉ dựa vào một án lệnh, một bức hình, rồi đưa ra ý kiến, nhận định, lên án v..v.. không mấy xa lạ với những ý kiến, nhận định, lên án mà họ đã từng đưa ra rất nhiều lần trước đây. Chuyện gì thì cũng phải có đầu có đuôi, bỏ đầu chỉ lấy đuôi làm phần diễn giải riêng tư thì có vẻ hơi thiếu lương thiện, nhất là về một vụ án làm sôi nổi dư luận quần chúng.

Cá nhân tôi cũng vậy, sống ở nước ngoài, không phải là một nhân chứng trực tiếp những biến cố xung quanh vụ án Nguyễn Văn Lý. Do đó, để tìm hiểu vụ án, tôi không có thông tin nào khác ngoài những thông tin tôi lấy được trên Internet. Làm công việc này tôi bắt buộc phải ghé qua một số trang nhà mà tôi chưa từng có thì giờ vào đọc. Ngoài ra, nhìn tấm ảnh “bịt miệng”, tôi, cũng như mọi người chỉ nhìn thấy tấm hình, không khỏi không nghĩ: “Ủa! sao lại có một hành động vô ý thức như vậy? Nếu muốn bịt miệng bị cáo thì tốt hơn hết là lấy băng keo dán lên miệng, tại sao phải dùng đến một công an dùng tay để bịt miệng, không cho bị cáo nói?”, do đó tôi cố tìm hiểu nguyên nhân, vì tôi cho rằng “bịt miệng” không đơn giản chỉ là “bịt miệng”.

Đọc những thông tin đây đó trên Internet tôi khám phá ra là vụ án có vài “bí ẩn” và cảm thấy có lẽ cũng thích thú trong sự phân tích những biến cố xung quanh vụ án, trình bày từ đầu tới đuôi vụ án qua những thông tin lượm lặt được.. Gọi là bí ẩn cho vui chứ thật ra, chẳng có gì là bí ẩn cả, tôi gọi vậy vì đây là những điều rất ít được bàn đến, nếu không muốn nói là tránh né, bỏ qua trên hầu hết các diễn đàn hải ngoại. Những bí ẩn này là:

Công an Huế đã tịch thu những gì từ tư gia của Nguyễn Văn Lý?

Có những gì trong những tài liệu tịch thu đó.?

Dựa vào những gì mà công an Huế khởi tố và đưa Nguyễn Văn Lý ra tòa xét xử?

Tại sao Vatican cũng như Hội Đồng Giám mục Việt Nam không lên tiếng bên vực Nguyễn Văn Lý?

Tại sao công an bịt miệng Nguyễn Văn Lý?

Trong 5 điều bí ẩn trên thì đọc những ý kiến, bình luận, lên án v..v.. trên diễn đàn hải ngoại, các bình luận gia vô thượng thiên tài hầu hết chỉ dùng đến điều thứ 5, và còn bỏ đi hai chữ “tại sao”. Tôi tự hỏi, 4 điều trên có cần phải quan tâm đến hay không, và có liên quan gì đến vụ án không? Riêng tôi thì tôi cho là có, mà 4 điều đó còn là những chi tiết quan trọng giúp chúng ta hiểu rõ vụ án hơn. Vậy thì bài viết này không ngoài mục đích trình bày cùng độc giả tạm gọi là trung thực các sự cố xung quanh vụ án Nguyễn Văn Lý, để bổ túc miễn phí cho những thông tin cố ý thiếu sót trong hầu hết những bài tôi đã đọc trên Internet.

Về câu hỏi thứ nhất: “Công an Huế đã tịch thu những gì từ tư gia của Nguyễn Văn Lý?”. Đọc trên Internet, tôi chỉ biết được từ vài nguồn thông tin khác nhau những chi tiết như sau :

- “tịch thu 5 máy vi tính, nhiều simcards và mấy chục kilô tài liệu.”

- “Tháng trước công an đã bố ráp tư gia của linh mục Nguyễn Văn Lý ở Huế. Họ đã tịch thu 6 máy điện toán và hơn 100 thẻ điện thoại di động.”

--“tịch thu hàng trăm tài liệu, 6 máy vi tính, 136 thẻ điện thoại tự động”

- Tại đây, đã thu được năm máy tính xách tay, một máy tính để bàn, sáu máy in, bảy điện thoại di động, 136 sim điện thoại di động và một số linh kiện, phương tiện khác dùng để in ấn, và hơn 200 kg tài liệu.

Số vật liệu tịch thu này đã được công khai dùng làm tang chứng trước tòa. Tôi không phải là một luật sư, nhưng với sự hiểu biết thông thường nhất, thì những chi tiết trên không thể bỏ qua trong các bài bình luận, nhận định hay kết luận về vụ án Nguyễn Văn Lý, vì đó là tất cả nguồn gốc của vụ án. Nhưng tiếc thay, trong các bài nhận định, bình luận, lên án [lẽ dĩ nhiên là để lên án chính quyền] của các bậc vô thượng thiên tài, những chi tiết then chốt này thường được bỏ qua và người ta đi ngay vào kết quả của vụ án và lên án [lẽ dĩ nhiên là để lên án chính quyền], nghĩa là chỉ nhận định, bình luận, lên án dựa vào cái mẩu đuôi của vụ án. Ở đây, tôi chỉ đặt vấn đề lương thiện trí thức phù hợp với những tiêu chuẩn cần phải có trong một bài bình luận một vụ án, và chỉ có thế thôi. Tôi xin nhắc lại, bài phân tích của tôi thuần túy chỉ dựa trên những thông tin trên Internet, không phải là để bênh vực hay chống đối bất cứ ai. Lẽ dĩ nhiên, tôi không thể tránh được việc bày tỏ một số nhận định, ý kiến cá nhân, nhưng tất cả đều dựa trên các sự kiện.

Trong khi các bình luận gia chuyên nghiệp trên không có ai thắc mắc gì về những chi tiết về số tài liệu bị tịch thu này, và những gì chứa trong đó, thì lôgic và hiểu biết thông thường (common sense) hiện ngay ra một thắc mắc: Một mình Nguyễn Văn Lý phải cần tới 5, 6 máy vi tính, 136 thẻ điện thoại di động, sáu máy in, 7 điện thoại di động để làm gì? để tranh đấu cho dân chủ? Lẽ dĩ nhiên, có bao nhiêu máy vi tính, có bao nhiêu thẻ điện thoại v..v.., là quyền tự do của cá nhân. Nhưng cái gì có vẻ không bình thường, không hợp với lôgíc, tất nhiên sẽ đưa đến nhiều nghi vấn. Thường thì mỗi cá nhân chúng ta chỉ cần một desktop, một laptop, và một điện thoại là đủ làm mọi việc chúng ta muốn làm, trừ Bill Gates thì không phải là 5, 6 mà là 5, 6 trăm. Tôi nghĩ đến một trụ sở hoạt động của một nhóm hơn là một tư gia của một cá nhân. Ý nghĩ này phù hợp với thông tin trên www.foxnews.com: “Một công tố viên nói Lý đã biến phòng ngủ của mình thành tổng hành dinh của những đảng chính trị chống đối chính quyền.” (“Ly turned his bedroom into the headquarters of political parties opposing the government," one of the prosecutors said.)

Đặc biệt hơn nữa, Nguyễn Văn Lý không phải là một người như mọi thường dân khác, mà là người đã có tiền án, đang bị quản chế, canh chừng vì những hoạt động khi trước. Nhưng đây chỉ là những thắc mắc cá nhân, không phải để suy diễn vô trách nhiệm về những hoạt động thực sự của Nguyễn Văn Lý. Tôi không loại bỏ trường hợp Nguyễn Văn Lý là một “collector”, có tiền [tiền lương của linh mục, tiền của giáo dân nghèo đóng góp, tiền ở hải ngoại gửi về để tranh đấu cho tự do, dân chủ v..v.. ??], và thích chơi computer, thích chơi phonecards, thích chơi máy in v..v.. cũng như có nhiều người thích chơi tem, chơi baseball cards, chơi đồ cổ... và chơi xấu v..v... Trường hợp này có xác suất bằng bao nhiêu, xin để độc giả đưa ra con số.

Nhưng tới đây thì lại phải sang câu hỏi thứ hai: “Có những gì trong những máy vi tính và tài liệu tịch thu?” Tôi không biết và cả những bình luận gia thuộc loại vô thượng thiên tài ở hải ngoại cũng không biết. Cho nên tôi đành phải đoán mò vậy, nhưng không hẳn là mò, vì chúng ta có thể mường tượng được có những gì trong những tài liệu tịch thu qua bản cáo trạng của chính quyền Huế và một số nhận định trên Internet. Sau đây là một thông tin tạm gọi là đầy đủ trên Internet:

Ðêm 18-2, lực lượng Công an tỉnh Thừa Thiên-Huế đã quyết định kiểm tra hành chính nơi ở của Nguyễn Văn Lý trước sự chứng kiến của đại diện chính quyền cơ sở, Tòa Tổng Giám mục Huế và một số người dân. Tại đây, đã thu được năm máy tính xách tay, một máy tính để bàn đều đang kết nối in-tơ-nét thông qua máy điện thoại di động. Trong ổ cứng của các máy tính đều đang chứa các tài liệu phản động. Ngoài ra, còn thu được sáu máy in, bảy điện thoại di động, 136 sim điện thoại di động và một số linh kiện, phương tiện khác mà Nguyễn Văn Lý dùng để in ấn, tán phát tài liệu phản động. Tại phòng ngủ của Nguyễn Văn Lý, lực lượng công an thu được hơn 200 kg tài liệu liên quan việc thành lập, công bố các tổ chức phản động.

Bây giờ thì những bí ẩn đã dần dần sáng tỏ, và chúng ta đã có câu trả lời cho câu hỏi thứ ba: dựa vào những gì mà công an Huế bắt giữ và truy tố Nguyễn Văn Lý ra tòa? Thật ra, qua mẩu thông tin ở trên, câu trả lời đã có trong câu hỏi, nhưng để đi thêm vào chi tiết, tôi lại phải dùng những thông tin khác trên Internet:

- “Lý không chấp hành lệnh quản chế, ngoan cố cấu kết với những thế lực phản động trong và ngoài nước để chống phá chính quyền nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.”

- “Với những tài liệu thu được và lời khai của các đối tượng, cơ quan công an đã có đủ chứng cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn Lý theo tội danh được quy định tại điểm C, khoản 1, Ðiều 88 Bộ Luật hình sự, "Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu có nội dung chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam".

Giáo sư Thayler nhận định:

- Việt Nam đã thấy xuất hiện một mạng lưới chống đối tranh đấu cho dân chủ chưa từng thấy tại Việt Nam. Linh mục Nguyễn Văn Lý nằm trong mạng lưới này và tội chính của ông là đã liên lạc với người Việt ở nước ngoài và các tổ chức mà chế độ coi là thù nghịch.

Matt Steinglass:

- Linh mục Lý đã xuất bản một tờ báo bị cấm và giúp thành lập Đảng Thăng Tiến Việt Nam như một đảng thay thế Đảng Cộng sản cầm quyền của Việt Nam.  Các bị cáo bị kết tội tuyên truyền chống phá nhà nước Việt Nam. Trong những năm qua họ đã xuất bản một tờ báo độc lập có tên “Tự do Ngôn luận”. Năm ngoái họ đã thành lập đảng Thăng Tiến Việt Nam như một đảng thay thế, một đảng không theo chủ nghĩa cộng sản.

Bản tin của AP trích lời thẩm phán Bùi Quốc Hiệp nói rằng linh mục Lý “đáng bị xử phạt nặng” vì những nỗ lực tổ chức tẩy chay cuộc bầu cử quốc hội sắp tới, thành lập đảng chính trị bất hợp pháp, và âm mưu lật đổ chính phủ.

Trong khi đó bản tin của AFP trích lời công tố viên Trần Lý Thảo nói rằng hành động của linh mục Lý là một “sự vi phạm vô cùng nguy hiểm đối với an ninh quốc gia” và cũng vi phạm các qui định của nhà thờ.

Các công tố viên cũng nói rằng linh mục Lý khai với cảnh sát rằng ông “làm việc ngày đêm” để soạn thảo tài liệu chống chính phủ.

[Chúng ta nên để ý những nhóm chữ sau đây: “xuất bản một tờ báo bị cấm”; “ một đảng thay thế Đảng Cộng sản”; “nỗ lực tổ chức tẩy chay cuộc bầu cử quốc hội sắp tới“ [Đây cũng là sự hô hào trên một số trang nhà ở hải ngoại.] ““làm việc ngày đêm” để soạn thảo tài liệu chống chính phủ”.]

Phóng viên đài Á Châu Tự Do, trong cuộc phỏng vấn Luật sư Trần Thanh Hiệp đã đưa ra hai câu hỏi:

Câu hỏi thứ nhất: Để cho vấn đề sáng tỏ hơn, tôi xin phép đựơc đọc lại nguyên văn bản kết luận điều tra của công an về trường hợp của cha Lý: “nhiều hoạt động thu thập, soạn thảo, in ấn, tàng trữ, tán phát nhiều tài liệu có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam như: xuyên tạc tự do tôn giáo hiện nay tại Việt Nam, xuyên tạc chính sách, pháp luật của Nhà nước, tuyên truyền kêu gọi người khác tẩy chay cuộc bầu cử quốc hội năm 2007 của Nhà nước CHXHCN Việt Nam; trực tiếp trả lời phỏng vấn các đài phản động nước ngoài với nội dung xuyên tạc, nói xấu Nhà nước CHXHCN Việt Nam..[…] chủ động mua sắm nhiều công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi thu thập tin tức, soạn thảo, biên tập tài liệu có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam, tàng trữ, tán phát những tài liệu này trên mạng Internet và trực tiếp đưa cho nhiều người khi đến gặp y tại 69 Phan Đình Phùng – TP Huế và một số địa phương khác...”

Tôi không muốn trích dẫn hay phê bình câu trả lời của Luật sư Trần Thanh Hiệp. Độc giả có thể đọc trên Internet. Đại khái là ông Hiệp cho rằng bản cáo trạng đã dựa vào bản kết luận điều tra của công an mà không chứng minh cụ thể được những bằng chứng cho nên không có giá trị. Nhưng có lẽ ông Luật sư chưa đọc những « Lời Chứng » của Nguyễn Văn Lý chia làm 3 giai đoạn, tất cả bằng chứng nằm trong đó ngoài những vật liệu tịch thu dùng làm tang chứng trong tòa.

Câu hỏi thứ 2: Có phải đó là điều mà Luật sư gọi là bắt giam bừa bãi? Ngoài ra cũng không thế chối cãi rằng linh mục Lý đã có rất nhiều hành động mà pháp luật hiện hành không cho phép. Luật sư nghĩ sao?

Trần Thanh Hiệp: Đó là vấn đề chính thống của chế độ nên không thể giải quyết bằng thứ pháp luật đã không còn giá trị chính thống nữa vì dân chúng đã không tự nguyện tuân phục pháp luật như trước. [Đó là câu trả lời của một luật sư: khi vài người dân (tổng quát hóa thành dân chúng gồm hơn 80 triệu dân là nói bậy) không tuân phục pháp luật thì pháp luật không còn giá trị?? Luật pháp không áp dụng được cho những người cương quyết “Em Chạ”. Vậy định nghĩa luật pháp của luật sư Trần Thanh Hiệp là như thế nào? Luật sư cũng còn khẳng định là Nguyễn Văn Lý vô tội. Ngồi ở Paris nói bậy thì ai nói cũng được]

Nhưng hiển nhiên vấn đề bắt giữ và truy tố Nguyễn Văn Lý nằm trong hai câu hỏi của phóng viên đài Á Châu Tự Do chứ không nằm trong những câu trả lời của luật sư Trần Thanh Hiệp.

Đến đây có lẽ chúng ta đã thấy được vài tia sáng trong vụ án Nguyễn Văn Lý nếu cặp mắt của chúng ta còn có thể nhìn thấy ánh sáng và trong đầu không còn điểm mù Quốc-Cộng. Bước tiếp theo là câu hỏi thứ tư: “Tại sao Vatican cũng như Hội Đồng Giám mục Việt Nam không lên tiếng bênh vực Nguyễn Văn Lý?”

Thoáng qua, chúng ta có thể không thấy sự liên hệ giữa câu hỏi này với vụ án Nguyễn Văn Lý, nhưng trên Internet có người đã đặt câu hỏi này, và tôi cũng nghĩ rằng đó cũng là một vấn đề chúng ta cần tìm hiểu, vì vị thế đặc biệt của Nguyễn Văn Lý trong định chế Công giáo hoàn vũ nói chung, giáo hội Công giáo Việt Nam nói riêng.



Sau đây là một số thông tin trên Internet mà tôi cho là có thể trả lời cho câu hỏi trên:

- GM Giuse Nguyễn Chí Linh, giáo phận Thanh Hóa, chủ tịch ủy ban giáo dân HĐGMVN tuyên bố, "chắc chắn người công giáo Việt Nam sẽ được tự do hơn trong việc tổ chức đời sống sinh hoạt tôn giáo của mình và chính sách tôn giáo của nhà nước sẽ cởi mở hơn." (UCAN, 30-01-2007; liendoanconggiao.org, 02-02-2007).

- TGM Sài-gòn, Hồng Y G.B. Phạm Minh Mẫn xem đây là "một thời điềm loan báo cho chúng ta hai cái tin vui. Tin vui thứ nhất là Viêt Nam và Vatican đang đồng hành trên một con đường, con đường đó là con đường đối thoại và hợp tác nhằm phục vụ cho sự sống phẩm giá của mọi người, đặc biệt là của người Việt Nam trên đất nước Việt Nam cũng như các nơi khác. Tin vui thứ hai là cả đôi bên đều bày tỏ thiện chí và quyết tâm tiến tới bang giao bình thường cũng nhằm phục vụ tốt hơn cho dân tộc Việt Nam cũng như cho dân Chúa tại Việt Nam" (VietCatholic News 12-02-2007).

- Một ngày trước khi phái đoàn Vatican đến Việt Nam để bàn chuyện bang giao và bổ nhiệm giám mục, ngày 04-03-2007, nhiều đài phát thanh quốc tế cho biết "linh mục phát ngôn viên" của Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám Mục Sài-gòn, đã phát biểu "Cha Lý không tranh đấu cho tự do tôn giáo mà tranh đấu chung chung"

Như vậy, có thể nói Vatican cần bang giao với Việt Nam hơn là lên tiếng bênh vực Nguyễn Văn Lý, cũng như trong những vụ xử Nguyễn Văn Lý trước đây, Vatican và Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cũng không lên tiếng.. Hơn nữa, nếu xét đến đủ mọi khía cạnh của vấn đề, thì Vatican và HĐGMVN không thể lên tiếng bênh vực Nguyễn Văn Lý, vì làm như vậy là đương nhiên ủng hộ những việc làm sai trái phi pháp của Nguyễn Văn Lý, nhất là những hành động bất xứng của Nguyễn Văn Lý ở tòa. Và nếu Vatican không lên tiếng thì tất nhiên Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cũng không thể lên tiếng.

Ngoài ra, trong vụ lục xét tư gia của Nguyễn Văn Lý, ngoài sự chứng kiến của đại diện chính quyền cơ sở và một số người dân, còn có cả sự hiện diện của Đại Diện Tòa Tổng Giám mục Huế.  Đây là một sự kiện khiến chúng ta phải suy nghĩ.

