Search This Blog

Tuesday, June 25, 2019

Vì sao cha con Lý Tiểu Long đều chết trẻ?

image.png
Trong sách cổ đã ghi chép rất nhiều trường hợp nhân quả báo ứng, bài viết này nói về câu chuyện của hai nhân vật nổi tiếng thời hiện đại – hai cha con Lý Tiểu Long chết trẻ khi đang sức dài vai rộng, sinh lực tràn đầy.
Rất nhiều người cho rằng Lý Tiểu Long là người Trung Quốc, thực tế không phải vậy. Năm 1940, Lý Tiểu Long chào đời ở San Francisco, bang California Hoa Kỳ, quốc tịch Mỹ, là người Mỹ gốc Hoa.
Ông là diễn viên người Hoa đầu tiên ở Hollywood. Các bộ phim hành động của Lý Tiểu Long lấy chủ đề là võ thuật kungfu như “Đại ca” (The Big Boss) được đánh giá rất cao. Sau đó các phim “Tinh võ môn”, “Mãnh long vượt sông”, “Long tranh hổ đấu” và “Trò chơi tử Thần” do Lý Tiểu Long thủ vai chính đã chấn động giới điện ảnh, nhanh chóng tạo được danh vọng trên thế giới.
Lý Tiểu Long đạt được giải thưởng “Kỹ nghệ tốt nhất” của giải Kim Mã Đài Loan, giải thưởng “Thành tựu trọn đời” giải Kim Tượng của điện ảnh Hồng Kông, giải thưởng “Truyền kỳ” của Hiệp hội Truyền thông Anh.
Năm 1967, Lý Tiểu Long sáng tạo ra Tiệt quyền đạo (còn gọi là Triệt quyền đạo – Jeet Kune Do – lỗi dịch sai chữ Tiệt thành Triệt từ ban đầu nên dùng sai thành quen – ND). Ông hoằng dương kungfu Trung Quốc, và được coi là một trong 10 nhà võ thuật lớn nhất thế kỷ.
Vua boxing Muhammad Ali đánh giá: “Lý Tiểu Long là người vĩ đại. Anh là người kiệt xuất nhất trong lĩnh vực võ thuật. Tôi hy vọng có thể gặp anh, bởi vì tôi thực sự thích võ thuật của anh. Anh đã vượt thời đại của anh”.
Cha đẻ Jiu jitsu (Nhu Thuật) nước Mỹ là Jenny Lebel đánh giá rằng: “Tốc độ ra đòn của anh nhanh gấp đôi người bình thường. Quyền thuật, bộ pháp và cước pháp của anh thực sự siêu xuất người thường. Nếu nói về những vua võ thuật thì Lý Tiểu Long là vua của các vị vua. Anh là cao thủ đỉnh cao xuất chúng ở thời đại đó”.
Không chỉ người châu Á quen thuộc với Lý Tiểu Long mà cái tên Bruce Lee (tên tiếng Anh của anh) thì dường như người phương Tây không ai không biết, là danh từ thay thế cho kungfu. Hình tượng màn ảnh của anh có sức ảnh hưởng lớn đối với người Hoa và mọi người khắp các nơi trên thế giới. Tên anh đã trở thành tượng trưng cho kungfu Trung Quốc và tượng trưng cho điện ảnh võ thuật.
Cha con Lý Tiểu Long chết trẻ
Đúng lúc sự nghiệp Lý Tiểu Long đang lên như diều gặp gió, năm 33 tuổi anh tham gia diễn phim “Trò chơi tử Thần” thì ngày 20/7/1973 anh đột tử ở trong nhà của Đinh Bội tại Cửu Long Đường, Cửu Long Tây, Hồng Kông. Sự kiện này đã gây nên chấn động cực lớn, nguyên nhân cái chết của anh đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi bàn tán. Có người cho rằng anh bị mưu sát, có người nói anh chết bệnh, có người cho rằng anh đột tử bởi dị ứng thuốc, còn có người nói anh chết bởi “thượng mã phong” v.v.
