Search This Blog

Sunday, April 28, 2019

“Cuộc chơi đã chấm dứt”?

Ký Thiệt

alt
Như đã loan báo trước, sáng ngày thứ năm, 18.4.2019, Bộ trưởng Tư pháp William Barr đã mở một buổi họp báo trước khi công bố tập phúc trình của tham vấn đặc biệt Robert Mueller về cuộc điều tra ông Donald Trump “thông đồng với người Nga” để lèo lái cuộc bầu cử năm 2016.
Với ông Thứ trưởng Rod Rosenstein và người phụ tá Ed O’Callaghan đứng sau lưng, ông Barr đã một lần nữa tuyên bố qua tập phúc trình 448 trang của ông Mueller sau 22 tháng điều tra đã không tìm thấy bằng chứng ông Trump hay ban vận động tranh cử năm 2016 của ông đã thông đồng với người Nga để can thiệp vào cuộc bầu cử. Và, tuy người Nga đã cố tìm cách nhúng tay vào để lèo lái cuộc bầu cử nhưng đã không có công dân Mỹ nào hợp tác với người Nga để làm việc ấy.
Về vấn đề thứ hai, “cản trở công lý‎” (obstruction of justice), ông Barr cũng đã lặp lại nhận định của ông trong văn thư ngày 23.3.2019, rằng những sự việc ông Mueller nêu ra trong phúc trình không đủ những yếu tố để cấu thành tội cản trở sự thi hành công lý. Trong buổi họp báo, ông Barr đã nói rộng hơn và nói rõ hơn rằng ông Mueller đã bỏ ngỏ, không kết luận rằng ông Trump có phạm tội cản trở sự thi hành công lý hay không, nhưng Thứ trưởng Rosenstein và ông đã thảo luận với nhau và đồng ý là ông Trump không phạm tội cản trở công lý.
Ngay sau cuộc họp báo của ông bộ trưởng tư pháp, Tổng thống Trump đã tiếp một nhóm cựu chiến binh tại Tòa Bạch Ốc, và đã nói với họ rằng: “Hôm nay tôi đang có một ngày tốt đẹp”. Và, trước sự reo mừng của mọi người, ông nói thêm: “Cuộc chơi đã chấm dứt.” (game over)
Nhưng, cuộc chơi đã chấm dứt thật chưa?
Ngay sau cuộc họp báo của ông William Barr, Dân biểu Adam Schiff, Calif-Dân Chủ, chủ tịch Ủy ban Tình báo Hạ viện, đã đả kích TT Trump về những tiếp xúc của ông và của những người trong ban vận động tranh cử năm 2016 của ông với người Nga, cũng như là cung cách mà ông Mueller nhận xét “có thể là cản trở thi hành công lý”. Và, ông ta gay gắt kết tội ông Trump như sau:
“Dù những hành động này có phạm tội hình sự hay không, dù cản trở công lý có là tội hình sự hay không, hay dù những sự tiếp xúc này có đủ tính chất bất hợp pháp hay không để đưa tới mức độ của một tội âm mưu hình sự, những hành động đó dứt khoát là không thành thật, vô đạo đức, vô luân lý và không yêu nước và nên bị bất cứ người Mỹ nào lên án.”
Ông Schiff cảnh cáo ông Trump rằng những cuộc điều tra của Hạ viện sẽ vẫn tiếp tục, góp nhặt từ hồ sơ được công bố hôm thứ năm mà ông Mueller “muốn Quốc hội cứu xét những dư âm và hậu quả” của những kết luận của ông ta.
Và, dưới đây là những lời ông Schiff dạy bảo ông bộ trưởng tư pháp:
“Bộ trưởng tư pháp đã làm một lỗi nặng trong trách nhiệm phục vụ quốc gia bằng cách trình bày sai lạc những phần mang nhiều ý nghĩa của phúc trình Mueller khi cố xoay vần đặt một điểm tích cực cho ông tổng thống trong những kết quả của tham vấn đặc biệt. Bộ trưởng tư pháp không phải là luật sư riêng của tổng thống, dù rằng ông ấy có thể nghĩ như vậy. Ông ấy được xem như nhân viên công lực cao nhất nước, và ông ấy được xem như đại diện cho lợi ích của nhân dân Mỹ.”
Ngày hôm sau, 19.4.2019, Dân biểu Jerry Nadler, chủ tịch Ủy ban Tư pháp Ha viện đã xuất trát đòi Bộ Tư pháp cung cấp nguyên văn phúc trình của  ông Mueller chậm lắm là vào ngày 1 tháng 5. Đòi hỏi này đã làm gia tăng sự đương đầu của Hạ viện với ông Bộ trưởng Tư pháp William Barr, người mà phe Dân Chủ cáo buộc đã xào nấu phúc trình Mueller và hướng dẫn sai lạc công luận nhằm bảo vệ Tổng thống Trump.
Ông Jerry Nadler (New York-Dân Chủ), người được biết là có thù riêng với ông Trump từ nhiều năm nay, đã viết như sau trong một bản tuyên bố:
“Ủy ban của tôi cần và có quyền được cung cấp nguyên bản đầy đủ của phúc trình và bằng chứng kèm theo phù hợp với hoạt động trong quá khứ. Ngay cả trong phúc trình đã bị rút bớt cũng cho thấy những tình huống nghiêm trọng của việc làm sai trái của Tổng thống Trump và vài người thân cận nhất của ông ta. Giờ đây là trách nhiệm của Quốc hội để xem xét toàn bộ sự cáo buộc và để quyết định những bước chúng tôi phải làm sắp tới.”
Trả lời các sự cáo buộc trên đây, nữ phát ngôn viên Bộ Tư pháp Kerri Kupec nói rằng quyết định phổ biến phúc trình Mueller với sự “rút bớt tối thiểu” đã làm nổi bật chiều hướng trong sáng của ông bộ trưởng tư pháp. Kupec cũng lưu ý mọi người rằng ông Barr đã đề nghị Quốc hội cơ hội để xem phiên bản bị rút bớt ít nhất của phúc trình Mueller, nhưng những người Dân Chủ đã nhanh chóng bác bỏ đề nghị ấy vì cho rằng không đầy đủ. Người phát ngôn cũng nhận xét rằng đề nghị này làm cho trát đòi của Nadler là “hấp tấp và không cần thiết”.
Trong khi đó, các ứng cử viên của đảng Dân Chủ cũng không bỏ lỡ cơ hội để nổi bật trong đám đông chen chúc nhau trong cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc vừa mở màn, đã tuyên bố những câu nẩy lửa. Nghị sĩ Elizabeth Warren đã kêu gọi Hạ viện khởi đầu thủ tục “đàn hặc” Tổng thống Trump và nói rằng ông Barr dã “sỉ nhục” nghề làm chính trị khi hành động giống như “luật sư riêng và nhà quảng cáo” cho ông tổng thống. Bà Nghị của New York Kristen Gillibrand đã mở một cuộc họp báo để tố cáo cuộc họp báo sáng sớm ngày hôm trước của ông bộ trưởng tư pháp là “một trò hề và một màn trình diễn khó coi để tuyên truyền” cho ông tổng thống. Nghị sĩ Cory Booker của New Jersey nói rằng “nhân dân Mỹ xứng đáng được biết sự thật, chứ không cần sự bóp méo vo tròn của một người do Trump bổ nhiệm”.  Còn bà Nghị sĩ Kamala Harris của California thì nói rằng cuộc họp báo của ông Barr là một “màn quảng cáo, chứa đầy những xảo thuật chính trị.”
Theo lịch trình, ông Barr sẽ ra điều trần trước Ủy ban Tư pháp Hạ viện vào ngày 1 tháng 5 tới đây, được dự đoán là sẽ có nhiều sóng gió, và nghị trường sẽ biến thành… chiến trường, báo hiệu “cuộc chơi” chưa chấm dứt tại đây, sau khi tham vấn đặc biệt Rober Mueller xác nhận trong phúc trình rằng “không có âm mưu với Nga, không có thông đồng”.
Và, một câu hỏi không thể không đặt ra ở đây: “Phải chăng tất cả những gì đang diễn ra hiện nay, và sẽ diễn trong tương lai liên quan đến vụ “thông đồng với Nga” và “cản trở công l‎‎ý”, là đều do thâm ý của ông “tham vấn đặc biệt” Robert Mueller?