Và sau đây là một thông tin khác trên Internet:

- “Lực lượng công an hùng hổ đến bao vây, đột nhập Nhà Chung và Toà TGM Huế [chứ không phải là tư gia của Nguyễn Văn Lý???], đập phá tủ, lục soát, tịch thu máy vi tính, điện thoại, simcards và tài liệu của linh mục Nguyễn Văn Lý với sự "im lặng" đồng lỏa của Tổng Giám Mục Nguyễn Như Thể (im lặng là đồng ý?). Từ ngày 18-02-2007 cho đến ngày 24-02-2007 là ngày công an dùng vũ lực áp tải linh mục Nguyễn Văn Lý đem đi quản chế ở nhà thờ Bến Củi, TGM Nguyễn Như Thể chấp nhận cho cộng sản Việt Nam biến Nhà Chung và Tòa TGM Huế thành nhà tù giam giữ linh mục Nguyễn Văn Lý; sau đó, biến nhà thờ Bến Củi, nơi thờ phượng Thiên Chúa, thành nhà tù.”

Và bây giờ, chúng ta hãy sang đến câu hỏi chót: “Tại sao công an bịt miệng Nguyễn Văn Lý??”, và bịt miệng tới ba lần chứ không phải chỉ có một lần. Chúng ta lại phải lấy vài thông tin trên Internet:

- Khi chủ tọa phiên tòa đang đọc lời khai mạc thì Lm Lý phản đối bằng cách đọc to bài thơ "Tòa án Cộng sản VN" . Nhưng mới đọc được 4 câu đầu:

"Tòa án Cộng sản Việt Nam
Trò hề bỉ ổi ngàn năm chê cười
Quan tòa một lũ đười ươi
Tay sai nô bộc xử người nào đây..."

- Khi chủ tọa phiên tòa yêu cầu lấy lời khai từng bị cáo thì Lm Lý lại được đưa vào phòng xử. Cha lại phản đối bằng cách hét ho: "Đả đảo đảng Cộng sản! Đả đảo đảng Cộng sản!" và chuẩn bị tuyên bố Lời Chứng cuối cùng thì một công an nhào tới bịt miệng, hai công an lại vào lôi ra cách ly, và cha ở mãi trong đó cho đến hết phiên tòa.



Hi vọng luật sư Trần Thanh Hiệp có thể giải thích cho độc giả hành vi như vậy của Nguyễn Văn Lý là hành vi gì? Có thuộc loại “contempt of court” hay không? Hay là luật sư cho rằng vì Nguyễn Văn Lý không tuân phục luật pháp nên luật pháp không có giá trị và Nguyễn Văn Lý đương nhiên vô tội. Xin độc giả hiểu rằng sự phân tích vấn đề của tôi ở đây không có nghĩa là khẳng định Nguyễn Văn Lý có tội hay vô tội. Luận tội không phải là mục đích của bài phân tích này.

Có lẽ chúng ta cũng nên biết thế nào là “contempt of court”. Wikipedia encyclopedia giải thích như sau:

“Không tuân lệnh tòa, xúc phạm quan tòa” là phán quyết của tòa án trong bối cảnh của một cuộc xử án đối với một cá nhân bị coi là xúc phạm tòa, sự diễn tiến của tòa, và những quyền lực đã được trao cho tòa. Đó là biện pháp của quan tòa để áp đặt trên một cá nhân vì những hành động quá độ, một cách bừa bãi để làm rối loạn sự diễn tiến bình thường của cuộc xử án.

Bị cho là “Không tuân lệnh tòa, xúc phạm quan tòa” khi không tuân theo lệnh hợp pháp của tòa, tỏ sự bất kính đối với quan tòa, làm rối loạn cuộc xử qua những tác phong tầm thường. Một quan tòa có thể áp đặt những hình phạt như là phạt tiền hay giam tù người nào có tội “Không tuân lệnh tòa, xúc phạm quan tòa” .

(Contempt of court is a court ruling which, in the context of a court trial or hearing, deems an individual as holding contempt for the court, its process, and its invested powers. It is the highest remedy of a judge to impose sanctions on an individual for acts which excessively or in a wanton manner disrupt the normal process of a court hearing.

A finding of contempt of court may result from a failure to obey a lawful order of a court, showing disrespect for the judge, disruption of the proceedings through poor behavior A judge may impose sanctions such as a fine or jail for someone found guilty of contempt of court.)

(SH: xem phụ lục ở dưới: "Điều cần nói qua một bức ảnh")

Đọc lại những hành động của Nguyễn Văn Lý ở giữa tòa như trên tôi tự hỏi những hành động của Nguyễn Văn Lý đó có thích hợp với một người đã mang trên mình chức vụ “Chúa thứ hai” hay không? và có thể quy kết là “Không tuân lệnh tòa, xúc phạm quan tòa” hay không. Việc này xin để cho Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và tòa quyết định.

Xin nhắc lại, thứ nhất: khi chủ tọa phiên tòa đang đọc lời khai mạc thì Nguyễn Văn Lý làm rối loạn tòa bằng cách đọc lên mấy câu thơ nhục mạ tòa và quan tòa??

Thứ nhì: khi chủ tọa phiên tòa yêu cầu lấy lời khai từng bị cáo thì Nguyễn Văn Lý lại làm rối loạn tòa, hô “Đả đảo đảng Cộng sản”?

Công an Thừa Thiên-Huế tịch thu tài liệu và dựa vào những bằng chứng trong đó đã khởi tố Nguyễn Văn Lý, chứ có phải Đảng Cộng Sản gồm 3 triệu đảng viên khởi tố Nguyễn Văn Lý đâu mà Nguyễn Văn Lý bất chấp tòa án hô “Đả đảo đảng Cộng sản” giữa tòa. Nếu muốn, Nguyễn Văn Lý có thể thuyết phục hoặc huy động giáo dân xuống đường và hô to khẩu hiệu “Đả đảo đảng Cộng sản” nhưng tuyệt đối không thể làm như vậy ở giữa tòa án vì đó là những hành động không thể chấp nhận được. Đó là lý do tại sao công an phải bịt miệng Nguyễn Văn Lý. Không phải là công an bịt miệng Nguyễn Văn Lý, không cho Nguyễn Văn Lý quyền tự biện trước tòa, hay quyền trả lời trước những câu hỏi, hay quyền bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa, mà chỉ để ngăn Nguyễn Văn Lý khỏi tiếp tục có những hành động bất xứng mà không tòa án nào trên thế giới có thể chấp nhận được.

Ông Kenneth Chern, một nhà ngoại giao tại lãnh sự quán Hoa Kỳ ở Thành phố Hồ Chí Minh đã đọc một bản tuyên bố sau phiên xử như sau:

"Chúng tôi kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam cho phép các cá nhân được phép áp dụng quyền tự do bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa mà không sợ bị kết tội "

Đây là một lời tuyên bố vô ý thức, ở xa nhìn qua bức hình “bịt miệng” và quy kết ngay là bị cáo không được quyền bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa.. Xin hỏi, những hành động của Nguyễn Văn Lý trước tòa có phải là cách bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa hay không? Ai nói là ôn hòa, xin mời lên tiếng. Ông Chern nợ chính quyền Việt Nam một lời xin lỗi vì lời tuyên bố hấp tấp thiếu thông tin của mình.

Tôi không hiểu tại sao, với những hành động vô lối có thể gọi là bất chấp chính quyền, bất chấp luật pháp như vậy mà lại có những người tự cho mình là trí thức và cả một số chính khách ngoại quốc lại lên tiếng ca tụng hành động có thể nói là điên rồ này. Chúng ta chống Cộng sản và vì chống Cộng sản cho nên chúng ta phải chấp nhận những hành động vô lối, phi lý của một linh mục, và cho đó là tranh đấu cho dân chủ hay sao?

Tin từ Bangkok (UCAN) viết:

- Những người Công giáo Việt Nam đã tỏ sự quan hoài vì một linh mục bị cầm tù vì tuyên truyền chống chính quyền và nói rằng họ thông cảm với sự đòi hỏi của ông ta cho tự do tôn giáo hơn nhưng bất chấp chính quyền thì thực là quá điên rồ.

(BANGKOK, Thailand (UCAN) – Catholics in Vietnam have expressed concern for a priest jailed for anti-government propaganda, saying they empathize with his quest for greater religious freedom but defying the government is foolhardy.)

- Một linh mục ở thành phố Hồ Chí Minh nói rằng ông ta được biết là gần đây Cha Lý đầu óc không được minh mẫn. Linh mục nói: Cha Lý “thực sự chỉ trích chính quyền mạnh mẽ, nhưng ông ta không có khả năng chính trị thực sự”  Ông ta nhấn mạnh là tự do ở Việt Nam phải được hoạt động “ trong khuôn khổ luật pháp” và bất cứ người nào có những quan điểm chống chính quyền đều sẽ bị canh chừng. Ông ta nói thêm: “Không được khôn ngoan khi bầy tỏ những quan điểm chống cộng sản”

(A priest from Ho Chi Minh City said he was told Father Ly has not been mentally alert lately. Father Ly “really criticizes the government strongly, but he does not have the real ability for politics,” the priest said. He pointed out that freedom in Vietnam works “within a legal framework” and anyone who has views against the government will be watched. “It is not very wise to express anticommunist views,” he added.)

- Một linh mục ở thành phố Hồ Chí Minh e rằng đồng đạo của ông ta [Nguyễn Văn Lý] vì ở trong tù nhiều lần nên có ảnh hưởng đến đầu óc và hi vọng chính quyền sẽ giảm bản án sau này.

(A priest from Ho Chi Minh City feared his confrere’s being in prison many times “will affect his mind” and expressed hope the government may later reduce the sentence.)

Và trên nhandanvietnam.org có mẩu tin:

- Thượng nghị sĩ Sam Brownback khi vào trại giam gặp ông Lý đã có nhận xét: ông Lý là người không bình thường.

Trên đây tôi đã phân tích vụ án Nguyễn Văn Lý qua 5 câu hỏi then chốt liên quan đến vụ án. Trước khi bày tỏ nhận định và ý kiến riêng về vụ án này tôi tưởng cũng nên trích dẫn sau đây một số ý kiến khác thường trên Internet để chúng ta thấy rõ rằng dư luận hải ngoại không phải chỉ có một chiều.

Lê Đức Duy:

Anh Lưu Vũ: Nếu để gìn giữ an ninh và sự bình yên cho đất nước là một tội ác như anh nói, thì trên thế giới này tội ác hiện diện muôn nơi. Kể cả những nơi dựng tượng thần Tự do đó anh ơi. Quan niệm tự do mỗi xứ mỗi khác, tùy thuộc vào đặc thù của dân tộc đó. Nó hạn hẹp hay nó rộng rãi, trước tiên nó dựa vào tiêu chuẩn dân trí và dân sinh… Dân chủ và tự do, nói thì dễ lắm đó nghe, nhưng làm thế nào để có, và làm thế nào để cho mỗi con người hiểu được đâu là tự do và dân chủ mới là khó… Những kẻ như cha Lý tôi đã đi tìm, nhưng không tìm thấy tự do, khi màn mở đầu là lời kêu gọi lật đổ và kêu gọi ngoại bang cấm vận. Đó mà là tự do và dân chủ ư ? Tôi cũng biết một nước như VN thì còn lắm chuyện phải làm, phải sửa, bởi lẽ có những kẻ nhân danh Đảng nhân danh nhà nước để hại dân hại nước, gây búc xúc nhiều trong dư luận quần chúng. Nhưng nhìn cho kỹ thì vẫn là hai lực lượng ở hai trận tuyến khác nhau, mục đích khác nhau nhưng chúng có chung một đặc điểm là phá nước. Đó là bọn tham ô thái hóa, đó là bọn chống cộng cực đoan, hai lực lượng này là hòn đá tảng chắn ngang đường đi lên của đất nước.

Đảng CS đã có nhiều cố gắng để tự hoàn thiện mình, sao các anh cứ đứng lại để ngắm nghía cải cách rộng đất với văn nhân? vô lẽ các anh không có cái gì mới để gia giá với CS ? Đáng buồn thay!

Huy Tưởng, Texas:

Nhiều người trên diễn đàn này chống cộng, không sai, nhưng họ đã bị bọn cực đoan xỏ mũi dẫn đi mà không biết! Than ôi! Phải không ngừng KHAI THÔNG DÂN TRÍ, ngay với cả Người Việt Hải Ngoại..

Thực tế, đối với đa số dân chúng, đối với đất nước thì chuyện chính trị chỉ là một mảng của toàn cảnh. Nhiều vị trên diễn đàn cứ tưởng dân ta ăn rồi chỉ ngồi bàn tán chuyện chính trị, phe phái. Cái chính của họ là công ăn việc làm trong một đất nước thanh bình, là việc nuôi dạy con cái nên người, là vui chơi giải trí, là thăm viếng bà con, bạn bè....

Tuan:

VIỆT NAM CỘNG HÒA: HIẾN PHÁP QUỐC HỘI LẬP HIẾN
Chung quyết trong phiên họp Ngày 18 tháng 3 năm 1967

ĐIỀU 4

1- Việt Nam Cộng Hòa chống lại chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thức.
2- Mọi hành vi nhằm mục đích tuyên truyền hay thực hiện chủ nghĩa cộng sản đều bị cấm chỉ.


Thần Báo có biết những người bị tình nghi theo cộng sản bị luật pháp của VNCH đối xử như thế nào không? Họ bị tra tấn dã man rồi bị giết chết, không cần xử án đấy. 
Cha Lý: “Đả đảo Đảng Cộng sản Việt Nam!” đấy. Tội này đúng ra là xử chết hoặc chung thân theo luật pháp VNCH. Bị xử tám năm mà cho là ác sao chứ. Tôi thấy chính quyền Việt Nam hiện nay đã quá khoan hồng và nhân đạo lắm rồi.

Nhớ trước năm 1975, chính quyền VNCH (chế độ công giáo) có ra luật chống cộng. Họ có quyền giết cộng sản, hoặc tình nghi là cộng sản bất cứ lúc nào mà không cần xử án. Ngày nay cộng sản chỉ bắt bỏ tù các phần tử công giáo khủng bố chống cộng, xử theo luật pháp rỏ ràng thì lại khóc la rùm beng chửi người ta ác rồi. Đúng là mặt nạ dân chủ.

Ngô Đồng:

Những người nhân danh dân chủ nhân quyền nối kết với người ngoài, lập đảng mong tiêu diệt, lọai trừ đảng CS VN. Không chấp nhận chế độ, mưu lật đổ nhà nước hiện hữu; âm mưu dựng lên chế độ Cộng hòa dân chủ giáo phiệt ? Vậy, đối với chính quyền hiện hữu, những người này không phải là giặc thì là gì đây?
Tham nhũng cũng là giặc nội thù. Giặc nội xâm tham nhũng và giặc nhân danh dân chủ giáo phiệt chống CS cực đoan theo tín lý, đều là giặc nội xâm như nhau. Nhưng giặc thứ hai di lụy lâu dài và độc hại hơn giặc tham nhũng. Giặc nào cũng phải được xử đúng tội nếu không, chỉ tạo ra một tiền lệ xấu, khó sửa trị.
Một lọai là giặc tham nhũng ẩn tàng, lọai kia là tham nhũng dựa vào thế lực “quốc tế’ công khai, tiệm tiến xâm thực đất đai và ảnh hưởng. Cả hai lọai giặc này cần phải được loai trừ trước tiên để cho dân tộc có thể tiến bước trên con đường phát triển.
Nhưng, có lẽ đây cũng chỉ là…trò chơi dân chủ thò lò để dành dân chiếm… đất thôi mà!!!

Libro:

Không có ai dám chối cải là linh mục Nguyển Văn Lý chống cộng quyết liệt, nhưng tại sao ông chống quyết liệt như vậy, theo chính lời ông công khai tuyên bố là vì Chúa soi sáng dẫn đường.. Tôi không tin lời ông nói vì nếu Chúa soi sáng dẫn đường thì sao không soi sáng dẫn đường cả Vatican và Giáo Hoàng Ben ne đít tô cùng Hội Đồng Giám Mục Việt Nam mà chỉ riêng ông, Cộng Sản Việt Nam vừa cử Thủ Tướng sang thăm Toà Thánh mới về thì Giáo Hoàng cử Đức Ông qua thăm lại đáp lể liền, tình thân thắm thiết, có nghe phản đối hay cự nự gì đâu, Cha Lý chỉ có một mình mà lại chức thấp thì ai mà tin. Bởi vậy chống cộng mà vác theo cây thánh giá thì khó lắm, Cha Lý chỉ làm chuyện công cóc để nổi tiếng thôi. Xúi giục con chiên lập Đảng rồi kết hợp lại mà cả 2 Đảng chỉ tổng cộng có 3 người.

Phần Kết: Nhận Định Cá Nhân Và Góp Vài Ý Kiến Cùng Chính Quyền Việt Nam:

Thứ nhất, theo nhận xét của tôi thì Nguyễn Văn Lý, đúng như vài linh mục đã tiết lộ, và cả như Thượng nghị sĩ Sam Brownback đã nhận định, đầu óc không được bình thường, nếu không muốn nói là điên. Vì một người có đầu óc tỉnh táo thì không ai lại đi làm những công việc chống đối mù quáng một cách quá lộ liễu, thách đố chính quyền, hô hào lật đổ chính quyền, lập đảng thay thế chính quyền v..v…và có những tác phong bất xứng ở trong tòa. Đối với một người điên thì chỗ tốt nhất là một bệnh viện tâm thần để chữa trị chứ không phải là đưa ra tòa xét xử. Đưa ông ra tòa chỉ làm cho ông ta nổi thêm cơn điên và gây ra cảnh công an “bịt miệng”.

Tôi phải công nhận là tòa đã không khéo xử trong vụ này, và hình ảnh “bịt miệng” dù sao cũng gây nên những ảnh hưởng không đẹp cho chính quyền, vì người dân không mấy ai hiểu được cái động cơ tại sao công an lại phải bịt miệng Nguyễn Văn Lý, và những lực lượng chống phá chính quyền đã khai thác triệt để tấm hình này. Ít người hiểu được hành động này của công an chỉ là phản ứng tự nhiên của một người có nhiệm vụ giữ an ninh và trật tự trong tòa, chứ không phải là một hành động cố ý đã được xếp đặt. Tôi xin mượn lời trong Thánh Kinh: “Xin quan tòa hãy tha tội cho Nguyễn Văn Lý vì ông ta không biết mình đã làm gì.” và trao ông ta lại cho Hội Đồng Giám Mục Việt Nam với điều kiện là Hội Đồng sẽ đưa ông ấy vào một bệnh viện tâm thần để chữa trị. Tôi cũng xin quan tòa giảm án cho những đồng lõa của Nguyễn Văn Lý vì họ chẳng qua chỉ là những con chiên nghe lời sai bảo của giới chăn chiên, nhất là cô gái 21 tuổi. Tôi không tin rằng mấy người đó có khả năng hiểu biết, khoan nói đến khả năng chính trị mà chính Nguyễn Văn Lý cũng không có, để có thể làm nổi đình đám trong nước cũng như ở hải ngoại.

Thứ đến, Nhà Nước cũng lại không khéo xử khi cho công an đến ngăn chận những người đến “uống trà” với ông đại sứ Mỹ, hay tiếp xúc để “hàn huyên” với bà Loretta Sanchez. Tôi cho rằng sự ngăn chận những người đến tiếp xúc với tòa đại sứ Mỹ ở Hà Nội là không cần thiết và còn có vẻ vụng về. Nếu Nhà Nước Việt Nam hiểu rằng sự can dự của các chính khách Mỹ vào nội bộ các nước không phải là chuyện hiếm hoi, nhất là đối với Việt Nam trong giai đoạn này, thì sẽ không có những hành động đáng tiếc này. Mỹ là một cường quốc bậc nhất thế giới, cả về quân sự mạnh lẫn kinh tế, cho nên có đủ trăm phương ngàn kế để xen vào nội bộ các nước khác, nếu cần. Vì là một cường quốc bậc nhất nên Mỹ bất chấp dư luận quốc tế, thản nhiên thi hành những chính sách độc tài đơn phương, lưỡng chuẩn và rất là đạo đức giả. Một số tài liệu trong phần Phụ Lục ở cuối bài sẽ chứng minh cho điểm này. Những cuộc tiếp xúc lẻ tẻ nhưng công khai của Mỹ với những người bất đồng chính kiến chỉ là những màn dàn dựng để ép Việt Nam trong những mục đích khác chứ thực sự chẳng liên quan gì đến tự do dân chủ như Noam Chomsky đã nhận định. Nếu Mỹ muốn lật đổ chính quyền thì sẽ không bao giờ có những màn công khai như vậy. Việt Nam nếu đề phòng thì nên đề phòng những hoạt động ngầm và nên để ý đến những tổ chức hoạt động dưới chiêu bài tự do tôn giáo, tôn giáo được Mỹ ủng hộ sự bành trướng như ở Iraq, Afghanistan v..v.. chứ không phải là Phật Giáo.

