Search This Blog

Wednesday, October 11, 2017

Cái ‘tôi’ của người Việt
Từ Thức

Danh họa Pablo Picasso. (Hình minh họa: Ralph Gatti/AFP/Getty Images)
Tại sao cái tôi, cái “égo” của người Việt lớn thế? Tôi gặp không biết bao nhiêu người vỗ ngực, tự cho mình là vĩ nhân. Không phải chỉ vỗ ngực, còn trèo lên nóc nhà gào khản cổ: tôi giỏi quá, tôi phục tôi quá, tại sao tôi tài ba đến thế?
Một lần ngồi nhậu với năm ông, có cảm tưởng ngồi với năm giải Nobel Văn Chương. Những ông như vậy, nhan nhản. Nói “ông,” vì hầu như đó là một cái bệnh độc quyền của đàn ông. Như ung thư vú là bệnh của đàn bà.
In một hai cuốn sách tào lao tặng bố vợ, nghĩ mình ngồi chung một chiếu với Marcel Proust, Victor Hugo. Làm vài bài thơ, câu trên vần (hay không) với câu dưới, nghĩ mình là Beaudelaire, Nguyễn Du tái sinh. Lập một cái đảng có ba đảng viên, kể cả em gái và mẹ vợ, nghĩ mình là lãnh tụ, ăn nói như lãnh tụ, đi đứng, tắm rửa như lãnh tụ. Viết vài bài lăng nhăng, đầu Ngô mình Sở, nghĩ mình là triết gia, trí thức, sẵn sàng dẫn dân tộc đi lên (hay đi xuống). Học gạo được cái bằng (chưa nói tới chuyện mua được cái bằng), nghĩ mình đã kiếm ra điện và nước nóng. 
Tôi, tôi, tôi
Một ông bạn in một tấm danh thiếp khổ lớn, dầy đặc những chức tước, trong đó có “nhà nghiên cứu.” Những người quen không biết ông nghiên cứu cái gì, lúc nào. Tôi đáng nhận là nhà nghiên cứu hơn, vì thỉnh thoảng vẫnvào Google tìm mẹo trị mắc xương cá, hay cách nấu canh hẹ tầu hũ.
Nghĩ cũng lạ, cái TÔI to tổ bố ở một xứ như Việt Nam. Việt Nam, xứ của văn hóa Phật Giáo, một tôn giáo coi cái ngã là hư cấu, cái tôi không có thực. Nơi chịu ảnh hưởng Lão Giáo, những người đã ra suối rửa tai khi nghe thiên hạ nhắc tới tên mình. Nơi người Công Giáo thực hành đạo nhiệt thành, và Công Giáo coi vị tha, nghĩ tới người khác, là đức tính hàng đầu.
Không lẽ người Việt không hiểu tôn giáo mình đang theo?
Có ai đã gặp một người Nhật vỗ ngực: tôi, tôi, tôi. Nói chuyện với người Nhật, trong những cơ hội hơi chính thức, chưa gì họ đã mang giấy bút ra ghi chép. Làm như những điều bạn nói là khuôn vàng, thước ngọc. 
Tôi là chân lý
Nước Việt nghèo, chậm tiến, lạc hậu. Đáng lẽ người Việt phải khiêm nhượng, biết người, biết mình. Nhưng không, trong tự điển cá nhân của người Việt không có chữ khiêm tốn. Nhiều lần tôi gân cổ cãi với bạn bè, về nhà nghĩ: không chừng nó có lý. Tại sao không nhìn nhận ngay? Bởi vì cái tôi nó lớn quá.
Ở đâu cũng có những cái tôi, nhưng ở người Việt, nó đạt một tỷ số đáng ngại. Mỗi lần, hiếm hoi, gặp một người đồng hương có khả năng nhưng khiêm tốn, tôi nghĩ bụng: ông nội này mất gốc rồi.
Thảo luận với người Việt rất khó, vì ai cũng nghĩ là mình nắm chân lý trong tay. Nghĩ khác là xúc phạm ông ấy, xúc phạm chân lý, bôi nhọ sự thật. Phải căm thù, phải tiêu diệt, phải triệt hạ, phải tố cáo, chụp mũ.
Cái tôi lớn, phải chăng đó là nét đặc thù của một dân tộc đầy tự ti mặc cảm? Trong cái kiêu hãnh lố bịch của người “mang dép râu mà đi vào vũ trụ” có cái tự ti của những người vẫn mang dép râu ở thế kỷ 20, 21.
Trong y học, égocentrisme là một cái bệnh, pathologie. Và trong chín trên 10 trường hợp, những người có mặc cảm tự cao, tự đại (complexe de supériorité) là để che đậy tự ti mặc cảm (complexe d’infériorité).
Những người có thực tài rất khiêm nhượng, vì họ không so sánh với người khác. Họ so sánh mình với mình, so sánh mình hôm nay với mình hôm qua, so sánh tác phẩm mới với tác phẩm cũ của chính mình. Và thường thường thất vọng.
Khi một nghệ sĩ thoả mãn với tác phẩm của mình, anh ta hết là nghệ sĩ. Anh ta không tìm tòi nữa, anh ta về hưu. Như một công chức, một tài xế xe đò về hưu. 
Đèn dầu và đèn điện
Thomas Edison nói nếu hài lòng với đèn dầu, tìm cách cải thiện đèn dầu, sẽ không bao giờ kiếm ra  điện. Người Việt chúng ta dễ thoả mãn quá, dễ kiêu hãnh quá, dễ “tự sướng’’ quá. Hậu quả là cái gì của ta nó cũng nho nhỏ. Cùng lắm là xinh xắn, dễ thương, nhưng đồ sộ, vĩ đại thì không có. Không thể có. Tham vọng nhỏ, thành quả nhỏ.
Pablo Picasso khi thành công, được ca tụng ở “période rose” (thời kỳ hồng), nếu thỏa mãn, sẽ không có “période bleue,” thời kỳ xanh. Nếu thoả mãn với “période bleue” sẽ không có tranh trừu tượng, đưa hội họa đi vạn dặm. Một giai thoại: Picasso mời bạn bè ăn tiệm. Cuối bữa ăn, gọi tính tiền. Chủ tiệm nói xin miễn chuyện tiền bạc, được tiếp Picasso là hân hạnh rồi. Pablo vẽ vài nét trên tấm khăn phủ bàn, tặng chủ tiệm. Ông này nói xin Picasso ký tên. Picasso trả lờitôi chỉ trả bữa cơm, không muốn mua tiệm ăn.
Nếu Picasso là người Việt, sẽ thấy đời mình đã quá đủ để thoả mãn: vua biết mặt, chúa biết tên, chữ ký đáng ngàn vàng, chỉ việc ngồi hưởng và chiêm ngưỡng dung nhan mình. May mắn cho hội họa, ông là người Tây Ban Nha, hì hục tìm tòi cho tới chết.
Mỗi lần nghe, hay coi Jean Marie Le Clézio, Patrick Modiano trong những chương trình văn học trên France Culture, hay trên France 5, ít người nghĩ họ đã chiếm giải Nobel Văn Chương.
Họ khiêm nhượng, ngập ngừng, do dự, gần như cáo lỗi sắp sửa nói những điều tào lao.
Le Clézio, Nobel 2008, khoanh tay, chăm chú nghe một tác giả vừa chân ướt chân ráo vào nghề, nói về một cuốn sách đầu tay. Modiano, Nobel 2014, tìm chữ một cách khó khăn, ngượng ngập, ít khi chấm dứt một câu, như muốn nói: thôi, bỏ qua đi, những điều tôi muốn nói chẳng có gì đáng nghe. Ông thực sự ngạc nhiên không hiểu tại sao có người nghĩ đến mình để trao giải. Ông nói có người đọc sách của mình đã là một phép lạ. 
Người và ta
Những năm đầu ở Pháp, có thời tôi cư ngụ Rue Marcadet, Paris, bên cạnh là một cặp vợ chồng già, hiền lành, bình dị như một cặp thư ký hay công nhân về hưu. Mỗi lần gặp ở thang máy, bà vồn vã chào, hỏi thăm đủ chuyện. Thỉnh thoảng ông mời vào nhà, uống trà, hỏi chuyện về Phật Giáo mà ông nói đọc nhiều, nhưng có điều không hiểu. Thí dụ ông muốn so sánh khái niệm về niết bàn của Phật Giáo với thiên đàng của Thiên Chúa Giáo.
Ông là một người Công Giáo thuần thành, nhưng muốn tìm hiểu về những tôn giáo khác.
Tuyệt nhiên không bao giờ ông bà nói về mình. Nếu không coi TV , chắc không bao giờ tôi biết bà là Yvonne Loriot, danh cầm hàng đầu của Pháp, chiếm giải nhất bảy lần khi học ở Conservatoire de Paris, trước khi trở thành một giáo sư âm nhạc có uy tín.
Ông là Olivier Messaien, một trong những tác giả nhạc cổ điển lớn nhất của hậu bán thế kỷ 20. Rất nhiều các nhạc sư, nhạc trưởng nổi tiếng ở Âu Châu, như Pierre Boulez, Iannis Xenakis, hãnh diện là đệ tử của ông. Tác phẩm opera “Saint-Francois d’Assise” của ông được trình diễn khắp thế giới, được đón nhận như những tác phẩm của Mozart, Beethoven.
Ông bà sống trong một căn nhà bình dân, ăn uống đơn giản như một cặp vợ chồng nghèo. Tiền bản quyền nhạc đem tặng – một cách kín đáo – các hội từ thiện, hay giúp trùng tu nhà thờ Notre Dame de Lorette gần nhà. Những lúc rảnh rỗi, bà theo ông vào rừng, thu thanh để nghiên cứu tiếng chim hót.
Ai biết hai ông bà già, lễ độ, gần như vụng về, đang xếp hàng mua ổ bánh mì, là những nhân vật chiếm chỗ lớn trong bất cứ một tài liệu nào về âm nhạc cổ điển cận đại, tuần trước còn là thượng khách của Hoàng Gia Thụy Điển.
Khi nào ta có những người như Modiano, Le Clézio, Messaien – chưa nói tới tài năng, chỉ nói tới thái độ khiêm tốn – Việt Nam sẽ là một dân tộc trưởng thành. Trong khi chờ đợi, chúng ta tiếp tục leo lên nóc nhà, gào: tại sao tôi tài giỏi quá như vậy. Khi gào mỏi, leo xuống, đóng áo thụng vái nhau.
Đó cũng là một trò vui, nếu hậu quả không nghiêm trọng. Chúng ta đều đồng ý với nhau là đất nước đang trên bờ vực thẳm, không thể nhẫn tâm khoanh tay nhìn. Nhưng chúng ta không ngồi nổi với nhau, vì cái TÔI nó lớn quá, lớn hơn cả vận mệnh dân tộc.
Từ Thức
 
