Search This Blog

Saturday, February 24, 2018

Giáo sĩ Dòng Tên ở Viễn Đông trong bối cảnh lịch sử thế kỷ XVI-XVII

Chúng ta thường đánh giá giáo sĩ Dòng Tên (Jésuite) là những nhà truyền giáo góp phần mở đường cho xâm lược Pháp vào Việt Nam mà nhà truyền giáo thuộc Dòng Tên Alexandre de Rhodes là điển hình. Tuy nhiên, qua nhiều tài liệu nghiên cứu của các học giả trên thế giới, đặc biệt là bộ sách đồ sộ của nhà báo kiêm nhà sử học Pháp Jean Lacouture Jésuites-une multibiographie (1), chúng ta lại thấy không hẳn như thế. Để giúp bạn đọc có một cái nhìn chính xác hơn về lịch sử và quá trình truyền giáo của dòng này ở Viễn Đông (Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam), chúng tôi xin giới thiệu bài viết sau đây của một nhà nghiên cứu ở nước ngoài.
Tóm tắt lịch sử Dòng Tên
Người sáng lập dòng Tên, Ignace de Loyola (1491-1556) là một nhà quí tộc người miền Basque Tây Ban Nha, hồi thiếu thời chỉ lo ăn chơi trác táng, mới đi lính được 8 ngày đã bị thương. Trong khi nằm chờ vết thương lành, ông tự nhiên “trở lại đạo”. Sau một năm suy nghĩ về sự huyền bí của tạo vật, ông đi đến thánh địa Jerusalem rồi trở về theo học trường đại học Alcalas và Salamanque ở Tây Ban Nha, rồi Sorbonne ở Pháp. Năm 1534, ông cùng đồng bạn lên gò Montmartre ở Paris thề nguyện từ bỏ nhục dục, sống nghèo khổ. Ông được thụ phong linh mục tại Venise năm1537 và 3 năm sau (1540) chính thức sáng lập Dòng Tên.
Theo tiếng Pháp, tên dòng là La Compagnie des Jésuites, tiếng Việt gọi là Dòng Tên. Theo tôi, cách gọi này không đúng và gây ra rất nhiều hiểu lầm. Compagnie có nhiều nghĩa: ngoài nghĩa Hội, Đoàn (tiếng Anh gọi là The Society of Jesus) còn có nghĩa quân sự là đồng đội (đại đội trong tiếng Việt). Ông Loyola muốn dùng một từ ngữ quân sự theo nghĩa bóng để ám chỉ Dòng mình sáng lập có mục đích chiến đấu bằng tinh thần cho Chúa Ki Tô và phải có đức tính phục tùng như trong quân đội. Chính vì những từ ngữ các đồ đệ ông dùng đều là quân sự như plusieurs soldats nên đã bị “hiểu lầm” và A. de Rhodes cũng vì thế mà bị “kết tội” đã xin gửi lính chiến, thực ra đấy chỉ là xin gửi thêm nhà truyền giáo. Chữ Jésuite đúng nghĩa là người Chúa Giê Su, có lẽ tiếng Việt sợ “phạm húy” nên tránh và để chữ Tên (Chúa).
Vườn Viên Minh, cung điện mùa hè của vua Càn Long do các giáo sĩ Dòng Tên vẽ kiểu xây dựng, bị liên quân Anh – Pháp đốt cháy năm 1860. Ảnh tư liệu.
Ngoài lời thề tránh nhục dục và sống nghèo khổ, tiêu chuẩn cốt yếu của người trong dòng là tuyệt đối Phục tùng (Obéissance) vị lãnh đạo Dòng như những người lính. Vị này, sau khi được bầu, mang danh hiệu “ông tướng” (général). Ngoài ra, còn có một đặc tính khác nữa là những người trong Dòng được huấn luyện trong một thời gian rất lâu, ít nhất là 10 năm, để có thể có đủ khả năng “đổi mới” giáo hội từ “bên trong” và “sống” một cuộc đời mẫu mực giữa người giáo dân để giáo huấn họ: 2 năm trong tiểu chủng viện, 3 năm học triết học và chuyên ngành nhân văn hay khoa học rồi ra thực tập ngoài đời mấy năm (dạy học) trước khi trở về học lại 4 năm thần học để được thụ phong vĩnh viễn. Cách đây gần 500 năm, người sáng lập dòng Jésuite muốn nó là một dòng ưu việt, một “đội quân” dũng mãnh về mặt giáo lý và kiến thức để có thể hoàn thành tất cả mọi nhiệm vụ được giao phó.
Hoạt động của Dòng Tên trong
bối cảnh lịch sử thế kỷ XVI-XVII tại châu Âu
Cần phải hiểu là một phần đất Nam Âu thuộc Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha ở thế kỷ XVI vừa mới thoát khỏi ách thống trị của người Hồi giáo sau một cuộc đấu tranh lâu dài khiến người dân những nước đó rất gắn bó với đạo của mình. Phía Trung và Bắc Âu kể từ nước Pháp, Đức lại mắc phải cuộc nội chiến tôn giáo giữa phái Cải tạo thệ phản (Réforme) và phái Giáo Hội trung thành với La Mã. Ông Loyola mới đầu chỉ muốn Dòng mình sáng lập đi truyền giáo (giảng giáo lý cho trở lại đạo Công giáo La Mã) ở đất thánh Jérusalem mà người Ả Rập Hồi giáo đã chiếm từ thế kỷ VII-VIII (chinh phục Đông Phương phải hiểu theo nghĩa Đất thánh và vùng Cận Đông Trung Đông), ở những phần đất Âu châu theo Thệ phản, và giáo dục trẻ em cũng như những người lớn mù chữ. Nhưng cũng chính lúc đó, các thân hào ở tỉnh Messine (thuộc đảo Sicile, Ý) yêu cầu ông Loloya mở trường cho tỉnh (1548). Trường được nổi tiếng và kể từ đó Dòng thay đổi mục tiêu, chỗ nào có giáo sĩ của Dòng Tên tới là chỗ đó có trường học. Dòng Tên trở thành Dòng dạy học và nắm được hết trí thức ở những vùng ấy.
Thời đại hoàng kim của Dòng Tên kéo dài 100 năm (1540-1640). Khi ông Loyola mất năm 1556, dòng có 1.000 giáo sĩ. 100 năm sau có 15.000 giáo sĩ và 580 trường học ở toàn cõi Tây phương, Đông phương và Mỹ Châu.
Sự bành trướng của Dòng
ở Mỹ Châu và Viễn Đông trong thời đại hoàng kim
Những đặc tính của Dòng: óc phục tòng; nội bộ chặt chẽ kín đáo, gần như bí ẩn, đối với người ngoài; tính độc lập đối với hàng giáo phẩm nơi Dòng hoạt động; trình độ trí thức cao nên có thể lôi kéo con em các vương hầu khanh tướng theo học trong những trường Dòng sáng lập, khiến Dòng có nhiều ảnh hưởng tới các công hầu khanh tướng và vua chúa ở Tây phương cũng như Đông phương. Nhờ đó, Dòng mỗi ngày một bành trướng, nhưng vì vậy cũng gây ra rất nhiều ghen ghét, tị hiềm, khiến sau thời đại hoàng kim, Dòng bị xua đuổi và bị giải tán khoảng 30 lần.
