Search This Blog

Sunday, February 18, 2018

Khất Giả

Nguyễn Văn Thà

 

Kính dâng đại uý TPB quá cố Lê Hùng Long,
sinh năm 1946, khóa K20 Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt,
số quân: 69/161061, KBC 4143,
Sư Đoàn 1, Trung Đoàn 1, Tiểu Đoàn 2.*

Đêm đêm vét mộng trải nơi nằm
Thượng Đế chiều ta, không hiện hữu 
Mặc ta rộng rãi tùy nghi ta

Tô Thuỳ Yên, Khất giả


Cuộc chiến đã qua lâu, hơn bốn mươi năm rồi, nhưng vẫn còn lớp lớp những oan hồn. Những oan hồn lẽo đẽo bị gậy lẫn những oan hồn áo xống đẹp đẽ, da thịt thơm lừng; những con phố hiền lành xưa cũng biến thành những giòng sông linh hồn nhầy nhụa chung với những ngôi nhà trầm lặng lá hoa xưa bị vùi dập dưới những màu sơn sặc sỡ; oan hồn trùng điệp giữa Sài Gòn, thành phố của cha mẹ tôi, của một Nam Việt Nam xưa. Tôi là một cô gái sinh ra và lớn lên ở Na Uy. Tôi yêu mến nước Na Uy của tôi. Tôi cũng yêu mến nước Việt của cha mẹ tôi. Hồi nhỏ yêu ít, nhưng lớn lên càng yêu nhiều hơn. Tôi không rõ tôi yêu nước Việt vì tôi yêu cha mẹ tôi hay vì có cái gì đó trong dòng máu, hay vì phương tiện truyền thông kỳ diệu của thế kỷ 20, 21 đã mang Việt Nam lại gần tôi hơn. Tôi đã du lịch nhiều nơi và thấy rằng Việt Nam không phải là một đất nước đẹp cho lắm, đàn ông Việt cũng vậy, nơi dáng dấp của họ có một vẻ gì đó nhàn nhạt, tầm thường, nhưng đàn bà Việt thật đẹp, đẹp đến mê hoặc như Graham Green đã có lần nói đến trong tiểu thuyết của ông. Những thiếu nữ áo dài. Người ngọc áo dài như là niềm an ủi duyên dáng cho vô số thất vọng đang phơi ra ngoài đường. Họ là những nàng tiên dịu dàng giữa những oan hồn, đưa tôi vào mộng một thời thanh bình cũ. Tôi nhìn mãi, tôi đi mãi không chán. Bây giờ chỉ còn những tà áo dài vờn vờn quanh tôi. ”Mời cô mua vé số.” – Có tiếng người đàn ông từ lòng đường vọng lên. Tôi thảng thốt như vừa bị rứt ra khỏi cơn mộng. Tôi nhìn xuống thấy một khuôn mặt nhìn lên vừa tự tại như những khuôn mặt khất sĩ đạt đạo, vừa cương nghị, khắc khổ như vẻ mặt của một chiến sĩ đã chết, biết mình đã chết cho cái gì và nay bị đày về cõi thế để nhìn những nỗ lực máu xương của mình hoàn toàn vô nghĩa. Và khuôn mặt ấy gắn trên một thân thể dài tưởng không đầy gang, và mẩu thân thể ấy lại dính vào đôi chân đã bị cắt cụt quá đầu gối. Tôi mua vé số của tất cả những người tàn tật mời tôi mua. Tôi không thể bỏ qua. Tôi không mua, vị đắng sẽ trờn trợn trong họng tôi suốt buổi đi chơi. Tôi mua như mua thuốc chống nôn, vậy thôi. Mua rồi bỏ đi. Nhưng với khuôn mặt này tôi không thể bỏ đi. Tôi đã thấy những khuôn mặt như thế trong những trang sử về Chiến tranh Việt Nam tôi đã đọc trong nhà trường. Những khuôn mặt chịu đựng tột cùng trong những trang sách nhục mạ đó. Những khuôn mặt của Đấng Cứu Thế chịu nhục hình. Ecce homo**.Càng nhục mạ, những khuôn mặt đó càng khắc đậm trong lòng tôi những vết thương. Hôm nay khuôn mặt ấy, tiếng nói ấy hiện ra dưới bàn chân tôi mịn màng, thơm hương, những bàn chân Tây phương hạnh phước. ”Vâng, tôi sẽ mua, nhưng mời chú vào đây uống với tôi chén nước cho vui cái đã.” – Tôi vừa nói, vừa chỉ tay vào quán cà phê bên cạnh đường. Khuôn mặt ấy mỉm cười và gật đầu. Tôi toan ôm ông, nâng ông dậy như thói quen nhanh nhẩu ôm các bệnh nhân lên giường những ngày tôi làm thiện nguyện cuối tuần trong các bệnh viện Na Uy, nhưng tôi chững người lại vì tôi chợt thấy khuôn mặt ấy có một vẻ uy nghi không cho phép tôi làm một cử chỉ có vẻ sỗ sàng như vậy nơi xứ ông đang sống dù cái xứ sở ấy đầy dã tâm, bát nháo. Ông nhanh nhẹn chống hai tay gầy, đen sạm gió mưa, nhưng vẫn còn vẻ tròn lẳn, thư sinh như tay cha tôi, tự nâng thân lên ghế một cách nhẹ nhàng. Khi đã yên vị, ông lại nhìn tôi mỉm cười, đôi mắt cũng cười:
”Để tôi mời cô.”

Nghe ông mời, tôi hơi chững, nhưng tôi chợt hiểu ra khi nghe tiếng ông mời chậm rãi, lịch lãm và một chút trai lơthì phải như những nhân vật nam trong các phim về cuộc sống của giới quý phái Anh quốc.

Tôi cũng lịch lãm theo:
”Rất hân hạnh, thưa ông.”

”Cô uống gì?”

”Dạ, ông kêu cho tôi ly trà chanh.”

Ông lại mỉm cười nhìn tôi, kêu vào trong:
”Cô Trang cho tôi ly trà chanh và ly cà phê phin.”

”Dạ, sẽ có ngay cho chú, cô.”

