Search This Blog

Friday, March 22, 2019

QUẢNG TRỊ ĐẤT ĐỢI VỀ

 Dương Nghiễm Mậu

Nổi tiếng với các tác phẩm Tuổi Nước Độc, Gào Thét, Buồn Vàng, Con Sâu… Dương Nghiễm Mậu còn là một phóng viên Quân Đội từ 1966, sau nhập ngũ. Các phóng sự tiền tuyến của nhà văn luôn bật lên sự tha thiết của quê hương. Không phải là sự sống động của một trận đánh mà là sự nghiệt ngã của dân chạy loạn. Câu hỏi mà Dương Nghiễm Mậu đặt ra: ”Dân số Quảng Trị có hơn ba trăm ngàn, con số còn bị kẹt lại khoảng 50 ngàn, tôi thấy số dân chúng ra đi thật lớn lao và thực sự là đau đầu với chính người cộng sản khi tới chiếm Quảng Trị. Họ phải nói thế nào với quốc tế về điều họ vẫn nói: dân chúng ủng hộ họ, và về chiêu bài giải phóng vẫn không ngớt được nói đến. Không, dân chúng đã ra đi khi người cộng sản đến.. Không có dân, đất đai còn có nghĩa gì nữa?”; Quang cảnh mà Dương Nghiễm Mậu chứng kiến: “Chung quanh tôi mỗi lúc một đông người, mỗi người góp một câu chuyện, ai cũng trông mong được sống ở Đà Nẵng và chờ ngày trở lại quê hương của họ, tôi cũng đã được nghe câu chuyện thương tâm của một người mẹ kể lại cái chết của con mình trên chuyến đi Nam, đứa con của bà đã chết trên chiếc thuyền của gia đình trong khi vượt biển vào cửa Thuận. Tôi mường tượng thấy cảnh tượng bi hùng của chuyến ra đi, cảnh tượng giống như những người dân miền Bắc trong vụ Trà Lý, những người đã chọn để được sống tự do hoặc là chết… Gần hai mươi năm sau, cảnh tượng đó lại tái diễn một lần nữa”; sẽ lặp lại tháng 4-1975 rồi tiếp tục sau đó.

Với Bắc quân, câu hỏi còn nguyên: “Giải phóng gì?”

Thông tin không phá hủy chất văn, Quảng Trị Đất Đợi Về toát ngời khí hậu của Mậu truyện mà người đọc còn nghe thấy “một không khí chìm chìm nhưng đầy đe doạ”, còn trông thấy hoa phượng đã “trở thành những vũng máu đọng chờ khô của một cái chết”. Thời điểm của phóng sự, là ngay sau khi Quảng Trị thất thủ, Cộng quân áp sát sông Mỹ Chánh uy hiếp Huế.
[Trần Vũ]

Mỗi lần trước khi trở lại miền Trung, điều tôi thường hỏi: ngoài đó bây giờ mưa hay nắng. Lần này cũng thế, người em tôi vừa từ Huế trở về sau hai mươi ngày công tác nói: trời đang nắng và thành phố đầy hoa phượng, hoa sen. Bây giờ ngoài đó mùa hè và tôi nhớ tới không khí oi bức trong những chuyến đi cũ vào những thời gian đầu mùa hè: hoa phượng đỏ trên những ngọn cây, hoa sen nở đầy trong hồ Tĩnh Tâm, chung quanh trường thành, những trái nhãn nhỏ sai trên ngọn cây trong Thành nội.

Nhưng khi tôi đặt chân tới Đà Nẵng, buổi chiều mây thấp và mưa nhỏ hạt. Người bạn nói với tôi trời mới đổ mưa từ buổi sáng. Tôi nhìn thấy mây thấp trên phía đèo Hải Vân.. Đà Nẵng mưa thì chắc Huế mưa. Tôi hỏi về con đường qua đèo, người bạn nói: đi được như thường, hôm qua hơi bị kẹt vì cầu Nam Ô bị gẫy. Tôi hỏi cây cầu nào. Anh bạn nhắc lại: cầu Nam Ô. Tôi nói không phải, tôi biết ở đó có hai cây cầu, tôi muốn biết cầu nào vì trong chuyến đi trước, cây cầu mới xây cất, thứ cầu cho những xa lộ chưa dùng được, hôm trước đã có tin cho biết cầu Nam Ô bị sập, nhưng là cây cầu cũ, cầu xe lửa, người bạn nói, bây giờ thì cả hai nhưng đang được sửa chữa. Trời mây thấp, mưa nhỏ hạt, những sự di chuyển ướt át khiến cho thị trấn có một khung cảnh đìu hiu.

Tôi gởi hành lý lại nhà người bạn rồi chạy quanh, vẫn khung cảnh quen thuộc, thêm một vài ngôi cao ốc đang được xây cất nhưng chừng như công việc đã ngừng lại, những trường học trở thành trại tạm cư. Tại trường nữ, tôi thấy những nữ học sinh ngồi gác cổng ra vào trong khi đó có một gia đình thì chất hành lý lên hai chiếc xích lô, tôi hỏi và được biết: họ dời ra trại Hoà Khánh. Trại tạm cư  Nguyễn Thượng Hiền cũng đã đóng cửa với tấm vải lớn kẻ những hàng chữ cho thấy những người tỵ nạn đã ra sống ở trại tạm cư Hoà Khánh.

Đi bộ trên đường phố tôi thấy số xe ôm gia tăng với những chiếc xe ghé lại lề đường. Buổi chiều báo từ Sàigòn ra trễ và những nhà sách đông người ghé lại đợi chờ những tờ báo phát hành từ chiều hôm trước tại Sàigòn… Tôi ghé lại nhà những người quen, nơi nào cũng có những người thân từ Quảng Trị, từ Huế vào tạm trú, một vài người đã trở lại Huế, hoặc đi Sàigòn, tôi được nghe nói về những người tỵ nạn đã vào Chu Lai, đã đi Long Khánh.

