Search This Blog

Tuesday, March 13, 2018


LẬT LẠI VỤ ÁN XỬ TỬ MẤY NGÀN SĨ QUAN VIỆT MINH
Bùi Anh Trinh

Năm nay Tổng thống Trump quyết định cho giải mật những tài liệu về những ngày cuối cùng của Tổng thống Kennedy, trong đó cũng có đưa ra ánh sáng vụ giết oan gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm.  Người Việt giờ đây mới nhao nhao lên tiếng bênh vực Ngô Đình Diệm trong khi trước đây cũng chính người Việt tin vào bịa đặt của CIA mà nguyền rủa gia đình họ Ngô không tiếc lời.

Trong khi đó lịch sử Việt Nam còn một vụ án oan khác mà người Việt cố tình nhém đi sau khi Trung Cọng cho giải mật hồ sơ Cố vấn Trung Cọng chỉ huy Quân đội CSVN từ 1950 đến 1954. Mà trong đó có vụ giết hết những sĩ quan trí thức trong quân đội Việt Minh.  Vụ án này đã được đại Tá Phạm Quế Dương và Đạ tại tá Thanh Tịnh nêu ra từ năm 1988 nhưng bị nhém đi sau Hiệp ước Thành Đô 1990.

Thành lập “Quân đội Nhân dân”

Sau hồi ký của Bí thư Trung ương ĐCSVN Hoàng Tùng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho ra hồi ký “Đường Tới Điện Biên Phủ”.  Ngay trong những trang đầu Tướng Giáp ghi rõ một dấu mốc lịch sử của việc thay ngôi đổi chủ của đảng CSVN và lực lượng kháng chiến Việt Minh :

“Mao Trạch Đông nói :  Việt Nam đang cần trang bị 10 đại đoàn để đánh thắng Pháp, trước mắt hãy trang bị cho 6 đại đoàn có mặt ở Miền Bắc.”  ……“Ngay sau khi Bác trở về nước cuối tháng 3 năm 1950, các bạn Trung Quốc đã nhanh chóng thực hiện lời cam kết” ( Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, in lần 2, trang 14 và 15)…

“Cho tới hết năm 1950, ta đã tiếp nhận của Trung Quốc 1.200 tấn vũ khí, đạn dược, 180 tấn quân trang quân dụng, 2.634 tấn gạo, 20 tấn thuốc và dụng cụ quân y, 800 tấn hàng quân giới, 30 ô tô, 120 tấn xăng dầu và phụ tùng ô tô”(Trang 109).

Những đoạn trích dẫn trên đây cho thấy  kể từ 1950 Việt Minh đã đổi chủ.  Ông chủ mới đã thành lập quân đội mới với vũ khí, trang bị mới;  đổi tên từ “Bộ đội Việt Minh” thành  “Quân đội Nhân dân Việt Nam”. Hằng sư đoàn, trung đoàn được đưa sang TQ.  Chính Võ Nguyên Giáp dẫn 20 ngàn người đầu tiên sang Quảng Tây để được huấn luyện.  Ông kể :

“Tháng 4 năm 1950, 2 trung đoàn của 308 đi theo đường Hà Giang qua Mông Tự (Vân Nam) nhận vũ khí.  Tiếp đó, 1 trung đoàn của 312 đi theo đường Cao Bằng qua Hoa Đồng (Quảng Tây).  Bạn cũng chở gấp vũ khí sang Cao Bằng để trang bị tiếp cho 2 trung đoàn khác phải ở lại chiến trường để đối phó với quân địch…”

*Chú giải :  Như vậy truyền thuyết nói rằng quân đội Việt Minh từ giáo mác với gậy tầm vông mà đã dần dần biến thành Quân đội nhân dân với vũ khí hạng nặng để chọi với quân Pháp và chiến thắng là điều không thể có được.

Ngoài ra Võ Nguyên Giáp cũng xác nhận :  “Qua ba tháng luyện tập, được bắn đạn thật, các chiến sĩ tiến bộ khá nhanh.  Nhiều đồng chí Trung Quốc rất ngạc nhiên khi thấy bộ đội ta, từ cán bộ tới chiến sĩ, nghe giảng bài đều ghi chép rất nhanh, tỏ vẽ nghi ngại rằng trong quân đội Việt Nam có quá nhiều phần tử trí thức”

“Ta phải cố gắng làm cho bạn hiểu số đông cán bộ ta là học sinh, còn hầu hết chiến sĩ là thanh niên nông thôn, nhiều người chỉ bắt đầu học chữ sau khi vào bộ đội”.(trang 15).

Điều gì khiến các cán bộ Trung Quốc phải sợ trí thức trong quân đội Việt Nam?  Rõ ràng là họ không muốn quân đội của họ có lồng vào một số thành phần gai cấp thù địch.  Họ muốn đây là đội quân của Cọng sản, chiến đấu cho giai cấp vô sản, chứ không phải là đội quân kháng chiến yêu nước.

Loại bỏ trí thức trong vị trí chỉ huy, thay bằng bần cố nông thất học

Hồi ký của Tướng TQ Vương Chấn Hoa cho thấy ngay năm 1951 các cố vấn TQ đã phát hiện ra thành phần trí thức tiểu tư sản có trong đội ngũ QĐNDVN mới được thành lập ( Bộ đội Việt Minh cũ ) :

“Bởi vì Quân đội Nhân dân nói chung không đề bạt cán bộ trong chiến sĩ ( Bần cố nông ), mà là tuyển dụng học sinh thanh niên ( trí thức tiểu tư sản ) được học trường quân sự hoặc đợi huấn luyện tập huấn ngắn ngày, rồi phân phối về bộ đội làm cán bộ trung đội, đại đội… Đó là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sức chiến đấu của bộ đội. Trong cán bộ các cấp hiện có thành phần cũng khá phức tạp” ( Bản dịch của Dương Danh Di ).

“Thành phần khá phức tạp” nghĩa là “có cả thành phần giai cấp kẻ thù của chủ nghĩa CS”  ( Trí-Phú-Địa-Hào :  trí thức, tư sản, người gàu có tại nông thôn, người có uy tín trong dân chúng ).  Ảnh hưởng tới sức chiến đấu nghĩa là bộ đội trí thức hễ thấy chết thì lùi lại, trong khi chiến thuật biễn người của Mao Trạch Đông dạy cho chến sĩ thấy chết thì cũng cứ xông tới để được chết vinh quang (!!).

Hồi ký của tướng TQ Vương Chấn Hoa :

Tháng 8/1950, sau khi đoàn cố vấn Trung Quốc đến Việt Nam, phía Việt Nam chỉ cần cố vấn giúp đỡ về công tác quân sự, còn về công tác chính trị không muốn để cho cố vấn nhúng tay vào. … ( Dương Danh Di dịch ).

Cũng theo Vương Chấn Hoa, Tướng cố vấn trưởng Vi Quốc Thanh coi đây là “vấn đề nhức nhối”, ông buộc Nguyễn Chí Thanh và Võ Nguyên Giáp phải loại thành phần trí thức ra khỏi các vị trí chỉ huy:

“– Một là luân phiên huấn luyện cán bộ hiện có, nâng cao tố chất quân sự và trình độ chính trị của họ. – Hai là coi trọng đề bạt cán bộ từ trong chiến sĩ, từng bước thay đổi thành phần của đội ngũ cán bộ. …” ( Vương Chấn Hoa, Dương Danh Di dịch ).

Ngoài ra hồi ký của tướng cố vấn TQ Vương Nghiên Tuyền xác nhận Võ Nguyên Giáp có nhận được chỉ thị của Vi Quốc Thanh và có nói hùa theo :

 “Các chỉ huy cao cấp dự toạ đàm cuối cùng nhận thức được trong chiến sĩ thực sự có nhân tài, nên đề bạt cán bộ từ trong chiến sĩ ( Tức là lấy binh sĩ thất học thay thê cho cấp chỉ huy trí thức ) . Sau chiến dịch Biên Giới, Võ Nguyên Giáp đi cùng cố vấn pháo binh Đậu Kim Ba, xuống bộ đội mở ba cuộc chiến sĩ toạ đàm …”

“…Sau đó đồng chí ( Giáp ) nói với cố vấn:  Bộ đội cấp dưới ( binh sĩ thất học ) có những nhân tài cầm quân đánh giặc. Ý kiến của các đồng chí ( cố vấn TQ ) đúng, phải tìm nhân tài có kinh nghiệm tác chiến từ cấp dưới, đưa lên vị trí lãnh đạo, mới có thể nâng cao sức chiến đấu”. ( Dương Danh Di dịch ).

Thế nhưng sau này Võ Nguyên Giáp lại viết hồi ký đổ cho Nguyễn Chí Thanh chứ không phải cố vấn TQ :

“Anh Thanh (Nguyễn Chí Thanh) cho rằng phần lớn cán bộ sơ cấp, trung cấp của ta ( tiểu đội trưởng, trung đội trưởng và đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng) xuất thân từ tầng lớp Tiểu tư sản học sinh, chỉ mới giác ngộ về dân tộc, còn ít giác ngộ giai cấp nên thiếu kiên định.  Trọng tâm đợt chỉnh huấn này, nên nhằm vào cán bộ” ( Đường tới Điện Biên Phủ, in lần 2, trang 210 ).

Các cán bộ chỉ huy cấp trung đội, đại đội, tiểu đoàn là những người xuất sắc nhờ có kiến thức. Những người này được tinh lựa trong hàng ngũ binh sĩ mà lên;  vị trí chỉ huy của họ do được mọi người trong đơn vị tin tưởng mà đề cử ra.  Nhưng một điều trớ trêu là họ xuất sắc nhờ họ có học, nhưng sự có học của họ lại do vì xuất thân là con nhà tư sản.  Mà theo chỉ đạo của cố vấn La Quý Ba thì từ nay họ bị loại khỏi địa vị chỉ huy, thay vào đó là những anh Chí Phèo xuất thân bần cố nông thất học.

Và rồi thảm kịch bùng nổ khi Mao Trạch Đông cử cố vấn Kiều Hiểu Quang sang VN thực hiện Cách mạng Cải cách ruộng đất vào năm 1953.  Tướng TQ Vương Nghiên Tuyền ghi lại :

“…quân đội Việt Nam tiến hành chỉnh huấn quân sự, chính trị quy mô lớn vào hè thu năm 1953. Trước tiên triển khai chỉnh quân chính trị gần giống phong trào chỉnh quân kiểu mới của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, tiến hành giáo dục tố khổ, nâng cao giác ngộ giai cấp…”

“Hội nghị toàn thể lần thứ 4 Trung ương Đảng Lao động Việt Nam thông qua”Dự thảo cương lĩnh và chính sách ruộng đất” tháng 1-1953.. … tất cả cố vấn Trung Quốc trong quân đội Việt Nam đều lao vào công tác giúp quân đội Việt Nam” ( Thực hiện chiến dịch tố khổ ).

“ …. gần 10.000 cán bộ xuất thân từ công nông được thử thách trong chiến đấu đảm nhiệm các chức vụ quan trọng hơn…”( Dương Danh Di dịch ).

Gần 10.000 bần cố nông thất học được đưa lên làm chỉ huy.  Có nghĩa là gần 10.000 sĩ quan chỉ huy tài giỏi bị thay thế.  Họ bị hạ bằng phương pháp “tố khổ”, một hình thức giống như đấu tố trong Cải cách ruộng đất.  Kết quả của tố khổ là mấy ngàn sĩ quan chỉ huy bị giết.

Hồi ký của Hoàng Tùng : “Thuyết của họ là không dựa vào tổ chức cũ, mà tổ chức lại một số tổ chức khác của Đảng, họ phủ nhận hết các tổ chức khác như chính quyền, các đoàn thể.  Ai lãnh đạo cách mạng tháng 8 thành công, ai lãnh đạo cuộc kháng chiến từ năm 1945 đến năm 1953.  Thế mà họ thẳng tay bỏ hết, trong đó có mấy ngàn người bị xử tử”!

Không thể trách các cố vấn Trung Cọng, họ đều xuất thân thất học nên suy nghĩ của họ là suy nghĩ của bần cố nông.  Nhưng tồi bại cho Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Chí Thanh.  Hai ông đều là trí thức tiểu tư sản, xuất thân trường Tây, thế mà muối mặt nghe theo lời cố vấn giết oan mấy ngàn sĩ quan của mình.  Họ không có tội gì hết, chỉ có tội là yêu nước nhưng có tài nhờ có học !!

BÙI ANH TRINH

Hạnh phúc
Cao Huy Thuần
06:08' CH - Thứ tư, 27/07/2016
Quảng trường Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945. ”Hỡi đồng bào cả nước! Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc." Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa mở đầu bằng hai câu trích dẫn nguyên văn bản Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776 của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. "Life, liberty and the pursuit of happiness". Nhưng tức khắc, Tuyên Ngôn của Việt Nam đi thẳng vào đích: ”Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do“.

Trong bối cảnh 1945, không có gì hợp lý hơn, khéo léo hơn, chiến lược hơn cách khai triển ấy từ quyền của con người qua quyền của dân tộc. Ngay cả hạnh phúc, thường được hiểu như hạnh phúc của con người, đúng là có một dân tộc trùng phùng với hạnh phúc ngày 2-9-1945. Dân tộc đó hạnh phúc vì vừa chặt đứt xiềng xích nô lệ. Dân tộc đó hạnh phúc vì được độc lập, tự do.

Hôm nay, 60 năm sau ngày độc lập, tất nhiên hai chữ “hạnh phúc“ phải mang một nội dung khác. Ai hạnh phúc? Dân tộc cụ thể là ai? Bởi vì đây là một vấn đề lý thuyết, và bởi vì Tuyên Ngôn Độc Lập của Việt Nam viện dẫn Tuyên Ngôn Độc Lập của Mỹ và Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Pháp, tôi bắt buộc phải đặt mấy lời bàn luận sau đây vào khung cảnh lý thuyết của 1776 và 1789.

