Search This Blog

Monday, January 14, 2019

Bàn sơ lược về viễn cảnh Hoa Kỳ đặt hỏa tiễn tại Việt Nam

Nguyễn Trọng Dân
image.png
Những vị trí thuận lợi đặt hỏa tiễn khống chế Trung Cộng ở biển Đông
Giới chiến lược gia tại Hoa Thịnh Đốn từ lâu tin rằng nếu Hoa Kỳ ráp đặt đủ loại hỏa tiễn hiện đại của mình tại Phi Luật Tân và Việt Nam thì sẽ khiến Tập Cận Bình chùn tay do dự khi tiếp tục chương trình quân sự hóa và bành trướng lãnh hải của mình. Vào năm 2016 và 2017, khi Hoa Kỳ quyết định ráp đặt dàn hỏa tiễn THAAD tại biên giới Nam-Bắc Hàn, người ta thấy Bắc Kinh lo sợ ra mặt và phản ứng dữ dội về ngoại giao đối với Hoa Thịnh Đốn. Bắc Kinh biết rõ hệ thống radar của dàn hỏa tiễn THAAD đặt tại nơi này, với khả năng phạm vi dò tìm lên đến một ngàn cây số bán kính, có thể thu thập mọi hoạt động trên lãnh thổ Trung cộng, từ quốc phòng đến dân sự, khống chế vùng trời Trung cộng một cách dễ dàng. Điều này cũng khiến các dàn hỏa tiễn của Trung cộng vô hình chung bị theo dõi và vô hiệu hóa.
Trong bối cảnh Trung cộng hiện nay tiếp tục gia tăng sức mạnh quân sự của mình tại biển Đông, thì việc chính phủ Trump cho các tướng lãnh ra hù dọa lung tung có vẻ như không hữu hiệu cho lắm. Đáp trả lời hù dọa là quân đội Hoa Kỳ sẵn sàng nhấn chìm các đảo nhân tạo của Trung tướng Kenneth F. McKenzie, Giám đốc Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, Trung cộng cho điều phản lực cơ H-6K có khả năng phóng hỏa tiễn hạch tâm ra các đảo nhân tạo.
Nhằm tiếp tục áp lực lên Trung cộng, ngoài việc để cho các tướng lãnh của mình hù dọa Trung cộng tối đa, chính phủ Trump còn lần lượt điều hàng loạt các tàu chiến của mình và Đồng Minh tuần tra biển Đông và cập bến Việt Nam.
image.png
Uss Carl vinson in Danang
Vào tháng Ba năm 2018, Hàng Không Mẫu Hạm (HKMH) của Hoa Kỳ Carl Vinson đến Đà Nẵng. Thủy thủ của Hoa Kỳ được lệnh cho mở sân khấu hát hò “nối vòng tay lớn” ầm ỷ như là tín hiệu để phát ra cho đồng minh của mình, nhắc nhở là đã đến lúc phải bày tỏ thái độ của quốc gia mình về vấn đề biển Đông.
Kể từ đó, mảnh đất miền Nam từng mang tên Việt Nam Cộng Hòa nhộn nhịp chào đón hết tàu chiến của quốc gia này đến tàu chiến của quốc gia khác cập bến. Miền Nam Việt Nam trở thành cái thùng bỏ phiếu thuận hay chống Trung cộng của các cường quốc. Hể nước nào đồng tình với Hoa Kỳ về việc chống lại sự bành trướng lãnh hải của Trung cộng tại biển Đông thì cho tàu chiến cập bến miền Nam Việt Nam.
Điểm qua sơ sơ trong năm 2018 chúng ta thấy, vào tháng Năm, tàu chiến Ấn Sahyadri vào bãi Tiên Sa của Đà Nẵng. Trong tháng Bảy, tàu chiến La Fayette Surcouf của Pháp đến Sài Gòn, gần cuối tháng Bảy, tàu ngầm Kuroshio của Nhật đến cảng Cam Ranh. Tháng Chín, tàu HMS Albion của Hải quân Anh đến Sài Gòn. Cuối tháng Chin, tàu chiến Canada HMCS Calgary đến Đà Nẵng. Đó là chưa kể tàu của Nam Hàn, của New Zealand, Úc cũng lần lượt cập bến miền Nam Việt Nam.