Trong 448 trang của tập phúc trình được công bố ngày 18 tháng 4 vừa qua, ông Mueller kết luận rằng ông Trump đã không âm mưu với người Nga để cố gắng phá vỡ cuộc bầu cử năm 2016, nhưng lại nói rằng những bước ông Trump đã đi để cố gây trở ngại cho cuộc điều tra về sự cáo buộc vô căn cứ đó (thông đồng) xem ra có vẻ đáng ngờ, tùy theo quan điểm của mỗi người. Rồi ông Mueller kết luận:
“Những cố gắng của tổng thống để ảnh hưởng tới cuộc điều tra thì hầu hết đã không thành công, nhưng phần lớn là do những người chung quanh tổng thống đã không thi hành lệnh hay không nhập cuộc theo đòi hỏi của ông ta.”
Ông Mueller không đề nghị truy tố ông Trump và đã đưa ra vài giải thích cho điều ấy. Một trong những lý do đó là văn phòng cố vấn pháp lý tại Bộ Tư pháp có chính sách lâu dài không truy tố một tổng thống tại chức. Tuy nhiên, ông Mueller lại nói rằng ông không muốn ngăn cản Quốc hội để có thể đàn hặc tổng thống, nếu các nhà dân cử muốn làm điều đó.
Chính kết luận mập mờ hàng hai này đã khuyến khích một số dân biểu thuộc đảng Dân Chủ, vì lý do này hay lý do khác, hăng hái kêu gọi đàn hặc (impeach) ông tổng thống, trong khi các dân biểu thâm niên trong đảng không đồng ý, kể cả bà Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi cũng đã lên tiếng bác bỏ chuyện đàn hặc và nói rằng nên để cho câu chuyện “thông đồng” đi vào lãng quên.
Chủ trương này nghe có vẻ khôn ngoan hơn, nhưng khí thế của phe chủ chiến đang lên cao, nhất là nhóm mặt mới Dân chủ Xã hội như cô Alexandria Ocasio-Cortez, người đã tuyên bố sẵn sàng ký tên vào điều lệ đàn hặc tổng thống Trump trong khi có lẽ cô này rành nghề pha rượu và hầu rượu cho khách hơn là kiến thức về luật pháp nước Mỹ, nhất là luật lệ về một chuyện trọng đại đối với quốc gia là truất quyền một tổng thống.
Một người có hiểu biết trung bình về luật pháp, hay có hoạt động chính trị, hay làm việc nhiều năm trong ngành tư pháp, không thể không biết rằng làm thế nào để chứng minh ông Trump phạm tội cản trở thi hành công lý trong cuộc điều tra vụ thông đồng với người Nga khi chính vụ này đã không hề có thật? Mà tại sao ông Trump phải tìm cách cản trở cuộc điều tra khi ông ta phải là người biết rõ hơn ai hết chuyện “thông đồng với Nga” chỉ là một trò lừa bịp (hoax) nhằm mục đích hãm hại ông? Nói cách khác, ông Trump không có lý do để “cản trở công lý” trong vụ này. Và, ông tham vấn đặc biệt Robert Mueller, một luật sư, đã từng giữ những chức vụ quan trọng trong ngành tư pháp, trong đó có chức giám đốc FBI, không thể không biết điều ấy.
Lại một câu hỏi khác không thể không đặt ra: “Ông Mueller đã biết vụ thông đồng với Nga là không có thật từ bao giờ, và tại sao cuộc điều tra đã phải kéo dài tới gần hai năm, làm hao tổn công quỹ, phá hoại bao nhiêu cuộc đời, và gây bao nhiêu tiếng xấu cho nước Mỹ, người Mỹ?
Nếu ông Mueller là một con người đạo đức và lương thiện, một luật gia có lương tâm, một nhân viên tư pháp chính đại quang minh, thì sau vài tuần, hay vài ba tháng nhận nhiệm vụ điều tra, ông ta đã phải phát hiện vụ “thông đồng với Nga” chỉ là một câu chuyện dựng đứng do quyền lực ngầm (deep state) cấu kết với truyền thông dòng chính thiên tả, khi những nguồn tin chính xác liên hệ tới hồ sơ làm căn bản cho cuộc điều tra này được loan truyền mà một nhà báo lương thiện, Gregg Jarrett, đã viết một cuốn sách hơn 300 trang khổ lớn (THE RUSSIA HOAX, The Illicit Scheme To Clear Hillary Clinton And Frame Donald Trump) để vạch trần mọi âm mưu của vụ này.
Chính trong phúc trình về cuộc điều tra vụ “thông đồng với Nga” vừa được Bộ Tư pháp công bố, tham vấn đặc biệt Mueller cũng đã bác bỏ 12 cáo buộc ông Trump thông đồng với Nga trong hồ sơ do Christopher Steele, một cựu điệp viên Anh ở London, viết ra và do đảng Dân Chủ trả tiền, trong đó hầu hết “tài liệu” có nguồn gốc từ Nga và xuất hiện ở Mỹ từ tháng 1 năm 2017 do một cựu phụ tá của cố Nghị sĩ John McCain “xì” ra cho báo chí.
Dựa vào hồ sơ này, Thứ trưởng Bộ Tư Pháp Rod Rosenstein phong chức tham vấn đặc biệt cho ông Mueller để mở cuộc điều tra, khi ông Bộ trưởng Jeff Sessions tuyên bố đứng ngoài vụ này (recuse).
Tham vấn đặc biệt Mueller đã lập một ban điều tra với hầu hết là những luật sư thuộc đảng Dân Chủ để bắt đầu làm việc với sự yểm trợ và cổ võ của truyền thông dòng chính, trong khi bị phe đảng Cộng Hòa và ông Trump chỉ trích, gọi cuộc điều tra của ông Mueller là một cuộc “săn bắt phù thủy” (a witch hunt), sẽ không đi tới đâu. Mà sự thật là cuộc điều tra đã đi đến chỗ bế tắc.
Ông Mueller có truy tố ra tòa một số người nhưng không có vụ nào liên hệ gần xa gì tới chuyện “thông đồng với Nga”, mà hầu hết là tội “bội thệ” (perjury), nói dối sau khi giơ tay thề nói thật, một tội rất dễ phạm do có trí nhớ tồi hay người điều tra đặt những câu hỏi lắt léo để “gài bẫy”. Chính ông Mueller cũng bị ông Giuliani, luật sư của ông Trump, nghi ngờ gài bẫy “perjury” ông Trump nên đã không chấp nhận cho ông tham vấn đặc biệt thẩm vấn thân chủ vào giai đọan chót của cuộc điều tra.
Bây giờ cuộc điều tra kết thúc với kết luận là “không có âm mưu thông đồng với Nga”, nhưng bỏ ngỏ cánh cửa cho Hạ viện, dưới sự kiểm soát cuả đảng Dân Chủ, đàn hạc Tổng thống Trump.
Phải chăng lúc đầu ông tham vấn đặc biệt thực sự có ý định “làm gỏi” ông tổng thống để … vang danh hậu thế nên đã bất chấp dư luận, lập một ban điều tra thiên vị không che mắt được ai, nhưng khi thấy rõ sự thật dựa trên luật pháp thì không thể đổi trắng thay đen, đành phải tuyên bố “không có thông đồng”. Nhưng lại… vẽ một con đường cho hươu chạy: cản trở công lý. Thua me thì gỡ bài cào!
Nhưng, con đường đầy sỏi đá gai góc ấy sẽ đưa tới đâu? Chắc những con cáo già trong đảng Dân Chủ đã nhìn thấy.
Về phần ông tổng thống, tuy miệng nói “game over”, nhưng ông cũng nói: “Chúng tôi cần phải moi tới tận đáy của những chuyện này. Chuyện dối gạt này sẽ không bao giờ xảy ra cho một tổng thống nào khác nữa”.
Brad Pascale, quản đốc vận động tranh cử của ông Trump, bổ túc: “…bây giờ bàn cờ đã xoay qua hướng khác và là lúc để điều tra những kẻ gian dối đã mưu tạo ra cuộc điều tra đáng hổ thẹn này nhắm vào Tổng thống Trump… Bây giờ khi mà những giả thuyết về sự thông đồng và cản trở công lý đã bị phơi bày là những sự dối gạt, FBI và Bộ Tư pháp dưới thời Obama phải trả lời cho những sự lèo lái sai trái và lừa gạt họ đã phạm phải để chống lại nhân dân Mỹ. Công lý sẽ được thực thi.”
“Cuộc chơi” sẽ còn kéo dài, ít nhất cũng phải tới cuộc bầu cử 2020.
Ký Thiệt