Cho đến nay, người Mỹ vẫn còn tự hỏi về lý do của cái quyền thứ ba trong ba quyền thiêng liêng, ”mưu cầu hạnh phúc", mà tác giả Thomas Jefferson đã đưa vào Tuyên Ngôn 1776. Tại sao Jefferson thay thế quyền thứ ba trong lý thuyết của Locke bằng ”pursuit of happiness" của ông? Locke, triết gia Anh mà tư tưởng đã chỉ đạo cho Jefferson lúc ông soạn thảo Tuyên Ngôn, đã kể ra ba thứ quyền bất khả chuyển nhượng: quyền được sống, quyền tự do và quyền tư hữu. Trước Locke, người ta còn tin rằng đất đai và hoa màu từ đất là của chung của nhân loại lúc khởi thủy. Biện minh cho thứ quyền thiêng liêng nhất mà chủ nghĩa tư bản vừa thành hình cần xác nhận long trọng - quyền tư hữu - Locke giải thích: bất cứ ai cũng là sở hữu chủ của những thành quả mà họ tạo ra bằng lao động của họ, trên đất đai cũng như trên tư bản mà họ tích lũy. Từ 1690, lúc tác phẩm của Locke ra đời, đến 1776, lúc Jefferson viết Tuyên Ngôn Độc Lập, chẳng lẽ quyền tư hữu đã hết thiêng liêng? Chẳng lẽ quyền đó đã có thể bị hạn chế? Hạnh phúc là cái gì mà Jefferson dám đem ra thay thế cho ngôi thứ ba trong chúa ba ngôi của chủ nghĩa tự do? Và ”mưu cầu hạnh phúc", việc đó ai mà chẳng làm thường ngày, tự nhiên như thở, đâu cần phải được công nhận quyền này quyền nọ, bất khả chuyển nhượng hay không ? Bàn tán chẳng bao giờ dứt. Nhưng điều hiển nhiên mà ai cũng thấy là tư tưởng của Locke chảy khắp châu thân của bản Tuyên Ngôn như những sợi máu hồng. Tư tưởng đó báo trước thế kỷ Khai Sáng: mọi chính thể chuyên chế là trái với luật tự nhiên bởi vì quyền lực phát xuất từ sự thỏa thuận của dân chúng. "Con người - Locke giải thích - vốn sinh ra là đã tự do, bình đẳng và độc lập, không một người nào có thể bị khước từ tình trạng đó và bị đặt dưới sự lệ thuộc quyền lực của một người khác mà không có thỏa thuận; bằng chính sự thỏa thuận đó, người ấy có thể chấp nhận tụ họp với những người khác và cùng nhau kết hợp thành xã hội để tự bảo tồn mình, để bảo đảm an ninh chung, thanh bình chung của cuộc sống, để hưởng thụ một cách bình yên tư hữu của họ và để được yên ổn khỏi bị ai làm thiệt hại".

Hạnh phúc của đời sống nằm trong khung cảnh chung đó. Thanh bình, yên ổn, hưởng thụ, không lệ thuộc ai, không sợ bị ai đè nén, chẳng phải đó là cái đích mà mọi người đều nhắm đến trong cuộc sống chung sao? ”Mưu cầu hạnh phúc“ bao gồm cả sự "hưởng thụ bình yên tư hữu của mình", đâu có gì khác nhau giữa thầy với trò, giữa nhà tư tưởng Anh cuối thế kỷ 17 và nhà lập hiến Mỹ giữa thế kỷ 18? Vinh danh Locke, Jefferson sáng tạo thêm một nét tài ba khi đưa cả một giấc mơ hạnh phúc vào bình minh của một dân tộc lập quốc. Không một quốc gia nào được thành lập, hoặc đang giành lại độc lập, mà không nuôi một ước mơ, một giấc mơ. Chỉ một chính quyền già nua mới không dám làm đám cưới với giấc mơ tiềm tàng trong dân tộc của mình, và cách mạng không có gì khác hơn là mang lại sức trẻ cho giấc mơ đó. Locke là nhà tư tưởng; Jefferson là người hành động, là nhà chính trị với ý nghĩa tốt đẹp nhất của chính trị, nghĩa là người đưa ra được một viễn tượng làm rung động tâm khảm của một cộng đồng.



Thế nhưng một câu hỏi khác lại gây bàn luận không ngớt: ai ”mưu cầu hạnh phúc"? Đó là hạnh phúc của mỗi cá nhân hay hạnh phúc của cả dân tộc?

Độc đáo của Tuyên Ngôn Độc Lập 1776 nằm cả ở đó, ở chỗ tuyên bố độc lập của một quốc gia mới khai sinh mà lại bắt đầu bằng quyền tự do, hạnh phúc của mỗi con người. Nếu người ta có thể mường tượng ra được thế nào là hạnh phúc của một dân tộc, ai có thể định nghĩa hạnh phúc của mỗi cá nhân là gì? Và nếu có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu cách quan niệm về hạnh phúc và có bấy nhiêu cách đi tìm hạnh phúc khác nhau, biết nghe ai bỏ ai, làm thỏa mãn cho ai, thiệt hại cho ai, biết đâu là hạnh phúc chung? Tuyên Ngôn của Mỹ đặt nền tảng trên chủ thuyết tự do, cho nên câu trả lời hợp lý nhất chỉ có thể tìm thấy trong tính lạc quan của chủ thuyết tự do: mỗi người theo đuổi một lợi ích riêng nhưng một bàn tay vô hình sẽ thu xếp tất cả vào một hài hòa chung. Trên lĩnh vực kinh tế, đó là bàn tay của thị trường. Trên tất cả mọi lĩnh vực khác của đời sống, từ chính trị chung cho đến hạnh phúc riêng, không ai có thể hiểu nước Mỹ nếu không nghĩ đến yếu tố tôn giáo, nghĩa là nếu không nghĩ đến bàn tay của Thượng đế. Thượng đế đã ban cho con người quyền tự nhiên theo đuổi hạnh phúc, vậy đó là lĩnh vực riêng tư giữa con người và Thượng đế, chính quyền không được can dự đến. Điều duy nhất chính quyền có thể làm là tạo một khung cảnh pháp lý được mọi người thỏa thuận để việc theo đuổi hạnh phúc của mỗi người được tự do. Còn thế nào là hạnh phúc, điều đó chỉ có thể tìm thấy trong trái tim của mỗi con người, và bởi vì con người là hình ảnh của Thượng đế, cái gì đó trong mỗi trái tim là giống nhau. Bởi vậy, mỗi người là khác nhau mà đồng thời cũng giống nhau, có muôn triệu cách theo đuổi hạnh phúc nhưng tựu trung cách nào cũng nhắm cùng một hướng. Khác với châu Âu, nước Mỹ không hề đối kháng giữa Thượng Đế và Tự Do, cả hai trộn lẫn với nhau làm một. Và khác với đạo Cơ Đốc trong lịch sử châu Âu, đạo Tin Lành ở Mỹ không dựng một Nhà Thờ trung gian giữa Thượng đế và mỗi tín đồ để cạnh tranh quyền lực với Nhà nước. Trên muôn triệu tự do riêng ở Mỹ, có một nguyên tắc tự do chung là Thượng đế. Thượng đế quy tụ tất cả, hài hòa tất cả. Chính trị ở Mỹ, trên nguyên tắc, không đi vào lĩnh vực tư, vì lĩnh vực tư đã có tôn giáo đỡ đầu. Chủ thuyết tự do và đạo đức Tin Lành nương tựa nhau tạo nên chất sống cho tâm hồn của dân tộc Mỹ và đem lại câu trả lời cho hạnh phúc riêng và hạnh phúc chung.

Khi ý niệm hạnh phúc bay từ Tuyên Ngôn Mỹ qua Cách Mạng Pháp, các tác giả của 1789 cũng cho "Đấng Tối Cao" hiện diện trong Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền, nhưng những quyền tự nhiên, thiêng liêng và bất khả chuyển nhượng không còn bắt ngưồn từ Đấng đó nữa mà bắt nguồn từ Thiên Nhiên, và quan niệm về hạnh phúc chuyển từ ý nghĩa cá nhân qua ý nghĩa tập thể, “bonheur de tous" trong Tuyên Ngôn 1789, ”bonheur commun" trong hiến pháp 1793. Hiến pháp này nói ngay trong điều 1 : ”Mục đích của xã hội là hạnh phúc chung". Làm thế nào để đi đến hạnh phúc chung giữa muôn triệu hạnh phúc riêng? Các tác giả 1789, lý thuyết gia của Khai Sáng, dựng lên một con người tự chủ, sinh ra đã có lý tính. Vấn đề là làm thế nào phát triển lý tính đó càng ngày càng cao để con người cư xử hợp lý với nhau trong xã hội. Giáo dục, vì vậy, luôn luôn chiếm vị thế trung tâm trong quan tâm của Cách Mạng, và hạnh phúc được quan niệm như trùng hợp với sự hiểu biết. Tranh chấp giữa hạnh phúc riêng và hạnh phúc chung sẽ được giải quyết bằng lý luận : nếu ai cũng hiểu biết chín chắn, đúng đắn về lợi ích của mình thì sẽ thấy rằng lợi ích đó nằm trong tương thân tương trợ lẫn nhau giữa tất cả mọi người. Hơn thế nữa, với ánh sáng của lý tính, con người dễ thấy được tính tự nhiên thích hợp quần của mình: mỗi người hành động theo khuynh hướng tự nhiên muốn bảo tồn mình, phục vụ mình, nhưng đồng thời cũng có khuynh hướng tự nhiên khác thúc đẩy đến với người khác vì lòng trắc ẩn, vì tính nhân từ. Các nhà Cách Mạng Pháp thích dùng chữ ”bienfaisance" để chỉ tính nhân từ đó, thay thế chữ "bác ái" nặng màu sắc tôn giáo. Họ lạc quan: nếu có tranh chấp về quyền lợi thì đó là vì con người chưa hiểu thấu đáo quyền lợi của mình, vì lầm lạc, mê muội. Tiến bộ, tiến bộ không ngừng về mọi mặt, từ khoa học cho đến đạo đức, sẽ đưa con ngưòi đến với hạnh phúc trên trần thế. Khi Saint-Just tuyên bố rằng "hạnh phúc là một ý tưởng mới ở châu Âu", ông muốn chỉ trích chính cái căn bản của đời sống đạo đức trước 1789: cho đến lúc đó, tất cả đời sống trên thế gian đều hướng về cứu cánh duy nhất là được bay lên sống vĩnh viễn hạnh phúc trên thiên đường. ”Mục đích của xã hội là hạnh phúc chung", tuyên ngôn đó nhằm đưa hạnh phúc từ trên trời xuống mặt đất, từ thiểu số ngự trị nhờ tôn giáo, quyền lực và tiền bạc đến tất cả mọi người trong xã hội.

Trong tư tưởng của 1789, Rousseau chiếm một vị trí đặc biệt. Ông không nghĩ rằng cuộc chơi tự do giữa những lợi ích riêng, dù được suy nghĩ đúng đắn, có thể đưa những ý muốn cá nhân trôi xuôi một dòng về lợi ích tập thể. Trên điểm này, ông không chia sẻ niềm lạc quan duy lý với các lý thuyết gia của chủ nghĩa tự do, nhất là với Locke. Vấn đề này, theo ông, không thể giải quyết được nếu không đưa đạo đức vào chính trị: Nhà nước phải thực hiện công bằng, nghĩa là loại trừ những bất bình đẳng xã hội, nguồn gốc của tai họa và chia rẻ, và phải được xây dựng trên đạo đức của mỗi công dân. Khi công dân họp nhau lại để bàn việc công, họ không biểu quyết một luật lệ vì luật lệ đó hợp với lợi ích riêng của họ nhất, mà phải tự vấn lương tâm, trong lặng yên của cảm xúc, xem luật đó có hợp với lợi ích chung hay không. Làm công dân, chính là biết nghe theo những đòi hỏi đạo đức như vậy, và do đó, xét cho cùng, chính phong tục, tập quán tạo nên thống nhất, sức mạnh và sự trường tồn của một Nhà nước chân chính. Xây dựng một Nhà nước chân chính như vậy quả là một thách đố với lịch sử, nhất là với giai đoạn lịch sử của Rousseau, hằn lên thù hận, bất công, bạo lực, chuyên chế, thoái hóa đạo đức. Cách duy nhất để tiến tới mục đích là phải biết dung hợp Tự Do và Đạo Đức, tự do để con người vẫn là con người tự chủ như triết lý Khai Sáng tôn vinh, đạo đức để những con người tự chủ đó sống tương thân tương ái trong một đoàn thể bền vững. Một Nhà nước dân chủ, theo Rousseau, phải biết giáo dục công dân : đó lá một Nhà nước giáo dục và được giáo dục. Về điểm này, Rousseau đồng ý với các tác giả đương thời: giáo dục mở ra vô tận vô biên khả năng ; giáo dục đưa con người vượt lên trên con người, cao hơn, tốt hơn, hiểu biết hơn và đồng thời gắn bó hơn, yêu mến hơn cộng đồng trong dó mình sống. Rousseau là người đầu tiên đưa ra ý nghĩ về tôn giáo công dân mà ông muốn thực hiện trên các nước châu Âu đã làm cách mạng để đưa hạnh phúc từ trên trời xuống mặt đất.

