Search This Blog

Sunday, April 21, 2019

Mùa Phục Sinh, Giáo Hội làm thế nào để sống lại? (Phần II)

Đinh Từ Thức 
image.png

(Tiếp theo phần I)
Trong cuộc khủng hoảng lớn Giáo Hội Công Giáo đang phải đối phó, tai nạn xâm phạm tình dục do giáo sĩ gây ra chỉ là phần đầu của vấn đề. Phần này, mọi người có thể đồng ý qua cái nhìn giống nhau, nó quá ghê tởm, và phải đối phó bằng mọi giá. Chuyện tiếp theo, muốn chữa bệnh, phải biết căn bệnh, rồi mới tính chuyện chữa như thế nào. Đến đây, cuộc khủng hoảng thành lớn hơn, gây chia rẽ trong Giáo Hội, vì không thể đồng ý về nguyên nhân gây bệnh. Thay vì cùng nhau đối phó với căn bệnh, người trong nhà “choảng nhau”, cố gắng loại trừ “đối phương” để phe ta rảnh tay chữa trị theo ý mình. Rút cục, cuộc khủng hoảng ngày càng trầm trọng và lan rộng hơn. Nạn chia rẽ trong Giáo Hội, từ hàng lãnh đạo cao cấp, trung cấp, sẽ lan đến giáo dân. Nếu “một gia đình chia rẽ không thể đứng vững,”như lời Chúa phán, một Giáo Hội chia rẽ sẽ ra sao?
Trong phần I, sự khác biệt quan điểm như trắng với đen giữa hai vị Giáo Hoàng đã được trình bầy. Nội dung bài này là quan điểm của một vị lãnh đạo Giáo Hội ở cấp thấp hơn, một Giám Mục đứng đầu một giáo phận ở Úc; đất nước có giới chức cao cấp nhất của Giáo Hội là Hồng Y George Pell mới bị toà án thế tục kết án tù giam vì bị tố cáo xâm hại tình dục. Đây là lời trình bầy của Giám Mục Vincent Nguyễn Văn Long, người Úc gốc Việt, một thuyền nhân. Quan điểm của Đức Cha Long khá gần với Giáo Hoàng Francis và tất nhiên, tương phản với lối nhìn của Giáo Hoàng Benedict.
Giám Mục Nguyễn Văn Long ra đời năm 1961, tại Gia Kiệm, thuộc Địa Phận Xuân Lộc hiện nay ở Việt Nam. Bắt đầu đi tu ở VN khi 11 tuổi, vượt biên sang Úc năm 1980 và nhập Dòng Phan Xi Cô tại đây. Làm linh mục năm 1989; vị chủ sự lễ truyền chức không ai khác hơn là Giám Mục George Pell, và khi được tấn phong Giám Mục năm 2011, vị đồng tế trong nghi lễ trọng thể này cũng là Hồng Y George Pell. Khẩu hiệu trong huy hiệu giám mục của Đức Cha Long là “Duc In Altum”, trích lời Chúa bảo Phê Rô đại ý “hãy ra chỗ sâu thả lưới để bắt được nhiều cá” (Luk 5:4). Đức Cha thuyền nhân đã ra chỗ sâu, vượt đại đương, và trong sứ vụ bắt cá, tại đất mới, theo lời tiết lộ trước Uỷ Ban Hoàng Gia tìm hiểu về các cơ sở đáp ứng với lạm dụng tình dục trẻ em (Royal Commission into Institutional Responses to Child Sexual Abuse) chính Ngài cũng từng là một nạn nhân bị xâm hại tình dục, khi không còn là trẻ em.
Sau đây là diễn từ của Đức Cha Vincent Nguyễn Văn Long, Gám Mục Paramatta (Úc), nói tại Hội Luận Công Giáo Quan Tâm của Canberra và Goulburn (Concerned Catholics of Canberra and Goulburn Forum), ngày 11 tháng 9, 2018, đề tài Vai trò của tín hữu thời gian sau Uỷ Ban Hoàng Gia [điều tra] về Giáo Hội Công Giáo tại Úc (The Role of the Faithful in a post-Royal Commission Church in Australia). Do catholicoutlook.org đăng ngày 28 tháng 9, 2018. Nguyên văn tiếng Anh, do ĐTT dịch sang tiếng Việt và chú thích.