Một gia đình trong khi chạy khỏi Quảng Trị đã bị thất tán, một nửa vào được Đà Nẵng, còn một nửa không biết đâu, những người thân đang đi tìm kiếm nhau. Đài phát thanh Đà Nẵng với mục nhắn tin đài của những người ở Quảng trị tìm tin cha, tìm mẹ, chồng con thất lạc. Có những đứa trẻ tám chín tuổi bị lạc gia đình trên đường chạy giặc. Theo dõi mục nhắn tin tôi thấy nỗi tan hoang đối với hơn ba trăm ngàn dân chúng vùng giới tuyến.
 
Trại tạm cư lớn nhứt ở Đà Nẵng dành cho Quảng Trị nằm ở Hoà Khánh, một Quận ở ngoài Thị xã, nằm phía nam đèo Hải Vân, ngay ven quốc lộ Một. Tôi ngạc nhiên khi vừa từ thị xã tới đây lúc đứng trước một ngã ba đường có tấm bảng lớn sơn xanh, kẻ chữ trắng hàng chữ: QUẬN GIO LINH.

Quận Gio Linh, tôi nói với người bạn: quận Gio Linh ở Đà Nẵng! Tôi nhớ tới nơi tôi đã từng ghé lại trong những năm trước trên đường công tác. Ngày ấy tôi theo quốc lộ Một vượt Đông Hà ra tới đồn A2 nằm ngoài cùng giáp với vùng phi quân sự sau khi Quân Đội ta đã bỏ chân cầu Hiền Lương trở vào trấn đóng phía trong gần với quận Gio Linh. Trên con đường đầy những bom đạn tôi chỉ thấy những cánh đồng hoang vu không bóng người, dân chúng đã phải rời làng mạc trở vào sống trong khu định cư Hà Thành, còn lại chăng một số thôn ấp nhỏ bé nằm ở giữa quốc lộ với bờ biển, còn lại phía Tây quốc lộ thì coi như bình địa với vùng oanh kích tự do.

Nay Gio Linh chỉ còn là tên gọi của một vùng đất. Hai tiếng Gio Linh đã đi theo dân chúng vào Đà Nẵng. Bỏ quốc lộ đi sâu vào gần bờ biển, nơi đây có hàng trăm lều vải mới được dựng lên cho dân chúng tạm trú. Người trưởng trại ngày nay là ông Quận Trưởng của vùng đất cũ. Vị Thiếu Tá này người nhỏ bé trong bộ đồ đen nói cho tôi biết qua tình hình dân chúng, ông không thể đoán chắc về số dân chúng tại Gio Linh đã ra đi, vì hiện dân chúng không những chỉ sống tại Đà Nẵng, họ còn vào Chu Lai và nhiều nơi khác nữa, con số phỏng chừng khoảng 28 ngàn người ra đi so với dân hơn ba chục ngàn người. Ông kể lại cho tôi nghe những ngày kinh hoàng ở Quảng Trị khi đoàn người rời khỏi nơi đây để vào Huế: cả đoàn xe bị mìn và pháo kích, nhiều người bị thương phải nằm lại với tiếng kêu la thảm thiết…

- Ông thấy dân chúng có muốn đi vào lập nghiệp ở trong Nam không?

- Phần lớn dân chúng không muốn đi, họ mong trở lại Gio Linh.

Khi tôi từ trong lều đi ra thì có một người đàn ông giữ tôi lại và hỏi tôi có phải nhà báo không? Tôi nói không phải. Ông ta nói điều muốn nhờ. Tôi nói cho tôi biết. Sau đó ông ta giới thiệu là một người thuộc làng Gia Hải, một làng phần lớn sống bằng nghề chài lưới tại Cửa Việt, tôi ngạc nhiên khi biết dân chúng tại làng này đã cùng nhau xuống thuyền đi về phía Nam bằng những chiếc thuyền đánh cá nhỏ bé của họ. Điều mà người này muốn nhờ tôi là: tranh đấu cho họ được ở lại Đà Nẵng sinh sống, họ chỉ cần giúp đỡ lương thực một tháng đầu rồi sẽ tự túc bằng nghề đánh cá của mình.

Sau đó ông ta cho tôi thấy, dân chúng tại Gia Hải đưa được vào Đà Nẵng 150 chiếc thuyền, chuyến ra đi của họ hết sức gian khổ, trước hết khi ra khỏi Cửa Việt họ đã bị cộng quân ngăn cản, súng đã nổ vào đoàn thuyền, một số dân chúng đã không ra đi được vì những làn đạn này, nhiều người đã bị thương và chết trong chuyến ra đi, trước hết họ tới được cửa Thuận An. Sau đó tới Thuận An vào trong bãi biển Đa Phước.

Khi tôi nói tới chuyện đi vào miền Nam, ông ta nói chính phủ có thể mang được người đi nhưng còn thuyền bè của chúng tôi thì sao, chúng tôi sống bằng nghề biển như vậy làm sao để thích ứng với nghề nông trong khu vực khai hoang? Chung quanh tôi mỗi lúc một đông người, mỗi người góp một câu chuyện, ai cũng mong được sống ở Đà Nẵng và chờ ngày trở lại quê hương của họ, tôi cũng đã được nghe câu chuyện thương tâm của một người mẹ kể lại cái chết của con mình trên chuyến đi Nam, đứa con của bà đã chết trên chiếc thuyền của gia đình trong khi vượt biển vào cửa Thuận. Tôi mường tượng thấy cảnh tượng bi hùng của chuyến ra đi, cảnh tượng giống như những người dân miền Bắc trong vụ Trà Lý, những người đã chọn để được sống tự do hoặc là chết… Gần hai mươi năm sau, cảnh tượng đó lại tái diễn một lần nữa.