Hiểu biết hơn ai hết về sức mạnh của trái tim và của tính thiêng liêng nằm trong trái tim ấy, Rousseau thấy vô cùng cần thiết phải dùng chất tôn giáo để tạo keo sơn trong xã hội, nhưng không phải là tôn giáo thần quyền đã bị cách mạng kết án, mà là một thứ tôn giáo thuần túy công dân do dân chúng tối thượng định ra, dựa trên “những tình cảm hợp quần tự nhiên" nơi con người, và tóm lược trên vài nguyên tắc căn bản: có một Đấng Thiêng Liêng đầy năng lực, thông minh, nhân từ, thấy trước mọi việc, hằng cứu giúp ; có một đời sống sau đời sống này ; có hạnh phúc cho kẻ sống chân chính, trừng phạt cho kẻ bất nhân ; có tính thánh thiện trong hợp đồng xã hội và trong luật pháp. Tính thiêng liêng và tính xã hội quyện lẫn với nhau trong mối dây tình cảm buột chặt cá nhân với nhau và tất cả với tổ quốc của họ. Do đó, tôn giáo công dân thể hiện ý nghĩa thực sự của chính trị, bởi vì, theo Rousseau, chính trị không phải là nghệ thuật cai trị con người mà là nghệ thuật làm cao thượng tâm hồn con người. Rousseau không thấy nước Mỹ; ông đâu có biết rằng ý tưởng "tôn giáo công dân" của ông là cơm ăn nước uống trong thể chế của Mỹ, nét độc đáo mà chỉ riêng nước Mỹ nắm được bí quyết nhờ những điều kiện lịch sử, tôn giáo đặc thù.

Như vậy, dù với bàn tay của Thượng đế hay với bàn tay của giáo dục, hạnh phúc của cá nhân trong xã hội không thể quan niệm thiếu vắng đạo đức. Mà đạo đức đúng là nằm sẵn trong trái tim của con người. Một cách tự nhiên, khó ai có thể sung sướng trên đau khổ của người khác. Cũng một cách tự nhiên, không thiếu gì người trong xã hội lấy hạnh phúc của kẻ khác làm hạnh phúc của mình. Một xã hội có giáo dục là một xã hội biết tăng trưởng lên mãi lớp người như vậy. Lớp người đó càng tăng, xã hội càng đi gần đến mức lý tưởng : nếu ai cũng biết nghĩ đến hạnh phúc của người khác, mọi người sẽ nghĩ đến hạnh phúc của nhau và, rốt cuộc, hạnh phúc của mỗi người cũng là hạnh phúc của tất cả.

* * *

Tôi không muốn được ru ngủ mà cũng không muốn ru ngủ ai bằng mơ mộng, khẩu hiệu hay lý tưởng. Nhưng tôi nghĩ: không thể có cách nào khác để hiểu hai chữ ”hạnh phúc” trong châm ngôn ”Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc“ ngoài lý tưởng vừa nói ở trên. Tôi lại càng có lý do để tin chắc như vậy vì tình cờ run rủi thế nào mà mùa hè chuẩn bị lễ kỷ niệm 60 năm Tuyên Ngôn Độc Lập lại trùng hợp với một biến cố văn học, báo chí, truyền thông kỳ lạ xảy ra trong thời gian tôi ở trong nước, tưởng chừng như biến cố đó đến để giúp tôi giải quyết trọn vẹn câu hỏi về ý nghĩa của hạnh phúc trong bản Tuyên Ngôn giữa thời buổi thanh bình này. Cả nước, tôi thấy cả nước, từ em học sinh đến ông thủ tướng, cả nước xúc động về một quyển Nhật Ký được khám phá ra sau 35 năm nằm trong bóng tối, cả nước khâm phục, ngưỡng mộ, hãnh diện về một nữ bác sĩ anh hùng đã chiến đấu và hy sinh trong vùng lửa đạn khét tiếng Đức Phổ để bảo vệ một bệnh xá lẻ loi chăm sóc thương binh giữa đồi núi Ba Tơ. Cả thế gian này, chắc không mấy ai chết oanh liệt như cô gái trẻ Đặng Thuỳ Trâm: một mình một súng, cô đã cầm chân 120 địch thủ bao vây để thương binh có đủ thì giờ tản đi nơi khác; một mình cô đã gục ngã bên cạnh một bị sách vở, với một viên đạn ghim ngay giữa trán. Cô chết để người khác sống.

Nhưng không phải vì cái chết oanh liệt của Đặng Thuỳ Trâm mà tôi mời chị vào đây nói chuyện với chúng ta về hai chữ hạnh phúc. Tôi mời chị vì chị vừa anh hùng vừa bình thường, anh hùng trong hành động, bình thường trong suy nghĩ, cảm xúc. Chị không phải là bà thánh để thiên thần mời chị lên nói chuyện hạnh phúc ở trên trời. Chị cũng biết yêu đương, tự ái như bất cứ ai, và chị cũng từng mơ mộng về hạnh phúc riêng. Về chị, nhà văn Nguyên Ngọc đã nhận xét với tất cả trìu mến: ”trong cuộc chiến tranh vô cùng dữ dội đó, chúng ta đã thắng chính là vì chúng ta, cũng như chị, là những con người rất đa cảm. Những con người rất người“. Rất người, anh Nguyên Ngọc viết: ”trong nhật ký của Thuỳ Trâm, hầu như không có trang nào chị không viết về nỗi buồn“. Rất người, nhưng kỳ lạ thay, lại rất biện chứng, biện chứng đặc sệt tiểu tư sản, ”một người nữ anh hùng hầu như đêm khuya nào cũng ngồi buồn một mình và ... khóc. " Chính vì chị cũng biết buồn và biết khóc như ai, cho nên quan niệm của chị về hạnh phúc không có gì xa vời, không ra ngoài tầm tay của những người bình thường trong thời buổi bình thường này.

Vậy thì Thuỳ Trâm quan niệm hạnh phúc như thế nào? Tôi bắt chước anh Nguyên Ngọc, nhưng tôi đi ngược với anh: tôi đếm được trong nhật ký của chị rất nhiều chữ vui và nhiều chữ hạnh phúc. Hầu như lúc nào chị khóc, ấy là chị cười ngay; lúc nào chị buồn, ấy là chị vui liền. Tôi trích nhé:

”Khóc ư Thuỳ? Đừng chứ, hãy dũng cảm kiên cường trong mọi tình huống, hãy giữ mãi nụ cười trên môi dù trăm nghìn vạn khó khăn nguy hiểm đang đe dọa quanh Thuỳ."

Chị viết cho mẹ: ”Địch càn lên súng nổ rần rần con vẫn cười, bình tĩnh ra công sự. Địch tập kích vào căn cứ, vừa chạy địch có đêm phải ngủ rừng con cũng vẫn cười, nụ cười vẫn nở ngay cả khi tàu rọ và HU-IA quăng rocket xuống ngay trên đầu mình...". Tất nhiên, ban đêm sau đó anh Nguyên Ngọc lại bắt chợt chị khóc, ”nước mắt thấm mặn yêu thương chảy tràn trên đôi mắt của con". Có gì lạ đâu, nơi chị, nước mắt và nụ cười là hai mặt của một hạnh phúc mà chị sống hết mình, tràn trề, trung thực, trong sáng.

Trích thêm một câu nữa thôi, viết trong ngày sinh nhật 27 tuổi, ngót 5 năm sống giữa đạn bom :

”Ở đây Thuỳ không có những giây phút ấm áp giữa bạn bè bên lọ hoa nhỏ với những bông hồng thơm ngát để trên bàn. Ở đây Thuỳ không có cái hạnh phúc đi cạnh người yêu trên con đường vắng khi ánh chiều tím dần trong buổi hoàng hôn. Ở đây Thuỳ thiếu nhiều nhưng cũng rất đầy đủ. Cho nên Thuỳ hãy cười đi, hãy vui đi khi vở đời mở sang một trang mới đầy vinh quang, đẹp đẽ."

Thuỳ Trâm đã làm địch thủ của chị sửng sốt vì chị có thể bình yên một cách tự tại sau một ngày lửa đạn, nhìn ” rừng chiều sau một cơn mưa, những lá cây xanh trong trước ánh nắng, mỏng manh xanh gầy như bàn tay một cô gái cấm cung."

Tôi trích nhiều Thuỳ Trâm ở đây là vì vậy, là vì tôi không đưa ra một người anh hùng xa xôi, cao vọi nào trong thần thoại tuyên huấn để nói chuyện hạnh phúc tầm thường của tôi : tôi nhờ một người bình thường như chị, bình thường trong suy nghĩ, trong cảm xúc, để trả lời cho tôi: hạnh phúc là gì? Và chị trả lời như ai cũng biết.

Thứ nhất, hạnh phúc là sống trong hạnh phúc của người khác :

”Lòng sung sướng biết bao nhiêu khi thấy rằng có rất nhiều đôi mắt nhìn mình cảm thông thương yêu mến phục. Đó là những đôi mắt học sinh mong đợi mình lên lớp. Đó là đôi mắt của các bệnh nhân mong mình đến bệnh phòng ... Vậy là đủ rồi, Thuỳ ạ, đừng đòi hỏi cao hơn nữa. Cả Đức Phổ này đã dành cho mình một tình thương yêu trìu mến. Đó là một ưu tiên rất lớn rồi."

Thứ hai, hạnh phúc là sống vì hạnh phúc của người khác :

”Thuỳ ơi! Bi quan đấy ư? Hãy nhìn lại đi, bên cạnh Thuỳ có bao nhiêu đồng chí, bao nhiêu thanh niên đã cống hiến tuổi trẻ của họ cho cách mạng, họ ngã xuống chưa hề được hưởng hạnh phúc. Sao Thuỳ lại nghĩ đến riêng tư. Đừng nhìn ra Bắc, hãy nhìn ở đây, ở mảnh đất còn nóng bỏng đạn bom đau thương và lửa khói này. "

Thứ ba, hạnh phúc là dâng hiến:

"Cuộc sống vô cùng anh dũng, vô cùng gian nan, chết chóc hy sinh còn dễ dàng hơn ăn bữa cơm. Vậy mà người ta vẫn bền gan chiến đấu. Con cũng là một trong muôn nghìn người đó, con sống, chiến đấu và nghĩ rằng mình sẽ ngã xuống vì ngày mai của dân tộc. Ngày mai trong tiếng ca khải hoàn sẽ không có con đâu. "

Đừng tưởng những người dâng hiến không biết gì đến hạnh phúc riêng. Ai trong chúng ta cũng biết dâng hiến, bởi vì ai trong chúng ta cũng có lòng hướng thượng. Chỉ khác nhau một chỗ thôi là có kẻ nhiều người ít và tùy hoàn cảnh, tùy môi trường. Gặp hoàn cảnh, cả triệu người có thể hành động không khác Thuỳ Trâm. Anh Nguyên Ngọc trích lời của một cô bạn vô danh: "Thật ra cũng chẳng có gì ghê gớm lắm đâu. Ngay như em đây, trong hoàn cảnh đó chắc chắn em cũng sẽ sống đúng như vậy, hành động đúng như vậy.” Môi trường tốt, tình cảm tốt. Tình cảm tốt, dâng hiến cũng trở thành tự nhiên, đâu cần giết chết riêng tư?

"Mình sẽ về chắt chiu vun xới cho tổ ấm gia đình, mình sẽ biết quý từng phút, từng giây hòa bình ấy bởi vì có sống ở đây mới hiểu hết giá trị của cuộc sống. Ôi ! Cuộc sống đổi bằng máu xương, tuổi trẻ của bao nhiêu người. Biết bao nhiêu cuộc đời đã chấm dứt để cho cuộc đời khác được tươi xanh. "

Tôi có cảm tưởng không một lý thuyết gia nào giải thích cho tôi rõ hơn thế nào là " quyền mưu cầu hạnh phúc » thế nào là " quyền sung sướng ", đâu là quyền của dân tộc, đâu là quyền của con người. Đố ai giải thích được quyền đó mà không đặt quyền lợi vào khung cảnh đạo đức của tương quan giữa người với người, giữa người với tập thể của mình. Trong cuộc sống xô bồ diễn ra chung quanh tôi, hầu như tôi chỉ nghe nói đến chuyện làm giàu, tuồng như làm giàu thì không cần gì đạo đức, làm giàu là tranh nhau chụp giật, lẫn lộn công tư, mọi con đường đều dẫn đến một cái túi. Chung quanh tôi, người ta bình thản nhìn bất bình đẳng, bất công, tuồng như bất bình đẳng là chuyện tự nhiên, không phải là nguồn gốc của cách mạng, không phải là cái đích mà Rousseau nhắm đến trước tiên, khai hỏa. Hình như cả giáo dục cũng biến mất; cả giáo dục cũng đã thành tiền bạc, thị trường mất rồi. Ở đâu mà một thiểu số được ưu đãi một cách bất chính thản nhiên tích lũy vui thú trên bất hạnh chung quanh, ở đấy chẳng lẽ cứ lôi đế quốc với thực dân ra để đòi hạnh phúc?

Tôi nghe như có giọng một cô gái trẻ tiếp nối giọng của người xưa đọc Tuyên Ngôn ở đâu đó: "Ôi, giấc mơ hòa bình độc lập đã cháy bỏng trong lòng 30 triệu đồng bào ta từ lâu rồi. Vì nền hòa bình độc lập ấy mà chúng ta đã hy sinh tất cả. Biết bao người đã tình nguyện hiến dâng cả cuộc đời mình vì bốn chữ độc lập, tự do. Cả mình nữa, mình cũng đã hy sinh cuộc sống riêng mình vì sự nghiệp vĩ đại ấy."

Độc lập, tự do, chị đã trả bằng thịt xương của chị. Chị biết đối thủ. Chào mừng Tuyên Ngôn năm nay, chị bảo tôi gởi đạo đức hạnh phúc của chị đến ai?

MẶT TRẬN BAN MÊ  THUỘT

Phạm Huấn




Thiếu Tướng Phạm Văn Phú

Ngày 9 tháng 3, 1975.
Đó là một ngày Chúa Nhật. Sau bốn ngày tại mặt trận Bình Định, mãi tối mịt hôm trước chúng tôi mới về tới Nha Trang. Và chúng tôi vừa chết hụt khi chiếc trực thăng hầu như mất thăng bằng trong những cơn lốc xoáy, lúc bay ngang qua Vũng Rô gần Tuy Hòa.