Giọng nói cô bồi bàn lanh canh như những cục đá lạnh chạm nhau; tôi còn nghe được cả mùi chanh trong giọng nói ấy, cả một trời cũ ấm êm của cha mẹ tôi. Nước miếng dâng lên, tôi nuốt. Tôi nuốt cả cái tiếng nói ngọt ngào, tử tế của cô. Trong những đường hầm tối tăm, tôi thấy những vì sao sáng của những mùa sao sáng của quê hương cha mẹ tôi. Và trước mặt tôi đây, người đàn ông cùng tuổi đời như cha tôi giờ chỉ là một khối thân thể bị cắt cụt nhưng vươn lên, chững chạc ngồi trước mặt tôi. Ông ngồi thẳng lưng ngự trị nhìn xuống tôi như những bức tượng khổng lồ trông ra biển ở Đảo Phục Sinh. Tôi cảm thấy bé nhỏ trước ông.

Cô gái tên Trang bưng thức uống ra, liếc hai người, cười mỉm, rồi nói:
”Hôm nay cháu đãi chú và cô. Tha hương ngộ cố tri.” Rồi đi vào trong.

”Cảm ơn cô Trang. ” Ông nói.

Và khi tôi còn đang cố hiểu ý nghĩa mấy chữ tha hương ngộ cố tri, thì ông đã lên tiếng hỏi:
”Cô là Việt kiều?”

”Vâng, sao ông biết?”

”Thì cô Trang vừa mới nói đó: Tha hương ngộ cố tri.”

”Nghĩa là sao vậy, thưa ông?” 

”Ở xứ người được gặp người quen biết xưa. Chữ cố tri còn có nghĩa là người hiểu lòng mình. Thiệt không gì hạnh phúc hơn khi ở xứ người mà lại gặp được người hiểu lòng mình.”

”C’est un bon presage!” (Điềm lành!) Tôi buột miệng, không biết vì sao tôi lại buột miệng một câu tiếng Pháp như thế. Hay là câu nói này từ miệng một nhân vật nữ nhỏ bé bơ vơ thốt lên trước cuộc chiến ngàn ngàn khẩu đại bác của Napoleon, khi nghe tiếng sơn ca một sáng xuân, linh cảm chàng chiến binh sẽ vềtrong một vở kịch Pháp tôi đã xem, đã in đậm vào lòng tôi, và nó vuột ra khỏi lòng tôi khi có ngoại cảnh đúng liều, đúng độ xúc tác, hay câu nói tiếng nước ngoài ấy chỉđể che dấu một nỗi niềm chợt đến quá đột ngột? ”Để” thì không đúng lắm vì tôi có suy nghĩ gì đâu trước khi nói.

”Cô biết tiếng Pháp?”

”Thưa, tôi học ban tiếng Pháp. Giờ tôi đang dạy tiếng Pháp ở một trường trung học cấp ba. Đang nghỉ lễ dài ngày, đi chơi Việt Nam cho biết.”

”Cô ở Na Uy?”’

”Ông gây cho tôi nhiều ngạc nhiên.”

Ông chỉ vào chiếc gáo gỗ nhỏ dùng để múc nước suối, đặc mẫu rừng núi Na Uy mà tôi luôn luôn gắn vào chiếc balô du lịch của tôi và nói tiếp:
”Mới tuần trước đây thôi có một anh thanh niên gặp tôi ở đây, nhìn xuống tôi lê lết trên lề đường, cậu chững lại thăm hỏi và nói: ’Ông ơi, cháu bị mất cắp hết giấy tờ tuỳ thân, cả thẻ nhà băng nữa, nhưng còn cái này cháu làm hồi đi hướng đạo, thi bằng rừng. Cái này là cái gáo dùng để múc nước suối, đặc mẫu của người Na Uy xưa. Nó theo cháu khắp nơi, cháu biếu chú cái này làm kỷ niệm. Cháu không thể bỏ chú đi như thế này mà không biếu cho chú cái gì. Giờ thì phải cháu phải đến Toà lãnh sự Na Uy xin giúp đỡ. Bye, chú!’ Thật là con người nhân hậu. Ở Na Uy hẳn người ta nhân hậu lắm?”

”Cũng có ít đứa ba trợn, nhưng tuổi trẻ chúng đại khái như thế. Chúng tử tế mà không biết mình đang tử tế.”

Ông thốt lên: ”Trời đất!” – Pha lẫn ngạc nhiên lẫn tiếc xót, nghe ra tiếc xót nhiều hơn.

Sau mấy tuần quen ông, tôi được ông mời về thăm căn phòng chật hẹp, không lớn hơn một xà lim là mấy, quét vôi xanh, tươm tất mà ông đã khổ công dành dụm mua được sau mấy chục năm đi ăn xin lẫn bán vé số. Và sau đó trong một quán cà phê vườn ánh sáng dìu dịu lọt ra từ các chòm cây dâng hương và nhạc tiền chiến chen lẫn với những ca khúc Pháp lời Việt với giọng hát thơ ngây một thời của Thanh Lan, ông muốn kể cho tôi nghe phần đời ông, bằng tiếng Pháp, mà theo ông có những chuyện, như chuyện ông sắp kể, nếu kể bằng tiếng Việt, sẽ rất ngượng. Tôi hỏi: ”Tại sao lại ngượng, thưa ông?” Ông trả lời: ”Như khi cậu con trai Việt ngỏ lời yêu với người yêu Việt, tất nói Je t’aime hay I love you dễ hơn là nói anh yêu em. Đỡ ngượng hơn. Văn hoá Việt Nam là một văn hoá đầy chuyện dè giữ. Nội mấy đại danh từ nhân xưng cũng đủ chứng minh tính chất dè giữ đó. Và nói tiếng Pháp, hay bất cứ ngôn ngữ nào mà mình thành thạo, như bước vào phòng cách ly, cách ly với xã hội đồng ngôn cố cựu chúng ta đang sống, cách ly với cả chính bản thân mình.” Và thật vậy, khi chúng tôi bắt đầu nói tiếng Pháp với nhau, tôi cảm thấy thoải mái hơn, và có lẽ ông cũng vậy vì tôi nghe dòng chảy của cuộc đàm thoại xuôi dòng như không. 