Câu hỏi mà tôi hỏi đi hỏi lại nhiều lần với những người đã gặp là: tại sao không nghĩ tới việc vào các vùng đất an ninh, phì nhiêu ở Nam lập nghiệp? Tất cả đều nói: chúng tôi chờ đợi trở về. Trở về, họ như gắn liền với đất đai khô khan cực nhọc, họ không muốn rời khỏi quê hương nơi có những mái tranh nghèo, những mồ mả tổ tiên, nơi họ đã được sinh ra và lớn lên trong nỗi nhọc nhằn.

Trước đây, ngay từ thời Đệ nhất Cộng hoà, công việc di dân lập ấp được đặt ra, dân chúng tại đây cũng đã từ khước ra đi, ngày nay họ vẫn không thay đổi ý muốn đó. Chừng như quê hương càng đau khổ, đời sống càng nhọc nhằn người dân càng gắn bó keo sơn với nó. Vùng Gia Đẳng, Gia Hải… những vùng cát trắng khô khan kia vẫn còn lại những gì mà người dân thấy không thể bỏ nó mà ra đi được cho dù họ biết chắc rằng ra đi họ sẽ có một nơi sung sướng hơn, đầy đủ hơn.

Những gia đình với hành lý nghèo nàn ở trong trại tạm cư chia nhau những diện tích nhỏ hẹp để sống, những trẻ con vẫn nô giỡn trên bãi cát, những bà mẹ vẫn nhẫn nại nhóm những bếp lửa nhỏ lo bữa ăn đạm bạc hàng ngày. Tôi thấy chiếc áo màu của một sinh viên ra đây lo cứu trợ như lạc lõng với khung cảnh.

Trại tạm cư Hoà Khánh lớn lao hơn nhiều trại tạm cư dành cho dân thuộc Quận Gio Linh. Nơi đây bao gồm dân chúng thuộc nhiều Quận, phần lớn họ được sống trong những ngôi nhà tôn của một trại binh Mỹ. Những con đường trong trại tráng nhựa phẳng lì còn tốt nguyên vẹn, nhưng những ngôi nhà thì phần lớn đã hư vì thời gian, nhiều vách gỗ đã bị gỡ, những bao cát phần lớn đã mục khiến cho khung cảnh có vẻ điêu tàn. Ngay trong những ngã tư đã có những hàng quán giải khát, dân chúng như đã bắt tay ngay vào việc tìm sống. Nhiều người lo đi tìm kiếm những người quen, người ra kẻ vào tấp nập.

Đại Tá Hoà, người tôi gặp lúc ông cầm đầu một phái đoàn, là vị Tỉnh Trưởng Quảng Trị. Ông mới về làm Tỉnh Trưởng được ba tháng, nay ông đã ở Đà Nẵng với những người tỵ nạn. Trông ông thấy phảng phất một vẻ buồn. Dân số Quảng Trị có hơn ba trăm ngàn, con số còn bị kẹt lại khoảng 50 ngàn, tôi thấy số dân chúng ra đi thật lớn lao và thực sự là đau đầu với chính người cộng sản khi tới chiếm Quảng Trị. Họ phải nói thế nào với quốc tế về điều họ vẫn nói: dân chúng ủng hộ họ, và về chiêu bài giải phóng vẫn không ngớt được nói đến. Không,dân chúng đã ra đi khi người cộng sản đến. Không có dân, đất đai còn có nghĩa gì nữa?

Người thanh niên ấy có nước da ngăm đen, vẻ ngơ ngác trên mắt nhìn, gò má cao, cằm vuông, anh hơi chút mỉm cười ngậm ngùi khi tôi hỏi anh về chuyến hành trình đã trải qua. Anh lặng đi rất lâu, giọng anh trầm xuống, có lúc tôi chỉ thấy môi anh mấp máy và như tiếng nói biến mất: trước hết chúng tôi về Quảng Trị, thực chúng tôi không nghĩ có lúc sẽ ở đây, nếu biết vậy chúng tôi đã đi thẳng tới đây, chúng tôi không ai nghĩ thế cả, nhưng rồi chúng tôi phải đi khỏi Quảng Trị, ngày đó là ngày mấy nhỉ, không rõ là 28 hay 29 gì đó, mà chừng như…, phải rồi, pháo kích, rồi mìn anh ạ, rồi cả một cuộc giao tranh nữa, những chiếc xe nổ tung, những thân người văng lên, tan tác những tiếng kêu khóc thảm thiết, mạnh ai nấy chạy, không còn ai nghĩ tới chuyện cứu ai nữa… Chúng tôi chạy, chỉ biết chạy thế thôi… với hai bàn chân chúng tôi tiếp tục đi, trước hết là Huế, sau tiếp tục đi nữa, không, anh không thể hiểu được nếu anh không cùng chúng tôi trong chuyến ra đi ấy, chúng tôi có cảm tưởng như ngay sau chân chúng tôi cộng sản theo bén gót..

Chúng tôi như tranh nhau lấn bước về phía trước, người ta có phương tiện để đi, chúng tôi thì không, quốc lộ như thế mà bốn hàng xe chạy thì anh thử hỏi làm sao chúng tôi len chân, và trên dọc đường ấy người ta như đứng lại với nhau, không còn trật tự nữa, thỉnh thoảng súng lại nổ và người nháo nhác… Tôi đã thấy ngay trước mắt tôi chiếc xe lật xuống đèo và những người chết, tôi đã thấy những bà mẹ kêu gào tìm đứa con thất lạc… Tôi không hiểu tại sao sự việc lại xảy ra như thế, bây giờ nhìn lại tôi càng thấy vô lý, bọn nó chưa tới được vòng đai mà sao mình đã bỏ lại hết để chạy… Tôi lạc mất một người em gái, cho đến hôm nay tôi vẫn không hiểu nó còn sống hay đã chết phơi xác dọc theo quốc lộ…