clip_image002
Đức Cha Vincent Nguyễn Văn Long, Giám Mục Paramatta, Úc.
………
“Những sự việc trong mấy tuần qua, kể cả những cáo giác sôi nổi chống lại Giáo Hoàng Francis bởi nguyên Khâm Sứ Toà Thánh tại Hoa Kỳ đã gây ra tình trạng xáo trộn trong Giáo Hội. Cuộc khủng hoảng xâm hại tình dục đã tràn ngập toàn Giáo Hội như một cơn sóng thần có sức tàn phá gây ra thiệt hại lâu dài, chao đảo, và ngay cả phân ly (xin lưu ý các bạn, hiện đã có sự phân ly thầm lặng trong đó đa số người Công Giáo Úc đã giản dị bỏ việc hành đạo).
Là cuộc khủng hoảng lớn nhất từ thời cải cách (Reformation–biến cố phát sinh đạo Tin Lành do Linh Mục Martin Luther khởi động vào thế kỷ 16) và nó phơi bầy sự xung khắc về ý thức hệ đã ăn sâu và lan rộng trong Giáo Hội hoàn vũ.
Động lực chống lại Giáo Hoàng Francis đã tăng tốc cuộc tấn công toàn diện chống lại Ngài bằng thái độ phối hợp và hiểm độc. Bao tay rõ ràng đã được tháo ra và họ đã nắm lấy sự xáo trộn này như một cơ hội phá hoại Giáo Hoàng và làm hư tiến trình cải tổ của Ngài. Làm cách nào mà thời gian đã thay đổi Giáo Hội Công Giáo như thế!
Chỉ mới gần đây thôi, chỉ trích chống lại một đương kim giáo hoàng vẫn còn là một điều tối kỵ (absolute anathema).
Bây giờ, giầy đã ở chân người khác, và “bắn sẻ” Giáo Hoàng trở thành môn thể thao trong một vài nhóm Công Giáo.
Điều cũng đáng lưu ý là có một số giám mục đã tự chọn gia nhập các thế lực này, và không cần che dấu thái độ của họ không chấp nhận đường lối lãnh đạo Giáo Hội của Giáo Hoàng. Rõ ràng thuyền trưởng Francis sẽ phải dẹp yên cả bão táp lẫn nổi loạn trên tầu. Tôi chỉ hy vọng và cầu xin Ngài có thể giữ vững tay lái, bởi không có gì kém hơn một cuộc thay đổi sâu xa và toàn diện mới có thể phục hồi được sự yên tâm và tin tưởng trong Giáo Hội.
Tôi phải mau lẹ thêm rằng trong khi vô cùng thoả mãn với luồng gió cải tổ thổi từ Santa Marta (Chung cư Thánh Marta, nơi cư ngụ của Giáo Hoàng Francis, thay vì tại Điện Giáo Hoàng, như các giáo hoàng tiền nhiệm), tôi không tin rằng nó đủ để mang tới sự thay đổi sâu xa và toàn điện mà Giáo Hội cần vào thế kỷ 21. Đừng để chúng ta bị du vào ảo tưởng: Sự thay đổi chúng ta tìm kiếm không phải chỉ về thái độ của các giới chức, nhưng là về cấu trúc và văn hoá của Giáo Hội.
Chung cuộc, Giáo Hoàng Francis có thể bị vấp ngã từ tiến trình cải tổ của Ngài, và kết cục, tất cả chúng ta sẽ trở lại lạc hậu. Nhiều người trong các bạn đã trải qua thời kỳ Giáo Hội lên bổng xuống trầm sau Công Đồng Vatican II. Các bạn biết sự chán nản của hy vọng đổ vỡ và những giấc mơ không trọn vẹn. Chúng ta không còn cách nào khác hơn là, từ sau khi chịu phép rửa, chúng ta đã thuộc về Giáo Hội, chúng ta có bổn phận buộc giới lãnh đạo Giáo Hội phải có trách nhiệm về việc làm của họ.
Hơn nữa, thay đổi quan trọng ít khi được thực hiện qua lời kêu gọi giai cấp lãnh đạo, ngay cả đối vối thành phần cấp tiến. Thay đổi thường đến từ các phong trào vận động hạ tầng. Vậy, đã đến lúc các giáo dân thường làm nhiệm vụ chính đáng của mình và tác động đến những thay đổi cần thiết để Giáo Hội sống đúng với vai trò của mình.
Một thời thay đổi
Sự thất bại của Giáo Hội trong việc đối phó với nạn xâm hại tình dục trẻ em mà Uỷ Ban Hoàng Gia (Úc) đã phơi bầy phần lớn là thất bại của lãnh đạo. Nói rõ hơn, là thất bại của hệ thống lãnh đạo giáo quyền. Tôi thực sự tin rằng giáo dân đau khổ phần lớn vì cảm thấy mình có liên quan tới những tội lỗi đã sẩy ra. Cũng đáng nêu ra rằng, Uỷ Ban Hoàng Gia không quan niệm Giáo Hội Công Giáo như là một khối duy nhất (monolithic). Trong khi ấy, họ đề nghị xét lại hệ thống cấu trúc giáo quyền, theo kinh nghiệm từ việc điều hành đã thực hiện trong lãnh vực y tế, phục vụ cộng đồng, và các cơ sở giáo dục Công Giáo (phần lớn được quản trị bởi các giáo hữu chuyên nghiệp).
Đã đến lúc hàng giáo phẩm không chỉ thừa nhận sự cần thay đổi mà phải thành thật nhìn nhận về phương cách nào và tiến trình nào để sự thay đổi có thể tiến lên. Nói khác đi, để Giáo Hội có thể thực sự là đồng hành và lắng nghe, một Giáo Hội vượt qua khuôn mẫu “mọi chuyện vẫn như cũ” (business as usual), một sự đồng thuận về mọi biện pháp cũng như đáp ứng là điều cần thiết.
Giáo Hội đã bị coi thường và bỉ thử. Như một kiện tướng bị đẩy xuống từ lưng chiến mã, vì đã không hoàn thành được sứ mạng và làm trái với lương tâm chức nghiệp (ethos). Nhưng không phải là điều xấu cho chúng ta bây giờ phải bắt đầu từ một thế yếu và rủi ro, để có lại sự tin tưởng theo đúng hướng chỉ của Phúc Âm. Tôi nhớ tới câu truyện đã xảy ra với Thánh Phao Lồ (St. Paul) trên đường đi tới Damascus (1).
Thánh nhân đã ngã ngựa qua nhiều cách, và trên một lần.
Ngã từ địa vị nhiều đặc quyền và bị mù lòa tạm thời, đã phải nhờ tay người khác dẫn dắt. Nhưng sự hoàn toàn rủi ro này đã là chất xúc tác cho một lối nhìn, cách hành động và mối liên hệ hoàn toàn mới. Từ đó về sau, Phao Lồ đã không bao giờ còn giống như trước nữa. Ông đã học hỏi để biết khiêm nhường, cởi mở và ngoan ngoãn làm theo lời Chúa. Sức mạnh của ông không còn tới từ địa vị, chức vụ hay đặc quyền.
Giáo Hội Công Giáo đã trải qua thời gian như tai nạn Damascus trong vụ khủng hoảng xâm hại tình dục. Giáo Hội đã bị rớt xuống từ địa vị đặc biệt trong xã hội, từ quyền lực và ảnh hưởng đi kèm vị thế cũ. Bây giờ, giống như Phao Lồ đã bị dẫn dắt vào nơi rủi ro, chúng ta đang trải qua thời gian bất định và tối tăm cho đến khi chúng ta có thể biết cách nhìn, hành động và giao tiếp theo đường lối của Đấng Cứu thế Người Phục Vụ Khiêm Nhường.
Chúng ta không nên sợ hãi lần này. Đó là kinh nghiệm của ngày Thứ Bảy Tuần Thánh. Đó là thời gian của sự mơ hồ, lo âu, của tang tóc và cũng hy vọng vào Tin Mừng; đó là một thời chuyển tiếp, một thời kỳ trong đó người ta đứng giữa cái cũ và cái mới.
Cái chết của văn hóa giáo sĩ
Càng ngày càng thêm bằng chứng cho thấy cuộc khủng hoảng giáo sĩ lạm dụng tình dục là một triệu chứng trục trặc, rỉ sét và huỷ hoại trong văn hoá Giáo Hội. Giáo Hoàng Francis thường lên án giáo quyền mà Ngài thấy như là bị một căn bệnh đặc hữu (endemic) về nhiều mặt và mức độ của cơ cấu Giáo Hội, như Giáo Triều La Mã, cấu trúc giáo phận, chủng viện … (thí dụ, Ngài so sánh những linh mục được đào tạo sơ sót như những quái vật nhỏ (little monsters) và nói về bệnh lý của quyền lực —pathology of power— như là một trong 15 căn bệnh của chủ nghĩa giáo quyền).
Sau cùng, không phải chỉ là vấn đề cá nhân biểu lộ trong giáo quyền.
Thật vậy, đã từng có nhều vị linh mục cao cả làm việc và sống một đời anh hùng, ngay cả trong sự gò bó của khuôn mẫu cũ.
Vấn đề là giáo quyền thừa hưởng chính cái nền văn hoá của Giáo Hội, mà chúng ta cần phải nhìn nhận một cách rất trung thực. Trong văn thư tiếp theo vụ tai tiếng tại Chile, Giáo Hoàng Francis viết: “Sẽ là vô trách nhiệm nếu không nhìn sâu vào gốc rễ và cơ cấu đã cho phép những hành vi ma quỷ này sẩy ra và tiếp diễn”.
Cái văn hoá giáo sĩ bá quyền (clerical hegemony) đã ăn sâu vững chắc trong Giáo Hội Công Giáo kể từ khi nó đóng vai chính trong Đế Chế La Mã. Nó là một phó sản của kiểu mẫu Giáo Hội, trong đó coi mình như tự lập, cao hơn và tách biệt khỏi thế giới bên ngoài. Sự an toàn, uy tín và liên hệ nội bộ là trung tâm chú ý. Giáo Hội Theo kiểu mẫu này trở thành Giáo Hội của những người được phong chức sống trên sự cung phụng của những người chịu phép rửa.
Hậu quả là những người được phong chức trở thành hội viên của một câu lạc bộ gồm những người ưu tú được ca tụng và được bảo vệ đặc quyền đặc lợi. Điều này phản ảnh sự che dấu và bao bọc đã ăn sâu vào tâm khảm của tổ chức. Đó là một sự hoàn toàn khác biệt từ cái khuôn mẫu phục vụ khiêm nhường mà Jesus là biểu tượng. Và cái câu lạc bộ giáo sĩ độc thân đã cung cấp điều kiện lý tưởng cho cái căn bệnh giáo quyền bị ung thối.
Theo tôi, chúng ta thực sự cần một lần cho tất cả, là trút bỏ hết cái kiểu mẫu giáo quyền của Giáo Hội với phó sản của nó là cái câu lạc bộ giáo sĩ độc quyền, nó đã phục vụ chúng ta quá thời điểm mãn hạn xử dụng (ngôn ngữ bình dân gọi là “quá đát”). Giáo Hội đã được hiểu và phát biểu bởi Công Đồng Vatican II tự nhìn mình như dân hành hương của Thiên Chúa hoà nhập vào thế giới. Đó là một mô hình mới — một thứ dựa trên sự hỗ trợ không phân biệt, yêu không sợ, phục vụ không giáo quyền, can dự với thế giới không trốn tránh hay chống lại nó, hoan hỉ đồng hoá không phân chia. Đó là một Giáo Hội tự mở cửa, trái với tự cô lập.
Đã đến lúc chúng ta đón nhận, thực thi rõ ràng và dứt khoát cái nhìn của một Giáo Hội hành hương, mà Công Đồng Vatican II đã uỷ thác cho chúng ta. Đã đến lúc để Giáo Hội phải thực sự là Giáo Hội của những người đã chịu phép rửa và cùng với những người đã được phong chức, tất cả Dân Chúa có thể tạo một văn hoá mới của sự khiêm nhường, trách nhiệm và phục vụ.
Khuôn mẫu Giáo Hội dựa trên giáo sĩ bá quyền đã trải qua thời đại của nó. Từ trước tới nay, như là một kiến trúc ăn sâu vào chế độ gia trưởng và quân chủ, nó không thể giúp chúng ta bắt gặp nhu cầu của thế giới và nền văn hoá chúng ta đang sống trong đó. Chúng ta đã thoát khỏi từ lâu thể chế cổ hủ và những thời đại quân chủ chuyên chế. Chúng ta đang ở phía xã hội dân sự và phát triển dân chủ.
Thật ra, vấn đề quan trọng đáng quan tâm hơn, như phong chức cho phái nữ trong Giáo Hội, còn tệ hơn cả là kiên trì với cấu trúc đã thất bại trong việc chuyển đạt thông điệp của Tin Mừng, là nguyện vọng sâu xa của cả hai phái nam và nữ hôm nay.
Bao gồm phái nữ trong cấu trúc xưa cũ là cần thay đổi về căn bản, có thể giống như rót rượu mới vào bình cũ.
Để Giáo Hội có thể thăng hoa, đều quan trọng là chúng ta phải thích ứng (come to terms) với những lỗi lầm của giáo quyền, vượt qua khôn mẫu giáo trưởng và quân chủ. Giáo Hoàng từng có câu tuyên bố nổi tiếng rằng, chúng ta cần một thần học mới về phụ nữ. Tôi muốn khẳng định rằng, điều chúng ta cần hơn là tìm đường lối mới cho bản thân Giáo Hội, đường lối mới cho sứ vụ (ministry) và việc phục vụ các tông đồ nam và nữ.
Tái tạo chức Linh Mục của tín hữu
Một trong những con đường qua đó chúng ta có thể đưa Giáo Hội tiến lên là tái tạo căn cước Phép Rửa và sứ mạng của tất cả thành viên. Nói cách khác, đã đến lúc làm cho Giáo Hội bớt là Giáo Hội của thành phần chức sắc và nhiều hơn là Giáo Hội của toàn thể những người đã chịu phép rửa.