Điều này thật sự làm cho Trung cộng có phần do dự khi tiếp tục quân sự hóa các đảo ở biển Đông trong thời gian qua, thế nhưng, sách lược này của Hoa Kỳ vẫn bị phê bình là chưa đủ vì sự đe dọa quân sự của Hoa Kỳ lên Trung cộng không được thường xuyên. Mà muốn cho Trung cộng chùn tay đổi ý, thì sự đe dọa quân sự lên Bắc Kinh phải thường xuyên hơn và hung hiểm hơn.
Từ đó, giải pháp đặt hàng loạt các dàn hỏa tiễn ở các vị trí chiến lược từ trong nội điạ của Việt Nam và từ các hải đảo của Phi được bàn đến.
Trong cuộc gặp gỡ với Trần Đại Quang và Nguyễn Xuân Phúc vào tháng 11 năm 2017, Tổng thống Trump đã nói bóng nói gió là hỏa tiễn do Hoa Kỳ làm ra tốt nhất thế giới, nhưng Quang lại cự tuyệt ý định của Trump, bảo rằng Việt Nam muốn gìn giữ chủ quyền thông qua con đường hòa đàm hòa bình. Báo chí đồn đoán là Trump muốn bán hỏa tiển cho cộng sản Việt Nam (csVN).
Trên thực tế, lời đồn từ báo chí là Trump muốn bán hỏa tiễn cho csVN có thể chỉ là sự che đậy vì Việt cộng chưa đủ khả năng về ngân sách để mua bất cứ hệ thống hỏa tiễn nào do Hoa Kỳ sản xuất. Đó là chưa kể chi phí vận hành, chi phí đạo tạo, mướn chuyên viên.
Một điểm khó khăn khác cho Hoa Kỳ khi tiến hành đặt các dàn hỏa tiễn của mình tại Việt Nam là Hoa Kỳ cần có một căn cứ quân sự hiện diện thường trực tại Việt Nam để hỗ trợ bảo vệ vùng trời cho sự an toàn của các dàn hỏa tiễn. Điều này vẫn còn trong vòng thương thảo kể từ sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Panetta viểng thăm Cam Ranh vào tháng Sáu năm 2012. Tuy nhiên, người ta cũng đã thấy Bộ trưởng Quốc phòng Mattis viếng thăm sân bay Biên Hòa vào tháng 10 năm nay. Sân bay Biên Hòa từng là căn cứ Không quân của Hoa Kỳ vào thời Việt Nam Cộng Hòa.
Hoa Kỳ đã bỏ ra 390 triệu Mỹ kim để tu sửa phi trường và loại trừ những di hại của các hóa chất khai hoang khi xây dựng mở rộng phi trường này trong thời chiến nhằm đem đến sự an toàn cần thiết cho quân nhân Hoa Kỳ quay trở lại phi trường này trong tương lai. Ngoài phi trường Biên Hòa, phi trường quân sự Đà Nẵng cũng nằm trong danh sách được Hoa Kỳ chi viện. Lấy cớ là đổ chuyên viên thiết bị xuống phi trường Đà Nẵng và Biên Hòa trong kế họach giải trừ di hại của hóa chất khai hoang, phi cơ vận tải quân sự của Hoa Kỳ mang theo nhiều thiết bị lần lượt đáp xuống hai phi trường này thường xuyên. Hiện cả Hoa Kỳ và csVN vẫn giấu kín số lượng chuyên viên quân sự Hoa Kỳ làm việc thường trực tại hai phi trường này. Cũng lấy cớ là để tạo thuận lợi cho vấn đề tẩy trừ di hại của hóa chất khai hoang, các đường bay quân sự bị hư hại được tu chỉnh lại, các nhà kho quân sự ở hai phi trường này được làm mới lại. Các hệ thống thiết bị điều hành không vận cũng được đổi mới. Điều đó cũng cho thấy từng bước từng bước, Hoa Kỳ thực hiện xây dựng nền tảng cần thiết cho các dự tính quân sự lâu dài của mình trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam.