Người thanh niên lặng đi, đôi mắt nhìn xuống trũng bóng tối. Tôi không còn biết có lời nào để nói với anh. Tôi nhớ lời anh Cường kể lại chuyến đi của chính anh, thực anh chưa muốn đi nhưng sau nhìn lại thấy mọi người đi hết thì anh sợ, người anh nghĩ chưa đi là anh Du thì anh đã thấy lên trực thăng đi rồi, cuối cùng anh phải đi chiếc xe cũ đưa anh lên đèo nhích từng chút, có lúc xe không đứng lại được mà tụt xuống, đi từ sáng cho mãi tới 9 giờ tối mới vào tới Ðà Nẵng, trên đường anh đã thấy những đào binh nổ súng bắt xe cho họ lên, anh đã thấy một bà cụ già ngồi trên một tấm gỗ có gắn bánh xe, tay bám lấy chiếc dây thừng buộc vào chiếc xe đạp của người con đạp phía trước… Mường tượng tới cảnh ra đi, quãng đường Quảng Trị-Huế-Ðà Nẵng trở thành một cuộc trường chinh cho người dân Trị Thiên, tôi nghĩ nếu con đường đèo bị cắt, hay một cuộc phục kích xảy ra thì họ sẽ ra sao?

Trời mưa nhỏ hạt suốt đêm, sáng hôm sau trời vẫn thấp mây, tôi mang theo hành lý để tới Huế như dự định, trước khi đi tôi ghé lại thăm anh Lam, tôi nghĩ anh nắm được nhiều dữ kiện về những sự việc đã xảy ra. Tôi thấy anh hết sức bình tĩnh và nói với tôi về công việc anh đang làm, giúp đưa dân chúng Quảng Trị vào miền Nam theo chương trình di dân khẩn hoang của chính phủ, anh cho thấy dân chúng không muốn đi riêng, họ muốn đi cả Quận, cả Làng. Anh cũng nói tới hoạt động của các đảng phái một cách lạc quan. Khi hỏi anh: ai ra lệnh rút khỏi Quảng Trị, anh nói không phải Tướng Lãm ra lệnh. Anh cười khi đặt với tôi một vài vấn đề sau khi rút khỏi phần đất này, việc oanh tạc Bắc Việt, việc thả thủy lôi xuống các cửa biển và sông ngòi miền Bắc…
 
Tôi ra bến xe, trời mưa nhỏ, tôi chờ cho những chuyến xe từ Huế vào tới nơi thì leo xe trở ra. Tôi thường theo cách đó để có thể yên tâm lên đường mỗi khi ra đây công tác. Chuyến xe quen thuộc màu đen với mười chỗ ngồi, số người trở ra Huế chờ đợi từng chuyến xe đến và trong chốc lát lên đường trở ra. Ðường ra khỏi thị xã xe cộ đủ loại nối đuôi nhau, có hàng trăm xe vận tải đưa đạn vượt qua đèo. Trước khi tới cầu Nam Ô xe bị đọng lại với sự chờ đợi oi bức, xe nhích từng khoảng ngắn. Khi ngang qua tôi thấy dòng sông rộng. Cây cầu xi măng bị hư một nhịp đang được sửa chữa và hiện có một cầu tạm bắc lên cho xe cộ lưu thông.

Cầu Nam Ô là cây cầu xa lộ độc nhất được hãng thầu Mỹ làm cho suốt dọc quốc lộ từ Ðà Nẵng tới Huế, cầu Lăng Cô là cầu cũ được sửa lại, còn hầu hết những cây cầu khác được làm bằng gỗ ở đây đã bị phá sập, những binh sĩ công binh đang lo đắp một con đường vòng và sửa lại cây cầu.

Chiếc xe tôi đi chạy hơi ra ngoài bị chận lại, như một hình phạt không được qua, người tài xế bứt đầu bứt tai nhìn những chiếc xe chạy sau vượt lên phía trước, tôi thấy nhiều xe chở hàng không có mui chở đầy người, đó là những gia đình ở Huế trở lại nhà, họ mang những hành lý. Có những chiếc xe có mui thì người ngồi cả trên mui cao, trên quãng đường này tôi cũng thấy nhiều xe chạy đường xuyên Việt, từ Quảng Trị tới Sàigòn, nhưng vì biến cố trong những ngày qua đã khiến cho những chuyến xe này không thể trở lại Sàigòn được. Những chuyến xe sẽ thương nhớ đường dài…

Mưa vẫn đổ mau hạt trong khi xe qua đèo, con đường rộng, nhựa phẳng trở thành nguy hiểm, tôi nghĩ tới những ngày tháng trước khi đoàn người tỵ nạn phải ngang qua đây. Một trăm cây số của đường dài lo âu chất ngất và nỗi kinh hoàng nhìn về ngày mai… Vùng biển Lăng Cô làm tôi nhớ lại mộng ước được về sống trong một xóm dân chài của Ninh Hoà, hai tiếng Hòn Khói vẫn còn ghi nhớ với những cồn cát trắng như tuyết và những ngọn dương cao cùng với biển xanh bao la phía trước… Quê hương ta những vùng đất hứa có thật vẫn còn đó nhưng chừng như lúc nào cũng ở ngoài tầm tay với…

Cầu Phú Lưu bị sập nhưng vẫn di chuyển một chiều, khoảng đường từ phía chân đèo trở lại Huế tôi thấy nhiều binh sĩ thuộc Sư Đoàn 3, họ có mặt nơi những chiếc cầu còn lại. Trên một thành cầu sắt của đường xe lửa tôi nhìn thấy hàng chữ: Bảo vệ cây cầu tới giọt máu cuối cùng. Tôi buồn rầu nghĩ tới những cây cầu đã gãy. Tôi nghĩ tới những cây cầu gỗ trên quốc lộ 9 nối Ðông Hà tới biên giới và trên quốc lộ 1 Gio Linh tới Ðà Nẵng.