Lý Quốc Hào (Brandon Lee, 1/2/1965 – 1/4/1993) là con trai duy nhất của Lý Tiểu Long, sinh ở California nước Mỹ. Năm Quốc Hào 8 tuổi thì cha là Lý Tiểu Long qua đời.
Lý Quốc Hào có thể nói là đã kế thừa được sự nghiệp của cha. Anh được mẹ là Linda truyền thụ võ công. Sau khi trưởng thành, anh đã đạt được trình độ võ thuật khá cao. Sau đó, anh vào học trường điện ảnh Emerson, làm phim và biểu diễn. Anh theo con đường của cha, cũng trở thành một diễn viên, diễn trong phim dài tập “Giới kungfu”, trở thành người thay thế Lý Tiểu Long trên màn bạc.
Lý Quốc Hào có ngoại hình tuấn tú và võ nghệ cao siêu khiến cho các nhà làm phim Hollywood đặc biệt chú ý, cho rằng chỗ trống do Lý Tiểu Long để lại sẽ do con trai ông lấp đầy. Tất cả mọi người đều thấy tiền đồ to lớn của Lý Quốc Hào. Bộ phim hành động “Quạ” chí phí 14 triệu đô la là bộ phim đầu tư lớn nhất mà Lý Quốc Hào diễn. Anh cẩn thận tỉ mỉ hoàn thành từng động tác có độ khó lớn theo yêu cầu của đạo diễn.
Vào lúc 12h30 đêm ngày 1/4/1993, trong khi đang quay cảnh đấu súng trong phim “Quạ” thì cây súng đạo cụ đã bất ngờ bắn ra đạn thật. Lý Quốc Hào bị trúng đạn phần bụng, bị mất máu nhiều dẫn đến tử vong, khi mới 28 tuổi.
Bi kịch của Lý Tiểu Long lại lần nữa diễn ra. Một ngôi sao võ thuật mới đang từ từ nổi lên đã bị cuốn theo gió đi như vậy. Tại sao cha con Lý Tiểu Long đang trong thời điểm khỏe mạnh cường tráng lại chết trẻ? Chúng ta hãy xem hành trình cuộc đời của cha Lý Tiểu Long.

Mộ cha con Lý Tiểu Long – Lý Quốc Hào. 
Cha Lý Tiểu Long là Lý Hải Tuyền chuyên bắt cóc giết người
Rất nhiều người cho rằng quê cha đất tổ của Lý Tiểu Long là ở Thuận Đức, Quảng Đông, nhưng thực ra là ở Nam Hải, Quảng Đông. Cha anh là Lý Hải Tuyền, quê gốc Cửu Giang, Nam Hải, vì hợp mưu bắt cóc mà chạy trốn đến Thuận Đức.
Lý Hải Tuyền là một kẻ ác bá, làm những việc như bắt cóc tống tiền, cướp của. Có một người giàu có có 5 người con bị bắt cóc, Lý Hải Tuyền đòi tiền chuộc theo đầu người. Nhưng người giàu có này chỉ chuộc mỗi đứa con trai trưởng về, không giao nộp tiền chuộc cho 4 người con kia. Kết quả là Lý Hải Tuyền đã giết chết cả 4 người con của người giàu có kia. Lý Hải Tuyền sợ người con trai trưởng vừa mới lớn của người giàu có kia sau này tìm đến báo thù, nên trốn chạy đến Thuận Đức để lẩn tránh.
Cô Lý Trân, người thôn Đôn Cân, Cửu Giang, Nam Hải đã công khai chứng thực rằng Lý Hải Tuyền không chỉ bắt cóc giết người gia đình kể trên. Lý Hải Tuyền tham gia bắt cóc trẻ em và giết người khi không có tiền chuộc, em trai của cô là Lý Tả Luân chính là trẻ bị bọn cướp đánh chết, khi đó mới 4 tuổi.
