Search This Blog

Monday, November 27, 2017

Vì sao số 9 là biểu tượng linh thiêng trong các nền văn hoá cổ đại?
Inline images 1
Nhiều nền văn hoá cổ đại coi số 9 là biểu tượng của sự hoàn hảo, gắn kết và tự do. Ở Ai Cập cổ đại, số 9 được sử dụng để dự đoán tương lai. Ở châu Á, số 9 cũng có những ý nghĩa vô cùng sâu sắc trong thế giới Thiên quốc và Phật gia…
altTuy nhiên, người Hy Lạp và người Do Thái chủ yếu được ghi nhận với việc xây dựng nền tảng của số học hiện đại..

Số 9 là một con số tuyệt vời; nếu số 9 được nhân với bất kỳ số nào có một chữ số, sau đó cộng hai chữ số của kết quả luôn luôn có được 9. Ví dụ: 9 × 3 = 27 = 2 + 7 = 9; 9 × 9 = 81 = 8 + 1 = 9; 9 × 5 = 45 = 4 + 5 = 9 và vân vân.

Có những ví dụ khác xác nhận đặc tính đặc biệt này của số 9. Chín là không có giới hạn.

Nó kết hợp tất cả những con số cơ bản khác, sự hoàn hảo, chín tháng để sinh ra một đứa trẻ.
alt
9 tháng để một em bé ra đời 

Ở Rome cổ đại, số chín còn biểu hiện ở những yếu tố như sau như vào những ngày buôn bán họ đã nói “novendinae”, bởi vì  nó rơi vào ngày tiếp theo của ngày thứ chín. Hay là Hydra, quái vật thần thoại có chín đầu. Styx (một trong những con sông ở thế giới bên kia) vòng quanh địa ngục chín lần và các nhà thần bí trong thời cổ đại, tạo thành một vòng tròn phép thuật có đường kính 9 feet để triệu hồi linh hồn của người chết.

Con số 9 bao gồm ba trinities (Chúa ba ngôi – sự hợp nhất của Cha, Con và Thánh thần trong đạo Cơ đốc)  và thường liên quan đến nữ thần. Tác giả có ảnh hưởng nhất của Renaissance esoterica, Heinrich Cornelius Agrippa (1486-1535), đã dành riêng số thiêng là số “chín” cho Muses (“Trong thần thoại Hy Lạp cổ đại, Muses là những nữ thần của khoa học và nghệ thuật): Calliope, Urania, Polymnia, Terpsichore, Clio, Melpomene, Erato, Euterpe và Thalia.
alt
9 nữ thần: Calliope, Urania, Polymnia, Terpsichore, Clio, Melpomene, Erato, Euterpe and Thalia. 

Ở Trung Quốc cổ đại, số 9 đóng một vai trò quan trọng, nơi có một câu chuyện về chín buổi lễ (bắt đầu của cậu bé đến tuổi trưởng thành), ở khắp các nghi lễ đám cưới, lễ tang, lễ nghi quân sự…

Trong suốt triều đại nhà Hán vũ trụ học được dựa trên số chín trong một thời gian rất phổ biến Sheol – “chín nguồn” hay “chín suối” – nơi trú ngụ của người chết.
Người Trung Quốc yêu thích con số “9” đã có lịch sử rất lâu. Số “9” là con số cơ bản lớn nhất, vả lại còn có hài âm “cửu” như “trường cửu”, cho nên, về phương diện truyền thống Trung Quốc, chỉ cần gặp được con số “9”, thì đó là may mắn, bình an và thuận lợi.
Ngày 9 tháng 9 âm lịch là lễ trùng dương, hai có số “9” lặp lại, mang ý lạ thường, cho nên ngày này là ngày lễ người Trung Quốc kỷ niệm người già tôn kính và tổ tông.
Mặc dù con số 9 mang ý nghĩa lớn như vậy, bất kể là âm lịch hay dương lịch, đều mang đến cho người ta vận may. Mọi người thích ngày may mắn này, đã chọn ngày này để tổ chức khánh điển, yến tiệc, hoặc như ban đầu đã nói, đăng ký kết hôn – quyết định việc lớn cả đời.
Số “9” không chỉ là một con số, nó còn tiêu biểu cho một hình thức tư tưởng triết học. Trong âm dương ngũ hành, số “9” là con số dương lớn nhất, tượng trưng cho trời. Và trong truyền thống Trung Quốc, Tam giới có chín tầng trời lớn, còn vượt ngoài “chín tầng trên trời” đó là tới cảnh giới ngoài Tam giới, vĩnh viễn sinh mệnh thoát khỏi luân hồi sinh tử.
Bạn có lẽ đã nghe qua từ “Cửu Châu” này, nó là danh từ của Trung Quốc cổ xưa. Sau đây là một số thành ngữ có bao hàm số “9”, thông qua các thành ngữ này, bạn có thể hiểu được ý nghĩa của con số 9 trong chữ Hán.
Cửu tiêu vân ngoại (lên chín tầng mây; xa lắc xa lơ), cửu cửu quy nhất (suy cho cùng; rốt cuộc), cửu ngũ chi tôn (ngôi vua), cửu tuyền chi hạ (dưới chín suối, dưới suối vàng), cửu tử nhất sinh (thập tử nhất sinh; vô cùng nguy hiểm), cửu ngưu nhất mao (hạt cát trong sa mạc; chẳng đáng kể), nhất ngôn cửu đỉnh (lời nói có sức mạnh), thập nã cửu ổn (mười phần chắc chín; rất chắc chắn), …
alt
Trung tâm của Bắc Kinh có tám đường vào và một trung tâm; ở phương Tây có chín đồng ca thiên thần và chín quả cầu vũ trụ của thế giới quan thời trung cổ.