Vì hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của Việt Nam trong nửa thế kỷ qua, chính quyền Việt Nam cần phải biết rằng các lực lượng chính trị và tôn giáo chống đối chính quyền sẽ còn tiếp tục trong những hoạt động xuyên tạc tình hình trong nước. Họ sẽ không bao giờ để ý đến việc đất nước ngày nay đã phát triển như thế nào, đời sống của người dân đã cải tiến ra sao, số lượng khách ngoại quốc du lịch Việt Nam là bao nhiêu, và số lượng người Việt ở nước ngoài về thăm quê hương là như thế nào. Họ chỉ chú trọng vào việc khai thác những điểm tiêu cực trong chính quyền hiện nay, thí dụ như tham nhũng, lấy đất của dân, tệ đoan xã hội, đạo lý suy đồi v..v.. và cách đối xử của chính quyền đối với một số người, đặc biệt là những vị nổi tiếng trong Công giáo cũng như Phật Giáo, mà họ gọi là các “nhà dân chủ”. Nguyễn Văn Lý là một trường hợp điển hình trong khi chính ông ta đang sống trong một định chế tôn giáo phi dân chủ.

Vì vậy, tôi thành thực nghĩ rằng, Nhà Nước cần làm tốt hơn cho dân chúng để hóa giải những luận điệu xuyên tạc, thổi phồng những điểm tiêu cực để chống đối. Nhà Nước cần mở rộng tự do ngôn luận để người dân đóng góp ý kiến xây dựng đất nước. Và như vậy, Nhà Nước cần quan tâm nhiều hơn đến những khao khát chính đáng của người dân, biết nghe những ý kiến xây dựng và thực thi những ý kiến ích quốc lợi dân. Nhà Nước nên đẩy mạnh hơn nữa việc giảm thiểu tham nhũng, diệt trừ tham nhũng là điều không tưởng, không có nước nào trên thế giới có thể làm được. Dân chủ, trên lý thuyết thì hay đấy, nhưng con đường mở mang dân trí phải được đặt ưu tiên trước khi hấp tấp tiến đến một nền dân chủ nhập cảng. Nhưng Nhà Nước cũng phải canh chừng nghiêm ngặt, tuyệt đối không để xẩy ra bất cứ phong trào chống đối bạo động nào. Cuộc chiến vừa qua đã gây quá nhiều đau khổ cho quốc gia rồi, quốc gia cần sự ổn định để phục hồi và phát triển, không thể cho phép bất cứ toan tính dùng bạo lực của bất cứ tổ chức nào, dưới bất cứ danh nghĩa nào. Tôi tin rằng đa số người Việt sống ở nước ngoài cũng như người dân trong nước không mong gì hơn là đất nước sẽ ngày càng tốt đẹp hơn chứ không thuộc loại chống tổ quốc như một thiểu số. Và như vậy, Nhà Nước có bổn phận phải đáp ứng sự mong ước này của người dân.

Trước đây nhiều năm tôi đã viết là mở mang kinh tế sẽ kéo đến những tệ đoan xã hội khó có thể tránh được. Nhưng dù không tránh được thì cũng có thể kiểm soát được phần nào. Tất cả nằm trong tay chính quyền và tôi tin chính quyền có khả năng làm được. Vấn đề chính là phải có một nền giáo dục vững chắc, gìn giữ nền văn hóa truyền thống của dân tộc, và một chính sách cải tiến, làmh mạnh hóa xã hội. Phật Giáo có thể giúp chính quyền rất nhiều trong lãnh vực này qua những giáo lý nhân bản, chân lý vô thường. Hãy để cho Phật Giáo tham gia chánh sự nhưng không tham gia chánh quyền. Đây là bài học của các thời đại trước.

Sau cùng, tôi muốn có vài lời về vụ Dân Biểu Loretta Sanchez sang Việt Nam. Trong bài phỏng vấn của Thông Tấn Xã Việt Nam, Bà Tôn Nữ Thị Ninh đã trả lời rất tinh tế và rất sát sự thật, đặc biệt là đoạn sau đây:

“Hơn nữa, trong thời gian ở thăm Việt Nam, những hành vi không phù hợp của bà [Loretta Sanchez] là sự can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ của Việt Nam dưới chiêu bài “đem dân chủ” từ bên ngoài đến Việt Nam. Những hành động này của bà không có lợi cho sự phát triển của quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam. Chúng tôi chỉ tin tưởng vào một nền dân chủ do chính mình tạo dựng, và đã qua lâu rồi thời kỳ những nước đang phát triển cần các nước phát triển đến khai sáng và cứu rỗi.”



Thật đúng là con cháu Bà Trưng, Bà Triệu.

Chính trường Mỹ để cho những chính trị gia phần lớn theo cơ hội chủ nghĩa và bà Loretta Sanchez không làm gì khác là để kiếm phiếu của số người Việt Nam đông đảo ở California, đến Việt Nam trong tâm cảnh kiêu căng vô lối của một dân biểu Mỹ, cho rằng Mỹ là ngọn đèn soi sáng cho nhân loại, không bao giờ biết đến câu tục ngữ của người Việt Nam “Nói người lại nghĩ đến ta, Thử sờ lên gáy xem xa hay gần.” Thật vậy, hồ sơ vi phạm nhân quyền của nước Mỹ dày cộm, nhưng đi tới đâu Mỹ cũng đem cái chiêu bài tự do dân chủ trên đầu môi chót lưỡi để làm hậu thuẫn cho những mưu đồ khác ở đàng sau.

Về vấn đề “nhân quyền và dân chủ” thì nội dung bài “Thứ Trưởng Bộ Công An Nguyễn Văn Hưởng Với Phó Đại Sứ Hoa Kỳ ở Hà-Nội” trên nhandanvietnam.org đã nói lên rất nhiều điều về chính sách đối ngoại của Mỹ.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh còn nói khéo một câu:

“Chúng tôi thấy khó hiểu những đại biểu dân cử như bà Loretta Sanchez lại quan tâm quá mức và tốn nhiều sức lực cho vấn đề nhân quyền ở nước ngoài, như Việt Nam. Có lẽ những nỗ lực và sự quan tâm đó sẽ mang tính xây dựng và phù hợp hơn nếu được dành cho những vấn đề “gần nhà hơn” ví dụ như vấn đề Guantanamo.”

Đúng vậy, ngay bây giờ, ngày 9 tháng 4, 2007, ở Guantanamo đang có các tù nhân tuyệt thực để phản đối những hành động phi nhân quyền của Mỹ. Báo Chicago Tribune, đăng tin, trang 3:

Những luật sư của những tù nhân tuyệt thực nói rằng hành động tuyệt thực của những thân chủ của họ là vì những điều kiện khắc nghiệt của nhà tù nghiêm ngặt mới… [Lawyers for several hunger strikers said their clients’ actions were driven by harsh conditions in a new maximim security complex.]

“Một tù nhân tuyệt thực, Majid al-Joudi, nói với một bác sĩ quân y: “Ở đây, chúng tôi không có một quyền nào dù Pháp Viện Tối Cao nói rằng chúng tôi có” [We don’t have any rights here, even after your Supreme Court said we had rights”, one hunger stiker, Majid al-Joudi, told a military doctor..]

Nhưng không phải chỉ có Guantanamo. Phần Phụ Lục sau đây có thể cho chúng ta thấy phần nào thực chất xuất cảng dân chủ tự do của Mỹ mà những “nhà dân chủ Việt Nam” thường bám vào đó để mà tranh đấu cho “tự do tôn giáo” và “nhân quyền”:

PHỤ LỤC:



- Tom Doody viết một bài dưới nhan đề “Hoa Kỳ đạo đức giả” (Hypocritical US) một cách khá châm biếm như sau:

Trước thái độ tham lam và tự tôn của chúng ta.” “Tôi ăn mừng bài học về dân chủ tuyên bố bởi sự khôn ngoan và nhìn xa của những cha chú về chính trị của chúng ta (những người trong Quốc Hội) trong cuộc bỏ phiếu giữ lại không trả nợ LHQ để phản đối kết quả tuyển chọn của LHQ gần đây đã làm cho Hoa Kỳ mất những ghế ngồi trong các Ủy Ban về Ma Túy và Nhân Quyền. Tôi đặc biệt hồ hởi vì hành động này có vẻ như đã đặt ra một tiền lệ vững chắc không thể chối cãi được là cho phép người dân giữ lại tiền phải đóng thuế và đe dọa rút ra khỏi chính sách thuế má của nhà nước để phản đối kết quả bầu cử không làm cho chúng ta hài lòng.

Cách đối phó này của những đại biểu của nền dân chủ của chúng ta, luôn luôn tự cho là mình đúng, thật là lố bịch. Nó chính là lý do mà nhiều đồng minh của chúng ta đã bỏ phiếu như vậy để trừng phạt sự kiêu căng và hành động hà hiếp thế giới của chúng ta.

Sự đạo đức giả đã ngự trị trên miền đất mà những kẻ mị dân thường hay phản ứng và đe dọa thay vì xem xét nguyên nhân sự bất mãn của thế giới.

(I celebrate the lesson in democracy delivered by our wise and visionary political fathers in voting to withhold United Nations dues to protest the result of UN elections that recently resulted in the US loosing chairs on narcotics and human rights committees. I’m particularly excited because this action would seem to set a strong and undeniable precedent allowing citizens to withhold tax dollars and threaten withdrawal from the process to protest election results that displease us.

This response by the ever so self-righteous representatives of our democracy is ironic. It soundly emphasizes the very reason that many of our allies cast such votes to punish our arrogance and global bullying.

Hypocrisy reigns supreme in a land where demagogues would prefer to react and threaten rather than examine the cause of the world’s displeasure with our greedy, self-absorbed behavior.)

- Vince Hayner viết với nhan đề “Những Vi Phạm Của Hoa Kỳ” (US Violations) như sau:

“Sự loại Hoa Kỳ ra khỏi Ủy Ban Nhân Quyền là một bất ngờ cần được hoan nghênh. Trong khi các chính trị gia, ký giả và dân thường hỏi tại sao, câu trả lời ở ngay trước mắt chúng ta.

Hoa Kỳ có một hồ sơ khủng khiếp về nhân quyền. Ngoài chuyện hàng ngày áp bức chính dân của mình, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục vi phạm nhân quyền ở các nơi như Vieques (Porto Rico) bằng Hải Quân Hoa Kỳ, và ở quanh thế giới trong những xí nghiệp bóc lột nhân công tàn tệ (sweatshops) cho những xí nghiệp Hoa Kỳ, và điều có lẽ đáng lo ngại nhất là, giết hại hơn 1 triệu dân Iraq trong chiêu bài trừng phạt, đó là chỉ kể vài sự kiện.

Hi vọng rằng sự loại Hoa Kỳ ra khỏi Ủy Ban Nhân Quyền là một dấu hiệu mà các thành viên khác của LHQ sẽ không dung dưỡng cho những hành động không hề thay đổi, đơn phương tấn công nhân cách con người của Hoa Kỳ.”

(The ejection of the US from the UN Human Rights Committee is a welcome surprise. While politicians, journalists and everyday people ask why, the answer is right in front of us.

The US has a horrible human rights record. Besides the daily oppression of its own citizens, the US continues to violate human rights in place like Vieques with the US Navy, around the world in sweatshops for US corporations and, perhaps most alarming, with the killing of more than 1 million Iraqi people via sanctions, just to name a few.

It is hoped that this ejection comes as a sign that the other members of the UN will not tolerate the consistent unilateral assaults on human dignity by the US.)

Chúng ta cũng nên nhớ rằng, Uỷ Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, trong cuộc họp khai mạc cuối tháng 3, 1999, Tổng Thư Ký Hội Ân Xá Quốc Tế, Pierre Sane, thay vì thường tố cáo Trung Quốc, đã tố cáo Hoa Kỳ vẫn tiếp tục vi phạm nhân quyền một cách đại quy mô đối với các dân thiểu số ngay trong nước Mỹ (As the UN Human Rights Commission opened its annual session Monday, Amnesty International departed from its traditional criticism of China and instead denounced the US: "Human Rights violations in the US of America are persistent, widespread and appear to disproportionately affect people of racial or ethnic minority backgrounds," said Amnesty's secretary general, Pierre Sane.), và khuyến cáo Uỷ Ban Liên Hiệp Quốc hãy chú ý đến những vi phạm nhân quyền ở Sudan, Turkey, Algeria, Cambodia, Rwanda, Burundi, và Congo (Không có Việt Nam trong danh sách này).

- Walter J. Rockler, nguyên công tố viên tòa án xử tội phạm chiến tranh Nuremberg, đã viết như sau về quan niệm nhân quyền của Mỹ:

"Cái mà chúng ta gọi là quan tâm đến nhân quyền thật là lố bịch. Chúng ta đã thả xuống Việt Nam một số lượng bom gấp đôi số lượng bom mà các quốc gia liên hệ đến Đệ Nhị Thế Chiến thả lên đầu nhau. Trong cuộc chiến này, chúng ta đã giết hàng trăm ngàn thường dân. Ngay gần đây, chúng ta bảo trợ, huấn luyện và ủng hộ những đoàn quân địa phương của Guatamala, El Salvadore, và Nicaragua Contras ở Trung Mỹ, trong sự tàn sát ít nhất là 200 ngàn người..."

(Our alleged concern with human rights borders on the ludicrous. We dropped twice as many bombs on Vietnam as all the countries involved in World War II dropped on each other. We killed hundreds of thousands of civilians in the course of that war. Very recently, in Central America, we sponsored, trained, and endorsed the local armies - Guatemalan, Salvadoran, and Nicaraguan Contras - in the killing of at least 200000 people.)

- Và Robert Scheer cũng viết như sau trên tờ Times:

"Chẳng phải là chúng ta có một lịch sử "diệt chủng" hay sao, mới đầu là thổ dân Mỹ, và sau là ở Việt Nam, khi quân đội Hoa Kỳ lùa những dân làng trung thành, hầu hết là Công Giáo, vào sống an toàn trong những Ấp Chiến Lược, trong khi biến những vùng Phật Giáo ở thôn quê Nam Việt Nam thành những vùng tự do thả bom một cách toàn diện?"

(Don't we have our own history of "ethnic cleansing", first of the Native American population and later in Vietnam, when U.S. troops herded loyal, mostly Catholic villagers into so-called "strategic hammers" for safety while turning the mostly Buddhist countryside of South Vietnam into a saturation bombing zone?)



Phê bình đạo luật về tự do tôn giáo của Hoa Kỳ, Giáo sư luật tại đại học Emory, Abdullahi Ahmed An-Na'im nói: "Nhiều người nhớ lại những lời hoa mỹ thiên Ki Tô trước đây và tin rằng Hoa Kỳ chỉ quan tâm đến sự hỗ trợ các thừa sai Mỹ ở ngoại quốc."(Emory University law professor Abdullahi Ahmed An-Na'im says many remember the early pro-Christian rhetoric and believe the United States is only interested in aiding American missionaries abroad.) J. Paul Martin, Giám đốc trung tâm nghiên cứu nhân quyền tại đại học Columbia còn đi xa hơn nữa. Ông nói: "Ở các nước như Nga sô, Pháp, Bỉ, và Đức, nhiều người coi đạo luật về tự do tôn giáo của quốc hội Hoa Kỳ là một phần của chủ nghĩa đế quốc rộng lớn hơn của Mỹ" (J. Paul Martin, executive director of Columbia University's Center for the study of Human Rights, goes further. In such countries as Russia, France, Belgium, and Germany, he says, many see Congress' action as "part of a larger American imperialism".)

Nhiều sự kiện trên khắp thế giới, thí dụ như những hành động của Mỹ ở Việt Nam, Indonesia, Guatamala, El Salvadore, Nicaragua v..v..(Xin đọc cuốn 9-11 , Seven Stories Press, New York, 2001, của Noam Chomsky) đã chứng tỏ rằng Nhân Quyền chỉ là một chiêu bài hữu danh vô thực của Mỹ, với hậu thuẫn của bom đạn và ưu thế kinh tế, để ép những tiểu nhược quốc nào có thể ép được phải theo quan niệm về nhân quyền, dân chủ, đường lối chính trị, quyền lợi kinh tế của Mỹ, tạo thuận lợi cho Mỹ bành trướng văn hóa và tôn giáo của Mỹ. Cuộc xâm chiếm Iraq của chính quyền Bush gần đây đã chứng tỏ rõ ràng hơn hết nhận định trên. “Viện trợ Ki-Tô” (Christian aid) đã đổ vào Iraq để mua linh hồn cho Chúa. Nhiều nhà thầu (war contractors) trước đây đã đóng góp cho quỹ tranh cử của Bush, một hình thức hối lộ, nay đã trúng thầu trong những dịch vụ hái ra tiền, những dịch vụ liên quan đến chiến tranh, nghĩa là kiếm lời nhờ chiến tranh. Đây chính là đường lối tư bản rừng rú cố hữu, không liên quan gì đến nhân quyền. [Xin đọc bản phúc trình “Windfalls of War: US Contractors in Iraq and Afghanistan” của tổ chức nghiên cứu Center for Public Integrity]. Riêng hãng (Kellogg, Brown & Root (KBR)-khai thác dầu hỏa Halliburton) mà Dick Cheney cai quản trước khi làm Phó Tổng Thống đã “trúng thầu” trị giá 2.3 tỷ đô-la.

Bộ mặt “nhân quyền” của Mỹ gần đây [như một số phê bình gia đã nhận định], sau vụ khủng bố 11 tháng 9, 2001, và tiếp theo là cuộc xâm chiếm Iraq vào tháng 3 năm 2003, đã cho thế giới rõ thực chất chính sách cường quyền thắng công lý của Mỹ, bất kể đến luật lệ quốc tế, bất kể đến vấn đề nhân quyền. Trong nội địa, Mỹ đưa ra Đạo Luật Yêu Nước (Patriot Act). Với nội dung của đạo luật này và những biện pháp đã được áp dụng dựa theo đạo luật này thì những cái mà những người CCCB cho là vi phạm nhân quyền của Việt Nam chẳng thấm vào đâu. Chứng minh?

Chúng ta hãy đọc vài nét trong bài của Cherif Bassiouni, Giáo sư Luật Học, Viện trưởng Viện Luật Pháp Quốc Tế Về Nhân Quyền tại Đại học DePaul (Professor of law and President of the International Human Rights Law Institute at DePaul University), viết ngày 24 tháng 8, 2003, trên tờ Chicago Tribune:

Quốc gia (Hoa Kỳ) chưa từng thấy một sự xói mòn có hệ thống những quyền dân sự như sau vụ tấn công ngày 11 tháng 9, 2001. Nó mang một hình thức phá ngầm hệ thống pháp luật, ghép song song với những lạm dụng quá độ về 1uyền lực của chính quyền, tất cả đều nhân danh chống khủng bố..

Sự xói mòn này khởi đầu từ 1996 với đạo luật về di trú và chống khủng bố. Hầu hết những quyền của một công dân Hoa Kỳ mà những người dân thường trú được bảo vệ một cách bình đẳng bởi hiến pháp, nay đã bị lột đi mất. Những người không phải là dân Mỹ có thể bị bắt bớ và trục xuất dựa trên những “bằng chứng mật”, điều này đã thu hồi quyền, quy định bởi hiến pháp, được đối đáp và chất vấn những bằng chứng đưa ra để chống họ.