*

Ông Việt, đại uý Việt, lính thuỷ quân lục chiến, sau một tháng hành quân A Sao, A Lưới, được nghỉ phép thường niên một tuần, ông bay về Sài Gòn. Ông dành Ngày Chúa Nhật để thăm em trai ông đang thụ huấn tại Trung tâm huấn luyện Quang Trung. Nó có bằng tú tài Pháp như ông và có dư khả năng vào trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt như ông, hay đáng lẽ ít ra vào trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức, nó lại nhất quyết biên cương biên cương chào biên cương, chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhươngnhư một người lính quèn. Chắc cũng tại mấy bài thơ, mấy cuốn truyện dấn thân hiện sinh trong chương trình văn chương Pháp. Truyền thống văn chương Việt hay ca tụng danh tướng anh hùng; lính quèn may ra chỉ được đôi dòng thương hại. Chỉ có ông là người ủng hộ quyết định làm binh nhì của nó. Ông thích những con người độc đáo như nó cũng như nó mến ông anh thay vì thi vào trường y khoa, lại thi vào trường Võ Bị.

Ông đang ngồi chờ em mình nơi quán nước trước Trung tâm. Trời trưa, nắng chang chang. Ông không còn mồ hôi để chảy, nhưng cô gái mặc áo dài trắng lụa mỏng bên cạnh mồ hôi thấm ướt cả vùng ngực, vùng lưng của cô. Lại còn môi son. Mũi phập phồng háo hức nhìn về phía cổng trung tâm. Có một toán lính Mỹ cả đen lẫn trắng đang từ xóm chị em ta đi lại, vung tay, vung chân, cười hô hố, vỗ vai nhau nói những lời tục tĩu. Khi lại gần quán, họ nhìn chằm cô gái và có anh Mỹ trắng vỗ vai anh Mỹ đen to con, chỉ vào cô gái và thách nếu fuckđược con hooker kia, nó sẽ chịu mất 100 đô la. Cô gái có vẻ hiểu, hoặc không hiểu thì cũng đoán đám lính Mỹ đang toan tính gì; cô quay người nhìn anh cầu cứu. Ông trấn an: ”Cô cứ yên tâm. Tôi sẽ nói lời phải trái với nó.” ”Không được đâu, ông đại uý ơi! Khi nó lên cơn thì có trời mới cản được.” Nói thế rồi, cô gái đứng dậy toan bỏ chạy, thì tên lính Mỹ đen đã xông tới, ôm chặt cô gái. Cô gái càng vùng vẫy, nó càng hôn tới tấp, rên hừ hừ, đưa răng xé toạc cổ áo dài. Cô gái khóc rống, cố che cặp vú vừa bị bóc trần. Ông Việt liếc nhanh đám lính Mỹ lượng định tình hình, và biết rằng người Mỹ không có vụ đánh hội đồng một đối thủ,ông phóng lại dằng tay tay Mỹ đen kéo nó ra. Nó đấm một cái như trời giáng vào mặt ông. Ông vùng dậy, tay chùi vết máu trên miệng, tay rút súng lục ông cài bên trong ngực áo, bắn vào giò tên lính Mĩ. Mấy anh lính Mỹ kia sững người, chạy về chiếc xe jeep của họ. Xe cứu thương đến chở gã lính Mỹ đi, còn ông, ông bị quân cảnh còng tay, bắt đưa lên xe và còn bị quật mấy dùi cui. Khi lên xe, anh quân cảnh mới nói: ”Em buộc phải dùng khổ nhục kế. Em xin lỗi đại uý đã nặng tay.”  Vụ ông đại uý Việt bắn anh lính Mỹ, đối với người Mỹ là nghiêm trọng, nhưng cũng nghiêm trọng không kém chuyện lính đường đường là lính đồng minh mà lại đi hãm hiếp đàn bà bản xứ. Theo quân pháp Mỹ, bị xử tử hình chớ chẳng chơi. Ai cũng biết, nói gì thì nói, nước Mỹ vẫn là một nước nổi tiếng trọng pháp. Nhưng rồi hai bên Mỹ & Việt giàn xếp sao đó, không biết anh lính Mỹ đen bị xử ra sao, nhưng đại uý Việt bị đày ra làm lao công đào binh ở sư đoàn I, tận giới tuyến. ”Anh mầy ngon a! Thôi cứ làm văn phòng mấy tháng, cho lắng xuống, rồi về cầm quân với ta!” – Ông tướng sư đoàn, vỗ vai nói với lao công đào binh Việt. Chỉ vài tháng sau, lao công đào binh Việt được phục hồi quân hàm đại uý, chỉ huy trưởng một tiểu đoàn của sư đoàn I như ông tướng sư đoàn đã hứa.

Rồi chẳng bao lâu miền hoả tuyến Quảng Trị phải lùi dần và cuối cùng cả quân đoàn phải tan hàng. Những thảm cảnh, tôi tưởng không cần kể ra đây, mà có cần kể, tôi cũng không có đủ khả năng như Cao Xuân Huy, người sĩ quan tham dự cuộc triệt thoái, đã viết lại rất đầy đủ, rất tài tình những kinh hoàng, những uất nghẹn, bi kịch trên hết mọi bi kịch trong cuộc triệt thoái qua tác phẩm Tháng Ba Gãy Súng. Bạn đọc có thể tìm đọc dễ dàng tác phẩm này trên mạng. Nhưng như một phép lạ, ông Việt bị thương hai chân, nhưng cũng về đến được Đà Nẵng, và được đưa vào quân y viện Duy Tân, ở đó, ông phải chịu cưa cụt hai chân tới quá đầu gối. Khi vết thương chưa kịp lành, thì Cộng quân chiếm được Đà Nẵng và tràn vào quân y viện Duy Tân đuổi hết những thương binh QĐVNCH. Ông đã đọc nhiều sách lịch sử nhưng không thấy quân đội nào man rợ như QĐCSVN. Ông đã chảy nước mắt không phải do thống khổ ông đã chịu, nhưng khóc cho nhân tính con người nước Việt đã xuống dốc tận cùng như vậy và khóc cho dân tộc mình sẽ phải chịu sự thống trị của bọn người này, khóc cho cả những đoàn lũ người mông muội từ một xứ Quảng vốn văn vật đang hân hoan, ca hát ngoài phố chào đón bọn ác thú đó. Khi ông lê lết về được Sài Gòn thì cha mẹ ông, anh chị em ông đã đi biệt tămTừ đó tới nay ông không hề gặp lại.Ông chỉ nói chừng đó về cha mẹ ông, về anh chị em ông. Không nghe ông nói gì về người yêu ông, vợ ông, mà với chức đại uý, với dáng dấp của ông, người yêu ông, hay ít ra những người đàn bà lấy sắc đẹp lợi dụng ông, chắc không thiếu. Tôi hiểu được nỗi cay đắng của một thương phế binh sĩ quan bại trận. Tôi đã nghe cha tôi kể có những phu nhân các sĩ quan đã bỏ chồng đang trong vòng lao lý CS và lấy kẻ địch của chồng. Có phải ông cũng rơi vào tình trạng bi kịch như thế, và tệ hại hơn nữa, như một phế nhân, nên ông không muốn nói? Hay cũng có thể ông không muốn lấy vợ vì ông nghĩ đời lính không biết chết sống nay mai?