Biết rõ Bắc Kinh đang cố hoàn thiện khả năng tấn công bằng hỏa tiển của mình tại biển Đông, Hoa Kỳ lần lượt đưa các chiến hạm phóng hỏa tiển hiện đại của mình vào Hoàng Sa như muốn khẳng định với Bắc Kinh và các nước trong vùng là thế mạnh hỏa tiễn của Bắc Kinh không ăn thua gì. Cụ thể là gần đây nhất, báo chí loan tin Hoa Kỳ đưa chiến hạm phóng hỏa tiển hiện đại USS Chancellorsville đi vào vùng biển Hoàng sa vào 30 tháng 11 năm 2018, và vào ngày 7 tháng Giêng năm 2019, chiến hạm phóng hỏa tiển USS McCampbell cũng được có lệnh tuần tra vùng biển này. Cả hai đợt tuần tra chỉ cách nhau không đầy hai tháng.
Mức độ tuần tra bởi các chiến hạm phóng hỏa tiễn hiện đại của Hoa Kỳ vào Hoàng Sa ngày càng dồn dập cho thấy Hoa Thịnh Đốn thật sự đang gia tăng sức ép quân sự của mình lên Bắc Kinh để buộc Bắc Kinh phải từ bỏ tham vọng khống chế biển Đông bằng hỏa tiễn. Điều này rõ ràng làm Bắc Kinh bực tức nhưng vẫn chưa đủ để Bắc Kinh e dè mà hủy bỏ dã tâm tăng cường sức mạnh hỏa tiển của mình để khống chế biển Đông, trừ phi các dàn hỏa tiễn hiện đại của Hoa Kỳ thật sự được ráp đặt tại Việt Nam và Phi, đe dọa đến sức mạnh Hải quân của Bắc Kinh một cách thường trực. 
Theo ý của Tom Rogan viết bài gởi cho Washington Examiner với tựa đề: “To deter Chinese imperialism, the US should ask to station long range missiles in Vietnam and the Philippines” (1), tạm dịch ý là: “Để chống lại chủ nghĩa bá quyền của Trung cộng, Hoa Kỳ nên yêu cầu ráp đặt các dàn hoả tiễn tầm xa tại Việt Nam và Phi“, Rogan lý giải rằng Hoa Kỳ cần phải đặt hỏa tiễn tầm xa hiện đại một cách thường trực tại Việt Nam và Phi theo lối lấy độc trị độc, nghĩa là nếu Trung cộng muốn đọ sức bằng hỏa tiển, ráp đặt các dàn hỏa tiển tại các đảo tạm chiếm trái phép ở biển Đông thì Hoa Kỳ cũng phải ráp đặt các dàn hỏa tiễn của mình tại Phi và Việt Nam để đáp lại. Theo ý của Rogan, có “ăn miếng trả miếng” như vậy thì mới khiến Bắc Kinh chùn bước. Trung cộng không muốn thấy hỏa tiễn tầm xa của Hoa Kỳ đe dọa mình từ Việt Nam hay Phi thì phải tháo dỡ ngay lập tức các dàn hỏa tiễn của mình tại biển Đông.
Mặc dù đối sách của Rogan đưa ra, ráp đặt đủ loại hỏa tiễn hiện đại của Hoa Kỳ tại Phi và Việt Nam để tăng thêm thế mạnh ngoại giao cho Hoa Kỳ khi thương thảo với Trung cộng về biển Đông, nhưng trên thực tế, bước đi này nếu Hoa Kỳ thực hiện, sẽ khiến Hoa Thịnh Đốn tiến thêm bước nữa trong việc đối đầu trực diện quân sự với Trung cộng, và vì vậy, Tòa Bạch Ốc cần hậu thuẫn mạnh từ Quốc Hội và công chúng Hoa Kỳ, vốn vẫn còn chưa dứt khoát ủng hộ chính phủ đẩy mạnh căng thẳng quân sự với Trung cộng.
Chính phủ Trump gia tăng tuần tra bằng các chiến hạm phóng hỏa tiễn hiện đại vào Hoang Sa trong thời gian gần đây là một giải pháp tạm thời thích hợp nhất trong lúc những điều đình thương thảo giữa csVN và Phi còn đang trong vòng thương thảo.