Miền Nam còn giúp miền Bắc

Ngô Nhân Dụng

Sài Gòn thanh bình, tự do, dân chủ và nhân quyền trước năm 1975.

Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, nhiều đồng bào miền Bắc thương họ hàng ruột thịt trong Nam đói khổ, đã đem cả thúng gạo cùng mấy cái bát, đĩa vào cứu giúp. Đến nơi mới thấy dân miền Nam, khá giả giàu có hơn mình nhiều. Có người, như nhà văn Dương Thu Hương, thì ngạc nhiên thấy đời sống trí thức ở miền Nam quá tự do. Trong tiệm bày bán cả những sách về chủ nghĩa Marx! Đó là chưa kể trong đại học Văn Khoa có những lớp dạy triết học cũng giảng tư tưởng của Karl Marx!

Từ năm 1975 đến nay, cuộc sống của đồng bào miền Nam và miền Bắc ảnh hưởng lẫn nhau nhiều hơn. Chế độ cai trị từ Hà Nội đè lên trên Sài Gòn hết cục cựa; nhưng quần áo, thức ăn, ca nhạc, cho đến cách cư xử của người miền Nam có cơ hội Bắc tiến.

Trên báo chí, lớp ký giả miền Bắc vào tràn ngập trong Nam đem theo những ngôn ngữ và lối viết của báo Nhân Dân, nhưng trong dân gian thì tiếng nói miền Nam cũng lan ra Bắc. Có người đã nhận xét dân miền Nam được học miền Bắc những tiếng như “thu phí,” “bao cấp,” “trấn lột;” còn người Bắc bây giờ cũng thích nói những tiếng đặc miền Nam như “hổng sao!” “hổng biết!” và “dễ thương!”

Nhưng đồng bào miền Bắc chỉ nhìn thấy đời sống của người miền Nam bây giờ, chớ không biết trước năm 1975 nó như thế nào.

Gần đây, người ta hay so sánh cách sống của miền Nam bây giờ khác với trước năm 1975, có lẽ bà con miền Bắc nên biết.