Đây chính là điều các chính thể độc tài áp dụng mà Hoa Kỳ thường xuyên lên án kể từ cuộc chiến tranh lạnh.

Chiến dịch của chính quyền chỉ nhắm vào dân gốc Ả Rập và những người Hồi giáo. Số người bị bắt không được xác định, tình trạng của họ được dấu kín, và kết quả điều ta không được tiết lộ.

Tổng thanh tra bộ Tư Pháp phúc trình rằng nhiều vụ không biện minh được và nhiều cá nhân bị đối xử thô bạo, một cách hành xử vi phạm nặng những tiêu chuẩn pháp lý của chúng ta.

Tuy nhiên, trong một hành động chống đối can đảm, ông tòa David Tavel viết rằng sự “tôn trọng mù quáng” của đa số trước những khẳng định mơ hồ của chính quyền không chỉ vi phạm mục đích của đạo luật về sự Tự Do Đòi Hỏi Những Thông Tin mà còn ngăn ngừa người dân Mỹ tìm hiểu là chính quyền hiện nay có “vi phạm những quyền quy định bởi hiến pháp của nhiều trăm người bị bắt giữ trong sự điều tra sự liên hệ tới khủng bố” hay không?

Chiến tranh ở A Phú Hãn đưa đến một loại vi phạm khác, giam giữ tù binh ở Vịnh Guantanamo, Cuba. Sự bắt giữ họ không theo đúng thủ tục là một sự vi phạm trắng trợn công pháp quốc tế qui định bởi Công Ước Liên Hiệp Quốc Thứ Ba mà chúng ta phải có bổn phận tôn trọng.

Công Ước đòi hỏi rằng Hoa Kỳ phải xét xử họ đúng cách như đối với các tù binh chiến tranh và đối xử với họ tử tế. Công Ước cũng qui định là họ sẽ được thả sau khi cuộc xung đột chấm dứt. Cuộc xung đột đã qua, những họ vẫn còn bị giam giữ.  Hơn thế nữa, họ còn bị đối xử theo cung cách có thể xếp vào loại tra tấn: làm mất cảm giác, chùm kín đầu trong một thời gian lâu dài và biệt giam, cách đối xử có tính cách xỉ nhục và làm mất phẩm giá con người.

Tất cả những điều trên đều được trình bày hời hợt giả dối và không một ai trong giới truyền thông Hoa Kỳ hay trong các tổ chức bảo vệ nhân quyền được phép đi vào trong các trại giam để quan sát những điều kiện giam giữ và hỏi han những người bị giam.

Những người bị giam giữ ở trong lớp tuổi từ 15 tới 95, gồm một số ốm đau.

(...The nation has never before seen a more systematic erosion of civil rights than after the Sep. 11 attacks. This has taken the form of undermining the legal system, coupled with egregious governmental abuses of power, all in the name of combatting terrorism...

...The erosion actually started in 1996 with anti-terrorism and immigration legislation. Permanent residents who were recognized by the Constitution’s equal-protection clause as having most of the rights employed by citizens were stripped of them. Non-citizens could be arrested and deported on “secret evidence”, which revoked the constitutional right to confront and cross-examine evidence presented against them.

This was precisely the practice used by dictatorial regimes the U.S. has repeatedly denounced since the Cold War.

...The administration’s campaign only focused on people of Arab origin and others who were Muslims. Their numbers were not confirmed, their status undisclosed, and their cases’ outcomes have not been revealed.

The Justice Department’s inspector general reported that many cases were unjustified and many individuals were harshly treated, something heretofore deemed shocking by our legal standards.

...In a courageous dissent, however, Judge David Tavel wrote that the majority’s “uncritical deference” to the government’s vague assertions not only contravened the purpose of the Freedom of Information Act but prevented the American people from discovering whether the present administration “is violating the constitutional rights of hundreds of persons whom it had detained in connection with the terrorism investigation”.

The war in Afghanistan brought about another type of violation, the placing of enemy war prisoners in Guantanamo Bay, Cuba. Their detention without due process is in clear violation of our international legal obligation under the Third Geneva Convention.

The Convention requires the U.S. to properly adjudicate their status as prisoners of war and to treat them well. It also provides for their release after the conflict ends. The conflict is over, but they are still detained. Moreover, they were treated in a manner that may fall in the category of torture: sensory deprivation, prolonged hooding and solitary confinement, degrading and humiliating treatment.

All of that was glossed over and no one from the U.S. media or human rights organizations was allowed to go inside, view the conditions of detention and talk to the detainees.

Among the detainees are people ages 15 to 95, including some who are sick.)

Trong tờ Daily Herald ngày 6 tháng 10, 2003, Ray Hanahia viết một bài nhan đề A Close Look at the Patriot Act Is Not Comforting:

Lần đầu tiên tôi đọc Đạo Luật Yêu Nước và tôi bị một cú “sốc” vì tôi thực sự đã biết rất ít.

Những người ủng hộ Đạo Luật Yêu Nước nhấn mạnh là nó dùng để ngăn ngừa một cuộc khủng bố 9 tháng 11, 2001 khác, và không gì hơn nhiều những gì đã được làm. Thật vậy sao. Vậy tại sao chúng ta lại cần đến nó.

Đạo Luật Yêu Nước mở rộng một kẽ hở của Đạo Luật về Tình Báo Quốc Ngoại năm 1978. Đạo luật này ngưng áp dụng một số biện pháp quy định bởi hiến pháp bảo vệ những cá nhân được xếp vào loại “điệp viên ngoại quốc”. Với Đạo Luật Yêu Nước, hầu hết những sự bảo vệ này không được áp dụng. Tệ hơn nữa là theo đạo luật cũ, ông chưởng lý Hoa Kỳ John Ashcroft phải đưa ra những bằng chứng là tại sao lại xếp một người vào loại trên. Với Đạo Luật Yêu Nước, Ashcroft không cần đến một bằng chứng nào.

Chỉ theo lời ông, bất cứ ai cũng có thể bị cho là “điệp viên của ngoại quốc”. Tất cả những quyền của một người dân Mỹ đều bị vứt bỏ. Họ có thể xông vào nhà tôi khám xét mà không cần sự chấp thuận của một ông Tòa trước. Và bây giờ, họ có thể khám xét mọi sổ sách ghi chép, hồ sơ.

Trong quá khứ, những người bị nghi ngờ được báo trước là nhà cửa của họ sẽ bị lục xoát và tịch thu những hồ sơ. Với Đạo Luật Yêu Nước, nếu Ashcroft tịch thu một chương mục ngân hàng, các viên chức ngân hàng có thể bị truy tố nếu họ định nói cho thân chủ biết tại sao chương mục của họ bị phong tỏa.

Điều khoản “có thể là nguyên nhân” ngăn cấm luật pháp bắt giữ người dân nếu không có hành động gây tội ác. Với Đạo Luật Yêu Nước, Ashcroft không cần phải đến trước một ông Tòa và chứng tỏ nguyên nhân tại sao một người bị bắt giữ.

Chúng ta chỉ cần nghe vào lời của Ashcroft là sự truy tố đã được biện minh và “nguyên nhân có thể” đã hiện hữu. Những người bị nhắm vào không được biết đến ngay cả những bằng chứng. Họ không được phép có luật sư. Họ có thể bị bắt giữ và giam vô thời hạn mà không ai biết được tại sao và ở đâu.

Một sự thay đổi khác là về điều khoản “nhân chứng cụ thể”. Với những luật cũ, những “nhân chứng cụ thể” chỉ có thể bị bắt giữ nếu có bằng chứng hoặc họ là sự đe dọa hay toan tính trốn chạy.

Nay, khi bị chỉ định là một “nhân chứng cụ thể” – có nghĩa là anh không hẳn đã dính líu vào tội ác, nhưng có thể anh biết một vài điều gì đó – anh có thể bị bắt giam vô thời hạn. Họ không nói rõ tội trạng và không đưa ra bằng chứng. Không có ông tòa nào duyệt lại trường hợp của anh và anh không được phép có luật sư bảo vệ.

(I read the Patriot Act for the first time and was shocked at how little I really knew.

Patriot Act advocates insist it prevents another Sep. 11, 2001, and doesn’t do much more than what was done before. Really? Then why do we need it?

The Patriot Act expands an existing loophole in the 1978 Foreign Intelligence Service Act. FISA suspends some constitutional protections for individuals classified as “foreign agents”. Under the Patriot Act, nearly all of them don’t apply. What’s worse is that under the old provisions, U.S. Attorney John Ashcroft would be required to show evidence why someone should be placed in this classification. Under the Patriot Act, Ashcroft doesn’t need any evidence.

On his word, anyone can be designated a “foreign agent.” All their rights as an American are thrown out. They can come into my home and search without first getting a judge’s approval. They can examine all records, which they can do now anyway.

In the past, suspects would be notified of having their home searched or records seized. Under the Patriot Act, if Ashcroft seizes a bank account, bank officials could be prosecuted if they try to tell someone why their account was closed.

The issue of “probable cause” is what prevents law enforcement from targeting people for reasons other than criminal behavior. Under the Patriot Act, Ashcroft doen’t have to go before a judge and show cause as to why someone should be targeted.

We just have to take Ashcroft’s word that a prosecution is justified and probable cause exists. Targets can’t even see the evidence. They are denied lawyers. They can be arrested and detained indefinitely without anyone ever know why or where.

..Another change involves the issue of “material witness”. Under the old laws, material witnesses could be arrested or detained only if evidence existed that they are threats or might run.

Once designated as a material witness – meaning you are not necessary involved in the crime, but you just might know something – you can be arrested and detained definitely. They don’t detail the charges or show you the evidence. No judge reviews your status and you don’t even get a lawyer.)

Và trong tờ Chicago Tribune ngày 1/11/2003, trong mục Tiếng Nói Người Dân (Voice of the people), Ben Ogden viết:

Đạo Luật Phi-Ái Quốc: Đạo luật Yêu Nước là là một văn kiện lập pháp có tính chất phi-yêu nước nhất từ xưa tới nay xuất phát ra từ Washington. Nó phi-Koa Kỳ vì FBI có quyền khám xét mật, bắt bỏ tù chúng ta không kết án và dính mũi vào những việc như chúng ta đã mua cái gì hay mượn sách gì từ thư viện. Tôi hoan nghênh những cố gắng của Nghị viện để bãi bỏ đạo luật này.

(Un-Patriot Act: The Patriot Act is the most un-patriot piece of legislation that has ever come from Washington. It’s un-American for the FBI to have the power to conduct secret searches, jail us without charges and snoop into what we buy or borrow from the library. I applaud the efforts in Congress to repeal the act.)

Với thành tích vi phạm nhân quyền như vậy, tôi nghĩ rằng Mỹ không đủ tư cách nói về nhân quyền và quốc hội Mỹ không đủ tư cách hay quyền hạn để ra một đạo luật nhân quyền cho bất cứ quốc gia nào khác với mục đích ép quốc gia này phải theo quan niệm lưỡng chuẩn (double standard) và đạo đức giả của Mỹ về nhân quyền. Trên bình diện quốc tế, nếu Mỹ, nhân danh chống khủng bố, đưa ra những biện pháp vi phạm nhân quyền như nội dung Patriot Act cho phép, thì bất cứ quốc gia nào cũng có thể nhân danh một cái gì đó, thí dụ như “an ninh quốc gia”, “trật tự và ổn định xã hội”, “bảo vệ chủ quyền”, “đề phòng sự phá hoại nền văn hóa và tôn giáo quốc gia” v..v.. để đưa ra những đạo luật và biện pháp tương tự. Viết như vậy, không phải là tôi ủng hộ sự vi phạm nhân quyền của bất cứ quốc gia nào, mà chỉ muốn nói lên một điều: vấn đề nhân quyền không có một tiêu chuẩn phổ quát, có thể áp dụng cho mọi quốc gia, mà còn phải tùy thuộc tình hình chính trị, xã hội và văn hóa của mỗi quốc gia.

Tuy nhiên, công bằng mà nói, dù sao Mỹ cũng là quốc gia có thể nói là tôn trọng quyền của người dân vào bậc nhất. Cũng vì vậy mà tôi mới có thể viết lên bài này, nhân danh là một công dân Mỹ. Nhưng chúng ta cần phải hiểu rằng, người dân đây chỉ là dân Mỹ sống trên đất Mỹ. Vấn đề ở đây không phải là Mỹ tôn trọng quyền của người dân Mỹ trên đất Mỹ, mà là trên bình diện quốc tế, Mỹ có tôn trọng nhân quyền ở các nơi khác trên thế giới hay không? Những sự kiện trong lịch sử Mỹ ở Việt Nam, Indonesia, Guatamala, El Salvadore, Nicaragua v..v. đã chứng tỏ, đúng như Vince Hyaner đã viết ở trên: Hoa Kỳ có một thành tích khủng khiếp về nhân quyền.

Tưởng chúng ta cũng nên biết thêm là năm 1986, Mỹ là quốc gia duy nhất đã bị Tòa Án Quốc tế (World Court) kết án là khủng bố quốc tế - dùng võ lực bất hợp pháp, cho những mục tiêu chính trị (Noam Chomsky, Ibid. p. 84: In 1986, the U.S. was the only country comdemned by the World Court for international terrorism – for “unlawful use of force” for political ends) và Mỹ đã phủ quyết một nghị quyết của Hội Đồng An Ninh Liên Hiệp Quốc kêu gọi mọi quốc gia, trong đó có Mỹ, phải tôn trọng luật lệ quốc tế. Cường quyền đã thắng công lý. Tại sao Mỹ không dám công nhận quyền của Tòa Án Quốc Tế Le Hague? Vì nếu công nhận thì Mỹ sẽ là quốc gia đầu tiên bị đưa ra Tòa Án Quốc tế về những tội ác chiến tranh (war crimes) trong đó có những tội ác ở Việt Nam.

Trong cuốn Giới Thiệu Noam Chomsky (Introducing Noam Chomsky) của John Maher và Judy Groves, Totem Books, New York, 1997, có ghi một nhận định thời danh của Giáo sư Noam Chomsky, trang 156:

“Nếu những luật của Nuremberg (tòa án xử tội phạm chiến tranh) được áp dụng thì sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đã phải bị treo cổ.”


Và tôi hi vọng có người dịch phần Phụ Lục này cho Dân Biều Loretta Sanchez, Dân Biểu Frank Wolf (người đòi giải nhiệm đại sứ Mỹ Michael Marine ở Việt Nam), cũng như Thượng Nghị Sĩ Gary Humphries (người đã gửi thư cho Thủ Tướng Việt Nam phản đối chính quyền xử Nguyễn Văn Lý, đòi thả tự do cho Nguyễn Văn Lý, và khiếp đảm khi nhìn thấy bức hình “bịt miệng”) [lại một người ở xa, vô trí, không chịu tìm hiểu, chỉ nhìn bức hình rồi lên tiếng], đọc, và sờ lên gáy.

Tám mươi năm làm nhân chứng cho một giai đoạn lịch sử Việt Nam


TRẦN BÌNH NAM: 

Tám mươi năm làm nhân chứng cho một giai đoạn lịch sử Việt Nam

Mar 21, 2016,


Tôi sinh ngày 17 tháng 7 năm 1933. Đến ngày 17 tháng 7 năm 2013 tôi được 80 tuổi chẵn, tôi quyết định thôi không bàn về thế sự nữa và để thì giờ luận bàn về các vấn đề liên quan đến nhân sinh (*).
Tám mươi năm, một quãng đường dài và tùy theo hoàn cảnh của từng cá nhân và biến chuyển của xã hội có thể chỉ là một phút thoáng qua như một cái chớp mắt, nhưng cũng có thể là một cuộc sóng gió của một đời người .
Ai là người Việt Nam sinh ra và đã sống trong khoảng thời gian 80 năm đó đều phải trải qua những sóng gió lịch sử trên đất nước Việt Nam như tôi. Tôi sinh ra khi người Pháp bắt đầu củng cố chế độ thuộc địa tại Đông Dương. Lớn lên được giáo dục nửa Tây nửa ta, trong khi toàn quốc đang kinh qua cuộc kháng chiến đánh đuổi người Pháp. Người Pháp thua trận rút về. Việt Nam chia đôi. Miền Bắc cho phe Cộng, miền Nam cho người Quốc gia. Người Mỹ đến giúp người quốc gia chận đứng ý đồ xích hóa miền Nam của cộng sản. Chiến tranh dai dẳng kết thúc năm 1975 với phe cộng toàn thắng. Hằng trăm ngàn người từ miền Nam bỏ nước ra đi tìm tự do gây ra một làn sóng tị nạn lớn chưa từng có trong lịch sử Việt Nam.

Là một trong những thuyền nhân rời bỏ Việt Nam trong màn chót của bi kịch Việt Nam, tám mươi năm qua tôi đã là một nhân chứng bất đắc dĩ cho thảm kịch Việt Nam .

Những gì tôi viết sau đây là lời một nhân chứng của một tấn thảm kịch mà trong đó những người thuộc thế hệ tôi từng chia sẻ. Lời chứng có thể vui hay buồn, có thể hợp nhĩ với lớp người này và không hợp nhĩ với lớp người kia tùy theo chỗ đứng của mỗi người, nhưng tôi bảo đảm một điều là tôi làm chứng cho sự thật ít nhất từ chỗ đứng của tôi.

Thiếu thời:

Dòng dõi họ Trần tôi xuất phát từ tỉnh Sơn Nam, Bắc Việt (nay là Nam Định, hướng đông nam thành phố Hà Nội 74km). Gia phả ghi rằng trong thập niên 1530s cố tổ tôi chống họ Mạc theo ông Nguyễn Kim vào Thanh Hóa, và năm 1558 theo Nguyễn Hoàng (con Nguyễn Kim) đi sâu hơn vào miền Nam.  Cố tổ tôi là sĩ quan cấp nhỏ của Chúa Nguyễn, được Chúa Nguyễn cấp ruộng đất tại làng Thành Trung (cách Huế 30km) thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Thành Trung trở thành chánh quán của họ Trần Văn. Vào thế kỷ thứ 19, con cháu họ Trần đa số trở thành nông dân sống với ruộng đất.

Thập niên 1910, người Pháp mở trường Bá Công ở Huế (Bá Công là trăm nghề) để đào tạo cán sự trung cấp cho các ngành điện lực, điện thoại, điện báo, hỏa xa và hành chánh. Ông nội tôi xin cho Ba tôi vào học trường Bá Công. Ở Huế Ba tôi gặp Mẹ tôi và hai người xây tổ ấm trên một khoảnh đất trong vườn nhà của ông ngoại tôi ở Phường Đúc. Ông ngoại tôi thuộc dòng quận công Lê Chất, một trong những viên tướng đã giúp vua Gia Long đánh bại nhà Tây Sơn thiết lập nên triều đại nhà Nguyễn vào đầu thế kỷ 19.

Tôi là con út trong gia đình, sinh ngày 17 tháng 7 năm 1933, có hai anh và hai chị. Ba tôi cho con trai đi học. Hai chị tôi ở nhà giúp Mẹ buôn bán và bếp núc theo truyền thống các gia đình Việt Nam thời đó. Hai chị tôi chỉ biết đọc chữ quốc ngữ .

Anh cả tôi, Trần Văn Bách bị lính Pháp bắn chết năm 1946 lúc 18 tuổi tại Bến Cát, Thủ Dầu Một khi Pháp theo chân quân Anh trở lại Việt Nam sau một thời gian bị Nhật đảo chánh.

Thời gian “toàn quốc kháng chiến” bắt đầu từ cuối năm 1946, gia đình tôi tản cư về Thành Trung. Đầu năm 1947 sau khi quân Pháp tái chiếm Huế, ba mẹ tôi hồi cư trở về Phường Đúc. Ba tôi làm nghề xây cất, Mẹ tôi buôn bán với chị áp tôi. Chị đầu đã đi lấy chồng. Tôi được vào học lớp nhất trường tiểu học Trần Quốc Toản.