Khi chuông điện thoại reo lên, nhìn đồng hồ mới 8 giờ sáng, mắt tôi cay xè và thật khó chịu. Giọng nói quen thuộc của Tân, một Sĩ quan Tùy viên khác ở Nha Trang, và cũng là em vợ Tướng Phú vang lên từ đầu giây bên kia:
- Ông Tướng mời anh vào bay gấp!
Ngừng lại một giây, Tân nói tiếp:
- Nhưng ông ấy mới chuẩn bị ăn sáng. Chừng 15 phút nữa anh ra thẳng phi trường, tôi lái xe về cho. Ông Tướng bay C-47, tầu bay đậu ở khu VIP bên dân sự!

Và Tân cúp máy.

Tôi linh cảm thấy một chuyện gì quan trọng sắp sửa xảy ra. Tình hình quân sự tại chiến trương Cao nguyên sau khi Phước Long mất thật nghiêm trọng. Các quốc lộ huyết mạch 19, 21 nối liền Cao nguyên và Duyên hải đã bị cắt nhiều đoạn. Tỉnh Quảng Đức đang bị đe dọa nặng. Tại mặt trận Bình Định, các đơn vị của Sư đoàn 22 Bộ binh gần như quần thảo hàng ngày với Sư đoàn 3 Sao Vàng của Công Sản Bắc Việt. Mặt trận Nam Pleiku, Bộ Tư lệnh Hành quân của Sư đoàn 23 Bộ binh bị pháo liên miên.

Nghe tiếng sóng biển, nhìn qua cửa sổ của chiếc trailer, tôi thấy chân trời xa tít, và nắng lên thật đẹp. Tôi bước ra ngoài. Trước khi lái xe ra phi trường, tôi đã để ra giây phút nhìn cái trailer nằm sát biển Nha Trang, vì tự nhiên linh cảm rằng sẽ chẳng bao giờ trở lại đây nữa. Cái trailer, hay đúng hơn là nơi nghỉ mát của một viên cố vấn Mỹ trước kia, ông Tướng Tư lệnh phó đặc trách bình định phát triển, ông Tỉnh trưởng Khánh Hòa đều muốn nhận làm của riêng mình. Nhưng Tướng Phú đã cho tôi "mượn" dùng làm nơi tạm trú mỗi lần ghé Nha Trang.

8 giờ 40 sáng, chiếc C-47 từ bãi đậu VIP phía dân sự phi trường Nha Trang tiến ra phi đạo. Đây là chiếc máy bay chỉ huy của Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng Hoài. Mỗi năm cứ mùa mưa đến, ông cho biệt phái chiếc Dakota 2 động cơ này lên cho Tư lệnh Quân đoàn II sử dụng. Bởi vì chiến trương Quân khu II gồm 2 mặt trận cao nguyên và duyên hải; thời tiết luôn xấu và sương mù. Những khi khẩn cấp nếu sử dụng trực thăng hoặc phi cơ nhỏ trên những chặng đường dài Pleiku, Phan Thiết, Bình Định phải bay rất lâu và nguy hiểm.

Lúc phi cơ sắp sửa cất cánh, Tướng Phú nói với tôi:
- Hôm nay mình lên Ban Mê Thuột. Quận Đức Lập, Quảng Đức hiện đang bị pháo rất nặng, có thể bị mất ... 

Và ông hỏi Hóa, Sĩ quan Tùy viên, về cái lệnh mời Chuẩn tướng Lê Trung Tường, Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, hiện là Tư lệnh mặt trận nam Pleiku, và Đại tá Nghìn, Tỉnh trưởng Quảng Đức và Ban Mê Thuột họp sáng nay.

Nhìn vẻ mặt đăm chiêu, nghiêm trọng của Tướng Phú, tôi biết rằng Ban Mê Thuột sẽ vô cùng nguy ngập, nếu Đức Lập và Quảng Đức mất.

Tháng trước trong một buổi họp với Tư lệnh mặt trận nam Pleiku, sau khi xếp đặt ưu tiên cho từng mặt trận, Tướng Phú đã ra lệnh cho Đại tá Vũ Thế Quang, Tư lệnh phó Sư đoàn 23 Bộ binh về Ban Mê Thuột chỉ huy, và tăng cường thêm cho Ban Mê Thuột một đơn vị pháo binh 155 ly.

9 giờ 45 phút Tướng Phú tới phi trường Phụng Dực.

Sau những cái bắt tay vội vã, ông cùng với Chuẩn tướng Lê Trung Tường và Đại tá Nguyễn Công Luật, Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột về Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh.

Khi đoàn xe đi ngang qua dinh Tỉnh trưởng, thấy một số sĩ quan mặc đồ trắng đánh tennis, Tướng Phú tỏ vẻ khó chịu, và ngay lập tức ra lệnh cấm trại 100%. Tới Bộ Tư lệnh Sư đoàn, ông hối hả bước vào Trung tâm Hành quân.

Tình hình Đức Lập vô cùng nguy ngập. Các đồn phụ đã bị "bứt". Chi khu bị pháo từ 6 giờ sáng, và quân chính qui Cộng sản Bắc Việt đánh "trận địa chiến", và đánh ban ngày. Tiểu đoàn Địa phương quân đóng tại Núi Lửa cách Đức Lập 9 cây số bị địch tràn ngập sau một trận đánh đẫm máu. Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng và một số cấp chỉ huy khác bị Việt cộng sát hại.

Tương Phú bốc máy liên hợp và liên lạc thẳng với Trung tá Nguyễn Cao Vực, Quận trưởng quận Đức Lập. Ông được báo cáo Trung tá Quận trưởng đã bị thương, hiện ở ngoài chỉ huy và điều khiển nhưng khẩu đại bác 105 ly bắn trực xạ vào Cộng quân.

Đúng 10 giờ 30 phút sáng, quận Đức Lập biến thành biển lửa. Từ 12 giờ trưa đến 5 giờ chiều ngày 9 tháng 3, 1975, Tướng Phú họp với Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, các Tiểu khu trưởng Ban Mê Thuột và Quảng Đức để duyệt xét tình hình các mặt trận.

Sau khi chấp nhận những đề nghị của các giới chức liên hệ và cho những chỉ thị cần thiết, ông ra lệnh cho Đại tá Nghìn, Tỉnh trưởng Quảng Đức bay về trước. Tại Ban Mê Thuột, để cho có sự thống nhất chỉ huy, Tương Phú bổ nhiệm Đại tá Quang, Tư lệnh phó Sư đoàn 23 làm Tư lệnh chiến trường Ban Mê Thuột.

Các Tư lệnh mặt trận phải ra lệnh đôn đốc các đơn vị chuẩn bị và sẵn sàng chiến đấu trong 2, 3 tháng liên tiếp; tổ chức những cuộc hành quân xa ngoài thị xã và vị trí phòng thủ.

Kho xăng, kho đạn phải được phân tán, đề phòng đặc công Cộng sản Bắc Việt đánh phá. Lệnh thiết quân luật mỗi nơi được ủy nhiệm cho các Tư lệnh mặt trận toàn quyền định đoạt.

Hai quyết định quan trọng khác của Tướng Phú:
1. Tư lệnh mặt trận Ban Mê Thuột tùy theo tình hình, nếu cần cho phá hủy cầu 14 trên đường Quảng Dưc-Ban Mê Thuọt để làm chậm sức tiến của chiến xa địch.
2. Tư lệnh mặt trân Kontum tăng phái một Liên đoàn Biệt động quân cho mặt trận Ban Mê Thuột. Và Liên đoàn Biệt động quân này phải được đổ xuống Buôn Hô ngay chiều nay.

Sự có mặt của Tướng Phú tại Ban Mê Thuột ngày hôm nay, 9 tháng 3, 1975 với những quyết định có tính cách quan trọng và cấp bách ông vừa ban hành là cái "bén nhậy" của một tướng mặt trận, một vị Tư lệnh có kinh nghiệm chiến trường.

Ông làm việc liên miên ngay từ khi tới Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh. Khi quyết định tăng phái cho Ban Mê Thuột một Liên đoàn Biệt đông quân, vừa cầm dĩa cơm trên tay, vừa gọi máy ra lệnh cho Tư lệnh mặt trận Kontum cho các Tiểu đoàn Chiến đấu của Liên đoàn Biệt động quân được tăng phái, chuẩn bị di chuyển trong 2 giờ sắp tới.

Sau đó, ông cũng đích thân liên lạc với Tướng Sang, Tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân ở Pleiku, để vận dụng tất cả trực thăng cho cuộc đổ quân được hoàn tất thật nhanh. Vì thế, đợt đổ quân đầu tiên của Liên đoàn 2 Biệt động quân xuống Buôn Hô đã được thực hiện ngay chiều ngày 9 tháng 3, 1975. 

6 giờ chiều ngày 9 tháng 3, 1975 rời Ban Mê Thuột, Tương Phú ra lệnh bay thẳng lên Pleiku, thay vì trở lại Nha Trang nghỉ dưỡng sức. Và ngay buổi tối, ông vào làm việc, ở luông trong chiếc "bunker", chiếc hầm nổi chống pháo kích của Tư lệnh Quân đoàn còn đang làm dở dang, sát với Trung tâm Hành quân. Lệnh cấm trại 100% được ban hành.

Từ lúc trở lại Pleiku, Tướng Phú có vẻ bồn chồn lo nghĩ. Ông hút thuốc lá liên miên. 9 giờ tối, khi được báo cáo Liên đoàn 21 Biệt động quân tăng cường cho mặt trận Ban Mê Thuột đã được trực thăng bốc từ bắc Kontum thả xuống Buôn Hô, Tướng Phú thở phào nhẹ nhõm, và nói một mình:
- May ra thì ... còn kịp!
Rồi quay sang phía tôi:
- Này, "ông nhà báo", mình làm một tẩy mạt chược, khánh thành chiếc "bunker" mới!
Tiếp đó, ông ra lệnh cho Thiếu tá Hóa, Sĩ quan Tùy viên:
- Hóa! Chú mày điện thoại mời Đại tá Tham mưu trưởng và gọi Vinh. Bảo tụi nhỏ kiếm cái bàn vuông, bàn "dã chiến" cũng được.
Hóa có vẻ ngần ngại:
- Hôm nay Thiếu tướng bay từ sáng sớm, và giờ khuya rồi, tôi sợ Thiếu tướng mệt.
- Ồ! ăn thua gì, hôm nay tôi muốn thức khuya, chú mày đừng làm ta xui xẻo!

Hóa không nói thêm nữa, lẳng lặng gọi điện thoại mời Đại tá Lý và Thiếu tá Vinh, Chánh Văn phòng Tư lệnh Quân đoàn. Hóa là Sĩ quan Tùy viên của Tướng Phú từ hồi còn ở Sư đoàn 1; người miền Trung, ít nói, tính lầm lì và rất chịu khó làm việc.

Tướng Phú là người sống bình dị, khắc khổ, không uống rượu, ăn chơi. Cái thú duy nhất của ông là hút thuốc lá và thỉnh thoảnh đưỢc xoa vài tẩy mạt chược, "ăn thua" tượng trưng. Đây là môn "thể thao" vừa giải trí, vừa đấu trí! Canh mạt chược đêm 9 tháng 3, 1975 kéo dài khoảng hai giờ đồng hồ.

Và đó cũng là lần cuối cùng Tướng Phú được hưởng cái thú tiêu khiển này. Ông bị thua, thua cả ... 3 người!

Gần 1 giờ sáng, Tướng Phú gọi ra lệnh cho Đại tá Phạm Duy Tất, Tư lệnh mặt trận bắc Kontum:
- Anh nhớ theo dõi "thằng con" anh mới rời Kontum anh chiều nay. Bắt nó phải "bung" ra hoạt động ngay. Ngày mai tôi sẽ ra lệnh Đại tá Quang, Tư lệnh phó Sư đoàn 23 mang bộ chỉ huy hành quân lên đó ...
- ...
- Tôi nghe nói "thằng cha Dậu" là con gà chết. Nếu anh thấy hắn ta chỉ huy không được thì nên thay thế ngay. Đừng che chở, kẻo hỏng việc hết!
- Tôi xin tuân lệnh Thiếu tướng!

Đại tá Phạm Duy Tất, Tư lệnh mặt trận bắc Kontum và cũng là chỉ huy trưởng Lực lương Biệt động quân, Quân khu II. Trung tá Dậu, Liên đoàn trưởng Liên đoàn 21 Biệt động quân vừa được thả xuống Buôn Hô, đông bắc Ban Mê Thuột, và mới nắm quyền chỉ huy Liên đoàn Biệt động quân hơn 1 tháng nay!



 30 ngày trước khi Cộng quân tấn công Ban Mê Thuột, khi chưa bị rối loạn, chưa ban hành quyết định rút Cao nguyên, bỏ Huế; Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã đi khắp 4 Vùng Chiến thuật để ăn tất niên ngoài tiền tuyến với binh sĩ. Tại mặt trận bắc Kontum, vùng biên giới Lào-Việt, Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Chiến trường Cao nguyên, hướng dẫn Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa tới thăm một đơn vị Biệt động quân trên tuyến đầu.

"Người Lính Kèn" của Trường Võ Bị Đà Lạt

10 giờ 30 phút sáng ngày 9 tháng 3, 1975, quận Đức Lập tỉnh Quảng Đức biến thành biển lửa. Trước đó, hai viên đại bác 82 ly không giật của Bắc quân bắn trúng đài chỉ huy chi khu.

Đài chỉ huy sập. Người Sĩ quan An ninh tử trận tại chỗ. Trung tá Nguyễn Cao Vực, Quận trưởng bị thương, nhúng đầu vào lu nước, thoát ra ngoài. Ông Quận trưởng đích thân chỉ huy và điều khiển hai khẩu đại bác 105 ly, bắn trực xạ, ngăn chận những đợt xung phong biển người của quân Cộng sản Bắc Việt.