Thí dụ, dân miền Nam trọng tình người, ăn ở tử tế với nhau, vì may mắn không phải “học tập căm thù,” căm thù cả đồng bào mình. Nhà văn Tưởng Năng Tiến mới nhắc lại câu chuyện của Lữ Phương, một người Sài Gòn đã trốn “vào bưng” theo Việt Cộng, lên tới chức thứ trưởng. Ông Lữ Phương kể, trong một bút ký đã in, rằng trong khi ông vào trong rừng chống chế độ Cộng Hòa, thì vợ con ở trong thành phố của “Ngụy” vẫn không bị trấn áp. Ông viết, “Vợ tôi ngoài việc đi dạy học còn tìm được việc làm ở một tòa án tỉnh nữa. Những người quen biết đều… hết lòng giúp đỡ, che chở (ngay cả những viên chức cao cấp trong chính quyền Sài Gòn).” Ông giải thích, “chẳng phải vì lý do … là ở đây người ta chưa có thói quen ‘chính trị hóa’ mọi quan hệ xã hội.”

Câu chuyện của Lê Hiếu Đằng, kể vào lúc cuối đời sau khi đã từ bỏ đảng Cộng Sản, còn đáng suy ngẫm hơn nữa. Hồi trẻ, ông Lê Hiếu Đằng hoạt động cho Cộng Sản, bị cảnh sát Cộng Hòa bắt. Trong khi ở tù, Đằng vẫn được đem theo sách để tự học. Đến kỳ thi “Tú Tài,” tức là tốt nghiệp trung học, Lê Hiếu Đằng, và một “đồng chí” cùng bị bắt, vẫn nộp đơn xin thi. Và trong ngày thi, cả hai “tù chính trị” được cảnh sát đưa tới trường thi, làm bài, và thi đậu!

Trước khi nhắm mắt lìa đời, chính Lê Hiếu Đằng công nhận rằng chế độ Cộng Hòa đối xử với “người bất đồng chính kiến” nhân đạo hơn chế độ Cộng Sản rất nhiều!

Nếu đồng bào miền Bắc đọc những câu chuyện của hai người trên mà kết luận rằng ai cũng nên sống theo tinh thần “nhân đạo” của người miền Nam thì rất tốt. Nhưng nhân đạo đó chỉ là một mặt của cuộc sống miền Nam, mặt đạo đức.

Mặt thứ hai cần nhìn ra, là một lối sống tôn trọng luật pháp.

Bà vợ ông Lữ Phương vẫn làm việc, làm cho tòa án của nhà nước Cộng Hòa; các con ông vẫn đi học, vì luật pháp không cho ai xâm phạm những quyền tự do căn bản của họ; khi chính họ không phạm luật. Ông Lê Hiếu Đằng vẫn có quyền đi thi Tú Tài vì mới chỉ bị bắt để điều tra, chưa có tòa án nào kết tội. Lê Hiếu Đằng theo Cộng Sản, ai cũng biết, nhưng chưa bị kết án thì vẫn còn đầy đủ các quyền công dân.

Tinh thần trọng pháp, đó là một điều bà con miền Bắc đáng học hỏi từ cuộc sống miền Nam. Lý do đơn giản, vì từ khi Cộng Sản cướp chính quyền, họ cai trị mà không cần luật pháp. Trong Nam có những trường đại học luật khoa ở Sài Gòn, Huế, Đà Lạt và Cần Thơ cũng chuẩn bị. Trường Luật ở Hà Nội bị đóng cửa từ năm 1954.

Chế độ độc tài toàn trị không dùng đến luật pháp. Năm 1956 ông Nguyễn Mạnh Tường đã giải thích cuộc cải cách Ruộng Đất của đảng Cộng Sản vi phạm các nguyên tắc cơ bản của Công Lý; nhưng các lãnh tụ Cộng Sản nghe như vịt nghe sấm!

Bây giờ, đảng Cộng Sản đã “đổi mới,” có trường dậy luật, có cả luật sư đoàn, nhưng cách làm việc vẫn theo lối độc tài chuyên chế! Điều quan trọng nhất là người dân ở miền Bắc vẫn chưa tạo được thói quen đòi người cầm quyền phải tôn trọng luật pháp.

Dân miền Nam đã có một thời gian sống trong chế độ dân chủ tự do và nhiễm tinh thần trọng pháp cho nên bây giờ hay lên tiếng trước những cảnh bất công hơn đồng bào miền Bắc.

Nhà báo Tuấn Khanh trên mạng mới kể chuyện ba phụ nữ ở Quận Thủ Đức, Sài Gòn, năm 2017 đã tố cáo vụ quan chức Cộng Sản xâm phạm một em bé gái. Nhưng “hàng chục an ninh thường phục, dân phòng, cả cảnh sát địa phương và giao thông đã chặn bắt và hành hung dã man” ba người này.

Điều bi đát nhất trong câu chuyện trên không phải là cảnh một bà bị thương đầu phải đi cấp cứu, mà là câu hỏi của công an: “Đâu phải người thân của mày đâu mà mày phản ứng?”

Ông công an nào hỏi câu đó chắc đã được giáo dục hoàn toàn theo lối “xã hội chủ nghĩa!” Chỉ biết sống cho mình thôi! Phải nhắm mắt trước cảnh đau khổ, bất công mà người khác gánh chịu!

Sống trong một chế độ chuyên chế không biết bao nhiêu năm thì con người được đào luyện cái thói quen đó?

Sau năm 1975, một người bạn tôi từ Sài Gòn về thăm làng cũ ở Thanh Hóa. Khi trở về, anh viết thư kể khi trò chuyện với họ hàng, người trong làng anh, anh thấy hầu như mọi người không ai phán đoán hành động của mình theo tiêu chuẩn “thiện, ác” nữa. Họ mất thói quen dùng các khái niệm trừu tượng này rồi.

Vậy họ dùng tiêu chuẩn nào trong cuộc sống? Anh thấy họ chỉ quan tâm đến câu hỏi “Liệu có bị công an hỏi đến hay không?”

“Đâu phải người thân của mày đâu mà mày phản ứng?” Đó là một quy tắc luân lý mới của chế độ công an, nhiều người quen sống như vậy dù không bị ai nhồi vào đầu!

Ở miền Nam vẫn còn những người giữ thói quen “gánh giữa đàng đem quàng vào cổ.” Như ông Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc.