Con số “chín” có ý nghĩa chủ yếu là trong vũ trụ học Ai Cập cổ đại, nơi các vị thần được nhóm lại trong đó gọi là “Pesedjet” – những ngôi đền cổ nhất. Các linh mục ở thành phố On (Heliopolis) đã đặt vị thần Atum lên đỉnh của ‘đền thờ thần thánh’ này.

Theo Ga-la-ti 5:22 – 23, số “chín” tượng trưng cho hoa trái của Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời, đó là Sự trung tín, Nhạy cảm, Sự tốt lành, Niềm vui, Sự tử tế, Khổ đau, Tình yêu, Hòa bình và Tự chủ.

Nó cũng được biết rằng tổng số phá hủy đền thờ Jerusalem bắt đầu, trong lịch Do Thái, vào Ab 9. Cũng vào ngày này, thứ hai – còn được gọi là đền thờ của Hê-rốt đã bị người La Mã đốt cháy vào năm 70 TCN.
Phạm Hương- Hà Phương
Trộm mộ 1.700 năm trước phát hiện cuốn sử vĩ đại sánh ngang ‘Sử ký’ Tư Mã Thiên
Inline images 1
Vì sao một cuốn sử cũ bị thất lạc hàng nghìn năm lại ẩn chứa nhiều bí ẩn lịch sử bị chôn vùi đến vậy? 
Sự thật lịch sử theo thời gian bị lãng quên và vùi lấp cùng với cái chết của nhân vật chính. Người đời sau muốn hiểu lịch sử thì chỉ có thể tìm kiếm trong các điển tịch. Lịch sử hàng ngàn năm của Trung Hoa đã chứng kiến sự giao thời của biết bao triều đại, những cuộc chuyển giao quyền lực chính trị, những nhân vật lịch sử lẫy lừng, những nỗi hàm oan khó rửa… Tất cả được tóm gọn trong công trình sử học lớn nhất của Trung Hoa, cũng là một trong những cuốn biên niên sử nổi tiếng nhất thế giới: “Sử ký” – Tư Mã Thiên. 
Chính sử có phải đều đúng?
“Sử ký” dùng phương pháp tường thuật ký sự. Nội dung vô cùng phong phú, ghi lại lịch sử Trung Hoa suốt hơn 2.500 năm, từ thời đại Hoàng Đế huyền thoại thời thượng cổ cho đến Hán Vũ Đế năm thứ tư. Người Trung Quốc coi “Sử ký” là tác phẩm văn xuôi nổi tiếng và đồ sộ nhất trong nền văn học cổ nước này.Nhiều học giả và độc giả cũng coi đây là một kho tài liệu vô giá, chính xác và có giá trị tổng hợp cao. Nhưng liệu tất cả các sự kiện được đề cập trong “Sử ký” đều đúng sự thật? Câu trả lời là không. 
Nguyên nhân bởi tác giả Tư Mã Thiên chưa từng chứng kiến hay trải nghiệm qua tất cả các giai đoạn lịch sử mà ông viết. Tài liệu mà Tư Mã Thiên dựa vào để viết “Sử ký” là từ các cuốn sử ký của các triều đại khác, đồng thời tổng hợp những câu chuyện lưu truyền trong dân gian. Tài liệu lúc bấy giờ ông sử dụng phần lớn bắt nguồn từ việc truyền miệng. Do đó, về một phương diện nào đó mà nói, nội dung trong “Sử ký” không hẳn tất cả đều chân thực. 
alt
Liệu có phải tất cả các sự kiện được đề cập trong “Sử ký” đều đúng sự thật? 