Sự thật về những người Việt bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị  tại Pháp quốc
 
- Hàn Giang Trần Lệ Tuyền-    
Như quý độc giả đã biết qua về hai bài báo: 
  • Bài thứ nhất của của ký giả Xuân Mai trên báo Áp- phê Paris số 4 tại Paris như sau:  
“Ông Nguyễn Văn Tuyền, 59 tuổi đến định cư tại Pháp năm 1980. Với lá đơn thống thiết như sau: “Nếu tôi ở lại, nhà cầm quyền CSVN sẽ bắt giam, đánh đập và bỏ tù không có ngày ra. Vì lý do nhân đạo, tôi trân trọng thỉnh cầu nước Pháp, vui lòng chấp thuận cho tôi được tỵ nạn chính trị, sống tạm dung trên mảnh đất tự do nầy, và tôi chỉ trở về quê cũ khi nào quê hương tôi không còn chế độ độc tài Cộng Sản. 

Nhưng ông Tuyền đã phản bội tư cách tỵ nạn của ông đến 7 lần, từ năm 1995 đến năm 2000. (Theo tài liệu của OFPRA = Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride – Cơ quan Bảo vệ Người Tỵ nạn và Vô Tổ quốc) 

Ngày 27-6-2000, ông Tuyền và 544 Việt kiều Pháp bị OFPRA gởi thơ thông báo rút lại thẻ tỵ nạn, với lý do trở về quê cũ khi còn chế độ độc tài Cộng Sản. “Chiếu theo điều 1, khoản 2A của Hiệp Định Genève ngày 28-7-1951, chúng tôi thu hồi thẻ tỵ nạn. Đồng thời cũng trình lên Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ, kể từ nay, OFPRA không còn chịu trách nhiệm với ông, về tình trạng cư trú, xin việc làm, hưởng trợ cấp xã hội theo diện người tỵ nạn chính trị”.
 

Được biết, từ năm 1988 đến năm 2000, tổng số người Việt ở Pháp bị truất bỏ quyền tỵ nạn và quyền lợi, với con số là 22,417. Bài viết ghi như sau: “Chính phủ Việt Cộng qua các đại sứ từ Võ Văn Sung, Mai Văn Bộ, Trịnh Ngọc Thái đến Nguyễn Chiến Thắng đã coi người Việt Nam là thành phần cực kỳ phản động, cần phải triệt hạ, hoặc áp dụng chính sách gậy ông đập lưng ông. Đó là, dễ dãi trong việc cấp chiếu khán cho họ, để họ bị OFPRA cắt quyền tỵ nạn và trợ cấp xã hội.
 

Sau khi cấp chiếu khán, tòa đại sứ thông báo danh sách cho Bộ Nội vụ Pháp biết tên họ của những người vi phạm luật tỵ nạn. Một khi mất thẻ tỵ nạn, thì mất luôn thẻ thường trú (Carte de Séjour) nên không xin được việc làm.Trường hợp đó, muốn sống ở Pháp trên 3 năm, thì phải có Passport của chính phủ CSVN, để trở thành công dân Việt Cộng cho đến mãn kiếp.”
 
  
Cái thâm độc của VC là như thế!”. 
  
  • Và bài thứ hai là của ông Phan Văn Song. Cả hai bài đã đưa lên Internet từ lâu. Xin trích lại từng đoạn như dưới đây:
  
“Chúng tôi xin phép quý độc giả trích nguyên văn bài viết của báo Ép-Phê Paris là tờ báo việt ngữ duy nhứt được phát không ở các thương hiệu và chợ Á đông ở Paris và nhở vậy được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng người Việt tại Paris và vùng lân cận. Dĩ nhiên với điện thoại, người Việt tỵ nạn phe ta sẽ thông báo cho bà con toàn xứ Pháp biết. Nhưng theo điều tra và hiểu biết của chúng tôi thì cho đến ngày hôm nay bản tin giựt gân nầy của báo Ép-phế hổng có Ép-phê tí nào. Người Việt tỵ nạn vẫn về Việt Nam đều đều, vì từ năm 2000 trở về nay, phe ta vào quốc tịch Pháp đông hơn. 
  
3. Thẻ tạm trú, thẻ đi làm, thông hành 

Thẻ tạm trú (carte de séjour temporaire) hạn định một năm, gia hạn ba lần, sau ba lần được thẻ thường trú hạn định ba năm (carte de résident), sau hai lần có thể xin carte de résident permanente – thẻ cư ngụ vĩnh viễn, thẻ này 10 năm xin lại một lần. Có thẻ nầy rồi, với quy chế nầy rồi, khỏi phải vô dân Tây làm gì cho mệt ! Nếu không phải Việt kiều, vì Việt kiều có thông hành (hộ chiếu Việt Cộng) đi về Việt Nam, dân tỵ nạn có một cái nhức đầu là làm sao dzìa Việt Nam chơi đây…” 
  
Xin bỏ qua những từ ngữ do hai tác giả trên đã viết về những trường hợp bị tước quy chế tỵ nạn chính trị tại Pháp. Người viết chỉ nói về những chuyện thật 100% đã xảy ra đối với những người Việt, mà một thời họ đã được hưởng quy chế Tỵ nạn Chính trị, được cơ quan OFPRA = Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride – (Cơ quan Bảo vệ Người Tỵ nạn) cấp những giấy tờ theo thứ tự thời gian, đúng như ông Phan văn Song đã viết: 
  
“Thẻ tạm trú (carte de séjour temporaire) hạn định một năm, gia hạn ba lần, sau ba lần được thẻ thường trú hạn định ba năm (carte de résident), sau hai lần có thể xin carte de résident permanente – thẻ cư ngụ vĩnh viễn, thẻ này 10 năm xin lại một lần. Có thẻ nầy rồi, với quy chế nầy rồi, khỏi phải vô dân Tây làm gì cho mệt!” 
  
Tuy nhiên, có một điều ông Phan văn Song cũng như đa số người Việt tỵ nạn chính trị tại Pháp đã tưởng lầm rằng: 
  
“carte de résident permanente – thẻ cư ngụ vĩnh viễn, thẻ này 10 năm xin lại một lần. Có thẻ nầy rồi, với quy chế nầy rồi, khỏi phải vô dân Tây làm gì cho mệt!”. 
  
Sự thật không phải như vậy, vì “carte de résident permanente  đúng là cứ 10 năm xin lại một lần. Thế nhưng, carte de résident permanente, không phải là “vĩnh viễn”vì có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào, khi người có thể ấy, vi phạm Luật Tỵ nạn Chính trị của nước Pháp. 
  