Ông Đỗ Hồng Ngọc mới so sánh các nhà thương thí ở miền Nam trước 1975 với các bệnh viện trên cả nước bây giờ, sau khi chính quyền Cộng Sản bắt những người đi săn sóc bệnh nhân cũng phải đóng tiền nộp cho bộ y tế. Chắc cả thế giới không nơi nào có thể “lệ phí” như vậy!

Đỗ Hồng Ngọc viết, “Ngày xưa ở miền Nam tự do, các bệnh viện công còn gọi là nhà thương thí, ở đó bệnh nhân được chữa trị không mất tiền, còn được nuôi ăn. Người nuôi bệnh có chỗ còn được cung cấp các bữa ăn, do các tổ chức xã hội phân phát… Đó là cách đối xử… nhân đạo giữa con người với nhau.”

“Còn bây giờ chúng ta hành xử với nhau như thế nào?” Ông bác sĩ viết tiếp, “Đến các bệnh viện nhà nước mà xem, đa số bệnh nhân đều là người nghèo đến từ các tỉnh, có người không đủ tiền mua thuốc, và người đi nuôi bệnh thường là sống nhờ cơm từ thiện… Họ nghèo lắm, nghèo đến xác xơ… Các ngài cứ nghĩ việc tận thu, càng nhiều càng tốt, sống chết mặc bay…”

Khi các ông Cộng Sản cầm đầu Bộ Y Tế bắt bệnh nhân vào “nhà thương thí” phải đóng tiền, người dân miền Nam đã ngạc nhiên. Những người như Lữ Phương, Lê Hiếu Đằng chắc ngạc nhiên nhất. Nhưng đến khi họ bắt ai đi thăm nuôi bệnh người bệnh cũng phải đóng tiền thì ai cũng phải phẫn nộ!

Mấy ông Cộng Sản này là cái giống người gì đây không biết?

Họ gia nhập đảng Cộng Sản vì những đặc quyền lợi ưu tiên, ưu đãi, quyền ra lệnh cho đám dân đen đóng tiền, quyền được ngồi trên pháp luật. Nếu không thì vào đảng làm cái gì? Như Tuấn Khanh kể, năm 2018 có viên quan chức ở Vũng Tàu phạm tội xâm phạm một em gái, bị tố cáo rồi lãnh mấy năm tù. Tuy tòa án Cộng Sản đã ưu đãi chỉ “giơ cao đánh khẽ,’ nhưng “thủ phạm đã tức giận đến mức đốt thẻ đảng của mình.” Anh ta tưởng đã có cái thẻ đảng làm bùa thì hiếp đáp dân lành chỉ là chuyện nhỏ!

Đồng bào miền Bắc đã quen nếp sống trong chế độ như vậy lâu quá rồi. Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, bà con đã dần dần thấy một cách sống khác, có vẻ giống lối sống của ông bà, tổ tiên chúng ta đời trước hơn. Và giống với trào lưu tự do dân chủ của loài người hơn. Sẽ tới lúc người ta thấy thói quen phản kháng, “giữa đường thấy sự bất bằng chẳng tha” khiến con người cảm thấy đáng sống hơn, vì chính mình có giá trị hơn.

Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc lên án chính sách tận thu của đảng Cộng Sản là “tàn nhẫn vô nhân đạo.” Nó “đẩy người bệnh đã nghèo càng khổ thêm… Họ lại phải nhịn ăn, bán thêm ruộng vườn để đáp ứng việc tận thu của các ngài. Khốn nạn thật!”

Và ông đặt câu hỏi một chính phủ như thế “có còn nên tồn tại không?”

Cái chính phủ đó vẫn còn tồn tại, cho đến khi nào người dân cả nước Việt Nam, từ Bắc vào Nam thấy cần phải thay đổi. Có thay đổi thì chúng ta mới sống “cho ra cái giống người” như cụ Tản Đà mong ước vào đầu thế kỷ 20! 
Ngô Nhân Dụng
Quốc Hận 30-4-1975: Viết về Người Lính Bất Hạnh VNCH
Mường Giang
image.png

Hai mươi năm chinh chiến, QLVNCH đã có 250.000 người gục ngã trước đạn thù và nửa triệu thương binh chịu đời bất hạnh vì một phần cơ thể đã gửi lại sa trường. Tuy nay chính phủ cũng như QLVNCH không còn nữa, nhưng trong tâm tư của mọi người được sống sót qua cuộc đổi đời mạt kiếp, thì lý tưởng và danh dự của Người Lính càng được sáng tỏ, trong niềm hãnh diện chung của quân-dân Miền Nam.