Trộm mộ bất ngờ phát hiện cuốn dã sử đặc biệt 
Triều đại Tây Tấn (266 – 316) xuất hiện một cuốn sách sử có nội dung khác biệt so với “Sử ký”, đó là “Trúc thư kỷ niên”. Nghĩa đen của nó là “Biên niên sử viết trên thẻ tre”. Qua nghiên cứu, chỉnh lý, các nhà học giả cho biết “Trúc thư kỷ niên” là sách sử nước Ngụy thời Chiến Quốc, chép sự kiện từ thời Hoàng Đế tới tận năm 299 TCN.
Bản gốc “Trúc thư kỉ niên” được chôn cùng với vua Ngụy Tương vương (chết năm 296 TCN), chôn ở huyện Cấp (nay là thành phố Vệ Huy, tỉnh Hà Nam). Nó được phát hiện vào năm 281 thời Tấn Vũ Đế. Cùng với “Sử ký”, “Trúc thư kỉ niên” chính là văn bản cổ quan trọng nhất về Trung Hoa buổi sơ khai. Việc khám phá ra “Trúc Thư Kỷ Niên” cũng là một câu chuyện truyền kỳ đặc sắc. 
Tương truyền, đầu những năm Tây Tấn, có một kẻ trộm mộ tên là Bất Chuẩn, lén trộm một ngôi mộ cổ ở huyện Cát Cáp, tỉnh Hà Nam. Sau khi mở nắp, vì bên trong tối đen nên Bất Chuẩn đốt cây đuốc nhỏ mang theo người để soi sáng. Tuy vậy hắn vô cùng thất vọng vì bên trong không có châu báu, vàng bạc mà chỉ là những cuốn sách viết trên thẻ trúc cũ kĩ. Đối với hắn những cuốn sách này hẳn là vô giá trị. Bất Chuẩn đem những thứ có giá trị trong mộ đi, còn những quyển sách thì bỏ lại trong mộ. 
Sau đó, dân làng phát hiện ra ngôi mộ bị mở nắp, bên trong là những cuốn sách vứt chỏng chơ nên đã báo cho quan phủ. Một số quan viên đến nhìn thấy nội dung bên trong các cuốn sách này là những hàng chữ chỉnh tề, đoán rằng có lẽ đó là những ghi chép do người cổ đại để lại nên không dám tự quyết. Họ điều xe thồ đến chở số sách này về kinh sư ở Lạc Dương. 
Sau khi số sách này được đưa về Lạc Dương, Tấn Vũ Đế nghe nói đây là sách được khai quật từ trong mộ cổ liền lệnh cho người nghiên cứu kỹ lưỡng. Các học giả thời cổ đại Tây Tấn khám phá ra rằng, những cuốn sách viết trên thẻ trúc này đã ghi lại tất cả điển tích của triều đại nước Ngụy thời Chiến Quốc. Về sau chúng được chỉnh lý lại thành sách sử lấy tên là “Trúc thư kỷ niên”, nội dung ghi lại rất nhiều chuyện kinh thiên động địa. 
alt
“Trúc thư kỷ niên”. Nghĩa đen của nó là “Biên niên sử viết trên thẻ tre”.

Sự khác biệt với chính sử “Sử Ký” 
Về hiền tướng triều Thương, Y Doãn 
“Sử ký” ghi chép Y Doãn là vị hiền tướng đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Thái Giáp nhà Thương sau khi thừa kế ngôi vị không nghe theo lời khuyên nhủ của Y Doãn, làm nhiều chuyện hồ đồ nên bị Y Doãn giam lại để thức tỉnh. Sau đó Thái Giáp thay đổi, Y Doãn lại đón ngài trở về hoàng thành, còn phò tá Thái Giáp. 
Nhưng trong “Trúc thư kỷ niên” lại ghi rằng: Y Doãn hãm hại Thái Giáp, đoạt lấy vương quyền rồi 7 năm sau bị Thái Giáp trở về hạ sát. Ấu chủ lên ngôi bị đại thần khống chế, áp bức. Việc ghi chép về chân dung một nhân vật ở hai cuốn biên niên sử này hoàn toàn khác biệt, một bên khắc họa một công thần vô tư như Thánh nhân, một bên lại là gian thần mưu quyền đoạt lợi.
Về “Thời kỳ Cộng hoà” 
Sử ký” ghi chép, “Thời kỳ Cộng hòa” trong lịch sử cổ đại Trung Quốc là khoảng thời gian ngắn thời Tây Chu không có vua cầm quyền. Vua nhà Tây Chu là Chu Lệ Vương vì bạo ngược với dân chúng nên bị người dân nổi dậy lật đổ, phải sống lưu vong. Hai đại thần Chu Công và Triệu Công cùng đứng ra quản lý việc triều chính. Nhưng “Trúc thư kỷ niên” lại ghi rằng “Cộng Bá Hòa hành thiên tử chi chính”, có nghĩa là có một nhân vật tên là Cộng Bá Hòa được cử thay mặt Thiên tử hành sự.
Muội Hỷ thất sủng 
Sử sách chép việc vua Hạ Kiệt sủng ái Muội Hỷ, làm việc thất đức đến nỗi mất nước. Về sau, Muội Hỷ cùng Kiệt chạy ra Nam Sào. Nhưng “Trúc thư kỷ niên” lại ghi chép khác: Hạ Kiệt mang quân chinh phạt đất Manh Sơn. Manh Sơn dâng 2 người con gái đẹp là Uyển và Viêm để xin Kiệt lui quân. Hạ Kiệt bằng lòng, sủng ái hai người ấy mà lạnh nhạt với nàng Muội Hỷ. Muội Hỷ bị thất sủng nên oán hận Kiệt. Điều này đã bị Y Doãn khai thác để nắm tình hình nhà Hạ.
alt
Minh họa Hạ Kiệt và Muội Hỉ tranh vẽ thời nhà Thanh. 