Đối với csVN, tình thế ngặt nghèo bị Trung cộng o ép tại biển Đông đã khiến Hà Nội buộc lòng phải đi đến cộng tác với Hoa Kỳ về mặt quân sự ngày một sâu rộng hơn. Càng cộng tác sâu rộng về quân sự với Hoa Kỳ bao nhiêu, thì ý nghĩa của cuộc chiến được ca ngợi là “kháng chiến chống Mỹ cứu nước” trong quá khứ càng lúc càng bị lộ ra là một cuộc chiến hy sinh xương máu của dân tộc một cách vô ích, vì người dân Việt ngày nay thông qua sự hợp tác quân sự này, ai cũng thấy kẻ thù xâm lược nước nhà không phải là Mỹ như đảng đã tuyên mà ngược lại chính là Trung cộng, một chế độ mà csVn ngữa tay nhận viện trợ vũ khí dài hạn để bắn giết đồng bào.
Nhưng đó cũng không phải là điều mà csVN lo lắng. Điều mà csVn lo lắng chính là hình ảnh của Việt Nam Cộng Hòa, đồng minh của Hoa Kỳ, vốn bị csVN kết tội là tay sai Mỹ ngụy, sẽ trở lại trong tâm trí của người dân Việt trong tiến trình hợp tác quân sự ngày một sâu rộng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
Nay, csVn đang đứng vào tình thế mà Việt Nam Cộng Hòa phải chịu đựng trước đó, tức là buộc phải nhận vũ khí của Mỹ, cộng tác quân sự với Mỹ để tự vệ trước thảm họa bị thôn tính cũng bởi cộng sản. Điều này khiến nền tảng lý luận chính trị của csVN bị hụt hẫng.
Cộng sản Việt Nam được tồn tại đến ngày nay, không phải vì có sức mạnh đủ để đàn áp người dân như nhiều người lầm tưởng, mà là nhờ ngoại viện từ khối cộng sản để có kinh phí hoạt động, và nay là nhờ ngoại viện kinh tế từ thế giới tư bản trong đó có Hoa Kỳ, cộng với một nền tảng lý luận chính trị vững chắc để lợi dụng lòng yêu nước của người dân Việt một cách tối đa trong việc duy trì quyền lực. Sư cộng tác quân sự với Hoa Kỳ đang từng bước làm nền tảng lý luận chính trị, thế mạnh của csVN trong viêc duy trì quyền lực chính trị càng lúc càng đổ vỡ, dẫn đến sự băng hoại chính trị toàn diện từ thượng tầng lãnh đạo đến hạ tầng cán bộ.
Một khi kết cấu tập trung quyền lực đã không còn sự hậu thuẫn tuyệt đối của người dân, kết cấu này từng bước bổng trở thành là mục đích của mọi sức phản kháng lật đổ của toàn xã hội, và trong lúc nội bộ cộng sản không còn nhất quán về tư tưởng chính trị, thì quyền lợi kinh tế lại càng làm mâu thuẫn nội bộ thêm gây gắt chia rẽ. Do đó, csVn thật sự tự đào hố chôn mình khi tiếp tục cộng tác quân sự với Hoa Kỳ.
Theo thống kê của viện nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore, hơn 75% dân số Việt Nam bài Trung kịch liệt (2). Điều này cho thấy cơ sở nền tảng lý luận chính trị cho quyền lực của csVN sẽ không còn nếu csVn tiếp tục quy lụy Trung cộng để cầu an trong thập kỷ tới. Nhưng nếu theo Mỹ chống Trung cộng để lấy lại cơ sở hậu thuẫn quyền lực, thì sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ thường trực tại Việt Nam lại khiến hình ảnh Việt Nam Cộng Hòa quay trở lại, lan rộng và thiết lập nền tảng hậu thuẫn chính trị một cách tự nhiên dễ dàng.