Ở Mỹ Châu, sự kiện nổi bật của Dòng là đã đứng về phía người Da đỏ Guarani ở Paraguay (Nam Mỹ) chống lại thực dân Tây Ban Nha, và những tập đoàn bắt người làm nô lệ bằng cách tổ chức cả thảy 38 “tiểu vực” (réductions) thành thị xã, lập thành một nước tự trị gồm 110.000 dân da đỏ trên một lãnh thổ rộng bằng nửa nước Pháp, và đóng thuế thẳng cho vua Tây Ban Nha. Mỗi thị xã đều có khu nhà dân cư, khu công cộng gồm có nhà thờ, tòa hành chính, trường học, cai trị bởi một hội đồng quản trị người bản xứ qua một cuộc bầu cử trực tiếp. Ở trường học có dạy tiếng bản xứ,có tập thể dục, có hoạt động văn hóa như diễn kịch. Mọi người đều đồng đều, không có kẻ giàu người nghèo và không có luật tử hình. Nhà nước lập quân đội người bản xứ để chống bắt nô lệ. Voltaire, Montesquieu và sau này Lafargue, rể của K.Marx, đều khen ngợi nước Cộng Hòa Ki Tô này. Nó tồn tại được 181 năm, từ 1588 tới 1769.
Ở Viễn Đông, trong những giáo sĩ Dòng Tên nổi tiếng đi truyền giáo, phải kể hai ông: Franois Xavier và Matteo Ricci.
Franois Xavier (Javier) sinh ở tỉnh Navarre, sau thuộc về Tây Ban Nha (1506-1552) học đại học ở Paris khi 18 tuổi, năm 1534 theo Loyola hành đạo ở Âu Châu trước khi đi Goa, thuộc địa Bồ Đào Nha, ở Ấn Độ. Trong 2 lần đi đến cửa biển quốc tế Malacca (Mã Lai), ông gặp nhiều người nói đến Quảng Đông (1514) ở Viễn đông mà người Âu Tây mới có dịp đặt chân tới. Ngày 15-8-1549, ông lên một chiếc thuyền Trung Quốc tới tỉnh Kagoshima bên Nhật. Ở đây, ông cùng một vị đại đức Phật giáo Nhật bàn luận trao đổi ý kiến, rồi đi Kyoto tiếp xúc với các nho sĩ Nhật trước khi lập nhà thờ ở vùng Yamayuchi và ở Funai trên đảo Kyushu. Nghe lời khuyên của các nhà nho Nhật là muốn cảm hóa được người theo đạo, trước tiên phải thuyết phục được Trung Quốc, ông bèn trở về Goa xin được sứ mệnh đi Trung Quốc và mất ở Trung Quốc.
Tuy thời gian ở Nhật ngắn ngủi, nhưng Xavier cũng cảm hóa được nhiều người theo đạo, trong số đó có đại quan Otomo và nhiều daimyo (đại danh). Nhờ vậy, đạo Kitô trong thời gian đó được truyền một cách rất mau chóng, nhất là ở tỉnh Nagasaki, nơi Hội Dòng Tên còn được phép độc quyền mua bán tơ lụa(2).
Đọc kỹ lịch sử truyền giáo ở Nhật mới thấy các shogun Nhật (tướng quân) không thiển cận như vua chúa Việt Nam thời ấy. Các shogun Nhật và các nhà truyền giáo Dòng Tên đặt quan hệ trên nguyên tắc trao đi đổi lại : cho quyền giảng đạo miễn là đừng lấn tới chính trị, và các giáo sĩ phải giúp các lãnh chúa súng ống, cách đóng thuyền, trang bị các dụng cụ đi biển; nhờ vậy mà thương thuyền Nhật bản có thể đi cùng khắp Đông Nam Á. Shogun Mobunaga (1534-1582) lại dùng đạo mới để chống đối lại những giáo phái Phật giáo mà ông đang muốn khuynh đảo. Shogun Hideyoshi (1536-1598) tuy ra lệnh giết 26 người Kitô giáo, nhưng vẫn để cho thương thuyền Bồ Đào Nha buôn bán ở Nagasaki. Sự đố kỵ giữa người Hòa Lan theo Thệ phản và người Bồ theo Công giáo cũng được các lãnh chúa lợi dụng để chia rẽ người Tây phương với nhau. Họ biết những nước đó, đặc biệt là giữa các nước theo Thệ phản, và ngay cả những nước theo Công giáo với nhau, được quyền truyền đạo là được quyền buôn bán, và đó là mục đích duy nhất, chứ không phải truyền đạo là có ý xâm lược. Chỉ đến thời Tokugama Ieyasu (1543-1616), khi các shogun thấy có thể giao thiệp thẳng với các vua chúa và các nhà cầm quyền vùng Đông Nam Á (kể cả Philippin của Tây Ban Nha), không cần sự môi giới của các nhà truyền giáo nữa, và có lẽ mọi kỹ thuật đi biển đã biết hết rồi, họ mới cấm đạo. Đến cuối thế kỷ XVII, họ thẳng tay đuổi những người Nhật theo đạo đi Macao và Philippin, và tàn sát những người ở lại Nhật mà không chịu bỏ đạo. Chính sách lợi dụng, học hỏi Tây phương để lấy lợi cho mình  bắt đầu từ các shogun qua tới Minh Trị và có thể nói cho tới ngày nay các nhà cầm quyền Nhật vẫn tiếp tục noi theo.
Matteo Ricci gốc Ý sinh năm 1552, vào chủng Dòng Tên năm 1571. Ông tiếp tục theo vết chân Franois Xavier, coi Trung Quốc là nơi truyền giáo lý tưởng, nhưng không coi là nơi phải chinh phục một mất một còn như đối với Hồi giáo, mà là nơi có thể có sự hoà hợp bổ sung giữa 2 nền văn minh Trung Quốc và Âu Tây. Mới đặt chân tới Macao tháng 8 năm 1582, ông đã lo học ngay tiếng Trung Quốc. Tuy các nhà truyền giáo không được ở ngay trong tỉnh Quảng Đông, nhưng được Tổng Đốc Lưỡng Quảng cho ở Triệu Thanh Phủ gần đó.
Ở Nhật cũng như ở Trung Quốc, Dòng Tên dùng kiến thức và khoa học Âu Tây để chinh phục giới cầm quyền. Khi được lòng các nhà cầm quyền rồi, họ dễ được phép truyền đạo trong dân chúng. Nói tóm lại Dòng Tên đi từ trên xuống dưới khác với các giáo sĩ truyền đạo khác. Cũng theo chính sách đó, Matteo Ricci mời Tổng Đốc Lưỡng Quảng và các quan lại tới Triệu Thanh Phủ để trình bày rất nhiều đồng hồ, máy móc, địa bàn địa cầu, dụng cụ thiên văn v.v… đem từ Macao qua và sau đó dùng làm quà biếu xén các quan chức để lấy lòng các vị đó. Ngoài thì giờ nghiên cứu và chế tạo máy móc, ông ta lo học Tứ Thư, Ngũ Kinh để bàn cãi về đạo lý với các nho sĩ và nghe lời khuyên bảo của các vị này. Ông mặc áo nho sĩ thay vì mặc áo thày tu. Năm 1593 ông dịch Tứ thư, Ngũ Kinh ra tiếng Latinh và kiếm cách đi Bắc Kinh để được triều kiến vua. Muốn tới được Bắc Kinh, phải có nhiều người dẫn tiến, và phải qua Nam Kinh trước. Ông tới Nam Kinh ngày 31 tháng 5-1595, và ở đó tới tháng 9-1598. Khi tới Bắc Kinh, ông ở nhà người bạn họ Hoàng (Wang Zongming), một vị quan có chức vị cao. Nhưng vì họ Hoàng không phải là quan triều thần, không giúp ông vào triều kiến vua. Ông đành phải trở về Nam Kinh, mua nhà tọa lạc tại đấy, nghiên cứu và dạy học cho tới 1601 dưới thời Vạn Lịch mới được trở lại Bắc Kinh và sống ở đó cho tới khi chết (1610). Ông được nhà vua cho đất táng và cho một cái chùa để các cha Dòng Tên ở.