Vua Vũ nhà Hạ truyền ngôi cho con là Khải
Chính sử nhắc tới việc Cao Dao được Hạ Vũ chọn kế vị nhưng mất sớm. Do đó con của Cao Dao là Ích được chọn để truyền ngôi. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng con của Hạ Vũ là Khải xứng đáng hơn nên quyết định ngôi vua thuộc về Khải. Trong chính sử, cuộc chuyển giao quyền lực này khá êm thấm. Thế nhưng, Trúc thư kỉ niên chép rằng, giữa Khải và Ích đã nổ ra cuộc đại chiến ở Hộ Sơn. Ích định giành ngôi với Khải và bị Khải giết chết.
Khi “Trúc thư kỷ niên” xuất hiện, vì nội dung có nhiều chi tiết phản bác lại lịch sử cổ đại của Nho gia, nên bị liệt vào loại sách cấm hàng đầu. Những ghi chép trong “Trúc thư kỷ niên” và “Sử Ký” đúng hay sai là điều chúng ta không thể biết rõ. Nhưng đọc sách sử không phải chỉ là tìm hiểu những sự kiên lịch sử mà phải hiểu được hàm nghĩa trong đó, như vậy mới có thể “Lấy lịch sử làm gương, có thể phân biệt được tốt xấu”. 

Vinh danh người lính VNCH 

Trần Hoài Thư
Inline images 1
- Có lẽ đây là lần đầu qua văn chương Miền Nam thời chiến, hai nhà thơ Mỹ Việt gặp nhau ở cùng chung một màu áo binh chủng. Một người nguyên là cố vấn đại đội, và một người nguyên là một trung đội trưởng. Họ không hẹn mà gặp, không phải ở trên quả đất này, mà ở trên văn chương. Họ cùng những giọt lệ thổn thức khi nhớ về đồng đội, về những người bạn thám kích QLVNCH của họ – những người lính không bao giờ biết nón sắt, áo giáp. Họ đội mũ rừng, trang bị súng nhẹ, gan dạ, quả cảm, luôn luôn đi đầu trong các cuộc hành quân tìm dấu địch. Và dĩ nhiên là họ chết trước.

Chúng tôi trân trọng giới thiệu bài thơ Cho những người bạn thám kích của tôi (For my Scouts) và Những bóng hình (Shapes) của nhà thơ Charles Schwiderski cùng bài thơ Trung Đội của Trần Hoài Thư.

* Nhà thơ Charles Schwiderski nguyên cố vấn cho Thám Kích Cao Nguyên, Biệt Khu 24 QLVNCH, Kontum từ 1967 đến 1968.

Trang nhà của tác giả:


* Trần Hoài Thư nguyên là một trung đội trưởng thám kích trong thời gian gần 4 năm (từ 8/1966 đến 6/1970).

Cho những người bạn thám kích của tôi

Charles Schwiderski
Tôi xây trong tim tôi
ngôi nhà cho những người bạn thám kích
Mỗi người một căn phòng cố định
Dù tất cả cửa sổ
Đều phủ màn đen
Và chủ phòng không bao giờ trở lại
Nỗi đau là của tôi… và tôi là một người ích kỷ
Tôi say sưa gom góp kỷ niệm về các bạn
Mỗi phòng chất chứa tinh hoa của chủ phòng
… của những chuỗi ngày vui buồn hay may rủi
của tất cả mọi điều từ trước đến nay
Khi cô đơn tôi có thể vén màn
và các bạn sống lại cười vui trở lại
Nhiều bạn thám kích của tôi đã sống trong ngôi nhà nầy
rất lâu… với hình con Báo Đen
sơn trên cửa phòng của họ
Bên trong tôi vẫn nghe giọng cười
và nước mắt tôi sa xuống trên nền nhà.

(THT phỏng dịch)

Những Bóng Hình

LTS: Bài thơ này được trích từ hồi ký chiến trường Hi Ro Bu kể lại cuộc hành quân của hai đại đội thám kích QLVNCH ở vùng rừng núi Hi Ro Bu. Chúng tôi xin được cám ơn nhà văn Hà Kỳ Lam đã bỏ công giúp chúng tôi chuyển ngữ bài thơ này...