Thời gian này ông được những người hàng xóm cưu mang, nhưng không lâu sau đó  những người hàng xóm này bị tịch thu nhà và phải đi kinh tế mới nên họ mang ông đi theo. Một thời gian vì cảm thấy chỉ sống ăn bám hàng xóm, ăn bám người nghèo giữa rừng hoang tơi tả gió mưa, chướng khí nghẹt trời nơi vùng kinh tế mới ấy, nên ông đã về Sài Gòn ăn xin ngoài đường và rồi bị bắt vào một trại gì đó ở Thị Nghè. Ở đây ông phải làm mành trúc từ sáng đến khuya nhưng chỉ được ăn ngày 2 cữ, thời gian này là thập niên 80 xã hội đang thiếu lương thực; đói và nhất là phải chịu cảnh gà què ăn quẩn cối xay với những con người cả thân xác lẫn tâm hồn đều đã tàn phế,với những ông bà cán bộ thân xác tuy mạnh khoẻ nhưng nhân cách là nhân cách của một loài chuột liến láu và thủm mùi dịch hạch, ông lại trốn ra ngoài ăn xin.


May mắn thay ông gặp một người quen cũ dẫn về ở chung trong một căn phòng nhỏ trong hẻm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, từ đó hàng ngày ông đi bán vé số, tối về đó nghỉ. Một thời gian sau thì ông dành dụm được tiền mua lại căn phòng 2 x 1, 5m, mà tôi đã viết ở trên, do người kia bán để trở về quê sinh sống. Ông với đôi chân cụt và vết thương cũ trong lồng ngực thường xuyên tái phát, sống cô độc trong căn phòng chật hẹpđó. Hàng ngày quỳ bán vé số nuôi thân.

”C’est un bon presage!” Mà thật là như vậy: Tôi lắng nghe ông, kính trọng nghe ông, rồi dần dà tôi nắm tay ông, khóc trên bàn tay, khóc cuộc đời ông trong quê hương xưa thu nhỏ nơi quán cà phê vườn ấy. Và rồi tôi hôn ông như hôn vết thương quá lớn của dân tộc tôi và tôi ôm ông như ôm hết nỗi cơ cực của đất nước tôi. Tôi còn hôn ông, ôm ông như hôn, như ôm lấy Sisyphe của tôi. Tôi muốn dùng tình yêu của tôi đẩy lùi số mạng chàng Sisyphe của tôi. Chàng sẽ không phải mỗi ngày cõng tảng đá nghìn cân trèo lên núi cao, rồi lại đi xuống, rồi lại trèo lên. Tôi muốn chàng sẽ trèo lên người ngọc tràn trề thanh xuân tôi đây, trèo lên trèo xuống tuỳ chàng, ung dung thư thái trong khu vườn địa đàng dâng hiến. Khu vườn đó trong căn phòng chật hẹp, nóng mướt người ở một con hẻm nhơ bẩn. Khu vườn địa đàng đó sẽ là trong căn hộ xinh xắn của tôi, và sẽ là của chàng, trong Vương quốc Na Uy, một đất nước được thế giới xưng tụng là Thiên đàng tại thế.

Chúng tôi kết hôn. Đúng ra là tôi muốn kết hôn với chàng vì tôi yêu chàng, yêu định mệnh chàng, và cũng có thể vì tâm tôi tự lúc nào đã đồng điệu với những áng văn chương lãng mạn tận cùng của nền văn học Pháp và cũng đã ngấm máu táo bạo Viking hồi nào không hay. Còn chàng, chàng không muốn, tôi dư hiểu vì sao chàng không muốn, nhưng chỉ vì chiều tôi, thương tôi.

Ngày cưới chàng bận bộ đồ trận cũ, đầu đội beret xanh ngồi trên chiếc xe lăn tôi mới mua, và tôi bay bổng cùng tà áo dài trắng mỏng manh ôm lấy thân hình đẹp của tôi. Tôiđẩy chàng, không, đúng ra tôi đang bay với đôi cánh áo, lướt qua con phố mà chàng bán vé số mưu sinh mấy chục năm, đến lãnh sự quán Na Uy gần đó làm lễ kết hôn dân sự. Những đồng bào Na Uy của tôi, những người có máu Viking chịu chơi cùng mình vỗ tay, mỉm cười, hân hoan chúc mừng chúng tôi. Đêm đó chúng tôi yêu nhau. Đêm đó chúng tôi có con với nhau, linh tính người đàn bà cho tôi biết như vậy.

Khi tôi xuống phi trường Gardemoen, cha mẹ tôi và các em tôi đến đón. Em gái tôi hỏi tôi bằng tiếng Na Uy nhạt thếch:
”Hvordan gikk det med ferien?”. (Chị nghỉ hè vui không?)

Tôi nói như reo: ”Tuyệt diệu!”, bằng tiếng Việt mến yêu.

”Hva sier du?” (Chị nói gì vậy?)

”Thì mi lại mà hỏi ba.”