Bốn ngày trước, 5 tháng 3, 1975 một cuộc phục kích tại phía đông Buôn Dak Gang cách bắc Đức Lập 10 cây số. Lực lượng chi khu đã bắt được một tù binh thuộc Sư đoàn F10 Cộng sản Bắc Việt, và tài liệu tiết lộ Bắc quân sẽ đại tấn công Quảng Đức và Ban Mê Thuột, mở đầu chiến dịch Tây Nguyên 1975. Nhưng nguồn tin này, cũng như nguồn tin tình báo tương tự của tiểu khu Ban Mê Thuột, khi khai thác một sĩ quan tù binh Cộng sản Bắc Việt trong toán tiền thám của Sư đoàn 320 Điện Biên Phủ tại Bắc Ban Mê Thuột (tù binh Bắc Việt bị bắt ngày 7 tháng 3, 1975), đã không được Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh và Quân đoàn II "xếp hạng" là những nguồn tin quan trọng.

Hôm nay Sư đoàn F10 Cộng sản Bắc Việt nhất định san bằng quận Đức Lập để tiến quân về Ban Mê Thuột. Các công sự phòng thủ trên mặt đất sập hết, nhưng Quận trưởng Nguyễn Cao Vực và các chiến hữu của mình vẫn cầm cự chiến đấu dai dẳng ở các giao thông hào.

Nguyễn Cao Vực, người "pháo thủ" của các chiến trưỜng Chiến khu D 1960, Bu Prang 1968, Kontum 1972, cũng lính là "anh lính kèn người Thượng" với cái tên "Cai Son" của sinh viên sĩ quan khóa 13 trường Võ Bị Đà Lạt. Hạ sĩ Son, anh lính kèn là người đã mang đến cho các sinh viên sĩ quan những giây phút vui buồn đáng nhớ mỗi ngày. Từ điệu kèn báo thức, tập hợp đi ăn, cũng như mặc đồ trận, đeo ba lô buổi tối trình diện dã chiến khi bị phạt ... Nguyễn Cao Vực là người có sắc diện như một cái cột nhà cháy, nên được bạn bè đặt cho cái tên là "Cai Son". Và anh rất thích cái tên đó.

Tôi có khá nhiều kỷ niệm với Vực, vì cùng một trung đội trong hai năm học tại trường. Đầu năm 1960, khi tôi hướng dẫn Dickey Chapel - người nữ Phóng viên kỳ tài của thế giới, đã từng nhảy dù theo một lực lượng Mỹ xuống Okinawa trong trận Thế chiến II - đi hành quân tại chiến khu D, với một đơn vị nổi danh của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa thời đó là Trung đoàn 8 thuộc Sư đoàn 5 Bộ binh, thì Vực là Pháo đội trưởng Pháo đội 105 ly, tăng cường cho đơn vị này.

Thiếu tá Nguyễn Văn Tư, Trung đoàn trưởng đã giới thiệu với chúng tôi hai quân nhân thiện chiến và "chì" nhất của Trung đoàn. Đó là Trung úy Bác sĩ Lê Đình Kỳ và Pháo đội trưởng Nguyễn Cao Vực. Bác sĩ Kỳ là ngươi không thích hành nghề chuyên môn mà chỉ thích truyện trận mạc. Còn Vực được mệnh danh là một Pháo đội trưởng lì lợm, thiện xạ, bắn đâu trúng đó.

Một tuần lễ đi hành quân với Trung đoàn 8 Bộ binh trong Chiên khu D, Dickey Chapel và tôi thương ăn và ngủ chung với Bộ Chỉ huy của Trung đoàn, gồm Thiếu tá Tư, Bác sĩ Kỳ, Trung úy Vực, và Hiền. Hiền là Sĩ quan Hành quân của Trung đoàn và cũng tốt nghiệp khóa 13 Võ bị Đà Lạt.

Trong sáu người chúng tôi, lần lượt Đại úy Hiền, Đại tá Tư đều tử trận. Họ đã hy sinh tại vùng đất và đơn vị mà họ đã chiến đấu, phục vụ nhiều năm. Dickey Chapel, người mà tôi kính trọng như một người chị trong nghề phóng viên chiến tranh, cũng vĩnh viễn ở lại Việt Nam trên "dãy phố buồn thiu" ngoài chiến trương miền Trung.

Hôm nay đến lượt Nguyễn Cao Vực. Anh là một Quận trưởng bất đắc dĩ. Anh đã bị thả xuống Đức Lập, và trở thành Quận trưởng dù muốn hay không, giữa năm Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.

Và có thể đây là trận chót trong đời binh nghiệp người pháo thủ tài ba của Sư đoàn 5 Bộ binh, của chiến trường Cao nguyên, đã lại có dịp thi thố cái khả năng chuyên môn của mình. Hai khẩu đại bác 105 ly bắn trực xạ vào các đơn vị tiền phong Sư đoàn F10 Cộng sản Bắc Việt chắc chắn đã có một sự đánh đổi cân xứng trước khi và các chiến hữu của mình vùi ngập trong biển lửa.

Tôi tự hỏi, nếu Vực không thoát được trong trận này, còn lại Bác sĩ Lê Đình Kỳ và tôi, ai sẽ là người sống sót sau cùng, sau 20 năm chiến tranh dài của một đời người?

Các "Dũng Sĩ" Trung đoàn 53 Bộ binh  tại mặt trận phi trương Phụng Dực


Ngày 10 tháng 3, 1975
Những trận mưa pháo vào Ban Mê Thuột từ 2 giờ đến 4 giờ sáng rạng ngày 10 tháng 3, 1975 đã gây kinh hoàng cho mấy chục ngàn quân cũng như dân, hiện đang có mặt tại thị xã này.

Sau đó là những chiến xa đủ loại, băng rừng, nghiền nát các ngả đường, để các lực lượng của những Sư đoàn 320, 316 Cộng sản Bắc Việt ào ạt tiến vào.

Nhưng, những người kinh hoàng và đau đớn nhất là hai cấp chỉ huy có trách nhiệm phòng thủ Ban Mê Thuột: Đại tá Vũ Thế Quang và Đại tá Vũ Công Luật!

Đại tá Luật, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Ban Mê Thuột là một Sĩ quan Thiết giáp kỳ cựu của Quân lực Viêtn Nam Công Hòa. Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn I Thiết kỵ trong cuộc hành quân sang Lào 1971, người mà báo chí Việt Nam và ngoại quốc gọi là "Patton Việt Nam". Patton là danh tướng Thiết giáp của Mỹ trong Thế Chiến II. Đại tá Luật đã từng chỉ huy một Lực lượng Thiết giáp quan trọng và tối tân nhất của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, với những Thiết đoàn M48, M41 chiến xa trong cuộc tiến quân này.

Đêm nay Bắc quân đánh trận địa chiến vơi chiến xa nặng, với chiến thuật biển người, thì trong tay ông vỏn vẹn có được hai Chi đội Thiết vận xa M113 và những xe bọc sắt tuần tiễu của Địa phương quân. Một thứ "đồ chơi con nít" nếu so sánh với loại Thiết giáp tối tân T54 của Nga Sô mà Cộng sản Bắc Việt hiện đang sử dụng!

Đại tá Vũ Thế Quang, Tư lệnh phó Sư đoàn 23 Bộ binh và Tư lệnh mặt trận Ban Mê Thuột khi nghe những tiếng đạn bay xé không gian, nổ tại phi trường L19, trước tiểu khu, bộ Tư lệnh Sư đoàn, đã thấy ngay cái giá mà lực lương phòng thủ phải trả. Bởi vì những khẩu đại bác 122 ly, 130 ly của Bắc quân đã kéo sát tới thị xã!

Những tiếng đại pháo của địch nổ tại Ban Mê Thuột cũng đã làm cho các tướng lãnh nắm vận mạng Đất Nước bừng tỉnh. Họ tạm quên đi những hận thù, những tranh giành quyền hạn, phe phái. Tất cả đều hướng về mặt trận này!

Lệnh của Đại tướng Cao Văn Viên từ Bộ Tổng Tham Mưu Quân lực Viêt Nam Cộng Hòa được truyền đi lúc 7 giờ sáng. Của Tướng Trần Thiện Khiêm, Thủ tướng Chính phủ gọi từ Đà Lạt lúc 8 giờ 40 phút. Của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu gọi từ Dinh Độc Lập lúc 10 giờ 10 phút, và 19 giờ tối.

Trận đánh quyết định giữa hai miền Nam-Bắc đã xảy ra. Nhưng lực lượng giữa hai bên quá ư chênh lệch, như trứng chọi với đá nếu so sánh cả về quân số, vũ khí, chiến cụ. Địch đã ở thế thượng phong ngay từ lúc đầu!

Tuy nhiên, trong ngày đầu tinh thần chiến đấu của các dũng sĩ Trung đoàn 53 Bộ binh, sự gan dạ của những phi công anh hùng A37, của những chiến sĩ Địa phương quân tiểu khu Darlac, đã làm cho Bắc quân kinh ngạc, nể vì. Những tin tức phấn khởi bay đi khắp nước ngay khi "những cánh đại bàng" xuất hiện trên vùng trời Ban Mê Thuột.

Phi tuần phản lực A37 đầu tiên đã bắn cháy hai chiến xa, và hai cỗ đại bác phòng không của Cộng sản Bắc Việt ngay trong thị xã lúc 11 giờ 30 phút. Hai chiến xa khác cũng do không quân đánh bom trúng tại 2 cây số tây bắc Ban Mê Thuột. Lực lương Địa phương quân Darlac đã tạo một bất ngờ lúc 11 giờ trưa khi bắn cháy một T54 trước bộ Chỉ huy Tiểu khu ngay trên đường Thống Nhất!

Trận "thử sức" của các trung đoàn tiền phong quân chính quy thuộc Sư đoàn 320 Điện Biên Phủ và những "dũng sĩ" Trung đoàn 53 Bộ binh trên phòng tuyến quanh phi trường Phụng Dực xảy ra lúc 14 giờ.

Mở đầu là những trận mưa pháo, cầy nát sân bay. Từng đoàn chiến xa của Bắc quân gầm thét, di chuyển theo đội hình từ khắp ngả tiến vào.

Nhưng tinh thần các chiến sĩ ta không hề nao núng. Đây cũng không phải là "trận thư hùng" đầu tiên của các đơn vị tinh nhuệ của ta và địch.

Bởi vì trước khi rút về phòng thủ phi trường Phung Dực, Trung đoàn 53 tăng phái cho mặt trận Quảng Đức đã đụng độ với các trung đoàn chủ lực của Sư đoàn F10 rất nhiều lần trong những tháng trước, và mấy ngày mới đây với Sư đoàn 320 của Cộng sản Bắc Việt tại Đông Bắc Ban Mê Thuột.

Sau gần 2 giờ quần thảo, Trung đoàn 53 Bộ binh đã đẩy lui 3 đợt xung phong biển người của địch. 15 giờ 30, Bắc quân chém vè, để lại trên 200 xác và 50 vũ khí đủ loại, 4 chiến xa Cộng sản Bắc Việt bị bắn cháy.

Báo cáo chiến thắng về Trung tâm Hành quân Quân đoàn II bằng hệ thống điện thoại viễn liên từ phi trường Phụng Dực, "người lính số 1" của Trung đoàn 53 Bộ binh, một trong những anh hùng của mặt trận Ban Mê Thuột, Trung tá Võ Ân, Trung đoàn trưởng nói với Tướng Phú:
- Trình "Mặt Trời", những "đứa con" của tôi sứt mẻ chút ít, nhưng tinh thần rất cao.Trận đánh vừa kết thúc. Hơn 200 xác Việt cộng còn để nguyên ngoài chiến trường. Vũ khí tịch thu tôi đã cho kéo về phòng danh dự của phi cảng để "triển lảm"! Trong đó có cả 3 đại bác phòng không và 4 hỏa tiễn SA7 còn mới nguyên.

Tướng Phú vui mưng lộ trên nét mặt. Ông khen ngợi và ra lệnh cho Ân bằng một giọng hết sức thân mật:
- "Chú mày" giỏi lắm! Chuyển lời khen của tôi đến anh em. Ráng lên! Sau trận này mỗi người lên một cấp. Nhưng không được khinh thường địch quân! Phải chuẩn bị và đề phòng tối đa ngay! Rõ chưa?
- Trình "Mặt Trời", tôi nhận rõ!

Tướng Phú cúp máy. Trung tá Võ Ân trở ra chiến hào phòng thủ cùng với các chiến hữu của mình.

Tuy nhiên chiến thắng trên đây chỉ là một may mắn đặc biệt, một chiến thắng sau cùng của Trung đoàn 5e Bộ binh trong trận đánh quyết định giữa hai miên Nam-Bắc năm 1975.

Ngày 10 tháng 3, 1975 là một ngày cực kỳ sôi động trên chiến trương Cao nguyên. Trong lịch sử 30 năm chiến tranh Việt Nam kể từ hồi còn quân đội Pháp, chưa bao giờ có những trận đánh đồng loạt, dồn dập như vậy.

Ngoài mặt trận chính Ban Mê Thuột, Cộng quân tấn công khắp nơi. Các trận bắc Kontum, nam Pleiku, bắc Bình Định, Quảng Đức và trên 2 quốc lộ 19, 21 đều bị áp lực nặng nề.

Tiểu khu Ban Mê Thuột bị mất liên lạc lúc 12 giờ trưa. Những đoàn xe chở quân của Bắc Việt vẫn tiếp tục tiến về Ban Mê Thuột. Lệnh phá cầu 14 trên quốc lộ nối liền Quảng Dức-Ban Mê Thuột được ban hành. Những trận pháo kích, đụng độ nặng nề quanh Căn cứ 93 phía nam Pleiku kéo dài suốt ngày.

15 giờ 15 phú, phi trường Cù Hanh, Pleiku bị pháo. Một trực thăng và một dãy nhà bị cháy, một Dakota bị hư hại.

18 giờ 20 phút, Cộng quân pháo trúng Bộ Tư lệnh Quân đoàn, khu câu lạc bộ sĩ quan và Bộ Chỉ huy Không trợ II. Thị xã Pleiku thiết quân luật 9 giờ tối.

