Search This Blog

Wednesday, July 26, 2017

Tôi không tin Hồ Chí Minh, Hồ Tập Chương là một!


Ts. Đặng Huy Văn


Kính gửi ông Hồ Tuấn Hùng, Đài Loan. Cách đây hơn một năm, tình cờ tôi đọc được cuốn "Hồ Chí Minh sinh bình khảo" của ông trên internet, tôi đã bị sốc thực sự. Vị "cha già dân tộc" mà hàng chục triệu nông dân Việt Nam trong đó có cả các anh em của tôi đã tận tụy hi sinh theo tiếng gọi của ông ấy vác súng ra chiến trường trong cuộc chiến nồi da xáo thịt 20 năm, hóa ra lại là một người ngoại quốc! Tôi đã bàng hoàng đau đớn và căm ghét cuốn sách đó vì nghĩ rằng ông đã dựng chuỵện để phỉ báng hàng chục triệu nông dân Việt Nam! Nhiều lúc tôi đã trăn trở, phải chăng ông là một kẻ viết thuê cho bè lũ cộng sản Bắc Kinh đang âm mưu thôn tính nước Việt Nam của chúng tôi?

Nhưng sau một thời gian dài bình tâm lại, tôi nghĩ dân tộc Hẹ của ông cũng chỉ là nạn nhân của bè lũ Mao Trạch Đông trong quá khứ, nên tôi đã đọc lại cuốn sách của ông. Và chợt nghĩ, đã là lịch sử thì mọi cái đều có thể. Một kẻ lái buôn hèn hạ Lã Bất Vi của nước Triệu còn có thể là cha đẻ của một vị hoàng đế lừng danh của nước Tần, thì cớ sao một ông Hồ Tập Chương tài giỏi, được học hành đến nơi đến chốn trong cái thời mù mờ tranh tối tranh sáng ấy, lại không thể làm vua ở một nước láng giềng bé nhỏ hơn?

Tuy nhiên, một số chứng lý mà cuốn sách của ông dẫn ra chưa đủ thuyết phục. Đặc biệt chưa có xét nghiệm ADN của các nhân vật liên quan để kiểm chứng, nên cuốn sách đó chưa có giá trị lịch sử ông ạ! Cuốn sách của ông chưa đủ cứ liệu để làm mọi người tin rằng, Hồ Tập Chương và Hồ Chí Minh là một. Nếu ông thật sự thành tâm với lịch sử, tôi mong ông tiếp tục nghiên cứu, tìm thêm sử liệu và đặc biệt thêm xét nghiệm ADN của các cá nhân liên quan để có thể làm sáng tỏ một mảng tối của lịch sử Viêt Nam đang bị một tập đoàn lãnh đạo vì quyền lợi ích kỷ của họ mà cố tình che dấu. Xin cám ơn ông!

Tôi không tin Hồ Chí Minh, Hồ Tập Chương là một!
(Kính gửi tác giả cuốn sách "Hồ Chí Minh sinh bình khảo")

Tôi không tin Hồ Chí Minh, Hồ Tập Chương là một!
Như sách của ông năm 2009 đã xuất bản tại Đài Loan(1)
Tôi không tin một người Hán cổ Trung Hoa dân tộc Hẹ
Mà lại dám tự xưng là "cha già của dân tộc Việt Nam"!(2)

Ông đọc "Những mẫu chuyện..." Trần Dân Tiên khắc biết(3)
Cụ Hồ Chí Minh nhận là Nguyễn Ái Quốc của Việt Nam
Một thanh niên yêu nước đã từng qua năm châu bốn bể
Mẹ mất sớm, cha bị thải hồi nên sự học quá dở dang!

Dù cuốn sách đó xuất bản lần đầu năm Bốn Tám
Bằng tiếng Hoa, chứ không như lời tác giả lúc đầu
Rằng sách viết để đồng bào Việt Nam hiểu về lãnh tụ
Mà chục năm sau mới xuất bản bằng tiếng Việt là sao?

Ông đã so sánh người này "mắt hiền", người kia "mắt ác"
Người này Nguyễn Ái Quốc, người kia là Hồ Tập Chương
Theo tôi nghĩ, mắt là cửa sổ tâm hồn nên luôn luôn thay đổi
Có thể tâm Nguyễn Ái Quốc đã đổi thay vì đau nhớ cố hương?

Ông có biết, hồi CCRĐ, mới chỉ lỡ "giết nhầm" vài vạn
Mà cụ đã đăng đàn lau nước mắt để xin lỗi đồng bào(4)
Thế mới biết cụ Hồ là một người "rất từ bi phật độ"
Vậy Hồ Tập Chương mà "đạo đức" đến thế sao?

Cụ là một người Việt "yêu Việt Nam" chảy bỏng
Thề hi sinh cả dân Nam, để thống nhất quê hương
Tết 68 Mậu Thân, cụ đọc thơ hô quân vào tắm máu(5)
Hàng vạn đồng bào Miền Nam, hay Hồ Tập Chương?

Ông còn trích dẫn "Nhật Ký Trong Tù" của cụ Hồ ra để viết(6)
Rằng cụ Hồ chính là Hồ Tập Chương, dân tộc Hẹ của ông
Bởi cái lý, Nhật Ký Trong Tù dùng Khách Gia khẩu ngữ
Nếu không là người Khách Gia, liệu có viết thế không?

Ông còn viết, suốt 134 bài thơ không nói về cảnh Việt
Thưa, cụ lấy Tăng Tuyết Minh là một phụ nữ Trung Hoa(7)
Khi nhớ vợ, nhớ nhà trên đất Hoa thì lấy đâu ra cảnh Việt
Chỉ khi thơ chữ Hán viết hay, may mới có thể là người Hoa!

Đã có rất nhiều người bình luận về Nhật Ký Trong Tù của cụ
Và cũng đã có một số nhà phê bình thận trọng đã nghi ngờ
Nhưng, khoan thấy người "sang" mà bắt quàng làm họ
Bởi dân tôi chưa thể tin, vì chưa xét nghiệm ADN!

Thưa ông, tôi nghĩ cụ Hồ là một người Việt Nam thứ thiệt
Nhưng cụ đã có cách cư xử với dân giống hệt kẻ ngoại bang?
Đã ép dân tôi thực hiện các đường lối của Liên Xô, Trung Quốc
Rồi bắt nhà nhà phải bài trừ các thuần phong mỹ tục của Việt Nam!

Và thưa ông, đầu thập niên 1930, Nguyên Ái Quốc đã bị Stalin coi rẻ
Nên chắc gì QTCS đã chủ trương cho đóng thế Nguyễn Sinh Cung
Chỉ trừ trường hợp Hồ Tập Chương của ông có mưu đồ chính trị
Biết Nguyễn Ái Quốc đã qua đời, tự xin đóng thế để lập công!

Xin cám ơn và gửi ông Hồ Tuấn Hùng lời chúc phúc sức khỏe
Kính nhờ ông trả lời đồng bào Việt Nam những trăn trở trên đây
Dù sao "Hồ Chí Minh sinh bình khảo" cũng là cuốn sách phản biện
Về một lãnh tụ Việt Nam đã bị người ta thần thánh hóa bấy lâu nay…

Hà Nội, 18/11/2013
Ts. Đặng Huy Văn

Chú thích & Tài liệu tham khảo:

(1). e-ThongLuan - Hồ Chí Minh sinh bình khảo (Hồ Tuấn Hùng)
(2). Trong lịch sử Việt Nam, chưa từng có một người Việt Nam nào dám tự xưng mình là "cha già dân tộc". Các vua chúa cũng chỉ xưng là "cha mẹ của dân" chứ không xưng là "cha già của dân tộc" vì danh xưng đó đến các Vua Hùng sống lại cũng không dám nhận!
(3). Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch 6/6 
(4). Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam – Wikipedia tiếng Việt
(5). Tội Ác Cộng Sản Tết Mậu Thân 1968 - YouTube
(6). Nhật ký trong tù, Nhật ký trong tù - Việt Nam thư quán
(7). Tăng Tuyết Minh – Wikipedia tiếng Việt

Nguồn: danlambaovn.blogspot.com

Đọc thêm:

Trần Việt Bắc, Hồ Chí Minh: "Đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi", 2013
Nguyễn Duy Chính, Nhận xét về cuốn Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo, 2008.
Phạm Quế Dương, Đề nghị làm sáng tỏ vụ việc: Chủ tịch HCM là người VN hay Đài Loan, 2013
Thiên Ðức, Vụ án buôn vua Việt Nam Hồ Chí Minh, 2009
Vũ Thư Hiên, 'Tác phẩm giả tưởng' về Hồ Chí Minh, 2013
Vũ Quang Hiển, VN 'thiếu tư liệu về Hồ Chí Minh', 2013
Nhóm Hành Khất, Nhận định về Hồ Tập Chương trong tác phẩm "Sinh bình Khảo", 2013
Tạ Nhất Linh, Bàn về Hồ Chí Minh - Hồ Tập Chương, 2013
Thiên Nam, Quả lừa lịch sử: HCM / CSVN-CSTQ cướp chính quyền VN, 2011
Trần Bình Nam, Một nghi án lịch sử Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh: một hay hai người? 2013
Bùi Tín, Những luận điệu hoang tưởng, bịa đặt, 2009.

Hồ Tuấn Hùng, Hồ Chí Minh sinh bình khảo, 2008



www.geocities.ws/xoathantuong

Nhận xét về cuốn Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo

Nguyễn Duy Chính
 

Gửi cho BBC từ California, Hoa Kỳ.
Trong thời gian gần đây, dư luận người Việt xôn xao về một cuốn sách có nhan đề Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo của một tác giả Đài Loan công bố một nghi vấn lịch sử quan trọng, khẳng định Hồ Chí Minh (1890-1969), cố chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà [tức Bắc Việt thời kỳ chia đôi hai miền Nam Bắc] trong một khoảng thời gian khá dài - từ 1932 đến khi từ trần năm 1969 - chỉ là một người Đài Loan giả dạng người Việt lãnh đạo đảng Cộng Sản.
Để cung cấp một số tin tức cho những độc giả không đọc được tác phẩm này trực tiếp bằng Trung văn hay không tìm được nguyên tác, người viết điểm qua cuốn sách và ghi lại một vài nhận xét riêng của mình.
 
Về tác giả
Theo như tiểu sử của Hồ Tuấn Hùng ghi nơi trang gập bìa trước thì ông sinh năm 1948 [trong khi trên một số mạng internet thì lại ghi là 1949], người Miêu Lật, Đài Loan, tốt nghiệp ban Sử trường đại học quốc gia Đài Loan, đã từng dạy học gần 30 năm, có thêm một số chứng chỉ của các cơ quan hành chính thuộc bộ giáo dục và hiện hoạt động trong một tổ chức tư nhân là hội Dịch Kinh Ngũ Thuật..
Ông đã trước tác một số sách vở bao gồm Dịch Kinh Tân Thuyên, Dịch Kinh Đại Diễn Chiêm Phệ, Dương Trạch Phong Thuỷ, Trạch Nhật Bảo Điển, Lưỡng Hán Mệnh Lý Tư Tưởng Giản Giới .
Những sách này đều thuộc loại chiêm bốc, phong thuỷ nên chúng ta cũng có thể tin rằng ông thích nghiên cứu về huyền học.
 
Về tác phẩm
Cuốn sách có nguyên danh là Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo do Bạch Tượng Văn Hoá ở Đài Loan xuất bản lần thứ nhất tháng 11 năm 2008, tổng cộng 342 trang với nhiều hình ảnh.
Cũng nên nói thêm, Bạch Tượng là một nhà in tư nhân, các tác phẩm do chính tác giả ấn hành và chịu hoàn toàn trách nhiệm nên nội dung và phẩm chất không cần phải đạt một số tiêu chuẩn nhất định như những nhà xuất bản có uy tín khác.
Nội dung Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo chia làm 6 thiên [không kể lời nói đầu và một số thư giới thiệu]:
Thiên thứ nhất: Màn kịch thay long đổi phượng (Thâu Long Chuyển Phượng đích hí khúc)
Sự thật về cái chết của Nguyễn Ái Quốc (Nguyễn Ái Quốc tử vong đích chân tướng)
Nguyên uỷ của việc Nguyễn Ái Quốc chết rồi sống lại (Nguyễn Ái Quốc tử nhi phục sinh đích hí mã)
Thiên thứ hai: Việc thật giả của kế Kim Thiền Thoát Xác (Kim Thiền Thoát Xác chân giả nhân sinh)
Thiên thứ ba: Những năm tháng phiêu bạt giang hồ (Phiêu bạc lưu lãng đích tuế nguyệt)
Hồ Chí Minh tại Trung Quốc (Hồ Chí Minh tại Trung Quốc) (1938-1945)
Thiên thứ tư: Khúc tình ca nhân duyên đầy đau khổ (Hôn nhân luyến tình đích bi ca)
Thiên thứ năm: Bản văn Nhật Ký Trong Tù và bản di chúc (Hán Văn "Ngục Trung Nhật Ký" dữ di chúc)
Thiên thứ sáu: Lời kết hạ màn (Lạc Mạc Cảm Ngôn)
 
Vấn đề nêu ra
Như ngay tại đề tựa, nội dung quyển Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo là một tác phẩm viết về tiểu sử ông Hồ Chí Minh. Cho đến nay, cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh đã được nhiều tác giả Tây phương và Việt Nam - trong cũng như ngoài nước - tìm hiểu rất công phu, có người còn ngưỡng mộ ông như một nhân vật thần kỳ. Tuy nhiên, cũng như cuộc đời ái tình sự nghiệp của bất cứ lãnh tụ Cộng Sản nào, nhiều chi tiết liên quan đến Hồ Chí Minh vẫn còn là những bí mật chưa có câu trả lời hoàn toàn thích đáng.
Để thực hiện tác phẩm của ông, Hồ Tuấn Hùng sử dụng chủ yếu các tài liệu viết bằng Anh, Hoa và Nhật văn và một số tài liệu Việt Nam xuất bản ở trong nước.
Một cách tổng quát, nghiên cứu về một nhân vật nhiều bí ẩn, tiếng tăm và mâu thuẫn như Hồ Chí Minh ngoài phương pháp và đường lối suy luận, tác giả cần có những tư liệu độc đáo soi sáng những giai đoạn mà những người đi trước chưa có được. Đối với những khuôn mặt chính trị mà phần lớn cuộc đời hoạt động trong bóng tối, phần tài liệu hiện còn trong văn khố chính trị, quân sự, ngoại giao của Việt Nam, Pháp, Trung Hoa, Liên Xô ... là những đóng góp quan trọng.
Riêng về Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo, phát hiện quan trọng nhất - và cũng mới mẻ hơn cả - của tác giả là việc Hồ Chí Minh thật đã qua đời, sau đó một người Trung Hoa tiếp tục vai trò từ năm 1932 đến năm 1969 là khi ông từ trần.
Do đó, trong phạm vi nhỏ bé của bài điểm sách này, chúng tôi chỉ xét về hai chi tiết thuần tuý liên quan đến công trình của chính tác giả: từ đâu Hồ Tuấn Hùng đưa ra giả thuyết này, và ông chứng minh giả thuyết này dựa trên cơ sở nào?
 