Một điều nữa, những người đã được cấp “carte de résident permanente “ đều hưởng tất cả những quyền lợi như những người có quốc tịch Pháp. Nếu không có việc làm, hoặc lợi tức thấp, họ đều dễ dàng thuê nhà ở, chính phủ trả hai phần ba tiền nhà, còn họ chỉ trả một phần ba mà thôi. 
  
Về an sinh xã hội, họ được bảo hiểm y tế của chính phủ, khi bị bệnh, tai nạn, đi Bác sĩ, kể cả các phòng mạch tư và Bệnh viện tư, họ đều được chính phủ trả hết một trăm phần trăm, từ tiền ăn ở trong bệnh viện đến tiền thuốc cho nhà thuốc Tây. Họ không phải trả một đồng bạc nào cả. 
  
Trẻ con được cấp tiền nuôi dưỡng kể từ tháng thứ tư, lúc còn nằm trong bụng mẹ, cho tới lúc ra trường, nếu có sức học, thì chính phủ vẫn trợ cấp, để các sinh viên muốn học tới đâu cũng được, từ Đại học, cho tới khi lấy bằng Tiến sĩ… 
  
Người lớn tuổi, già yếu, bệnh tật, dù không hề đi làm một ngày ở nước Pháp, nhưng họ vẫn được cấp cho mỗi tháng là 800 Euros (tám trăm Âu kim) là tiền già, hoặc tiền dành cho người tàn phế. Ngoài ra,  nếu họ không tự lo cho bản thân, thì Văn Phòng Xã Hội cho người tới tận nhà, để dọn dẹp, lau nhà, bỏ áo quần vào máy giặt, đem phơi, tắm rửa, thay  áo quần, nấu ăn, rửa chén bát, và có thể đút thức ăn tận miệng nữa.  
  • Trở lại, với những trường hợp bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị tại Pháp.
Đúng là khi được cấp “carte de résident permanente”, thì cứ 10 năm xin lại một lần; nếu không vi phạm luật của nước Pháp. 
  
Thế nhưng, tiếc rằng, đã có không ít người sau khi đã được cấp “carte de résident permanente “,  ”thẻ 10 năm”, thì đã trở về Việt Nam, Những người này họ đã bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị. Cách đây hơn 10, chúng tôi đã biết những trường hợp này, khi họ nhờ người thân của chúng tôi đưa đến cơ quan OFPRA = Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride – (Cơ quan Bảo vệ Người Tỵ nạn) để làm thông dịch tiếng Pháp, để hỏi lý do bị thu hồi quy chế Tỵ nạn Chính trị, thì được cơ quan này trả lời: 
  
“Vì ông/bà đã ký vào một lá thư xin từ chối quy chế Tỵ nạn Chính trị”. Khi hỏi lại người này, thì họ nói: “Tôi không biết tiếng Pháp, nên có ký nhưng không biết ký cái giấy gì”. 
  
Và cơ quan OFPRA = Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride đã trả lời: 
  
“Dù không biết tiếng Pháp, nhưng ông/bà đều biết, chính ông/bà đã tới Tòa Đại sứ Việt Nam để xin giấy tờ nhập cảnh vào Việt Nam, và đã du lịch Việt Nam, là ông/bà đã vi phạm Luật Tỵ nạn Chính trị của nước Pháp; bởi khi xin Tỵ nạn Chính trị, ông/bà đã tuyên thệ là nạn nhân của Cộng sản Việt Nam, và không trở về quê cũ khi chế độ Cộng sản vẫn còn, vì nếu về sẽ bị bắt bỏ tù. Ông/bà có thấy phía sau thẻ tỵ nạn có ghi là không được trở về quê cũ hay không?” 
  
Rất nhiều những trường hợp bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị như trên, đã xảy ra từ lâu rồi, nhưng chính họ lại giấu diếm không cho người khác biết, mà theo người thông dịch là “họ muốn cho những người khác cũng bị như họ vậy”. (Đồng bệnh sẽ tương lân chăng?!) 
  
Riêng tôi, khi biết những chuyện đã xảy ra, tôi đã khuyên những người Việt đừng trở về Việt Nam, nhưng chẳng ai tin, vì họ cứ nói: “mình đâu có đi thẳng từ Pháp về Việt Nam, mà đi qua nước khác, rồi mới vào Việt Nam, thì Pháp đâu có biết”, và mặc dù tôi đã giải thích, là đi bằng cách nào, qua bất cứ nước nào, thì họ cũng biết cả, nhưng bà con mình chẳng tin, nên họ cứ về Việt Nam, cho tới khi bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị, thì tất nhiên họ phải mất hết những quyền lợi mà họ đã được hưởng như trước kia. Họ phải xin giấy tạm trú từ một đến ba tháng, rồi cứ xin gia hạn như một người du lịch, nếu không, họ là người cứ trú bất hợp pháp, phải tự đi tìm việc làm đế sống, mà đi làm thì phải đóng thuế cho Pháp và cả cho Việt Nam Cộng sản nữa! Họ không được trợ cấp tiền bạc, chính phủ không trợ giúp tiền thuê nhà, nên chủ nhà phải đuổi họ, vì họ không trả nổi tiền nhà; họ trở thành người vô gia cư, phải trả tiền cho Bác sĩ và nhà thuốc Tây… 
  
Trên đây, là rất nhiều những trường hợp đã xảy ra khoảng hơn mười năm về trước mà tôi được biết. 
  
Còn hôm nay, tôi muốn kể ra hai trường hợp mới nhất vừa xảy ra như sau: 
  
  • Trường hợp thứ nhất:
Một cặp vợ chồng vượt biển tới Pháp cùng thời gian với tôi. Sau này,  bà vợ bị tai biến mạch máu não, bị liệt nhẹ một chân; chính phủ cho ông được chăm sóc cho vợ có lãnh lương tối thiểu, bà vợ được hưởng tiền trợ cấp dành cho một người bị tàn phế  là 800 Euros (tám trăm Âu kim). Như vậy, với số triền trợ cấp cho hai vợ chồng, thì hai người sống thảnh thơi, đâu có thiếu thốn, tiền nhà chỉ trả một phần ba, nhưng rồi vì thảnh thơi quá, nên hai người đã dành tiền lại, để về Việt Nam. 
  
Thế là, mọi chuyện đã ập đến. Sau khi về Việt Nam trở lại Pháp, thì Vợ chồng của ông nhận được thư thông báo tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị, nhưng vì lớn tuổi, bà vợ bị liệt nhẹ một chân, nên không thể tìm việc làm, để xin thẻ tạm trú được. Cuối cùng hai vợ chồng phải trở về Việt Nam, nhiều đồng hương cũng thấy tiếc cho họ, vì nếu họ không về Việt Nam, thì dù họ không có quốc tịch Pháp, nhưng với tiền trợ cấp của hai người, thì họ vẫn sống một cuộc sống đầy đủ như những người có quốc tịch Pháp. 
  • Trường hợp thứ hai:
Trường hợp của người này, có lẽ ông ta khổ hơn, vì bất ngờ. Cũng có thể vì hiện nay trong thời gian có dòng người quá đông đảo đang tìm cách nhập cư vào Âu Châu?Đó là trường hợp của Nguyễn Văn Bảy, ông ta cũng đến Pháp cùng thời gian với tôi, gần 30 năm rồi, nhưng không có quốc tịch Pháp giống như hai vợ chồng người kia. Cũng xin nói thêm, hai ông này không xin vào quốc tịch Pháp được, vì khi đi phỏng vấn để xin vào quốc tịch Pháp, họ không thể trả lời những câu hỏi của người phỏng vấn, vì ngoài những câu hỏi, người phỏng vấn còn bảo người Tỵ nạn phải viết theo những câu họ đọc, và đọc những câu họ viết bằng tiếng Pháp. Về điều này, rất khó khăn, nếu không có căn bản tiếng Việt, thì khó có thể đọc và viết tiếng Pháp, vì tiếng Pháp khó hơn tiếng Anh rất nhiều. Trừ những người, dù giỏi tiếng Pháp, nhưng  không muốn nhập tịch Pháp quốc. 
  
Trở lại với trường họp mới nhất, đã xảy ra vào cuối tháng 8 năm 2015: 
  
Ông Nguyễn Văn Bảy, khi đi về Việt Nam, mọi chuyện bình thường; nhưng khi trở về Pháp, thì chỉ mới xuống máy bay tại Phi trường Charles-de-Gaulle, Paris, ông ta liền bị Cảnh sát bắt giữ ngay; đồng thời thu hồi tất cả những giấy tờ do chính phủ Pháp đã cấp cho ông, trong đó, có “carte de résident permanente” (thẻ này có thời hạn 10 năm. Sau đó, được gia hạn cho tới chết) nếu không vi phạm Luật Tỵ nạn Chính trị. 
  