Tại mặt trận Bình Định, Trung đoàn 42 và 47 giao tranh suốt ngày với các đơn vị Cộng sản Bắc Việt và hạ 200 tên tại thung lũng Vĩnh Thạnh. Sư đoàn 22 Bộ binh hiện đã trực diện với Sư đoàn 3 Sao Vàng, các trung đoàn biệt lập của Bắc Việt tại Quân khu 5.

Một tin chấn động khác, 17 chiến xa Cộng sản Bắc Việt xuất hiện gần Phù Cát, Bình Định lúc 5 giờ 30 chiều.

Tổng kết tại mặt trận Ban Mê Thuột trong ngày đầu cùng với chiến thắng của Trung đoàn 53 Bộ binh, thêm 100 Cộng quân khác bị hạ trước tiểu khu, trước khi tiểu khu Darlac bị mất liên lạc, và trước dinh Tỉnh trưởng, gần sát với Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh. 12 chiến xa Cộng sản Bắc Việt bị bắn cháy, trong số đó có 11 cái do Không quân đánh bom trúng.

Những lệnh cuối cùng trong ngày Tướng Phú chỉ thị cho Tướng Lê Trung Tường, Tư lệnh mặt trận nam Pleiku và Tỉnh trưởng không được lùi khỏi Căn cứ 93 trên tuyến phòng thủ Bộ Tư lệnh Quân đoàn và thị xã này. Liên Đoàn 21 Biệt động quân đã từ Buôn Hô di chuyển về gần tới Ban Mê Thuột bằng mọi giá phải tái chiếm bộ chỉ huy tiểu khu và kho đạn Ban Mê Thuột.

19 giờ tối, Tổng Thống Thiệu từ Saigon gọi lên chỉ thị cho Tư lệnh Quân đoàn II giải quyết chiến trường Ban Mê Thuột mau lẹ (?)

Giây Phút Cuối Cùng của Tư Lệnh Mặt Trận Ban Mê Thuột

Ngày 11 tháng 3, 1975.
Trận đánh đẫm máu thư 2 giữa Trung đoàn 53 Bộ binh và một lực lương quân chính qui Cộng sản Bắc Việt đã được tăng cường đông hơn gấp 10 lần, xảy ra lúc 5 giờ sáng. Đó cũng là lần xuất trận đầu tiên của Sư đoàn 316, sư đoàn tổng trừ bị của Bắc Việt tại mặt trận phi trường Phụng Dực trên chiến trường Cao nguyên.

Sư đoàn 316 tổng trừ bị Cộng sản Bắc Việt vừa di chuyển từ miền Bắc vào, và mới tới trận địa hồi đêm. Những báo cáo tiên khởi trong 2 giờ đầu cho biết Trung đoàn 53 Bộ binh bị thiệt hại quá nặng.

7 giờ 45 phút sáng, đích thân Tư lệng mặt trận Ban Mê Thuọt, Đại tá Vũ Thế Quang gọi lên Trung tâm Hành quân Quân đoàn II cho biết tình hình vô cùng nguy ngập. 10 chiến xa Cộng sản Bắc Việt đang bắn trực xạ vào Bộ Tư lệnh Sư đoàn.

Người sử dụng máy siêu tần số lúc đó là Trung tá Không quân Nguyễn Văn Giang, Giám đốc Không trợ II. Bằng những ngụy thoại, ông cho biết đoàn phản lực cơ cất cánh từ Nha Trang đang trên đường, và sắp tới vùng trời Ban Mê Thuột.

7 giờ 55 phút, hai chiếc phản lực cơ A37 lao xuống mục tiêu, những chiến xa Cộng sản Bắc Việt, và đánh vô cùng chính xác. Nhưng chỉ mấy phút sau, bỗng nghe Đại tá Quang hét lên trong máy truyền tin:
- Ơ!... "nó" đánh trúng tôi!!!

8 giờ. Đó là giờ phút của "định mệnh". Hai trái bom đã thả trúng hầm Chỉ huy và Truyền tin của Tư lệnh mặt trận Ban Mê Thuột. Và Trung tâm Hành quân Quân đoàn II mất liên lạc với Ban Mê Thuột từ lúc đó.
Nghe câu nói sau cùng của Quang, tự nhiên tôi thấy đau lòng và đưa mắt nhìn Giang. Quang, Giang và tôi đều là bạn.

Quang với biệt danh "Quang dù", là người lính của chiến trường và thành phố trong 2 thập niên 1955-1975. Trước năm 1960 khi chiến tranh còn ở cấp tiểu đoàn, một số sĩ quan trong các binh chủng Không quân, Nhảy Dù rất nổi tiếng trong cả hai lãnh vực: ăn chơi và đánh giặc. Tên tuổi họ trở thành những nhân vật trong tiểu thuyết, các phóng sự với những biệt danh riêng. Chẳng hạn như: Cương "khểnh", Hợi "voi", Quang "dù", Hùng "sùi", Giang "nám" ...

Thơi gian ở Nhảy Dù, Quang là một Tiểu đoàn trưởng trung bình, nhưng là người có một "nghệ thuật sống" siêu đẳng. Anh luôn luôn tự chế và thích nghi với mọi hoàn cảnh. Cuối năm 1963, Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù đang được tái huấn luyện tại Trung tâm Vạn Kiếp, mới được tạm thơi giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng, anh đã liều lĩnh mang tiểu đoàn về Saigon tham gia đảo chánh. Nhưng công trạng của anh chỉ được biết đến khi Tướng Nguyễn Cao Kỳ được bổ nhiệm làm Tư lệnh Không quân.

Rồi sau đó, khi trở thành Thủ tướng, ông Kỳ đã đề cử Quang chỉ huy Liên đoàn An ninh Danh dự. Đường hoạn lộ chim bay từ đó!

Nhưng phải nói anh là người đàng hoàng, trung trực. Khi ông Kỳ bị ông Thiệu hất cẳng, cho "ngồi chơi sơi nước", một bất ngờ, anh được ông Thiệu cho đi làm Thị trưởng Cam Ranh. Anh vào Tân Sơn Nhất hỏi ý kiến ông Kỳ. Không may cho anh, trong một canh mạt chược dở dang, ông Kỳ rất thờ ơ lạnh lùng. Vì vậy, anh thất vọng bỏ đi. Từ đó, anh trở lại cương vị của một người quân nhân "nhà nghề". Tuy nhiên, bạn bè vẫn nghi ngờ và chế diễu anh là một "petit ... Lên Nguyên Khang" (!) Mỗi khi có chiến thắng Việt Cộng, tay phải cầm khẩu AK47 tặng Trung tướng Thiệu, tay trái trao khẩu CKC cho Thiếu tướng Kỳ. Cũng như Trung tướng Khang, luôn luôn đu giây giữa "cánh phải và cánh trái" dinh Độc Lập với câu nói đầu môi: "ông Kỳ là bạn, ông Thiệu là thày, tôi chỉ biết phục vụ cho quyền lợi của Tổ quốc và Quân đội"!!!

Sau khi rời chức vụ Thị trưởng Cam Ranh vơi thâm niên cấp bậc, Quang được bổ nhiệm làm Tư lệnh Phó Sư đoàn 23 Bộ binh.

Chiều ngày 9 tháng 3, 1975 , Tướng Phú rất khó khăn và cân nhắc mãi mới chọn lựa anh làm Tư lệnh chiến trường Ban Mê Thuột, vì Đại tá Luật, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Darlac chức vụ nhỏ hơn, nhưng trận mạc và cấp bậc thâm niên hơn. 

Tôi nhớ khi rời phi trường Phụng Dực, Tương Phú bắt tay Quang và nói:
- Cố gắng và ráng cẩn thận nghe Quang! Đừng để lỡ dịp lên tướng kỳ này. Mình ... Nhảy Dù mà ! 
Quang đứng nghiêm chào Tướng Phú:
- Thiếu Tướng yên tâm, tôi sẽ làm tất cả những gì có thể làm được. Và tôi sẽ chết tại đây trước khi Ban Mê Thuột mất!

Sau khi Trung tâm Hành quân, hầm Chỉ huy và Truyền tin của Tư lệnh Chiến trường bị sập, mọi người đều lo lắng cho số phận Ban Mê Thuọt.

Đại tá Tham mưu trưởng Quân đoàn được lệnh thành lập bộ Chỉ huy Hành quân trên không để chỉ huy mặt trận Ban Mê Thuột. Cả hai chiếc C47 và U17 của Tư lệnh Quân đoàn đều được sử dụng. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Hành quân nhẹ cũng được thành lập gấp rút ở Buôn Hô.

11 giờ 50 phút, sau gần 4 giờ chờ đợi, Trung tâm Hành quân Quân đoàn II ghi nhận mất liên lạc hoàn toàn với Tư lệnh chiến trường Ban Mê Thuột và Đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng tiểu khu Darlac.

15 giơ 30, Đại tướng Cao Văn Viên gọi cho Tướng Phú gay gắt ra lệnh "bốc" Chuẩn tướng Lê Trung Tường, Tư lệnh Sư đoàn 23 từ mặt trận nam Pleiku thả xuống Ban Mê Thuột chỉ huy.

17 giờ và 23 giờ đêm, những lệnh của Tổng Thống Thiệu và Thủ tướng Chính phủ Trần Thiện Khiêm:
- Linh động trong mọi trường hợp. Cẩn thận không nên dồn hết quân trong mặt trận này.
- Tư lệnh Quân đoàn toàn quyền quyết định, có thể bỏ Ban Mê Thuột. Tránh sa lầy, vì có thể còn hai, ba mặt trận lớn nữa tại Quân khu II.
- Tường trình chính xác các sư đoàn Cộng sản Bắc Việt hiện tham chiến trên trận địa Ban Mê Thuột.
- Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột coi như đã mất tích. Chấp thuận thả một Tỉnh trưởng khác xuống chỉ huy nơi có dân và quân tập trung nhiều. Lập tòa Hành chánh và bộ Chỉ huy tiểu khu Ban Mê Thuột lưu động.

Giây phút cuối cùng của Tư lệnh chiến trường Ban Mê Thuột sau này được ghi nhận với những dữ kiện đặc biệt. Buổi sáng khi 2 trái bom 500 cân Anh của Không quân đánh sập một đầu hầm Trung tâm Hành quân của Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, một số sĩ quan trong bộ tham mưu đã thoát lên được. Trên một thiết vận xa M113, Đại tá Vũ Thế Quang sử dụng máy truyền tin liên lạc với chiếc máy bay chỉ huy, cho lệnh các phản lực cơ trút bom xuống bộ Tư lệnh Sư đoàn hiện đang bị địch quân tràn ngập. Và cho biết sẽ rút về phía Trung đoàn 53 Bộ binh tại phi trường Phụng Dực để tiếp tục chỉ huy.

Đại tá Nguyễn Công Luật cùng với Phó Tỉnh trương Hành chánh Nguyễn Ngọc Vỵ đi theo một hướng khác. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, chiếc thiết vận xa chỉ huy bị bắn cháy, Đại tá Quanh thoát chết trong gang tấc. Cộng quân lúc này đầy khắp các ngả đường trong thành phố cùng với những đoàn xe tăng của chúng.

Cũng thời gian này, trên Quốc lộ 14, khoảng đường tư Đức Lập về Ban Mê Thuột, bộ Chỉ huy Hành quân nhẹ của Trung đoàn 53 Bộ binh cùng với một tiểu đoàn, được lệnh rút từ vùng hành quân phía đông bắc quận Đức Lập về tiếp cứu Ban Mê Thuột, cũng bị Việt cộng phục kích chận đánh. Trung tá Trung đoàn Phó Trung đoàn 53 và hầu hết các sĩ quan đều bị tử trận hoặc bị địch bắt. Cánh quân này coi như bị tan rã trước khi tới được trận địa Ban Mê Thuột.

Đến xế trưa ngày 11 tháng 3, bên cạnh Đại tá Quang chỉ còn có người Thiếu úy, Sĩ quan Tùy viên và một người lính. Không thể đi tới được phi trường Phụng Dực và cũng không còn phương tiện truyền tin để liên lạc, ba người đã ẩn tránh trong một vườn cà phê mấy tiếng đồng hồ, đợi đêm tối nhắm hướng nam đi về phía Quảng Đức.

2 giờ sáng ngày 12 tháng 3, đi được khoảng 6 cây số đưỜng rừng ngay khi vưa tới sát một làng Thương, thì bị Việt cộng nổ súng, xông ra vây bắt. Thấy Đại tá Quang vẫn còn mang cấp bậc trên cổ áo và xưng danh là Tư lệnh Phó Sư đoàn 23 Bộ binh, chúng đã trói lại, lột giầy và liệng xuống hố. Chừng một giờ sau, chúng được lệnh dẫn Đại tá Quang đi suốt đêm. Tới chiều hôm sau, ngày 13 tháng 3, được cởi trói, cho đi giầy vào và chở đi bằng xe Molotova sang Cam Bốt để khai thác. Vùng rừng núi này, chắc chắn là nơi đặt bản doanh bộ Tư lệnh chiến trường Tây nguyên 1975 của 2 Tướng Cộng sản Bắc Việt Văn Tiến Dũng và Hoàng Minh Thảo.

Trong suốt thời gian bị điều tra, Đại tá Quang bị Việt cộng khủng bố tinh thần, cùm giữ hai chân trong hai thân cây lớn được khoét lỗ sẵn. Đó có thể cũng là kết quả đưa đến những lời cung khai của Tư lệnh Phó Sư đoàn 23 Bộ binh, như Văn Tiến Dũng đã viết trong cuốn Đại Thắng Mùa Xuân.