Matteo Ricci, tên Hán là Lợi Mã Đậu, trở thành nhà nho không khác gì một nho sĩ Trung Quốc. Ông viết rất nhiều sách khoa học bằng chữ Hán dâng Vua như cuốn Những nguyên lý Euclide, cuốn Bản đồ – địa chí, cuốn Luận về Tình bằng hữu v.v…
Sang nhà Thanh, dưới triều thịnh trị nhất của vua Khang Hi, các giáo sĩ Dòng Tên vẫn tiếp tục được lưu dụng và rất được sủng ái. Một số giáo sĩ giúp vua trong quan hệ giao thiệp giữa Trung Quốc và Nga. Họ còn giúp về kiến trúc, thiên văn, nghệ thuật (đồ sứ màu hồng) và vẽ bản đồ Trung Quốc v.v… Họ chỉ bị thất sủng dưới triều Ung Chính và Càn Long, nhưng sau đó, từ 1842 đến 1949, được dùng lại: mở Trường ở Thượng Hải (1842), tới năm 1850 đã có 4 trường, lập đài thiên văn v.v… Nếu có sự khó khăn về hoạt động của Dòng Tên ở dưới triều thịnh trị Khang Hi, đó là những khó khăn đến từ chính Giáo hội La Mã.
Các giáo sĩ Dòng Tên có những nguyên tắc truyền giáo khác với các dòng khác là:
Ở những miền dân còn sơ khai như Nam Mỹ: tổ chức lại đời sống xã hội, giáo dục dân chúng, giúp dân chống lại bọn thực dân cướp đất cướp người. Truyền thống đó hiện nay cũng vẫn còn ở Trung và Nam Mỹ, nơi có rất nhiều linh mục Dòng Tên theo thuyết “thần học giải phóng”, còn gọi là những giáo sĩ chân đất, bênh vực dân nghèo bị những tập đoàn địa chủ ám hại.
Ở những nước như Nhật Bản và Trung Quốc, đã có nền văn hóa cao nhưng khác biệt với văn hóa Âu Tây, và đạo giáo không có ảnh hưởng chính trị nhiều như ở những nước theo đạo Hồi, các giáo sĩ Dòng Tên tìm đến những thành phần ưu tú trong xã hội để tìm những điểm tương đồng và bổ túc bằng giáo lý Kitô giáo. Họ nhớ lời khuyên của các nho sĩ Nhật là muốn người Nhật theo đạo thì phải thuyết phục được người Trung Quốc vì một lẽ rất dễ hiểu là văn hóa và tôn giáo Nhật có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc.
Nhưng giáo hội La Mã không chấp nhận lập luận của Dòng Tên về những điểm tương đồng trong sự tin tưởng về trời đất giữa người Trung Hoa và người Kitô giáo, cũng như nghi lễ thờ tổ tiên của người Trung Hoa không trái ngược với đạo Kitô. Những phần tử thủ cựu trong Giáo Hội hợp với sự ghen tức của các dòng khác nhân cơ hội đó xuyên tạc với Giáo hoàng là Dòng Tên muốn tạo ra một đạo lai căng nửa Trung Quốc nửa Kitô và xui giáo hoàng cấm Dòng Tên không được tiếp tục truyền giáo kiểu đó nữa.
Ba chìm bảy nổi” sau thời đại hoàng kim
Cuối thế kỷ XVII, ngoài việc bị đuổi khỏi Nhật, Dòng Tên còn bị cấm đoán ở rất nhiều nơi, kể cả ở châu Âu.
Năm 1750, Bồ Đào và Tây Ban Nha ký hiệp ước chia nhau “Khu Tự trị” Paraguay, Nam Mỹ. Một số cha Dòng Tên lãnh đạo quân dân bản xứ đánh bại quân đội của cả hai nước tới xâm chiếm. Bồ Đào trả đũa bằng cách đuổi các cha ra khỏi mọi lãnh thổ của Bồ năm 1759.
Năm 1767, vua Tây Ban Nha Charles III ra lệnh bắt 5.000 giáo sĩ Dòng Tên, đóng cửa 240 cơ sở của Dòng trên khắp lãnh thổ Tây Ban Nha từ chính quốc tới thuộc địa.
Ở Pháp, Dòng Tên lao đao nhiều nhất vì đã gây ra nhiều ghen ghét, nhất là với Đại học Sorbonne ngay từ khởi đầu vào năm 1563, khi Dòng Tên mở Collège de Clermont. Trường này không những dạy giỏi mà còn dạy miễn phí khiến Đại học Sorbonne mất sinh viên. Phải đợi tới năm 1594, khi một người tên là Jean Chatel, đã từng theo học trường Clermont, mưu sát vua Henri IV, những người ghen ghét Dòng Tên mới nhân cơ hội này bắt đóng cửa trường, treo cổ thầy dạy thần học rồi đốt xác ở ngoài bãi và bắt các giáo sư đi đày. Mãi đến năm 1618, nhờ sự bảo trợ của vua Louis XIV, trường mới được thật sự mở lại. Trường đổi theo tên vua, thành Louis Le Grand, danh tiếng cho tới bây giờ. Nhưng  năm 1762, cũng vì chuyện tên, Damien, một người làm công cho trường, ám sát hụt vua Louis XV, trường lại bị đóng và giáo sư, học trò đều bị đuổi. Lẽ tất nhiên là sau Cách mạng 1789 cũng như trong thế kỷ XIX, chịu ảnh hưởng của những nhân vật cộng hoà Pháp, nhiều người, kể cả các sử gia trứ danh như Michelet, Quinet, luôn đả kích bọn “thầy tu áo đen”. Dòng Tên bị đuổi, bị cấm dạy học nhiều lần không những ở chính nước Pháp mà còn cả ở thuộc địa Pháp.
Nỗi đau đớn nhất của Dòng Tên là cũng vì quá thành công ở Trung Quốc và các nơi khác, nên những kẻ ghen ghét đã gièm pha với Giáo Hoàng về chuyện Dòng Tên chấp nhận tục thờ kính tổ tiên trái với giáo lý đạo Kitô, nên năm 1773, Giáo Hoàng ra sắc lệnh giải tán Dòng. Mãi đến năm 1814, Giáo Hoàng Pie VII mới cho lập lại.