Trong khi thăm chủng viện Mundelein ở Chicago vài tháng vừa qua, tôi thấy một điều đáng chú ý ở Nhà Nguỵện Chủng Viện. Có bảy bậc bước lên bàn thờ chính, và bên cạnh mỗi bậc đều có viết tên tuần tự phù hợp với bảy Chức Thánh. Mỗi bậc tạo ra một khoảng trống lớn hơn và một quyền năng xa cách giữa ứng viên và bổn đạo. Tôi nhận ra rằng những di tích theo kiểu mẫu Tridentine (2) của chức linh mục là những biểu hiệu mạnh mẽ của giai cấp giáo sĩ. Nó phản ảnh một Giáo Hội nhấn mạnh về sự thay đổi bản thể (ontological change) và sự phân biệt từ người được phong chức với tín hữu.
Đã có sự tồn tại của nhiều sứ vụ khác nhau trong Giáo Hội thuở ban đầu. Thế rồi qua nhiều thế kỷ, sự đa dạng này đã dần quy tụ lại trong tay người được phong chức trên sự thiệt thòi về phía người chịu phép rửa. Trong thực tế, chức Linh Mục của những người được phong chức đã lấy mất sự phong phú và đa dạng của các sứ vụ và chức linh mục của người chịu phép rửa. Đã đến lúc chúng ta phá toang (break open) chức linh mục và để cho sứ vụ của những người chịu phép rửa được thăng hoa. Giáo Hội sẽ không thể hoàn toàn được tiếp sức trong khi tín hữu không được tham dự với toàn khả năng của giáo dân vào đời sống, cơ cấu quản trị và tiến trình đi tới quyết định.
Cái khó khăn chúng ta phải đương đầu hôm nay, là chúng ta đang sống trong một thời kỳ chuyển tiếp giữa mô hình của một Giáo Hội đang chết và một mô hình Giáo Hội đang xuất hiện. Phần lớn cấu trúc hàng giáo sĩ của Giáo Hội phản ảnh cái khuôn mẫu của Giáo Hội đang chết. Cùng với cái xu hướng của một phần hàng giáo phẩm muốn trở lại cái địa vị đã lỗi thời cũng còn có một phong trào nhỏ nhưng ồn ào tìm cách chống lại thay đổi và tái lập cái trật tự cũ.
Cần phải có một lãnh đạo táo bạo và mạnh mẽ để nuôi dưỡng và có khả năng làm cho kiểu mẫu mới thắng thế. Cũng còn cần những giáo dân tham gia, hành động như chất men biến ngũ cốc thành rượu trong thời khắc quyết định.
Giáo Hội cần những tiếng nói tiên tri, ngay cả những tiếng nói từ bên lề, hay từ bên ngoài, để giữ cho các nhà lãnh đạo trung thực, trong sáng, và có trách nhiệm. Chúng ta không thể để qua đi cái đà tiến cho sự thay đổi văn hoá và cấu trúc trong Giáo Hội bị xì hơi. Chính vì mục đích cho một Giáo Hội lành mạnh hơn mà cần có sự tham gia của toàn thể những người đã chịu phép rửa, bắt tay vào việc làm cho guồng máy hoạt động để đưa sự đóng góp của mình làm cho Giáo Hội phát triển.
Giáo Hội hướng tới tương trợ và hợp tác
Sau hết, tôi tin rằng Giáo Hội theo đường lối cũ, vì đã lún sâu vào cấu trúc và cách thi hành giáo quyền đang tới chỗ chấm dứt. Tôi muốn dùng cái biểu tượng của rượu trong tiệc cưới tại Cana (3) để mô tả sự chuyển đổi giữa mô hình đang chết và mô hình mới đang xuất hiện. Giống như rượu cũ, cái mô hình Giáo Hội cũ bắt rễ từ giáo sĩ bá quyền. Nhưng cái kiểu mẫu Giáo Hội đó — cũng như cái hệ quả của nó, cái chức linh mục ưu tú, cao cả và phân ly đang thở hắt ra — ít nhất tại nhiều nơi trên thế giới, kể cả Úc châu. Đã đến lúc chúng ta uống thứ rượu mới đang được rót ra.
Thứ rượu mới của Chúa với tình yêu vô điều kiện, thương xót vô biên, hợp quần tiến bộ và bình đẳng nhu cầu để rót vào những bình mới của khiêm nhường, tương trợ, nhân ái và vô quyền lực. Loại bình cũ tiêu biểu của vinh hiển, độc đoán và siêu đẳng, được khuyến khích bởi quyền lực Giáo Hội ưu việt và cứng nhắc, đang vỡ ra.
Khi Jesus sai các tông đồ ra đi trong sứ mạng rao giảng Tin Mừng, Người không gửi họ đi như một chiến sĩ cô độc, mà gửi đi từng cặp. Điều tôi nhận thấy từ cách xếp đặt này là những kẻ theo Đạo Chúa chỉ có thể hoạt động hữu hiệu khi họ nhận ra cái giới hạn của mình như một cá nhân chỉ được mở rộng khi có sự hợp tác của người khác. Các linh mục cách riêng phải học hỏi để hoạt động chung với nhau, và với cộng đồng của họ.
Vậy mà, mỉa mai thay, toàn thể văn hoá giáo sĩ thường hướng về anh hùng cá nhân và ngay cả mặc cảm cứu nhân độ thế.
Curé d’Ars (Cha Sở Xứ Ars — Thánh John Vianney) (4) có thể rất phù hợp được chọn là bổn mạng của hàng linh mục, một tấm gương anh hùng cá nhân. Không ngạc nhiên rất nhiều người trong chúng ta đã thất bại trong nhiệm vụ vì kiệt sức, chán nản và cô đơn.
Nếu chức linh mục có một tương lai khá hơn, nó phải được “nhân hoá” (humanized); nó phải biết cách diễn tả khá hơn về phương diện tương trợ hậu thuẫn, cộng tác và đối tác. Nó phải tự thoát khỏi những vết tích của giáo quyền, như kỳ thị phái tính, thói gia trưởng, tự kiêu tự đại, và mặc cảm tự cao.
Theo tôi, có vẻ như Giáo Hội không thể có môt tương lai khá hơn nếu cứ khư khư giữ mãi cái mô hình cũ của sự cao siêu, tự hào và thói tự cao của phái nam.
Chừng nào chúng ta vẫn tiếp tục loại bỏ phụ nữ khỏi cấu trúc quản trị Giáo Hội và tiến trình hoạch định hoạt động cơ chế, chúng ta tự loại bỏ mình ra khỏi sự phong phú của nhân loại toàn diện. Chừng nào chúng ta vẫn tiếp tục coi phụ nữ như vô hình và thấp kém trong ngôn ngữ Giáo Hội, phụng vụ, thần học và luật lệ, chúng ta tự làm mình nghèo đi, như chúng ta chỉ nghe bằng một tai, nhìn bằng một mắt và suy nghĩ bằng nửa bộ óc — nhiều khi là phần thấp nhất của loài bò sát. Cho đến khi chúng ta thực sự bao gồm tặng phẩm phụ nữ và tầm vóc nữ tính vào niềm tin Thiên Chúa Giáo, chúng ta sẽ không thể hoàn toàn tiếp sức cho cuộc sống của Giáo Hội.
Kết luận
Vài tháng trước đây, tôi tham dự một cuộc họp ở La Mã về người di cư và tị nạn. Nó diễn ra vào cùng thời gian với Hội Nghị Tiếng Nói Đức Tin của Ngày Phụ Nữ Quốc Tế (Voices of Faith International Women’s Day Conference), vào dịp này, cựu Tổng Thống Ái Nhĩ Lan (Ireland) đã đọc một diễn văn mạnh mẽ về phụ nữ và Giáo Hội Công Giáo.
Cách riêng, tôi đã bị đánh mạnh bởi hình ảnh bà dùng để mô tả tình trạng của Giáo Hội. Bà nói — thực tế là trong tầm nghe của Giáo Hoàng — rằng loại bỏ phụ nữ khỏi vai trò soạn thảo kế hoạch hay đường lối, khiến Giáo Hội chới với bay quanh quẩn bằng một cánh (“left the Church flapping about awkwardly on one wing”).
Đó là mô tả thảm hại về tình trạng công việc mà nhiều người có thể không đồng ý với bà. Tuy nhiên, có những người khác cảm thấy Giáo Hội đã tự tách biệt với quá nhiều người về lập trường đối với phụ nữ. Điều không thể chối cãi được là phải nhận ra dấu hiệu của thời đại (read the signs of the times) và đáp ứng bằng can đảm tiên tri.
Chúng ta đang chứng kiến sự chuyển mình sâu xa của Giáo Hội. Đó là sống lại vượt lên cấu trúc giáo quyền. Cần thiết là phải có lãnh đạo táo bạo và nghị lực tại mọi cấp bậc để đưa Giáo Hội với khuôn mẫu khiêm nhường hơn, quy tụ và nhân ái tiến lên. Cũng cần có những người tận tình tham dự như các bạn để hành động như chất men trong thời gian cần thiết.
Giáo Hội cần tiếng nói của Giáo Dân, ý thức của giáo dân (sensus fidelium), để giữ cho các nhà lãnh đạo trung thực, trong sáng và trách nhiệm. Giáo Hoàng cần tiếng nói của những người phụ nữ như Mary McAleese để nhắc nhở Ngài về nhiều người Công Giáo vỡ mộng, cả phái nữ và phái nam, đã mong mỏi một Giáo Hội bao gồm (inclusive) hơn.
Với tư cách là giám mục từ một dòng tu, cùng lúc tôi ở nhiều địa vị xung khắc. Giám mục, như các bạn biết, là người có nhiệm vụ bảo tồn truyền thống, trong khi tu sĩ (religious), là người phải gần gũi với thành phần bên lề, như giới cùng khổ và kẻ vô gia cư.
Thánh Phan Xi Cô (St. Francis) đã không phải là người nổi loạn, nhưng cũng không phải là người chỉ việc ủng hộ nguyên trạng Giáo Hội thời đại mình. Ngài đã là một nhà cải cách và ngay cả chỉ trích với lời lẽ xác đáng nhất. Ngài đã thách thức hệ thống thời trung cổ từng lún sâu trong việc theo đuổi sự giầu có và quyền lực với một tầm nhìn xa tiến bộ và vô quyền lực của Phúc Âm.
Nắm giữ cả hai đặc sủng (charism) trong thế giằng co không luôn là điều dễ dàng.
Chứng từ của tôi tại Uỷ ban Hoàng Gia là một thí dụ tốt về điều này. Tôi thấy mình chỉ trích ngay cái hệ thống mình là một thành phần trong đó. Tôi không biết làm thế nào Giáo Hoàng Francis có thể thực hiện lời kêu gọi cải tổ của Ngài mà thoát được sự bất bình của hệ thống. Đó là một nhiệm vụ khó khăn. Tuy nhiên, đó là lời kêu gọi “ecclesia semper reformanda” (Latin, có nghĩa Giáo Hội phải luôn cải tổ) mà chúng ta phải can dự vì chúng ta đã chịu phép rửa.
Xin cho chúng ta đáp ứng kêu gọi đó trong thời đại chuyển tiếp này với can đảm, ngay thẳng và sự trung thành.”
————
Chú thích của người dịch:
1- Thánh Phao Lồ, khi còn mang tên Saul, là một viên chức nhà nước chuyên đi bắt người theo Đạo Chúa về trị tội. Một hôm, trên đường tới Damascus để bắt người, đang trên lưng ngựa, bỗng nhiên ông bị loá mắt, ngã xuống đất, bị mù, phải nhờ người khác dắt đi. Được ơn trên soi sáng, ba ngày sau, ông hết mù, và hoàn toàn thay đổi. Từ một viên chức diệt đạo, biến thành một người truyền đạo tích cực, Paul đã trở thành một tông đồ quan trọng hạng nhất trong lịch sử Giáo Hội.
2- Tridentine, chỉ thành phố Trent, tại Ý, nơi vào thế kỷ 16, Công Đồng Trent (1545-1563) được triệu tập. Tại Công Đồng này, nhiều quyết định đã được thông qua, làm khuôn mẫu cho nhiều sinh hoạt Giáo Hội, như thay đổi Thánh Lễ kiểu cũ (Pre-Tridentine Mass) bằng Thánh Lễ mới, gọi là Tridentine Mass, hoàn toàn bằng tiếng Latin, cho đến khi lại được thay đổi thời Giáo Hoàng Paul VI. Nhiều người theo khuynh hướng bảo thủ bây giờ vẫn muốn trở lại kiểu Thánh Lễ này, trong khi Giáo Hoàng Francis chủ trương không thể quay lại. Ngoài ra, Công Đồng Trent còn được coi là Công Đồng Chống Cải Cách (Counter – Reformation), được triệu tập với mục đích đối phó với chủ trương cải cách của phái Tin Lành, cũng như bảo vệ quyền hành, ảnh hưởng, và tài sản phong phú của Giáo Hội.
3- Rượu trong tiệc cưới tại Cana. Jesus cùng mẹ đi ăn cưới tại Cana, tiệc chưa tàn, hết rượu. Để giúp gia chủ trải qua tai nạn “cưới trách”, do yêu cầu của Mẹ, Jesus bảo gia nhân đổ đầy nước vào bình chứa rượu, rồi mời khách uống. Khách tấm tắc khen ngon. Jesus đã làm phép lạ đầu tiên, biến tai nạn hết rượu thành rượu ngon (John 2:1-11).
4- Curé d’Ars, tiếng Pháp là Cha Sở Xứ Ars. Tên riêng của Ngài là John Vianney, một cha xứ nổi tiếng tại Pháp, vô cùng tận tuỵ, làm việc quên mình, bất chấp mệt nhọc và hiểm nguy, để phụng sự Chúa và giúp đỡ giáo dân. Ngài được phong thánh, và được Giáo Hoàng Benedict XVI chọn làm thánh quan thầy cho hàng linh mục.
Ý NIỆM MỚI VỀ NGÃ MẠN