Năm 1948 tôi thi đậu kỳ thi tuyển vào học trường Trung học Khải Định. Chương trình trung học gồm 7 năm  và muốn tốt nghiệp trung học học sinh phải qua 3 kỳ thi. Kỳ thi trung học sau 4 năm. Hai năm sau thi Tú tài I và năm cuối thi Tú Tài II.

Năm 1950 anh thứ nhì tôi, Trần Thanh Dương đi kháng chiến chống Pháp. Lúc đầu ra Vinh thuộc tỉnh Nghệ An học trung học, sau đó vào khu 5 thuộc tỉnh Bình Định. Sau khi ký hiệp định Genève, anh không ở trong thành phần tập kết ra Bắc, trở về Huế mang theo vợ và 4 con. Chị đầu tôi chết vì bệnh ung thư năm 1980. Hiện nay tôi còn một ông anh và một bà chị đều trên 80 tuổi. Anh tôi sống ở Nha Trang, chị tôi sống ở Huế .

Trong hai năm 1954-55, quân đội Pháp rút dần ra khỏi Việt Nam, người Mỹ đến giúp củng cố chế độ Ngô Đình Diệm. Ông Diệm đối mặt với nhiều khó khăn. Các giáo phái Hòa Hảo, Cao Đài với sự tiếp tay của các tướng Nguyễn Văn Hinh, Nguyễn Vỹ thân Pháp hoạt động gây bất ổn tại Sài Gòn. Tuy vậy ông Diệm, với sự giúp đỡ của người Mỹ đã ổn định tình hình và định cư được khoảng một triệu người dân miền Bắc, đa số là tín đồ Thiên chúa giáo trốn chạy cộng sản. Ông Diệm tổ chức trưng cầu dân ý truất phế Bảo Đại, quốc trưởng bù nhìn do Pháp dựng nên và thành lập nước Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).

Năm 1954, sau khi đỗ Tú tài I tại Huế, tôi vào Sài gòn theo học trường Cao đẳng Vô Tuyến Điện, đồng thời tự luyện thi Tú Tài II để hoàn tất chương trình trung học.

Thời gian đó, thanh niên đến tuổi đều phải nhập ngũ nên học sinh lớp cuối trung học và đại học ai cũng tìm một đường để đi. Tôi thi đỗ kỳ thi tuyển của Hải quân VNCH tuyển mộ sinh viên sang học tại trường Hải quân Pháp. Chương trình này do người Pháp viện trợ. Cuộc tuyển mộ năm 1955 là cuộc tuyển mộ cuối cùng. Tôi theo học khóa đào tạo kỹ sư Hải quân. Chương trình học 3 năm. Hai năm đầu học tại trường Sĩ Quan Hải quân ở Brest, trong tỉnh Finistère, bên bờ Đại Tây Dương. Năm thứ ba các sinh viên, lúc này đã lên Thiếu úy, sẽ được đi thực tập một năm trên chiến hạm Jeanne d’Arc chạy vòng quanh thế giới để các tân sĩ quan có cơ hội tiếp xúc với các quốc gia khác.

Khóa tôi,  học xong năm thứ hai cuối năm 1957 vào lúc quan hệ giữa chính quyền VNCH và Pháp trở nên căng thẳng, Hải quân Pháp gởi trả chúng tôi về Sài gòn.

Tôi được bổ nhiệm đến Hải Vân Hạm Hát Giang (HQ 400). Vài tháng sau chuyển qua Hộ Tống Hạm Đống Đa (HQ 03). HQ 03 sắp sửa đi Subic Bay, một căn cứ sửa chữa tàu bè của Hạm đội 7 Hải quân Hoa Kỳ để đại tu bổ.

Tháng 6 năm 1958, tàu còn ở Subic Bay, tôi được lệnh thuyên chuyển đến Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân tại Nha Trang (TTHL/HQNT). Trung tâm huấn luyện này do Hải quân Pháp xây cất năm 1952 để đào tạo binh sĩ Hải quân gồm sĩ quan và thủy thủ các ngành chuyên nghiệp để làm việc với Hải quân Pháp, và vừa được chính thức chuyển giao cho Hải quân Việt Nam. Trường SQHQ là một trong những trường thuộc TTHL/HQNT.  Tháng 10 /1958 tôi đến đơn vị mới. Lúc đó trường đang huấn luyện khóa 8 SQHQ. Việt ngữ được dùng làm chuyển ngữ  thay vì dùng chữ Pháp như các khóa trước. Cuốn “Danh từ Khoa học” Pháp ngữ – Việt ngữ của giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã giúp chúng tôi nhiều trong việc biên soạn tài liệu huấn luyện. Nhưng các môn học Hải quân cần nhiều danh từ kỹ thuật hơn nên chúng tôi hết sức chật vật đánh đu với chữ nghĩa chuyên môn.

Tôi phục vụ Hải quân 16 năm và làm việc liên tục tại   TTHL/HQNT 13 năm, dưới quyền của 8 trong 9 vị Chỉ huy trưởng của Trung tâm từ ngày thành lập cho đến khi kết thúc chiến tranh (**). Tôi đến Nha Trang với cấp Thiếu úy và giải ngũ ở cấp Trung Tá năm 1971 sau khi đắc cử dân biểu đại diện thành phố Nha Trang tại Quốc hội VNCH khóa  2.

tran-binh-nam-2.jpgTôi kết hôn với Nguyễn Thị Phương Thảo năm 1959 và lúc giải ngũ tôi có 5 người con: 2 trai, 3 gái tất cả đều sinh ra và lớn lên tại Nha Trang.

Tại Quốc hội

Bản Hiến pháp Đệ nhị Cộng hòa công bố ngày 18/3/1967 ấn định tổ chức bầu cử Tổng thống và Thượng nghị viện, Hạ nghị viện vào cuối năm. Hai tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ ra ứng cử trong một liên danh tổng thống – phó tổng thống và đắc cử nhiệm kỳ 1967-1971. Ông Kỳ chịu đứng phó cho ông Thiệu với lời hứa của ông Thiệu giao Quốc hội cho Kỳ kiểm soát. Kỳ định dùng Quốc hội xây dựng thế chính trị cho mình, nhưng sau  đó Thiệu đã khéo léo lấy hết quyền của Kỳ. Vào cuối nhiệm kỳ 1967-1971 Thiệu nắm chắc hành pháp trong tay và đàn em của Thiệu  trong Quốc hội cũng lấn áp ảnh hưởng của Kỳ.

Tại Quốc hội tôi gia nhập khối đối lập Dân Tộc Xã Hội (DTXH). Khối DTXH gồm hai nhóm chính trị: Dân Tộc và Xã Hội. Nhóm Xã Hội thành lập trong pháp nhiệm 1967-1971 gồm các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) do dân biểu Phan Thiệp cầm đầu và một số dân biểu độc lập có khuynh hướng Phật giáo và một vài dân biểu khác trong vùng Sài gòn, Gia Định như bác sĩ Hồ Văn Minh, nhà báo Hồ Ngọc Nhuận … Nhóm Xã Hội chống khuynh hướng độc tài của tổng thống Thiệu.

Nhóm Dân Tộc gồm các dân biểu được giáo hội Phật giáo ủng hộ. Giáo hội Phật giáo tẩy chay cuộc bầu cử quốc hội năm 1967, nhưng quyết định tham dự cuộc bầu cử năm 1971 và giúp 19 dân biểu đa số  gốc miền Trung vào quốc hội, trong đó có tôi đắc cử tại thị xã Nha Trang. Hai dân biểu uy tín nhất là Lê Đình Duyên và Lý Trường Trân.

Hai nhóm Xã Hội và Dân Tộc là nòng cốt của khối đối lập DTXH gồm 29 dân biểu. Trong khối còn có các dân biểu thuộc nhóm tướng Dương Văn Minh như Hồ Ngọc Nhuận, Hồ Văn Minh, Nguyễn Hữu Chung, Lý Quý Chung và 3 dân biểu độc lập: Trần Văn Tuyên ở Sài gòn, Đinh Xuân Dũng ở Phan thiết và Trần Cao Đễ ở Vũng Tàu.

Lúc đầu, giáo hội Phật Giáo định ủng hộ Lê Đình Duyên làm trưởng khối. Duyên là con trai của bác sĩ Lê Đình Thám, người chấn hưng phong trào Phật giáo tại miền Trung trong thập niên 1930. Các nhà lãnh đạo Phật giáo như Thượng tọa Thích Trí Quang, Thích Thiện Minh và hấu hết các nhà lãnh đạo Phật giáo đương thời đều do chương trình chấn hưng của bác sĩ Thám đào tạo.

Nhưng sau cùng các vị lãnh đạo Phật giáo ủng hộ luật sư Trần Văn Tuyên làm trưởng khối. Tuyên sinh năm 1913 tại tỉnh Tuyên Quang, Bắc Việt, phía bắc Hà Nội 128 km. Ông gia nhập  VNQDĐ năm 16 tuổi,và sau khi tốt nghiệp cử nhân luật tại Hà Nội ông được bổ nhiệm tri huyện tại tỉnh Tuyên Quang. Nhưng ông từ chức sớm về Hà Nội dạy học tại trường trung học tư thục Thăng Long. Ông Võ Nguyên Giáp đang dạy Sử tại đó và hai người quen biết nhau. Nhưng hai người đi theo hai con đường chính trị khác nhau và trở thành địch thủ nhau cho đến năm1975, Giáp trở thành kẻ chiến thắng, Tuyên chết trong tù. Tuyên là một trong những nhân vật ký tên vào bản Tuyên ngôn Caravelle năm 1960 (2) kêu gọi tổng thống Ngô Đình Diệm cải tổ và bị ông Diệm cầm tù.

Sau khi Diệm bị lật đổ, ông Tuyên trở thành Phó thủ tướng cho Thủ tướng Phan Huy Quát. Nhưng chỉ trong 4 tháng (tháng 2 đến tháng 6- 1965), Quát không chịu nổi áp lực của quân nhân từ chức trao quyền cho các ông tướng. Tuyên trở về hành nghề luật sư, sau đó được bầu làm thủ lãnh Luật sư đoàn. Ông ra ứng cử dân biểu nhiệm kỳ 1971-1975 và đắc cử tại Saigon – Gia Định đại diện hai Quận 1 & 3.

Quyết định ủng hộ ông Tuyên làm trưởng khối DTXH là một quyết định chính trị khôn khéo của giáo hội Phật giáo. Tuyên đã gíúp giữ cho khối đối lập không tan rã trước nhiều lực xâu xé. Trước hết, tổng thống Thiệu không muốn làm việc với đối lập mà ông cho là thân Cộng; thứ hai là nỗ lực của cộng sản đột nhập vào để thao túng; và sau cùng Hoa Kỳ không có một chương trình giúp xây dựng dân chủ vì mục tiêu của Hoa Kỳ vào thời gian đó là chấm dứt chiến tranh và rút quân.

Trong nhiệm kỳ 1967-71 Thiệu gạt bỏ ảnh hưởng chính trị của Kỳ. Trong nhiệm kỳ 2 (1971-75) Thiệu chọn ông Trần Văn Hương đứng phó. Hương là một giáo sư trung học, nguyên hội trưởng Hội Hồng Thập Tự Việt Nam và có thời làm Đô trưởng Sài gòn. Ông Hương có uy tín với nhóm Liên trường, gồm các cựu học sinh các trường Trung học lớn ở  Nam bộ. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1971, liên danh Thiệu – Hương  ra tranh cử một mình vì vào phút chót cả hai ứng cử viên Dương văn Minh và Nguyễn Cao Kỳ đều rút tên. Tuy nhiên với sự ủng hộ của Hoa Kỳ, ông Thiệu vẫn theo đường lối cứng rắn.

Lập trường của khối DTXH đối với cuộc thương thuyết tại Paris là đạt được một thỏa ước chính trị dựa trên nguyên tắc dân tộc tự quyết để nhân dân miền Nam tự chọn lấy chế độ chính trị của mình. Nhưng Tuyên biết sự việc không đơn giản như vậy. Ông nghi ngờ chương trình thương thuyết của tổng thổng Nixon và bộ trưởng Ngoại giao Henry Kissinger. Năm 1972 ông Ronald Reagan có công việc riêng tạt qua Sài gòn đến thăm Tuyên để đáp lễ chuyến thăm của Tuyên năm 1965 tại Sacramento.

Năm 1965 Tuyên là Phó thủ tướng đi công cán và ông Reagan đang làm thống đốc bang California. Trong một buổi họp Khối Tuyên cho biết ông Reagan hỏi theo ý ông thì nên chấm dứt cuộc chiến Việt Nam bằng cách nào. Qua câu chuyện với ông Reagan Tuyên có cảm tưởng Hoa Kỳ sẽ đi đến một thỏa ước chấm dứt chiến tranh bất lợi cho VNCH. Khối DTXH ủng hộ lập trường của tổng thống Thiệu là không chấp nhận một thỏa ước không có điều khoản buộc quân đội Bắc việt phải rút về miền Bắc cùng một lúc với quân đội Hoa Kỳ và đồng minh.

Tuy nhiên dưới áp lực cắt viện trợ đi đôi với lời hứa của tổng thống Nixon sẽ can thiệp quân sự mạnh mẽ – nếu Hà nội vi phạm thỏa ước tung quân đánh miền Nam – Thiệu  miễn cưỡng đồng ý ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973. Hiệp định không bắt buộc quân đội Bắc Việt rút quân.

Trước Tết Nguyên Đán Quý Sửu, nhằm ngày 2/2/1973 khối DTXH tuyệt thực trước thềm quốc hội phản đối Hoa Kỳ ký kết hiệp định Paris. Tuyên nói Hiệp định này sẽ làm miền Nam mất vào tay cộng sản. Về mặt thực tế, còn nước còn tát, Tuyên thuyết phục hai bên thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định, cho rằng đó là cách duy nhất để cứu miền Nam. Do đó khối DTXH ủng hộ và đứng ra thành lập Lực lượng Thứ ba tham gia Hội đồng Hòa hợp Hòa giải Dân tộc ba thành phần quy định bởi Hiệp định và có nhiệm vụ tổ chức bầu cử. Tuy nhiên, hai bên tiếp tục vi phạm hiệp định bằng cách lấn đất giành dân và Hội đồng Hòa Hợp Hòa giải Dân tộc chưa bao giờ được hình thành.

Tuyên từng tham gia cuộc thương thuyết tại Genève chấm dứt chiến tranh Pháp-Việt chia đôi Việt Nam năm 1954. Ông biết cộng sản sẽ không ngừng tay chừng nào họ chưa chiếm được miền Nam, và muốn tồn tại không có phương cách nào khác hơn là xây dựng một miền Nam dân chủ có một nền kinh tế tự lập vững mạnh.

Tuyên nghĩ nếu Nam Hàn có thể đứng vững trước tham vọng thôn tính của cộng sản Bắn Hàn tại sao miền Nam Việt Nam lại không?  Hơn nữa VNCH còn nhận được nhiều viện trợ của Hoa Kỳ hơn Nam Hàn. Nhưng ông cũng biết có một khác biệt quan trọng. Hoa Kỳ muốn rời Nam Việt Nam, trong khi họ muốn ở lại Nam Hàn. Còn nữa, Nam Việt Nam không có người lãnh đạo vững vàng như ông Pak Chung Hee. Tổng thống Thiệu và các tướng lãnh của ông đều xuất thân từ lò đào tạo quân sự của người Pháp mục đích để phục vụ nỗ lực Pháp trở lại Việt Nam chứ không phải để tranh đấu cho nền độc lập của đất nước.

Trong khi đó khối DTXH gồm 3 nhóm đồng sàng dị mộng. Nhóm thân Phật giáo chống Thiệu, nhóm Quốc Dân Đảng lo xây dựng lực lượng và thanh thế cho đảng, nhóm thân tướng Dương Văn Minh có chương trình ủng hộ ông Minh trở lại nắm quyền. Nhờ uy tín của Tuyên Khối DTXH mới không tan rã. Ngoài ra Tuyên còn liên minh với một thành phần Công giáo do linh mục Trần Hữu Thanh cầm đầu để chống tham nhũng và đòi nới lỏng chế độ kiểm duyệt báo chí.

Tuyên biết tình thế rất khó khăn. Ông trăn trở tìm gỉải pháp. Ông nghĩ  đến quan hệ quốc tế; ông nghĩ đến việc ủng hộ tướng Minh thay Thiệu … Thế địa lý chính trị vào thời gian đó cho thấy miền Nam có thể sống còn vì Trung quốc không muốn một Việt Nam thống nhất. Cái lo của Trung quốc là sự hiện diện của quân đội Mỹ ở biên giới phía nam thì sau hiệp định Paris Mỹ đã rút hết.

Nhưng con đường ủng hộ tướng Minh để chấm dứt chiến tranh trong hòa bình là một con đường ảo tưởng. Sau khi ký hiệp định Paris, Hoa Kỳ chỉ muốn yên ổn rút quân không bị quân đội VNCH ngăn cản. Và giải pháp Dương Văn Minh hình như là một “âm mưu” bất thành văn giữa Hà Nội và Hoa Kỳ do tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Sài gòn đạo diễn .

Đường lối ủng hộ tướng Minh giải thích tại sao vào tháng 2 năm 1975 có một điện

tín từ khối DTXH đánh đi từ Sài gòn gởi cho quốc hội Mỹ yêu cầu đừng chấp thuận $300 triệu mỹ kim viện trợ cho VNCH. Sự thật là đầu năm 1975, tổng thống Ford yêu cầu quốc hội giải tỏa ngân khoản đó, nhưng quốc hội Hoa Kỳ không muốn viện trợ nữa và câu giờ bằng cách cử một phái đoàn dân biểu đi Sài gòn để xem xét tình hình. Nhóm này gồm bà dân biểu Bella Abzug và Paul McClosky, hai dân biểu chống chiến tranh mạnh mẽ nhất tại quốc hội. Đến Saigòn, bà Abzug tiếp xúc với Hồ Ngọc Nhuận, – một dân biểu có cảm tình với Mặt Trận Giải Phóng miền Nam và là người tích cực ủng hộ giải pháp Dương Văn Minh thay Thiệu – và nói với Nhuận rằng trong mọi trường hợp quốc hội Hoa Kỳ cũng sẽ không giải tỏa ngân khoản này. Nhuận xem đây là cơ hội tốt ép Thiệu hợp tác với Minh để tìm một giải pháp chung, nên sau khi thảo luận với một số dân biểu thân tướng Minh họp tại tư thất tướng Minh, Nhuận thảo một điện văn và thuyết phục một số dân biểu khối DTXH ký vào gởi cho quốc hội Hoa Kỳ. Nhìn lại nếu Hoa Kỳ viện trợ thêm 300 triệu mỹ kim vũ khí vào lúc muộn màng đó cũng không cứu được miền Nam nếu không muốn nói chỉ làm cho cuộc chiến kéo dài thêm vài tuần lễ hay vài tháng và thêm tổn thất nhân mạng cho cả hai bên.

Hà nội mở mặt trận đánh qua biên giới phía bắc năm 1972 chiếm tỉnh Quảng Trị và uy hiếp thành phố Huế, đồng thời đánh vào cao nguyên miền Trung và tạo áp lực vào thủ đô bằng mặt trận Bình Dương phía bắc Sài gòn. Quân đội VNCH chận được cuộc tiến quân của Bắc Việt  trên cả ba mặt trận, và tổng thống Thiệu đã nhân tình hình căng thẳng ép Quốc hội thông qua Luật Ủy quyền cho phép Tổng thống cai trị bằng sắc luật trong một thời gian giới hạn. Với Luật Ủy quyền, tổng thống Thiệu được tự do hành động không còn lo ngại tiếng nói của đối lập.