Tác giả đặt vấn đề từ đâu?
Việc Hồ Tuấn Hùng tin tưởng một cách chắc chắn rằng người nằm trong lăng Ba Đình tại Hà Nội không phải là Nguyễn Ái Quốc là một giả thuyết quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến không phải chỉ cá nhân ông Hồ Chí Minh mà cả lịch sử cận đại Việt Nam. Để đi đến kết luận, chắc chắn người viết phải có được những chứng cứ xác thực, đáng tin cậy. Vậy nguyên uỷ của giả thuyết bắt nguồn từ đâu?
Chúng tôi xin dịch một đoạn trong tiểu mục "Có phải Hồ Chí Minh đến từ Đài Loan hay không?" để xem ông Hùng dựa trên cơ sở nào:
Vài năm trước, một bằng hữu là thương gia Đài Loan buôn bán tại Việt Nam cho bút giả [tức tác giả Hồ Tuấn Hùng] biết: "Hồ Chí Minh là người họ Hồ ở Đồng La, Miêu Lật của ông đó, ông có biết không?". Cái tin nói rằng Hồ Chí Minh là người họ Hồ ở Miêu Lật, Đồng La lần này là lần thứ hai chính tai tôi nghe được khiến cho bút giả cảm thấy bùng lên một nghi ngờ. Liệu tin đồn này có thể giúp giải mật về thân phận Hồ Chí Minh hay không?
Trước đây vào khoảng thập niên 1960 [nguyên tác viết là Dân Quốc ngũ thập niên đại, tính theo kiểu Trung Hoa dân quốc thì chúng ta phải cộng với năm dân quốc 1911 là năm cách mạng Tân Hợi, nghĩa là 1911 + 50] cũng đã có một đảng viên Quốc Dân Đảng, trong một kỳ tế tổ từng hỏi cha tôi: "Hồ Chí Minh là người liên hệ với các ông thế nào?" đủ biết lúc ấy đã có tin đồn Hồ Chí Minh là người Miêu Lật nhưng chỉ lưu truyền trong họ Hồ gốc Miêu Lật, Quảng Đông mà thôi.
Một vị thầy thuốc họ Hà người Miêu Lật sang Đài Loan chơi cũng cho hay: Năm 1945, ông ta đi theo quân đội Quốc Dân Đảng sang Hà Nội [tức quân đội của Lư Hán sang tiếp thu và giải giới quân đội Nhật], có nghe phong thanh từ một người bán thịt lợn 3 cho hay là Hồ Chí Minh gốc người Miêu Lật, Đồng La, Đài Loan.
Một người anh họ tôi cũng cho biết, vào khoảng thập niên 1970, anh ấy đi cùng chú tôi đến bộ Ngoại Giao Đài Bắc để thăm hỏi tin tức về Hồ Chí Minh (tác giả mở ngoặc Hồ Tập Chương) ở Việt Nam ra thế nào, và thân phận ra sao, nhưng cũng không có đáp số nào cụ thể.
Từ lời nói của vị thương gia Đài Loan kia, nói rằng Hồ Chí Minh là người Miêu Lật, Đồng La, nguyên uỷ thế nào, khi hỏi đến các cán bộ Việt Nam cấp cao thì không đi thêm được gì nữa. Như vậy tin ở trên hẳn là các cán bộ trung ương của đảng Cộng Sản Việt Nam đều biết rõ quá trình sinh trưởng của Hồ Chí Minh, còn lưu truyền đến hôm nay nhưng không ai dám nói lên bí mật về thân phận của họ Hồ. [HCMSBK, trang 17]
Từ nghi vấn này, Hồ Tuấn Hùng khẳng định rằng Hồ Chí Minh [tức Nguyễn Ái Quốc] đã chết từ năm 1932 vì bệnh lao, theo báo cáo của nhà đương cục Anh tại Hương Cảng là đúng sự thực và sau đó là Hồ Tập Chương, một người Đài Loan đồng tộc với tác giả giả dạng theo cái kế mà người Trung Hoa gọi là "thâu long chuyển phượng" và "kim thiền thoát xác".
 