Nhưng với cuộc tấn chiếm Ban Mê Thuột bằng một lực lượng chính qui Cộng sản Bắc Việt đông hơn gấp 10 lần, có chiến xa, pháo binh yểm trợ, do chính Văn Tiến Dũng, Tổng Tư lệnh quân đội Bắc Việt trực tiếp chỉ huy, việc giữ được Ban Mê Thuột 48 giờ đã là một sự kiện hết sức đặc biệt. Vì Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh không có hệ thống phòng thủ để chiến đấu. Lực lượng chính yếu là Trung đoàn 53 Bộ binh thì trấn đóng tại phi trường Phụng Dực, cách Ban Mê Thuột 5 cây số. Trong thị xã, ngoài các đơn vị Địa phương quân, chỉ có những thành phần quân nhân lo về tiếp liệu, phòng giữ hậu cứ của các Trung đoàn Bộ binh, hậu cứ các đơn vị Thiết giáp, Pháo binh, Truyền tin, Quân cụ, Công binh. 

Một Huyền Thoại trong Chiến Tranh Việt Nam

4 giờ sáng ngày 10 tháng 3, 1975.
Sau những trận mưa pháo suốt 2 tiếng đồng hồ, Cộng quân với chiến xa và biển người, tấn chiếm Ban Mê Thuột. Và với một lực lượng đông gấp 10 lần, địch đã làm chủ tình hình ngay từ phút đầu.

Sự chống trả mảnh liệt của những đơn vị phòng vệ thị xã cùng với sự yểm trợ hữu hiệu gan dạ của các phi công anh hùng, đã chặn bớt được sức tiến của quân thù.

Nhưng ngày hôm sau, khi Cộng sản Bắc Việt tung thêm Sư đoàn tổng trừ bị 316 mới ở miền Bắc vào, thì lực lương hai bên giữa ta và địch quá ư chênh lệch, cả về quân số, chiến xa lẫn vũ khí nặng!

12 giờ trưa ngày 10 tháng 3, 1975 tiểu khu Ban Mê Thuột mất!

8 giờ sáng hôm sau 11 tháng 3, 1975, 10 chiến xa T54 của Cộng sản Bắc Việt bắn trực xạ vào bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh. Vị Tư lệnh chiến trường chấp nhận rủi ro, nguy hiểm, yêu cầu Không quân đánh bom thẳng vào những xe tăng địch. Những phản lực cơ A37 lao xuống. Ba chiếc T54 bốc cháy, nhưng rồi 2 trái bom khác rơi trúng sập một đầu hầm của Trung tâm Hành quân Sư đoàn 23 Bộ binh. Hệ thống truyền tin giữa Ban Mê Thuột-Pleiku bị hư hại hoàn toàn, mất liên lạc với Tư lệnh Chiến trương và Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột từ đó.

8 giờ sáng ngày 11 tháng 3, 1975, giờ phút của định mệnh, và cũng là khởi đầu ngày thứ hai trong trận đánh quyết định giữa hai miền Nam-Bắc 1975. Chiến trường Ban Mê Thuột coi như kết thúc với sự tràn ngập của Bắc quân.

Nhưng tại phi trường Phụng Dực, cách Ban Mê Thuột khoảng 8 cây số về phía đông, một trung đoàn (-) của Sư đoàn 23, với 2 Tiểu đoàn của Trung đoàn 53 Bộ binh, một Chi đoàn Thiết vận xa M113, một Pháo đội đại bác 105 ly vẫn tiếp tục chiến đấu thêm một tuần lễ nữa. Chiến đấu dũng mãnh, dai dẳng, phi thường cho đến những người lính cuối cùng và những viên đạn cuối cùng được bắn đi!

Đó là một huyền thoại trong một cuộc chiến đấu chống Cộng thần thánh nhất của quân dân miền Nam Việt Nam. Đó cũng là biểu tượng tinh thần gang thép, sắt đá của người chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Trận thử sức dò dẫm của 2 trung đoàn Cộng sản Bắc Việt và các lực lượng phòng thủ mặt trận phi trường Phụng Dực đầu tiên xảy ra lúc 14 giờ trưa ngày 10 tháng 3, 1975, với kết quả địch bỏ lại chiến trường trên 200 xác chết!

Nhưng chưa đầy một ngày sau, 5 giờ sáng 11 tháng 3, 1975 khi những chiến xa T54 Bắc Việt nghiền nát những đường phố Ban Mê Thuột, tiến thẳng vào bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, cũng là lúc địch quân rửa hận cho đồng bọn chúng tại mặt trận phi trường Phụng Dực.

Sư đoàn 316 tổng trừ bị của Cộng sản Bắc Việt lần đầu tiên được sử dụng trên Chiến trường Cao nguyên và miền Nam Việt Nam. Từ xa lộ đất Hồ Chí Minh, sư đoàn này bất chấp mọi thiệt hại, di chuyển ngày đêm để tới trận địa đêm 10 tháng 3, 1975. Và ngay sáng hôm sau, dốc toàn lực lượng tấn công Trung đoàn 53 Bộ binh.

45 phút khởi đầu là những cơn mưa đạn đại bác khiến chiến sĩ ta chìm ngập trong giao thông hào. Sau đó, Bắc quân với những tên lính trẻ xuất trận lần đầu, hung hăng, hò hét ... xung phong. Từng lớp, từng lớp gục xuống, nhưng chúng vẫn hô, vẫn tiến.

Trận thư hùng thứ hai ngày 11 tháng 3, 1975 này kéo dài 2 giờ 40 phút. Gần 200 người anh hùng của chiến trường miền núi vĩnh viễn buông súng, ở lại Cao nguyên Việt Nam!

Nhưng những người còn lại vẫn tiếp tục chiến đấu. Chiến đấu không yểm trợ, không tiếp tế, không tản thương, không tăm gội, 24 giờ trên 24 giờ ngoài chiến hào phòng thủ!

Quá nửa lực lượng bị thiệt hại từ khi ở mặt trận Quảng Đức rút về. Trung đoàn 53 Bộ binh hiện còn hơn một tiểu đoàn với khoảng 500 tay súng. Và họ đã chiến đấu đơn độc sang ngày thứ ba 12 tháng 3, ngày thứ tư 13 tháng 3, ngày thứ năm 14 tháng 3, ngày thứ sáu 15 tháng 3, ngày thứ bảy 16 tháng 3. Và hôm nay, ngày thứ tám 17 thang 3, 1975!

Thật anh hùng! Thật vĩ đại! Thật phi thường! Không còn từ ngữ nào khác hơn để ca ngợi, vinh danh họ. Và đó cũng là một huyền thoại độc đáo nhất của chiến tranh Viêt Nam trong trận đánh sau cùng trên Chiến trường Cao nguyên!

Bay trên đầu những người anh hùng của mặt trận phi trường Phụng Dực trưa ngày 12 tháng 3, 1975, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Chiến trường Cao nguyên đã nói chuyện với 2 người quân nhân lớn nhất và nhỏ nhất của Trung đoàn 53 Bộ binh.

"Người anh hùng Võ Ân", Trung tá Trung đoàn trưởng:
- Trình Mặt Trời, lực lượng địch quá mạnh. (Mặt Trời là danh hiệu ngày hôm nay của Tướng Phú, Tư lệnh Quân đoàn II).
- Chú mày chịu nổi không? Tinh thần anh em ra sao?
- Bị sứt mẻ kha khá ngày hôm qua, nhưng chưa sao. Mặt Trời yên tâm!
- Chú mày muốn gì đặc biệt không?
- Dạ không! Nhưng sao Mặt Trời không bay trực thăng hôm nay?
- Tại qua muốn ở chơi với chú mày và những anh em khác lâu lâu một chút. Mà tại sao chú mày hỏi như vậy?
- Tại vì tôi muốn Mặt Trời đáp xuống coi kho vũ khí Việt cộng ở phòng danh dự phi cảng cho anh em lên tinh thần.

Tướng Phú cười:
- Ý kiến hay đấy! Thôi ... để lần sau vậy!
- ...

"Người anh hùng Nguyễn Văn Bảy", Binh nhì xạ thủ súng cối 81 ly:
- Em tên gì? Bao nhiêu tuổi?
- Dạ ... Binh nhì Nguyễn Văn Bảy, 18 tuổi!
- Em thấy Việt cộng chết nhiều không?
- Nhiều, nhiều lắm ... Thiếu tướng!
- Em muốn xin Thiếu tướng gì nào?
- xin thuốc hút và ... lựu đạn.
- Gì nữa?
- Thôi!
- Thiếu tướng thăng cấp cho em lên Binh nhất! Chịu không?
- ...

Một giọng cười khúc khích trong máy:
- Ông Thầy! Ông Tướng tặng tôi cái "cánh gà" chiên bơ!
- Không được ... tao phản đối!
- ...

Cái "cánh gà", chữ V, là hình dáng của chiếc lon Binh Nhất. Ông Thầy là tiếng gọi thân mật vị Trung tá Trung đoàn trưởng mà người "Binh Nhất vừa được tân thăng" Nguyễn Văn Bảy thường hay sử dụng.

Mẫu đối thoại trên cho thấy tình chiến hữu, anh em của những người lính Trung đoàn 53 Bộ binh. Đó cũng là một cách để chứng minh, tại sao trong những ngày cuối cùng họ vẫn sống chết bên nhau? Họ đã chia nhau từng viên đạn, từng dúm gạo sấy, từng hớp nước, từng hơi thuốc ...

Theo thời gian, 7 ngày đêm chiến đấu dài hơn 7 năm tại mặt trận phi trường Phụng Dực. Đã ba ngày rồi, từ khi lệnh triệt thoái cao nguyên được ban hành, Trung đoàn 53 không còn nhận được bất cứ một tiếp tế, liên lạc nào với Quân đoàn. Họ đã phải sử dụng cả súng đạn tịch thu được của quân thù trong trận đánh đầu tiên, để bắn lại chúng!

Nhưng hôm nay, ngày 17 tháng 3, 1975 là ngày dài nhất trong cuộc đời lính chiến của họ!

7 giờ 40 phút sáng, khi rừng núi cao nguyên vẫn còn ngủ yên với những lớp sương mù phủ kín, hàng trăm hàng ngàn viện đại bác Bắc quân nã vào những chiến hào của Trung đoàn 53 Bộ binh. Cỏ cây rạp xuống. Những cột đất đỏ từng cụm, từng khóm tung cao!

Trận địa pháo kéo dài một tiếng đồng hồ. Tiếp theo sau là tiếng loa kêu gọi đầu hàng. Tiếng hò reo "sóng vỡ" của biển người. Và rồi tiếng gầm thét của hàng đoàn chiến xa T54 trên khắp ngả tiến vào, cầy nát phi đạo phi trường Phụng Dực Ban Mê Thuột!

Hôm nay là ngày đầu của cuộc rút quân của Quân đoàn II. Sư đoàn 316 Cộng sản Bắc Việt quyết khai tử Trung đoàn 53 Bộ binh, quyết nhổ đi "cái gai" cuối cùng của mặt trận Ban Mê Thuột, của Chiến trường Cao nguyên để tiến về duyên hải.

8 giờ 30 sáng, Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, vị Tướng lớn nhất của Quân đội gọi yêu cầu được tường trình đặc biệt về mặt trận phi trường Phụng Dực và các chiến sĩ Trung đoàn 53 Bộ binh.

Đây cũng là một vinh dự, một hãnh diện cuối cùng dành cho những dũng sĩ tại mặt trận này! Nhưng Đại tướng Viên chỉ được báo cáo qua nguồn tin không chính xác (!) của bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 hành quân ở Phước An: Trung đoàn 53 Bộ binh đang bị đánh rất nặng, Bắc quân đã tràn ngập vị trí phòng thủ!

Đạn hết, lương thực hết, không còn cấp chỉ huy, không còn được yểm trợ, không còn máy móc liên lạc để ... kêu cứu. Những chiến sĩ Trung đoàn 53 Bộ binh gục ngã từng người, từng tổ, từng ... tiểu đội ... trong những chiến hào ...

11 giờ 30 sáng, tiếng súng im bặt. Bắc quân cắm ngọn cờ đỏ trên đài kiểm soát của phi trường Phụng Dực, và thu dọn chiến trường.

Không có tù binh, không có cả những người lính bị thương. Những dũng sĩ Trung đoàn 53 Bộ binh không còn chiến đấu nữa. Họ đã tan ra, đã nát ra ... từng mảnh vụn, và lẫn trong đất đỏ của miền cao nguyên hùng vĩ!

Ngày 17 tháng 3, 1975 Trung đoàn 53 Bộ binh bị Bắc quân xóa tên. Đó cũng là một ngày đau buồn! Lần đầu tiên trong 21 năm chiến đấu chống cộng, giữ nước, bộ Tư lệnh Quân đoàn II triệt thoái khỏi cao nguyên!

Nhưng không, đó vẫn chưa phải là những dòng chữ cuối cùng viết về các dũng sĩ Trung đoàn 53 Bộ binh! Bởi vì ... vẫn còn những anh hùng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa mang phù hiệu của Trung đoàn 53 ... trên vai áo.

Hai ngày sau, khi Bắc quân tràn ngập phi trường Phụng Dực, Ban Mê Thuột, một nhóm 16 quân nhân của đơn vị này đã về được Phước An và tiếp tục chiến đấu tại mặt trận Quốc lộ 21.

Một tuần lễ sau nữa, ngày 24 tháng 3, 1975 ba người anh hùng khác, sau 7 ngày 7 đêm, đi trên mấy chục cây số đường rừng núi, sống với cỏ cây thiên nhiên, từ Ban Mê Thuột đã lên tới buôn Thượng Dam Rong, Đà Lạt!

Họ là những quân nhân bất tử của Trung đoàn 53 Bộ binh! Họ thật vĩ đại, thật phi thường! Và đó cũng là một huyền thoại của chiến tranh Việt Nam trong trận chiến Nam-Bắc sau cùng 1975.