Năm 1974 Thiệu tu chính Hiến pháp để ông có thể ra ứng cử nhiệm kỳ thứ 3 (1975-79). Lập luận của Thiệu là tình hình đang khẩn trương, “không ai thay ngựa giữa dòng”. Cộng quân chiếm đất gìành dân khắp nơi, trong khi Hoa Kỳ tiếp tục cắt giảm viện trợ, ngay cả căn bản “một đổi một” theo hiệp định Paris cũng  không được tôn trọng. Khối DTXH chống Luật Ủy quyền và tu chính Hiến Pháp. Nhưng tin Trung quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của VNCH ngày 19/1 đã làm cho mọi tiếng nói chống đối trở nên mờ nhạt.

Câu chuyện Trung quốc chiếm Hoàng Sa năm 1974 vào thời điểm đó rất lờ mờ (3). Quần đảo Hoàng Sa nằm ngoài khơi khoảng 380 km cách Đà Nẵng và được một đơn vị địa phương quân VNCH trấn giữ. Tổng thống Thiệu không thông báo gì cho quốc hội biết tình hình căng thẳng ngoài hải đảo. Quốc hội biết khi tin tức quốc tế loan tải Trung quốc đã chiếm Hoàng Sa sau một trận hải chiến với Hải quân VNVH . Tổng thống Thiệu là người đích thân ra lệnh nổ súng bảo vệ Hoàng Sa mà không thông báo cho tòa đại sứ Hoa Kỳ biết như một thông lệ khi ông có những quyết định quan trọng.

Biến cố Hoàng sa diễn ra trong khi hạm đội 7 của Hoa Kỳ có mặt quanh đó, nhưng không can thiệp, ngay cả khi bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam yêu cầu cứu thủy thủ chiến hạm HQ 10 bị đánh chìm đang trôi dạt trên biển, Hoa Kỳ cũng làm ngơ. Hoa Kỳ có thể biết kế hoạch đánh chiếm Hoàng Sa của Trung quốc và đắc ý với kế hoạch này. Hoa Kỳ biết Hà nội sẽ chiếm miền Nam, nên nếu Hoàng Sa nằm trong tay Trung quốc còn hơn nằm trong tay Hà Nội, vì Nga – một đồng minh của miền Bắc- có thể xử dụng để từ Biển Đông dòm ngó eo biển Malacca dẫn vào Thái Bình Dương. Có nhiều chỉ dẫn cho thấy hình như có một thỏa thuận ngầm giữa Hoa Kỳ và Trung quốc để Trung quốc chiếm Hoàng Sa trước khi Sài gòn sụp đổ (4).

Ngày 27/4/1975 đối lập rơi vào một trường hợp khó xử khi lưỡng viện quốc hội thảo luận một văn bản cho phép  tổng thống Trần Văn Hương (vừa được Thiệu từ chức trao quyền)  giao quyền tổng thống cho tướng Dương Văn Minh. Bản văn trên nguyên tắc vi phạm Hiến pháp vì không có điều khoản nào cho phép một sự trao quyền như vậy, nhưng quốc hội không có sự chọn lựa nào khác. Năm Sư đoàn quân cộng sản với xe tăng và trọng pháo đang vây hãm Sài gòn và cho biết họ chỉ nói chuyện với tướng Minh về gỉải pháp thành lập chính phủ liên hiệp để chấm dứt chiến tranh. Trước giờ biểu quyết, dân biểu Trần Cao Đễ nói với Tuyên rằng quốc hội đang vi phạm Hiến pháp. Tuyên trả lời: “Chúng ta hy sinh Hiến pháp để cứu nước”. Nhìn lại, quyết nghị nhường quyền chỉ là một sự “câu giờ” do đại sứ Pháp Mérillon và đại sứ Hoa Kỳ Martin đạo diễn để tòa đại sứ Hoa Kỳ có thì giờ rút đi an toàn.

Trong nhiệm kỳ 1967-71 tại quốc hội xem như không có đối lập, ngoại trừ hai dân biểu Trần Ngọc Châu và Phan Thiệp trong nhóm Xã Hội. Châu là một dân biểu độc lập đại diện tỉnh Kiến Hòa, nơi ông hai lần làm tỉnh trưởng, lần đầu dưới thời tổng thống Ngô Đình Diệm, lần thứ hai sau khi Diệm bị lật đổ. Châu bất đồng ý kiến với cố vấn Hoa Kỳ về  cách thức điều hành chương trình “bình định nông thôn” và ra ứng cử dân biểu để có tiếng nói đối với các vấn đề quốc gia. Châu không minh thị chống Thiệu và chống Kỳ và được ông chủ tịch quốc hội Nguyễn Bá Lương, người của Kỳ, ủng hộ vào chức vụ Tổng Thư Ký quốc hội.

Châu là bạn quân ngũ với Thiệu, nhưng làm việc chặt chẽ với tòa đại sứ Hoa Kỳ, nên Thiệu nghi Châu tạo thanh thế riêng để chống mình. Sai lầm lớn của Châu là tiếp xúc với ông anh ruột Trần Ngọc Hiền, một điệp viên cao cấp của Hà nội mà không báo cáo cho Thiệu biết. Châu chỉ báo cáo cho tòa đại sứ Hoa Kỳ để che lưng. Khi Hiền bị bắt sự việc vỡ lở, Hoa Kỳ không xác nhận Châu có cho tòa đại sứ biết và Thiệu có cớ bắt Châu đưa ra tòa án quân sự xử 20 năm tù. Lúc đó Thiệu đã quét hết tay chân của Kỳ trong quân đội và trong bộ máy hành chánh. Sau khi bỏ tù Châu, ông Thiệu có thế nắm luôn quốc hội.

Cuộc bầu cử dân biểu nhiệm kỳ hai, 1971-75, tổ chức tương đối dân chủ. Ngoài việc nắm hết phiếu của miền cao nguyên và đồng bằng sông Cửu Long, Thiệu để cho các ứng cử viên các tỉnh miền Trung và vùng Sàigòn – Gia Định tự do tranh cử. Phật giáo và VNQDĐ thắng lớn tại các tỉnh miền Trung; nhóm Liên trường ủng hộ tướng Minh và một số thân Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thắng tại vùng thủ đô. Sau bầu cử nhóm các dân biểu này trở thành nòng cốt đối lập.

Nhiệm kỳ 2, tại quốc hội có hai khối Dân Chủ và Cộng Hòa thân chính, có khối DTXH đối lập, có nhóm Quốc gia trung lập.  Đối lập tự do phát biểu ý kiến trước diễn đàn Quốc hội, nhưng đối lập không có phiếu đa số để thông qua một bộ luật nào. Phiếu đa số nằm trong tay các dân biểu thân chính và được dùng để thông qua các bộ luật ông Thiệu cần. Ông Thiệu không chịu làm việc với đối lập. Ông cho đối lập là vô tích sự bị thao túng bởi các nhóm chống chiến tranh và thân cộng. Ông không hy vọng gì vào sự lãnh đạo của Tuyên.

Tiếng nói của đối lập do đó không có ảnh hưởng gì. Trong khi đó Hoa Kỳ có ảnh hưởng đến toàn bộ sinh hoạt của miền Nam từ xã hội, kinh tế đến quân sự. Nhưng tòa đại sứ Hoa Kỳ cũng xem đối lập như một món hàng trang trí, một thứ bình phong bênh vực Thiệu trước sự tố cáo của báo chí là Hoa Kỳ dung dưỡng ông Thiệu độc tài. Thời Đệ nhị Cộng Hòa là thời gian Hoa Kỳ quá bận tâm vào việc chấm dứt chiến tranh.

Tòa đại sứ Hoa Kỳ quan hệ với đối lập qua việc tiếp xúc với Tuyên. Ông có tên trong danh sách khách mời tham dự các sinh hoạt có tính chính trị và quan hệ xã hội (PR) của tòa đại sứ và cũng là khách của các viên chức quan trọng tại tòa đại sứ Hoa Kỳ. Tuy nhiên trong các buổi họp hằng tuần của Khối, ông ít khi nói đến các cuộc tiếp xúc này. Có lẽ vì chẳng có gì để nói.

Yếu tố chính của sinh hoạt dân chủ què quặt vì người Việt chưa có truyền thống sinh hoạt dân chủ. Cho đến thời điểm đó Việt Nam chưa từng có kinh nghiệm dân chủ.  Không kể thời phong kiến, thời gian chiến tranh chống Pháp giành độc lập (1946-54), một bên là Cộng sản, một bên là Việt Nam tự do thân Pháp có cựu hoàng Bảo Đại làm quốc trưởng với một ủy viên toàn quyền người Pháp quyết định mọi việc. Dưới Đệ Nhất Cộng Hòa, Việt Nam có một Hiến pháp dân chủ nhưng chỉ để xem chơi không bao giờ được vận dụng. Ông Diệm không dung túng bất cứ ý kiến đối lập nào trên báo chí hay tại quốc hội. Hiến Pháp 1967 dân chủ hơn nhưng do điều kiện chiến tranh chưa bao giờ được áp dụng một cách nghiêm chỉnh.

Nhìn lại tôi có cảm tưởng ông Tuyên có thông tin nhiều phía để đoán biết tương lai vô vọng của miền Nam. Kinh tế èo ọp. Ngân sách cho quân đội gần một triệu người gồm Bộ binh, Không quân, Hải quân gồm trang bị và lương bổng đều được Hoa Kỳ viện trợ. Bàn tay của cơ quan Trung ương Tình báo Hoa Kỳ (CIA) vươn tới tất cả các cơ cấu quốc gia từ quân đội, hành chánh đến quốc hội.Theo tài liệu “The CIA And the Generals” của cơ quan CIA giải mật ngày 19/2/2009, có ít nhất 20 Dân biểu và Thượng nghị sĩ đối lập lẫn thân chính quyền có quan hệ với CIA. Và chương trình của Hoa Kỳ là đạt được một thỏa ước tại Paris, lấy lại tù binh và rút khỏi miền Nam một cách an toàn.

Trong bối cảnh chính trị đó ông Tuyên đã thành công giữ cho đối lập không bể. Ông biết chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến nhiệm chức giữa Hoa Kỳ và liên minh lỏng lẻo Nga- Tàu. Và như một quy luật, chiến tranh nhiệm chức có thể giải quyết giữa các siêu cường và nếu may mắn nhân dân miền Nam có thể tránh được ách cộng sản.

Kinh nghiệm chính trị cho ông biết muốn chống cộng sản cần có dân chủ nên suốt cuộc đời ông là đấu tranh xây dựng dân chủ. Đó là lý do ông đứng về phía đối lập, chống Diệm, chống Thiệu và sau cùng nghi ngờ chính sách của Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Ông Tuyên thỉnh thoảng nói đến một “Liên Minh Quốc tế vì Dân chủ”. Ông cho biết lúc làm Phó thủ tướng cho thủ tướng Quát khi du hành qua Phi châu ông đã nêu ý kiến “liên minh” với các nhà lãnh đạo Phi châu như  Đại Tá Houari Boumedienne của Algeria, tổng thống Habib Bourguiba của Tunisia,  tổng thống Gamal Abdel Nasser của Ai Câp. Các vị ấy tỏ ý tán thành và hứa sẽ cùng làm việc với chính phủ Quát để thiết lập một liên minh như vậy. Rất tiếc chính phủ Quát không tồn tại lâu và Tuyên trở về hành nghề luật sư .

Cho đến phút chót ông Tuyên vẫn giữ tư cách một người yêu nước, một nhà chính trị và một người lãnh đạo. Ông không bỏ đất nước ra đi khi cộng sản vào Sài gòn. Một ngày trước đó, ông từ chối đề nghị của Joe Bennett, tham vấn chính trị tòa đại sứ Hoa Kỳ cung cấp phương tiện đưa ông rời khỏi nước.  Con trai của ông Tuyên là Trần Tử Huyền (California, Hoa Kỳ) cho biết sau khi cộng sản chiếm Sài gòn tướng Võ Nguyên Giáp gởi một sĩ quan cấp tá đến thăm và hứa sẽ vận động với Ủy ban Quân quản Sàigòn – Gia Định không buộc ông ra trình diện học tập. Tuy vậy, ông vẫn ra trình diện để – theo lời ông – chia sẻ số phận với đồng bạn và đồng chí của ông.

Ủy ban Quân quản đưa ông Tuyên đến trại tập trung Long Thành, không xa Sài gòn cùng với khoảng 3.000 viên chức cao cấp của chính phủ VNCH. Sau 9 bài gỉảng căn bản, cộng sản phát giấy mực yêu cầu mọi người viết bản tự thú nói “tội lỗi” của mình đối với nhân dân.

Ông Tuyên viết trong bản tự thú : “Tôi không phạm tội gì đối với nhân dân. Các ông có thể liệt tôi vào thành phần chống chủ nghĩa cộng sản, chống đế quốc và chống độc tài”. Mùa Thu năm 1976, cộng sản chuyển ông ra một trại tù tại tỉnh Hà Tây. Ngày 27 tháng 10 ông chết trong một hoàn cảnh rất đáng nghi ngờ. Có lẽ cộng sản đã quyết định số phận của ông sau lời khai ở Long Thành.  Nằm xuống luật sư Trần Văn Tuyên đã hiến cả cuộc đời cho đất nước.

Đêm 29 tháng 4 năm 1975 là một đêm dài chấm dứt sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Đông nam Á. Một thất bại thê thảm! Nếu quyết định của Hoa Kỳ can thiệp giúp miền Nam ngăn chận cuộc xâm lăng của cộng sản và xây dựng một nước dân chủ là đúng về mặt chiến lược, thì Hoa Kỳ đã thất bại vì lãnh đạo chiến tranh yếu kém về cả hai mặt quân sự và chính trị.

Ông bộ trưởng quốc phòng McNamara lãnh đạo cuộc chiến tranh chống du kích bằng điện toán và “đếm xác chết” là hỏng. Hoa Kỳ không có một chiến lược chiến tranh vì không biết Trung quốc sẽ phản ứng thế nào. Hoa Kỳ không muốn chạm trán với Trung quốc trong một cuộc chiến trên đất liền như tại Triều Tiên một lần nữa.

Sau khi Hoa Kỳ giúp các tướng lật đổ ông Ngô Đình Diệm và đổ quân vào Việt Nam, Hoa Kỳ tin rằng sức mạnh quân sự của mình sẽ làm cho Bắc Việt nản chí và Nam Việt Nam sẽ có hòa bình để xây dựng. Rất tiếc lãnh đạo Hoa Kỳ đã bó tay các ông tướng không cho trải quân đóng kín biên giới phía Bắc dọc theo vĩ tuyến 17 từ bờ biển tỉnh Quảng Trị qua Lào đến tận sông Cửu Long để cắt đường của Hà Nội đưa quân và tiếp liệu vào miền Nam. Trong cuộc gặp tổng thổng Johnson tại Guam ngày 20/3/1967, Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ đã đưa ra đề nghị này (Vietnam War: Day by Day của John S. Bowman, trang102) nhưng Hoa Kỳ không dám phiêu lưu. Nhìn lại nếu đã chận đường tiếp vận của Bắc việt một cách rốt ráo Nam Việt Nam có thể đã sống còn. Trung lập hóa Lào dưới mắt chính quyền Kennedy tưởng là đắc sách đã đưa đến thất bại.

Một lý do khác không kém phần quan trọng đưa đến thất bại là vì thiếu kinh nghiệm dân chủ, không có Xã hội Dân sự và không có người lãnh đạo có tài. Sách lược chống cộng sản của đối lập đặt tiền đề vào chính sách thay Thiệu là một sai lầm, chỉ làm cho Thiệu yếu đi trong khi chẳng làm cho các thành phần chống Cộng đoàn kết với nhau. Mặt khác cộng sản đã rất thành công trong chính sách xâm nhập vào các cơ cấu của miền Nam: Vũ Ngọc  Nhạ, Huỳnh Văn Trọng vào Phủ tổng thống, Phạm Ngọc Ẩn trong giới truyền thông, Phạm Ngọc Thảo trong quân đội, và Lý Quý Chung, Nguyễn Văn Hàm … trong quốc hội .

Kết thúc chiến tranh

Khi cộng sản đánh Ban Mê Thuột mở màn cuộc tấn công 1975 tôi đang ở Nha Trang. Tôi linh tính đây có thể là cú đấm cuối cùng.

Năm ngày trước khi cộng sản chiếm Nha Trang, tôi vào Sàigòn tham khảo ý kiến về tình hình với tướng Minh. Ông ta rất lạc quan, mặc dù lúc đó cộng sản đã chiếm Vùng I Chiến thuật gồm Huế và Đà nẵng và một bộ phận của Sư đoàn 10 Bắc việt do tướng Vũ Lăng chỉ huy đang đe dọa đèo Phượng Hoàng trên quốc lộ 21, do một lữ đoàn Dù từ Đà Nẵng rút về bảo vệ. Quốc lộ 21 là con đường chính từ Ban Mê Thuột về Nha Trang qua thị trấn Ninh Hòa.

Vào cuối tháng Ba, quân đội cộng sản áp đảo quân Dù, chiếm đèo Phượng Hoàng tiến về Ninh hòa, từ đó theo cải lộ tuyến do quân đội Nam Hàn xây cất tiến về Nam qua ngã Cam Ranh, không vào thành phố Nha Trang. Chính quyền Nha Trang tan rã và một đơn vị quân đội Bắc Việt đã được gởi đến để ổn định tình hình.

Đế tránh tình hình rối loạn ở Nha Trang, gia đình tôi chuẩn bị di tản vào Sàigòn. Nhưng cuối cùng tôi quyết định ở lại. Những ngày cuối dân chúng Nha Trang không ngớt đến văn phòng tôi hỏi về tình hình với sự lo âu và phi trường dân sự Nha Trang không còn an toàn nữa.

Ngày 1 tháng 4 là một ngày hỗn loạn tại Nha Trang. Chính quyền đã bỏ chạy, thành phố bỏ ngỏ. Nhà tù dân sự và quân lao không còn ai canh gác. Tù nhân tràn ngập đường phố. Để tránh điều rủi ro trong hỗn loạn tôi và hai dân biểu Nguyễn Công Hoan và Trần Văn Thung thuê thuyền ra tránh nạn tại đảo Vĩnh Nguyên, không xa ngoài bờ biển Nha Trang

Thung là dân biểu tỉnh Khánh Hòa. Nguyễn Công Hoan là dân biểu tỉnh Phú Yên. Cả hai đều cùng tôi ở trong khối Dân Tộc Xã hội. Hai ngày sau tôi trở về Nha Trang và nằm im trong nhà chờ đợi, mặc cho rủi may của số phận.  Cộng quân đã kiểm soát Nha Trang và thành phố im lặng một cách đáng sợ. Các đơn vị cộng sản đặt súng phòng không nhiều nơi trong thành phố. Có tin Không quân VNCH từ căn cứ Không quân Phan Rang bay ra tấn công đánh sập các cây cầu trên quốc lộ 1 dẫn vào Nam. Thành phố đầy rác rưởi, và tòa lãnh sự Hoa Kỳ bị phá tung.

Qua đài BBC chương trình Việt ngữ tôi theo dõi cuộc tiến quân của cộng sản. Ngày 20/4 các sư đoàn của tướng Văn Tiến Dũng uy hiếp tuyến phòng thủ Sài gòn tại Long Khánh do Sư đoàn 23 của Chuẩn tướng Lê Minh Đảo trấn giữ. Trong khi đó đại sứ Martin ngày đêm làm việc với bộ trưởng ngoại giao Kissinger để tìm một giải pháp chính trị. Về phần tướng Dương Văn Minh, ông và các phụ tá cũng đang vận dụng ảnh hưởng tìm kiếm một giải pháp chấm dứt chiến tranh. Nhìn lại có lẽ các nỗ lực của đại sứ Martin chỉ nhằm đáng lạc hướng, câu giờ, tránh hỗn loạn để có thể rút toàn bộ nhân sự  còn lại tại tòa đại sứ Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam một cách an toàn.