Chúa ơi, bọn chúng lại đến!
Tôi hãi quá… tôi không muốn chết!
Tôi nhìn qua miệng hố và thấy
Những bóng hình xám xịt chơi vơi bên dưới
Những bóng hình chạy từ gốc cây đến gốc cây
Những bóng hình tiến lên dốc đồi
Những bóng hình di động để giết tôi
Những bóng hình di động để cướp đi mộng đẹp của đời tôi
Tôi giương súng nhắm một bóng hình chơi vơi bên dưới
Giờ gần hơn… giờ rõ hơn
Tôi bóp cò và một hình hài ngã xuống
Miệng há hốc như nói với chính mình
Những bóng hình khác rõ hơn đang tiến đến tôi
Bắn tôi
Ném lựu đạn vào tôi
Tiến đến tìm tôi
Tôi thấy khói từ nóng súng của chúng
Cảm được viên đạn lướt qua gần sát thân mình
Cảm được chấn động của lựu đạn chúng nổ
Nghe tiếng rít của hỏa tiễn bay qua
Tiếng ré của kèn đồng chúng xung trận
Âm thanh xé màn nhỉ của tiếng tu huýt
Tôi hét lên và run vì sợ
Nhưng cẩn thận ngắm súng vào những bóng hình bên dưới
Siết cò súng hết phát nầy đến phát khác
Không thể để trượt… gần hết đạn rồi
Không thể để trượt… không được phí một viên
Những bóng hình tràn ngập khắp nơi
Những bóng hình sao nhiều đến thế
Xin Chúa giúp con
Tôi siết cò súng nhưng không gì xảy ra
Chúa ơi, con hết đạn rồi!!!
Tôi rút băng đạn ra khỏi súng và với lấy một băng khác
Tôi sục sạo nhưng không còn gì… hốt hoảng, hốt hoảng, hốt hoảng
Tôi tìm được một băng đạn… băng cuối, và lắp vào súng
Ngắm và bắn, ngắm và bắn và bắn và bắn
Thêm nhiều bóng hình ngã gục
Xác thân nằm mọi nẻo
Chết chóc đang vây quanh tôi

Những bóng hình đang xông tới
Những bóng hình hiện diện khắp nơi
Những bóng hình đang xáp đến bên tôi

Những bóng hình nhiều quá đi thôi
Xin hãy giúp tôi!!

(Hà Kỳ Lam chuyển ngữ)

Trung đội

Trần Hoài Thư

Băng đồng, băng đồng, đêm hành quân
Người đi ngoi ngóp, nước mênh mông
Về đây Bình Định ma thiên lãnh,
Mỗi bước đi rờn rợn âm hồn

Trung đội những thằng trai tứ chiếng
Những thằng bỏ lại tuổi thanh xuân
Diều hâu bôi mặt hù ma quỷ
Thuở đất trời bày đặt nhiễu nhương

Đêm của diều hâu về xứ khổ
Poncho phơ phất gió hồn oan
Trên vai cấp số hai lần đạn
Không một vì sao để chỉ đường

Mưa lạnh thèm tu hơi rượu đế
Để quên tim nhảy nhịp lo âu
Giơ tay vuốt mặt lau tròng kính
Giờ G, giờ G sao quá lâu

Thì đi, đột kích trong lòng địch
Chụm tiếp nồi cơm hộ Bắc quân
Cơm nóng thầy trò ăn đỡ đói
Ha hả cười, cơm của nhân dân

Trung đội cả tuần đêm không ngủ
Lương khô đã hết, chờ trực thăng
Hành quân một tháng trên An Lão
Một tháng trời mưa thúi chiến trường

Pháo chụp người gào khan cả họng
Máy sôi tắt nghẹn chờ phi tuần
Miểng thép đâm xiên, thằng bạn gục
Hỏa châu vàng thoi thóp triền sơn

Địch vây xiết chặt bộ tiền phương
Quân băng đường máu về Bồng Sơn
Qua kênh, sương muối mờ tre bụi
Thánh giá chơ vơ nóc giáo đường

Nước nguồn đổ xuống ngày binh lửa
Những xác nào đã thúi hôm qua
Ai bạn ai thù sao quá thảm
Trên một dòng cuồn cuộn oan gia

Con sông chia cắt bờ bi hận
Cột khói còn lưu luyến chiến trường
Có ai chạy loạn bơi xuồng kể
Một thước đi, xác ngập thước đường

Cây cầu sắt bắc qua tử địa
Bên kia sông ta chiếm rừng dừa
Đêm bỗng nghe quạ bầy động ổ
Gọi ran trời kinh động sao khuya

Lũ quạ trốn đi từ dạo ấy
Để giờ đây kêu động rừng phong
Quạ gọi bầy tháng năm tháng bảy
Sao ta gọi bầy thăm thẳm mù tăm

Trung đội ta những thằng giữ đất
Từ Qui Nhơn, Phù Cát, Phù Ly
Ra Tam Quan qua rừng An Lão
Từ Kỳ Sơn, Phước Lý, An Khê

Đồng đội ta những người đã chết
Những Vọng, Nga, Nai, Bình Lò Heo
Những Chấn, Hảo, Sơn, Tài Xóc Dĩa
Đàn diều hâu thảm thiết khóc òa

Lịch sử cũng vô tình thế đó
Người qua sông không nhớ con đò
Những người chết không còn nhắm mắt
Người sống giờ như những hồn ma.