Lịch sử của một quốc gia là những gì trung thực, mà người dân của nước đó đã ghi chép không hề thêm bớt. Nhờ vậy ta mới biết được về cuộc nội chiến của Hoa Kỳ xảy ra từ năm 1861-1865, cùng với thái độ của dân chúng và chính quyền nước Mỹ tại Miền Bắc là kẻ thắng trận, đã không hề lên án, bỏ tù hay trả thù những người Miền Nam bại trận. Ðã vậy, Hoa Kỳ còn ghi ơn tất cả những chiến sĩ của hai miền vừa nằm xuống trong cuộc chiến, vì lý tưởng riêng của họ.
Thế Chiến 2 kết thúc, Tòa Án Quốc Tế Nuremburg chỉ kết tội những đầu sỏ trong phe Trục mà không hề bắt bớ hay gây khó khăn cho quân nhân các nước Ðức-Ý-Nhật… Năm 1920, lãnh tụ kháng chiến quân Libya là Tướng Mukhta bị người Ý bắt và tử hình, nhưng chính tổng tư lệnh Ý tại Bắc Phi là người đã ở lại pháp trường để lo lắng hậu sự cho vị anh hùng dân tộc Libya, vốn là kẻ thù của người Ý lúc đó.
Tại VN, khi thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền tây Nam Phần năm 1867, sau đó là thành Hà Nội năm 1873. Các tướng lãnh thủ thành đương thời là Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu.. đã oanh liệt tử tiết theo thành mất và được kẻ thù là người Pháp tôn kính mặc niệm như chính các tướng lãnh của họ. Sau rốt là số phận của 500.000 quân nhân Mỹ đã tham chiến tại VN, trong số này hơn 50.000 người tử trận. Ngày nay các chiến sĩ trên đã được quốc dân Hoa Kỳ trả lại công lý và danh dự, để họ hiên ngang ưỡn ngực, cũng như an giấc nghìn thu bên cạnh ông cha, một đời liệt sĩ. Tất cả đã chết cho lý tưởng quốc gia, sống vinh quang và yên nghỉ trong danh dự.
Người lính VNCH trong suốt hai mươi năm binh lửa cũng vậy, đã phơi gan trải mật để bảo vệ cho đất nước và mạng sống của đồng bào, bị Cộng Sản quốc tế Bắc Việt xâm lăng giết hại. Tóm lại gần hết cuộc chiến, ở đâu có Cộng Sản khủng bố cướp bóc giết hại dân lành, là ở đó có sự hiện diện của người lính miền Nam. Ở đâu có bóng cờ vàng ba sọc đỏ, là ở đó người dân trong vùng chiến nạn, tìm đủ mọi cách trốn thoát sự kềm kẹp của giặc cộng, để trở về vùng quốc gia nhờ che chở đùm bọc. Ai có làm lính tác chiến hay người cán bộ áo đen Bình Ðịnh Nông Thôn, Cán Bộ Xã Hội.. mới biết được thế nào là nổi thống khổ, trên đe dưới búa, cá nằm giữa dao thớt, người dân tay không hứng hai lằn đạn bạn thù, của người VN trong thời ly loạn. Có là người dân bị kẹt trong vùng xôi đậu, lửa khói bom đạn, mới thấu hiểu đời người lính gian khổ chết chóc muôn trùng. Có là người dân quèn, nghèo sống đời cay cực, mới thương xót cho “ cảnh ba đồng, ba cộc “ của kiếp lính Miền Nam.
Nhức nhối và mai mĩa nhất, đó là hiện tượng ‘thuyền nhân tị nạn‘ sau ngày 30-4-1975. Ngoài tuyệt đại đa số nạn nhân đích thực của CSQT, trong số này không thiếu mặt “ những tên tuổi lớn “ một thời chạy theo VC đâm sau lưng người lính, những nhà văn, nhà báo, cha cố.. kể cả thành phần suốt đời chỉ biết sống ký sinh vào xã hội... cũng lợi dụng “danh nghĩa người lính” để được tị nạn chính trị. Ứa gan hơn là những tên VC trà trộn trong hàng ngũ những người vượt biên, vượt biển, sau khi tới được bờ đất hứa, chúng trở mặt ngay, để lộ diện thành công an, cán bộ, đảng viên như ngày nào.. để nạt nộ, hăm dọa đồng hương, qua cái đòn “ nếu theo Ngụy”, sẽ không được về VN để thăm nhà, như đã thấy tới độ mù mắt khắp nơi tại hải ngoại.
image.png