 VÕ CÔNG LIÊM


            Đúng ra đây là đức tính của ích kỷ -the virtue of selfishness- như thể trong đó nói lên bản chất cố vị nơi con người. Thế thì; tại sao không gọi là ích kỷ (selfishness) mà gọi là ngã mạn (egoism)? -Cả hai là một nhưng để chứng tỏ phẩm chất của mỗi chức năng tác động vào đó. Từ ngữ này vừa có tính phản kháng vừa có tính ngăn ngừa, chận lại; có thể sự này không đúng nghĩa để gọi nó như một số người đã nghĩ đến hoặc cho rằng đây chỉ là ý tứ riêng tư. Sở dĩ đặt vấn đề là vì người ta sợ những gì trong-ta và những gì ngoài-ta mới sinh ra cái tự-kỷ (self) ám-thị (suggestion) là mạch nối đưa tới một thứ ích kỷ tự tại. Rộng nghĩa của thứ vị kỷ là điều người ta thường chất vấn hay đặt vấn đề, ám chỉ cho một đức tính yếm thế, hẳn nhiên người ta không thể cho đó là công thức hoặc nhận ra đây một thói tính bao gồm cho tất cả. Mà được trả lời một cách rõ ràng cho những gì gọi chung của một ý niệm mới về ngã mạn –A new concept of Egoism.

Ý niệm này không qui vào những gì mỗi khi nói đến ‘ích kỷ / selfishness’ không những cho đó là sai: mà được mô tả một sự tàn phá trí óc, là lối đối xử trọn gói (package-deal); đấy là nguyên nhân nhiều hơn những nhân tố đơn phương khác, bởi lẽ; chận lạị một thứ luân lý phát triển của nhân loại –which is responsible, more than any other single factor, for; the arrested moral development of mankind; xâm nhập một cách tự nhiên ở mỗi cá tính, từ chỗ đó biến dạng vào ý thức của ngã-mạn / the ego trong con người; nó nhập vào tế bào máu và tế bào não bộ mà thành hình thói tính hết thuốc chữa (no more the medications). Trong ngữ ngôn thông thường của chữ ‘ích kỷ / selfishness’ là đồng nghĩa của xấu xa, gian ác, nó là hình ảnh ‘ma giáo’ là một trong những hình thức trá hình, một thứ vũ khí giết người mà người ta đã giẫm lên xác chết của tử thi để đạt tới thành quả mong muốn, mà họ để tâm đến cái thứ không có trong đời sống hiện hữu và cũng không cần phải theo đuổi; chỉ mong sao hài lòng, thỏa mãn của cái sự vô tri oái ăm đó trong phút chốc ngắn ngủi.