Về một đại đội cũ

Inline images 2

Kính dâng hương hồn anh Hồ văn Hòa
Riêng tặng Anh Hà Khôi (tức Hà Quế Linh) nguyên là đại đội phó 405 TK của tôi. 

Trong đêm xứ người, nói gì về những người muôn năm cũ. Hai đứa chúng tôi như rưng rưng để nhớ về những đồng đội cũ của mình. Tôi hỏi anh Hòa về những gì anh biết về đại đội 405 thám kích. Bộ quân sử không nói về 405. (Nếu có, chỉ ba giòng trong trận đánh năm Mậu Thân). Quân đội miền Nam cũng chẳng bao giờ nhắc đến một 405. Nó vô danh.

Nó đánh giặc không phi pháo dọn đường, không được yểm trợ tối đa như những lực lượng tổng trừ bị. Nó là những tổ 3 người, những toán 4 người, mang trên vai những ba lô với mười mấy ngày lương khô xâm nhập trong lòng mật khu. Thế giới của nó là những cánh rừng thâm u, những ngôi làng sâu trong rừng, những con đường mòn xâm nhập của địch. Nó không cần ai biết. Nó buồn như thế đó. Lạc loài như thế đó. Nó lầm lì như thế đó. Bao nhiêu trách nhiệm nguy hiểm trong vùng địch kiểm soát, đột kích, thám kích, tiền thám hay viễn thám kể cả tăng viện và là mũi tấn công chính trong một trận đánh dữ dội, đều giao cho Đại đội Thám Kích 405. Vì vậy sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ của đơn vị nầy phải là quân nhân tình nguyện hoặc được chọn lựa trong thành phần có kinh nghiệm trận mạc, gan lì và nhất là sự bền bĩ chịu đưng gian khổ ở các đơn vị tác chiến khác của Sư Đoàn. Mặc dù Đại Đội Thám Kích không có trong Bảng Cấp Số của Sư Đoàn, nhưng do tính chất cuả nhiệm vụ khi thành lập -vì nhu cầu chiến trường- nên tính mệnh của mọi cấp trong ĐĐ/TK như “chỉ mành treo chuông” mỗi một khi được sử dụng. Ai vào thám kích mà ra khỏi được, không chết, ít nhất cũng mang theo vài chiếc thẹo trên mình. (1)

Rõ ràng, chúng ta là những kẻ may mắn nhất. May mắn bởi vì thay vì nằm xuống như một số người lính thám kích, chúng ta mang trên người những vết sẹo. Những vết sẹo mà khi sờ lại, thất lạnh cả người, mà mắt nhắm lại, để cảm tạ Đấng Quyền Năng đã phò trợ trong dòng binh lửa.

Nhưng tại sao, anh và tôi lại phải giữ gìn như giữ gìn những gì trân quí nhất?

Viên cựu đại đội trưởng 405 TK nhắc lại một Y Đao như một con sóc rừng. "...Y nhanh lẹ không thể tưởng. Người y, khi mang ba lô 17 ngày lương thực, không thấy người, chỉ thấy cái ba lô. Còn hạ sĩ Nùng Lương văn Tướng, ông ta nói tiếng Việt vẫn còn lắp bắp, mặt lúc nào cũng lầm lì.

Ông ta còn có biệt danh là ông Tướng giải phóng. Tại sao là giải phóng, Thư biết không?." "Thưa đại bàng, tôi không được biết". Tôi trả lời. "Số là hôm ấy, toán ông bị phát giác. Lính Bắc hỏi: Ai đấy? Ông Tướng lính quýnh trả lời: Biệt kích Giải phóng. Trời ơi, VC làm gì có biệt kích. Còn trung sĩ Tám, trung sĩ Khoái, trung sĩ Đặng, hạ sĩ Dự, hạ sĩ Lực, còn chuẩn úy Bùi Toàn Hảo, chuẩn úy Âu Hoàng Minh, chuẩn úy Phan Thái Gia, chuẩn úy Nguyễn Thái Lâm..."

Anh kể như thuộc lòng. Đó là điều hiếm hoi cho một người đã trải qua rất nhiều đơn vị. Nó chứng tỏ đại đội 405 là một dấu ấn đậm sâu vào tâm trí của một người lính cũ. Nó chứng tỏ, anh đã có một nơi để tự hào trong đời binh nghiệp của anh.