Giới chức chóp bu của csVn đã nhìn thấy được tác động của quân đội Mỹ rất mãnh liệt lên người dân Việt Nam thông qua thời gian HKMH Carl Vinson ghé thăm Đà Nẵng. Sự sôi động hào hứng của người dân Việt khi tự nguyện đón tiếp thủy thủ Hoa Kỳ đang làm giới chức chóp bu của csVN lo lắng. Điều này cho thấy, nền tảng chính trị của Việt Nam Cộng Hòa chưa hề bị mất đi vì không có người dân Việt nào tin rằng Việt Nam Cộng Hòa cộng tác quân sự với Mỹ là tay sai cả. Cũng theo bản thống kê từ Singapore, tỷ lệ người dân Việt Nam tin vào Mỹ cao nhất Đông Nam Á, vượt quá 54%. Cho nên, một chính thể chính trị mang tiếng là “thân Mỹ” như Việt Nam Cộng Hòa không có lý do gì mà không thể tồn tại tại Việt Nam theo đúng ý nguyện của người dân trong tương lai.
Do đó, sự hiện quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam chắc chắn đem đến một tác động rất mạnh lên xã hội và chính trị của Việt Nam mà csVN không thể nào chống đỡ nổi. Mà sự tác động này chỉ có lợi cho kẻ thù cũ của csVn là Việt Nam Cộng Hòa, một “bóng ma” cứ ám ảnh csVn cho đến ngày nay.
Do sự ngần ngại về mặt tâm lý như đã trình bày, các vòng thương thảo để Hoa Kỳ có thể hiện diện Hải quân thường trực tại Cam Ranh hay đặt các dàn hỏa tiển thường trực lúc nào cũng bị csVN trì hoản, dè chừng.
Chính phủ Hoa Kỳ đã năm lần bảy lượt khẳng định họ không có thâm ý muốn can thiệp vào nội tình chính trị của Việt Nam cũng như không hề có ý hậu thuẫn chính thể Việt Nam Cộng Hòa quay trở lại để trấn an csVN. Tuy nhiên, Hoa Kỳ không thể nào thay đổi bản chất chính trị tại Việt Nam, mà trong đó, sự hậu thuẫn của người dân dành cho Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa cứ ngày mỗi tăng.
Một yếu tố nghịch cảnh khác mà csVn cũng phải trải qua giống như Việt Nam Cộng Hòa trước đó. Đó là Việt Nam Cộng Hoà lúc khởi thủy không muốn đồng bào nồi da xáo thịt nên cự tuyệt sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ trên lãnh thổ. Nhưng csVN không ngừng tấn công khủng bố sát hại dân lành nên Việt Nam Cộng Hòa buộc phải cộng tác quân sự với Hoa Kỳ để tồn tại.
Cộng sản Việt Nam ngày nay nếu có thể tránh né được việc cộng tác quân sự với Hoa Kỳ thì Hà Nội đã tránh né tới cùng, nhưng Trung cộng không hề dừng lại trong dã tâm độc chiếm nguồn dầu hỏa và thủy sản ở biển Đông cũng như lãnh hải khiến csVN hết cách mà phải mở cửa cho HKMH của Hoa Kỳ vào Đà Nẵng tạm thời thử nghiệm.
Trong đối sách quan trọng của mình tại biển Đông, Hoa Kỳ không thể nào cứ tiếp tục nhẫn nại mãi trước thái độ dỡ dỡ ương ương miễn cưỡng của csVn trong khi hợp tác, nhất là khi trong tình huống cuộc đối đầu quân sự Mỹ Trung có biến leo thang. Đến lúc đó, để có thể chu toàn đối sách chiến lược cho mình, giới chức Hoa Kỳ sẽ tìm cách buộc Hà Nội ngoan ngoãn hơn, mà các đối sách này thường là dẫn đến chính biến hay sự thay đổi nhân sự trong chế độ một cách đột biến. Và đối với mọi cơ chế chính trị chuyên chính tập trung, chính biến hay sự thay đổi nhân sự đột biến chỉ khiến sự tan rã hệ thống chính trị thêm nhanh hơn mà thôi
Từ đó có thể nói, dàn hỏa tiễn của Hoa Kỳ chưa đến được Việt Nam thì những ảnh hưởng của dàn hỏa tiễn này lên xã hội và chính trị đã bắt đầu và sẽ tiếp tục ảnh hưởng ngày một mạnh mẽ hơn cho đến khi thật sự hiện diện.
Nguyễn Trọng Dân
__._,_.___
KHÁNH LY… TIẾNG HÓT CON CHIM CÚ VIỆT, ĐÃ CHẾT !!!