Lý giải của tác giả
Thực ra, chi tiết nhân vật Nguyễn Ái Quốc chết từ năm 1932 rồi còn sống quay trở lại chính trường đã được nhiều người nhắc đến, chính mật thám Pháp đã đối chiếu rất kỹ về nhân dạng, về hành tung khi ông xuất hiện dưới cái tên mới là Hồ Chí Minh năm 1945. Việc phủ nhận toàn bộ những sưu tra của Nha Liêm Phóng Pháp về thân thế của ông Hồ không phải dễ.
Trong suốt quyển sách, rất tiếc tác giả không đưa ra được một chứng cớ cụ thể nào để chứng minh giả thuyết ông Hồ Chí Minh sau này chỉ là một người Trung Hoa được nguỵ trang.
Tối thiểu tác giả cũng phải trưng ra một số hình ảnh của ông Hồ Tập Chương hồi trẻ để chúng ta so sánh với ông Hồ Chí Minh sau này nếu muốn tin rằng đó chỉ là một người, ngược lại ông chỉ sao chụp những hình ảnh trong các sách vở mà hầu hết chúng ta quen thuộc.
Trong suốt cuộc đời chính trị, Hồ Chí Minh dùng đến mấy chục tên khác nhau và hàng loạt nghề nghiệp, kể cả đóng vai chồng hờ trong những trường hợp đặc biệt để che dấu hành tung. Tuy hoá trang giỏi nhưng có lẽ cho đến ngày nay khó có ai có thể đóng giả một vai trong nhiều năm mà tình báo quốc tế cũng như người đối lập với ông không biết.
Điểm quan trọng nhất trước đây cụ Hoàng Văn Chí cũng đã nêu ra để nhận biết Hồ Chí Minh sau năm 1945 chính là Nguyễn Ái Quốc là cái tai nhọn rất khác thường mà không ai có thể giả tạo được. Hình đôi tai của Hồ Chí Minh đối chiếu với nhân dạng trong hồ sơ của chính quyền thuộc địa đã giúp người ta truy tầm ra lý lịch ông một cách chắc chắn.
Chính vì không có được những chứng cớ cụ thể hơn để củng cố cái "tin đồn của ông bán thịt lợn", Hồ Tuấn Hùng dùng phương pháp lý luận dựa trên những tài liệu về cuộc đời Hồ Chí Minh để chứng minh rằng Hồ Chí Minh sau này là một người Trung Hoa, không phải người Việt.
Ông cũng không đưa ra được một chi tiết nào khả tín khi khẳng định rằng hai đảng Cộng Sản Trung Hoa và Việt Nam đã đồng tình thực hiện âm mưu này mà Liên Xô không hay biết.
Cũng nên nói thêm, Hồ Tập Chương, người đóng vai ông Hồ Chí Minh sau này kém Nguyễn Ái Quốc 11 tuổi [theo năm sinh 1890 mà người ta ghi trên tiểu sử, mặc dù tuổi thật theo một số nguồn có thể còn cao hơn] và đây cũng là một điểm ông Hồ Tuấn Hùng dùng để chứng minh ông Hồ Chí Minh là giả hiệu mà chúng tôi sẽ đề cập đến sau.
1. Lý giải thứ nhất: Ông Nguyễn Ái Quốc [thật] dốt chữ Hoa, Hồ Chí Minh [giả] phải là người Trung Hoa mới có thể làm thơ được.
Để chứng minh rằng Hồ Chí Minh phải "dốt" chữ Hán, trong tiểu mục "Lịch trình học tập ngữ văn [tức Hán văn] của Nguyễn Ái Quốc", Hồ Tuấn Hùng viết:
Chúng ta thường thấy các tác giả Việt Nam viết trong tiểu sử Hồ Chí Minh là "Nguyễn Ái Quốc sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống nho học, từ nhỏ đã được học chữ Hán, căn bản chữ nho rất vững vàng, có thể làm thơ và viết chữ" nên nghe riết rồi tin. Thế nhưng từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là thời kỳ thực dân Pháp mới chiếm Việt Nam, hầu hết những gia đình quan lại hoặc giàu có, đều gửi con cái sang Pháp du học, rất ít người bằng lòng để cho con cái học chữ Hán, và sau khi phế trừ khoa cử khảo thí để tuyển nhân tài thì dường như không còn ai học chữ nho nữa. Phụ thân của Nguyễn Ái Quốc là người thân Pháp thì hẳn là phải hiểu điều này, tuy chính mình là do khoa cử xuất thân, nhưng chắc không khuyến khích con học Hán văn, ngược lại còn tích cực bắt con học Pháp ngữ và chữ quốc ngữ [là thứ chữ] mới lưu hành. (tr. 2578)
Quá xuống một chút, Hồ Tuấn Hùng làm tính rằng trước năm 1911 [là lúc ông Hồ xuất dương] thì tình hình rất long đong, Hồ Chí Minh làm gì có cơ hội mà ăn học. Theo lối tính của tác giả Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo, Hồ Chí Minh cho đến năm 21 tuổi không thể được học Hán văn quá 3 năm, còn tiếng Việt và tiếng Pháp không thể quá 4 năm rồi kết luận (tr. 258):
Nguyễn Ái Quốc chỉ được học Trung văn trình độ tiểu học khoảng 3, 4 năm, không thể nào đủ sức để viết những bài chuyên luận lưu loát trên các tạp chí chữ Hoa, cũng không thể nào có thể làm thơ "Nhật Ký Trong Tù", cũng không thể nào dùng bút lông để viết thư pháp, lại càng không thể dùng ngón tay để thay cho bút.
Vấn đề tác giả Ngục Trung Nhật Ký có thể không phải là Hồ Chí Minh đã được nhiều nhà nghiên cứu người Việt đề cập từ lâu, với những luận cứ khá xác đáng và minh bạch, nhưng không phải lý do ông Hồ Chí Minh "dốt" chữ Hán mà vì văn liệu có nhiều chi tiết không khứng hợp với những gì người ta biết về ông.
Quan trọng nhất, các tác giả người Việt đều đồng ý rằng tác giả thật của Ngục Trung Nhật Ký phải là một người lớn tuổi hơn Hồ Chí Minh chứ không thể nhỏ hơn đến 11 tuổi.
Vả lại, dù trước đây không được theo học đến nơi đến chốn thì trong khoảng hơn 30 năm từ 1911 đến 1943 [là năm Hồ Chí Minh bị tù], ông Hồ cũng có rất nhiều cơ hội để tự học thêm chữ Hán hay các ngoại ngữ khác, không thể căn cứ vào thời điểm xuất dương để hạn định học vấn của ông.
Việc cho rằng từ đầu thế kỷ XX, người Việt không còn ai học chữ Hán nữa cũng hoàn toàn sai lầm vì người Việt còn học chữ Hán rất lâu, không phải vì mục tiêu thi đỗ làm quan mà để "nối nghiệp nhà" hay "đọc được quyển gia phả" như các cụ thường nói. Cho đến tận ngày nay rất nhiều người Việt vẫn học chữ Hán - và cả chữ Nôm - để nghiên cứu sách vở của tổ tiên vì chữ Hán gắn liền với văn minh Việt Nam trong hàng chục thế kỷ.
Bản thân người viết cũng quen biết nhiều bằng hữu không đi học một trường nào, một lớp nào nhưng vẫn có thể đọc và làm thơ chữ Hán, sở học uyên thâm đến chính những người gốc Trung Hoa phải kinh ngạc. Những suy luận của ông Hồ Tuấn Hùng chỉ là một võ đoán không có cơ sở vững chắc.
Những giải thích cố chứng minh tác giả quyển Ngục Trung Nhật Ký phải là người gốc Khách Gia cũng có nhiều điểm đáng ngờ. Tác giả cho rằng chữ lung [bài số 8] người Trung Hoa không dùng khi nói về tù ngục, chỉ có người Khách Gia mới dùng, hay chữ tẩy diện [bài số 22] người Trung Hoa không dùng [mà phải là tẩy kiểm khi nói về rửa mặt, người Trung Hoa không dùng thân thân cước [bài số 109] mà nói là thân thân thối khi nói về duỗi chân ...
Thực sự, không riêng người Khách gia mà trong tiếng Việt những chữ lao lung, rửa mặt, duỗi chân ... rất dễ hiểu và thông dụng [người Việt cũng chẳng ai nói rửa má hay duỗi đùi] khiên lý giải của tác giả làm chúng ta càng nghi rằng những bài thơ trong NTNK quả do một người gốc Việt sáng tác [dù tác giả thực chưa hẳn đã là Hồ Chí Minh] nên đã dịch ra tiếng Hán một cách vô thức thay vì dùng những chữ mà người Trung Hoa thường dùng.
2. Lý giải thứ hai: Hồ Chí Minh trẻ hơn Nguyễn Ái Quốc 11 tuổi, không thể già như người ta nói
Để chứng minh tuổi "thật" của ông "Hồ Chí Minh" giả kia phải thấp hơn năm sinh 1890, Hồ Tuấn Hùng căn cứ vào câu sau đây trong bản di chúc ông Hồ viết năm 1969 để giải thích: "Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung quốc, đời nhà Đường có câu rằng nhân sinh thất thập cổ lai hy nghĩa là người thọ 70 xưa nay hiếm!".
"Năm nay tôi vừa 79 tuổi, đã là hạng người "xưa nay hiếm" nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khoẻ có kém so với vài năm trước đây ..."
Từ câu này, Hồ Tuấn Hùng lý luận:
Theo đoạn di chúc này, bút giả [tức Hồ Tuấn Hùng] nhận định rằng [câu này] phải là "nay tôi vừa sáu mươi chín tuổi" và đã bị sửa thành "nay tôi vừa bảy mươi chín tuổi", vết sửa còn ngấn rõ ràng. Câu di chúc đó phải hiểu như sau:
"Nhân sinh thất thập cổ lai hi, năm nay, tôi vừa đến tuổi sáu mươi chín, đã vào hạng người xưa nay hiếm rồi. Có như thế thì văn mới thông? ... Không lẽ ông Hồ Chí Minh là người thông hiểu Hán văn lại viết một câu mâu thuẫn kém ngữ pháp như thế?
Tiếp theo, Hồ Tuấn Hùng cho rằng Hồ Chí Minh [tức Hồ Tập Chương] khi đó mới 69 tuổi [sinh ngày 11 tháng 10 năm 1901] nên việc ông Hồ so sánh tuổi 79 với câu "nhân sinh thất thập cổ lai hy" là không phù hợp [mà chỉ 69 mới thích đáng] (tr. 313-4).
Chúng ta thấy lối giải thích này rất cưỡng từ đoạt lý. Nếu hiểu theo tiếng Việt thuần tuý, việc câu trước đưa ra "bảy mươi xưa nay hiếm" chỉ là một phá đề cốt nhấn mạnh vào câu sau với ý nghĩa, 70 đã hiếm, tôi đã 79 còn hiếm hơn, hoàn toàn không thể ép rằng như thế khi đó ông Hồ Chí Minh mới 70 tuổi tròn.
Điểm này chứng tỏ Hồ Tuấn Hùng - nếu quả có học tiếng Việt - thì trình độ cũng chưa đủ để nghiên cứu trực tiếp các văn bản Việt Nam [những tựa đề sách Việt ghi trong Thư Mục Tham Khảo ở cuối cuốn sách chúng tôi thấy đầy lỗi chính tả].
3. Lý giải thứ ba: Hồ Chí Minh [giả] rất "kém" tiếng Việt, dịch một câu ngắn cũng không thông [vì là người Hoa mới học].
Để chứng minh rằng Hồ Chí Minh [tức Hồ Tập Chương giả dạng] không rành tiếng Việt khi viết những bài xã luận đăng trên Cứu Vong Nhật Báo [năm 1940], Hồ Tuấn Hùng đưa ra một bài viết nhan đề Thiên Thượng Cố Muội có chú thích ngay bên cạnh bằng quốc ngữ "Ông Trời Có Mắt" [để trong ngoặc đơn].
Theo ông, nếu hiểu nghĩa câu "ông trời có mắt" một cách rành mạch thì phải dịch ra chữ Hán tương đương là Hoàng Thiên Hữu Nhãn mới phải. Từ so sánh này, Hồ Tuấn Hùng cho rằng khi đó vì mới học tiếng Việt nên ông Hồ Chí Minh [Hồ Tập Chương] đã hiểu sai một "cụm từ" rất thông thường (tr. 190-1).
Thực sự, nếu chúng ta suy nghĩ sâu thêm một chút thì biết ngay bốn chữ Thiên Thượng Cố Muội này không phải là tiếng Hoa [hiểu theo tiếng Trung Hoa thì có nghĩa là trên trời mờ tối, chẳng liên quan gì đến "ông trời có mắt"] và vì thế hai câu không ăn khớp.
Trái lại, nếu chúng ta đọc theo chữ Nôm - là một thứ chữ đặc biệt chỉ người Việt Nam có - thì bốn chữ này chính là Trời Có Mắt [chữ trời Hồ Tuấn Hùng lại tưởng hai chữ thiên 天 và thượng上 rời nhau, còn chữ mắt thì tác giả lại tưởng là chữ muội, nhật 日 + mùi 未, thực ra là mục 目 + mạt末].
Chính điểm này, chúng ta càng thấy rằng tác giả chưa tìm hiểu văn hoá Việt Nam đúng mức nên không nêu ra được những gì cần thiết để bảo vệ quan điểm của mình.
Ngoài các chi tiết lẻ tẻ không lấy gì làm đặc biệt nêu trên, Hồ Tuấn Hùng cũng cố chứng minh là Hồ Chí Minh [thực] không thể nào có khả năng để làm một bài thơ trong đó bao hàm những nét đặc trưng của văn minh Trung Hoa như chiết tự [bài 77] hay điển tích [bài 63] . Chiết tự đó ra sao mà ghê gớm thế?
Đó là chữ tù [囚], bỏ chữ nhân [人], thay chữ hoặc [或] thì thành chữ quốc [國 ]. Chữ hoạn [患] bỏ đầu [中] đi thì thành chữ trung [忠], chữ nhân [ 亻] đứng cạnh chữ ưu [憂J] thì thành chữ ưu [優] [là ưu điểm], chữ lung [籠] bỏ bộ trúc [竹] thì còn chữ long [龍].
Còn điển tích là những điển tích nào? Tích Bá Di, Thúc Tề không chịu ăn gạo nhà Chu nên lên núi Thú Dương, Quan Vũ nhận áo gấm của Tào Tháo nhưng bên trong vẫn mặc chiếc áo rách của chủ cũ ... Những điển tích rất thông thường ấy cũng được Hồ Tuấn Hùng cố chứng minh rằng là sở học gia truyền của dòng họ Hồ mà một người "mới học Hán tự vài ba năm" như Nguyễn Ái Quốc không thể biết được.
Luận cứ Hồ Tuấn Hùng để nhiều trang chứng minh rằng phải người Trung Hoa được học từ nhỏ là thư pháp [phép viết chữ Hán]. Xét những lần Hồ Chí Minh thăm Trung Hoa năm 1959, 1961 ông đã trổ tài đề chữ lưu niệm, theo Hồ Tuấn Hùng phải là "người học thuần thục tiếng mẹ đẻ mới làm nổi" đi đến kết luận Hồ Chí Minh không thể là Nguyễn Ái Quốc (tr. 305).
Ngay cả một vài câu thơ Đường khá phổ thông của Vương Xương Linh tác giả cũng cho rằng người Việt không thể biết (tr. 301-305).
 
Kết luận
Tuy mới xuất hiện, cuốn Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo gây xôn xao trong cộng đồng hải ngoại. Tiếng vang đó phần lớn bắt nguồn từ quan điểm chính trị của người Việt tị nạn Cộng Sản tò mò muốn biết thêm về mặt trái vị "lãnh tụ thần thánh" của chế độ Cộng Sản khi đọc một số chi tiết trên các mạng internet.
Đứng về mặt nghiên cứu, cuốn sách có ưu điểm dẫn được nhiều tài liệu tiếng Trung Hoa, tiếng Nhật [mặc dù phần lớn chỉ là những bài báo hàng ngày] để chúng ta có thể đọc thêm về hành tung của Hồ Chí Minh khi ông hoạt động tại ngoại quốc, nhất là trong phái bộ Borodin thời chính quyền Tưởng Giới Thạch còn "liên Nga dung Cộng".
Tuy nhiên, trong thư mục tham khảo tiếng Việt chúng tôi thấy hoàn toàn vắng bóng những nghiên cứu của các tác giả Việt Nam ở phía quốc gia trước và sau năm 1975. Chính những nguồn tài liệu này đóng góp nhiều vào việc soi sáng "chân diện mục" của Hồ Chí Minh hơn là một loạt những "toàn tập" và bài vở trích từ báo chí trong nước.
Một suy nghĩ chủ quan theo kinh nghiệm của người viết thì người Hoa giả làm người Việt khó hơn người Việt giả làm người Hoa. Thanh niên Việt Nam sống lâu năm tại ngoại quốc phát âm tiếng nước ngoài hầu như hoàn chỉnh trong khi những người Trung Hoa sinh trưởng và lớn lên tại Việt Nam dù rất lưu loát vẫn có âm sắc mà chúng ta nhận biết không phải là người Việt chính gốc.
Hơn thế nữa, vào thời kỳ 1930, Nguyễn Ái Quốc [sau này là Hồ Chí Minh] chỉ mới là một cán bộ cỡ trung, so với nhiều người khác ngay trong các cán bộ thuộc Á Đông Vụ ông cũng chưa phải là con bài sáng giá thì hà cớ gì đảng cộng sản Trung Hoa phải mất công dàn dựng cho người đóng giả?
Chẳng ai lại rỗi hơi "buôn" một ông vua trong khi chính những đầu não của Trung Hoa thời đó như Mao Trạch Đông, Chu Đức, Chu Ân Lai ... còn long đong, luân lạc, sống nay chết mai.
Tác giả cũng không cho biết một chi tiết cụ thể nào chứng minh những điều ông nghe được quả thực xảy ra, chưa kể nguồn tin vốn từ những người hoàn toàn không có thẩm quyền hay vai trò quan trọng. Ông "bán thịt lợn" hay thương gia Đài Loan đều vô danh, không ai biết tung tích ra thế nào.
Viết sử nếu chỉ dựa trên những "tin đồn" hay "nguồn tin riêng trong gia tộc" thì ít khi được công nhận một cách chính thức. Nghi án Hồ Chí Minh trong 37 năm sau cùng là một người Trung Hoa giả dạng thật không có gì đáng cho chúng ta tin.
..........................................................................
Dịch giả Nguyễn Duy Chính được biết đến qua các bản dịch tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung và các tiểu luận về văn hóa, lịch sử Trung Quốc. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả. Quý vị có đóng góp hay bình luận, xin gửi thư về vietnamese@bbc.co.uk hoặc sử dụng hộp tiện ích bên tay phải.
31 Tháng 12 2008 - Cập nhật 14h40 GMT
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2008/12/081231_hochiminh_book_review.shtml

Đọc thêm:
Hồ Chí Minh: 
"Đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi"

Trần Việt Bắc


Hồ Chí Minh là một nhân vật đầy bí ẩn, rất ít ai biết sự thật về người này, nhưng năm 2008, một tác giả ở Đài Loan là ông Hồ Tuấn Hùng (胡俊熊) đã xuất bản sách có tựa đề "Hồ Chí Minh sinh bình khảo" (胡志明生平考 - (1) "Tìm hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh") do nhà xuất bản Bạch Tượng Văn Hoá ở Đài Loan ấn hành. Sách này đã gây xôn xao trong dư luận, đặc biệt là từ khi dịch giả Thái Văn đã dịch sang tiếng Việt, vì chủ đề của sách này nói: Hồ Chí Minh từ năm 1933 về sau không phải là Nguyễn Ái Quốc, mà ông là một người Đài Loan gốc Hẹ (Hakka) hay Khách Gia là Hồ Tập Chương (Hu Ji Zhang 胡集璋), quê ở Đài Loan, huyện Miêu Lật, thôn Đồng La (2), lấy tên là Hồ Chí Minh và trở thành nhân vật số một của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Tác giả Hồ Tuấn Hùng (HTH) đã nêu lên khá nhiều chi tiết về Nguyễn Ái Quốc trước năm 1933, sau đó là về Hồ Chí Minh, người đã được ông cố chứng minh là Hồ Tập Chương. Tác giả đã nêu lên những chi tiết như hoạt động về chính trị, diện mạo, cuộc sống tình ái, bút tích, khả năng ngoại ngữ, cách viết, v.v... của hai nhân vật Nguyễn Ái Quốc và Hồ Tập Chương. Điều này đã có khá nhiều bài viết của những tác giả người Việt và rất nhiều lời bình phẩm trên các diễn đàn. Trong khi đó chính quyền Cộng Sản vẫn im hơi lặng tiếng.