Ba biết sành sỏi nhiều ngôn ngữ, nhưng mê nhất tiếng Việt, đỡ lời ngay:
”Là viunderlig, bedårende, betagende, deilig, behagelig, eventyrlig, fenomenal. Mà này nghe đây: Cả đống từ đó cũng không diễn tả hết cái từ ”tuyệt diệu” của tiếng Việt đâu, nghe con gái! Và khi ta xướng lên từ ”tuyệt diệu”, nó buộc ta phải nuốt nước miếng. Âm ”tuyệt” làm nước miếng ứa ra; âm ”diệu” làm ta nuốt nước miếng cái ực. Thế, mấy từ tiếng Na Uy trên kia khi nói ra có làm cho con nuốt nước miếng được như vậy không nào?”

Con nhỏ như ngộ ra chân lý, reo lên:
”Nhất là khi người ta yêu, mà nói lên tiếng ”tuyệt diệu ”về tình yêu, chắc người ta phải nuốt nước miếng nhiều nhất, phải không ba?”

Ba phán ngay:
- Đúng vậy! Đúng vậy!

Rồi nó liến thoắng kề miệng vào tai tôi hỏi nhỏ chỉ đủ cho tôi nghe:
”Mà chị yêu ai ở Việt Nam rồi hả?”

Khi tôi về nhà, đợi cho bình tâm tĩnh trí, tôi mới gọi về thân mật với chàng. Nghe tiếng điện thoại reo, nhưng không nghe tiếng trả lời. Mấy hôm sau tôi lại gọi, nhưng chỉ nghe cái giọng chua như dấm thúi của con mụ Bắc Kỳ: ”Số thuê bao quý khách vừa gọi hiện không liên lạc được…” Tôi sốt ruột quá truy tầm trên mạng số điện thoại quán Cà phê Trang, nhưng vô vọng. Tôi bèn gọi cho Toà lãnh sự Na Uy và yêu cầu gặp ông Olav Anderson, người tôi quen vào dịp lễ cưới, kể sự tình và nhờ anh đến quán Cà phê Trang gần Toà lãnh sự, mà anh ta đã có lần ghé vào, đến hỏi sự tình cho tôi. Anh ta đi ngay và nửa tiếng sau gọi lại cho tôi, buồn bã nói:  ”Xin chia buồn với cô. Ông ấy đã chết ở nhà ông ấy. Cũng có thể ông chết vì kiệt sức, cũng có thể ông ấy tự tử vì thấy một ống thuốc ngủ không cạnh chổ ông nằm. Tôi nói là có thể tự tử vì ống thuốc đó có thể chỉ có một viên cuối mà ông ấy dùng trước khi ngủ thì sao? Những người đau khổ như ông phải uống thuốc ngủ mới ngủ được, tôi nghĩ vậy. Còn chuyện xét nghiệm, thì cô biết đó, ở CHXHCN VN ai mà rỗi hơi làm chuyện đó cho một cục thịt vô dụng. Và trước khi ông ấy mất, ông có nhờ bà Trang gởi lá thư ông viết cho cô. Bà ấy đã gởi bằng thư chuyển nhanh EMS, nay mai sẽ tới.”

Mấy hôm sau thư tới.

”Merci, ma chérie.

C’est un bon presage!”

Tôi xin phép tạm dịch:
”Cảm ơn em yêu.

Đúng là một điềm lành!”

Đó là tất cả những gì ghi trên tấm thiệp kim nhũ in nổi cành mai vàng khắc khổ gió sương.

Tôi bất giác xoa bụng tôi.

Chỉ còn mấy hôm nữa Xuân sang.

Oslo, Tết Mậu Tuất/ 2018

* Những chi tiết tiểu sử này và một số chi tiết khác lấy từ FB Lực Trần, do FB Khanh Lam Nguyen chuyển tiếp.
** Ecce homo: Này là Người.//fuck: đéo; hooker: Con đĩ.
(An ninh - Quốc phòng) - Từ 18/2/1979, các phi đội thuộc Trung đoàn không quân 917 (đoàn Đồng Tháp), 935 (đoàn Đồng Nai) và 937 (đoàn Hậu Giang) gồm 10 trực thăng UH-1, 3 máy bay trinh sát U-17, 10 máy bay cường kích A-37, 10 máy bay tiêm kích bom F-5 lần lượt ra trận.