Theo người thông dịch tiếng Pháp cho ông  Nguyễn Văn Bảy, kể với tôi, thì khi ông bị bắt và bị thu hồi tất cả giấy tờ, Cảnh sát Pháp đã nói với ông Bảy: 
  
“Ông thấy đó, hiện nay, đang có rất nhiều người hàng ngày đang đổ về Âu Châu, để xin tỵ nạn, nhưng chính phủ Pháp không dễ dàng chấp nhận cho họ tỵ nạn; còn ông đã được cấp quy chế Tỵ nạn Chính trị rồi, mà ông còn đi về Việt Nam, nơi mà trước kia ông từng nói là ông không chấp nhận chế độ Cộng sản Việt Nam và không bao giờ trở về khi còn chế độ cộng sản, vì trở về ông sẽ bị bắt bỏ tù. Nhưng hôm nay, ông đã trở về Việt Nam, nên chúng tôi phải thu hồi tất cả giấy tờ của ông. Đó là Luật của nước Pháp, đối với những người vi phạm Luật Tỵ nạn Chính trị” 
  
Vì vậy, hiện nay, ông ta phải đi ở nhờ nhiều người, để đi làm tại các vườn nho, hái trái cây, dọn vườn nhà… mà người Việt có quen biết với ông ta, thường hay nói: “cha đó bây giờ chả đang lang thang, nên ít khi mình thấy chả”. 
  
Thật ra, những người Việt ở gần, có quen biết với ông, họ đều thấy tiếc cho ông, vì đang hưởng quy chế Tỵ nạn Chính trị, mà phải mất hết tất cả khi mới vừa đặt chân xuống Phi trường Charles-de-Gaulle. Giờ đây, sau gần 30 năm được hưởng tất cả những quyền lợi của quy chế Tỵ nạn chính trị. Như thế, mà chỉ vì thiếu sự hiểu biết, (mà cũng vì muốn du hí, thưởng thức những “chùm khế ngọt”), nên ông đã trở thành người cư trú bất hợp pháp, phải sống vô gia cư, lang thang trong mùa Đông sắp tới và nhiều năm kế tiếp nữa! 
   
  • Tạm kết:
  
Tóm lại, tôi muốn nói rằng: 
  
Những điều do ký giả Xuân Mai đã viết trên báo Áp- phê Paris số 4, là những điều có thật đã xảy ra, mà tôi đã biết cách đây hơn mười năm. 
  
Những điều tác giả Phan Văn Song viết cũng có đúng, chỉ riêng chuyện “ carte de résident permanente – thẻ cư ngụ vĩnh viễn…” là chưa hoàn toàn đúng, vì khi vi phạm Luật, thì sẽ bị thu hồi, chứ không phải là “vĩnh viễn”. 
  
Tác giả Phan Văn Song cũng viết những điều rất tai hại: 
“…đến ngày hôm nay bản tin giựt gân nầy của báo Ép-phế hổng có Ép-phê tí nào. Người Việt tỵ nạn vẫn về Việt Nam đều đều…” 
  
Tôi xin trả lời, ông Phan Văn Song viết đúng là “Người Việt tỵ nạn vẫn về Việt Nam đều đều…”.Chính vì vậy, nên họ đã bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị cũng “đều đều”, và có rất nhiều người, đã bị  “đếu đều” như thế, nhưng họ “đều đều” giấu diếm, để cho những người khác cũng bị “đều đều” như họ hết.
 
  • Cuối cùng, tôi muốn nói với ông Phan Văn Song:
    Ông đừng nên viết như vậy nữa, để cho những ai chưa về Việt Nam họ phải dừng lại ý nghĩ đó, hầu tránh được những chuyện đáng tiếc đã xảy ra như trường hợp mới nhất của ông Nguyễn Văn Bảy đã bị thu hồi tất cả giấy tờ ngay khi vừa đặt chân xuống phi trường  Charles-de-Gaulle,  Paris, vào cuối tháng 8 năm 2015 vừa qua. Vì thế, hiện giờ, ông ta là người cư trú bất hợp pháp, đang lang thang đâu đó trên những vườn nho, hay tìm những nơi để làm vườn, không nhà, không nơi nương thân; mà ông ta không lường trước được, vì chỉ mới trước tháng 8 năm 2015, ông còn có nhà cửa, có tất cả. 
      
    Người cầm bút, cần phải viết thật, nói thật, để cho đồng bào của mình, vì thiếu sự hiểu biết, họ không phải đi vào con đường vi phạm Luật, để rồi đánh mất cả tương lai của cả cuộc đời họ. Mặc dù, họ là những người đáng trách, vì đã trở về để “du lịch”, là để tô son điểm phấn cho chế độ Cộng sản Việt Nam! 
      

      
    Paris, ngày 06/10/2015 
    Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
    LẠI CHUYỆN CỌP GIẤY