Thời kỳ chiến tranh thế giới thứ 2, nước Nhật chiếm phần lớn Trung Quốc. Lý Hải Tuyền từ Quảng Đông chạy trốn đến Hồng Kông. Sau đó quân Nhật tiến hành tấn công Hồng Kông bằng thế gọng kìm, tình hình rất nguy cấp. Lý Hải Tuyền lòng hoảng hốt dắt gia quyến đến nước Mỹ tránh xa khói lửa chiến tranh. Do đó, Lý Tiểu Long được sinh ra ở Mỹ, là người Mỹ gốc Hoa.
Sau này, Lý Hải Tuyền lại trở về Hồng Kông tìm cơ hội phát triển, diễn kịch. Năm 1948, Lý Hải Tuyền cùng với Liêu Hiệp Hoài, Bán Nhật An, Diệp Phất Nhược được mọi người gọi là “Tứ đại danh kép của Việt kịch”.
Nhân quả báo ứng?
Người Á Đông nói nhân quả, tổ tiên tích đức con cháu hưởng phúc, tổ tiên thất đức, tổn đức thì con cháu chịu tai họa, đều là sự thực. Con người làm việc xấu sẽ tổn đức và nhận lấy nghiệp lực, mà nghiệp lực có thể dẫn đến hiện tượng con người chịu tai họa hay bệnh tật đời này hoặc đời sau trong luân hồi. Cũng có khi nghiệp lực của tổ tiên tích tụ lại cho con cháu đời sau, tạo thành các ma nạn cho cháu con.
Rất nhiều câu nói của người xưa như “tự làm tự chịu”, “gây nghiệp ác thì không thể sống được”, “trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu”, “gieo cây nào gặt cây đó”, “ở hiền gặp lành, ở dữ gặp ác”, “thiện có thiện báo, ác có ác báo”, “nhân đời trước là quả đời sau”, “nhân quả báo ứng”… đều xoay quanh quy luật này.
Có người cho rằng Lý Tiểu Long truy cầu tốc độ và luyện tập hà khắc, đã dùng sức quá mức mà tiêu trước sinh mệnh, đó là một nguyên nhân khiến anh ra đi khi tuổi vẫn còn xanh. Thực ra không phải vậy. Lý Tiểu Long hơn 10 tuổi đã theo học Vịnh Xuân Quyền của sư phụ Diệp Vấn, từ dáng đi của Lý Tiểu Long, sư phụ Diệp Vấn đã có lời dự đoán rằng Lý Tiểu Long tướng đoản mệnh, không sống lâu được. Sau này, Lý Tiểu Long luôn luôn chú ý sửa đổi tư thế đi đứng. Khi Lý Tiểu Long từ nước Mỹ trở lại Hồng Kông, anh có nói với sư phụ Diệp Vấn rằng anh đã sửa được thế đi, bây giờ khi đi gót chân đã chạm đất rồi. Vào thập niên 60 khoảng trước và sau khi Lý Tiểu Long sáng lập ra Tiệt quyền đạo ở nước Mỹ, anh thực sự đã huấn luyện cường độ cao, nhưng đó không phải là nguyên nhân đoản mệnh.
Cường độ huấn luyện của Vịnh Xuân quyền không lớn (đó cũng là một trong các nguyên nhân mà người ta coi Vịnh Xuân quyền là ‘quyền đàn bà’). Lời dự đoán của sư phụ Diệp Vấn khi Lý Tiểu Long hơn 10 tuổi đã trở thành sấm ngữ. Có thể thấy nguyên nhân chết trẻ không phải ở huấn luyện cường độ cao, mà là nhân quả báo ứng chủ đạo hết thảy.
Lý Tiểu Long chết trẻ khi đang tráng niên, nguyên nhân còn chưa có lời giải. Nếu nói đó là ngẫu nhiên, thế thì con trai anh là Lý Quốc Hào đóng phim bị súng đạo cụ bắn chết cũng là ngẫu nhiên sao? Hai lần ngẫu nhiên thì không phải là ngẫu nhiên nữa mà là tất nhiên. Hơn nữa, cháu trai của Lý Tiểu Long mắc một số căn bệnh. Những sự việc bất hạnh này nối tiếp nhau xuất hiện thì khả năng ngẫu nhiên là rất thấp.