Năm 1968, khi tôi theo quốc lộ 9 lên Cam Lộ, nơi có trên 6 ngàn dân chúng quận Hướng Hoá từ trong núi về tỵ nạn, trong số này phần lớn là sắc tộc Bru. Bấy giờ trận chiến ác liệt ở Khe Sanh, trong khi xe ủi đất Mỹ làm việc không ngừng, họ mở rộng đường trải đá, trải nhựa và làm cầu. Tôi tự hỏi như vậy có phải con đường sẽ được dùng để sang Lào không? Năm 1970 trở lại, cả vùng đã hết lính Mỹ, chúng tôi dùng xe díp chạy từ Quảng Trị lên Cam Lộ uống cà phê và nói chuyện hoà bình, ngày lên xin đất mở đồn điền trên Khe Sanh…

Tôi nghĩ tới những cây cầu và hỏi: những cây cầu bằng gỗ này chịu đựng được bao nhiêu năm? Tại sao không phải là cầu xi măng? Không ai trả lời. Và tôi cũng đã hỏi: sao Mỹ làm con đường này tốt vậy mà không dùng? Và câu trả lời mãi tới khi có cuộc hành quân sang Hạ Lào tôi mới thấy, mỗi ngày hàng trăm xe đạn dược theo đó mà tới Khe Sanh. Nói tiếp về những cây cầu tôi cũng thấy từ Gio Linh vào Huế chỉ mới có một cây cầu mới đúc, còn hầu hết là cầu gỗ. Và bây giờ tôi lặp lại câu hỏi: những cây cầu chưa bị phá sẽ còn chịu đựng được bao nhiêu lâu?

Phú Lộc, La Sơn, Phú Bài, Phú Lương, Dạ Lê, An Cựu… và cầu Trường Tiền. Huế vẫn còn đó, một sinh hoạt lặng lẽ, nhiều căn nhà cửa đóng nhưng có toán công nhân sửa đường vẫn làm việc, những người thợ nề vẫn tiếp tục trát vôi nơi bệnh viện trung ương đang xây cất… Hoa phượng đỏ như máu trên những con đường hai bên bờ sông, trong Thành nội, ghe thuyền đầy trong lòng sông nhà bè và vùng Bao Vinh không khí như thuở thanh bình, tôi nghe thấy một không khí chìm chìm nhưng đầy đe doạ. Tôi tìm gặp lại những người bạn cũ, gần hết đã ra đi. Anh Tấn bây giờ nuôi râu dài như một đạo sĩ, anh Du như già hơn mấy tuổi, anh nói lại một ngày từ sở làm ra đường tìm xe về nhà, phố vắng tanh, không một chuyến xe khiến anh ngao ngán thấy mình như con chó hoang, và mắt anh như rưng rưng khi kể lại chuyến bay đưa anh khỏi Thành nội trong không khí nháo nhác tan vỡ. Bây giờ thì anh đã trở về một mình sống như mình muốn sống.. Thục nói: ở lại với ý nghĩ ngông cuồng làm kẻ tuẫn đạo… Liệu có mất Huế không?

Cộng sản có đánh Huế không? Tại sao Huế không bị pháo kích? Những câu hỏi đặt ra mà không ai dám trả lời khẳng định, ai cũng có ý kiến nhưng sau đó là cái mỉm cười ngụ ý… Thành phố đầy những lính, đủ màu áo, hình như không thiếu một binh chủng nào, ít hoặc nhiều họ đều có mặt. Tôi gặp lại những người bạn trong Quân Đội những ngày cũ. Những hàn huyên không hết về kẻ sống người chết, những người ở An Hậu, những ngày ở Phú Thứ, những ngày trong Dãy Phố Buồn Thiu, những ngày ở Khe Sanh, những ngày rong chơi yên bình trong những làng xóm ở Triệu Phong nói chuyện về những nàng cung phi sinh trưởng ở Sải, và vẻ đẹp tây phương của những cô gái ở Mỹ Chánh, dòng sông mà người bạn tôi nói nửa đục nửa xanh, nơi những thuyền bè tây phương từ thế kỷ trước đã vào đó…

Trên máy bay nhìn xuống quốc lộ 1 chỉ thấy một dòng xuôi về Nam hỗn độn…

Buổi chiều mưa thật lớn, người bạn nói với tôi cơn bão đang tiến tới. Một người bạn nói với tôi về Huế: đất gì lạ, một năm ở đây thì có ba tháng để tranh đấu, ba tháng để chịu tai ương, ba tháng để cứu trợ, còn ba tháng để làm thơ. Ðiều người bạn nói thực đúng với thời gian 10 năm trở lại đây, Huế đầy những tai ương và đau khổ, cơn ác mộng Mậu Thân với hàng ngàn người bị chôn sống vẫn còn ám ảnh những người sống sót, đó là một trong những điều giải thích vì sao họ đã lũ lượt kéo nhau ra khỏi Huế dù thực sự chiến tranh chưa đến.

Tôi theo xe người bạn ra khỏi Huế, hiện đang có những cuộc chuyển quân vào phía Tây và phía Bắc, những binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến đã đột kích ba lần vào vùng đất Quảng Trị, nhưng sông Mỹ Chánh vẫn là chiến tuyến. Quốc lộ 1 chạy về phía Bắc vắng hoe, chỉ có những xe nhà binh di chuyển với vận tốc nhanh hơn thường ngày, những cánh đồng ở Hương Ðiền vẫn có bóng người nông phu, thiên nhiên vẫn như một ngày thanh bình cũ. Trong phòng tuyến, tôi hỏi một anh bạn: bao giờ qua bên kia? Người bạn cười, định qua rồi nhưng mưa nên ngừng. Sao vậy? Hết mùi thối rồi… Tôi không hiểu. Người bạn nói: Mấy hôm trời nắng, gió Nam thổi hôi quá chịu không nổi tính hành quân để chôn xác chết của mấy trận, nhưng mưa rồi nên đỡ..