Liên tỉnh lộ 7 Pleiku-Phú Bổn-Phú Yên
Ngày thứ nhất 17 tháng 3, 1975.
Ngày đầu tiên của cuộc rút quân. Trời mây mù, ảm đạm. Trong 21 năm chiến đấu chống Cộng giữ nước của quân dân miền Nam, kể từ sau Hiệp định Genève, đây là một ngày đau buồn nhất xảy ra trên Chiến trường Cao nguyên Việt Nam.

Thành phố Pleime nằm trên một ngọn đồi cao, nơi đặt bản doanh của bộ Tư lệnh Quân đoàn II hôm nay không còn vẻ uy nghiêm, hùng vĩ nữa. Cây cột cờ mà mấy ngày trước địch pháo gần trúng, đứng trơ trọi như một thân cây trụi lá. Không còn lá cờ vàng ba sọc đỏ thân yêu, không còn lá cờ tướng với những ngôi sao trắng được kéo lên, như mỗi ngày trước đây!

Con đường từ bộ Tư lệnh Quân đoàn về Pleiku kéo dài mấy cây số, và từ những ngả đường khác đổ xô về, người và xe cộ nối đuôi, dồn, lấn, kẹt cứng.

Tin Quân đoàn "di tản" đã không còn là một tin "tối mật" như các giới chức quân sự mong muốn. Từ hai ngày nay, mọi người dân Pleiku, mọi gia đình quân nhân, và chắc chắn cả ... địch nữa, đều biết. Hỗn loan, cướp bóc, bắn phá xảy ra nhiều nơi, trong và ngoài thị xã.

8 giờ 40 phút, cắt đứt mọi liên lạc bằng điện thoại với bộ Tư lệnh Quân đoàn II ở Pleiku. Đoàn xe di chuyển, khoảng 4000 quân xa đủ loại và những xe dân sự.

9 giờ 15 phút, Tướng Lê Văn Thân, Phụ tá Quân khu II và Trưởng phòng 3 Quân đoàn bay trên C47, bộ Chỉ huy Hành quân trên không, để quan sát đoàn xe. Thêm một máy bay bay quan sát được lệnh liên lạc thường trực với Tướng Phạm Duy Tất, chỉ huy cuộc rút quân.

Danh hiệu của các cấp chỉ huy trong cuộc triệt thoái Quân đoàn II ngày 17 tháng 3, 1975:
Tư lệnh Quân đoàn - Hiệp Tình
Tướng Phạm Duy Tất - Trường An
Tướng Trần Văn Cẩm - Phi Bảo
Đại tá Lê Khắc Lý, Tham mưu trưởng Quân đoàn - Công Danh
Đoàn xe - Công Bình
Trực thăng - Nam Hiền

9 giờ 30, Tướng Trần Đình Thọ, Trưởng phòng 3 bộ Tổng tham mưu gọi ra ghi nhận một lần nữa những rối loạn và tình hình xảy ra thật sự tại Pleiku ngày 16 tháng 3, 1975 để trình thượng cấp.

Theo báo cáo của Đại tá Lý gọi thẳng về Saigon, tình hình Pleiku ngày 16 tháng 3, 1975 cực kỳ hỗn loạn. Phi trường Cù Hanh, dân chúng, binh sĩ và gia đình tràn vào. Lực lượng an ninh không giữ được trật tự. Cướp của, hãm hiếp đã xảy ra.

Một báo cáo khác của Đại tá Hoàng Thọ Nhu, Tỉnh trưởng Pleiku gọi về Nha Trang trình với Tướng Phú thì, tình hình có rối loạn nhưng không ở mức độ trầm trọng. Bởi vì nếu "cực kỳ hỗn loạn" thì Tướng Tất và bộ Tư lệnh Quân đoàn đã không sắp xếp và tổ chức được đội hình của đoàn xe, hơn 4000 cái di chuyển ngày hôm nay. "Tiếng nói" của Đại tá Nhu coi như là tiếng nói chính thức, đại diện cho Tướng Tất, người thay Tướng Phú chỉ huy cuộc rút quân!

Tướng Phú giận lắm, nhưng chỉ trình bày với Tướng Thọ, vì Đại tá Lý mất bình tĩnh nên báo cáo không đúng sự thật!!!

Đại tá Lê Khắc Lý, Tham mưu trưởng Quân đoàn II là một sĩ quan rất giỏi về tham mưu và tổ chức. Nhưng vụ Tướng Phú gắn sao cho Đại tá Tất làm ông bất mãn và chán nản. Với sự thông minh và khôn ngoan, ông nhìn thấy trước sự thất bại của Quân đoàn kỳ này trong cuộc rút quân. Do đó, viếc Tướng Phú hứa hẹn cho ông lên Tướng chỉ là một lời hứa viển vông, không bao giờ thành sự thật.

Cũng vì vậy, ngay khi Tướng Phú rời Pleiku, ông đã bất chấp mọi lệnh của Tướng Trần Văn Cẩm, Phụ tá Hành quân Tư lệnh Quân đoàn, và Tướng Phạm Duy Tất, chỉ huy cuộc rút quân.

Tướng Phú được thông báo về sự việc này, nên khi nghe Đại tá Lý báo cáo thẳng về Saigon những rối loạn, cướp bóc, hãm hiếp xảy ra tại Pleiku đêm 16 tháng 3, 1975 lại cho rằng Đại tá Lý bất mãn, nên phá hoại. Sự thật những điêu Đại tá Lý trình cho Tướng Thọ đều đúng! Ghi nhận sự kiện này ra đây để nói lên sự đổ vỡ tồi tệ của hệ thống chỉ huy Quân đoàn II. Vì sự đố kỵ, bất mãn, bất lực và vô kỷ luật của cả những sĩ quan cao cấp và có trách nhiệm nhất, đưa đến sự thảm bại nặng nề trong cuộc rút quân khỏi cao nguyên.

10 giờ phi trường Cù Hanh chính thức đóng cửa.

10 giờ 15 phút, liên lạc lần cuối cùng giữa Tư lệnh Quân đoàn II và Tướng Cẩm tại Pleiku bằng STS-106. Xác nhận về việc ra lệnh cho Tỉnh trưởng Pleiku phòng thủ tỉnh này. Nghi ngờ hệ thống truyền tin bị địch phá.

10 giờ 45 phút, Đại tá Trần Cửu Thiên bay đi Phú Bổn cùng với các chuyên viên truyền tin, thiết lập hệ thống liên lạc để tường trình tình hình đoàn xe từng giơ về Nha Trang, Saigon.

10 giờ 50 phút, Tổng Thống Thiệu gọi ra lệnh giải tỏa gấp rút mặt trận Khánh Dương và Quốc lộ 21 bằng mọi giá. Chấp thuận cho Đại tá Nguyễn Văn Đức làm Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh.

Chặng đầu của cuộc rút quân Pleiku-Phú Bổn sáng ngày 17 tháng 3,1975 diễn ra tốt đẹp. Hệ thống liên lạc siêu tần số từ Nha Trang và đoàn quân triệt thoái bị gián đoạn trong 2 giờ đầu. Nhưng sau đó, từ 12 giờ 20 phút, mọi liên lạc và báo cáo đều rõ ràng.

13 giờ, đoàn xe về gần tới Phú Bổn. Một số xe bị ứ đọng. Nhừng lệnh cần thiết được ban hành. Các Tướng Cẩm và Tất đích thân chỉ huy, điều động. Các đơn vị vào vị trí phòng thủ.

Liên đoàn 6 Công binh Chiến đấu và những đơn vị Biệt động quân tiếp tục mở và dọn đường cho chặng kế tiếp. Lữ đoàn II Thiết giáp và các Liên đoàn Biệt động quân khác đi sau cùng bảo vệ đoàn quân và chiến cụ, đề phòng bị địch đánh tập hậu.

13 giờ 40 phút, Tướng Thọ, Trưởng phòng 3 Tổng Tham mưu gọi ra từ Saigon cho biết, Tổng Thống, Hội đồng Nội các, và các Tướng lãnh khen ngợi Tư lệnh và bộ Tư lệnh Quân đoàn II về cuộc rút quân.

Nhưng đấy chỉ là chặng đầu trên Liên tỉnh lộ 7. Con đường chôn vùi hàng nhiều ngàn xác đồng bào và trẻ thơ vô tội. Chôn vùi tên tuổi tất cả các Tướng lãnh đạo Đất Nước trong những năm sau cùng. Và cũng chính là con đương đưa đến sự sụp đổ mau chóng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, để rồi miền Nam Việt Nam mất vào tay Cộng sản sau đó.

18 giờ 15 phút, Đại tá Tham Mưu trưởng báo cáo về tình hình Phú Bổn. Đã tổ chức, phân loại xe quân đội và dân sự. Ra lệnh các đơn vị không được tự ý tách rời đoàn xe đi riêng.

Một sự việc xảy ra vào buổi tối. Lính Thương nổi loạn, đốt nhà, ăn cướp, nhưng chỉ là một nhóm nhỏ. Tỉnh trưởng Phú Bổn đã giải quyết và chận đứng.

Mặt trận Phước An

Bộ Tư lệnh Quân đoàn II, các Lực lương Thiết giáp, Không quân, Pháo binh và Chủ lực quân đã rút khỏi Kontum, Pleiku. Trong 2 ngày nữa, nếu đoàn xe không về tới Phú Bổn như dự định, thì mặt trận Phước An sẽ vô cùng nguy ngập. Bởi vì địch chỉ cần sử dụng một phần lực lượng tại trận địa Ban Mê Thuột hiện nay, với chiến xa và trọng pháo yểm trợ, sẽ dứt Phước An dễ dàng. Và sau đó là Khánh Dương.

Kiểm điểm lại quân số của sư đoàn và những đơn vị tăng cường hiện đang ở mặt trận Phước An, Đại tá Đức, tân Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh vô cùng lo ngại.

Lực lương chính yếu của sư đoàn là Trung đoàn 45 Bộ binh. Đơn vị với tinh thần cao độ, đã tình nguyện nhảy xuống Phước An trong đoàn quân tăng viện ngày 12 và 13 tháng 3, thì hôm nay đã tan hàng, trở thành dân sự già nửa quân số.

Buổi sáng, trong đợt di dân mới từ Ban Mê Thuột, khoảng 5000 người đã băng rừng đi về phía Phước An và nam Khánh Dương. Một số lớn là vợ con anh em binh sĩ Trung đoàn 45. Do đó, họ tự động bỏ súng, "chạy loạn" với gia đình.

Trung đoàn 45 còn lại đúng 200. Trung đoàn 44 với một Tiểu đoàn Chiến đấu và một Đại đội Trinh sát chưa sứt mẻ, khoảng 300.

Liên đoàn 21 Biệt động quân, 110 người. Bộ Tư lệnh Sư đoàn tại Chu Cúc, 42. Hậu trạm tại Khánh Dương, 6.

Khoảng 700 tay súng, không chiến xa và có 4 khẩu đại bác 105 ly. Đó là thực lực của mặt trận lớn nhất hiện nay tại Quân khu II. Một trận đánh lớn nếu xảy ra, chắc chắn lực lượng này phải đương đầu với Sư đoàn F10 Cộng sản Bắc Việt từ Ban Mê Thuột kéo về, với quân số 7, 8 ngàn và có chiến xa, đại pháo yểm trợ !

"Người lính già" của chiến trường với 25 năm quân ngũ, Tư lệnh phó Biệt khu 44 của Tướng Phú năm 1969, chờ đợi giây phút này từ lâu. Và hôm nay ... đã đến. Tổng Thống Thiệu, Đại tướng Viên cùng chấp thuận việc bổ nhiệm ông là Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh!

Đại tá Đức khẽ mỉm cười, và tiến lại phía các chiến hữu của mình đang phòng thủ để quan sát.

17 giờ, phi cơ quan sát phát hiện khoảng 10 chiến xa địch gần Chu Cúc, xin đánh bom tối đa.

5 phi tuần khu trục từ Phan Rang lên. Điều động trễ 15 phút. Phi tuần 1 lên tới vùng mục tiêu lúc 17 giờ 40 phút. Trời mù, không nhìn rõ, các khu trục cơ phải quay về. Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh vẫn tiếp tục xin Không quân đánh tiếp.

Thêm 2 xe tăng Cộng sản Bắc Việt di chuyển ở phía bắc cây số 62, mặt trận Khánh Dương. Và tin tình báo mới nhất thâu thập được qua một tù binh Bắc Việt bắt được ngày 16 tháng 3, 1975, hai Trung đoàn 64 và 48 Cộng sản Bắc Việt đã di chuyển tới tây bắc Khánh Dương khoảng 20 cây số. Lực lương Sư đoàn 23 Bộ binh sẽ cùng phối hợp với 2 Tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 22 Bộ binh tăng cường tổ chức tuyến phòng thủ, chận đứng cuộc tiến quân xuống Khánh Dương, Dục Mỹ của địch.

Nhưng cũng chỉ là trứng chọi đá! Quả thật trong trận này, lực lượng Việt cộng và quân ta quá chênh lệch!

Một sự việc cuối cùng và đặc biệt xảy ra hôm nay mà tôi ghi nhận, đó là yêu cầu của 2 Tỉnh trưởng Kontum và Pleiku xin máy bay chở bạc về Tổng Ngân Khố, Saigon.

Bộ Tư lệnh Quân đoàn lúc đầu chấp thuận, nhưng sau lại hủy bỏ. Vì phi trường Cù Hanh, Pleiku đã đóng cửa từ lúc 10 giờ sáng. Và, số bạc khổng lồ của 2 tỉnh liền được ... đốt đi!

Đây cũng là một sự việc cực kỳ khó hiểu. Tại sao các Tỉnh trưởng Kontum, Pleiku được "ủy quyền" ở lại phòng thủ 2 thị xã này, lại xin máy bay chở bạc, và sau đó "đốt" đi hàng trăm triệu bạc, ngay cùng ngày Quân đoàn vừa di tản khỏi Pleiku?

Tôi quá mệt mỏi nên đã không tìm hiểu "lệnh đốt bạc" từ đâu tới. Từ Saigon hay từ bộ Tư lệnh Quân đoàn II?