Văn hóa truyền thống phương Đông coi trọng giáo hóa đạo đức, dạy người hướng thiện, thuận theo Thiên lý. Khi văn hóa truyền thống bị phá hoại, con người không tin vào thiện ác hữu báo, dám đấu với Trời, đấu với Đất, đấu với người, đấu đá tranh giành lẫn nhau, cho rằng con người chỉ là cục thịt, là protein, chết đi thì tiêu mất không còn gì, chết là hết tất cả, có gì phải lo lắng đâu. Thế nên con người phóng túng làm càn, việc ác gì cũng dám làm, ngày càng tiến dần vào vực sâu tội ác, khiến đạo đức xã hội tiêu tan, khiến tội ác hoành hành trong mọi ngóc ngách cuộc sống.
Phép tắc nhân quả, thiện ác hữu báo là Thiên lý tồn tại khách quan, không bị thay đổi bởi ý chí chủ quan của con người, sẽ không vì con người cho rằng nó không tồn tại mà biến mất. Người xưa nói: “Xưa nay vận Trời đều tuần hoàn, báo ứng rõ ràng giữa thiện ác”. Vạn sự đều có nhân quả, “người đang làm Trời đang nhìn”. Từ xưa đến nay, thiện ác báo ứng không mảy may sai lệch, chỉ đến sớm hay đến muộn mà thôi. Cha Lý Tiểu Long là Lý Hải Tuyền giết người gây họa cho con cháu đời sau. Cha con Lý Tiểu Long đang sức dài vai rộng, chết ở tuổi thanh niên, tráng niên là minh chứng cho chúng ta thấy: Thiện ác ắt có báo ứng.
Theo Vision Times

-

Đức Phật là thầy dẫn đường bậc mô phạm đạo đức
Sự trải nghiệm trong suốt quá trình tụ tập của biết bao nhiêu bậc hiền Thánh đã đi trước, để lại cho chúng ta những lời chỉ dạy rất bổ ích, chúng tôi xin chân thành trình bày ra đây bằng tất cả tấm lòng với trái tim yêu thương và hiểu biết.
Sự sống của con người là luôn tìm kiếm hạnh phúc cho thể xác lẫn tinh thần, ai muốn tìm về cội nguồn của an lạc hạnh phúc thì phải tìm hiểu lại lịch sử, xem đức Phật là gì? Là ai? Chúng ta muốn học hỏi và bắt chước đi theo con đường giác ngộ, giải thoát, thì ta phải biết đức Phật là ai trước khi tin Phật. Tin như như vậy là niềm tin chân chính vì có tìm hiểu, học hỏi và tu tập. Phật có phải là con người lịch sử, hay là một đấng thần linh thượng đế như người cổ xưa đã gán cho Ngài, hoặc Ngài là một nhân vật huyền thoại không có thật.
Phật là danh từ chung, nói cho đủ là Phật-đà, nói gọn lại là Phật. Phật là người giác ngộ, là người tỉnh thức, là người vì lợi ích tha nhân, vì sự sống của con người, giúp cho mọi người biết cách làm chủ bản thân, tin sâu nhân quả, tin chính mình chủ của bao điều họa phúc.
Trước khi thành Phật, Ngài là hoàng thái tử chuẩn bị kế thừa ngôi vua ở đất nước Ấn Độ. Ý thức được sự khổ đau của nhân loại vì bị sinh – già – bệnh – chết, Ngài chấp nhận từ bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, thần dân thiên hạ, để ra đi tìm cầu chân lý, giúp cho mọi người thoát khỏi sinh - già – bệnh – chết.
Sau 5 năm học và tu với hai vị đạo sư nổi tiếng thời bấy giờ. Ngài vẫn không hết được phiền muộn, khổ đau do tham – sân – si chi phối. Nghe nói lối tu khổ hạnh ép xác, hành hạ thân thể sẽ thành tựu đạo quả, nên Ngài kiên trì, bền bỉ thực hành liên tục sáu năm, cho đến khi thân thể chỉ còn lại da bọc xương, và cuối cùng Ngài ngất xỉu.