Dòng Tên ngày nay
Với hơn 20.000 giáo sĩ, Dòng Tên đứng thứ nhì trong số những dòng thuộc đạo Công giáo. Nhưng nếu kể số trường đại học, cao đẳng và trung học mà Dòng Tên thiết lập ở 112 nước trên thế giới, dòng này phải được kể là lớn nhất trong địa hạt giáo dục. Ngoài ra, những trường đó phần nhiều là danh tiếng, không những đối với nước sở tại, mà cả về phương diện quốc tế, chẳng hạn Đại học Georgetown ở Mỹ, nơi Clinton cũng như hai bà bộ trưởng ngoại giao Allbright và Rice theo học. Ở Trung Quốc phải kể trường Đại học Rạng Đông (Aurore) ở Thượng Hải. Số nhân vật nổi tiếng thế giới, trên đủ mọi địa hạt, chính trị cũng như văn hóa, trong lịch sử cũng như hiện đại, được đào tạo ở những trường dòng Tên không sao kể hết được: chỉ cần kể trong lịch sử Pháp có nhà cách mạng Robespierre và thời đại này có Fidel Castro.
Ngoài địa hạt giáo dục, các cha dòng Tên cũng nổi tiếng trong nhiều lãnh vực, kể cả chính trị như ở Trung Nam Mỹ với lý thuyết thần học giải phóng đã từng bị coi là lý thuyết cộng sản trá hình. Giám mục hiện giờ ở Thượng Hải là một linh mục Dòng Tên 91 tuổi được chính phủ Trung Quốc phong, trái với ý của Tòa thánh Vatican. Nói cho cùng, vị tân giám mục này chỉ theo gương Lợi Mã Đậu (Ricci Matteo).
Sau khi cố gắng tìm tòi, tôi không thấy có tài liệu nào đưa bằng chứng là các cha Dòng Tên thuộc vào loại “áo đen mã tấu”, thập giá lưỡi gươm. Có thể “tội” của họ là dùng trí óc để khuynh đảo người khác, lôi kéo những người này theo “nước Chúa”. Có lẽ ở Việt Nam, chúng ta cũng nên phân biệt rạch ròi đâu là những sự nghiệp của các giáo sĩ Dòng Tên, trong đó có A. de Rhodes với công trình sáng tạo chữ quốc ngữ, đâu là việc làm của các vị thừa sai khác, để có thể đi tới một sự đánh giá khách quan hơn. Tóm lại, về lịch sử, chỉ nên căn cứ vào những sự kiện, nên tránh lý luận và suy diễn.
Theo Talawas – 343 (10-7-2006)
Chú thích:
  1. Tài liệu tham khảo: Encyclopaedia universalis, 2004. The New Caxton Encyclopedia. J. Lacouture, Jésuites – une multibiographie, Nxb Seuil, Paris, 1991-1992. M. Leroy, Le mythe jésuite, P.U.F, 1992. J. Dehergne, Répertoire des Jésuites de Chine de 1552 à 1800. Gerard.Klopp, Lycée Louis Le grandWikipediaL’Express 25-5-06, Le Mazarin chinois.
  2. Trớ trêu thay, Nagasaki, nơi có nhiều người theo đạo Kitô nhất ngay từ thời bấy giờ, cũng là nơi chịu trái bom nguyên tử 400 năm sau, còn trơ lại cái sườn nhà thờ.

Từ ba chủ nghĩa của Tôn Trung Sơn đến ba tiêu ngữ của Hồ Chí Minh

Tôn Trung Sơn (1866-1925) còn có tên là Tôn Văn, Tôn Dật Tiên, người huyện Hương Sơn (nay là Trung Sơn) tỉnh Quảng Đông. Ông là nhà cách mạng dân chủ vĩ đại của Trung Quốc.
Sớm giác ngộ tư tưởng dân tộc – dân chủ, nên sau khi tốt nghiệp trường Y khoa Bác Tế (Quảng Châu), ông đã dấn thân vào con đường hoạt động cứu dân cứu nước. Năm 1894, ông thành lập Hưng Trung Hội ở Honolulu (Hawaii) là Hội cách mạng đầu tiên của giai cấp tư sản Trung Quốc đề ra Cương lĩnh: “Đánh đuổi giặc Thát, khôi phục Trung Hoa, sáng lập chính phủ hợp quần”. Hội đã thu hút nhiều nhân sĩ và thanh niên Trung Quốc yêu nước tham gia, quyên góp kinh phí, mua sắm vũ khí chuẩn bị các cuộc khởi nghĩa Quảng Châu (1895), Huệ Châu (1898) dự định kết hợp với phong trào phản đế của Nghĩa Hòa Đoàn ở miền Bắc, nhưng đã không thành công, ông lại phải lưu vong ra nước ngoài.
Nhà tưởng niệm
Tháng Tám năm 1905, Hưng Trung Hội của Tôn Trung Sơn, Hoa Hưng Hội của Hoàng Hưng (tức Hoàng Khắc Cường) cùng với các Hội đảng khác họp tại Tokyo (Nhật Bản) lập ra một tổ chức cách mạng thống nhất lấy tên “Trung Quốc Đồng Minh Hội” gọi tắt là Đồng Minh Hội có cương lĩnh chính trị là : “Đánh đuổi giặc Thát, khôi phục Trung Hoa, sáng lập Dân quốc, bình quân địa quyền”. Tôn Trung Sơn được bầu làm Tổng lý. Tổng bộ Đồng Minh Hội được xây dựng theo nguyên tắc “tam quyền phân lập” đứng đầu là Tổng lý, dưới có ba bộ “Chấp hành”, “Bình nghị” và “Tư pháp”.
Tháng 11 – 1905, tờ Dân báo, cơ quan ngôn luận của Đồng Minh Hội phát hành số đầu tiên. Trong “Lời nói đầu của Dân báo”, Tôn Trung Sơn đã khái quát Cương lĩnh chính trị của Đồng Minh Hội thành ba chủ nghĩa “Dân tộc – Dân quyền – Dân sinh”, gọi tắt là Chủ nghĩa Tam dân.
Từ đó, phong trào cách mạng tiến mạnh hơn trước. Các cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ở các tỉnh miền Nam Trung Quốc ngày càng lan rộng và đến ngày 10-10-1911, khởi nghĩa Vũ Xương thắng lợi, cách mạng Tân Hợi thành công, đạp đổ chế độ phong kiến hàng nghìn năm thống trị Trung Quốc. Chính phủ Dân quốc lâm thời ra đời do Tôn Trung Sơn làm Tổng thống, thủ đô đặt tại Nam Kinh.
Nhưng chẳng bao lâu sau, mọi thành quả cách mạng lại bị rơi vào tay bọn quân phiệt phản động Viên Thế Khải! Tôn Trung Sơn lại phải trải qua một chặng đường đấu tranh mới đầy gian lao khổ ải. Năm 1912, ông cải tổ Đồng Minh Hội thành Quốc Dân Đảng, tiếp tục hoạt động chống bè lũ quân phiệt Bắc dương.
Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi (1917) đã ảnh hưởng lớn đến Tôn Trung Sơn, rồi Đảng Cộng Sản Trung Quốc thành lập (1921) tạo nên bước ngoặt trong tư tưởng và hành động của ông. Tôn Trung Sơn đã kết hợp với Đảng Cộng Sản Trung Quốc, chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất cách mạng, đề ra “ba chính sách lớn: Liên Nga, Liên Cộng, Phù trợ Nông Công”. đồng thời triệu tập Đại hội đại biểu Trung Quốc Quốc dân Đảng (1924), xác định lại và bổ sung thêm nội dung mới của chủ nghĩa Tam dân (1), đề ra cương lĩnh chính trị “phản đế phản phong”, xóa bỏ các “Điều ước bất bình đẳng”, triệu tập “Quốc dân hội nghị”. Sau đó, ông lập ra trường Quân sự Hoàng Phố, đào tạo cán bộ chỉ huy, chuẩn bị Bắc phạt, tiêu diệt bè lũ quân phiệt phản động, lập lại chế độ Cộng hòa Dân quốc, nhưng không may, ông thụ bệnh và từ trần tại Bắc Kinh ngày 12-3-1925.
“Cái chết đột ngột của nhà cách mạng dân chủ, người bạn vĩ đại của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, là một cái tang chung cho nhân dân toàn quốc, và do đó đã hình thành một phong trào tuyên truyền chính trị rộng lớn… chủ nghĩa Tam dân mới chống đế quốc phong kiến, được truyền bá khắp nước rất nhanh chóng.
*
*      *
Thật ra không phải đến khi Tôn Trung Sơn qua đời,  thì chủ nghĩa Tam dân mới được truyền bá rộng khắp, mà ngay khi sinh thời của ông, nó đã có ảnh hưởng tới nhiều nước và nhiều nhà yêu nước, cách mạng trên thế giới. Ngay đối với nước ta, trong 25 năm đầu thế kỷ XX, cụ Phan Bội Châu – nhà chí sĩ yêu nước tiêu biểu của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam đã chịu ảnh hưởng sâu sắc đường lối cách mạng và tư tưởng của Tôn Trung Sơn. Năm 1904, khi lập ra Duy Tân Hội, cụ Phan đã đề ra cương lĩnh chính trị “Đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục Việt Nam, thành lập nước Quân chủ lập hiến (2), và nhất là khi Cụ đã chuyển hướng sang theo tư tưởng dân chủ và thành lập Việt Nam Quang phục hội năm 1912, đề ra tôn chỉ duy nhất là “Đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục Việt Nam, thành lập nước Cộng hòa Dân quốc” Phan Bội Châu được bầu làm Tổng lý, cơ cấu tổ chức và chức viên của Hội cũng na ná như Đồng Minh Hội của Tôn Trung Sơn, cũng có ba bộ: Bộ Tổng vụ, Bộ Bình nghi và Bộ Chấp hành”. Hội cũng có “đội quân Quang phục”, đề ra “phương lược” chế định quốc kỳ, quân kỳ, phát hành quân dụng phiếu… Trong “Lời phi lộ của Việt Nam Quang phục hội” nhấn mạnh ý nghĩa:
“Gần thì bắt chước theo Tàu (tức theo Tôn Trung Sơn),
Xa thì người Mỹ người Âu làm thầy”.
Đám tang Tôn Trung Sơn
Đến năm 1924, Phan Bội Châu lại thêm một lần nữa “noi theo” Trung Quốc Quốc dân đảng của Tôn Trung Sơn, cải tổ Quang Phục Hội thành Việt Nam Quốc Dân Đảng. Cụ đã khởi thảo Chương trình và Đảng cương, và như Cụ nói: “Quy mô tổ chức ở trong bản Chương trình này tất thảy đều dựa theo khuôn mẫu của Trung Quốc Quốc dân đảng mà châm chước thêm bớt cho đúng với tình hình nước ta, cũng là một thủ đoạn tùy thời cải cách đó vậy” (3).
Như vậy Phan Bội Châu, có lẽ là người lãnh đạo cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, cũng là người sớm nhất được tiếp xúc với Tôn Trung Sơn hai lần ở Yokohama Nhật Bản (1905) đàm đạo tư tưởng, chủ trương cách mạng và sau này một lần ở Nam Kinh (1912) hoạt động trên đất Trung Quốc, nhận sự giúp đỡ của các đảng nhân phái cách mạng, chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, nên khi được tin Tôn Trung Sơn từ trần, Phan Bội Châu có đôi câu đối viếng ghi đậm mối cảm tình sâu đậm đó.
“Chí tại Tam dân, đạo tại Tam dân, ức Hoành Tân, Trí Hòa Đường lưỡng độ ác đàm, tác hữu tinh thần di hậu tử;
Ưu dĩ thiên hạ, lạc dĩ thiên hạ, bị đế quốc chủ nghĩa giả đa niên áp bức, thống phân dư lệ khấp tiên sinh”;
Nghĩa: “Chí ở tam dân, đạo ở Tam dân, nhớ hai lần nói chuyện ở Trí Hòa Đường, Hoành Tân, để lại tinh thần cho người chưa chết;
Lo vì thiên hạ, vui vì thiên hạ, bị nhiều năm áp bức do bọn Đế quốc chủ nghĩa, cùng chia nước mắt để khóc tiên sinh” (4).
*
*      *
Cuối năm 1924, khi Nguyễn Ái Quốc, phái viên của Quốc tế Cộng sản từ Liên Xô về hoạt động ở Trung Quốc, chuẩn bị thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, Người đã từng tìm hiểu cách mạng Trung Quốc, nên nhân dịp kỷ niệm ngày sinh Tôn Trung Sơn (13-11-1926) Người đã viết những dòng về các sự kiện ở Trung Quốc đầy xúc động với lòng tôn phục như sau: “Chúng tôi không thể không nêu nhiệt tình của dân chúng Quảng Châu và cả tỉnh Quảng Đông khi họ kỷ niệm ngày sinh của Tôn Dật Tiên. Sự nồng nhiệt của nhân dân chứng tỏ người Trung Quốc biết ơn dường nào vị lãnh tụ vĩ đại quá cố khơi dậy nơi họ ý chí tự giải phóng khỏi ách áp bức về ngoại giao mà bây giờ không có thể biện hộ được (5). Nguyễn Ái Quốc cũng như các vị sáng lập ra Tân Việt cách mệnh đảng (một đảng được coi là tiền thân của Đảng cộng sản), trong Đảng chương ở mục Tài liệu giáo dục lý luận, cũng đã ghi: “học Lịch sử cách mạng các nước Mỹ, Pháp, Tàu, Nhật; học Tiểu sử nhà cách mạng Mã Khắc Tư, Liệt Ninh, Tôn Dật Tiên; học chính trị và chủ nghĩa cộng sản, Tam dân, Cam địa v.v…” (6) Chính Hồ Chí Minh lúc bấy giờ hoạt động ở Quảng Châu cũng đã giới thiệu nhiều thanh niên yêu nước Việt Nam vào học trường quân sự Hoàng Phố để học tập quân sự và có học cả lý luận chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn .
Sau này, cách mạng 1945 thắng lợi, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn thường ca ngợi tình hữu nghị lâu đời giữa hai nước Việt- Trung và không quên tôn vinh chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn. Ngày 12-10-1945, nhân danh chủ tịch nước, Người đã ký sắc lệnh số 49 về việc ghi rõ quốc hiệu Việt Nam Dân chủ cộng hòatrên các công văn, điện văn, công điện, trát, đơn từ, báo chí, chúc từ v.v… (7) và sau đó (chưa rõ ngày tháng năm nào), chúng ta lại thấy phía dưới dòng tiêu đề: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xuất hiện trang trọng ba cặp tiêu ngữ: Độc lập- Tự do- Hạnh phúc phản ánh niềm khát vọng muôn đời của biết bao thế hệ con dân nước Việt Nam yêu quý.