Một phát giác của ông Hồ Tuấn Hùng đã làm chính tác giả phải "nhảy dựng" lên, người viết bài này chưa thấy ai bàn tới điều này (qua những bài viết đã đọc), đó là câu viết của chính Hồ Chí Minh, dưới bút danh Trần Thắng Lợi trong bài "Đảng ta", năm 1949. Có lẽ vì "vô tình" (?) nên Hồ Chí Minh đã viết câu: "Đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi" ("Nguyễn Ái Quốc đồng chí hòa ngã" trong "Hồ Chí Minh sinh bình khảo"). Câu này đã xác định rõ: Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc, hai người không phải là một như ông ta tự nhận, mà là hai người khác nhau?

Câu viết này đã tạo nên phản ứng ngầm một cách gián tiếp của đảng và nhà nước Cộng Sản, mà người viết sẽ trình bày thêm trong phần sau. Vậy nếu Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc thì ông ta là ai? Là Hồ Tập Chương như tác giả Hồ Tuấn Hùng đã viết? Chúng ta sẽ cố tìm hiểu thêm qua những nhận định trong sách "Hồ Chí Minh sinh bình khảo" của tác giả này.

A- Lời tự khai của Hồ Chí Minh

1- "Lạy ông tôi ở bụi này"?

Trong tiểu đề "Cùng lên vũ đài, một ẩn một hiện" (3) của dịch giả Thái Văn:

"Tháng giêng năm 1949, tạp chí "Sinh hoạt nội bộ" kỳ thứ 13 của Việt Nam có đăng tải một bài viết nhan đề "Đảng ta" do Hồ Chí Minh viết dưới bút danh Trần Thắng Lợi. Nhà xuất bản Chính trị Quôc gia đã đưa "Đảng ta" vào "Hồ Chí Minh toàn tập", tập 5, trang 547. Trong "Đảng ta" có một đoạn nói rất rõ ràng như sau: 

Cuối năm 1929, đồng chí Nguyễn ái Quốc trở lại Tàu, cùng với đại biểu các nhóm khai hội ở Hương Cảng. Trong 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn ái Quốc và tôi, nay chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và đồng chí Trịnh Đình Cửu, đồng chí Tản Anh và vài đồng chí nữa đều oanh liệt hy sinh cho Đảng và cho dân tộc lâu trước ngày Cách mạng Tháng Tám...

(Tác giả nhận định, nguyên văn "Tản Anh" là viết tắt của Lê Tản Anh. Hồi ký cách mạng "Giọt nước trong biển cả" của Hoàng Văn Hoan, trang 4 có đoạn viết về Lê Tản Anh là thành viên sáng lập nhóm "Tâm tâm xã").

Đọc đến đoạn văn xác thực này, tôi như muốn nhảy dựng lên. Tại làm sao mà trong một tập san chính thức của nhà nước lại xuất hiện câu văn: "đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi". Câu văn này há chẳng khẳng định, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh là hai người khác nhau đó sao? Năm 1929, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh cùng tham gia tổ chức Hội nghị Hương Cảng? Lúc mới đọc, tôi cho rằng có sự nhầm lẫn khi viết, sau đó đọc đi đọc lại nhiều lần, rà soát cẩn thận từng chữ, và đi đến kết luận là hoàn toàn không có chuyện nhầm lẫn làm tôi đặc biệt quan tâm" (HTH).

Qua đoạn văn này chúng ta thấy rõ là Hồ Chí Minh đã tự nhận ông ta là một người khác với Nguyễn Ái Quốc.

Tuy nhiên những gì người Cộng Sản nói thì chúng ta cần phải kiểm chứng lại một cách cẩn thận, vì theo như trong sách của ông Hoàng Văn Chí (4)  "Từ thực dân đến cộng sản - Một kinh nghiệm lịch sử của Việt Nam" (5), thì ông Hồ nhiều lần đã nói ông không phải là Nguyễn Ái Quốc:

"Nhân dân Việt Nam bắt đầu nghe tên Hồ Chí Minh từ tháng 8 năm 1945. Ngày 28 tháng 8 năm đó (nghĩa là ngay sau ngày Việt Minh cướp chính quyền) báo chí Hà Nội công bố thành phần Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới thành lập do ông Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Trước đấy, chưa ai nghe đến tên Hồ Chí Minh bao giờ, và mọi người đều thắc mắc về cái tên hơi kỳ lạ đó. Nhiều người cho rằng cái tên đó văn hoa quá không phải là tên thật mà chỉ là tên hiệu. 

Dư luận bàn tán về lý lịch ông Hồ Chí Minh, nhất là các nhân viên trong tân chính phủ hồi ấy lại càng băn khoăn hơn, và tất cả đều nóng lòng muốn biết rõ ông Hồ là ai và tên thật là gì. Nhưng rồi cũng chẳng phải chờ lâu, vì chỉ mấy hôm sau bắt đầu có tin đồn Hồ Chí Minh là tên mới của Nguyễn Ái Quốc, con người bí mật đã từng "khai sinh ra Đảng Cộng sản Việt Nam". 

Khi nghe tin đồn này, sở Mật thám Pháp đã lập tức lục lại hồ sơ để tìm ảnh Nguyễn Ái Quốc. Theo hồ sơ chính thức thì Nguyễn Ái Quốc đã chết ở Hồng Kông năm 1933. Khi đem so sánh bức ảnh đã phai nhạt của Nguyễn Ái Quốc với những tấm ảnh của ông Hồ bán đầy đường Hà Nội, sở Mật thám Pháp mới biết họ Nguyễn vẫn còn sống, và sau 10 năm ẩn náu trong bóng tối đã trở lại chính trường dưới cái tên Hồ Chí Minh. Các chuyên viên sở Mật thám Pháp quyết đoán Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc mặc dầu sau 20 năm gian khổ, vóc dáng và nét mặt họ Nguyễn có thay đổi rất nhiều. Bằng cớ là vành tai phải của hai bức ảnh đều nhọn, trong khi tai bên trái vẫn đều đặn. Nhưng ông Hồ cứ chối, nói rằng mình không phải là Nguyễn Ái Quốc. Ngay cả khi tướng Salan, đại diện Pháp dự cuộc đàm phán năm 1946, hỏi thẳng vào mặt ông Hồ, ông vẫn một mực chối cãi. 

Riêng đối với người Việt thì ông Hồ không chối thẳng nhưng cứ trả lời loanh quanh. Thí dụ như trong năm 1946, ông đáp tầu Dumont D'Urville trở về Hải Phòng sau hội nghị Fontainebleau. Cùng đi trên chuyến tàu này có bốn chuyên gia Việt Nam mà ông Hồ đón từ Paris về nước. Một trong bốn ông là ông Võ Quý Huân, có hỏi ông Hồ: "Thưa chủ tịch, chủ tịch có biết ông Nguyễn Ái Quốc hiện nay ở đâu không ạ?" Ông Hồ chỉ mỉm cười và đáp: "Chú tìm ông ấy mà hỏi, tôi đâu biết". 

Không những ông Hồ chỉ giữ kín lý lịch của ông mà đến quê quán gốc tích của ông, ông cũng hết sức bí mật. Trong một bản danh sách ứng cử quốc hội năm 1946, ông khai sinh quán ở Hà Tĩnh; nhưng hiện nay ai cũng biết rõ ông sinh quán ở Nghệ An. Việc này được phơi bày công khai năm 1958 khi một phái đoàn nhân viên sứ quán các nước xã hội chủ nghĩa viếng thăm quê hương ông Hồ. Sau cuộc viếng thăm, báo chí Hà Nội đã thú nhận ông Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc. Tạp chí Tranh ảnh Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Việt Nam Thông tấn xã (Bắc Việt) ấn hành, trong số tháng 8 năm 1960, có đăng bức ảnh Nguyễn Ái Quốc với dòng chữ chú thích "Đồng chí Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) năm 30 tuổi, đang bôn ba hoạt động ở hải ngoại". 

Mặc dầu lý lịch của ông Hồ đã được xác định rõ rệt, thế giới tự do vẫn không biết mấy về con người kỳ lạ ấy, và phần lớn những hoạt động của ông Hồ vẫn chỉ có Đệ Tam Quốc tế biết rõ mà thôi. Tất cả những điều ghi chép về ông Hồ chỉ là dựa vào tập hồ sơ mong manh của mật thám Pháp, Anh và những lời thuật lại của một vài người đã có dịp gặp ông. 

Vì thế muốn biết Hồ Chí Minh là ai chúng ta cần phải tìm hiểu nhiều hơn nữa. Riêng về vấn đề hình chân dung của Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh, người viết không dám lạm bàn vì đã có khá nhiều bài viết với những hình ảnh này.

2 - Bảy hay tám đại biểu tại hội nghị Cộng Sản Việt Nam năm 1930? 

Trong bản dịch của dịch giả Thái Văn, câu: "Trong 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn ái Quốc và tôi" khác với nguyên bản về số đại biểu, nguyên văn theo phiên âm Hán Nôm: "Tại trường đích thất vị đại biểu trung, trừ liễu Nguyễn Ái Quốc đồng chí hoà ngã" (6). Nguyễn Ái Quốc triệu tập đại hội, hẳn là ông biết rõ có bao nhiêu đại biểu tham dự. Có lẽ dịch giả Thế Anh đã lấy từ bản chính "Hồ Chí Minh toàn tập", ấn hành năm 2000, dạng PDF, tập 5, trang 1015, trong bài "Đảng ta" của Trần Thắng Lợi, bút hiệu của Hồ Chí Minh: "Trong 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi, nay chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và đồng chí Trịnh Đình Cửu, đồng chí Tản Anh và vài đồng chí nữa đều oanh liệt hy sinh cho Đảng và cho dân tộc lâu trước ngày Cách mạng Tháng Tám". Như thế tác giả Hồ Tuấn Hùng đã tham khảo sách "Hồ Chí Minh toàn tập" ở một lần xuất bản khác? Cũng tập 5, nhưng khác số trang là trang 547 thay vì 1015.

Tuy nhiên trong bản dịch, phần theo sau lại viết như nguyên bản:

"Chú thích (1): Bảy vị đại biểu tại Hội nghị gồm Hồ Tập Chương là phái viên liên lạc của Quốc tế Cộng Sản, đương nhiên đứng đầu danh sách, tuy nhiên tài liệu ghi chép danh sách không thể tìm thấy, có khả năng đã bị sửa chữa hoặc giấu đi. Chỉ biết, sau khi thành lập Đảng, có 7 (bảy) vị Ủy viên Trung ương. Căn cứ vào các tư liệu lịch sử còn lại, bảy Ủy viên là: Nguyễn Ái Quốc, Hồ Tùng Mậu, Trịnh Đình Cửu, Lê Tản Anh, Trần Văn Cung, Lê Hồng Sơn và Hồ Tập Chương."

Tài liệu của Đảng Cộng Sản viết khác, bảy đại biểu (7) là Nguyễn Ái Quốc (1890-1969), Hồ Tùng Mậu (1896-1951), Lê Hồng Sơn (1899-1933), Trịnh Đình Cửu (1906-1990), Nguyễn Đức Cảnh (1908-1932), Nguyễn Thiệu (1903-1989) và Châu Văn Liêm (1902-1930).

Như thế thì cuộc họp này có thể gồm 8 đại biểu, và người thứ 8 này là Hồ Tập Chương?

Tại sao Hồ Chí Minh lại viết như thế? Theo như ông Hồ Tuấn Hùng thì năm 1949, khi viết bài "Đảng ta", ông Hồ vẫn chưa chính thức nhận mình là Nguyễn Ái Quốc. Tác giả HTH viết:

"Việc này trong "Truyện Hồ Chí Minh" của William J. Duiker, trang 499 (8) đã viết rất rõ ràng: "Sau hai mươi năm giấu giếm thân phận, hiện tại Hồ Chí Minh 67 tuổi, cuối cùng ông cũng thừa nhận mình là Nguyễn Ái Quốc, để rồi các phương tiện truyền thông chính thức của nhà nước ra sức ca ngợi ông như một người suốt đời hy sinh vì lý tưởng cách mạng, phục vụ tổ quốc". Tiếp đó, tác giả (nv: Duiker) lại viết: "Trước đây, Hồ Chí Minh chưa thừa nhận mình là Nguyễn Ái Quốc, vì vào năm 1946, khi triệu tập Hội nghị Quốc dân đại hội, Bộ trưởng Lao động Nguyễn Văn Thái có đề nghị vinh danh Hồ Chí Minh là "công dân số một" của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa"....

"Nếu quả thật Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc cùng là người Việt Nam, liệu còn có động tác giấu đầu hở đuôi "người công dân số một" này không?" (HTH).

3 - Phản ứng gián tiếp của nhà nước Cộng Sản

Câu viết của Hồ Chí Minh: "Trong 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn ái Quốc và tôi," mà ông Hồ Tuấn Hùng nêu ra có lẽ đã làm Đảng Cộng Sản Việt Nam giật mình? Tháng 3 năm 2013, bài viết ""Đảng ta" ngày ấy - bây giờ" của Vũ Lân trong tạp chí Xây Dựng Đảng đã được phổ biến trên internet tại nhiều trang web khác nhau (9). Bài viết "Đảng ta" của Trần Thắng Lợi đã được nhắc lại, tuy nhiên đoạn văn:

"Trong 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn ái Quốc và tôi, nay chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và đồng chí Trịnh Đình Cửu, đồng chí Tản Anh và vài đồng chí nữa đều oanh liệt hy sinh cho Đảng và cho dân tộc lâu trước ngày Cách mạng Tháng Tám...