Rồi anh Hòa nhắc lại hạ sĩ Y Brep và hạ sĩ Ba. VC trồi lên đánh cận chiến. Thằng Y Brep quạt Thompson bảo vệ anh, thằng Ba xô anh xuống hố. Và kết quả, Hạ sĩ Ba chết, và Y Brep bị mù một con mắt.

Tôi lắng nghe tiếng anh nghẹn lại. Vâng, tôi cũng vậy. Anh nói rằng, những người lính 405 anh hùng quá, dũng cảm quá, anh chưa bao giờ thấy đơn vị nào mà tất cả đều cùng một lượt xung phong lên đồi cỏ tranh, đứng thẳng mà tiến lên. Anh chưa bao giờ thấy một đại đội lại đánh tan tành một tiểu đoàn... Vâng, anh kể lại thời của anh từ 1963 đến 1964, và tôi kể lại thời của tôi từ 1967 đến 1971. Anh làm tôi nhớ lại hạ sĩ Đông mang máy truyền tin. Đông cũng cõng tôi mà chạy dưới bao lằn đạn. Và ông Y Suk đã cứu tôi thế nào trên đỉnh Kỳ Sơn.

Tôi cũng muốn nói về cái uy danh của đơn vị, khiến lúc đơn vị bị vây khỗn, ngỡ chừng như tuyệt vọng, nhưng địch vẫn không dám ùa ra cận chiến...

Đêm nay, quê người, và hơn 30 năm xa cách cho hai cánh diều hâu bỏ đàn bỏ tổ. Những giọt lệ bỗng nhiên lại thêm một lần chảy lạnh cả tâm hồn. Người sống nhớ về người đã chết. Người may mắn nhớ về người không may mắn. Nguồn cội từ một mái nhà được phanh ra, để cùng nhau tự hào và cũng để cùng nhau mà khóc thầm. Những con người, không bao giờ nhìn lên, mà chỉ nhìn xuống, cam phận. Có ai còn nghĩ đến họ. Nghĩ đến một người như hạ sĩ Ba chịu hứng đạn thù để cứu một đại đội trưởng, để anh còn sống, để anh được cơ hội nhận hai lần thăng cấp tại mặt trận chỉ trong vòng hai tháng từ một ông tướng khó nhất là tướng Đỗ Cao Trí.

"Thư à, lon mình không phải do tướng Đỗ Cao Trí gắn mà là do hạ sĩ Y Brep, hạ sĩ Ba gắn..."

Cám ơn anh Hoà đã nhắc lại thời kỳ đầu tiên của một đại đội. Khi tôi hỏi anh một câu mà tôi nghĩ là quá thừa: Anh nghĩ thế nào về đại đội mình. Bên đầu dây xa, giọng anh ấy trở nên phấn khích: Đó là một đơn vị chỉ biết chiến thắng. Anh kể lại những địa danh rừng núi. Những mật khu, đặc khu. Những đồi tranh, và những trận đánh ác liệt. Anh lại kể lần tướng Đỗ Cao Trí, tướng Linh Quang Viên, đáp xuống ngọn đồi mà đại đội vừa chiếm lại giữa ầm ầm tiếng pháo, và la liệt xác phe bên kia. Tôi cũng kể lại những nồi cơm mà Bắc quân bỏ chạy còn nấu lỡ dở, trong những đêm chúng tôi đột kích mật khu ở Bình Định. Tôi nói suốt hơn bốn năm, đại dội không cho phép bất cứ một trái pháo nào lọt vào Bộ Tư Lệnh. Vì sao? Vì địch là ma, ta cũng là ma. Chúng tôi cùng nhau cười ha hả. Anh lại nhắc đến công trạng của thiếu úy Đặng đức Thành, người khai sinh ra đơn vị Biệt kích Sư đoàn, tiền thân của đại đội 405 thám kích. Anh còn nói nhiều nữa. Chính cái cái khăn quàng đen mà tiểu đoàn 35 Biệt Động Quân mang là biểu tượng truyền thống của đại đội 405 Thám kích sư đoàn 22 BB:

"Thư à, mình phải kể cho Thư nghe, ngày về nhận tiểu đoàn 35 BĐQ, mình đã mang theo chiếc khăn quàng cổ của đại đội cho đơn vị mới."