Trong nổi chịu đựng hy sinh âm thầm nhưng thảm nhất là người lính đã không bao giờ được một lời an ủi tử tế của hậu phương, để yên tâm tiếp tục cầm súng giết giặc bảo vệ cho người dân. Trái lại họ còn bị muôn ngàn bất hạnh đeo đuổi suốt cuộc chiến. Thật vậy, khi cầm súng thì cô đơn, nửa đường bị hậu phương, đồng minh và lãnh đạo phản bội bán đứng. Ngày trở về thì bị giặc trả thù đầy đoạ, rồi chết thầm trong đói nghèo tủi nhục.
Tiếp tay với những tâm hồn thác loạn, ăn cơm quốc gia thờ ma cọng sản, là bọn báo chí quốc tế bất tài, a dua, xu thời. Nhờ vậy mà cọng sản Bắc Việt, mới có cơ hội tung hoành một mình một cõi, thao túng vẽ vời huyền thoại, bóp mép lịch sử, để đầu độc các thế hệ VN đang sống trong sự kềm kẹp của chế độ bạo tàn, độc đảng. Nhưng rồi gieo gió thì phải gặt bảo, chính sự khoắc lác dại khờ trên, đã đưa toàn bộ đảng cọng sản VN chìm trong cái vũng bùn ô nhục, khi bí mật lịch sử lần lượt được mọi phe phái bật mí và hồi tưởng. 
Câu chuyện tướng Nguyễn Ngọc Loan trong trận Tết Mậu Thân 1968 ở Sài Gòn,vì không thể chịu nổi hành động dã man, đẩy các trẻ em trong xóm ra làm lá chắn đở đạn cho đồng bọn tẩu thoát. Vì quá tức giận không kềm chế được, nên tướng Loan đã rút súng Rouleau ngắn nòng, bắn chết tên VC chỉ huy là Bảy Lốp, tại ngả ba Vườn Lài (góc đường Vạn Hạnh, Minh Mạng và Vĩnh Viễn), trước mặt phóng viên Mỹ là Eddie Asams, nên đã chụp được tấm hình này, đem bán rao khắp thế giới và nhận được giải thưởng quốc tế.
Sau ngày 30-4-1975 Tướng Loan tới tị nạn tại Hoa Kỳ, đã bị bọn phản chiến cùng với giới truyền thông Mỹ làm lớn chuyện. Thậm chí có Elizabeth Holtzman (nữ dân biểu DC bang New York) và Dân biểu Harold Sawyer (CH bang Michigan), đã kiện cáo, đòi Chính phủ Mỹ trục xuất tướng Loan ra khỏi Hoa Kỳ, vì tội vi phạm nhân quyền nhưng bị thất bại .
Trước và sau ngày tướng Loan từ trần 14-7-1998, người phóng viên chụp tấm hình năm xưa Eddic Adams, đã viết một bài báo xin lỗi tướng Loan vì sự ray rứt hối hận của mình, trong đó có đoạn “ Ông đã làm công việc của ông, còn tôi làm bổn phận của tôi “. Ngày tướng Loan qua đời, Eddic lại viết thêm môt bài báo khác đăng trên tờ Times, đồng thời gới tới một vòng hoa phúng điếu, trên đó có đính một danh thiếp viết tay “ General, I ‘am so,so,so... sorry “. Bao nhiêu đó, chắc cũng đủ làm nhức óc những tên “ sống nhờ người tị nạn “ nhưng lúc nào cũng viết lách, làm báo ca tụng VC.
Ðau đớn nhất là trận Hạ Lào 1971, cho dù các đơn vị đã tham chiến như SD Dù, TQLC, Sư Ðoàn 1 BB, Lữ Ðoàn 1 Thiết Kỵ và Liên Ðoàn 1 BDQ có bị tổn thất nặng nề. Nhưng cuối cùng QLVNCH cũng đã đạt được mục đích của cuộc hành quân, là phá hủy gần như toàn bộ các cơ sở hậu cần, tiếp liệu tại các mật khu, binh trạm tại đây. Lúc đó, chỉ có Ðại Úy Trương Duy Hy, pháo đội trưởng PDC/44, tham dự cuộc hành quân, tại căn cứ Hỏa lực 30, là tác giả quyển Hồi ký “ Tử thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30, Hạ Lào “ là viết sự thật. Ngoài ra tất cả bọn phóng viên Mỹ&Tây phương đều ở Khe Sanh, hằng ngày nhìn cảnh máy bay tải thương xác lính và thương binh về tới tắp. Từ đó chụp hình, diễn dịch rồi gửi về nước, nói là QLVNCH đã thảm bại tại Hạ Lào, giống như hồi Tết Mậu Thân (1968).
Riêng làng báo Sài Gòn cũng vậy, vì không có ai vào tận chiến trường để chứng kiện sự thật, nên chỉ đành “chôm chĩa tin từ báo Mỹ“ rồi “Mao Tôn Cương thành trận đánh cuối cùng không có đại bàng “ rằng “ VC đâu có quân số đông đảo để đánh QLVNCH, mà chỉ sử sụng hỏa pháo. Ở đây làm gì có kho tàng như tình báo đã báo cáo láo”. Tóm lại theo họ thì QLVNCH vì sợ hỏa lực của VC nên bỏ chạy. Có đọc những tin tức của báo chí Sài Gòn lúc đó, mới thấy máu của người Lính Miền Nam đã đổ suốt cuộc chiến để bảo vệ cho “đám này“, thật là uổng phí và tội nghiệp cho những kẻ đã nằm xuống truớc ngày 30-4-1975.
Nhưng người lính VNCH từ trước tới nay chỉ biết có cầm súng để chiến đấu giữ nước và bảo vệ sinh mạng cho người khác, chứ không quen viết lịch sử để ca tụng một chiều. Cho nên nếu có được một tiếng cảm ơn hay sự hồi phục danh dự, thì đó cũng chỉ là sự phản tỉnh của thế giới tự do khi đã biết được sự thật cùng ý nghĩa của cuộc chiến mà người Miền Nam phải bán mạng để chống ngăn giặc Bắc xâm lăng tới giờ phút cuối cùng. Ngoài ra còn có sự tưởng tiếc muộn màng của đồng bào hậu phương, đối với người chiến sĩ VNCH, khi chính bản thân và gia đình người dân qua cuộc đổi đời, cũng đã trở thành nạn nhân tận tuyệt, của một chế độ bạo tàn, của những con người không có nhân tính, mà hôm qua chính người dân coi như thần thành, nên đã công khai giúp và theo chúng, đâm sau lưng đồng đội, đồng bào mình.
Trong lúc đất nước đang lâm nguy vì giặc xâm lăng phương Bắc, trong lúc gần hết thanh niên nam nữ thuộc mọi tầng lớp của xã hội miền Nam, không phân biệt sang hèn, kinh thượng, bỏ nhà, bỏ lớp, bỏ hết tương lai của tuổi trẻ và đời người để lên đường ra biên cương chống giặc thù. Giữa lúc đất nước lầm than, muôn người khốn khổ vì chiến tranh do Hồ Chí Minh và cọng sản mang từ Liên Xô-Trung Cộng vào để dầy xéo non sông tổ quốc, thì tại hậu phương Miền Nam có một số người tự nhận mình là trí thức, giáo sư, tu sĩ, hầu hết đều đang độ xuân thì, mập mạnh nhưng lại tìm cách đứng bên lề cuộc chiến bằng đủ mọi lý do để được hoãn dịch, trốn nghĩa vụ làm trai trong thời tao loạn. Nếu vì sợ chết mà trốn đi lính, thì cũng còn có thể tha thứ nhưng những hạng người này, không bao giờ chịu để yên cho đồng bào và đất nước mình đang trăn trở trong cơn đau bom đạn, hận thù, đói nghèo và ly biệt. Họ hoàn toàn không thông cảm cho ai hết, ngoài cái lý tưởng đã thu lượm được, qua sách báo tây phương phản chiến và các kinh điển nhật tụng của thiên đàng xã hội chủ nghĩa, trong lúc được sống ở hậu phương, thừa mứa vật chất, đàn bà và thời gian để đâm thọt, phá hoại những người đang liều mạng xã thân bảo vệ mạng sống thừa thải ký sinh của mình.