Kỷ niệm đẹp và buồn của tuổi thơ tôi có lẽ là kỷ niệm về con chim cu gáy. Đó là con chim cu gáy nở trong chiếc ổ lót bằng mấy cọng cỏ sơ sài trên cây ô ma, còn gọi là lê ki ma. Sau một trận gió lốc, chiếc tổ bị rơi và hai con chim con rơi xuống đất, chết một con, bà mang con còn lại vào nuôi. Không ngờ nó lớn rất nhanh và nó là cu cườm (tức là chim cu gáy có một chuỗi hạt cườm vòng quanh cổ lốm đốm nhìn rất đẹp. Đây cũng là loài chim cu đá rất giỏi, người ta nuôi để đá thi, gáy thi). Và con chim cu gáy đó đã để lại ấn tượng rất mạnh với tôi bởi tiếng hát và cái chết của nó. 

Câu chuyện của nữ danh ca Khánh Ly trong mấy ngày gần đây khiến tôi nhớ đến con chim cu gáy tưởng như đã đi vào hộp ký ức tuổi thơ của tôi.

Xin kể về con chim cu gáy trước. 
Bà nhặt được nó khi nó đang ướt sũng, bộ lông mọc chưa đủ không giúp nó tự bay được. Bà cho nó ăn đậu xanh bằng cách nhai thật kỹ và mớm cho nó. Không bao lâu, nó lớn mạnh, mọc đủ lông đủ cánh và bắt đầu tập bay. Biết bay, nó được tự do, bay từ tấm phảng lên cây trính, rồi bay lên mái nhà, bay ra ngọn tre và cuối cùng là bay vào bầu trời rộng. 
Lúc đó tôi nghĩ là nó đã bay đi luôn, nhưng không, tối nó lại quay về nhà, bởi nó xem nhà tôi như tổ của nó.
Và nó cứ bay đi bay về như vậy từ lúc đó cho đến lúc nó chết, ước chừng hơn mười năm thì phải.

Vì nó thường quanh quẩn trong vườn nên tôi biết được nó gáy bộ Ngũ (tức là gáy liên tục 5 tiếng một chuỗi, ví dụ Cù Cú Cu Cu Cu hoặc Cúc Cù Cu Cu Cu, thay vì bộ tam thì Cù Cú Cu hoặc Cúc Cù Cu, có con gáy bộ nhị chỉ đúng hai tiếng Cu Cu, Cu Cu, Cù Cu…).

Riêng giống chim cu gáy, tiếng hót thể hiện đẳng cấp và tầm cỡ của nó. Ví dụ như chim gáy bộ Tứ mà gặp chim gáy bộ Ngũ thì tự xếp cánh mà im lặng chứ không dám gáy nữa, vì gáy thêm sẽ bị chim bộ Ngũ tấn công. Mà một khi chim bộ Ngũ tấn công thì chim bộ Tứ chỉ có thua. Bởi tiếng gáy chứa cả sức khỏe, nội lực của con chim. 
Thời vàng son của chim cu gáy kéo dài chừng ba năm, nghĩa là thời gian này, tiếng gáy thể hiện sức mạnh cũng như lãnh địa của nó.Và dường như đến năm thứ tư trở đi, chim lười gáy hơn, thỉnh thoảng có chim lạ đến thì nó lấy hết sức bình sinh gáy một tràng để báo hiệu là lãnh thổ đã có chủ, đừng quấy phá, hoặc thỉnh thoảng gáy gọi tình chứ không còn gáy "máu lửa" như thời vàng son. Càng về già, chim cu gáy càng ít gáy, đến chừng 7 tuổi trở đi thì hiếm khi nghe nó gáy. Tôi để ý những con chim ông nuôi (trừ con chim tự do mà tôi đang kể ra) và hỏi ông bởi ông là chuyên gia đánh cu nên ông biết.