oOo

Từ 405, anh Hòa đã mang chiếc khăn quàng cổ màu đen về 35 BĐQ. Từ 405, tôi cũng đã mang 9 tác phẩm văn học đến cùng độc giả. Con số quá đủ cho một tấm lòng đối với bạn bè đồng đội của mình. Tôi hẹn với lòng, sau Mặc Niệm Chiến tranh là bỏ viết. Tôi đã gởi gấm những gì mà tôi cần gởi gấm. Nhưng bây giờ, tôi lại ngồi trước máy. Những lời của anh Hòa chẳng khác cơn bão xoáy lốc vào tâm não. Một đằng, tôi cảm thấy mình thật hãnh diện, bởi vì tôi đã có mặt tại một đơn vị đã từng tạo nên một thành tích kỷ lục có một không hai trong QLVNCH. Khó có một ai trong bất cứ đơn vị nào được tướng Đỗ Cao Trí thăng cấp hai lần trong vòng hai tháng ngay tại mặt trận. Có người gọi tôi là điên khùng. Có kẻ cho tôi là ái quốc lãng mạn. Vâng, quả tôi điên khùng thật. Nhưng bây giờ tôi phải cám ơn về cái điên khùng này. Nhờ nó tôi mới hiểu cái tàn bạo của con người, của chiến tranh, của hận thù, và những tay chỉ biết xúi tuổi trẻ ra chiến trường để chết thế, và nhất là một khi tuổi trẻ muốn bày tỏ những ước mơ chân thật của mình thì bị gán cho những danh từ như phản chiến, hèn nhát, trong khi chính những kẻ ấy là co rúm hơn ai hết. Chính nhờ nó, tôi mới hiểu cái câm nín chịu đựng của những người lính bộ binh trong một thời chỉ con ông cháu cha mới được sống. Chính nhờ nó tôi mới cảm nhận được thế nào là tình đồng đội cũng như nỗi kiêu hãnh của những người lính tác chiến.

oOo

Phải. Không tự kiêu sao được khi đám lính khăn choàng đen huy hiệu diều hâu vồ mồi đã làm địch Bình Định kinh hồn bạt vía. Chúng tôi đã áp dụng tối đa chiến thuật dạ kích. Anh bạn, tôi xin nhắc lại, nếu địch là ma, thì ta cũng là ma, tại sao mấy ngài chỉ huy cao cấp chỉ biết cái chiến thuật nhà giàu, ngày đánh, đêm về phố nhảy đầm hay ngủ với vợ. Tại sao các ngài không thành lập những đội quân chuyên đánh đêm, hay đổi lại chiến thuật đánh ngày sang đánh đêm. Địch lợi dụng bóng tối tại sao ta lại không lợi dụng bóng tối để đột kích mật khu, phá nát hậu cần, gây cảm giác lo âu kinh sợ cho đối phương, bắt đối phương lúc nào cũng hoang mang giao động? Tại sao cứ chơi trò đóng đồn phòng thủ, chờ chuông báo tử.

Chuông báo tử. Những hồi chuông đã kéo hối hả khắp cả miền Nam, và bóng u minh đã òa chụp xuống từng người, từng thân phận. Không phải vì ta hèn. Chưa có một đội quân nào trên thế giới này, thua trận, nhưng lại tự hào cùng hàng ngũ, cùng màu cờ sắc áo như quân đội miền Nam này. Không phải một ngày, một tháng, mà cả đời. Chỉ có những kẻ trong cuộc mới hiểu và thấm thía được nỗi tự hào. Và đó là lý do cắt nghĩa tại sao tôi lại phải viết hoài, viết không mệt về màu áo cũ của mình.

oOo

Viết về một đơn vị, để mà tự hào, nhưng riêng tôi lúc này còn để hối hận. Bởi vì, ngòi viết của tôi chưa bao giờ có một nhân vật như Y Brep trên trang giấy. Và tôi cũng chưa bao giờ mời ông Tướng giải phóng, trung đội phó của tôi một cốc rượu, một lon bia. Ông ta anh hùng như thế, dẫn toán vào mật khu, hù lính Bắc quân, thế mà mỗi ngày vẫn chào tay tôi, trình diện tôi, giúp đỡ tôi, nâng bước chân tôi lên trên những bãi chiến trường sôi bỏng. Thế mà tôi không có cả một lời. Và dù có viết, thì đám kiểm duyệt ở Sài Gòn lại bôi đen chữ Tướng viện dẫn tôi chơi xỏ một ông tướng nào đó. Vâng, tôi đã vô tình quên họ, những người lính của trung đội tôi như Y Đao, Nay Lat,Y Suk, như Nha, Vọng, Tròn, Hường, Nai, Lợi, Ký, Mễ, Ưng Luông. Tôi chỉ bận tâm đến bản thân tôi. Tôi chỉ tìm mọi cơ hội để được thăng quan tiến chức, hay để được thoát khỏi địa ngục trong lúc họ vẫn tiếp tục cùng chiếc poncho, hay lon cơm gạo sấy, coi đơn vị là mái nhà vĩnh viễn của mình mà không một lời ta thán.

(1) Trích từ Định Mệnh - tạp chí Thư Quán Bản Thảo số 46 của Văn Nguyên Dưỡng (bút danh của cựu trung tá Nguyễn văn Dưỡng, cựu trưởng phòng 2 SĐ 22 BB).



Trần Hoài Thư