Trên hướng Cao Bằng, địch huy động lực lượng lớn gồm 9 sư đoàn bộ binh thuộc Quân đoàn 41, 42, 43 và 50 và 336 xe tăng thiết giáp của 3 trung đoàn xe tăng chia làm 2 mũi tiến công chính thọc sâu đánh vào các điểm sơ hở trong dải phòng ngự của Việt Nam.
Cụm quân phía bắc do Quân đoàn 41 đảm nhiệm tiến công theo hướng Thông Nông-Hà Quảng, cánh quân phía nam do Quân đoàn 42 đảm nhiệm tiến công theo hướng Phục Hòa-Đông Khê. Nhờ huy động một lực lượng áp đảo nên ngay từ những ngày đầu đối phương đã có nhiều mũi tiến khá sâu vào lãnh thổ Việt Nam.
Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979: Khi Không quân Việt Nam vào cuộc - Ảnh 1
Trên hướng Hà Quảng, quân Trung Quốc sử dụng Sư đoàn 122 Quân đoàn 41 từ khu vực cửa khẩu Bình Mãng tiến công tuyến phòng thủ của Trung đoàn 246 Sư đoàn 346, Tiểu đoàn 6 Hà Quảng, Đồn biên phòng Sóc Giang, Nậm Nhũng… cùng bộ đội địa phương và dân quân tự vệ xung quanh cửa khẩu Sóc Giang.
Chiến sự quyết liệt diễn ra suốt 4 ngày liền từ 17/2 đến 20/2 trên các chốt Cốc Ngựu, Cốc Nhu, Cốc Vường, điểm cao 505, Trúc Long-Địa Lan, Nà Xác, Trường Hà… chặn đứng hướng tiến công rất mạnh của địch ở đây.
Bị tổn thất không tiến lên được, ngày 22/2 quân Trung Quốc làm đường cho xe tăng vượt biên giới ở khu vực đồi núi mốc 109, theo đường Pác Bó – Nà Mạ – Đôn Chương đánh vu hồi vào sau lưng và bên sườn trận địa ta, kết hợp với tấn công chính diện theo hướng cửa khẩu Bình Mãng-Sóc Giang.
Trung đoàn 246 mặc dù chiến đấu dũng cảm nhưng bị bao vây và cắt đường tiếp tế, trước sức ép của địch phải rút khỏi Sóc Giang lên khu vực thung lũng núi giữa Hà Quảng và Thông Nông tiến hành đánh du kích. Địch chiếm được Sóc Giang và tiếp tục phát triển xuống phía nam Hà Quảng.
Trên hướng Thông Nông, do lực lượng ta ít, Quân đoàn 41 địch nhanh chóng chiếm được Thị trấn Thông Nông và thọc sâu vào lãnh thổ Việt Nam. Sư đoàn 123 có xe tăng đi cùng tiến công theo hướng Hòa An về Thị xã Cao Bằng trong khi Sư đoàn 121 tổ chức các mũi vu hồi đánh xuống khu vực Minh Tâm (Nguyên Bình) và Đường số 3, Khâu Đồn, Đèo Cao Bắc…
Trên hướng Trà Lĩnh, địch sử dụng một bộ phận của Sư đoàn 123 Quân đoàn 41 và Sư đoàn 160 Quân đoàn 54 tiến công hướng phòng ngự chủ yếu của Sư đoàn 346 do Trung đoàn 677, Đồn biên phòng Trà Lĩnh và các đơn vị địa phương bảo vệ ở bình độ 700, đồi Quyết Tử, đồi Thanh Niên, điểm cao 800 và 815 (Phai Can), khu vực mỏ mangan, trục đường Xuân Nội-Quang Trung… Ngày 26/2 địch chiếm được điểm cao 815 lần thứ hai. Trung đoàn 677 phải lui về phía sau, phân tán cùng dân quân các bản làng tiếp tục chiến đấu.
Trên hướng Quảng Hòa, các đợt tiến công của Sư đoàn 125 Quân đoàn 42 địch bị Trung đoàn 567 cùng Đồn biên phòng Tà Lùng, tự vệ nông trường và dân quân Đại Tiến, Cách Linh… chặn lại ở khu vực Đèo Khâu Chỉa (Phục Hòa) suốt 12 ngày đêm, có những ngày đẩy lui 7/8 đợt tiến công gây thiệt hại nặng cho địch. Mặc dù bị cô lập và khó khăn về tiếp tế, các đơn vị của ta đã giữ vững trận địa, không để đối phương dùng khu vực này làm bàn đạp tiến về hướng Quảng Uyên, Mã Phục.
Trên hướng Trùng Khánh, Hạ Lang, Bảo Lạc, các lực lượng phối hợp của địch cũng tấn công các đồn biên phòng Pò Peo, Bí Hà, Lý Vạn, Cốc Pàng, Nậm Quét… cùng một số chốt của lực lượng địa phương.
Trên hướng Thạch An, mặc dù bị lực lượng vũ trang tại chỗ chặn đánh gây thương vong nặng, Sư đoàn 124 và 126 Quân đoàn 42 của địch chiếm được Thị trấn Đông Khê trong thời gian ngắn rồi dùng xe tăng tiến thẳng về Thị xã Cao Bằng.
Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979: Khi Không quân Việt Nam vào cuộc - Ảnh 2
Xe tăng Trung Quốc bị tiêu diệt trên mặt trận Cao Bằng.
Sáng 17/2, bưu điện Huyện Thạch An báo cáo về tỉnh, cho biết xe tăng địch cắm cờ Việt Nam đi qua trước cửa nhà bưu điện về hướng thị xã. Được tin này, Tư lệnh Quân khu 1 lập tức ra lệnh cho BCHQS tỉnh và Sư đoàn 346 tổ chức đưa lực lượng đến Đèo Ngườm Kim, Nậm Nàng chặn đánh. Chấp hành mệnh lệnh trên, một bộ phận Trung đoàn 851 Sư đoàn 346 khẩn trương cơ động và trong các ngày 18 và 19-2 liên tục chiến đấu với các mũi tiến công cơ giới của địch trên Đường số 4 và đường từ Nước Hai về thị xã, bắn cháy hàng chục xe tăng ở khu vực Bản Sẩy, Đức Long (Hòa An), cây số 9-12 trên Đường số 4… Chiếc xe tăng trinh sát của Trung Quốc đến được Nà Toòng ngoại vi thị xã cũng bị đơn vị cao xạ 37mm của Sư đoàn 346 tiêu diệt.