Tôi rùng người và thấy như đầy mùi tử khí. Tôi mường tượng tới khoảng đường còn lại để tới Quảng Trị, những làng mạc và đồng ruộng ngày nay còn ngổn ngang những xác người đã nằm xuống trong những ngày trước, nắng lửa làm cho những tử thi trương lên và bây giờ những cơn mưa làm cho tan rã… Ðêm lại cơn mưa lớn. Tôi cùng người bạn ngồi trong quán cà phê, chút rượu khiến cho chúng tôi ngây ngất. Trên chiếc xe nhỏ chúng tôi đi trên những con đường vắng không có bóng người, chỉ có những tàn cây và bóng tối, thỉnh thoảng mới gặp những người lính ướt nước. Tường thành lầm lì, những bãi cỏ tranh cao với bông trắng, tất cả như thầm thì một tâm sự. Không khí lặng như một cõi chết nào. Thiên nhiên kia còn nghĩa gì khi không còn những mắt nhìn chan chứa, không còn nhịp tim rộn ràng? Tôi như nghe thấy tiếng thở dài của những cánh sen hồng về nỗi tàn tạ. Mùa hè đã đến rồi đấy nhưng như đã mất vì không có tiếng guốc khuya trên cầu, hoa phượng đã nở đỏ nhưng không còn là màu của nắng lửa, nó trở thành những vũng máu đọng chờ khô của một cái chết.

Người bạn nói: Tôi ở lại đây và tôi chờ ngày vào Quảng Trị.

Tôi nhìn người bạn.

Dương Nghiễm Mậu - 1972

(*) Quảng Trị Đất Đợi Về đăng lần đầu trên Tạp chí Chính Văn số 1 phát hành ngày 17 tháng 5-1972

Từ “thánh vật” đến “trận đồ bát quái”!