Ông giải thích với tôi là hầu hết, chim cu gáy khi già nó chẳng dại gì cất tiếng gáy, bởi nó muốn giữ uy lực thời trẻ của nó, nếu nó gáy lên, chim trẻ sẽ biết nó già và nó mất lãnh thổ, thậm chí có thể mất mạng. Và thường thì những con chim gáy khi về già chỉ quanh quẩn trong địa giới của nó, thỉnh thoảng bay đi kiếm ăn rồi lại về, ít thấy gáy và tuyệt nhiên không tham gia các trận chiến giữa các con chim gáy với nhau cho dù chim gáy bộ thấp hơn nó đến gây hấn, nó cũng im lặng, không thèm gáy lại. 
Đó là tập quán của chim gáy cũng không chừng!
Nhưng con chim gáy mà bà nuôi thì lại khác, bởi nó được sống trong nhà, khi nào trời mưa to gió lớn thì nó bay vào nhà, đậu trên cây trính để ngủ, sáng mai trời quang mây tạnh thì nó bay. Và hễ nghe có chim lạ tới gáy thì nó gáy ngay, nó luôn thi thố, dường như chưa bao giờ ngừng gáy thi mặc dù đã sáu, bảy tuổi, nghĩa là đã quá già.

Gặp chim gáy bộ thấp hơn thì nó tấn công, gặp chim gáy ngang bộ thì nó gáy lại rồi trốn vào nhà. Cho đến một bữa cả nhà tôi đi chạp mả, đóng cửa, đến trưa tôi về thì thấy con chim gáy đang chiến đấu với một con chim gáy khác, nó bị thương khắp mình, bị vặt lông, bị mổ cháy máu, và nó cũng không còn sức chiến đấu.

Tôi chạy đến xua con chim gáy kia đi thì nó tấn công thêm mấy phát nữa rồi bay đi. Sau đó, mặc dù có cố gắng cứu, con chim gáy thân thuộc của gia đình tôi cũng không sống thêm được ngày nào.
Ông nhìn nó rồi bảo:
 – “Thôi để nó chết, vì nó chết như vậy cũng hay, nó chết trẻ, bởi nó chưa bao giờ nhìn thấy nó già, như vậy cũng hay!”. 

Câu nói bâng quơ của ông tưởng như nói rồi thôi, tự dưng mấy ngày nay tôi lại nhớ đến ông một cách lạ thường, nhất là sau khi danh ca Khánh Ly bị một vố đau không có khán giả trong một chương trình ca nhạc tại nhà thi đấu Quân Khu 7, Sài Gòn.  
Thực ra chuyện này cũng dễ hiểu, cách đây 5 năm, tôi từng nghe một CD mới nhất của Khánh Ly và thừa nhận là bà đã quá già, giọng của bà không còn khỏe, tròn trịa và truyền cảm như xưa mà thay vào đó là giọng hát của kinh nghiệm, kỹ thuật cộng với một chút nhựa âm do tuổi già mang lại.Nó hoàn toàn không hay và thiếu truyền cảm.Nhưng điều đó không làm vơi đi sự hâm mộ của tôi đối với bà. Bởi vì bà là giọng ca vàng son một thuở và hơn hết là những phát biểu đậm chất “ưu thời mẫn thế” của bà trong các video khiến tôi khâm phục bà lắm lắm.
Trong một lần trả lời phỏng vấn, bà đã nói:
- “Tôi sẽ không về Việt Nam khi cộng đồng người Việt giống như tôi chưa được về, khi Việt Nam chưa có tự do. Tôi đã ra đi như thế nào và sẽ trở về như thế ấy!”. 