Ba tiêu ngữ này hẳn là “tác phẩm” của chủ tịch Hồ Chí Minh vốn có nguồn gốc từ ba chủ nghĩa “Dân” của Tôn Trung Sơn được Người tiếp thu và vận dụng một cách sáng tạo ở Việt Nam trong cả quá trình đấu tranh giải phóng giành Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do và Dân sinh Hạnh phúc. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đó là ba chính sách. Tại phiên họp bế mạc kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, ngày 9-11-1946, Người đã long trọng phát biểu: “Chính phủ cố gắng làm theo đúng ba chính sách: Dân sinh, Dân quyền và Dân tộc. Chúng ta không mong gì hơn nhưng chúng ta không chịu gì kém” (8). Đó là “ba chính sách cách mạng” mà chủ tịch Hồ Chí Minh và toàn dân ta ra sức phấn đấu nhằm đạt tới. Trong lời kêu gọi Thi đua ái Quốc ngày 11-6-1946, Người viết “Mỗi người dân Việt Nam bất kỳ già trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hóa… để: Toàn dân đủ ăn đủ mặc; Toàn dân biết đọc, biết viết, Toàn bộ đội đầy đủ lương thực, khí giới để diệt ngoại xâm. Toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn. Thế là chúng ta thực hiện: Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc. Ba chủ nghĩa mà nhà đại cách mạng Tôn Văn đã nêu ra” (9).
Và Người cũng từng nói: “chủ nghĩa của Tôn Dật Tiên có ưu điểm là thích hợp với điều kiện nước chúng tôi… Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của ông” (10).
Nhưng khi tiếp thu và vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, chúng ta cũng thấy có chỗ khác biệt, kể cả sắp xếp ngôn từ lẫn giới thuyết nội dung tư tưởng như: “Tôn Trung Sơn viết “Tam dân chủ nghĩa” tức là Chủ nghĩa ba dân: chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân quyền, chủ nghĩa dân sinh. Tôn Trung Sơn không nói: Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc như chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngược lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh không viết “chủ nghĩa” dân tộc độc lập…
Về nội dung, Hồ Chí Minh chủ trương dân tộc bị áp bức Việt Nam đoàn kết với Liên Xô, với giai cấp vô sản các nước và các dân tộc bị áp bức khác đánh đổ chủ nghĩa đế quốc thống trị Việt Nam, gắn chủ nghĩa quốc tế, thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất trên cơ sở liên minh công nông. Sau khi giành được độc lập rồi, phải củng cố nền độc lập, xây dựng một quốc gia giàu mạnh, bình đẳng với các nước trên thế giới, độc lập gắn liền với tự do. Bởi thế mà Hồ Chí Minh mới nhấn mạnh trong tư tưởng của Người đã có thêm một mệnh đề khái quát tầm cỡ triết học mang tính thời đại “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” và luôn gắn kết ý nghĩa thực tiễn “độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì” (11).

Chú thích:
(1) Nhà sử học Mác xít Trung Quốc Hà Cán Chi đã giải thích tường tận Chủ nghĩa Tam dânmới như sau: “Không giống như chủ nghĩa Tam dân cũ phản ánh đặc điểm của thời kỳ Cách mạng dân chủ cũ (do giai cấp tư sản lãnh đạo với mục đích thực hiện nền chuyên chính tư sản và xã hội chủ nghĩa tư bản) đến thời kỳ cách mạng dân chủ mới, nó đã lỗi thời. Chủ nghĩa dân Tam dân mới là chủ nghĩa Tam dân của thời kỳ cách mạng dân chủ mới. Chủ nghĩa dân tộc của Tam dân mới phản đối đế quốc, chủ trương “dân tộc Trung Quốc tự cầu giải phóng” chủ trương “các dân tộc trong nước đều bình đẳng như nhau”. Chủ nghĩa dân quyền của Tam dân mới chủ trương dân quyền là của chung của nhân dân và không để cho thiểu số người tư sản làm của riêng. Chủ nghĩa dân sinh của Tam dân mới chủ trương “bình quân địa quyền”, “người cày có ruộng”, chủ trương “tiết chế tư bản”, cải thiện đời sống công nhân. Theo Trung Quốc Hiện đại cách mạng sử. T.1, Hà Cán Chi (chủ biên). Cao đẳng giáo dục xuất bản xã, Bắc Kinh 1957. tr. 59-60.
(2) Phan Bội Châu, Toàn tập, Tập 6, NXB. Thuận Hóa và TTVHNNĐT Hà Hội, 2000, tr.156 và 216.
(3) Phan Bội Châu, Tập 6, Sdd, tr. 262.
(4) Phan Bội Châu, Tập 6,Sđd. tr.155, 269.
(5) Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 2, Nxb CTQG Hà Nội, 1995, tr.461.
(6) Văn kiện Đảng, Tập 1, Nxb CTQG, Hà Nội. 1998, tr.156.
(7) Hồ Chí Minh, Tập 4. Sđd, Hà Nội, 1995, tr.503.
(8) Hồ Chí Minh, Tập 4. Sđd, tr.440.
(9) Hồ Chí Minh, Tập 5, Sđd, 1995, tr. 444-445.
(10) Dẫn lại theo trang bìa 3 cuốn sách Chủ nghĩa Tam dân. Viện TTKHXH xuất bản, Hà Nội, 1995.
(11) Hồ Chí Minh, Tập 4, Sđd, 1995, tr.261.

Chương Thâu

Mẫu Thoải biểu tượng thần nước trong Tam tòa Tứ phủ

Chính sử thời phong kiến ít lưu tâm đến những tín ngưỡng dân gian – mà các sử gia của triều chính quan niệm là “tà đạo”. Trong đạo Tứ Phủ của Việt Nam, phụ nữ có vai trò quan trọng hơn “giới mày râu” là đối lập với cái nhìn của Nho giáo đã ngự trị qua hầu hết các triều đại. Mẫu Thoải là một tính danh chung nhất đại diện cho một góc độ tôn giáo.
Ở làng A Lữ có truyền thuyết: “Thủa đất trời mới mở mang, núi cao, rừng rậm, đầm lầy còn bao phủ gần kín mặt đất, Kinh Dương Vương thường đi dọc khắp mọi vùng, trông nom cõi bờ đất nước. Một ngày kia, khi dạo tới vùng nước còn mênh mông trắng xóa, chỉ lô nhô đôi gò đất cao nổi lên, vua bỗng gặp người con gái có sắc đẹp tuyệt trần, vừa như tiên giáng thế, vừa tựa thiếu nữ nơi thủy cung lên (T.S.H nhấn mạnh). Vua hỏi nàng xưng là con gái của Động Đình Quân – Thần Long. Trong lòng cảm động, Kinh Dương Vương lấy nàng làm vợ”, sau đó ít lâu sinh ra Sùng Lãm tự xưng là Lạc Long Quân.
Cũng cốt chuyện trên, dân vùng Ngàn Hống (Nghệ An) kể rằng: “Lúc mới mở nước, Kinh Dương Vương đi xem cảnh núi sông, tìm nơi đất lành để xây dựng kinh đô.