Phạm Hiếu

alt
Sau hai câu chuyện về “lời nguyền” ở Hà Tỉnh với những người lỡ động đến nhà thờ anh hùng Phan Đình Phùng, và chuyện Đề Thám đòi gươm, tuần này chúng ta nhắc lại chuyện báo oán của những “hồn ma bị nhốt trong trận đồ bát quái” ở thành Đại La.
Thành Đại La là trung tâm của An Nam đô hộ phủ thời nhà Đường trong hai thế kỷ 8 và thế kỷ 9. Thành nằm ở vị trí giữa Thành Hà Nội và sông Tô Lịch, thuộc quận Ba Đình của Hà Nội hiện tại. Năm 1010 được vua Lý Thái Tổ đổi tên là Thăng Long thành.
alt
Thành được Trương Bá Nghi ra lệnh đắp từ năm 767 và qua nhiều đời sửa sang, trùng tu. Đến năm 866 được Cao Biền mở rộng, đắp lớn hơn, có chu vi 1,982.5 trượng (6,6 km); cao 2,6 trượng (8.67 m). Theo truyền thuyết, do thành xây đi xây lại vẫn bị sụt ở vùng sông Tô Lịch, Cao Biền đã cho trấn yểm tại đây để làm cho đất vững và chặn dòng long mạch của vùng đất này.
Tháng Sáu năm 2001 Công ty liên doanh xây dựng VIC trúng thầu gói thầu gồm 7 dự án cải tạo hệ thống thoát nước Hà Nội (CPTA). Công việc nạo vét và kè đá bờ sông Tô Lịch thuộc địa phận làng An Phú – Phường Nghĩa Đô – Quận Cầu Giấy – Hà Nội giao cho đội thi công số 12 do Kỹ sư Nguyễn Hùng Cường làm đội trưởng. Việc thi công thực hiện theo mô hình giao khoán: đội trưởng tự bỏ tiền ra mua vật liệu, trả lương, hoàn tất từng hạng mục công trình sẽ được VIC thanh toán tiền.
Ngay trong ngày động thổ, toán thi công đã phát hiện các chứng tích của “trận đồ bát quái” nên tạm ngưng việc thi công để giới khảo cổ học nghiên cứu. Đến tháng Tám năm 2002 công ty này mới tiếp tục thi công thì liên tiếp gặp họa.
Tiền đã lỡ rót ra, không thể bỏ cuộc trong khi nguyên Giám đốc VIC là Nguyễn Quang Hưng không hề thông cảm mà liên tiếp gây sức ép, ông Nguyễn Hùng Cường lâm cảnh “đâm lao thì phải theo lao” để rồi tan nát gia đình.
Tuy nhiên mãi đến năm 2007 câu chuyện mới được thuật lại trong phóng sự “Thánh vật ở sông Tô Lịch” kéo dài ba kỳ trên báo Bảo vệ Pháp luật của viện Kiểm sát nhân dân tối cao trong các số 13, 14, 15 ra từ ngày 31 tháng 3 đến 14 tháng 4 năm 2007.
Khỏi phải nói, những số báo này bán chạy như tôm tươi và khiến dư luận Hà Nội và các tỉnh thành lân cận sôi lên, người người nườm nượp đổ về đây cúng kiến. Việc này khiến Sở Văn Hoá Thông tin Hà Nội bị khiển trách và ngay lập tức Bộ Văn hóa – Thông tin áp dụng “biện pháp” bằng cách cách chức ông tổng biên tập tờ báo vì tội đăng bài có nội dung mê tín dị đoan. Ngày 9 tháng 5 năm 2007, Chánh Thanh tra Bộ Văn hóa – Thông tin Việt Nam ký quyết định số 15/QĐ-XPHC xử phạt Tổng biên tập báo Bảo vệ Pháp luật, với số tiền phạt là 20 triệu đồng vì “thông tin sai sự thật gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống xã hội”.
alt
Lời người trong cuộc
Sau đây là lời kể đầy đau khổ và hối hận của kỹ sư Nguyễn Hùng Cường:
“Trước khi thi công, với tư cách chỉ huy công trường tôi có mời ông Phạm Ngọc Anh kỹ sư thủy lợi làm chuyên viên kỹ thuật. Ngay ngày đầu tiên khi khảo sát thực địa, ông Anh phát hiện một ngôi Đền rất lớn ở bờ sông phía An Phú. Đó là ngôi Đền Quán Đôi có từ thời Lý. Ông Anh nói luôn: ‘Cậu không nên nhận thi công đoạn sông này. Nguy hiểm lắm’.
Rất ân hận, tôi đã không nghe theo lời khuyên này.
Ngày 15/8/2001 tôi vừa làm lễ trong đền Quán Đôi, vừa cho máy xúc, máy ủi xuống bờ sông khởi công. Vừa thắp được mấy nén hương thì tự nhiên lửa trong nắm hương cứ bùng bùng cháy rực, đồng thời ngực tôi đau buốt. Mãi mới dập được lửa, cắm lên bát hương thì công trường báo có sự cố. Vái vội mấy vái, tôi chạy ra ngoài. Thì ra ngoài công trường sau khi đắp đê bơm nước ra, anh em phát hiện rất nhiều cọc gỗ lim đóng theo những hàng ngắn, bố trí rất lạ.
Cũng là vô sư, vô sách, tôi chỉ huy cho máy nhổ cọc lên. Máy vừa nhổ được 2 chiếc cọc, thì tự nhiên như có một lực gì đẩy, chiếc máy xúc tự trôi xuống sông, không có cách gì giữ được. Đồng thời đê ngăn nước vỡ, nước tràn vào ngập kín chiếc máy xúc. Cũng gần như cùng lúc ấy có tiếng người hét lên. Trong đống bùn mà máy xúc đã xúc lên bờ có lẫn rất nhiều xương người, xương thú vật, rất nhiều đồ gốm, đồ sắt, đồ dùng như bát đĩa, dao, liềm, kim khâu, tiền đồng, tiền cổ. Biết là gặp chuyện lớn, tôi cho dừng thi công, yêu cầu công nhân gom tất cả đồ cổ, xương người lại và báo với Bảo tàng Hà Nội.
Ông Phạm Kim Ngọc Gíam đốc Bảo tàng Hà Nội và nhiều nhà khoa học đã đến hiện trường thu nhặt cổ vật mang về bảo tàng. Tối hôm đó, anh Hùng, người lái máy xúc nhổ cọc, đang khoẻ mạnh vừa về đến nhà chợt lên cơn động kinh, mắt trợn, miệng sủi bọt mép, người cứ quay tròn như gà bị cắt tiết. Cả nhà anh Hùng biết có sự lạ, sắm lễ ra bờ sông vừa khóc vừa lễ. Thật sợ, vừa lễ xong, đốt vàng mã được một nửa thì điện thoại ở nhà báo tin anh Hùng đã tỉnh lại. Không biết làm cách nào, nghe bạn bè mách, tôi phóng xe đi Hải Phòng mời một thầy pháp nổi tiếng về trừ tà. Vừa nói chuyện với thầy, tự nhiên thầy trừng mắt: “Này, chỗ ấy âm khí nặng nề, sức tôi không trừ được”. Năn nỉ mãi thầy mới đi về HN mà cũng chỉ dám làm lễ cầu an ở bờ sông và ngay đêm đó về HP.
Mấy ngày sau, Bảo tàng HN tổ chức một hội thảo khoa học, hội tụ rất nhiều các nhà khoa học cả về sử học, bảo tàng, tâm linh. Kết luận của giáo sư Trần Quốc Vượng được chấp nhận: Đây là trận đồ bát quái yểm trấn giữ cửa thành Đại La từ thế kỷ IX. GS cũng đề cập đến lực lượng âm binh tại đây và dặn tôi phảỉ cẩn thận kẻo ảnh hướng đến sức khoẻ và tính mạng công nhân.