    Đầu năm 2017,  người viết giới thiệu những nghiên cứu năm trước của Giáo Sư Mark Beeson, chuyên gia về Châu Á và chính trị quốc tế, với chú trọng vào chính trị, kinh tế và an ninh vùng “Asia-Pacific/Châu Á-Thái Bình Dương.” Trước khi về viện Đại Học Western Australia, ông từng giảng dạy và làm khoa trưởng bang giao quốc tế ở một số đại học Anh, cùng làm việc tại trung tâm Nghiên Cứu Cao Đẳng, viện Đại Học Freiburg, Đức. Ông là tác giả 150 nghiên cứu và sách vở, sáng lập chuyên san Critical Studies of the Asia-Pacific. Ông đều đặn cho xuất bản những công trình nghiên cứu thẩm quyền và viết cho báo Asia Times về bang giao quốc tế và khu vực Asia-Pacific.
    Năm 2016 ông đưa ra năm nghiên cứu về chính trị và ngoại giao Trung Quốc. Công trình thứ sáu cuối năm đặt nhiều câu hỏi về bang giao Mỹ-Trung và cố gắng đưa ra một số trả lời. Liên hệ giữa hai siêu cường thượng đỉnh (dựa trên kích thước kinh tế, quân sự, chính trị cùng ảnh hưởng văn hóa tràn ngập – và tham vọng bá chủ) là đề tài vô cùng quan trọng cho cả thế giới; hệ quả từ đây có thể nói là rất sâu đậm và lâu dài riêng trường hợp Việt Nam.
    Bài kỳ trước đưa ra những nét tổng quan của Giáo Sư Beeson về vùng Asia-Pacific và Hoa Kỳ trong thời điểm 2017 và tương lai. Người viết trình bày thêm về bối cảnh chính trị, kinh tế và xã hội Mỹ đưa đến việc ông Donald Trump thắng cử bất ngờ và lên làm tổng thống. Cột báo tiếp tục trình bày công trình nghiên cứu mới nhất của ông năm nay; tuy nhiên, người viết xin đưa ra trước những nét tổng quát về chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ cùng những giải thích cần thiết và góp ý nhỏ bé. 
    Một cái nhìn về đường lối ngoại giao Mỹ
    Từ thời bắt đầu tranh cử, ông Trump liên tục phát ngôn một cách hàm hồ về “America first/Nước Mỹ trên hết” hoặc “Nước Mỹ trước hết.” Cử tri bình thường nghe khó có thể hiểu khẩu hiệu này sẽ được chuyển dịch thành chính sách như thế nào. Tuy nhiên, nó rất “ăn khách” với đám da trắng nhỏ bé, thiếu hiểu biết lẫn học thức, nhưng đầy kỳ thị chủng tộc và phẫn nộ. Đám “ủng hộ trung kiên/base” của ông Trump này còn hung hăng hơn cả đám da trắng tương tự trong phong trào Tea Party kịch liệt chống đối tổng thống Mỹ da đen đầu tiên Barack Obama từ thời ông mới nhậm chức. Theo đám “base,” khẩu hiệu hướng về đặt để người Mỹ và Hoa Kỳ trước hết, lo chuyện nhà, mặc kệ người và nước ngoài (đường lối hay khuynh hướng “isolationism/cô lập”). Khẩu hiệu cũng có thể gồm ý nghĩa kinh tế và chiến lược hung hăng (đường lối hay khuynh hướng “interventionism/can thiệp”) với “nước Mỹ trên hết” toàn thế giới.
    Đây gần giống (tuy ở mức độ rộng lớn gấp bội) vị thế “cô lập” khá mập mờ và mâu thuẫn Tổng Thống James Monroe đưa ra năm 1823 qua “Chủ Thuyết Monroe/Monroe Doctrine:” “Châu Mỹ là của người Mỹ/America is for Americans” xác nhận “cô lập,” nhưng lại khẳng định đế quốc Mỹ làm chủ hết Châu Mỹ, các đế quốc Châu Âu không được léo hánh tới. Hoa Kỳ lại “cô lập” sau khi tham gia vào Thế Chiến 1 (1914-1918) ở Châu Âu – vì bị trí thức và người trong nước tố cáo làm giầu bằng chiến tranh. Sau Thế Chiến 2 (1939-1945) ở cả Châu Âu và Châu Á, Hoa Kỳ thành nước giầu mạnh nhất thế giới, nhưng lại “hoảng sợ trước đe dọa Cộng Sản” từ đồng minh (trong Thế Chiến) Liên Xô lạc hậu, tan nát và kiệt quệ – và từ đây đi tới Cold War. Sau 40 năm Cold War/Chiến Tranh Lạnh (bắt đầu ngay năm 1947) Hoa Kỳ thành siêu cường độc nhất thế giới – ở một vị trí, dù muốn hay không, khó mà “cô lập” được, và cũng khó có thể gọi là “cọp giấy.”
    Hơn 40 năm ở Hoa Kỳ, chúng ta chứng kiến nhiều tranh cử tổng thống, trong đó những ứng viên thường cho thấy khuynh hướng đối ngoại của mình – cũng thường dựa vào kết quả tốt hoặc xấu của đường lối do tổng thống đi trước theo đuổi. Nhiều khi ứng viên đắc cử thay đổi đường lối khi lên cầm quyền; hoặc chọn đường thứ ba “realism/thực tiễn,” uyển chuyển bao gồm hai đường lối trái ngược nhau nói trên. Ví dụ: Chính quyền Trump non yếu cho tới nay vẫn theo đường “cô lập.” Đây khác hẳn đường “can thiệp” của chính quyền non yếu George W. Bush (con) chịu ảnh hưởng “can thiệp” hùng hổ của Phó Tổng Thống Dick Cheney và Bộ Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld. Hai ông này từng làm lớn trong chính quyền Ronald Reagan thời 1980; cả ba mang tham vọng chuyển hóa khuynh hướng “cô lập” trong nước ngay sau thất bại đau đớn ở Việt Nam.
    Tổng Thống Barack Obama, phải đối phó với kinh tế kiệt quệ, một phần từ cuộc chiến “chống khủng bố toàn cầu” của chính quyền Bush-Cheney, chọn đi theo hướng “cô lập” và thu hẹp cuộc chiến ngoài nước trước. Sau khi đạt một phần những mục tiêu về “công bình trong xã hội/social justice” trong nước (như y tế cho mọi người, cải tổ tài chính nhằm bảo vệ người dân tiêu thụ, bảo toàn môi sinh, mở rộng giáo dục), ông chuyển đường “thực tiễn” qua chính sách “Chuyển trục về Châu Á/Pivot” với Hiệp Định Mậu Dịch Xuyên Thái Bình Dương/TPP – mà ông Trump gạt bỏ ngay ngày đầu nhiệm kỳ.
    Càng bị đa số dân Mỹ chống đối liên tục từ khi lên cầm quyền, ông Trump càng muốn dẹp bỏ hoặc đảo ngược những gì ông Obama đã đạt được – với mục tiêu rõ ràng: triệt hạ thành quả đáng kể của tổng thống da đen Mỹ đầu tiên để làm vừa lòng và giữ được ủng hộ của đám “base” không ưa người da mầu và ghét bỏ người da đen.  
    Hoa Kỳ: “Cọp giấy” trong vùng?
    Một chút lịch sử: Năm 1949, cuộc “nội chiến” giữa “quân đội nhân dân” của Mao Trạch Đông và phe Tưởng Giới Thạch “quốc gia” đi đến kết thúc rõ rệt. Phe “quốc gia” phong kiến, tham nhũng, thiếu “hỗ trợ của nhân dân” nhưng có Mỹ yểm trợ vật chất mạnh, chạy khỏi lục địa ra đảo Formosa lập thành “nước” Đài Loan. Chính quyền Trung Quốc “có căn bản nhân dân” tiếp tục cuộc “trường chinh” xã hội chủ nghĩa bình đẳng trong nghèo đói, cùm kẹp. Trung Quốc đi qua ba cuộc chiến với Hoa Kỳ, gián tiếp ở Trung Quốc, trực tiếp và đẫm máu ở bán đảo Triều Tiên, và lại gián tiếp ở Việt Nam. Ba cuộc chiến cũng mang nhiều tính cách ý thức hệ (từ “quốc gia/ái quốc, giải phóng đất nước” rồi sang “xã hội chủ nghĩa” chống “tư bản chủ nghĩa.” Nay lại với tinh thần quốc gia, nhằm trở lại vị thế siêu cường lịch sử của mình, Bắc Kinh vẫn xem Hoa Kỳ như “con cọp giấy” – nhất là với Tổng Thống Trump, tuy “mánh mung” nhưng non nớt về nhiều mặt và chẳng chịu học học hỏi gì hết. Qua thời gian tranh cử và chín tháng tại chức, giới truyền thông nhận xét ông không biết nhiều lịch sử sơ đẳng về nước Mỹ, chưa nói gì những đường lối, chính sách ngoại giao rối rắm. Ông là người quen làm ăn thương mại, thực tế và chỉ nhìn vào kết quả – không mấy bận tâm về phương tiện dẫn đến kết quả, miễn có lợi cho mình và gia đình mình là được.
    Theo tự điển lớn Wikipedia trên mạng, trong văn hóa người Hoa cổ xưa, chữ “cọp giấy” được dùng để mô tả một người hay thế lực có vẻ đầy đe dọa bên ngoài nhưng thật sự không đủ sức chống chọi những thử thách. Năm 1946, trong thời kháng chiến chống phe Hoa Kỳ-Tưởng Giới Thạch, lãnh tụ Mao Trạch Đông, qua một cuộc nói chuyện với nữ phóng viên Mỹ Anna Louise Strong, dùng danh từ “cọp giấy/paper tiger” để chỉ bom hạch nhân mà những thế lực “phản động” dùng để đe dọa người khác – trông thì ghê gớm nhưng thực tế chẳng mấy đáng sợ. Mười năm sau, ông Mao nhắc lại mọi thế lực phản động là cọp giấy, “thực dân Mỹ bề ngoài thật ghê gớm, nhưng thực tế chẳng có gì đáng sợ;” nó là “cọp giấy/paper tiger” vì hoàn toàn “tách rời khỏi nhân dân.” Đầu năm 1973, khi gặp gỡ “đi đêm” với cố vấn an ninh sau là Ngoại Trưởng Henry Kissinger của Tổng Thống Cộng Hòa Richard Nixon, ông Mao nhận mình là người phát minh ra chữ Anh “paper tiger.” Từ đây người Tây Phương hiểu “paper tiger” như khẩu hiệu của chính quyền Mao chống lại đối thủ Mỹ.

    Kỳ tới, ông Beeson sẽ cho thấy cái nhìn xem Hoa Kỳ với chính quyền non yếu Trump có phải là một “paper tiger” chăng. Theo ông, sự kiện vùng Asia-Pacific “có một tính chất đặc thù” phản ánh “những hoàn cảnh/yếu tố ngẫu nhiên” không phải là chuyện lạ. Những tiến hóa, biến chuyển trong vùng về mặt chính trị, kinh tế, và ngay cả các định chế chiến lược, “ảnh hưởng vào đường lối Hoa Kỳ gắn bó với vùng này.” (Cổ-Lũy)