Nhờ một cô thôn nữ cúng dường bát sữa, Ngài tỉnh lại và tìm ra lối tu trung đạo, ăn uống vừa đủ để nuôi sống thân này, và dùng trí tuệ để phá tan vô minh phiền não. Cuối cùng, Ngài đã biết cách làm chủ bản thân, an nhiên, tự tại giải thoát, không còn bị mọi dục vọng trên cõi đời này làm lung lạc, và thành Phật.
Điểm đặc biệt ở đây là, Ngài là một con người bằng xương bằng thịt, giống như tất cả mọi người chúng ta. Ngài cũng được sinh ra từ bụng mẹ, lớn lên Ngài vẫn có vợ, có con như tất cả mọi người. Ngài là một con người đi tu, và cuối cùng thành Phật để cứu độ chúng sinh. Chúng ta cũng là con người, nếu ai chịu tu theo lời Ngài chỉ dạy, thì cũng sẽ thành Phật trong tương lai.
Trong các bản kinh Ngài thường nói rằng “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”. Ai trong chúng ta đều có khả năng thành Phật như Ngài, bởi vì Phật là tánh biết sáng suốt ngay nơi thân mỗi người, chỉ vì chúng ta chẳng chịu thừa nhận, nên đời đời kiếp kiếp sống trong đau khổ, lầm mê. Phật là con người như tất cả mọi người, vẫn sống làm việc, phục vụ vì lợi ích chúng sinh, không tham lam, sân hận, si mê, dính mắc như người đời.
Thế cho nên, trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Bồ-tát Thường Bất Khinh dù bị người mắng chửi, đánh đập, nhưng vẫn không buồn, không giận, không oán, không ghét, mà còn nói rằng “tôi không dám khinh các người, vì các người đều sẽ thành Phật”. Bồ-tát Thường Bất Khinh suốt cả cuộc đời chỉ làm một việc nhắc nhở mọi người đều có tính Phật sáng suốt.
Người Phật tử hãy nên nhớ, hạnh phúc trong cuộc sống đời người không thể kéo dài mãi mãi vì bản chất của nó là vô thường đổi thay.
Thất bại là mẹ của thành công với những người có ý chí và quyết tâm cao độ, chính sự thất bại đã dạy cho ta những bài học kinh nghiệm để làm mới lại chính mình.
Thực tế cho chúng ta thấy, đức Phật là người dám buông xả hết tất cả những gì thế gian mong muốn, để dấn thân đóng góp, phục vụ, giúp đỡ, sẻ chia không biết mệt mỏi, nhàm chán bằng trái tim yêu thương, hiểu biết, giúp con người biết cách làm chủ bản thân, cùng nhau chia vui sớt khổ bằng tình người trong cuộc sống.
Về khía cạnh tâm linh. Phật giúp cho ta nhận ra tính biết sáng suốt đang tiềm ẩn nơi mỗi người, nương nơi mắt thì thấy rõ ràng không lầm lẫn, thấy tức là biết, biết mà không dính mắc, không bị dòng đời cuốn trôi, vậy không phải Phật tính là gì? Tai - mũi – lưỡi – thân – ý cũng lại như thế, ai nhận ra và trở về sống với chân tâm của mình thì đời đời kiếp kiếp sẽ thoát khỏi kiếp sống trong đau khổ lầm mê.
Làm phước, bố thí, cúng dường, giúp đỡ, chia sẻ, niệm Phật, tụng kinh, thiền quán, hồi hướng công đức cho tất cả chúng sanh, đó là những tiêu chí đầu tiên Phật dạy chúng ta. Nhờ vào công đức của những việc làm trên, ta sẽ giảm bớt lòng tham, ích kỷ, nhỏ nhoi, ti tiện.