Hẳn nhiên đây là một xác định cụ thể, rõ ràng, chính xác cho từ ngữ ‘ích kỷ’ là: quan tâm tới cái hay, cái lợi với cái của mình –concern with one’s own interests. Đó là ý niệm chớ không đánh giá nó như một thứ luân lý mà là khám phá những gì tích trữ bên trong của con người ‘tham vọng, háo danh’; tham vọng tức nghĩ về cá nhân mình hơn lợi ích của người khác, ích kỷ không phân biệt ‘tốt và xấu/ good and evil’ chỉ đi trên con đường mù tăm một thời (darknest time). Mà ở đây nói lên một thứ đạo đức làm người trước những vấn đề đặt ra, mà trong qui cách đó là xếp đặt một ý thức củng cố cho con người chấp nhận cái nguyên lý không nhân tính (inhuman), không còn chú ý tới lợi ích giữa ngã mạn và tha nhân; nó được coi là hành động tàn bạo tư tưởng, dữ kiện nói về ‘cái-ta / le moi / myself’ là ba phạm trù dành cho ích kỷ mà Đông Tây đều cho đó là thứ tinh thần hủ hóa bạo tàn (brute’s spirit). Đứng trên lập trường nhân vị là được nhìn tới cái tấm lòng vị tha tự nhiên, nó là kết quả tất nhiên, ‘logic’ vô cùng, một thứ cực kỳ tồi bại mà nó đã gây ra. Quan tâm chính yếu nơi ta là mất khả năng lòng vị tha trong lãnh vực của lý thuyết về luân lý –What concers us here is altruism’s default in the field of ethical theory. Vậy cho nên vị tha và ích kỷ là một đối kháng giữa tâm lý con người. Nó có hai vấn đề thuộc luân lý: 1-Giá trị cho cái gì? 2-Ai là người nhận giá trị lợi ích đó?.Lấy từ chủ nghĩa vị tha để thay thế điểm thứ hai cho điểm thứ nhất, bởi; lách ra khỏi cái việc chỉ định về ký hiệu của giá trị luân lý. Trong dữ kiện đó có nghĩa là rời bỏ giá trị con người; thời tất sự lý đó không hướng tới luân lý một cách ‘trọn gói’ tức không diệt ngã. Sự đó gọi là bản chất tự tại. Chủ nghĩa vị tha tuyên bố rằng tất cả mọi hành động dành cho sự lợi ích chung là những gì tốt đẹp và mọi hành động dành cho sự lợi ích về cá thể là xấu xa, là qủi ám. Vậy thì thiện tâm / beneficiary của hành động là chuẩn mực cho giá trị luân lý mà thôi. Còn tất cả những gì cho là lợi ích là thứ lợi ích của đòi hỏi, của yêu cầu thời nó không có giá trị tồn lưu nhân thế. Từ chỗ đó suy ra trong mọi hành động hổ tương nhau giữa hai khiá cạnh khác nhau phải là một tâm như chân chính của hành động, còn đồng lõa để tìm thấy lợi nhuận cho nhau là hành động mất chính nghĩa, mất lập trường cho một tri thức nhận biết. Vô hình chung sự hổ tương đó đi tới dự mưu là hành động phá hoại một nền luân lý chuyên chính; biến mình vào thứ vô loại. Nói chung; nó nằm trong nghĩa cử của (1) và (2) là giá trị dành cho ‘Đức tính của Ích kỷ / The virtue of Selfishness’. Sự ích kỷ đó cùng nhau giẫm lên xác chết mà đi là hành động của con người ngu xuẩn không phân định đâu tốt đẹp đâu xấu xa.

Nhìn vào những gì gọi là thiện-tâm-chuẩn-mực của phẩm hạnh đấy là cuộc đời của con người –Observe what this beneficiary-criterion of morality does to a man’s life. Nhưng; cuộc đời mà con người dấn thân là toàn cảnh của bi thảm (tragedy) là một đối đầu dưới mọi hình thức của ngã vị là thách đố để được sống còn nhân vị, chúng ta không thể du nhập mà loại bỏ tức chọn giữa tốt và xấu, giữa thực và giả. Giữa hai trạng huống đó có ngã và vô ngã. Một thứ có luân lý (morality) và một thứ vô đạo (amoral). Đấy là điều để chúng ta chọn lựa con đường tình ta đi. Mỗi khi nói đến ích kỷ / selfishness là chú tâm tới cái gì có lợi ích cho chính mình –concern with one’s own interest. Đối tượng luân lý dùng nó như ý niệm của sự chuẩn mực và một cảm thức trong sáng. Ý niệm đó không những không suy tư, không ngộ nhận, không méo mó để không còn định kiến và sợ hãi của ngu xuẩn và phi ngã. Chống lại sự ích kỷ là hành động tấn công vào cái tự trọng của con người –man’s self-esteem tức đầu hàng trước cái phi-ngã đó. Loại thứ đó chính là sự sinh ra ngã-mạn. Một ý niệm mới nói lên giá trị nhân phẩm hơn giá trị vị ngã. Tại sao con người cần có ký hiệu dành cho giá trị vị ngã? Trả lời không; bởi như thế này: những gì cho là ký hiệu đặc biệt đều qui vào tốt và xấu là một sự phát kiến không có nguyên nhân đưa từ ý thức đến vô ý thức, một điều kiện để phát tiết những gì cho bản ngã là vượt quá giới hạn con người thì gọi cái-tôi siêu hình đó là những gì bất khả hoán (unalterable) của sự tồn lưu nhân thế; ở đây chúng ta cần cân nhắc những gì thực sự giữa ích kỷ nghịch lại hy sinh chính mình hoặc ngã-mạn nghịch lại vị-tha, và; ý niệm gì của ‘ích kỷ’ là phương tiện và bao hàm –to such an issue as selfishness versus (vs) self-sacrifire or egoism versus altruism, and; what the concept of ‘selfishness’ means and entails. Những gì chúng ta gọi nghịch lại (vs) giữa ích kỷ và hy sinh chính mình là hiện ra trong ngữ cảnh thuộc nguyên tắc đạo đức. Nguyên tắc đạo đức là ký hiệu của giá trị hướng dẫn con người đi tới chọn lựa và hành động; chọn lựa và hành động cái đó là một quyết định dứt khoát, là mục đích và cách hành xử giữa cuộc đời đang sống của những gì là vị ngã và những gì là vị tha. Đấy là vấn đề nêu ra.

Sự rối loạn tâm tư giữa ngã-mạn và vị tha là đặt vào đó một sự vừa đối lập vừa mâu thuẩn của dữ kiện, bởi; ngã-mạn duy trì cái còn lại nơi con người, là cái tận cùng ở chính nó. Vị tha là cầm giữ những gì làm phương tiện là cái tận cùng khác nơi con người. Thành ra ngã-mạn và vị-tha mỗi thứ có cái chính yếu riêng tư nơi con người, nó đòi hỏi một nhận thức rốt ráo trước hoàn cảnh như trách nhiệm đối xử; giữa hai vị trí đó không còn ngã-vị mà phi-ngã; nghĩa là không còn thấy ta mà chỉ có cái ta trong ta mà thôi.

Thiện tâm của hành động có thể là tha nhân khác hơn người mà họ tác động vào –the beneficiary of an action should be someone other than the person who acts. Vị chi; ích kỷ (selfishness) hay không ích kỷ (unselfishness) là hành động minh định có tính chất khách quan : nó không xác quyết rõ ràng bởi sự cảm nhận của cá nhân mà người ta đã hành động. Chỉ là cảm nhận thì sự đó không là một dụng cụ của nhận biết; vậy thì nó không có chi là chuẩn mực trong nguyên tắc đạo đức –just as feelings are not a tool of cognition; so they are not a criterion in ethics. Hiển nhiên; trong nguyên tắc hành động người ta phải chuyển đổi bởi một số người biết vận vào đó như một hành động để thực thi thế nào là ích kỷ và thế nào là không ích kỷ là cả một đối tượng trước bản ngã tự tại. bởi; những gì tiêu chuẩn (regular/standard) đã là một hành động để chọn lựa (tốt/xấu). Cụ thể như thế này: cảm nhận là có một vài điều có lợi và chiếm được (to gain) là vì cái sự đó nó không vững cho hành động nói lên ích kỷ mà coi đó như hành động tự-hiến (self-sacrifice). Triệt thoái những suy tư về mình thì nó không còn sự ích kỷ hoặc củng cố vai trò khách quan thì sự đó gọi là có thiện tâm (beneficiary) mà: ‘lấy ân báo oán, oán ấy tiêu tan còn lấy oán báo oán, oán ấy chập chùng’ (thuyết nhà Phật). Vậy thì; triệt để loại bỏ cái không có-ta trong đó thời tất có-ta trong đó như một hiện hữu.