    Ngọc Hạnh

    Nguyễn đạt Thịnh
     Inline images 1
    Thiết đoàn kỵ binh VNCH
    Hình thức “nhà quàn” chưa thông dụng tại Việt Nam, nên quan tài giữ xác cô Ngọc Hạnh đặt tại nhà riêng -một căn nhà khang trang bên ngoài quận lỵ Thủ Đức; trên con đường vào quân trường đào tạo sĩ quan trừ bị cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa ngày xưa.
    Bên ngoài căn nhà là bức tường rào cao 2 thước, dựng cách lề đường một thước, bên trong hàng rào là một khuôn vườn nhỏ sâu 3 thước, ngăn căn nhà với tường rào; chủ nhà trồng một hàng cây không ăn trái cao đến vài thước, tạo ngăn cách, giữ căn nhà bớt ồn, bớt bụi.
    Ngồi bên quan tài Ngọc Hạnh là hai ông bác sĩ cao niên bác sĩ Hậu vừa đúng 70, chủ căn nhà, bác sĩ Trung 65, vừa từ Houston về, và một bà bác sĩ trung niên, bà Lê Ngọc Trâm 43 tuổi, từ Sài Gòn lên. Người thứ tư -cô sinh viên y khoa Betty Lê, cũng vừa từ Houston về cùng với bác sĩ Trung. Betty đang nghiêm trang đứng ngắm nghía sắc diện Ngọc Hạnh qua nửa nắp hòm còn chưa đóng lại, và ngắm tấm chân dung người quá cố đặt trên quan tài.
    “Má,” mắt vẫn chăm chú quan sát Ngọc Hạnh, Betty gọi mẹ.
    “Gì đó con? ”
    “Bà Năm giống con quá.”
    Bác sĩ Trâm rầy con, giọng yêu thương chứ không nghe mắng mỏ, “Sao con nói ngược ngạo vậy? Con giống bà Năm, chứ sao bà Năm lại giống con!”
    “Hình bà Năm chụp ngày còn trẻ giống y như con bây giờ.”
    “Con giống bà là chuyện thường thôi,” Trâm nói xuôi, nhưng giọng nghe thiếu vững tin. Nàng biết là Betty vừa nêu lên một điểm đúng, mà chính nàng cũng thấy không hợp lý từ lâu, nhưng vẫn không dám hỏi. Lần này bà hỏi Hậu, “Cậu Hai, cậu thứ Hai, cậu Tư ngồi đây, mẹ con thứ Năm, rồi người thứ Ba là ai?”
    “Cậu Ba con tử trận trong những ngày cuối cùng cuộc chiến tranh Việt Nam.”
    “Ông Ba là một chiến sĩ Nam Việt? Phải không ông Hai?” Betty nhìn Hậu, câu hỏi và giọng nói của cô bé 18 nghe nghiêm trọng hơn tuổi của cô.
    “Ông Ba của con là một trung úy kỵ binh, trong thiết đoàn 3 Trần Quang Khôi; ông tử trận trong lúc đóng nút chặn tại Long Khánh, trên chiến tuyến Lê Minh Đảo.”
    “Ngày đó ông Hai ở mặt trận nào? Con đang tìm đọc về cuộc nội chiến Việt Nam; ông Tư nói sách Mỹ viết không chính xác, vì họ bận xuyên tạc quân đội Việt Nam Cộng Hòa để chạy tội thất trận của chính họ.”
    Hậu chưa kịp trả lời cô cháu sinh viên Mỹ, thì Trung bảo ông, “Anh Hai cho phép em nói.” Câu nói của Trung làm Hậu chưng hửng, không trả lời, mà chỉ nhìn mông lung ra ngoài vườn. Trung nói thêm, “Chuyện cũng đã cũ đến gần nửa thế kỷ rồi, mẹ con nó có quyền biết sự thật.”
    Hậu thở dài, vẫn nhìn ra ngoài căn phòng ‘nhà quàn’, giọng nói nghe lạc lõng, “tùy em thôi.”
    Trung bảo Betty, “Ông Hai ngày đó là một linh mục, một bác sĩ, như bây giờ ông vẫn là linh mục, vẫn là bác sĩ, chỉ khác một điều là ngày đó ông Hai còn là một giáo sư dạy trường Don Bosco ở Thủ Đức; và ông là học trò Don Bosco, học trò của ông Hai. Nhưng ông không thứ Tư, mà là thứ Năm, theo thứ tự trong gia đình của người quá cố mà con gọi là bà Năm; nói rõ hơn ông là chồng bà Năm, là ông ngoại của con, là bố của má con.”
    Bà Trâm chưng hửng, “Cậu Tư là ba con?”
    Trung đứng dạy, bước tới đứng cạnh Trâm, đặt tay lên 2 vai con, “Ba xin lỗi con, con không biết sự thật trên 40 năm nay, vì Cậu Hai con che dấu hành động nhục nhã của ba.”
    Nói được ngần đó, Trung đứng lặng đến vài phút để lấy lại bình tĩnh; những phát giác chính miệng ông nói ra đang làm ông như mệt đuối.
    “Ngày đó ba đang học giáo lý để trở thành linh mục thì bị động viên, và gia nhập trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, để một năm sau trở thành một chuẩn úy kỵ binh, phục vụ trong thiết đội do cậu Ba con chỉ huy.
    “Ba học quân sự, mặc chiến phục, mang cấp bực sĩ quan, nhưng lại thiếu can đảm, không dám chết trên chiến tuyến như cậu Ba con đã chết; tuyến Long Khánh vỡ -một phần vì ba thiếu khả năng chỉ huy, ba chạy về Thủ Đức, chạy về trường giáo lý cũ để ẩn trốn. Cậu Hai con vẫn còn là một giáo sư trong ban giáo lý tại đó; cậu Hai đem ba về nhà cho có chỗ ăn, chỗ ngủ; do đó Ba gặp và thương má con.
    Trung quay lại nhìn Ngọc Hạnh, rồi thong thả bước lại, cúi mặt sát mặt người chết, mếu máo nói, “Tha cho anh cái tội hèn nhát, tội bỏ em tàn tật ở lại giữa muôn vàn khó khăn, để một mình chạy trốn.”
    Betty chạy đến ôm chặt lấy Trung, “Ông ngoại đừng khóc, chưa bao giờ con thấy ông ngoại khóc. Ông ngoại nín đi.”
    Trâm cũng ôm cả hai ông cháu vào vòng tay, “Con chưa hiểu hết đầu đuôi câu chuyện, tại sao Ba lại trở thành cậu Tư, và má lại là dì Năm của con?”
    “Lỗi tại ba, tội cũng tại ba; ba là một người lính hèn nhát, đào ngũ, bỏ chạy trước mặt giặc; ba còn là một người đàn ông đốn mạt, bỏ chạy trong lúc người mình yêu ở lại đối đầu với địch, gánh chịu mọi hoạn nạn, mọi đắng cay, để che chở cho mình.”
    Hậu bảo Trung, “Em ngồi xuống, rồi từ từ kể cho mẹ con nó nghe; câu chuyện còn rất dài, và rất nhiều uẩn khúc.”
    “Em muốn quỳ gối xưng tội với Ngọc Hạnh; Hạnh xứng đáng là Thiên Thần trong cái xác phàm tàn tật của nàng.”
    Hậu gọi người đàn ông giúp việc, “Anh Bò, cho tôi xin một bình trà, một bình cà phê.” Ông đứng dạy bước qua phòng khách nhỏ, ngay cạnh căn phòng tiền đường đang là nhà quàn giữ quan tài Ngọc Hạnh. Mọi người theo ông, đổi phòng.
    Betty chen vào ngồi chung ghế với Hậu, rồi hỏi, “Như vậy, con vẫn gọi Ông Cậu là Ông Hai?”
    Vuốt tóc cháu, giọng Hậu đầy yêu thương, “Con chỉ đổi cách xưng hô với Ông Tư thôi. Con gọi ông Tư là ông ngoại.”
    Nhìn Trung, Betty gọi nho nhỏ, “Ông ngoại;” hai chữ còn xa lạ, nghe ngượng ngập trên đôi môi 18.
    Trung chồm qua ghế cháu, hôn Betty, “Ngoại thương con.” Trâm cũng hôn bố, cũng nói, “Con thương ba. Xin ba kể tiếp chuyện má con.”
    “Con cũng biết ngày 30 tháng tư 1975, người Việt mình mất nước;” Trung chầm chậm kể, giọng ông đều đều -không tình cảm, không xúc động- như ông đang đọc sách. “… quân đội Việt Nam tan vỡ vì nội phản, đồng minh Mỹ bỏ chạy từ 2 năm trước, tổng tư lệnh quân đội cũng bỏ chạy, trong lúc hàng triệu quân nhân còn ghìm súng trên chiến tuyến để bảo vệ lãnh thổ, những thế lực trung gian đưa đại tướng Dương Văn Minh -tay trong của Việt Cộng- lên làm tổng thống -tổng tư lệnh quân đội VN- để ông này ra lệnh cho toàn quân buông súng đầu hàng trong cảnh nào loạn đó.