đã bị loại bỏ và thay bằng hai ngoặc đơn với 4 chấm ở trong "(....)".

Điều này chứng tỏ "Đảng ta" biết là đã bị hố và sa lầy vì sự việc bưng bít và lừa dối bấy lâu đã lộ ra và không biết làm sao có thể cứu vãn ?!

images/tvb_hcmdongchi1.jpg

B- Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương?

Theo như tác giả Hồ Tuấn Hùng thì:

"1 - Vào năm 1930, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh là 2 trong số 7, 8 đại biểu sáng lập Đảng Cộng Sản Việt Nam.

...

3 - Trước sau năm 1930, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh cùng làm việc ở Cục Phương Đông Thượng Hải thuộc Quốc tế Cộng Sản. Hai người thường qua lại Hương Cảng và Thượng Hải. Lúc ấy Hồ Chí Minh là phái viên của Cục Phương Đông Quốc tế Cộng Sản đến hoạt động ở Hương Cảng. Vậy thì người mang tên Hồ Chí Minh không phải Nguyễn Ái Quốc này là ai? Ông ta chính là phái viên Quốc tế Cộng Sản Hồ Tập Chương, thành viên tham gia Ban trù bị thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, được các yếu nhân của Trung cộng và Việt cộng hết sức giữ bí mật".

1- Sơ lược tiểu sử Nguyễn Ái Quốc (10)

Ghi chú: Tiểu sử này được viết theo sách "Hồ Chí Minh sinh bình khảo" của ông Hồ Tuấn Hùng.

Nguyễn Ái Quốc là con của ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (11) và bà Hoàng Thị Loan, là con thứ 3 trong 4 người con. Sinh ngày 19 (?) tháng 5 (?) năm 1890 (?) tại làng Kim Liên (gọi nôm na là làng Sen), xã Nam Liên (Kim Liên), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Tên hồi nhỏ là Nguyễn Sinh Cung (Công) sau đổi là Nguyễn Tất Thành.

Học chữ Hán từ năm 1900 đến 1904, học dự bị trường Quốc Học Huế từ 1905 đến 1908. Làm giáo viên trường tiểu học Dục Thanh ở tỉnh Phan Thiết.

Năm 1911 vào Sài Gòn, học nghề làm bếp, sau đó lên tàu Amiral Latouche Trevil làm phụ bếp với tên Văn Ba đi Singapore rồi sang Pháp. Đến Marseille năm 1913 sau đó đi Tây Phi, Bắc Mỹ.

Từ năm 1914 đến 1917, sống tạm ở Luân Đôn (London), học tiếng Anh, làm phụ bếp, rồi lại có việc trên tàu đi Nữu Ước (New York).

Cuối năm 1917, đến định cư tại Paris. Tại đây Nguyễn Tất Thành quen biết với các nhà cách mạng như Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc.

Năm 1919 quen biết với các chính khách Tả khuynh của Pháp, gia nhập đảng Xã Hội Pháp.

Năm 1920 gia nhập đảng Cộng Sản Pháp

Năm 1921, đảng Cộng Sản Pháp tuyên truyền phản đối Chủ nghĩa Thực dân. Nguyễn Ái Quốc bị mật thám theo dõi.

Tháng 6, năm 1923, đảng Cộng Sản Pháp gởi Nguyễn Ái sang Mạc Tư Khoa (Moscow) học về chủ thuyết Cộng sản, làm việc tại Cục Viễn Đông của Quốc Tế Cộng sản.

Tháng 6, năm 1924, tham gia Hội Nghị Cộng Sản quốc tế lần thứ 5 tại Mạc Tư Khoa (Moscow). Tháng 11 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (thủ phủ của tỉnh Quảng Đông) lấy tên là Lý Thụy, làm phụ tá cho Mikhail Borodin là đại diện Quốc Tế Cộng Sản Trung Hoa.

Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc v tham gia tổ chức"Tâm Tâm xã" sau đổi thành "Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí hội" ở Quảng Châu là tiền thân của đảng Cộng Sản Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo của Quốc Tế Cộng Sản.

Năm 1926, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc Quốc Dân đảng lần thứ II tại Quảng Châu.

Ngày 18 tháng 10 năm 1926, lấy Tăng Tuyết Minh ( Zheng Xue Ming 曾雪明) do Đặng Dĩnh Siêu là vợ của Chu Ân Lai và bà Thái Sướng giới thiệu và làm chứng.

Năm 1927, Quốc Dân đảng đàn áp đảng Cộng Sản, Nguyễn Ái Quốc sang Mạc Tư Khoa, rồi được cử đến Bỉ, Thũy Sĩ, Ý và Pháp. Từ giai đoạn này Nguyễn Ái Quốc không có bất cứ liên lạc gì với Tăng Tuyết Minh.

Năm 1928, theo tàu của Nhật đi Bangkok, Thái Lan để vận động Việt Kiều tham gia Cộng Sản. Tại đây Nguyễn Ái Quốc lập "Xiêm La Cách Mạng Đồng Chí hội".

Năm 1929, tại Bangkok, Nguyễn Ái Quốc mắc bệnh lao, ông phải ở lại đây để trị.

Đầu năm 1930, về lại Quảng Châu với tên Tống Văn Sơ, ngày 3 tháng 2 năm 1930, triệu tập đại hội thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam.

Năm 1931, làm đại biểu Quốc Tế Cộng Sản tại Hương Cảng. Chính quyền Anh hợp tác với Pháp, Nguyễn Ái Quốc bị bắt ngày 6 tháng 6 năm 1931 tại Hương Cảng. Được luật sư Loseby cứu, Nguyễn Ái Quốc được đưa đi Singapore nhưng nơi đây không nhận.

Năm 1932, Nguyễn Ái Quốc bị dẫn độ trở lại Hương Cảng. Luật sư Loseby đưa vụ kiện này về Luân Đôn. Tòa án ở Luân Đôn ra phán quyết phóng thích và trục xuất Nguyễn Ái Quốc ra khỏi Hương Cảng. Luật sư Loseby nhờ Paul Draken đưa Nguyễn Ái Quốc bay đến sông Hoàng Phố, sau đó đồng chí đưa ông về Thượng Hải.

Gần cuối năm 1932, Nguyễn Ái Quốc lên đường sang Mạc Tư Khoa, bệnh lao phổi tái phát và ông đã chết trên đường đi.

Nguyễn Ái Quốc đã được nhóm học sinh Việt Nam tại Đại Học Phương Đông ở Mạc Tư Khoa làm lễ truy điệu, có phái viên Quốc tế Cộng Sản đến chia buồn.

Sáu năm sau, năm 1938, Nguyễn Ái Quốc sẽ được thay thế bằng một nhân vật khác?

2- Hồ Tập Chương là ai?

Theo như tác giả Hồ Tuấn Hùng thì Hồ Tập Chương là người chú của ông, người Đài Loan, sinh ngày 11 tháng mười năm 1901 tại thôn Đồng La, huyện Miêu Lật, Đài Loan, thời Nhật đang chiếm đóng.

Cha là Hồ Dần Lượng, mẹ họ Lý, là người con thứ bảy trong 10 người con, học cả tiếng Hán lẫn tiếng Nhật. Đậu tốt nghiệp ưu hạng Đại học Công nghiệp Đài Bắc năm 20 tuổi. Từ năm 1922 đến 1928 về lại Miêu Lật làm nghề nấu rượu, bán thuốc đông y và sản xuất xì dầu.

Năm 1926, kết hôn với Lâm Quế, sinh con gái đầu là Hồ Tố Mai năm 1928 và năm 1930 sinh người con trai không biết mặt cha là Hồ Thự Quang.

Năm 1929 Hồ Tập Chương đi Thượng Hải tham gia đảng Cộng Sản Trung Hoa và sau đó trở thành Phái Viên Quốc Tế Cộng Sản.

Cuối năm 1931, Hồ Tập Chương bị Quốc Dân Đảng bắt ở Quảng Châu, sau đó được thả.

Năm 1933, Hồ Tập Chương (với bí danh P.C. Lin) bị gọi về Mạc Tư Khoa vì bị nghi ngờ là theo Lý Lập Tam (12), P.C. Lin "chịu sự điều tra của tổ 3 người gồm Dmitry Manuilsky, Vera Vasilieva và trùm đặc vụ Trung Quốc Khang Sinh" (13) và bị Khang Sinh đề nghị tử hình. Tuy nhiên P. C. Lin đã được Vera Vasilieva bảo trợ, vì thấy Hồ Tập Chương (P.C. Lin) có diện mạo khá giống Nguyễn Ái Quốc, cũng như có quá khứ tương tự, lại đã từng hoạt động chung nên đề nghị muốn "biến" ông này thành Nguyễn Ái Quốc, người đã bị chết vì bệnh lao năm 1932. Quốc Tế Cộng Sản đảng đồng ý, Hồ Tập Chương sau 5 năm huấn luyện đã biến thành Nguyễn Ái Quốc với bí danh Hồ Quang (14) và là Hồ Chí Minh sau này.

3- Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương, không phải là Nguyễn Ái Quốc?

Tác giả sách "Hồ Chí Minh sinh bình khảo" đã nêu ra những sự kiện để chứng minh về những nhận định này như sau:

a- Nguyễn Ái Quốc và Hồ Tập Chương bị bắt là hai việc khác nhau?

Theo những dẫn chứng của ông Hồ Tuấn Hùng, việc Nguyễn Ái Quốc bị bắt ngày 6 tháng 6 năm 1931 tại Hương Cảng và việc Hồ Tập Chương bị bắt mùa hè năm 1931 tại Quảng Châu là hai việc hoàn toàn khác nhau. Từ hai sự việc khác nhau này, chứng tỏ hai người là hai nhân vật khác nhau. Việc Nguyễn Ái Quốc bị chính phủ Anh bắt ở Hương Cảng, tin này đã được loan truyền rộng rãi qua báo chí. Việc xét xử qua chín phiên toà có tính cách công cộng, với phán quyết là việc trục xuất Nguyễn Ái Quốc.

Tuy nhiên việc Hồ Tập Chương bị bắt ở Quảng Châu lại có tính cách bí mật: "Vì có liên quan đến vụ Noulens nên các thành viên của tổ chức "Công hội Thái Bình Dương" trực thuộc Quốc tế Cộng Sản, đều bị truy bắt, phải bỏ Thượng Hải chạy về Quảng Châu, cuối cùng Hồ Tập Chương bị đặc vụ Quốc dân đảng bắt được vào mùa hè năm 1931" (HTH). Vì thời điểm nên hai sự kiện này bị gom lại thành một, với sự che đậy của Trung Cộng người ngoài chỉ biết đến việc Nguyễn Ái Quốc bị bắt.

Về việc Hồ Tập Chương bị bắt, ông Hồ Tuấn Hùng dẫn chứng bằng sự đối chiếu giữa ba nguồn khác nhau:

- Truyện "Mối tình nồng thắm giữa Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan" của Lương Ích Tân.

- Truyện "Hồ Chí Minh" của Ngô Trọc Lưu. Trong truyện này ông Hồ Tuấn Hùng viết:

"Ngô Trọc Lưu miêu tả Hồ Chí Minh bị bắt giữ chính là Hồ Tập Chương. Biết tin này, người em ruột của ông là Hồ Tập Dưỡng đã thông báo cho gia tộc biết, đó chính là người đến từ Miêu Lật, Đồng La, Đài Loan, từng được truyền khẩu trong ký ức của gia đình chúng tôi" (HTH).

- "Đài Loan nhật nhật tân báo":

"Từ tháng mười một đến tháng mười hai năm 1938, Hồ Chí Minh đột nhiên mất tích nửa tháng, trong nửa tháng này, thật kỳ diệu, tôi tìm được trong "Đài Loan nhật nhật tân báo". Liên kết "Đài Loan Nhật nhật tân báo" với ngày tháng Hồ Chí Minh mất tích, tôi đã tìm được câu trả lời rõ ràng. "Đài Loan Nhật nhật tân báo" số ra ngày 12 tháng 11 năm 1938 có bài viết: "Thông dịch viên quân đội Nhật là Hồ Tập Chương, người gốc Đài Loan, đã trốn khỏi nhà ngục Nam Thạch Đầu, Hà Nam (Quảng Châu). Sau khi tạm trú tại bản doanh quân đội Nhật Ōta, ông được tuyển vào làm thông dịch cho quan chỉ huy Nhật Bản Quân khu Quảng Đông Tiểu Lạp Nguyên Thái Úy" (HTH).

Từ những tham khảo trên, tác giả Hồ Tuấn Hùng đã đi đến kết luận Hồ Chí Minh chính là Hồ Tập Chương.

b - Chuyện hôn nhân và tình ái của hai nhân vật Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh

Để chứng minh Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc mà là Hồ Tập Chương, tác giả Hồ Tuần Hùng đã nêu lên những chi tiết về chuyện hôn nhân và tình ái của Hồ Chí Minh như sau:

- Nguyễn Ái Quốc và Tăng Tuyết Minh

Tác giả Hồ Tuấn Hùng lúc này đã coi như Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh là hai người khác nhau và Hồ Chí Minh chính là Hồ Tập Chương, nên ông phân định khá rõ ràng về chuyện hôn nhân tình ái của hai nhân vật này:

"Trước hết, cần phân biệt chuyện hôn nhân tình ái của Nguyễn Ái Quốc với Tăng Tuyết Minh, Nguyễn Ái Quốc với Nguyễn Thị Minh Khai khác với hôn nhân tình ái giữa Hồ Chí Minh với Đỗ Thị Lạc, Hồ Chí Minh với Nông Thị Xuân, Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan" (HTH).