Thí dụ: Phê bình gia bình giải tác phẩm là phê nhận sự lý cho rõ trắng đen cái của người-ta tức là đang nói cái-ta của mình trong đó; nó trở nên khách quan trước vấn đề, nhưng lồng vào đó một thứ ngã vị chủ quan. Vị chi giải một cách hợp lý (logic) và nêu rõ lý do từng phần trong tác phẩm là gián tiếp cho bày-tỏ cái ta, là cơ hội nói cái của mình. Đứng trên lập trường khách quan để nhìn thấy vai trò giữa hai đối tượng là chất chứa một mong muốn (tham vọng) để đạt tới yêu cầu của tự-mãn (self-satisfied). Như vậy; cả hai rơi vào hố thẳm của tội lỗi. S. Freud giải thích (trong The Ego and the ID): ‘Như chúng ta biết rằng ý thức nhận biết là bề mặt của chức năng tâm lý sẵn sàng chờ đợi mà đó là phần ngoài không gian đầu tiên khi người ta đạt tới cái thế giới vô tân của ngã-mạn / we have said that consciousness is the surface of the mental-apparatus which is spatially the first one reached from external world of ‘ego’.

Thí dụ khác: Đời nhà Lương bên Trung quốc có vua Vũ Đế người mộ đạo Phật. Nghe tin có vị sư từ Thiên Trúc đến đất Lương rao giảng đạo lý. Vũ Đế cho triệu vào cung để chất vấn. Vua nói với sư Bồ Đề Đạt Ma: -Ta đem lòng cung-dưỡng Phật, xây chùa, lập đền, đúc tượng, cúng-nhường Tam Bảo. Vậy ta có được công đức với Phật? Bồ Đề Đạt Ma trả lời:-Không có chi cả; tất cả là như-không. Vũ Đế tức giận và đuổi nhà sư Thiên Trúc ra khỏi cấm thành. Sư lặng lẽ ra về. Sự đó có nghĩa là vua đem công ra mua đức, lời nói có tính ngã-mạn / egoism chỉ nghĩ cho mình thời chưa phải là tu nhân. Muốn tới bờ ‘đáo bỉ ngạn’ đừng có-ta nơi không-có-ta ở đó thì may ra tới bến bờ. 

Biện hộ cho cái gọi là ‘mọi người đều là ganh tị / everyone is selfish’ lý lẽ này không có nghĩa là vơ đũa cả nắm hay buộc phải; mà chứng tỏ sự cớ một cách hiển nhiên, nói rộng nghĩa mọi động vật trên mặt đất đều có cái sự cạnh tranh hơn thua, ngấm ngầm hay bộc phát. Ghen là ‘tế bào’ hiện hữu của ý thức để bảo vệ (defence /against) hay chống lại tất cả những gì chạm đến sinh linh của con người; đặt dưới một áp lực của nguyên tắc luân lý. Sự lý này đưa con người tới một nhận biết sâu xa, là hành động chống lại cái thứ hạnh phúc riêng tư của nó. Đây là điều hiếm để nói tới độ cao của nó, một cảm thức không chắc chắn, rõ ràng đúng như những gì mà con người chất chứa trong một tạng thể hơn thua / selfishly. Dạng này đưa tới cái tranh chấp kinh thiên động điạ, bởi; chống lại cái vọng tưởng của hạnh phúc –acting against one’s long-range happiness, là nghịch lý trong những gì đã nói đến. Mà nó chỉ là phó sản của thâm sâu cùng cốc, một thứ bí truyền nằm chờ đợi ở tiềm thức, nó chờ đợi như ngọn lửa của diệm sơn, để rồi đưa con người tới hình ảnh ảo tưởng của cái gọi là ghen mà ghen là mù quáng; đấy là điều đã được chứng minh rõ ràng.Người ta có thể đi tìm thứ hạnh phúc riêng mình, trong khi đó thứ hạnh phúc của mình bị loại bỏ hay chối từ vì nó nằm trong hạnh phúc của người khác và có thể đem lại một thứ ích kỷ hy sinh (self-sacrifice) cho hạnh phúc. Một chiếm cứ tuyệt đối, đánh hạ một thứ bản ngã cố vị là ‘chiếm đoạt’. Sự lý này không thể hóa giải theo chủ nghĩa vị tha, bởi; chúng là thứ ngã mạn vô ý thức giữa hữu thể và tha thể. Một thứ cuồng vọng!

Thành ra nói: ‘mọi người đều là ganh tị’ là một lập luận giả trá, vô hình chung như đổ lỗi. Thực chất ích kỷ nó nằm trong đơn vị cá thể (giữa hữu thức và vô thức) Ở đây đặc vấn đề giữa ganh ghét và vị tha; nói lên cái ngã phi thường (extraordinarily) đó là trải nghiệm đưa ra những kết quả lập lờ chưa hẳn là sáng tỏ. Thái độ vị kỷ chỉ đến với tư duy nông cạn chưa đào sâu để tìm thấy nguồn nước trong sáng, không vướng đục, không bụi bặm, không ruồi bu kiến đậu lên miếng mỡ vữa nát bởi lòng cố vị hơn thua tích lũy xưa nay.


Tất cả là mục đích chủ quan thúc đẩy để hành xử và hành xử ghen tương. Sao lại có hai cái từ ‘thúc đẩy hành xử / motivated behavior’ và ‘ hành xử ghen tương / selfish behavior’. Chẳng qua lấy đó mà che đậy sự tính khác nhau giữa nhân tố con người, giữa tâm lý và hiện tượng của một chọn lựa đạo đức luân lý mà thôi. Kỳ thực nhận thức là chinh phục tính vị ngã, nó không còn vấn đề thuộc luân lý; hài hòa theo nghĩa bình thường là không văn hoa, xa xỉ cho một thứ tâm sinh lý uyên thâm cần có là tránh xa cái-tôi đáng ghét đó ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . giữa tháng 3/2019).

ĐỌC THÊM : -‘Luân lý học (2014) -‘Thái độ Vị kỷ I (2016)’ –‘Thái độ Vị kỷ II (2017) của võcôngliêm hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đ/c đã ghi.

Algérie Dậy Sóng

Từ Thức
image.png
Một điều lạ : các médias VN, kể cả báo mạng và báo chí hải ngoại, dồn hết chú tâm vào Venesuela, bỏ quên một cuộc nổi dậy còn ngoạn mục và bất ngờ hơn nữa : Algérie. Những gì đang diễn ra ở Algérie là chuyện không ai tưởng tượng được, chỉ cách đây vài tháng. Kể cả những người thông thạo về Algérie, nhất là những người thông thạo về Algérie. Bởi vì ai cũng nghĩ dân Algérie, thờ ơ và vô cảm, sẽ tiếp tục cam chịu chấp nhận độc tài để sống an phận, qua ngày. Nhưng không, tuổi trẻ Algérie đã đứng dậy đòi tự do, kéo theo cả một dân tộc. 

MURISTES 

Những người có dịp tới thăm Algérie đều biết từ ngữ và hiện tượng ‘’muristes’’. Mur, tiếng Pháp là bức tường ( tiếng Pháp vẫn thông dụng ở xứ này ), muristes là những người đứng dựa tường ( tiếng địa phương : hittist, hitt là bức tường ) ám chỉ một thế hệ trẻ không việc làm, không tương lai, vô công rỗi nghề, vô vọng, thờ ơ với xã hội, không biết làm gì hơn là suốt ngày đứng dựa tường, đàn đúm với nhau, trêu chọc đàn bà con gái cho qua ngày. Cho qua đời. 

Tại một xứ gần một nửa dân số dưới 25 tuổi, hiện tượng muristes là một thảm trạng của một xã hội bế tắc 

Từ mấy tháng nay, chính những muristes đó, một cách bất ngờ, đã đồng loạt, và quyết liệt đứng dậy, đòi tự do dân chủ. 