Ngày nay ai cũng biết, cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai (1955-1975) rất đa dạng, phức tạp, khó có thể định nghĩa cho trọn vẹn. Nói chung tùy theo lý tưởng, ai muốn gọi thế nào cũng đều có ý nghĩa riêng với người trong cuộc. Cho nên với người Miền Nam VN, thì đây là một cuộc chiến đấu chống xâm lăng. Cuộc chiến này hoàn toàn khác biệt với cuộc phân tranh của hai họ Trịnh Nguyễn vào thế kỷ thứ 17, lúc đó chỉ là cuộc tương tàn nồi da xáo thịt để tranh giành quyền lãnh đạo của đất nước. Trái lại cuộc chiến lần này, người Miền Nam chiến đấu, vừa để tự vệ, vừa bảo vệ phân nửa mảnh đất VN, để khỏi bị Bắc Việt nhuộm đỏ bằng chủ thuyết cọng sản. Nhưng với bọn trí thức thiên tả, phản chiến nằm vùng lúc đó, lại trắng trợn phỉ báng, gọi QLVNCH là lính đánh thuê cho Mỹ.
Chính bọn trí thức thiên tả này đã lợi dụng quyền tự do báo chí ngôn luận của VNCH, để viết lách, bôi nhọ, xuyên tạc, tuyên truyền phá nát hậu phương, đâm sau lưng chiến sĩ tiền tuyến, đang liều chết để bảo vệ đồng bào, trong đó có cả sinh mạng ký sinh của chúng.
Cuối cùng, VNCH đã sụp đổ, kéo theo sự mất mát toàn diện mà người Việt QG đã tốn xương máu xây dựng. Người chạy thoát ra nước ngoài tuy không bị đau đớn thể xác nhưng tinh thần và sự dằn vặt, cũng đã làm cho họ điên đảo suốt quảng đời lưu vong nơi xứ người. Tội nghiệp nhất, cũng vẫn là Lính phải còng lưng cúi đầu gánh chịu những thảm tuyệt của kẻ thù man rợ, những điều mà chắc chắn thế giới tự do không hề nghĩ tới, vậy mà vẫn tới trong địa ngục trần gian của các nước Cộng Sản, trong đó có CSVN.
Ngoại trừ một số rất ít khôn ngoan hay có thân nhân VC bảo lãnh, hầu hết các cấp Quân, Công, Cán, Cảnh của Nam VN đều chịu sự hành hạ nơi chốn lao tù. Chúng bắt tất cả Sĩ quan và cán bộ, công chức, cảnh sát VNCH vào tù, qua cái gọi là “ Trại Cải Tạo “ để đánh lừa thế giới, về sự dã man tàn ác đối với tù nhân chiến tranh, trái với công pháp quốc tế đã qui định. Hầu hết các trại tù đều lập ở Miền Bắc và Bắc Trung Phần, phía bên kia vĩ tuyến 17. Tại Miền Nam, trại tù nằm trong rừng núi cheo leo, ma thiêng nước độc, để lao động khổ sai, chết dần mòn vì sự hành hạ của quản giáo và nổi cực khổ, đói lạnh nhưng ăn uống thì thiếu thốn với khẩu phần hằng ngày, chỉ lưng chén cơm gạo xấu, trộn với khoai bắp, còn những người bị biệt giam thì đói khát vì phần ăn phát rất ít. Nói chung là không còn bút mực nào để kể cho hết nổi hận hờn tủi nhục của người tù dưới chế độ CS. Ðói quá nên người tù phải ăn tất cả những gì có trước mặt như rắn, rít, ếch nhái, chuột, trùn đất, cào cào.. kể cả cỏ chai và cỏ diệu, thay cơm để đủ sức chống chọi với tử thần, lúc nào cũng như chực chờ sẳn bên cạnh :
‘Ngày hành xác giữa núi rừng hoang vắng,
đêm ôm đầu thương tiếc chuyện ngày xưa
bạn bè đến đây càng lúc càng thưa
thằng nằm xuống, thằng đày sang trại khác
thằng chống lại thì xác thân tan nát
thằng bệnh đau thân xác cũng không còn
đem xác người đi phá núi dời non
đem mạng sống để gở mìn tháo đạn
thay trời dẫn nước vào sông đã cạn
thay trâu kéo cầy phá vỡ ruộng hoang
buổi sáng gượng vui nhìn lúa trổ bông
nữa đêm khóc thầm đời lính bất hạnh
tôi đã sống qua những ngày đói lạnh
tôi đã nhét đầy tài liệu buồn nôn
kiểm điểm nghìn câu cho tốt tốt hơn
để theo đảng biến người thành khỉ vượn “.
(thơ mường giang).
Lính sống bị trả thù đã đành, cho tới những người lính đã chết , CSQT cũng không tha, thì nói chi thành phần Thương Phế Binh, Cô Nhi Tư Sĩ của VNCH, lại càng bị đoạ đày thê thảm.Tất cả năm tháng dù nay đã đi vào quân sử nhưng sự thật vẵn còn nguyên trước mắt, với hai cảnh đời hiển hiện như một chứng tích nghìn đời không phai mờ : Ðó là địa ngục VN sau 38 năm bị giặc chiếm đóng và giá trị đích thực của QLVNCH từ 1960-1975, đã có rất nhiều cấp chỉ huy tài ba lẫn đạo đức, văn võ vẹn toàn, được đào tạo từ các quân trường nổi tiếng nhất vùng Ðông Nam Á thời đó gồm các Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, Bộ Binh Thủ Ðức, Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị, Các Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và Cảnh Sát,Trường Ðại Học Quân Sự.. chứ đâu phải chỉ có những tướng tá từ thời Pháp thuộc ?!
Ngày xưa người Lính VN, chiến đấu trong vinh quang, khi trở về cũng thật hiên ngang, giữa cảnh phu phụ trùng phùng, nồng ấm kết lại mối tình xưa :
‘..xin vì chàng, xếp bào cởi giáp
xin vì chàng giũ lớp phong sương
vì chàng tay chuốc chén vàng
vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng.. ’
(Chinh Phụ Ngâm Ðặng Trần Côn và Ðoàn Thị Ðiểm)
Ngày nay người chiến sĩ VNCH không có cái diễm phúc trên, vì suốt cuộc chiến hai mươi năm, ngoài mặt trận thì chống trả với kẻ thù trong nổi cô độc. Khi trở về lại bị kẻ thù đọa đầy, tù ngục và chết trong uất hận nghẹn ngào.
Thử hỏi giữa cõi đời này, có quân đội nào bất hạnh hơn QLVNCH ? Ngày nay, đã có không biết bao nhiêu người ,đang sống thản nhiên khắp các nẻo đường hải ngoại, mà hầu hết bản thân họ hay con cháu, hôm qua vẫn sống nhờ sự bảo bọc của lính. Không biết trong tâm tư đó, có một giây phút nào do lương tâm xao động, khiến trái tim người, chợt nghĩ tới những kẻ bất hạnh đã VỊ QUỐC VONG THÂN ?
Xưa NGƯỜI LÍNH chiến đấu anh dũng trong khói lửa để bảo quốc an dân. Nay những người lính già còn sót lại sau cuộc chiến và lớp hậu duệ của lính năm nào, cũng đã và đang tiếp tục tranh đấu không ngừng, cho một ngày về QUANG PHỤC QUÊ HƯƠNG được sống thật với tự do và no ấm, như chúng ta hiện nay đang hưởng tại quê người.
‘...tội nghiệp, đời trai chưa thỏa chí
sa trường dung ruổi đã phơi thây
đoàn quân hùng liệt nay về đất
hồn vẫn quanh co giẫm lối gầy
chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nổi
mà khóc quê hương khuất bến bờ
nhớ lúc hát rừng nơi chiến địa
mộng hoàng hoa, khép giữa hư vô'
(thơ Mường Giang)
Xin nghiêng mình trước đồng đội đồng bào đã hy sinh vì đại nghĩa Dân Tộc Việt. Cũng xin chân thành biết ơn Quý Ân nhân đồng hương khắp mọi nẻo đường viễn xứ, đã và đang hướng về những người lính cũ ngày xưa, giờ họ là Quả phụ, cô nhi và thương phế binh VNCH. đang kẹt ở quê nhà.
Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 4-2013
Mường Giang