Khi về tới phương nam, đến vùng Ngàn Hống, thấy cảnh núi non hùng vĩ, 99 ngọn cao vút, trấn trên tiên Hội, có thế rồng vây hổ chầu, Dương Vương lấy làm vừa ý, bèn sai đắp thành dưới núi, xây dựng lâu đài thành lũy…
Công việc tạm xong, Vương lại cưỡi thuyền trở ra phương Bắc, tiếp tục cuộc tuần du. Thuyền của vua theo dòng Thanh Long (tên cũ của sông Lam – T.K.Đ – chú) đến gần cửa Hội, bỗng thấy một người con gái mặt hoa da phấn, tóc đen mườn mượt, má đỏ hây hây từ dưới nước nổi lên (T.S.H – nhấn mạnh). Sau khi tự xưng là Thần Long, người con gái ấy trở thành vợ vua Kinh Dương Vương và là mẹ của Lạc Long Quân.
Với hai dị bản truyền thuyết dân gian dẫn trên, các sách cổ lục, sử ký của các triều đại phong kiến cũng đã từng ghi chép lại. Kỉ Hồng Bàng thị trong phần Ngoại kỷ của Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Kinh Dương Vương trị vì phương Nam, gọi tên là nước Xích Quỷ. Vua lấy con gái của Động Đình Quân tên là Thần Long, sinh ra Lạc Long Quân. Tác giả Lĩnh Nam chích quái còn kể thêm được chi tiết: “Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy con gái vua hồ Động Đình là Long Vương, sinh ra Sùng Lãm, hiệu là Lạc Long Quân”. Hai bộ sử trên đều thống nhất rằng: Lạc Long Quân là giống Rồng. Rồng chỉ là biểu tượng dân gian được đúc kết từ những hiện tượng mây, mưa, sông nước lớn và là uy lực thần tượng, có tác dụng trực tiếp mạnh mẽ vào cuộc sống của dân chúng. Theo “Phả hệ” này rõ ràng “con gái vua Long Vương” (LNCQ) hay “con gái Thần Long (ĐVSKTT) với con gái vua Thủy Tề trong truyền thuyết ở Kinh Bắc và người con gái xinh đẹp “từ dưới nước nổi lên” ở Ngàn Hống kia chỉ là một vị Nữ Thần Nước mà thôi. Tính danh của bà ngay từ thời tiền sử đã không rõ ràng, nhưng công lao lớn nhất của bà đối với giống tộc người là đẻ được ông Kinh Dương Vương là đời thứ nhất của 18 vua Hùng. Đương nhiên, bà trở thành người mẹ đầu tiên của tộc người Lạc Việt, dường như bấy giờ có một nhà nước cổ Văn Lang. Rồi người con trai bà là Sùng Lãm cùng nàng Âu Cơ sẽ đẻ “bọc trăm trứng”.
Ảnh : ST
Các sử gia đời sau khi chép lại sự kiện trên đều có sự cân nhắc đến nghiêm ngặt. Việt sử thông giám cương mục đã nói rõ quan điểm trong Phàm lệ: “Sử cũ chép quốc thống bắt đầu từ Kinh Dương Vương, nhưng xét thời đại ấy việc rất lờ mờ, không có chứng cứ đích xác. Nay vâng sắc dụ chuẩn y cho phép từ đời Hùng Vương để tỏ rõ lúc bắt đầu có quốc thống của nước ta, còn những việc về niên kỷ Kinh Dương và Lạc Long thì chua phụ ở dưới mà chép sơ lược, để hợp với cái nghĩa “nghi dĩ, truyền nghi” và “Kinh Dương Vương sinh con là Sùng Lãm”. Ở thời Nguyễn, Nho giáo vẫn là quốc giáo, vì vậy thái độ trọng nam khinh nữ biểu hiện khá rõ trong thư tịch. Đến Phan Huy Chú viết Lịch triều hiến chương loại chí – Quyển VI phần Nhân vật chí coi Kinh Dương Vương là dòng dõi Thần Nông, vua khởi đầu của nước Việt ta. Khi trước cháu ba đời Thần Nông là Đế Minh, đi tuần thú ở biển phía Nam, gặp nàng Vụ Tiên rồi lấy làm vợ, đẻ con là Lộc Tục. Lộc Tục có Thánh Đức, Đế Minh yêu lắm, muốn lập là con nối, nhưng Lộc Tục cố nhường cho anh là Nghi; Đế Minh liền phong cho Lộc Tục ở đất Việt (về miền nam), tức là Kinh Dương Vương. Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân, đẻ ra Lạc Long Quân.
Như vậy là sáng tỏ, vợ của Kinh Dương Vương tức là mẹ của Vua Hùng thứ nhất; ba bộ sử có giá trị nhất của Việt Nam thời xưa đã ghi nhận. Tuy nhiên, đương đại lịch sử của các nhân vật truyền thuyết và ngay cả đến thời các sử gia, tên đất, tên người chưa có sự phân định như còn thấy từ sau thế kỷ X. Lời ca hát chầu văn cũng nhắc đến địa danh Động Đình:
Trạng giang biên dòng dòng lai láng
Nguyệt lầu lầu soi sáng Nam minh
Ngài con vua thủy Động Đình
Cổ tiên thần nữ giáng sinh đền rồng.
Tài gồm đủ công dung ngôn hạnh
Nết ôn hòa ưa tính thiên nhiên.
(Văn Mẫu Thoải – Tài liệu sưu tầm ở đền Đồng Bằng – Thái Bình, 1972).
Như vậy thần nữ hồ Động Đình trở thành hiện tượng văn hóa dân gian có ý nghĩa lịch sử trọng đại: trải hơn hai ngàn năm kiêng húy của vua chúa thời phong kiến là Mẫu Thoải. Có điều Mẫu Thoải không để lại một trang viết cụ thể nào về hành trạng của mình. Song dù áp lực của chính quyền, đời sống folklore vẫn dành cho Mẫu Thoải một vị trí xứng đáng trong đạo Tứ Phủ. Tín ngưỡng dân gian cứ truyền khẩu cho con cháu nghìn đời, rồi thêu dệt huyền hoặc. Sử sách cổ bắt buộc phải ghi chép về Mẫu Thoải, nhờ đó, ta còn biết được câu nói của Lộc Tục – Hùng Vương thứ nhất – khi chia con đi khắp miền đất nước: “Ta là giống rồng…”. Phải chăng đây là tàn dư mẫu hệ của thời tiền sử; người con lấy làm tự hào vinh hiển theo dòng giống mẹ. Hiện thời, con người đã và đang tận dụng mọi thành tựu khoa học kỹ thuật để chinh phục dòng sông và biển cả; tâm tưởng của người Việt vẫn có một Mẫu Thoải.
Trải biết bao binh lửa tương tàn và sự ngự trị của tư tưởng Nho giáo, người phụ nữ Việt Nam hằng xuyên phải chịu đựng nhiều nhất những đắng cay khổ cực; nhiều khi đã cam lòng bị vùi dập tàn nhẫn; để lựa chiều giành lấy, để giữ lại một cốt cách tinh hoa của văn hóa Việt cổ xưa. Thực chất nhân vật Mẫu Thoải là đỉnh cao sự ngưng kết, chắt lọc của tín ngưỡng thờ thần nước trong lòng xã hội cũ; khi nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu còn triền miên, dai dẳng. Đương nhiên quyền lựa chọn, đề cao rồi tiến tới đồng hóa thần nước với mẹ vua Hùng thứ nhất với Mẫu Thoải là điểm hội tụ của lòng dân, mà lòng dân đã trở thành thống nhất trong toàn thể bờ cõi cư dân, thì đó là thánh thần, là siêu nhân linh thiêng và công đức.