Cách mạng nhân dân, như người ta nói, thường thường bùng dậy những lúc không ai ngờ. Và khi nó bùng dậy, không bạo lực, không guồng máy đàn áp nào ngăn cản nổi. Vài giờ trước khi đổ, chế độ độc tài nào cũng nghĩ sẽ đứng vững vĩnh viễn. 

Trong khi tình hình ở Vénézuela ứ đọng, gần như sa lầy, trong khi dân VN chấp nhận ách độc tài như một cái gông đã trở thành một bộ phận của cơ thể, dân Algérie đứng dậy, một cách ôn hoà nhưng quyết liệt, và đã thành công trong mục tiêu đầu tiên : loại bỏ Tổng thống Abdelaziz BOUTEFLIKA, cầm quyền từ 20 năm nay và muốn tiếp tục ngồi trên xe lăn, cai trị một xứ gần 45 triệu dân. 

Loại được Bouteflika, một chuyện không ai tưởng tượng nổi cách đây vài tháng, nhưng dân Algérie muốn đi xa hơn nữa, loại bỏ một băng đảng mafia đã cầm quyền từ ngày Algérie độc lập ( 1962 ). 

20 NĂM CẦM QUYỀN 

image.png

Cuộc nổi loạn bùng nổ cách đây một tháng, khi một nhóm trẻ, mà người ta tưởng là thụ động, xa lánh ‘’ chính trị ‘’, xuống đường phản đối việc Tổng thống Bouteflika, một ông già gần đất xa trời, 82 tuổi, tê liệt trên xe lăn, á khẩu từ ngày bị đột quị ( 2013 ), tuyên bố sẽ ra tranh cử nhiệm kỳ thứ 5, sau 20 năm cầm quyền với bàn tay sắt. 

Chính quyền nghĩ chuyện đó chỉ là một vấn đề hình thức, tại một quốc gia tập đoàn cầm quyền quản trị quốc gia như chủ một công ty tư nhân. Dân chỉ biết chép miệng, cúi đầu chấp nhận. 

Đối lập bị khai trừ, hoặc nằm tù, hoặc trốn ra hải ngoại. Báo chí nằm trong tay chính quyền, một cách chính thức hay bán chính thức. Như các chế độ độc tài khác, nhà nước Algérie cai trị trên cái sợ. 

Hàng chục ngàn thanh thiếu niên, ngày 22 tháng 2 vừa qua, đùng một cái bỏ cái sợ vào túi, biểu tình chống việc Bouteflicka tái ứng cử. ‘’20 ans, ça suffit !‘’ ( 20 năm đã quá đủ ! ). 

Cái sợ đã đổi bên, mặc dầu trước đó ít ngày, hai thanh niên đã bị kết án… 6 năm tù chỉ vì mang biểu ngữ chống việc Bouteflika tái tranh cử. 

Từ đó, mỗi ngày, nhất là những ngày thứ Sáu, trên toàn lãnh thổ, thanh thiếu niên kéo theo những thế hệ khác xuống đường. 

Hơn cả những chữ ‘’ tự do , dân chủ ‘’, những người biểu tình nói tới cái ‘’ dignité’’, cái ‘’nhân phẩm’’ của người Algérie. Họ muốn dẹp cái gọi là gérontocratie ( chế độ của các cụ già ) hay momiecratie ( chế độ xác ướp ). Không phải chỉ riêng Bouteflika, nhưng tất cả tập đoàn FNL ( Mặt trận Giải Phóng Quốc Gia ) cầm quyền từ ngày Algérie độc lập ( 1962 ) bị coi là những xác ướp Ai Cập, đã thối rữa, phải dứt khoát loại bỏ, vứt vào sọt rác của lịch sử. 

Stop, dân Algérie không muốn cả thế giới nhạo báng vì có một lãnh tụ đi xe lăn, một xác ướp từ lâu không xuất hiện trước công chúng, bán thân bất toại sau khi bị AVC , sống ở các nhà thương Thụy Sĩ hơn là dinh Tổng thống. 

Bouteflika, đúng hơn là gia đình và tập đoàn cầm quyền đứng sau ông già bệnh hoạn gần đất xa trời, làm bình phong để thao túng, vơ vét, nghĩ rằng chỉ cần dọa nạt cũng đủ dẹp tan phong trào nổi loạn, như đã làm trong quá khứ. 

CÁCH MẠNG INTERNET 

image.png
Bouteflika, một cách gần như khiêu khích, đã chính thức nộp hồ sơ tái tranh cử. Chính quyền thách thức : hoặc Bouteflika, hoặc một Algérie hỗn loạn. 

Đó là một giọt nước làm tràn cái ly. Và, đúng như người ta nhận xét ở những nơi khác, những cuộc cách mạng làm rung chuyển một chế độ thường bùng nổ những lúc ít người ngờ nhất. Không ai tiên liệu được phản ứng của một dân tộc. 

Thứ Sáu 08 tháng Ba 2019, không phải hàng trăm ngàn, nhưng hàng triệu người đã đổ xuống đường. Tất cả các hội đoàn dân sự đã sát cánh với lớp trẻ. Từ các nghiệp đoàn, các nghệ sĩ, ký giả độc lập, tới các luật sư, nghệ sĩ, các đảng phái ( lần đầu đoàn kết với nhau vì một mục dích chung ). 

Phe Bouteflika hiểu tình thế đã thay đổi, chấp nhận nhượng bộ. Khởi đầu tuyên bố sẽ không tái tranh cử lần… thứ 6 , sau đó, nhượng bộ thêm, rút đơn tranh cử lần thứ 5. Nhưng chỉ nhượng bố một nửa. Rút đơn tranh cử nhưng quyết định ở lại quá nhiệm kỳ, nói là để chuẩn bị một cuộc bầu cử trong sạch, hợp ý dân hơn. 

Những cuộc biểu tình tiếp tục, càng ngày càng quyết liệt hơn. Dân Algérie, mỗi ngày thay nhau, hay cùng nhau xuống đường, trên khắp các thành phố lớn nhỏ, hang cùng ngõ hẹp. 

Mỗi ngày, hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn, đôi khi hàng triệu người xuống đường. Nhất là những ngày thứ Sáu, trở thành những cuộc hẹn hò của lớp trẻ. Ý thức chính trị, người ta học, rất mau, trong những cuộc xuống đường 

Cái đặc biệt là cuộc nổi dậy hoàn toàn bất bạo động. Người ta xuống đường như đi trẩy hội. Những người thờ ơ nhất hãnh diện đã tham dự, hãnh diện là người Algérie, đã ngửng đầu đòi quyền quyết định cho mạng sống của mình và tương lai của dân tộc 

Đó cũng là một cuộc cách mạng Internet. Bất chấp các đài truyền hình, truyền thanh nhà nước ra rả khuyên bảo, đe dọa suốt ngày, giới trẻ hẹn nhau qua các iPhone, Twiter, Facebook.. 

Chế độ độc tài Algérie, như tất cả những chế độ độc tài khác, mới đầu dùng những tiểu xảo, đe dọa, hứa hẹn qua loa, nhưng khi thấy khí thế của đường phố, đã đi hết nhượng bộ này tới nhượng bộ khác. 

Đảng duy nhất FLN, đảng đã đưa Boutlefika ra làm bình phong để cai trị, tuyên bố không ủng hộ Tổng thống nữa. Ngày 26/03 tổng tham mưu trưởng quân lực Ahmed Gaïd Salah tuyên bố hoặc Boutleflica từ chức, hoặc sẽ bị truất phế vì không đủ khả năng sức khoẻ để lãnh đạo quốc gia. 

Không còn lực lượng chính trị FNL, quân lực sau lưng, hai ngày sau, 28/03, Bouteflica chính thức từ chức. 

Ngày 31/03, chính phủ lâm thời ra đời, với mục đích tu chính hiến pháp và tổ chức ‘’bầu cử tự do, trong sạch’’. 

Mặc dầu vậy, những cuộc xuống đường không những giảm bớt mà còn vũ bão hơn nữa . 

Dân Algérie đã trưởng thành, đã hiểu tất cả những nhượng bộ chỉ là hình thức, để tập đòan cầm quyền kiếm cớ hoãn binh. Chính phủ lâm thời vẫn là những người của chế độ cũ, trong đó tướng Akmed Gaïd Salah đóng vai chủ động. Từ ngày Algérie độc lập ( 1962 ), các tướng lãnh cấu kết với FNL chia nhau quyền hành, chia nhau tài sản quốc gia, chia nhau những tài khoản khổng lồ nhờ dầu lửa, dầu khí. 

Trước đó vài tuần, Salah là người ủng hộ Bouteflica nhiệt thành nhất, coi việc Bouteflica nắm quyền thêm một nhiệm kỳ là yếu tố quyết định cho việc ổn định chính trị và an ninh của Algérie. 