    “Ba cũng là một người lính đào ngũ, được cậu Hai con dấu trong nhà thờ; mẹ con hàng ngày lén đem cơm vào đó nuôi ba.”
    Quay lại nhìn Hậu, Trung ngại ngùng nói, “Anh Hai, trong suốt 40 năm vừa rồi, em đau khổ nghiền ngẫm tìm hiểu hai chữ ‘hèn, nhát’. Em biết hành động của em tại Chùa Xuân Hòa và tại nhà thờ Thủ Đức ngày đó, là đáng phỉ nhổ. Em nhục nhã quay đi, quay lại 2 đoạn phim ngắn đó.
    “Tại Xuân Hòa, anh Ba bảo em, “tôi ra lệnh cho chuẩn úy thay tôi, làm thiết đội trưởng, và lập tức đem thiết đội tiến sâu thêm 2 cây số về phía Bắc của điểm giao tranh vừa xẩy ra, tiến cho đến ngã tư Hồ Thị Hương, tàn sát lực lượng địch trên lộ trình 2 cây số đó.
    “Sau khi làm chủ tình hình, bố trí phục kích tuyến đường, gọi điện xin lệnh của hai vị tướng đơn vị trưởng, và tư lệnh chiến trường.
    “Anh Ba bị thương nặng, ra lệnh cho em xong, ảnh gục chết trên tay em, ảnh chết trong chiến thắng; 4 chiếc T54 và 12 xe vận tải chuyển quân của địch còn cháy hừng hực trên mặt đường, một số bộ binh tùng thiết của địch, vứt súng bỏ chạy.
    “Một xa trưởng gọi anh Ba qua máy truyền tin, và hỏi, ‘Đã thanh toán xong mọi kháng cự, xin lệnh Đại Bàng.’
    “Thay quyền anh Ba, em ra lệnh thiết đội truy kích tàn quân địch, và tiến về Long Khánh; đơn vị em chỉ huy rất thiện chiến, có thể anh Hai cũng biết một năm trước đó -ngày 30 tháng Tư 1974- thiết đội em dưới quyền điều động trực tiếp của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi đã bí mật vượt biên đánh tan Sư Đoàn 5 Việt Cộng đang vây hãm tiền đồn biên giới Đức Huệ.
    Sơ đồ trận đánh Đức Huệ
    “Theo em biết thì đó là lần đầu tiên chiến thuật ‘công đồn, đả viện’ của địch bị đánh bại, vì Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ không vào đồn Đức Huệ, không vào điểm ‘pháo đến’ để giải cứu Đức Huệ, mà đánh thẳng vào vị trí Việt Cộng đặt pháo.
    Hậu gật đầu, bảo Trung, “Không ai có thể phủ nhận tài cầm quân của em, dù em chỉ là một trung đội trưởng, nhưng em đã vô cùng can đảm; anh nghe chú Ba kể lại là em tiến nhanh đến mức, nhiều tên VC không kịp mặc quần, mặc áo.
    “Thi hành lệnh của anh Ba thì em làm được, nhưng khi phải tự quyết định, em lúng túng rồi cuối cùng bỏ chạy; em xấu hổ lắm. Em tự biết Ngọc Hạnh khinh em là phải.
    “Chữ ‘khinh’ em dùng có đúng không?”
    “Em về nước 4 lần, xin rước Hạnh qua Houston sống với em; Hạnh không cho em gặp mặt lần nào cả.”
    “Có thật em không biết lý do nó tránh mặt em không?”
    Trâm kéo ghế lại ngồi cạnh Trung, rồi nói, “Con nghĩ má con hy sinh lánh mặt, để ba đừng bận tâm vì má, mà làm lại cuộc đời.”
    “Mạng sống của ba còn tồn tại cho đến hôm nay cũng là nhờ má con hy sinh cứu ba, thì còn nói gì đến cuộc đời, mà con bảo ba làm lại.”
    Betty, “Ông ngoại kể cho con nghe, bà ngoại cứu ông ngoại như thế nào.”
    Đứng dạy, bước trở ra phòng ngoài, Trung đến đứng cạnh quan tài, rồi bảo Ngọc Hạnh, “Em nghe anh kể lại chuyện em cứu sống anh, cho con, cháu, chúng nó biết. Em cũng còn nhớ chứ, hôm đó là ngày mùng 2 tháng 5/1975, mới 4 giờ sáng, em đã gọi cửa nhà thờ, đem cơm đến nuôi anh trốn trong đó.”
    Quay trở lại, Trung nói với Hậu,”Tối hôm trước, VC đã đến hỏi anh Hai về tin chúng biết là có một quân nhân VNCH ẩn trốn trong nhà thờ; anh Hai phủ nhận; VC là 2 tên nằm vùng, chúng biết anh Hai rất rõ và có phần kính nể ảnh, mặc dù cộng sản chủ trương chà đạp lên những giá trị mà anh Hai là hiện thân, như đạo đức, kiến thức, tư cách, …
    “Chúng hậm hực bỏ đi, không dám khám xét nhà thờ; nhưng chúng không đi xa, mà phục kích ngay gần đó.
    “Sáng sớm hôm sau, lúc Hạnh đem đồ ăn đến cho em, em vừa mở cửa nhà thờ thì chúng ập vào; Hạnh chạy lên gác chuông, 2 tên dân quân Việt Cộng đuổi theo nàng; lên được đến gác thứ 3, thì Hạnh nói vói xuống bảo em, “Chạy lẹ đi, anh Trung.”
    Nghe Hạnh nói, một trong 2 tên VC bảo tên kia, “Mày xuống bắt thằng lính Ngụy, tao lên lầu chuông bắt con bé này.”
    Nghe chúng nó phân công như vậy, em hốt hoảng bung cửa nhà thờ, chạy biến vào bóng đêm; ra đến đường cái, em được một bác tài xe vận tải tốt bụng dấu em trong những thùng hàng hóa, rồi đưa em đến cửa Cần Giờ; tại đó, em theo ghe cá ra đến hải phận quốc tế, rồi được tầu nhỏ của Đệ Thất Hạm Đội đón.
    Tầu chiến chuyển em sang tầu buôn của Đại Hàn mà họ mướn và bố trí sẵn ngoài bờ biển VN; em được đưa về căn cứ Hải Quân Mỹ tại Subic Bay, rồi lại chuyển qua căn cứ không quân đặt trên đảo Wake, chót hết là định cư trên lãnh thổ Mỹ từ đó đến nay.
    “Em liên lạc nhiều lần với anh, để xin anh tin tức về Hạnh, nhưng lần nào anh cũng khước từ, bảo em quên chuyện cũ đi.”
    “Nó bảo anh trả lời em như vậy; nó không muốn liên hệ với em nữa.”
    “Có lần Hạnh cho em biết là Hạnh có thai với em, và sinh được một cháu gái; giờ này em đã được đoàn tụ với con gái em, và cháu ngoại em.”
    “Anh bảo Trâm gửi con Betty sang Houston sống với em, và vào đại học bên đó, cho em bớt cô quạnh,” Hậu bảo Trung.
    “Cảm ơn anh Hai, đến bây giờ anh mới nói, nhưng em vẫn đoán như vậy. Phần mà em không đoán được là số phận của Hạnh ngày hôm đó; Hạnh có bị VC bắt không?”
    “Nó không bị bắt, và vì không bắt được nó, 2 tên VC tới nhà, lôi anh từ giường ra, trói tay lại đưa về quận; tên quận trưởng mới nhậm chức chưa đầy 24 tiếng đồng hồ bảo anh là muốn được thả về, thì giao nạp em và con Hạnh cho nó.
    “Anh bảo anh hoàn toàn không biết chỗ ẩn trốn của cả em lẫn em gái anh; nó không tin, ra lệnh tra khảo anh; dĩ nhiên anh không khai gì cả; dù có biết chỗ trốn của 2 đứa, anh cũng chấp nhận chết, chứ đời nào anh nói ra những điều có hại cho em, cho nó.”
    “Không đời nào em dám nghi bậy như vậy, nhưng lần cuối cùng em thấy Hạnh, là Hạnh đang trên thang lên lầu chuông nhà thờ, đường lên hay xuống cũng chỉ có một cái thang hẹp té đó; dưới Hạnh khoảng trên dưới chục nấc thang là một tên VC đang đuổi theo Hạnh, trong lúc tên thứ nhì tuột xuống thang đuổi em. Gác chuông nhỏ lắm, Hạnh trốn đi đâu?”
    Hậu chưa kịp trả lời, Trung đã nói thêm, “Câu hỏi đó không buông tha em suốt 43 năm nay.”
    Gật đầu, Hậu nói, “anh hiểu”, rồi quay xuống nhà dưới, cất giọng hơi lớn hơn khi nói chuyện bình thường, Hậu gọi, “Anh Bò ơi, mời anh lên đây.”