Về Nguyễn Ái Quốc, tác giả đã tham khảo qua một số tài liệu và được tóm lược như sau:

Năm 1923, theo như William J. Duiker Nguyễn Ái Quốc đã từng quen biết với một cô gái người Pháp là Bourdon Breiere và theo giáo sư Nguyễn Thế Anh cô này là Bourdon và tác giả đi đến kết luận đây chỉ là một người: Bourdon Breiere.

Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc với tên là Lý Thụy đã kết hôn với Tăng Tuyết Minh (Zeng Xueming曾雪明) do vợ của Chu Ân Lai là Đặng Dĩnh Siêu giới thiệu. Năm 1926 Tăng Tuyết Minh mang thai, nhưng đã bị hủy vì "mẹ Tăng Tuyết Minh là Lương Thị, sau khi biết việc này, sợ con gái sinh cháu bé sẽ theo chồng đi mất nên đã tìm mọi cách ép nàng phá thai" (HTH). Tác giả cho biết thêm là vợ ông là cháu và gọi bà Tăng Tuyết Minh là "cô Mười", bà là người theo Công Giáo.

"Vợ tôi, đối với Tăng Tuyết Minh thuộc hàng cháu, thường gọi bằng "cô Mười". Từ khi sinh ra đến lúc qua đời bà đều sống ở Quảng Châu, là tín đồ trung thành của đạo Cơ Đốc, ngày đêm cầu khấn cho Lý Thụy bằng an. Năm 1988, khi tôi cùng vợ về Quảng Châu viếng thăm bà cô Mười, trong ký ức bà vẫn nhớ đến Hồ Chí Minh lúc chia tay từ mấy chục năm trước. Bà kể tường tận cho chúng tôi nghe về thời kỳ quen biết Hồ Chí Minh, nảy sinh tình cảm nam nữ rồi quá trình tổ chức hôn lễ rất xúc động. Tôi gửi lại bà tấm ảnh quý và bức thư ngày trước viết cho Hồ Chí Minh mà bà gửi tôi giữ hộ. Lúc ấy trong tay vợ tôi còn có chiếc nhẫn hồng ngọc mà Lý Thụy đã tặng bà cô Mười lúc đính hôn cùng với tấm rèm cửa cố vấn M. Borodin chúc mừng hôn lễ. Những vật kỷ niệm này được gia đình tôi coi như bảo vật truyền gia của người bà để lại" (HTH).

Tác giả cho biết thêm: "Người chủ trì hôn lễ lúc ấy là Thái Sướng và Đặng Dĩnh Siêu biết rõ Hồ Chí Minh năm 1950 không phải là Nguyễn Ái Quốc (Lý Thụy) năm 1926, chỉ biết giả câm giả điếc, biết rõ Tăng Tuyết Minh đau khổ mà không làm gì được" (HTH). Sau đó, năm 1927, Nguyễn Ái Quốc phải chạy trốn khỏi Quảng Châu rồi đi Mạc Tư Khoa và từ đó không bao giờ ông gặp lại Tăng Tuyết Minh, bà không lấy chồng khác và chết năm 1991 lúc 86 tuổi.

Năm 1930, Nguyễn Ái Quốc về Hương Cảng với tên là P.C. Lin, gặp Nguyễn Thị (Minh) Khai (NTMK) và sống với người này như vợ chồng. Năm 1935, Lê Hồng Phong và NTMK tham dự hội nghị Quốc Tế Cộng Sản 7, bà NTMK khai có chồng là P.C. Lin, tuy nhiên P. C. Lin, người đã giúp hai người này "sửa chữa, biên tập văn bản tham luận Hội nghị (bằng tiếng Nga), góp phần làm cho Đoàn đại biểu Đảng Cộng Sản Đông Dương hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc khiến Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai thật sự cảm động" (HTH). Tác giả nêu ra P. C. Lin ở đây không phải là Nguyễn Ái Quốc mà là Hồ Tập Chương người đang tập đóng vai Nguyễn Ái Quốc.

- Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan 

Năm 1930, Hồ Chí Minh đang ở Quảng Châu lúc này đang bị Quốc Dân Đảng truy lùng. "Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông Đào Chú đã bố trí một nữ đảng viên là Lâm Y Lan, đóng giả làm vợ Hồ Chí Minh để bảo vệ an toàn cho ông ta..." Hồ Chí Minh bị bắt nhưng ba ngày sau lại được cứu thoát". Theo như ông Hồ Tuấn Hùng thì Hồ Chí Minh lúc này là Hồ Tập Chương. Tuy nhiên những gì tác giả nêu ra không phải là từ những tài liệu mà là từ truyện "Mối tình nồng thắm giữa Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan" của Lương Ích Tân mà chính ông cũng biết:

"Đây là tác phẩm thuộc thể tài tiểu thuyết, từng đoạn, từng đoạn kể về cuộc tình của Hồ Chí Minh với Lâm Y Lan. Nội dung tác phẩm được thể hiện qua nhiều chi tiết khá lý thú, làm xúc động lòng người. Chỉ tiếc, các sử liệu được vận dụng, chỗ thì lắp ghép một cách khiên cưỡng, chỗ lại tập hợp trình bày nhảy cóc, nhất là đoạn nói về mối tình với Nguyễn Thanh Linh trong những năm 1930. Việc làm này dường như tác giả có ý đồ tạo ra sự lẫn lộn Hồ Chí Minh với Nguyễn Ái Quốc, đồng nhất hai người làm một, tô vẽ ông thành một nhân vật phi thường, mặc dù, trên thực tế, Nguyễn Thanh Linh chỉ là nhân vật hư cấu". 

Có một bài viết đăng trong Dương Thành vãn báo (羊城晚報, Báo Dương Thành buổi chiều) ngày 11-12-2011 cũng như trong báo "Nhân Dân" của Trung Quốc (15)  (www.people.com.cn) với đề tài "Một người vợ Trung Quốc khác của Hồ Chí Minh" (16) của tác giả Đinh Đông Văn và Việt Báo có đăng lại ngày 1 tháng 2 năm 2012  (17). Tuy nhiên nội dung cũng tương tự như truyện của Lương Ích Tân mà ông Hồ Tuấn Hùng đã nêu ra nguyên bản ở trong sách.

Tác giả truy tầm thêm tài liệu như "Truyện Hồ Chí Minh" của William J. Duiker về việc ông Duiker đã tham khảo từ, "các bài viết "Nhờ Đào Chú làm mối" và "Chuyện hôn sự của Hồ Chí Minh không nhỏ" của tác giả Lương Văn là xác thực" (HTH). Tuy nhiên ông Duiker với ghi chú số 54 trong chương "All for the front lines" (trang 668) đã nêu ra:

"Có thể ông Hồ muốn có một bạn đồng hành với mình là người Quảng Đông vì ông vẫn ấp ủ sự nhớ nhung người vợ đầu tiên là Tăng Tuyết Minh. Các nguồn khác không giải thích tại sao vai trò này không thể làm bởi một người Việt Nam. Chính phủ Trung Quốc đã gặp rắc rối vì có tới ba ứng viên trước khi bỏ ý định này. Khi nghe về dự án (tìm người) này, Chu Ân Lai đã bày tỏ sự lo ngại là việc này có thể khơi cảm giác chống Trung Quốc trong giới lãnh đạo của Đảng Cộng Sản tại Hà Nội" (18).

Trong ghi chú này, tại sao lại có tới ba ứng viên (three candidates) để làm người bạn đồng hành với ông Hồ. Chu Ân Lai và vợ là Đặng Dĩnh Siêu biết rõ Nguyễn Ái Quốc là ai, vì chính bà Đặng Dĩnh Siêu giới thiệu Tăng Tuyết Minh cho Nguyễn Ái Quốc và tham dự đám cưới. Đào Chú, lúc này (1966) đang là người thứ tư trong đảng Cộng Sảng Trung Hoa, ông là người cử Lâm Y Lan làm vợ Hồ Chí Minh và cũng biết rõ ông này là ai. Chính phủ Trung Quốc không thể đưa Lâm Y Lan gặp ông Hồ, cũng như không thể đưa Tăng Tuyết Minh đến gặp ông, nếu họ đã biết rõ ông Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc. Đây là việc mà đảng Cộng Sản muốn che dấu nếu Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương theo như ông Hồ Tuấn Hùng.

Hồ Chí Minh và Đỗ Thị Lạc

Tác giả Hồ Tuấn Hùng đã nêu tên một người khác có liên quan tình ái với Hồ Chí Minh là bà Đỗ Thị Lạc.

"Ngày 10 tháng 9 năm 1943, Hồ Chí Minh được phóng thích tại Liễu Châu, rất được Tư lệnh Đệ tứ chiến khu Trương Phát Khuê tín nhiệm, giao nhiệm vụ cải tổ Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội... Hồ Chí Minh tự tuyển chọn mười tám thanh niên cốt cán trở về Việt Nam làm công việc huấn luyện nhiệm vụ cách mạng" (HTH).

Một trong mười tám người này là Đỗ Thị Lạc. Tác giả trích dẫn một câu viết của

"sử gia Trần Trọng Kim trong hồi ký "Một cơn gió bụi": "Đỗ Thị Lạc có với Hồ Chí Minh một người con gái". Tuy nhiên, sau một thời gian sống chung với nhau ở Khuê Nam, Hồ Chí Minh dấn thân vào cao trào cách mạng, không bao giờ còn trở lại với Đỗ Thị Lạc nữa" (HTH).

Hồ Chí Minh và Nông Thị Trưng

Một người con gái khác có tên là Nông Thị Ngát (tên thật là Nông Thị Bảy) không thấy ông Hồ Tuấn Hùng nêu ra, cô này được Hồ Chí Minh với bí danh là "Già Thu" đổi tên là Trưng, ông Hồ trực tiếp dạy cô này 8 tháng ở Pắc Bó, Cao Bằng.

"Theo tạp chí Asia Times, Nông Thị Trưng là mẹ đẻ của Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 2001" với ghi chú số 6: "Trong tạp chí Asia Times, cơ quan của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, số 434 ra ngày 30 tháng 4 năm 2001 có đăng bài Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh trong ký ức của một người thầy nhân dịp Nông Đức Mạnh lần đầu được bầu làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, nói về cảm tưởng của thầy giáo cũ La Văn Ngâm dạy cấp 2 về học trò cũ Nông Đức Mạnh. Bài có đoạn tả thầy giáo này tìm đến nhà bà Trưng, thân mẫu Nông Đức Mạnh, trong đó có ghi rõ chú thích của tạp chí: "bà Nông Thị Trưng là thân mẫu đồng chí Nông Đức Mạnh" (Wikipedia).

Hồ Chí Minh và Nông Thị Xuân

"Năm 1955, một thiếu nữ là Nông Thị Xuân từ vùng biên giới tỉnh Cao Bằng được đưa về Hà Nội. Cô này khá xinh đẹp được chủ tịch Hồ Chí Minh để ý nên Ban Bảo vệ sức khỏe Trung ương đã bố trí làm y tá bên cạnh ông Hồ. Một năm sau, Nông Thị Xuân sinh với Hồ Chí Minh một bé trai. Đứa bé được bí mật gửi nuôi vài nơi, nhưng cuối cùng, thư ký riêng của Hồ Chí Minh là Vũ Kỳ đưa về nhà nhận làm con. Vào một ngày năm 1957, người ta phát hiện Nông Thị Xuân bị tai nạn ô tô chết bên đường chân Dốc Chèm..."

Để tổng kết về huyện hôn nhân tình ái của Hồ Chí Minh, tác giả viết:

"Cũng năm 1958, Hồ Chí Minh vì muốn hoàn thành tâm nguyện kết hôn cùng Lâm Y Lan nên đã nhờ Đào Chú, Chu Ân Lai giúp đỡ. Theo những bằng chứng đáng tin cậy, có thể thấy, Đặng Dĩnh Siêu, Thái Sướng biết rất rõ Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh không phải là một người, biết rõ Nguyễn Ái Quốc đã bị bệnh chết, càng rõ hơn, Hồ Chí Minh là kẻ bội bạc hôn nhân. Tuy nhiên, với Lâm Y Lan, Hồ Chí Minh lại đặc biệt dành tình cảm cho bà, khiến tôi vô cùng kính trọng và biểu đồng tình". 

C- "Nhật ký trong tù"

Một vấn đề khác mà tác giả Hồ Tuấn Hùng dùng để cố chứng minh Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc mà là Hồ Tập Chương, người gốc Đài Loan là khả năng ngôn ngữ, văn chương bằng tiếng Trung Hoa của hai nhân vật Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh. Đặc biệt ông phân tích "Nhật ký trong tù" với những chữ hay tiếng đặc biệt của người Khách Gia (người Hẹ) để dẫn chứng Hồ Chí Minh là người đến từ Miêu Lật, Đài Loan, cũng là quê quán của tác giả.

1- Khả năng về Hán văn của Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc

Tác giả HTH dẫn chứng "Hồ sơ Lư Sơn" viết là năm 1959, Hồ Chí Minh đến Lư Sơn (19), ông dùng ngón tay để viết thư pháp ba chữ "Lư Sơn hảo" (庐山好 )

"...Hồ Chí Minh thong thả nhúng ngón tay vào nghiên mực, viết ba chữ lớn: "Lư Sơn hảo" (庐山好 ) rồi lùi về phía sau hai bước ngắm nghía. Lâu Thiệu Minh liếc qua, rất khâm phục:

- Thưa Hồ Chủ tịch! Người viết chữ Hán thật tuyệt.