Mặt khác, Mẫu Thoải không tồn tại đơn lập, không tranh quyền bá vị, không lộng hành như các mẫu hậu phong kiến về sau. Mẫu Thoải và Mẫu Thượng Ngàn luôn luôn và vĩnh viễn là “tả hữu thần” của Mẫu Liễu – ngồi giữa ví như chị cả thần. Trong một bản văn chèo cổ Từ Thức, đoạn xuất hề sắm vai cô đồng có câu hát:
Lộc của mẫu tôi được hưởng muôn vàn
Tiền của mẫu tôi tiêu vô hạn…
Đời sống tâm linh của người Việt quan niệm rằng: Thủy Phủ là một thế giới ảo vọng tồn tại ở dưới mặt  nước ở bất cứ chỗ nào có ao, hồ, sông suối và biển cả. Xã hội nơi đó là cuộc sống của các vị thủy thần, cũng có mọi quan hệ ứng xử gần như người. Mẫu Thoải là đại diện thần mẹ ở cõi nước, dung thần hòa hợp với cõi trần tục, sinh ra ông vua mở đầu thời dựng nước ở Việt Nam, được dân chúng suy tôn và xếp vào bậc hiển thánh trong đạo Tứ Phủ.
Về sau, rất nhiều vị nam thần, nữ thần dường như còn dòng cháu giống vua quan ở cõi Thủy Phủ “biến hình mây vàng ráng đỏ” hay “giao long, rắn lớn quấn ấp” các cô gái trần gian lúc đi tắm, lúc làm đồng vắng vẻ, rồi sinh thánh giúp dân làm ăn, đánh giặc. Theo chúng tôi, đằng sau lý giải huyền hoặc đó, phải chăng là một hình thức đấu tranh giải phóng phụ nữ rất tinh vi khéo léo thời cổ. Hiện tượng “không chồng mà chửa” đối với những người con gái qua thì lỡ tuổi, dưới chế độ cũ, được dư luận nhân dân lên tiếng bảo vệ quyền sống.
Mẫu Thoải đại diện đầu bảng trong các vị Thủy Thần vừa nêu. Mẫu Thoải đã trở thành nhân vật người, người anh hùng ghi chép về bà có vẻ mờ nhạt, song rất được các sử gia chú trọng; còn trong bia miệng, người đời vẫn hằng truyền tụng về cơ đức, về sự hiển vinh linh ứng của bà. Vì thế, có nhiều văn tạo nghệ thuật, Nguyễn Đình Nghị viết vở chèo Đức Mẫu Thoải Trọng Lang với phóng sự dài Đồng bóng đã góp phần không nhỏ nhắc nhở mọi người giữ lấy nếp sống đạo đức dân tộc giữa  năm ba mươi của thế kỷ trước.
Với hình thức khảo cứu, M.Durand lược thuật truyền thuyết Mẫu Thoải khác hẳn các tài liệu đã nêu: Mẫu Thoải là con gái Lạc Long Quân ở hồ Động Đình lấy con trai vua đất là Kinh Xuyên. Song Kinh Xuyên còn có người vợ cả bỏ đày vào rừng xanh cho thú dữ ăn thịt. Không ngờ các loài muông thú lại rất tình nghĩa với bà, thường đi kiếm hoa thơm cỏ lạ về dâng cúng. Nhờ vậy con gái vua Động Đình mới sống được một mình trong rừng sâu; đến ngày gặp một nho sĩ hỏng thi là lão Ngợi, đi lang thang vào rừng. Lão Ngợi báo tin cho vua Động Đình; Thủy Phủ kết tập đội binh đi đánh Kinh Xuyên đòi lại con gái. Nhân dân Tuyên Quang dựng đền thờ ở bờ sông, gọi là đền Mẫu Thoải có nhận định: “Câu chuyện thần thoại địa phương ấy, chứng tỏ mỗi nơi địa linh nhân bản hóa quá khứ bằng một nàng tiên như thế nào (…) ở trường hợp này thì công chúa vợ Kim Xuyên trở thành Thánh Mẫu của nước, Mẫu Thoải đối với địa hạt Tuyên Quang”.
Có lẽ M.Durand ghi nhầm theo sự nhầm lẫn của truyền thuyết thành “Mẫu Thoải là con gái Lạc Long Quân…”. Các tài liệu ký và truyền thuyết đã nêu không có những trật tự như thế. Dù tư liệu chứa đựng những đảo lộn nhân vật đến trái ngược nhưng ít nhất, địa danh Tuyên Quang có đền thờ Mẫu Thoải là một ghi nhận.
Trên thực tế đời sống tín ngưỡng dân gian người Việt, Mẫu Thoải thực sự trở thành biểu tượng thần thánh của thế giới Phù Thủy trong hệ thống thần thờ của đạo Tứ Phủ. Nằm trong tổng thể quan niệm của người xưa về ba tầng bốn thế giới; Mẫu Thoải xuất hiện sớm nhất so với Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Liễu và Mẫu Thượng Thiên. Tập hợp chất liệu từ đời sống, từ sách vở về đạo Tứ Phủ thì rõ ràng là trước khi trở thành một tôn giáo phổ biến vào thế kỷ XVI – XVII, Mẫu Thoải là một vị thần mẹ nổi tiếng.
Tìm hiểu những quan hệ này, rõ ràng là Mẫu Thoải, Mẫu Liễu, Mẫu Thượng Ngàn “tuy ba mà một”, “tuy một mà ba” phổ biến trong đời sống tinh thần, trong đền phủ ở khắp chốn nhân gian. Hiện tượng phân lập và đồng nhất các biểu tượng thần linh của đạo Tứ Phủ còn có một dạng thức nhất thành bất biến gần như trên, các đền thờ Mẫu gắn liền với các ngôi chùa của đạo Phật. Đền thờ Mẫu cạnh chùa có khác bởi vị trí tượng Mẫu Liễu được thay thế bằng tượng Mẫu Thượng Thiên. Hai bên tả hữu vẫn là Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải. Có lẽ cách bố trí Tam Tòa Thánh Mẫu đã trở thành nguyên tắc trong đạo Tứ Phủ nên mới có biểu hiện như thế.
Tục thờ thần nước phổ biến của các cư dân lấy nghề làm ruộng cấy lúa là chính ở Đông Nam Á là rất cổ xưa. Trở về non sông bờ cõi ở mỗi đơn vị hành chính quốc gia, về sau mỗi nơi sẽ địa danh hóa, nhân cách hóa tính danh vị thần linh của mình. Mẫu Thoải thể hiện là vị thần cao nhất trong phả hệ thần nước của Việt Nam, được người Việt xếp vào hạng “tối linh, tối thiêng” bên cạnh Mẫu Liễu, Mẫu Thượng Thiên và Mẫu Thượng Ngàn. Bất cứ ở một điểm thờ Tứ Phủ nào, dù ở đền thờ Mẫu cạnh chùa Phật hay nơi sơn cùng thủy cốc, Mẫu Thoải cũng chiếm giữ một vị trí quan trọng trong đời sống folklore.