Khi tiếng súng im trên toàn quốc, tôi theo lệnh của chính quyền cộng sản đăng ký tên họ chức vụ tại đồn công an Phường và được lệnh về nhà đợi lệnh. Giữa tháng Năm, khoảng nửa đêm, đại úy công an Nguyễn Văn Linh (TBN: trùng tên với TBT Nguyễn Văn Linh), trưởng ty công an thị xã Nha Trang cùng với hai công an vũ trang và vài du kích địa phương đến nhà vây bắt tôi ở địa chỉ số 2 đường Trần Văn Ơn. Ông Linh mang tôi về Ty Công an lúc đó đóng tại nhà cũ của ông Tuấn, giám đốc chi nhánh Nha Trang của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam nằm trên đường Duy Tân (nay là đường Trần Phú). Sau đó công an đưa tôi về giam tại trung tâm thẩm vấn cũng nằm trên đường Duy Tân. Mấy tuẫn lễ sau tôi được chuyển lên trại Lam Sơn, thuộc quận Ninh Hòa, tại đó đang có lớp “học tập” cho hàng ngàn viên chức chính phủ và sĩ quan quân lực VNCH. Lam Sơn nguyên là một Trung tâm huấn luyện lính. “Học viên” được sắp xếp ở trong những căn nhà trống, mỗi nhà một số. Tôi đến trễ, hầu như đã hết nhà trống, họ nhét tôi vào nhà số10 gồm sĩ quan và binh sĩ Dù bị bắt tại đèo Phượng Hoàng.

Trại Lam sơn do quân đội Bắc việt quản lý. Qua 9 bài căn bản họ giảng giải chiến lược chiến tranh qua từng gia đoạn từ khởi đầu chống Pháp cho đến chiến thắng cuối cùng và “chính sách khoan hồng” của chính phủ cộng sản.

Sau hai tháng ở trại Lam Sơn tôi được chuyển về nhà lao dân sự Nha Trang giam chung với thường phạm. Mục đích của cộng sản là đồng hóa chúng tôi với tội phạm xã hội. Sau đó họ đưa tôi lên giam tại trại Đồng Găng nằm sâu trong vùng rừng núi tỉnh Khánh Hòa. Đồng Găng là chiến khu cộng sản dùng để ẩn náu và tung các cuộc tấn công trong tỉnh. Khi tôi đến tại đó có khoảng 400 tù nhân sống chật chội trong những nhà trống, và tù nhân đang bận rộn đốn tre, đan tranh để làm thêm nhà ở. Giám trại là Thiếu tá Yết, một sĩ quan công an Bắc việt và một sĩ quan thuộc Mặt Trận Giải phóng phụ tá.

Ở đây tù nhân được gọi là phạm nhân chứ không dùng từ cải tạo nữa, cứ 2 người chia nhau một chiếc giường tre chỉ vừa đủ đặt lưng. Ban đêm sương xuống nhanh và mang theo cái lạnh của núi rừng. Mỗi trại được đốt một bếp củi với những khúc cây lớn để sưởi ấm và rọi sáng để lính canh giờ nào cũng có thể thấy chúng tôi. Bữa ăn hằng ngày chỉ có cơm và một chút thức ăn thường là rau trong nước loãng có tí muối .

Ở trại Đồng Găng tôi nhớ một người tù, Ngô Viết Xiêm, đại úy cảnh sát em ruột của kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Viết Thụ. Ông Thụ là kiến trúc sư vẽ họa đồ xây cất trường võ bị Đà Lạt. Xiêm giỏi về máy móc và làm trưởng xưởng sửa xe của trại.  Đại úy Xiêm được lính canh tù nể vì ông là người bảo trì sửa chữa xe gắn máy cho họ chạy tốt. Ngoài việc đánh đấm lính cộng sản hoàn toàn mù tịt về máy móc. Một hôm Thiếu Tá Yết chỉ định tôi làm Phó trưởng toán kỹ thuật (trưởng toán là một người tù đến trại trước tôi) xem chọn các sĩ quan tù nhân có tay nghề lập các ban chế tạo dụng cụ hữu ích cho trại. Tôi lập xưởng rèn, xưởng may, xưởng thiết, xưởng gò và một lò than sản xuất than đá do sáng kiến của một đại úy công binh. Các sĩ quân quân đội VNCH chứng tỏ rất có khả năng, làm gì cũng được. Chúng tôi thiết lập được một nhà máy điện nhỏ chạy bằng động cơ nổ có thể thắp sáng chừng 50 bóng đèn 100 watts. Phòng làm việc của Thiếu Tá Yết được trang bị một đèn neon và một hệ thống âm thanh để mỗi buổi chiều ông có thể nói chuyện với tù nhân. Thiếu tá Yết rất hài lòng với các phương tiện mới giữa rừng Đồng Găng.

Ngày 2 tháng 9 năm 1975, trại Đồng Găng chuẩn bị mừng lễ Độc lập đánh dấu ngày 2/9/1945. Ông Yết ra lệnh chúng tôi làm sân khấu và biểu diễn văn nghệ. Ông dự tính mời các giới chức cao cấp quân, dân, chính từ Nha Trang đến để chứng kiến ánh sáng đèn điện giữa rừng Đồng Găng. Một trục trặc nhỏ. Trước giờ buổi lễ bắt đầu, cái máy nổ chạy bằng xăng kéo máy phát điện làm reo không chịu nổ. Ông Yết thường ngày ăn nói nhẹ nhàng, gọi tôi đến văn phòng và nghiêm khắc bảo tôi “anh làm sao tôi không cần biết, nhưng đến giờ làm lễ mà không có điện thì tôi cùm anh”. Cùm là một hình phạt dành cho những tù nhân khó trị. Tôi đã có dịp chứng kiến người bị cùm. Khi bị cùm, trong vài ngày cái cùm sắt cắt thịt cườm chân vào tận xương. Và thế cùm không cho người bị cùm cử động dễ dàng nên cơ thể dần dần tê cứng. Khi được tháo cùm, người tù phải ngồi tại chỗ tập cử động hằng giờ may ra mới bước đi được. Tôi biết ông Yết không dọa tôi. Ông nghi tôi muốn phá sự thành công của buổi lễ. Tôi không có ý phá, nhưng tôi không khỏi nghi ngờ ông thượng sĩ an ninh, một chuyên viên điện khí của Không quân, người giúp tôi đắc lực nhất trong việc thiết đặt nhà máy điện. Thỉnh thoảng ông vẫn thắc mắc riêng với tôi, tại sao mình phải tự nguyện làm việc này. Tôi không nói với ông ta được gì nhiều chỉ nhắc ông ta câu chuyên viên đại tá người Anh trong cuốn phim “Cầu sông Kwai”. Người sĩ quan Anh đâu muốn phục vụ cho quân Nhật mà chỉ muốn cho quân Nhật biết người Anh không tầm thường, và bày việc đế qua thì giờ buồn tủi của người thất trận. Phút chót, hú hồn máy chạy và buổi lễ thành công dưới ánh đèn điện và âm thanh giữa rừng thẳm.

Nhờ sự vận động của Hồ Ngọc Nhuận, lúc này là thành phần của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, ông Cao Đăng Chiếm, một viên chức cao cấp của Mặt Trận Giải phóng miền Nam ký giấy phóng thích tôi và yêu cầu công an Nha Trang gởi tôi vào Sàigòn theo học một lớp dành cho trí thức “tiến bộ” của miền Nam. Tuy đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền lực trong tay, Hà nội vẫn giữ một bề ngoài miền Nam do Mặt Trận Giải Phóng chiến thắng và quản lý.

Ra khỏi trại cuối tháng 9 tôi vào Sài gòn. Khóa học được tổ chức tại Trung tâm Việt Mỹ cũ trên đường Mạc Đỉnh Chi. Có hơn 100 học viên, tôi nhớ vài tên tuổi quen thuộc như  Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba, cựu tổng trưởng bộ Xã Hội Trần Ngọc Liễng, đặc biệt là dân biểu Đinh Văn Đệ (có lẽ được giao phó công tác theo dõi chúng tôi tại lớp học). Giảng viên gồm các thành phần cộng sản gốc miền Nam có chức vụ trong Mặt Trận hay Chính phủ Lâm thời  Cộng hoà miền Nam Việt Nam như ông Nguyễn Hộ. Có một lần ông Phạm Hùng, ủy viên Bộ chính trị đến thăm lớp học. Ban giám đốc không nói ai chỉ cho biết có cán bộ cao cấp đến thăm. Sau này tình cờ thấy hình đâu đó tôi mới biết cán bộ cao cấp hôm nào là ông Phạm Hùng, ủy viên Bộ chính trị.  Ông ta nói nhiều điều về tầm chiến thắng của đảng Cộng sản, nhưng tôi chỉ còn nhớ một điều, “các anh có thắc mắc điều gì đừng ngại cứ mạnh dạn hỏi. Thuyết Mác Xít – Lê ni nít là chìa khóa của mọi sự việc nên cán bộ được trang bị bởi thuyết Mác-lê sẽ giải thích thỏa đáng cho các anh”. Lẽ dĩ nhiên chúng tôi không ai hỏi gì. Chúng tôi biết thắc mắc nhiều sẽ được hiểu là chất vấn kẻ chiến thắng và chỉ mang họa vào thân.

Sau một tháng học tập tôi được cấp giấy trở về Nha Trang với gia đình. Tôi tìm cách hội nhập vào xã hội mới. Tôi xin đi dạy học hay một công việc chuyên môn tại Ty Xây Dựng thành phố. Tôi là một kỹ sư cơ khí của Hải quân, và từng dạy học với tư cách tư nhân tại trường Trung học Võ Tánh Nha Trang và phụ trách vài môn lý thuyết tại trường Khoa Học Đại Học Huế. Nơi nào cũng chỉ hứa suông.

Rời Việt Nam

Năm 1976, sau nhiều nỗ lực tham gia Liên hiệp quốc như hai nước Việt Nam riêng biệt (để có hai phiếu tại Liên hiệp quốc) bất thành, Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định thống nhất đất nước. Ngày 25/4/1976 Hà nội tổ chức bầu cử quốc hội toàn quốc. Lúc này hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa nhập một thành tỉnh Phú-Khánh. Chính quyền Phú- Khánh yêu cầu cựu dân biểu Nguyễn Công Hoan đại diện cho Phú-Khánh ra tranh cử (gọi là tranh cử nhưng với hệ thống bầu cử của cộng sản ai được đảng chọn đương nhiên đắc cử). Sau ngày cộng sản chiếm miền Nam, Hoan thấy nhân dân Phú Yên chán chế độ mới nên Hoan không muốn nhận lời mời. Tôi nói với Hoan lời mời của chính quyền Phú Khánh là một cái lệnh, từ chối sẽ được xem là một thái độ chống chế độ và chắc sẽ không yên thân. Suy nghĩ lại Hoan nhận lời và trở thành dân biểu của nước Việt Nam thống nhất .

Quốc hội mới họp ngày 2/7/1976 thông qua Nghị quyết đổi tên nước là “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”. Sau khoá họp thứ nhất Hoan cho tôi biết dường như đảng cộng sản có dự tính thành lập một vùng Đông Á do Hà nội lãnh đạo như mẫu Đại Đông Á của Nhật Bản

trong đại chiến 2. Tại quốc hội Đảng phát cho mỗi đại biểu một bản đồ Đông Á bao gồm nhiều nước không có ranh giới giữa nhau. Nhưng hai ngày sau Đảng cho thu lại mà không giải thích. Hoan ghi nhận các đại biểu gốc Mặt Trận Giải Phóng có vẻ không vui, và bà Nguyễn Thị Bình Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, người từng tham dự cuộc hội đàm Paris có chiều tư lự.

Tháng 9 năm 1976, nhân có vụ Trung úy Viktor Belenko của Liên bang Xô viết lái chiếc máy bay Mig-25 qua Nhật tị nạn tạo thành tin sốt dẻo trên thế giới, tôi bàn với Hoan tổ chức trốn ra nước ngoài. Hoan với tư cách là đại biểu của Quốc hội một nước cộng sản sẽ tạo sự chú ý của dư luận thế giới về sự bất mãn của nhân dân Việt Nam đối với chế độ mới.

Hoan lo việc thuyền bè, tôi lo tính đường đi. Ông già vợ của Hoan là một ngư dân khá giả ở Xóm Cồn, một mõm đất nơi cảng đánh cá Nha Trang doi ra biển, và với tư cách dân biểu sự lui tới của Hoan sẽ không bị nghi ngờ. Tôi nghiên cứu đường đi bằng cách dùng bản đồ Biển Đông trong bộ Bách khoa Từ điển  Americana. Tôi dự phóng hai đường đi. Một về hướng Đông bắc đi Manila, Phi luật Tân; một về hướng Tây nam trực chỉ Singapore. Tôi chọn đường Singapore bởi hai lý do. Thứ nhất là ngắn hơn đường đi Manila. Thứ hai chạy hướng Singapore thuyền

chúng tôi sẽ nằm giữa một thủy đạo quốc tế quan trọng của tàu chở dầu từ Trung đông qua bắc Thái bình Dương cung cấp dầu cho Nhật Bản. Gặp trở ngại chúng tôi có nhiều cơ may được giúp đỡ. Hoan và tôi đồng ý khi đi sẽ gọi Thung, dân biểu Khánh Hòa cùng đi. Tôi hỏi ý Thung và Thung đồng ý sẵn sàng.

Chúng tôi rời Nha Trang đêm 28/3/1977 từ Xóm Cồn trên một thuyền đánh cá nhỏ chở tất cả 34 người, trong đó có chừng 7 phụ nữ và một trẻ em còn bồng trên tay. Ngày đầu biển êm, hôm sau hơi có sóng. Trên đường tàu bè khá nhiều, ban đêm những chấm đèn tàu làm cho chúng tôi không thấy cô đơn giữa trời nước mênh mông. Tôi biết với tốc độ và xăng nhớt mang theo thuyền chúng tôi khó vượt 1.300km để đến Singapore, nên trên đường đi tôi làm mọi cách để các chiếc tàu lớn chú ý và vớt chúng tôi. Nhưng không tàu nào mảy may chú ý đến sự hiện diện của chiếc thuyền mỏng manh của chúng tôi. Qua đài BBC tôi biết rằng, các thuyền trưởng tàu buôn thường gặp phiền phức với chủ tàu khi vớt người vượt biên vì phải thay đổi chương trình di chuyển – chẳng hạn để đổ người tị nạn lên đất liền – nên họ thường làm ngơ dù luật thương thuyền buộc phải cứu nạn nhân trên biển .

Để tạo sự chú ý đôi khi tôi cho thuyền chạy chận đường các tàu buôn. Các tàu này thường tránh rồi tiếp tục đường đi của họ. Nghĩ lại hành động của chúng tôi thật điên rồ.

Qua ngày thứ ba, thuyền chết máy. Mấy người phụ trách máy tàu sửa chữa không được. Gió bắt đầu lên và thuyền chúng tôi sóng đánh lắc dữ dội. Mọi người trên tàu say sóng nằm rẹp hết.Chiều ngày thứ ba, biển động mạnh, bầu trời xám ngắt báo hiệu bão. Thực phẩm chỉ còn gạo sấy để trộn với nước nấu sôi khi ăn. Nước chỉ còn đủ cho mấy người phụ nữ và chú bé 2 tuổi. Tôi không biết chúng tôi đang ở tọa độ nào, chỉ đoán chưa xa bờ biển Nha Trang lắm. Hy vọng đến Singapore trở thành xa vời, chúng tôi bàn nhau – nếu sửa được máy – trở về Nha Trang rồi tính sau. Nhưng vô phương, máy tàu thiếu nhớt bể không phương sửa chữa. Đêm đó chúng tôi dùng bất cứ gì cháy được đốt lửa trên boong thuyền để kêu cứu.

6 giờ chiều hôm sau, 3 tháng Ba, một chiếc tàu chở dầu khổng lồ, nhìn xa như một trái núi mang quốc kỳ Nhật Bản đến sát chúng tôi. Tàu ngừng cách chúng tôi chừng 300 mét sợ đến quá gần sóng tàu lật thuyền chúng tôi. Tôi không biết thuyền trưởng đang tính toán gì, chỉ thấy mấy cặp ống nhòm từ đài chỉ huy đang quan sát chúng tôi. Điều tôi sợ nhất là tàu bỏ đi. Nghĩ vậy tôi lấy một quyết định sinh tử nhảy xuống biển bơi qua tàu.  Tôi muốn nói với họ nếu họ không cứu, chúng tôi gồm một số phụ nữ và trẻ em sẽ bỏ mình trên biển. Chúng tôi không còn nước, không còn thức ăn và máy tàu thì bể.

Bơi đến gần tàu, trước mắt tôi là một thành tàu thẳng đứng, sau này được biết là chiếc Ryuko Maru, một trong những chiếc tàu chở dầu lớn nhất của Nhật. Tàu này có một sân thượng bằng phẳng, chỉ cần thay đổi đôi chút là có thể làm sân bay. Người Nhật sau Thế chiến 2 được Hoa Kỳ bảo vệ, nhưng lúc nào cũng chuẩn bị sẵn sàng để tự vệ. Hàng không dân sự và hàng hải thương thuyền Nhật huấn luyện sĩ quan theo chương trình quân sự để khi cần có thể chuyển thành sĩ quan Không quân và Hải quân..

Thủy thủ đoàn thả một chiếc thang dây cho tôi. Leo đến sàn tàu, vừa lạnh vừa mệt tôi ngã lăn trên sàn tàu. Một thủy thủ mang đến phủ lên tôi một cái chăn ấm và để tôi nằm nghỉ tại chỗ.

Thấy tôi hơi khỏe một sĩ quan trẻ y phục trắng đến hỏi chuyện tôi. Sau này tôi biết ông ta là thuyền phó. Sau khi biết chúng tôi là đoàn người tị nạn không chịu được chế độ cộng sản nên đi tìm tự do và hiện đang rơi vào tình cảnh vô vọng. Thuyền phó nói ông sẽ cho người sửa máy, cung cấp thực phẩm và chỉ hướng cho chúng tôi đến một nơi an toàn. Tôi ngồi trên boong tàu chờ kết quả. Sau này tôi biết các người thợ máy Nhật cho biết máy cháy không sửa được, trên tàu Nhật không có máy thay thế và thuyền trưởng đánh điện về hãng tàu xin ý kiến. Và lệnh cứu chúng tôi được chấp thuận đưa chúng tôi về cảng Yokkaichi gần nhất. Từ nơi vớt chúng tôi đến Yokkaichi mất 6 ngày biển.

Lên tàu thủy thủ đoàn cho chúng tôi ở một căn phòng phía bên phải của thương thuyền và cho chúng tôi chăn mền và bữa cơm tối đầu tiên, có mấy lon bia hiệu Sapporo, một thứ bia bình dân của Nhật. Chúng tôi biết chúng tôi đã sống sót và vượt qua được đoạn đầu của hành trình tị nạn. Nhật Bản là một quốc gia dân chủ, giàu có và nổi tiếng về lòng tốt.

Ngày hôm sau, thuyền phó bắt đầu lập danh sách tị nạn để báo cáo cho Cơ quan Tị nạn Liên hiệp quốc (UNHCR  – United Nations High Commisonner for Refugeees). Thung, Hoan và tôi trao đổi ý kiến có nên để Hoan khai thật là dân biểu của Hà nội không.  Nhật đã thiết lập bang giao với Việt Nam và Nhật có thể trả Hoan về Việt Nam để tránh rắc rối ngoại giao với Hà Nội. Chiếc Ryuko Maru đang chạy ngoài bờ biển Việt Nam, tạt vào Hải phòng để trả Hoan là việc quá đơn giản. Chúng tôi đồng ý tạm dấu lai lịch của Hoan cho đến khi đến Nhật.