Sau khi viết "Lư Sơn hảo" bằng ngón tay, Hồ Chí Minh lại dùng bút tiểu khải viết 10 chữ nhỏ: "Hồ Chí Minh, tháng tám năm 1959" vào dòng lạc khoản để kỷ niệm chuyến thăm Lư Sơn"."

Tên một khách sạn
Tên một khách sạn sao lại theo cách viết bằng ngón tay của Hồ Chí Minh tại Lư Sơn, Quảng Tây

Tác giả cho là trình độ thư pháp của Hồ Chí Minh thuộc loại khá.

Còn Nguyễn Ái Quốc thì

"cho đến năm 1932, hầu như không thấy ông sử dụng Hán văn trong các bài viết, chưa nói đến trình độ viết thư pháp chữ Hán. Vì sao đến năm 1938, sau khi rời Mạc Tư Khoa về vùng biên giới Việt Trung hoạt động, Hồ Chí Minh lại đột nhiên sử dụng Hán văn, viết báo, làm thơ và viết thư pháp một cách thành thạo? Chúng tôi vô cùng nghi ngờ. Có thật Nguyễn Ái Quốc dùng ngón tay viết thư pháp? Có thật ông dùng Hán văn viết "Nhật ký trong tù"? (HTH)

Để nói về trình độ tiếng Trung Hoa của Nguyễn Ái Quốc, ông HTH dẫn chứng:

"Theo Đặng Dĩnh Siêu, vào thời điểm năm 1925, bà có dạy Nguyễn Ái Quốc học tiếng Trung, đến năm 1926 thì ông ta kết hôn với Tăng Tuyết Minh. Sự việc này đúng là có thực. Nói cách khác, đến năm 1927, trình độ nghe, nói, đọc và viết chữ Hán của Nguyễn Ái Quốc rất hạn chế".

Ông kết luận khả năng Hán văn của Nguyễn Ái Quốc:

"Dừng lại ở mức độ 3 đến 4 năm cấp tiểu học, tuyệt đối không có khả năng viết báo, tạp chí và những bài nghị luận trường thiên lời văn khúc chiết, đanh thép, không thể là tác giả của "Nhật ký trong tù", càng không có khả năng viết thư pháp bút lông hoặc "thư pháp ngón tay" chữ Hán". 

Hồ Tập Chương thì khác hẳn

"Lớn lên ở Đài Loan, từ nhỏ đã được giáo dục nền văn hóa Hán... Năm 1929, lúc ấy Hồ Tập Chương 29 tuổi, rời Đài Loan đến Thượng Hải, trình độ đọc và viết chữ Hán không thể sai sót, có khả năng viết thư pháp, nói tiếng Khách Gia Quảng Đông và tiếng Mân Nam Phúc Kiến lưu loát".

Ông HTH nhận xét là dùng khả năng Hán văn của Nguyễn Ái Quốc để liên kết với khả năng Hán văn của Hồ Chí Minh chỉ là một trò đùa dai.

Ông Bùi Tín trong bài "Vài chuyện đã rõ về ông Hồ" (20) cũng đã viết

"Tôi hoàn toàn tán đồng ý kiến của anh Phương Nam băn khoăn hoài nghi về tập thơ Ngục trung nhật ký, cứ như của người Tàu, phong cảnh Tàu, cảm khái Tàu, lịch sử Tàu, hồi tưởng Tàu, hình ảnh Tàu. Không một tên làng, tên huyện, tên tỉnh VN, không tên tuổi một anh hùng, di tích lịch sử VN, không một con sông ngọn núi VN. Chưa có nhà phê bình văn học thơ ca nào nghiên cứu kỹ về điểm này".

2- Những chữ của người Khách Gia hay dùng có trong tập thơ "Nhật ký trong tù"

Hồ Chí Minh bị bắt tại Quảng Tây ngày 27 tháng 8 năm 1942, 14 tháng bị giam qua 18 nhà tù. Trong thời gian bị tù ông đã dùng Hán văn để làm 134 bài thơ tên là "Ngục trung nhật ký" ( 獄中日記: Nhật ký trong tù). Theo như tác giả HTH thì ngoài khả năng Hán văn, người viết tập thơ này phải là người Khách Gia mới dùng những tiếng đặc biệt này, hơn nữa "vào thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng Đài Loan, phải là người từng cư trú tại địa bàn Khách Gia, thấm nhuần tư tưởng, tình cảm cộng đồng dân tộc, mới viết được những câu thơ hàm súc mang đặc trưng văn hóa Khách Gia như vậy" (HTH).

Lấy vài thí dụ vài bài về ngôn ngữ Khách Gia trong "Ngục trung nhật ký":

- Bài thơ với đề tài "Tảo" (Buổi sớm) dùng chữ "lung" là nhà giam hai lần. Tác giả HTH giải thích: ""Lung" (), tiếng Khách chỉ nhà giam, phòng giam. Người Khách Gia ở Miêu Lật bị vào nhà giam gọi là "nhập lung"(入籠), ra khỏi nhà lao gọi là "xuất lung"(出籠), giam trong nhà lao gọi là "quan lung"(關籠). Trong khi ấy, những từ với ý nghĩa trên ở Trung văn lại được gọi là "nhập ngục"(入獄), "xuất ngục"(出獄), "phục ngục"(服獄), hầu như không ai dùng chữ "lung". Trong "Nhật ký trong tù", từ "lung" được hiểu là "nhà giam", "nhà ngục" hoặc "nhà tù" được sử dụng ở hơn 10 bài thơ".

- Bài thơ với đề tài "Học dịch kỳ" ( 學奕棋Học đánh cờ) có câu "Công thủ vận trù vô lậu toán" ( 攻守運籌無漏著算) có nghĩa là "Tấn công phòng thủ không sơ hở". "Lậu toán"(著算): trong từ vựng Trung văn không có từ "lậu toán"... "Lậu toán" là loại ngữ từ tiêu chuẩn của người Khách Gia, chỉ sự tính toán sai lầm khi đánh cờ tướng" (HTH).

- Bài thơ với đề tài "Lạc liễu nhất chích nha" (落了一隻牙 Rụng mất một chiếc răng), ông HTH giải thích "Lạc liễu nhất chích nha", thực chất là một câu văn bất thông trong cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa Trung văn, nhưng lại là một phương ngôn rất thông dụng nếu phát âm theo cách của người Khách Gia, Miêu Lật,..."

- Bài thơ với đề tài "Nhất cá đổ phạm ngạnh liễu" (一个賭犯硬了 Một người tù cờ bạc chết cứng). ""Ngạnh liễu"(硬了) hàm ý chỉ sự chết, là một từ rất thông dụng trong ngôn ngữ Khách Gia Miêu Lật. Người Khách Gia thường nói "ngạnh liễu" thay cho "nhân tử liễu"(người chết) của Trung văn" (HTH).

3- Những chữ của người Khách Gia ở thời Nhật chiếm đóng (1895–1945) trong tập thơ "Nhật ký trong tù"

- Bài thơ với đề tài "Đổ" ( Đánh bạc ) có câu "Dân gian đổ bác bị quan lạp" (民間賭博被官拉). "Quan lạp" (官拉) là từ ngữ rất thông dụng của người Khách Gia, Miêu Lật. Thời Nhật chiếm đóng Đài Loan, nhân dân bị cảnh sát rượt đuổi gọi là "quan lạp" (HTH).

- Bài thơ với đề tài "Hạn chế" (限制) có câu "Xuất cung dã bị nhân chế tài" (出恭也被人制裁). ""Xuất cung"(出恭): Từ thời Nhật Bản chiếm đóng, người dân ở Miêu Lật, Đồng La gọi việc đến nhà xí đại tiện là "xuất cung"... Nhiều năm trước đó, học trò Miêu Lật, Đồng La thường xuyên vào Đại lục tham dự các kỳ thi của triều đình, nên khi về quê đã dùng từ "xuất cung" thay cho "đại tiện", nghe có vẻ trang nhã hơn. Từ "xuất cung" được lưu truyền cho đến ngày nay trở thành một thứ phương ngôn đặc thù của người Đồng La." (HTH).

- Bài thơ với đề tài "Nam Ninh ngục" (南寧獄) có câu (監房建築頂摩登 Giam phòng kiến trúc đính "ma-đăng") có nghĩa là nhà lao xây theo kiểu tân thời. ""Ma đăng"(摩登): Thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng Đài Loan, có một số từ nước ngoài du nhập vào Đồng La mà từ "ma đăng" vốn có nguồn gốc Anh ngữ (modern), nghĩa là "hiện đại" là một ví dụ" (HTH).

- Bài thơ với đề tài "Công kim" (工金 Tiền công). ""Công kim"(工金): Thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng Đài Loan có một số từ nước ngoài được du nhập vào hệ thống từ vựng Hán ngữ. "Công kim" chỉ tài sản công, tiền công" (HTH).

Đây chỉ là một vài thí dụ tiêu biểu được trích trong bản dịch của dịch giả Thái Văn. Tác giả Hồ Tuấn Hùng sau khi phân tích tập thơ "Ngục trung nhật ký", ông đã đi đến kết luận là càng chứng tỏ mình văn tài thơ phú hay, ông Hồ càng lộ rõ ra ông không phải là Nguyễn Ái Quốc mà là Hồ Tập Chương, chú của tác giả, một người Đài Loan:

"Tổng hợp những phần đã phân tích ở trên, chúng tôi đi đến kết luận, tác giả "Nhật ký trong tù" nhất định phải là người có đủ ba điều kiện sau đây:

1- Đối với ngữ văn Trung Quốc phải có trình độ cao, mà đối với nền Quốc học thường thức cũng phải đạt trình độ tương đối khá. Sáng tác được thơ trong "Nhật ký trong tù" tuyệt đối không phải là người chỉ có trình độ chữ Hán ba, bốn năm tiểu học.

2- Tác giả "Nhật ký trong tù" nhất định phải là người sắc tộc Khách Gia thuộc cộng đồng cư dân Miêu Lật, Đồng La, Đài Loan.

3- Tác giả "Nhật ký trong tù" phải là người Khách Gia thông thạo Nhật ngữ". 

D- Đảng CS cố chứng minh ông Hồ là Nguyễn Ái Quốc

Theo như ông Hoàng Văn Chí viết trong sách "Từ thực dân đến Cộng Sản", thì đến năm 1958 ông Hồ mới nhận mình là Nguyễn Ái Quốc "Việc này được phơi bày công khai năm 1958 khi một phái đoàn nhân viên sứ quán các nước xã hội chủ nghĩa viếng thăm quê hương ông Hồ. Sau cuộc viếng thăm, báo chí Hà Nội đã thú nhận ông Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc". Theo như tác giả HTH, sách "Vừa đi đường vừa kể chuyện" (VĐĐVKC) của tác giả Trần Đạt Nhân (T. Lan), cũng là ông Hồ, xuất bản lần đầu năm 1961 và sách "Tôi đã mấy lần được gặp Bác Hồ" của Nguyễn Lương Bằng năm 1965:

"Trần Đạt Nhân là bút danh của Hồ Chí Minh, Nguyễn Lương Bằng là Phó chủ tịch nước Việt Nam, hai người đều đồng lòng, nhất trí chế tạo Hồ Chí Minh tức Nguyễn Ái Quốc mà không bị lật tẩy bởi nhân chứng đã chết, Hồ Chí Minh vẫn đường đường chính chính tiếp tục sắm vai Nguyễn Ái Quốc".

Về việc Hồ Chí Minh gặp Paul Vaillant Couturier ở Thượng Hải, ông này từng là Ủy viên Trung ương Đảng Cộng Sản Pháp:

"Chiều tối hôm sau, Bác gặp đồng chí Vayăng Cutuyriê ở một địa điểm kín đáo. "Muôn dặm quê người gặp bạn thân!". Cả hai người vô cùng mừng rỡ, vừa cảm động nghẹn ngào... Hai anh em siết chặt tay nhau mà nói chuyện. Bác nói cho đồng chí Vayăng Cutuyriê biết hoàn cảnh khó khăn của mình" (VĐĐVKC).

Ông HTH cho đây là một sự ngụy tạo để gom Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh làm một vì ông Couturier đã mất từ 26 năm về trước, chả còn sống để làm chứng. Đến việc gặp gỡ luật sư Frank Loseby năm 1960, người đã biện hộ cho Nguyễn Ái Quốc năm 1931 ở Hương Cảng, tác giả HTH cho là

"căn cứ vào những động tác liên hoàn từ năm 1956, có thể phỏng đoán, Hồ Chí Minh có ý ngầm thông báo cho vợ chồng luật sư Loseby biết là, Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc, tin tức đăng trên các báo về sự kiện Nguyễn Ái Quốc chết bởi bệnh lao phổi chỉ là tin tức giả... nếu như Nguyễn Ái Quốc không chết, chân thành báo đáp ơn cứu mạng, vì sao đến mãi năm 1956 mới ba lần liên lạc với vợ chồng luật sư Frank Loseby, năm 1960 mới chính thức mời thăm?... Thử nghĩ, một ông già đã xấp xỉ 80 tuổi, sau 28 năm bặt vô âm tín, đặc biệt là người Âu Mỹ nhìn người phương Đông, liệu có khả năng phân biệt được thật giả? Hồ Chí Minh chơi trò bịp bợm chẳng qua là để vợ chồng Losely ghi nhớ "Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc" mà thôi".