Sau khi các mũi thọc sâu bị chặn lại. Từ ngày 19-2, địch bắt đầu áp sát từ nhiều hướng và tổ chức đánh chiếm các chốt phòng ngự của ta xung quanh Thị xã Cao Bằng. Cuộc chiến đấu bảo vệ thị xã của Trung đoàn 851, Tiểu đoàn đặc công 45 và lực lượng địa phương diễn ra suốt nhiều ngày nhưng do tương quan chênh lệch, các lực lượng vũ trang Việt Nam bị thương vong lớn, đêm 24-2 phải rút về chốt giữ các điểm cao phía tây thị xã và trên Đường số 3. Sáng 25-2 quân Trung Quốc chiếm được Thị xã Cao Bằng. Sở chỉ huy Sư đoàn 346 và Tỉnh đội Cao Bằng mất liên lạc, không còn khả năng chỉ huy các bộ phận.
Ngày 26- 2-1979, Quân khu 1 quyết định thành lập Bộ tư lệnh Mặt trận Cao Bằng do Đại tá Đàm Văn Ngụy, Phó tư lệnh Quân khu đứng đầu. Ngày 28-2, Bộ tư lệnh Mặt trận ra lệnh cho Trung đoàn 677 và Trung đoàn 567 vượt vòng vây rút về phía sau để bảo toàn lực lượng, chuẩn bị đánh phản kích.
Trước tình hình căng thẳng, Quân khu 1 gấp rút điều động Trung đoàn 852, 183 Hải Hưng, tiểu đoàn pháo tầm xa 122mm của Lữ đoàn 675, các tiểu đoàn bộ đội và tự vệ phía sau lên phối hợp với các đơn vị tại chỗ tổ chức phòng tuyến mới ở phía nam Cầu Tài Hồ Sìn, đường số 3, mỏ thiếc Tĩnh Túc…
Lực lượng vũ trang ta đánh lui các đợt tiến công của quân Trung Quốc từ 20 đến 23-2, sau đó phản kích đẩy địch về khu vực cây số 5 và ngã ba Khâu Đồn, đồng thời bao vây một bộ phận mũi vu hồi của địch ở Nguyên Bình.
Ngày 1-3-1979 trên mặt trận Cao Bằng, Sư đoàn bộ binh 311 gồm Trung đoàn bộ binh 169, 529, 531 bộ binh và Trung đoàn pháo binh 456 được thành lập. Tuyến phòng ngự thứ hai được hình thành từ Tài Hồ Sìn đến Ngân Sơn. Chiến sự diễn ra quyết liệt trên khắp địa bàn tỉnh. Sư đoàn 311 tổ chức cắt Đường số 4, ngăn chặn cơ động tiếp tế của đối phương. Tiểu đoàn đặc công 20 và 45 luồn sâu vào sau lưng địch, phối hợp với dân quân tự vệ tổ chức nhiều cuộc tập kích, phục kích gây cho quân xâm lược những thiệt hại nặng nề.
Hai ngày sau khi Bắc Kinh tuyên bố rút quân, ngày 7/3 quân Trung Quốc bắt đầu rút khỏi Thông Nông, Trà Lĩnh, vừa đi vừa tàn phá các khu vực nằm trên đường di chuyển của chúng. Trước tình hình trên, cùng ngày hôm đó Bộ tư lệnh mặt trận hạ lệnh chuyển sang truy kích, dùng pháo binh bắn phá đội hình hành quân, các điểm tập kết người và xe cơ giới của địch…
Trước áp lực tiến công của ta, một số đơn vị Trung Quốc vội vã rút chạy bỏ lại cả xe cộ, vũ khí và thương binh tử sĩ. Ngày 14/3, ở Minh Tâm (Nguyên Bình), một đại đội của Sư đoàn 150 Quân đoàn 50 thuộc mũi vu hồi bị lực lượng địa phương của ta vây hãm sau nhiều ngày đã phải hạ súng đầu hàng vô điều kiện.
Ngày 15/3, quân Trung Quốc rút khỏi Thị xã Cao Bằng và Huyện Hòa An; ngày 16-3 rút khỏi Trùng Khánh, Quảng Hòa và Thạch An; ngày 17-3 rút khỏi Trà Lĩnh; ngày 18-3 rút khỏi Hà Quảng và Thông Nông. Đến đây, chiến sự trên mặt trận Cao Bằng tạm thời chấm dứt.
Theo công bố chính thức, trong một tháng chiến đấu trên hướng này các lực lượng vũ trang và nhân dân Cao Bằng đã loại khỏi vòng chiến 18.000 quân Trung Quốc, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 7 tiểu đoàn địch, phá hủy 134 xe tăng, thiết giáp và 23 xe quân sự, giữ kỷ lục về số xe tăng, thiết giáp tiêu diệt được và số tù binh bắt sống. Với thành tích chiến đấu, 5 cá nhân và 17 đơn vị đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân. Sư đoàn 311 được mang danh hiệu “Sư đoàn Đông Khê”; Trung đoàn 567 được nhân dân địa phương tặng danh hiệu “Trung đoàn Khâu Chỉa”.
Không quân và bộ đội chính quy chủ lực xung trận
Cuộc xâm lược của Trung Quốc diễn ra giữa lúc phần lớn các quân đoàn dự bị chiến lược đang còn phải chiến đấu với quân Khmer Đỏ ở chiến trường Campuchia. Các đơn vị của ta tại biên giới mặc dù dũng cảm nhưng do bị tiến công bất ngờ và tương quan lực lượng chênh lệch nên phải chiến đấu trong những điều kiện hết sức bất lợi.
Để tăng cường sức mạnh cho mặt trận biên giới, Bộ Quốc phòng đã khẩn trương huy động lực lượng của tuyến sau đưa lên chi viện.
Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979: Khi Không quân Việt Nam vào cuộc - Ảnh 3
Ngày 18/2, Quân khu 3 cho Sư đoàn bộ binh 327 (gồm Trung đoàn bộ binh 42, 75, 540 và Trung đoàn pháo binh 120) từ Quảng Ninh lên tăng cường cho Quân khu 1. Tiếp đó ngày 19-2, Quân khu 4 gấp rút tổ chức cho Sư đoàn bộ binh 337 (gồm Trung đoàn bộ binh 4, 52, 92 và Trung đoàn pháo binh 108) hành quân bằng cả tàu hỏa và xe vận tải từ Nghệ An ra.
Ngày 25/2 các đơn vị này đều được bổ sung cho điểm nóng nhất lúc này là mặt trận Lạng Sơn và sau đó nằm trong đội hình Quân đoàn 5 – Binh đoàn Chi Lăng.
Lạng Sơn được Quân khu 1 tăng cường Trung đoàn 197 Bắc Thái cho hướng thị xã và Trung đoàn 196 Hà Bắc cho hướng Đình Lập. Sau đó Bộ Quốc phòng còn tiếp tục bổ sung thêm Trung đoàn pháo phản lực 204, Trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn 98 Sư đoàn công binh 473, Lữ đoàn công binh 229 (đoàn Sông Đà), đơn vị súng phun lửa của Trung đoàn phòng hóa 86…