BLACK FRIDAY 

image.png
Dân Algérie vẫn có cảm tình và kính trọng quân đội, nhưng muốn tất cả các tướng lãnh cũ cũng như các chính trị gia già nua, tham nhũng, bất tài, tham quyền cố vị ra đi, nhường chỗ cho thế hệ trẻ. Khẩu hiệu của các đám biểu tình là ‘’DÉGAGEZ !‘’ ( Hãy cút đi ). 

Những cuộc biểu tình lớn trên toàn quốc mỗi thứ sáu được mệnh danh là Black Friday, ám chỉ ngày Black Friday ở Mỹ, các cơ sở thương mãi tống khứ hàng hoá cũ với giá rẻ để trưng bày hành hóa mới. 

Cho tới nay, thế giới e dè với biến động Algérie, trái với thái độ ủng hộ nhanh chóng cuộc nổi loạn ở Venezuela. 

Các nước láng giềng như Tunisie, Maroc sợ phản ứng dây chuyền, e ngại làn sóng phản kháng sẽ lan sang nước mình. 

Mỹ không phản ứng, vì quá xa, trái với Venezuela ở sát nách. Nhiều chính khách Mỹ không biết Algérie ở đâu. 

Các nước Âu Châu nghĩ đó là chuyện của Pháp vì Algérie là thuộc địa cũ của Pháp, mặc dù ngày nay Algérie đã hầu như rơi vào tay Trung Cộng. 

Pháp lo sợ, vì nếu Algérie hỗn loạn, sẽ phải tiếp đón làn sóng di dân khổng lồ. Paris chỉ cách Alger ( thủ đô Algérie) vài giờ bay, và hiện nay trong số 8, 9 triệu người da đen và Ả Rập sinh sống ở Pháp, có quốc tịch Pháp, người gốc Algérie đông nhất. 

Trung Cộng án binh bất động, ủng hộ ngấm ngầm phe cầm quyền, nhưng sẽ ngả về phe nào mạnh nhất. 

Dân Algérie bất cần sự ủng hộ của bất cứ cường quốc nào. Các đoàn biểu tình không kêu gào Trump, yêu cầu Macron ‘’ hãy lo chuyện Gilets Jaunes, để chúng tôi giải quyết chuyện Algérie ". 

Trong số những người biểu tình, phụ nữ là những người bình tĩnh nhất, cương quyết nhất, với một ý thức chính trị rất cao. Các bà, các cô đồng thanh như một : chúng tôi sẽ đi đến cùng. Mục tiêu là tự do, dân chủ đích thực. Chúng tôi không đòi vài ba nhượng bộ lặt vặt, chúng tôi đòi quyền sống cho mình và tương lai cho thế hệ sắp tới. Một nửa những người biểu tình là phụ nữ. Khi đàn ông xuống đường, sẽ có bạo loạn. Khi phụ nữ xuống đường, sẽ có cách mạng. 

TỪ ALGÉRIE TỚI VIỆT NAM 

Algérie có nhiều điểm tương đồng với Vénézuela và Việt Nam 

Giống như ở Vénezuela, những nhà lãnh đạo Algérie, mơ tưởng một ‘’ xã hội chủ nghĩa ‘’ Mác Lê, đã biến một nước giầu tài nguyên, nhân lực thành một nước lạc hậu. Với diện tích gần 2 triệu rưỡi cây số vuông, với kho dầu hỏa, dầu khí thuộc hàng quan trọng nhất thế giới, với các quặng mỏ vô giá, tập đoàn lãnh đạo, bất tài, tham nhũng đã biến Algérie thành một quốc gia chậm tiến, một thế hệ thất nghiệp, không sản xuất gì, không xuất cảng gì ngoài dầu khí cũng nằm trong tay các công ty ngoại quốc, hết Pháp tới Mỹ, Đức, nhất là Trung Cộng. 

Giống như VN, phe thắng cuộc, sau khi Algérie dành được độc lập, coi đất nước như của riêng, toàn quyền cai trị, sinh sát. Giống như VN, trong 20 năm đầu, phe thắng cuộc muốn xây dựng một chế độ xã hội đại đồng, theo mô hình Cộng Sản. 

Hậu quả là một nước phá sản, nhân quyền bị chà đạp, tập đoàn cầm quyền tham nhũng cấu kết với hàng ngũ tướng lãnh chia nhau tài nguyên quốc gia, tạo một xã hội bất công man rợ, trong đó có hai loại công dân, những người có thẻ đảng và những người ngoài lề. 

Sau khi dành được độc lập năm 62, sau 132 năm dưới ách thuộc địa Pháp, FNL ( Front National de Libération, Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia ) trở thành đảng chính trị duy nhất, đặt tên nước là Algérie Dân Chủ Nhân Dân ( République algérienne démocratique et populaire ), chỉ hơi thua Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Độc Lập ở chỗ chưa có Tự Do, Hạnh Phúc. 

Sau 20 năm quản trị đất nước theo mô hình Mác Xít, FNL nhìn nhận đất nước đi vào ngõ cụt trên mọi phương diện , từ kinh tế tới văn hóa, chính trị, giáo dục, xã hội. 

Để dập tắt ngọn lửa bất mãn, chính quyền buộc lòng phải thay đổi hiến pháp, chấp nhận đa đảng từ 1982. Nhưng các đảng đối lập đã bị đàn áp, tiêu diệt, các lãnh tụ hoặc bị bức tử, bị tù đầy hoặc bỏ ra hải ngoại lánh nạn, chính trường chỉ có một bên là FNL bị dân chán ghét một bên lực lượng Hồi giáo cực đoan 

Trong cuộc bầu cử tự do đầu tiên năm 91, FNL thua nặng trước tổ chức Hồi giáo cực đoan FIS ( Front Islamique du Salut ). 

Trước hiểm họa Afghanistan hóa, nhất là để bảo vệ quyền lợi của phe cầm quyền, quân đội đảo chánh khi biết kết quả bầu cử. 

FIS trở thành một lực lương kháng chiến, tàn bạo nhất, dã man nhất, không ngần ngại đặt chất nổ, đốt làng, giết dân kể cả đàn bà trẻ con bị coi là ‘’infidèles ‘’, những người không trung thành với Allah. 

Algérie biến thành một biển máu. Trong mười năm nội chiến, gần 200.000 người thiệt mạng, đất nước hoàn toàn tê liệt. 

Cựu bộ trưởng ngoại giao, có uy tín nhất trong số các chính tri gia tị nạn tại nước ngoài, Bouteflika hồi hương và đắc cử Tổng thống từ 1999. Một mặt quyết liệt dùng biện pháp mạnh để tiêu diệt khủng bố, một mặt áp dụng chiến dịch ‘’ chiêu hồi ‘’ để kêu gọi lực lượng FIS giã từ võ khí, Bouteflika trở thành một thứ anh hùng đã vãn hồi trật tự ở một xứ hỗn loạn, máu lửa. 

Bouteflica sửa hiến pháp, tự cho mình quyền ứng cử hơn hai lần như hiến pháp cũ quy định. Trên thực tế, Algérie vẫn nằm trong tay FNL, một tổ chức mafia muôn hình vạn dạng, nhất là từ khi Bouteflika bị đột qụy cách đây 6 năm. FNL muốn biến Bouteflika thành một tổng thống momie trọn đời, để đứng sau lưng, tiếp tục thao túng, vơ vét. 

MỘT TRANG SỬ MỚI 

image.png

Bouteflica bị loại. Dân Algérie ngày nay quyết liệt đòi tất cả tập đoàn mafia trả lại đất nước cho dân. 

Những người cầm quyền ở Algérie nắm mọi quyền lực, tiền bạc, báo chí nghĩ họ sẽ tiếp tục hoành hành, coi đất nước là của riêng, quên rằng càng ngày càng phẫn nộ, và khi sự phẫn nộ của dân bùng nổ khắp hang cùng, ngõ hẻm, bạo quyền mạnh tới đâu cũng bó tay . 

Những người cầm quyền ở Algérie quên rằng một nửa dân Algérie dưới 25 tuổi, trong đó đa số dưới 15 , không có liên hệ gì với cuộc chiến tranh dành độc lập thần thánh vẫn được ca tụng trong sách báo, kể cả sách giáo khoa, không có một kỷ niêm gì về những ngày nội chiến đẫm máu. Cái hoài bão và mục tiêu trước mắt của họ là được sống tự do. Họ muốn lật một trang sử cũ, để bước vào một thời đại mới. Họ không muốn đứng dựa tường, nhìn mafia thao túng nữa. 

Từ Thức, tháng Tư, 2019 


__._,_.___