Lời phát biểu này được tôi hiểu với hàm ý rằng nếu Việt Nam vẫn còn chế độ Cộng sản độc tài, người dân vẫn còn mất tự do, còn đau khổ thì bà sẽ không về nước. Nếu bà về nước, nhất định phải trong một tâm thế hoàn toàn tự do, quê hương đã xóa được đêm trường độc tài… 
Nhưng có vẻ như tôi đã hiểu không đúng ý bà. Bởi hiện tại, Việt Nam vẫn chưa có gì thay đổi, người dân vẫn mất tự do, văn nghệ sĩ, báo giới không được nói tiếng nói của tự do, không được tự do phát biểu chính kiến và dân oan ngày càng nhiều, những cuộc biểu tình, tuần hành ôn hòa của người dân bị đàn áp không thương tiếc…

Nhưng bà đã về. 
Mà không về một cách bình thường, bà về để hát, và hát phục vụ cho giới quan chức, giới lãnh đạoCộng sản. Sở dĩ tôi nói quả quyết rằng bà hát phục vụ cho giới quan chức, giới loãnh đạo Cộng sản là vì bà là  người khá thông minh, sắc sảo, bà thừa biết rằng dân Việt Nam, nhất là giới lao động, thu nhập mỗi tháng của họ chỉ dao động từ hai triệu đồng đến ba triệu đồng, giới trí thức chân chính cũng có thu nhập rất thấp, giới kinh doanh tại Việt Nam đang thời kỳ khó khăn tột độ, chuyện duy trì doanh nghiệp không thôi cũng đủ làm họ bạc tóc…

Chính vì vậy, giá vé dao động từ 800 ngàn đồng đến 2,5 triệu đồng không phải là giá vé dành cho người dân Việt Nam mà là giá vé dành cho giới quan chức, giới cán bộ có nhiều tiền và họ không hề xót xa khi vung tiền qua cửa sổ.
Bà có thể nói rằng giá vé là do ban tổ chức định ra. Nhưng bà có thừa khả năng để yêu cầu ban tổ chức hạ giá vé, hạ luôn mức tiền cát-sê của bà để những người yêu quí bà được nghe bà hát, được mục kích sở thị bà. Bởi vì, giới cán bộ Cộng sản không thể là giới hâm mộ bà được rồi, trừ khi…?! 
Còn những người hâm mộ bà là những trí thức, những công chức và những quân nhân thời Việt Nam Cộng Hòa, họ đang là nạn nhân, đang lây lất trên quê hương và trong mỗi buổi tối đau khổ của họ, không chừng tiếng hát của bà đã bầu bạn với họ, tiếp thêm lửa hi vọng cho họ.
Nhưng lần này, bà về nước, bà hát và phục vụ cho một nhóm người có tiền, vô hình trung, bà làm tổn thương những người đã yêu quí, hâm mộ bà bấy lâu nay. Và sự tổn thương này là có thật, là hợp lý. Vì sao? 
Vì họ đã nâng niu tiếng hát của bà qua thời gian, qua chiến tranh và mất tự do, qua cả đau khổ và tuyệt vọng. Còn bà, ngược lại, bà đã ném tiếng hát của bà vào một canh bạc chính trị đầy rẻ rúng, ở đó, không có gì khác ngoài một sự thỏa hiệp.

Tự dưng, cái chết của tiếng hát Khánh Ly một thuở trong tôi lại làm cho tôi thấy vui. Bởi lẽ, cái chết này cũng giống như cái chết rất ư trẻ trung và bồng bột của con chim cu gáy mà gia đình tôi đã nuôi thuở tôi tấm bé. Nó luôn tin rằng nó còn trẻ, còn khỏe và nó đúng. Và nó đã chết trong niềm tin đó!

Viết từ Saigon
Copy bên nhà VTV/Fb Liên Trà