Nhân quả tốt khi ta đã gieo, cho dù chúng ta không thấy kết quả ngay bây giờ, nhưng nó đang giúp chúng ta ngày càng sống tốt hơn. Những gì chúng ta đang thấy không phải thước đo chính xác của thực tại mà đó chỉ là ảo ảnh tạm thời trong dòng chảy của cuộc đời.
Thấy rõ sự sống của mình không thể tách rời nhau mà phải nương vào nhau, nên mọi người cần có trách nhiệm thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau bằng tình người trong cuộc sống với tinh thần chia vui, sớt khổ.
Tụng kinh nhằm mục đích hiểu lời Phật dạy, để ta biết được điều này, nhằm chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại.
Tụng kinh để thấm nhuần lời Phật dạy, có ích thiết thực trong việc hành trì, gội rửa thân tâm chúng ta ngày càng trong sạch hơn. Tụng kinh là cơ hội tốt nhất để ta học hỏi, tìm hiểu, tư duy, quán chiếu, soi xét lại chính mình. Nhờ thường xuyên nghiệm xét lời Phật dạy, chúng ta thấy biết rõ ràng chỗ si mê chấp ngã, làm tổn hại cho người và vật.
Chúng ta tụng kinh không phải để cầu nguyện, van xin Phật hay Bồ Tát giúp tai qua nạn khỏi, gia đình được hạnh phúc, làm ăn được khấm khá.
Mình tụng kinh để ba nghiệp thân-miệng-ý hằng thanh tịnh, nhờ thân ngồi ngay ngắn, miệng tụng lời Phật dạy, ý nhiếp tâm vào lời kinh, nhờ vậy ta cảm thấy bình yên, hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ.
Niệm Phật giúp ta nhớ nghĩ chân chính, không nhớ nghĩ lăng xăng, có hại cho mình và người. Niệm Phật tức nhớ Phật. Tâm Phật được được thanh tịnh, sáng suốt, thấy biết đúng như thật.
Niệm Phật là quá trình chuyển hóa ba nghiệp ác thành ba nghiệp thiện, có công năng dừng lắng được điều ác chưa sinh, không cho phát sinh, điều ác đã sinh, không cho tái phát. Niệm Phật để nhớ nghĩ việc làm tốt của Ngài để chúng ta cố gắng thực hành theo, nhằm soi sáng muôn loài vật.
Thiền quán để chúng ta thấy rõ sự sai biệt trong cuộc đời đều do con người tạo lấy, giàu nghèo, tốt xấu, nên hư, phải quấy, thành bại, được mất, hơn thua, thông minh, dốt nát, sống thọ, chết yểu đều có nguyên nhân sâu xa của nó. Người Phật tử chân chính ngoài việc học hỏi còn phải dùng thiền quán để soi sáng muôn loài vật.
Nhờ quán chiếu sâu xa lời Phật dạy, giúp chúng ta dễ dàng cảm thông và tha thứ, bao dung và độ lượng, giúp đỡ và sẻ chia, an ủi và nâng đỡ bằng trái tim yêu thương và hiểu biết, trong tinh thần đoàn kết hòa hợp với tấm lòng vô ngã, vị tha, không thấy ai là kẻ thù của mình, chỉ có người chưa thông cảm với nhau mà thôi.
Chúng ta không thể thay đổi những gì mình mong muốn, nếu không dám đối mặt để tìm ra nguyên nhân mà tìm cách chuyển hóa các bế tắc cuộc đời. Quá khứ đã qua dù tốt hay xấu nó không phải là của mình vì ta đang sống trong giờ phút hiện tại bằng ý nghĩ, lời nói và hành động vì lợi ích nhân loại.
Nhờ hiểu và quán chiếu lời Phật dạy, chúng ta biết cách buông xả mọi chấp trước do bám víu vào xác thân này, mà có cuộc sống bình yên, hạnh phúc, và cuối cùng là phát nguyện hồi hướng.
Bài viết: "Đức Phật là thầy dẫn đường bậc mô phạm đạo đức"
Thích Đạt Ma Phổ Giác/ Vườn hoa Phật giáo