    Bò là người thân tín, và là một phế binh vì gẫy tay phải, đang làm quản gia cho Hậu; ông mời anh ngồi, rồi bảo Trung, “Anh Bò là người biết rõ mọi chuyện, vì chính ảnh cứu con Hạnh,” quay qua Bò, ông nói, “Chú Trung đây là em rể tôi, chồng con Hạnh, xin anh kể lại chuyện anh cứu em tôi 43 năm trước.”
    Nhìn Trung bằng cặp mắt thiếu thiện cảm, anh Bò bắt đầu nói, “Tôi thấy thiếu úy bỏ chạy về hướng chợ Thủ Đức, tên VC đuổi theo nhưng trễ khoảng một phút; thấy tôi ngồi trên xe bò, nó hỏi tôi có thấy một người vừa chạy ra khỏi nhà thờ không.
    Tôi đáp, “thấy”, rồi đưa cái roi đánh bò tôi chỉ hướng chạy vào xóm; tôi gạt cho nó cắm đầu chạy ngược hướng để thiếu úy đủ thời giờ thoát thân; thích chí vì gạt được nó, tôi đang ngồi cười một mình thì nghe tiếng rơi nặng nề xuống chân gác chuông, rồi có tiếng rên nho nhỏ.
    Xách cái đèn dầu chai lù mù tôi đi vào vùng lùm bụi dưới chân gác chuông, và thấy một người đàn bà đang nằm bất tỉnh. Tôi chưa biết người đó là cô Út, vì ngọn đèn dầu chai không đủ sáng, nhưng tôi vẫn xốc nạn nhân lên vai, rồi vác vội ra xe, đưa về nhà.
    Sáng ra tôi qua tìm ông Hai để báo tin, mới biết ông bị VC bắt vài tiếng đồng hồ trước.
    Hậu bảo Trung, “Anh Bò là một phế binh, sau khi bị tàn phế, ảnh trở về làng sắm chiếc xe bò chở mướn cho dân làng.”
    Bò bổ túc, “Tôi chỉ đủ tiền mua chiếc xe, ông Hai cho tôi con bò, giúp cuộc sống của tôi đỡ vất vả hơn. Sau mấy chục năm làm nghề chở mướn cho người trong làng, tôi giải nghệ vì già, yếu; ông Hai lại cho tôi về đây làm quản gia.”
    Hậu bảo Trung, ” để anh tiếp lời anh Bò, kể chuyện Ngọc Hạnh: VC giam anh 9 ngày rồi thả vì chúng ý thức được là anh sẽ không khai báo gì với chúng; anh trở về nhà, hỏi người làm, thì không ai biết tin gì về Hạnh; anh vào nhà thờ hỏi, cũng không ai biết. Giữa lúc anh hoang mang thì anh Bò chở một dạ gạo đến cho anh; anh ngạc nhiên bảo anh Bò là anh không hề mua gạo; anh Bò bảo nhỏ anh, “Cô Ngọc Hạnh đang ở nhà em, ông Hai chờ nửa đêm, lúc không ai còn thức, đến thăm cổ.”
    Ngay đêm hôm đó anh gặp nó, một tuần sau, anh nhờ một bác sĩ Pháp bạn anh, đưa nó vào nhà thương Grall; nó gẫy cả 2 chân vì nhẩy từ trên gác chuông xuống đất. Cháu Trâm cũng sanh tại Grall, vì bệnh viện vẫn còn trong quyền quản trị của người Pháp cho đến năm 1978.
    Trung đứng dạy bắt tay Bò, “Anh là ân nhân cứu sống cả hai vợ chồng tôi; xin anh nhận lời cảm ơn của tôi, của con và cháu tôi.”
    Trâm cũng nói với Hậu, “Con cũng xin cảm ơn cậu Hai nuôi mẹ con tàn tật, và nuôi con ăn học cho đến lúc tốt nghiệp.”
    Hậu vuốt tóc Betty, con bé vẫn ngồi chung ghế với ông, và bảo Trâm, “Cậu nuôi con, nuôi cả mẹ lẫn con gái của con, nuôi bằng tiền bố con gửi từ Houston về. Lương bác sĩ mỗi năm được $180 ngàn; nó gửi về cho cậu $130,000, nhờ cậu nuôi con, nuôi cháu, và nuôi những người thiếu thốn, cần được giúp đỡ.”
    Đến lượt Bò đứng dạy, nghiêm chỉnh chào Trung bằng tay trái, vì tay phải của anh đã bị cưa từ ngày bị thương. Anh bảo Trung, “em là một trong những người nhận tiền anh cho.”
    Ôm Bò vào ngực, Trung chân thành nói, “tôi thèm có cánh tay bị cưa như anh, thèm địa vị phế binh của anh.”
    Hậu bảo Trung, “Em đừng tự ti với 2 chữ ‘đào ngũ’ nữa; em chỉ bỏ ngũ 24 tiếng đồng hồ trước khi quân đội VN tan rã vì sự phản bội từ những cấp cao hơn cấp thiếu úy của em nhiều lắm. Tổng tư lệnh, tổng tham mưu trưởng, tư lệnh Quân Đoàn 3 đều đã ra ngoại quốc, ngày em và thằng Cần -anh Ba em, và cũng là trung úy đại đội trưởng của em- còn đang sống chết bảo vệ Long Khánh.
    Giọng trầm trầm, Trung thú nhận, “Trên 40 năm nay, em đọc không sót một chữ nào luận về tội đào ngũ trước địch quân; đó là tội phải xét xử trước tòa án mặt trận, và bản án là tử hình. Em cảm thấy nhục lắm.
    Trung nạt ngang, “Dù em có ra tòa án mặt trận, có lãnh án tử hình, thì cũng phải chờ đến 10 năm mới tới phiên em ra pháp trường, nếu mỗi ngày tiểu đội hành quyết chỉ bắn một người.”
    Giọng Hậu trở thành quyết liệt hơn, “Nhân danh Ngọc Hạnh, đứa em gái anh, đứa đã chấp nhận cả cái chết, cả cuộc sống tàn tật để mở sinh lộ cho em, anh ra lệnh em phải đứng dạy, đem toàn bộ khả năng kiến thức và tiền tài ra nâng đỡ hàng ngàn cô Ngọc Hạnh khác đang là nạn nhân của cuộc sống Xã Hội Chủ Nghĩa.
    “Cái nhục đào ngũ không biện minh cho việc 43 năm nay em quỳ gối xưng tội. Anh muốn em hứa với Ngọc Hạnh là ngay sau tang lễ, em sẽ trở lại Hoa Kỳ để gánh vác sứ mạng gây dựng cho nhiều đứa trẻ, trực tiếp dìu dắt từng đứa một.
    Trung nhìn Hậu đăm đăm, rồi nói, “Anh không mặc quân phục ngày nào cả, mà anh có uy hơn một tướng lãnh.” Gõ gót giầy mặt vào gót giầy trái trong thế đứng nghiêm của người lính, Trung bảo anh, “thiếu úy Trung, tuân lệnh.”
    Hậu bước ra phòng tiền đường, đến đứng gần quan tài, anh nghiêm trọng bảo người chết, “Em cũng vĩ đại như nhiều bà vợ lính khác; bức tượng vợ lính đúc bằng đá hy sinh và xi mang thầm lặng chịu đựng quả là hùng vĩ.
    “Trong 2 ngày yêu thương ngắn ngủi, mấy lần em nói được với Trung chữ ‘yêu’? Vậy mà nó nhận đầy đủ bản thông điệp yêu thương đó.”
    Không quay lại, nhưng Hậu vẫn cảm nhận được sự hiện diện của Trung ngay sau lưng anh. Anh bảo Trung, “Mất nước, anh không đi đâu cả, ở lại Việt Nam để chứng kiến nét đẹp tuyệt vời của những bà vợ người lính VNCH. VC mở nguyên cả một chiến dịch quyến rũ vợ người lính Nam Việt đơn chiếc, neo túng, trong lúc chồng họ bị chúng cầm tù, nhưng bà vợ lính vẫn trung trinh chờ chồng.
    “Cảm ơn anh Hai thương vợ em, cho nó một chỗ ngồi danh dự trong chiến tranh VN; em cũng thường gọi nó là thiên thần, mặc dù em vẫn thèm đón nhận nó nhân bản hơn, bớt thánh thiện để em có một người vợ bình thường như mọi người. Em thèm rước nó sang Houston để em cũng có một người vợ cùng mình hủ hỉ như mọi người đàn ông khác; em thèm được ngày ngày yêu thương, đắm đuối hôn đôi chân vì em mà gẫy làm mấy đoạn.
    Em thèm thương Hạnh nồng nàn như thương vợ chứ không kính cẩn như đối với một vị thiên thần, một bức tượng tuyệt đẹp, nhưng quá xa, quá cao, chứ không ấm áp nằm bên em.
    Em không phải là một người lính anh hùng như anh Ba, em cũng không phải là một vị linh mục đạo đức như anh; em chỉ là một anh đàn ông tầm thường, một người lính yêu vợ mà cả đời không có vợ.

    Nguyễn đạt Thịnh