Hướng Cao Bằng được tăng cường Trung đoàn 183 Hải Hưng, Tiểu đoàn đặc công 45, tiểu đoàn pháo tầm xa 122mm của Lữ đoàn pháo binh 675, tiểu đoàn tên lửa chống tăng B72, Trung đoàn 38 Sư đoàn công binh 473, Tiểu đoàn 126, 127 bộ đội địa phương Bắc Thái cùng một số tiểu đoàn tự vệ của nhà máy gang thép Thái Nguyên, công ty xây lắp luyện kim, công ty xây lắp cơ khí… Ngoài ra Quân khu 1 cho thành lập thêm Sư đoàn bộ binh 311 trên cơ sở Trung đoàn 38 Sư đoàn 473.
Hướng Hoàng Liên Sơn cũng được tăng cường một số đơn vị, trong đó có tiểu đoàn pháo tầm xa của Lữ đoàn pháo binh 368… Tính chung, tổng cộng 2 sư đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn đặc công, 2 tiểu đoàn pháo tầm xa và 25 tiểu đoàn dự nhiệm cùng nhiều đơn vị binh chủng và dân quân tự vệ các địa phương của Quân khu 1, 2, 3, 4 và Thủ đô Hà Nội đã được điều động lên biên giới tham gia chiến đấu hoặc sẵn sàng chiến đấu.
Trước tình hình chiến sự ngày càng trở nên quyết liệt ở khu vực thị xã Lạng Sơn, Bộ Quốc phòng đã quyết định sử dụng đến các đơn vị cơ động chiến lược. Ngày 3-3 Quân đoàn 1 – Binh đoàn Quyết Thắng nhận lệnh cho Sư đoàn bộ binh 320B (sau này đổi thành 390 – đoàn Đồng Bằng, gồm Trung đoàn bộ binh 27, 48, 64 và Trung đoàn pháo binh 54) được tăng cường Trung đoàn bộ binh 209 (đoàn Sông Lô) thuộc Sư đoàn bộ binh 312 (đoàn Chiến Thắng) và tiểu đoàn pháo tầm xa 130mm của Lữ đoàn pháo binh 45 (đoàn Tất Thắng) cấp tốc hành quân lên Lạng Sơn.
Tối 4/3, các đơn vị này đã triển khai sẵn sàng trên tuyến chiến đấu Chi Lăng-Đồng Mỏ-Hữu Kiên.
Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979: Khi Không quân Việt Nam vào cuộc - Ảnh 4
Trước đó một tuần, ngày 27/2, Quân đoàn 2 – Binh đoàn Hương Giang đang làm nhiệm vụ truy quét Khmer Đỏ tại Kampot, Kampong Som (Campuchia) cũng được lệnh cơ động gấp toàn bộ lực lượng về nước. Cuộc chuyển quân thần tốc bằng cả đường biển, đường bộ, đường sắt và đường không bắt đầu từ 6/3, đến 11/3 những đơn vị đầu tiên của quân đoàn gồm Sư đoàn bộ binh 304 (đoàn Vinh Quang), Lữ đoàn pháo binh 164 (đoàn Bến Hải), Lữ đoàn phòng không 673, tiểu đoàn trinh sát… đã về tới Hà Nội. Theo dự kiến ban đầu, hai sư đoàn 320B và 304 sẽ phối hợp phản công trên hướng Bản Chắt (Đình Lập). Sau khi chiến dịch phản công được ngừng lại, một bộ phận của Sư đoàn 304 đã kịp thời chuyển lên tham gia đánh địch tại Trà Lĩnh (Cao Bằng).
Khi chiến tranh biên giới bắt đầu, Bộ Quốc phòng cũng quyết định điều một phần lực lượng Sư đoàn không quân 372 (đoàn Hải Vân) ra Bắc làm nhiệm vụ. Từ 18/2 đến 3/3/1979, các phi đội thuộc Trung đoàn không quân 917 (đoàn Đồng Tháp), 935 (đoàn Đồng Nai) và 937 (đoàn Hậu Giang) gồm 10 trực thăng UH-1, 3 máy bay trinh sát U-17, 10 máy bay cường kích A-37, 10 máy bay tiêm kích bom F-5 lần lượt được triển khai ở căn cứ Hòa Lạc, Kép, Bạch Mai và Nội Bài, cùng với các phi đội tiêm kích MiG-17, MiG-21 của Sư đoàn không quân 371 (đoàn Thăng Long) đặt trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Ở phía Nam, trực thăng và máy bay vận tải của Trung đoàn không quân 916 (đoàn Ba Vì), 918 và Đoàn bay 919 Tổng cục Hàng không dân dụng phối hợp với không quân Liên Xô khẩn trương tập kết và vận chuyển Quân đoàn 2 ra Bắc. Ngoài ra Đoàn bay 919 còn sử dụng máy bay vận tải Il-14 (có MiG-21 yểm hộ) bay thả dù tiếp tế cho lực lượng vũ trang ta ở khu vực xã Canh Tân-Minh Khai, Thạch An (Cao Bằng).
Liên Xô – quốc gia đồng minh lớn nhất lúc đó của Việt Nam đã thực thi nhiều biện pháp tương trợ. Bên cạnh việc cung cấp thông tin tình báo và trinh sát kỹ thuật, Liên Xô lập ra một cầu hàng không lớn góp phần cơ động các đơn vị Việt Nam tại mặt trận Campuchia ra miền Bắc. Moscow còn viện trợ khẩn cấp một khối lượng lớn vũ khí và trang thiết bị bảo đảm qua đường biển, trong đó có 400 xe tăng và thiết giáp, 500 khẩu pháo cối và cao xạ, 50 tổ hợp pháo phản lực BM-21, 400 tổ hợp tên lửa vác vai, 800 súng chống tăng và 20 máy bay chiến đấu. Ngoài ra, nhiều đơn vị chính quy ở biên giới Xô-Trung được lệnh báo động và tiến hành tập trận quy mô lớn để tạo áp lực, Hạm đội Thái Bình Dương cũng cho một biên đội tàu chiến đấu xuống tuần tiễu khu vực biển Đông…
Ngày 5-3, Chủ tịch Tôn Đức Thắng công bố Lệnh tổng động viên toàn quốc “để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của bọn bành trướng và bá quyền Trung Quốc”. Cũng trong ngày hôm đó, nhà cầm quyền Bắc Kinh tuyên bố “hoàn thành mục tiêu” và rút quân, tuy nhiên trên thực tế quân Trung Quốc vẫn tiếp tục chiếm đóng, đánh phá nhiều khu vực khiến cho giao tranh còn kéo dài cho đến 18-3-1979 mới tạm ngừng.
(Theo Infonet)