Tuy nhiên trước khi Hồ Chí Minh công khai nhận mình là Nguyễn Ái Quốc năm 1958 thì trước đó một năm, 1957 ông Hồ về thăm quê của Nguyễn Ái Quốc ở Nghệ An.

"Thời gian này, song thân Nguyễn Ái Quốc đã qua đời từ lâu, một người anh là Nguyễn Sinh Khiêm mất vào năm 1950 và người chị là Nguyễn Thị Thanh cũng mất vào năm 1954. Ông Khiêm và bà Thanh, năm 1945 cũng đã ra Hà Nội gặp Hồ Chí Minh, vội vàng nói chuyện về thời thơ ấu rồi lại trở về quê. Vậy tình hình lúc gặp mặt ra sao, nói những chuyện gì, trước sau vẫn còn là một bí mật. Vì thế, vào năm 1957, khi Hồ Chí Minh về thăm quê hương Nguyễn Ái Quốc, những người trong làng, có thể nói, không một ai phát hiện ra vị Chủ tịch nước Việt Nam không phải là Nguyễn Ái Quốc. Huống hồ, các phe cánh đối lập như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh cũng lưu lạc ở Trung Quốc Đại lục, chết vì bệnh tật chốn tha hương. Hồ Chí Minh đến lúc này mới vượt qua các trở ngại, hoàn thành kế hoạch "dời hoa tiếp cây", thay thế vai trò Nguyễn Ái Quốc do Quốc tế Cộng Sản sắp đặt" (HTH).

E- Kết luận

Trong sách "Hồ Chí Minh sinh bình khảo" tác giả Hồ Tuấn Hùng đã đưa ra khá nhiều bằng chứng và nhiều lúc đã xác định Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc mà là Hồ Tập Chương, người Đài Loan ở huyện Miêu Lật, thôn Đồng La. Tuy nhiên đến phần cuối thì ông viết: "Ngày nay, khi luận về thân thế Hồ Chí Minh và công lao của ông, chúng ta nên để cho lịch sử phán xét. Lấy việc Hồ Chí Minh nhận lời phỏng vấn ký giả ngoại quốc làm cơ sở kiểm nghiệm, có phải ông đã thành tâm thể hiện lòng trung thành với nhân dân Việt Nam qua những lời hứa hẹn?". Người viết xin góp ý là phải đổi câu "công lao của ông" thành câu "tội lỗi của ông đối với dân tộc Việt Nam".

Theo như hệ thống tư pháp ngày nay tại các nước dân chủ. Một phiên tòa (theo như sự hiểu biết rất sơ sài của người viết) gồm có chánh án, bồi thẩm đoàn, công tố viên, luật sư biện hộ, nhân chứng và nghi can. Nghi can là ông Hồ Chí Minh. Công tố viên là những người kết tội ông. Nhân chứng là những nạn nhân dù trực tiếp hay gián tiếp. Luật sư biện hộ là những người Cộng Sản bênh vực ông, những tác giả đã phủ nhận việc ông là người Đài Loan. Bồi thẩm đoàn là các độc giả, những người đọc, biết về sự kiện, biết các bằng chứng. Chánh án sẽ là người dân Việt. Bản án sẽ là những trang sử được ghi lại về việc này. Người viết chỉ là một trong những người đi tìm hiểu, để biết thêm về những bí ẩn trong lịch sử cận đại, muốn nêu ra đây để chia sẻ với bạn đọc, với hy vọng chúng ta sẽ có một bản án (verdict) sớm hơn để ghi lại trong trang sử Việt cho hậu thế.

10/2013

Trần Việt Bắc
___________________________________

Tài liệu tham khảo:

1- Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo-Tìm hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh, dịch giả Thái Văn.
2- 胡志明生平考 - Hồ Chí Minh sinh bình khảo, tác giả Hồ Tuấn Hùng.
3- Hồ Chí Minh Những năm tháng chưa được biết đến Sophie Quinn‐Judge.
4- Từ thực dân đến cộng sản, tác giả Hoàng Văn Chí.
5- Ho Chi Minh, a life, tác giả William J. Duiker. 
6- Một nghi án lịch sử Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh, tác giả Trần Bình Nam.
7- Hồ Chí Minh - Người Việt hay Người Tàu, tác giả Phạm Đình Lân.
8- Ý kiến nhà báo Bùi Tín về cuốn "Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo" của Hồ Tuấn Hùng.
9- HCM - Nguyễn Ái Quốc- Nguyễn Sinh Cung, ba không thể là một, tác giả Nguyễn Gia Định.
10- Giọt Nước Trong Biển Cả, tác giả Hoàng Văn Hoan.
11- Hồ Chí Minh là người Việt Nam hay Đài Loan, tác giả Phạm Quế Dương.
12- Ông nội và người cha của Hồ Chí Minh, tác giả Tường Lam Hồ Sĩ Sênh.
13- Có mấy Hồ ông? Tác giả Vũ Thế Phan.
14- Ai là tác giả những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc, tác giả Thụy Khuê.
15- Đảng CSVN phiên bản của tình báo TQ, tác giả Huỳnh Tâm.
16- Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, đảng Cộng Sản Việt Nam.
17- HỒ CHÍ MINH, tác giả Nguyễn Thiên Thụ.
18- HỒ CHÍ MINH - Nhận Định Tổng Hợp, tác giả Minh Võ.
19- Nhận xét về cuốn Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo, tác giả Nguyễn Duy Chính.
20- Nghi Án Thế Kỷ Về Hồ Chí Minh, tác giả Trần Gia Phụng.
21- Nhận định về Hồ Tập Chương trong tác phẩm "Sinh bình Khảo", tác giả Nhóm Hành Khất.
22- Những phút cuối đời của Hồ ông: Ai bốc phét, ai nói láo? Tác giả Hàn Lệ Nhân.
23- Niềm tin của tôi bị lung lay, tác giả Bà Đầm Xòe.
24- Thêm những nghi vấn về Hồ Chí Minh, tác giả Xích Tử.
25- Truyền thông và cuộc chiến giải trừ gian dối, tác giả Bảo Giang.
26- Vừa đi đường vừa kể chuyện, tác giả T. Lan (Hồ Chí Minh).

Chú thích:

(1) http://tw.myblog.yahoo.com/hgfds198/article?mid=-2&prev=251&l=a&fid=10
(2) Nguyên văn: 胡集璋誕生於日據時代的台灣省苗栗郡銅鑼庄 (Hồ Tập Chương đản sinh ư Nhật cứ thời đại đích Đài Loan tỉnh, Miêu Lật quận, Đồng La trang)
(3) Nguyên văn trong "Hồ Chí Minh sinh bình khảo": 同登舞台一顯一隱 "Đồng đăng vũ đài nhất hiển nhất ẩn"
(4) Học giả Hoàng Văn Chí là người đã từng hợp tác với Việt Minh từ năm 1949 đến 1953, năm 1954 di cư vào Nam, năm 1960 qua sống tại Pháp. Năm 1965 sang định cư tại Hoa Kỳ theo lời mời của bộ Ngoại Giao, mất tại Maryland 1988.
(5) Nguyên bản: "From Colonialism to Communism" bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. Sách được dịch ra trên 15 ngôn ngữ. Đây là tài liệu đầu tiên do một người Việt viết bằng ngoại ngữ để phê phán chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam. Sau này ông dịch sách sang tiếng Việt, với tên "Từ Thực dân đến Cộng sản", bút hiệu Mạc Định.
(6) Nguyên văn: 在場的七位代表中,除了阮愛國同志和我
(7) Theo http://vi.wikipedia.org/wiki - Đảng Cộng sản Việt Nam
(8) Bản dịch của dịch giả Thái văn ghi là trang 449, có lẽ ghi lại nhưng bị lầm. Bản tiếng Anh của Duiker là trang 499.
(9)  http://cti.gov.vn/component/content/article/150-chi-bo/620-ng-ta-ngay-y-bay-gi
http://www.xaydungdang.org.vn/Home/dien-dan/2013/5954/Dang-ta-ngay-ay-bay-gio.aspx 
http://danchinhdang.thuathienhue.gov.vn/?gd=5&cn=90&newsid=9-20-1265
(10) Người viết tóm tắt lại theo như tác giả sách "Hồ Chí Minh sinh bình khảo".
(11) Cũng gọi là Nguyễn Sinh Huy.
(12) Lý Lập Tam (Li Lisan李立三1899-1967) là một nhà lãnh đạo cấp cao của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong giai đoạn đầu, là người nắm thực quyền lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc trong thời gian 1928-1930 (theo Wikipedia).
(13) Khang Sinh (Kang Sheng康生1898 - 1975) đã là người đứng đầu cơ quan an ninh và gián điệp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và sau này đã bị truy tố cùng với Tứ nhân bang (theo Wikipedia).
(14) HTH: "Mùa xuân năm 1930, con trai trưởng Hồ Thự Quang ra đời nhưng không biết mặt cha. Tôi có hỏi về mối quan hệ giữa Hồ Chí Minh với gia đình qua những thông tin trên báo chí, Hồ Thự Quang vào năm 2005 đã 75 tuổi, bị trúng gió nhẹ, cặp mắt hơi lệch, nói câu được câu mất: "Lúc còn nhỏ, bác Ba (Hồ Tập Phỉ) từng nói với tôi: 'Cha cháu làm nghề buôn bán ở Thượng Hải'. Khi tôi mười lăm, mười sáu, chú Út (Hồ Tập Dưỡng) lại bảo: 'Cha cháu có khả năng là Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt Nam". Chú Thự Quang thở dài nặng nhọc, nói đứt quãng: "Mấy chục năm nay đã nghe nhiều tin đồn, chẳng biết có dụng ý gì. Chú muốn hỏi thân mẫu nhưng bà đã qua đời. Từ lúc phụ tử phân ly, mỗi người một phương, chưa từng gặp mặt, cũng chẳng để lại một dòng lưu bút nào. Được tôn xưng là 'Cha già Việt Nam', nhưng chú chắc rằng, trong lòng ông lúc nào cũng thương cảm mà thôi". Nói rồi, ông đứng dậy, nghẹn ngào. Tôi vội vàng đỡ lấy, an ủi: "Thời tao loạn, tạo hóa trêu ngươi. Từ lúc chính phủ Quốc dân đảng tiến nhập Đài Loan, ông không thể về, chứ không phải không muốn về. Tiểu thúc công chẳng đã từng nói, trên hành trình bôn ba, Người lấy tên Hồ Quang làm bí danh, đó chẳng phải là tình cảm của Người với gia đình sao?"
(15) http://www.people.com.cn/h/2011/1112/c25408-3037425915.html
(16) "胡志明的另一个中国爱人" ( Hồ Chí Minh đích lánh nhất cá Trung Quốc ái nhân)
(17) Báo TQ Kể Mối Tình HCM Với Lâm Y Lan; Lê Duẫn Tố Ông Hồ Phản Bội Lời Hứa Không Lấy Vợ, Làm Đảng CSVN Mất Hết Danh Tiếng (http://vietbao.com/D_1-2_2-282_4-186721/) 
(18) W. J. Duiker, note 54. "... Ho probably wanted a companion from Guangdong because he still cherished the memory of his first wife, Tang Tuyet Minh. Other sources provide no explanation as to why the role could not have been played by a Vietnamese. The Chinese government had gone to the trouble of locating three candidates before dropping the idea. On hearing about the project, Zhou Enlai had expressed the concern that it could arouse anti-Chinese feelings within the Vietnamese Party leadership in Hanoi".
(19) Lư Sơn ở trong tỉnh Quảng Tây, khoảng 15 Km phía đông bắc của tỉnh Quế Lâm
(20) http://m.voatiengviet.com/a/1606014.html
(21) Không biết tác giả Hồ Tuấn Hùng lấy cái tên Trần Đạt Nhân từ tài liệu nào, theo như một số tài liệu thì tác giả sách "Vừa đi đường vừa kể chuyện" là T. Lan, cũng là bút danh của ông Hồ Chí Minh.

Nguồn: Dân Làm Báo  - danlambaovn.blogspot.com

Đọc thêm:

Nguyễn Duy Chính, Nhận xét về cuốn Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo, 2008.
Phạm Quế Dương, Đề nghị làm sáng tỏ vụ việc: Chủ tịch HCM là người VN hay Đài Loan, 2013
Thiên Ðức, Vụ án buôn vua Việt Nam Hồ Chí Minh, 2009
Vũ Thư Hiên, 'Tác phẩm giả tưởng' về Hồ Chí Minh, 2013
Vũ Quang Hiển, VN 'thiếu tư liệu về Hồ Chí Minh', 2013
Nhóm Hành Khất, Nhận định về Hồ Tập Chương trong tác phẩm "Sinh bình Khảo", 2013
Tạ Nhất Linh, Bàn về Hồ Chí Minh - Hồ Tập Chương, 2013
Thiên Nam, Quả lừa lịch sử: HCM / CSVN-CSTQ cướp chính quyền VN, 2011
Trần Bình Nam, Một nghi án lịch sử Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh: một hay hai người? 2013
Bùi Tín, Những luận điệu hoang tưởng, bịa đặt, 2009
Đặng Huy Văn, Tôi không tin Hồ Chí Minh, Hồ Tập Chương là một! 2013.


Hồ Tuấn Hùng, Hồ Chí Minh sinh bình khảo, 2008