Năm ngày sau tàu đến Yokkaichi. Khi viên chức UNHCR và Bộ Di trú lên tàu làm việc, chúng tôi biết đã đến lúc tiết lộ lai lịch của Hoan. Người phiên dịch đi theo cơ quan Di trú là anh Trần Văn Thắng, sinh viên miền Nam học ở Nhật kẹt lại làm việc cho cơ quan Caritas thuộc Giáo hội Thiên chúa La Mã giúp người tị nạn. Khi Thắng nói cho phái đoàn biết lại lịch Hoan họ có vẻ sửng sốt không tin. Nhưng sau khi chụp hình thẻ dân biểu của Hoan điện về Bộ Ngoại giao Nhật ở Tokyo xác nhận đúng, họ không cho báo chí lên tàu tiếp xúc với chúng tôi.

Đêm hôm đó giới chức cảng Yokkaichi  cho chúng tôi rời tàu bằng một lối riêng đến một đoàn xe buýt chờ sẵn đưa chúng tôi về trại tị nạn ở làng Kominato, thuộc tỉnh Chiba cách Tokyo chừng 110 km. Khoảng nửa đêm chúng tôi đến trại. Trại là một trường tiểu học của Giáo hội Phật giáo Rissho Kosei-Kai nằm bên cạnh một ngôi chùa nhỏ được biến cải thành trại tị nạn. Vào thời gian đó có chừng 300 người Việt tị nạn ở Nhật dưới sự bảo trợ  của UNHCR và Caritas, một hội thiện nguyện thuộc Giáo hội Thiên chúa giáo La mã có cơ sở toàn thế giới. Chúng tôi là nhóm tị nạn đầu tiên do Phật giáo Nhật phụ trách.

Nhật Bản không có quy chế nhận người tị nạn định cư trong nước, chỉ giúp UNHCR nhận tạm chúng tôi chờ làm thủ tục định cư tại một nước khác. Vị trụ trì của chùa có nhiệm vụ giúp đỡ chúng tôi chỗ ăn chỗ ngủ.

Tin có một dân biểu của một nước cộng sản có mặt trong số người tị nạn mới tới không được tiết lộ cho báo chí. Nhưng anh em thông dịch viên thuộc Tổ chức Người Việt Tự do (TC/NVTD) đã tiết lộ cho báo chí biết. Tôi thấy có nhiều phóng viên từ Tokyo đến săn tin. Hai sinh viên thay nhau làm thông dịch viên cho chúng tôi là Trần Văn Thắng và Huỳnh Lương Thiện. Sau này cả hai đều sang định cư ở Hoa Kỳ. Thắng là giám đốc một công ty du lịch, và Thiện hiện là chủ nhiệm báo Mõ ở San Francisco.

Do một sự tình cờ tôi tiếp xúc được với báo chí quốc tế. Một hôm tôi đang đứng gần chiếc điện thoại trong trại và nghe reo. Tôi nhấc lên và đầu giây là một nhà báo của hãng tin CBS. Qua một trao đổi ngắn tôi xác nhận tôi là một trong những người tị nạn vừa mới đến và trong nhóm có ông Nguyễn Công Hoan, dân biểu của Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Ngay sau khi đến trại, ông Misei, đại điện của Cao ủy Tị nạn Liên hiệp quốc tại Nhật đến trại làm thủ tục định cư chúng tôi.  Ông Misei là một công dân Nhật. Phần chúng tôi, chúng tôi dự tính, nhân ngày 30 tháng Tư  sắp tới, đánh dấu hai năm ngày cộng sản chiếm miền Nam, tổ chức một cuộc họp báo để nói cho thế giới biết tình trạng nhân quyền thê thảm tại Việt Nam dưới chế độ cộng sản .

TC/NVTD giúp chúng tôi thuê chỗ họp báo tại một khách sạn địa phương và thông báo cho báo chí quốc tế biết. Hoan, Thung và tôi lo viết bản thông cáo báo chí. Hoan chủ tọa buổi họp báo và trả lời các câu hỏi, tôi phiên dịch .

Cân nhắc ảnh hưởng của cuộc họp báo đối với quan hệ Nhật- Việt, chính phủ Nhật quyết định ngăn cản cuộc họp báo và nhờ ông Misei lo việc này. Một tuần lễ trước ngày họp báo ông Misei gặp tôi tại văn phòng chùa Kominato. Ông nói rằng cuộc họp báo sẽ  làm chính phủ Nhật lúng tung đối với Việt Nam và chúng tôi có thể bị gởi về Việt Nam, đó là chưa nói gia đình chúng tôi ở Việt Nam sẽ bị trả thù. Tôi nói khi ra đi một mình chúng tôi chấp nhận mọi tình huống, chính phủ Nhật đối đãi thế nào thì chúng tôi chịu vậy. Tôi biết chính phủ Nhật không thể trả chúng tôi về mà không bị dư luận quốc tế lên án.

Ông Misei xoay qua chuyện người tị nạn và nói rằng cuộc họp báo sẽ làm cho chính phủ Nhật từ nay về sau không nhận người tị nạn nữa, như vậy là thiệt thòi cho đồng bào các anh. Tôi trả lời ông Misei rằng nếu có ai nói cho thế giới biết tình trạng bi đát của đồng bào tôi dưới chế độ cộng sản thì họ có thể chấp nhận bất cứ sự trả thù nào.Tôi nghĩ ông Mesei chỉ dọa, vì Nhật Bản là một nước dân chủ tiên tiến không thể hành động cấm cửa người tị nạn nếu đã trôi dạt đến cửa nhà mình.

Sau cùng ông Misei đưa một đề nghị, được hiểu là một sự mua chuộc. Ông nói, các anh có điều cần nói với thế giới thì nên nói ở Hoa Kỳ sẽ có tiếng vang hơn là nói ở đây. Chính phủ Nhật sẽ trả chi phí để các anh ghi vào video cassette (lúc đó chưa có dĩa CD) để các anh phổ biến khi đến Hoa Kỳ. Ông dè dặt đưa ra hai con số: mỗi cassette một mỹ kim và thực hiện một triệu cassette. Tôi nói với ông Misei, tình hình đàn áp tại Việt Nam như một nồi nước đang sôi không thể chờ đợi.

Trong lúc ông Misei áp lực chúng tôi, TC/NVTD vẫn tiến hành các chuẩn bị họp báo. Ngày họp báo sẽ là ngày 30/4/1977 tại một khách sạn ở Kominato.

Ngày 29/4. một sĩ quan cảnh sát địa phương gặp tôi yêu cầu làm đơn xin họp báo với lý do cần chính thức xin phép để cảnh sát Nhật bảo vệ an ninh cho buổi họp báo.

Ngày 30 nhiều phóng viên quốc tế từ Tokyo đến dự cuộc họp báo, trong đó có ký giả Henry Kammp, phóng viên tại Nhật Bản của tờ New York Times. Sự xuất hiện công khai của Hoan và lời tố cáo chính sách đàn áp, vi phạm nhân quyền, và cuộc sống đen tối tại Việt Nam đã tạo ra một xúc động lớn. Sau cuộc họp báo, ký giả Kammp thuê riêng một phòng trong khách sạn để phỏng vấn thêm chúng tôi. Ngoài ký giả Henry Kammp có thêm Huỳnh Lương Thiện và một nữ ký giả trẻ tuổi lai gốc Việt thư ký riêng của Kammp nói lưu loát 4 ngôn ngữ, Anh, Pháp, Việt và Nhật ngữ  tham dự .

Báo chí và các đài truyền hình tại Hoa Kỳ đã loan tải rộng rãi nội dung cuộc họp báo của chúng tôi, ngay các tờ báo địa phương. Đây là lần đầu tiên dân chúng Hoa Kỳ biết tình trạng Việt Nam sau khi bức màn đêm 29/4/1975 rũ xuống thành phố Sài gòn.

Bài báo của ký giả Henry Kammp trên tờ New York Times nói về nạn người vượt biển bỏ nước ra đi và nhiều người đã bỏ mình vì bão táp đã thúc đẩy tổng thống Jimmy Carter xin quốc hội ngân khoản giúp người tị nạn. Quốc hội Hoa Kỳ muốn nghe thêm về tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam, và bà Lê Thị Anh, một người Việt Nam ở Hoa Thịnh Đốn có liên lạc với quốc hội đã sắp xếp mời Hoan qua Hoa Kỳ trước .

Sau cuộc họp báo, giáo hội Rossei Koseikai đưa tôi về một trại tị nạn khác của người Việt ở miền Tây Nhật Bản để giúp Giáo hội tổ chức đời sống cho người tị nạn tại đó. Bốn tháng sau, tôi và Thung về Tokyo ở với anh em NVTD  chờ ngày đi định cư tại Hoa Kỳ. Hằng tuần tôi và Thung đến văn phòng trung ương của Giáo hội để lảnh tiền trợ cấp của Liên hiệp quốc.

Tháng 10, 1977 tôi có giấy tờ đi định cư tại Boston. Người bảo lãnh tôi là ông Raymond Crombie, một công chức quận Quincy, bang Massachusetts từng làm việc trong ngành chiến tranh chính trị của quân đội Mỹ tại Việt Nam. Ông nói trôi chảy tiếng Việt. Ở Quincy chừng một tháng tôi về Maryland tạm trú nhà Nguyễn Đình Điều một người bạn thời trung học. Điều nguyên là sĩ quan Hải quân VNCH

và khi miền Nam sụp đổ đang theo học tại trường Cao đẳng Hải quân Hoa Kỳ ở Monterey. Ông được cấp quy chế tị nạn I-94.

Ở Maryland tôi kiếm việc làm để có tiền gởi vợ tôi nuôi con, 5 đứa từ 7 đến 15 tuổi. Rất may vào tháng 2/1978, Thái Doãn Ngà một bạn thời trung học đang ở California điện thoại thăm và giới thiệu tôi với ông giám đốc sở Ngà đang làm. Ông ta đang kiếm người cho chương trình CETA (Comprehensive Employment and Training Act), một chương trình của chính phủ Liên bang tạo công ăn việc làm và đào tào chuyên viên. Sau cuộc phỏng vấn ngắn ngủi ông “tuyên bố” nhận tôi vào chương trình CETA, học kế toán. Ngà đang làm việc cho ông trong chương trình này với tư cách trưởng phòng kế toán. Ngà rời Việt Nam mấy ngày trước khi Saigòn sụp đổ và đến Mỹ đi học kế toán ngay. Vốn là một giáo sư Toán đệ nhị cấp ông thăng tiến nhanh chóng trong ngành kế toán. Ngà mua vé máy bay cho tôi. Hôm sau tôi ra phi trường Dulles, Washington D.C. lấy vé bay đi Los Angeles. Đường ra phi trường còn đầy tuyết. Đến Los Angeles Ngà đón, tôi thấy Ngà chỉ mặc một chiếc sơ mi mỏng dài tay. Trời California có nắng và không khí mát rượi báo hiệu mùa Đông sắp tàn, Xuân sắp tới. Hai ngày sau tôi ở tạm nhà Ngà đi làm. Sự việc thay đổi nhanh chóng như một giấc mơ. Bây giờ tôi có việc làm, có chỗ tạm trú, có lương hằng tháng. Ngoài chi phí để sống tôi còn dư một chút tiền gởi về cho vợ tôi.  Và thì giờ nghĩ đến mục đích của việc bỏ nước ra.

Cùng với 10 người bạn tôi tiếp xúc qua thư từ, điện thoại từ ngày còn ở Nhật, chúng tôi đồng ý thành lập một tổ chức chính trị gọi là “Tổ chức Phục hưng Việt Nam” (TC/PHVN) làm khí cụ đấu tranh chống chính sách độc tài độc đảng của đảng Cộng sản tại Việt Nam. Buổi họp – chúng tôi sẽ gọi là đại hội – thông qua Cương lĩnh được tổ chức vào tháng 12 năm 1978 tại thành phố Los Angeles. Đại hội thứ hai tổ chức một năm sau (1979) và sau đó hai năm triệu tập một lần Tại đại hội thông qua Cương lĩnh tôi được bầu làm chủ tịch sáng lập của TC/PHVN. Chín thành viên tham dự đều là thành viên sáng lập.

Tôi giữ chức chủ tịch TC/PHVN trong 9 năm cho đến đại hội thứ 7 năm 1989. Sau đó tôi viết bình luận về các vấn đề chính trị thế giới, đặc biệt chú trọng đến các chuyển biến liên quan đến Việt Nam và công cuộc đấu tranh phục hưng đất nước (5).

Các chương trình Việt ngữ của đài Tiếng nói Hoa Kỳ (Voice of America – VOA), đài BBC, đài Á châu Tự do (Radio Free Asia – RFA) thường phỏng vấn tôi trong 20 năm qua. Quan tâm nhất của tôi hiện nay là Trung quốc đang đe dọa sự vẹn toàn lãnh thổ của Việt Nam, nhất là kế hoạch chiếm Biển Đông và sự gặm nhắm biên giới phía bắc Việt Nam .

Tôi về thăm Việt Nam 2 lần, lần thứ nhất tháng Ba năm 1999, lần thứ hai tháng Tư năm 2001. Sau đó hai lần tôi xin chiếu khán về Việt Nam (2003 & 2015) đều bị chính quyền Việt Nam từ khước không cấp. Lần thứ nhất lấy lý do sự có mặt tôi làm mất an ninh đất nước, lần thứ hai không giải thích. Một nữ thư ký của tòa đại sứ Việt Nam tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn điện thoại báo rất tiếc  không cấp chiếu khác cho tôi được.

Hoa Kỳ trở lại tây Thái bình Dương

Người Việt Nam và người Mỹ cần rút kinh nghiệm bài học thất  bại tại miền Nam Việt Nam, nhất là lúc này Hoa Kỳ đang có chính sách trở lại Tây Thái Bình Dương. Biển Đông sẽ là nơi tranh chấp giữa Hoa Kỳ và Trung quốc trong nhiều thập niên

tới. Biển Đông tiếp giáp bờ phiá Đông của Việt Nam, qua bao nhiêu thế kỷ là con đường biển quốc tế nối liền Ấn độ dương với tây và bắc Thái Bình Dương. Các nước lớn trên thế giới không quan tâm đến sự quan trọng của Biển Đông, chừng nào tàu thuyền nước nào cũng được tự do qua lại. Nhưng từ thập niên 1950 có dấu hiệu dưới lòng Biển Đông có dầu thô và khí đốt và thế giới chú ý đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm giữa Biển Đông. Ai làm chủ hai quần đảo này sẽ làm chủ một con đường giao thông huyết mạch, và tài nguyên dưới đáy trong vòng 200 hải lý chung quanh.

Sau khi ký hiệp định Paris năm 1973 Hoa Kỳ chuẩn bị rút quân, và do nhu cầu địa lý chính trị, đầu năm 1974 đã khuyến khích Trung quốc (thời gian đó là đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ trong cuộc đối đầu tay ba Hoa Kỳ- Nga xô viết-Trung quốc, trong khi Việt Nam là đồng minh của Liên xô) chiếm quần đảo Hoàng Sa. Năm 1975 sau khi Hà Nội chiếm miền Nam, Biển Đông chưa trở thành cái ao nhà của Liên bang xô viết và Hà Nội nhờ Trung quốc đóng chốt tại quần đảo Hoàng Sa. Đầu thập niên 1990 Liên xô sụp đổ, Việt Nam trở lại níu Trung quốc để duy trì chế độ. Nhưng khi Trung quốc có kế hoạch chiếm toàn bộ Biển Đông để mở cửa ra Thái Bình Dương công khai tranh chấp thế siêu cường với Hoa Kỳ thì đụng chạm đến quyền lợi của Việt Nam, và cuộc tranh chấp âm thầm giữa Trung quốc và Việt Nam nảy mầm.

Trong thế tranh chấp này Hoa Kỳ là lực lượng đối trọng với Trung quốc của Việt Nam. Nhưng Hoa Kỳ vừa bị Việt Nam đánh bại chưa đủ phấn khởi để đánh bạn với Việt Nam. Dù nói sẽ trở lại tây Thái bình dương Hoa Kỳ còn đứng trước nhiều quyết định chiến lược cũng như chiến thuật khó khăn. Trung quốc mở mặt trận tranh chấp với Hoa Kỳ khắp nơi trên thế giới, ngay cả kinh tế Hoa Kỳ cũng không tránh khỏi áp lực của Trung quốc. Việt Nam luôn luôn dùng lời lẽ ôn hòa thân hữu với Trung quốc hơn với Hoa Kỳ, nhưng không phải đã thần phục Trung quốc như dư luận của người Việt ở hải ngọai nghĩ. Việt Nam ở thế khó khăn và rất ít sự lựa chọn: vừa chơi trò thân hữu với Trung quốc vừa chờ đợi thái độ của Hoa Kỳ ./.

Trần Văn Sơn, Bút hiệu Trần Bình Nam

&-&-&-&-&-&-&-&-&-&

(1)       Để viết “Lời nhân chứng” này tôi đã tham khảo với các cựu dân biểu sau: Trần Ngọc Châu (Woodland Hills, California), Hồ Ngọc Nhuận (Sài gòn),  Phan Thiệp (San Jose, California), Lý Trường Trân (Garden Grove, California), Đinh xuân Dũng (San Jose, California), và Trần Cao Đễ (Westminster, California), và luật sư Trần Tử Huyền (San Francisco, California), con trai ông Trần Văn Tuyên .

(2)       Mười tám người  ký vào bản Tuyên Ngôn Caravelle gồm các nhân vật từng làm việc cho chính phủ Bảo Đại thời gian Pháp trở lại Việt Nam, và từng tham gia chính quyền sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm (1955-63) sụp đổ gồm, các ông Trần Văn Văn, Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Nguyễn Lưu Viên, Huỳnh Kim Hữu, Phan Huy quát, Trần Văn Lý, Nguyễn Tiến Hỹ, Trần Văn Đỗ, Lê Ngọc Chấn, Lê Quang Luật, Lương Trọng Tường, Nguyễn Tăng Nguyên , Phạm Hữu Chương, Trần Văn Tuyên, Tạ Chương Phùng, Trần Lê Chất và Hồ Văn Vui .

(3)       Xem Hồ Văn Kỳ Thoại “Naval Battle of the Paracels” trang 153, tuyển tập “Voices from the Second Republic of South Vietnam (1967-1975)” – do giáo sư  K.W. Taylor , Cornell Southeast Asia Program Publications  xuất bản ngày 30/4/2015

(4)       Liên quan đến cuộc nói chuyện với Bắc Kinh cuối năm 1973, Henry Kissinger  viết trong cuốn Years of Upheaval trang 684: “Bây giờ thì ai cũng biết rằng, qua chuyến đi của tôi, tôi và thủ tướng Chu Ân lai và các phụ tá đã trao đổi chi tiết về tình hình thếgiới. Chúng tôi không công khai ký kết gì nhưng hoàn toàn đồng ý với nhau về tình hình mới và vì tế nhị đối với sự nhạy cảm của Liên xô chúng tôi cũng không công bố gì cả.”


(5)       Các bài bình luận của tôi đều được đăng trên mạng www.tranbinhnam.com  Có 478 bài, viết từ tháng 4/1998 đến tháng 7/2013. Các bài bình luận viết trước đó được in trong 4 Tuyển Tập Bình Luận Chính Trị. Tập 1 (1991-1994 – Mõ Làng San Francisco xuất bản 1995). Tập 2 (1995-1996 –Mõ Làng San Francisco xuất bản, 1997), Tập 3 (1997-1999 (Mõ Làng San Francisco xuất bản, 2000), Tập 4 (1999-2002 – TC/PHVN xuất bản 2002).  Sau ngày sinh nhật thứ 80, 17/7/2013 tôi không viết Bình Luận Chính Trị nữa. Thỉnh thoảng tôi viết về các vấn đề nhân sinh hay dịch các bài báo có tính hữu ích công cọng và đăng trên mạng tranbinhnam, Mục: “Chuyện ngắn; Chuyện không chính trị; Tài liệu dịch”.