Tôi cùng anh em công nhân thu nhặt hết tất cả xương người liệm vào tiểu và chôn ở bờ sông, hàng ngày cắt cử người hương khói. Nhưng công việc không tiến triển được. Cứ đắp đê lên, lại vỡ. Anh em công nhân ở công trường thì luôn luôn mơ thấy ma quỷ và thường gặp tai nạn lao động. Vét được chút bùn nào lên thì cũng thấy xương người, có khi cả đầu lâu. Chúng tôi liệm hết vào tiểu đêm chôn gần đó.
Một mặt tích cực đổi mới kỹ thuật thi công, mặt khác tôi vẫn tiếp tục mời thầy cúng trừ tà giải hạn. Nhưng tất cả các thầy bắc, nam đều bất lực. Công nhân toàn nằm mơ thấy những người mặc áo the, khăn xếp đánh đuổi không cho nằm. Nhiều người đã bỏ việc không dám ở lại. Anh Thương quê ở Nghệ An là công nhân xây lắp ngủ ở lán công trường, đêm nào cũng mơ thấy một bà cụ hiện lên nắm tóc đuổi đi và nói ‘Đây không phải chỗ kiếm ăn của mày, về quê mà sống’. Anh Thưởng không chịu bỏ đi, còn khuyên nhiều công nhân ở lại làm. Được 3 hôm vợ anh làm cấp dưỡng cho công nhân bị bỏng độ 3 toàn thân. Sợ quá anh đưa vợ đi bệnh viện và bỏ việc luôn”.
Nhà sư, thầy pháp bó tay
Kỹ sư Cường kể tiếp:
“Đến tháng 11/2001 nhờ tích cực vận động tôi đã mời được thượng toạ Thích Viên Thành ở chùa Hương về làm lễ cúng cho tôi ở hiện trường. Vừa đến hiện trường thầy đã ngồi xuống nhắm mắt niệm phật. Niệm một lúc thầy đứng lên nói. Đây là trận đồ trấn yểm rất nguy hiểm. Vì các đệ tử thầy sẽ lập đàn tràng hoá giải. Sau đó thầy lập đàn tràng ở bờ sông hoá giải trấn yểm. Lễ xong thầy Thích Viên Thành nói với mọi người, ‘Mặc dù thầy đã cố hoá giải nhưng anh em phải cẩn thận, còn anh Cường thì phải chịu nhiều hậu quả, gia đình, anh em con cháu cũng gặp hoạ. Rồi buồn buồn thầy nói: vì cái đàn tràng này tính mạng thầy cũng khó giữ’. Ba tháng sau thầy Thích Viên Thành hoá.
Các đệ tử nói trước khi mất thầy còn nói thầy mất vì trận đồ yểm ở sông Tô Lịch.
Nhưng công việc cũng không tiến triển được. Đê đắp lên là vỡ, kè thép không vỡ thì nước sói từ dưới lên. Đặt đá xuống thì đá chìm ngỉm. Để kiểm tra địa tầng tìm kiếm biện pháp thi công mới tôi thuê một dàn khoan thăm dò đến khoan mấy mũi. Dàn khoan dựng ở giữa sông, đội khoan hạ mũi khoan. Lạ thay cứ hạ mũi khoan xuống một đoạn là mũi khoan gãy. Ba lần như vậy họ lẳng lặng tháo dàn khoan đi mất, không cần đòi tiền. Công nhân thì vẫn hoang mang vô cùng. Anh Hoàn quê ở Ninh Bình làm đốc công, có hôm vừa dẫm chân lên đầu cột gỗ thì ở quê nhắn lên bố anh ốm thập tử nhất sinh phải cấp cứu. Anh Nguyễn Văn Nông, thủ kho là người tích cực trong việc thu lượm các hài cốt và di vật thì mẹ bị tai biến mạch mãu lão. Sau khi thày Thích Viên Thành làm lề hoá giải yểm trừ, anh Trần Văn Lợi người Bắc Giang xông sáo nhất nhảy xuống lòng sông vét bùn, vừa lên bờ tắm rửa xong thì nghe tin nhà ở quê bị cháy rụi, một đứa cháu rất thân với anh đột nhiên chết.
Các công nhân sợ hãi nghỉ việc cả. Chiều chiều đứng bên bờ sông hoang vắng lòng tôi bỗng chua xót. Tôi có tội gì đâu mà thánh thần hại tôi đến nỗi này….
Lúc này một số báo chí đã nói tới những sự kỳ lạ xung quanh công trình sông Tô Lịch đoạn qua làng An Phú này. Bảo tàng Hà Nội, rồi Viện tâm lý, các nhà ngoại cảm cận tâm lý đều đã tổ chức các cuộc họp tại công trình. Kết luận cuối cùng là …. Không giải thích được. Phía các nhà sử học, khảo cổ học thì giải thích đây là di tích nằm trong quần thể chính của Tây thành Đại La (có thể là Ngọ Môn), nhiều người còn yêu cầu khôi phục di tích này, phía các nhà tâm linh dịch học, thì nói đây là một trận đồ trấn yểm tà ma, không cho xâm phạm kinh thành, vì là trận đồ cho nên đã giam giữ rất nhiều ma mãnh, những bộ xương người mà tôi đào được rất có thể là xương người bị tế sống chôn lúc làm lễ trấn yểm. Cũng theo họ tôi đã động đến trận đó, phá hủy nó, giải thoát cho bao nhiêu tà ma nên nó ám vào làm hại những người có mặt lúc đó, mặt khác thánh thần cũng oán giận việc làm của chúng tôi nên ra tay trừng phạt. Chuyện thánh thần ma quỷ thì không ai nhìn thấy, nhưng những sự rủi ro mà chúng tôi phải chịu đựng thì quá đáng sợ.
[…] Vì vốn liếng, vì sĩ diện của một kỹ sư xây dựng tôi bàn với anh em thân tín quyết tâm làm đến cùng. May thay có ông Nguyễn Trưởn Tiểu – Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị VIC ủng hộ tôi rất nhiều trong công việc (hiện nay ông Tiểu đang làm Phó Tổng giám đốc Tổng Công ty xây dựng Hà Nội). Được sự giúp đỡ của ông, tôi đã mời được thầy Mão và cuối cùng đến 6.2002 ông Mão nhận lời lập đàn tràng giải trận độ bát quái cho tôi. Đàn lớn lắm, có đủ cờ phướn, hương án, lễ mặn, hoa quả có đủ. Trong danh sách chủ lễ có toàn bộ Ban Giám đốc công ty VIC, nhưng ông Hưng không đến dự. Cúng lễ hai ngày, hai đêm, hàng trăm người đến xem ầm ĩ một khúc sông. Cúng xong ông Mão nói với tôi: ‘Cậu đào khúc sông này là cậu khổ rồi. Bây giờ cậu có thể làm xong việc, nhưng nhà cậu sẽ gặp nhiều ta vạ lớn, cậu sẽ mất tất cả những gì quý giá nhất, an hem cậu sẽ tan gia, bại sản, gặp nhiều sự oan khuất. Tôi làm lễ cho cậu tôi cũng sẽ bị trả giá. Mặc dù tôi không chết nhưng e rằng sẽ khó được như trước’.
Ngay sau khi ông Mão lễ xong, chúng tôi cùng về đến nhà, thì ông Mão ngất đi. Từ lúc đó trong gần nửa tháng người nhà ông Mão đưa ông đi khắp các bệnh viện, không bác sĩ nào biết ông mắc bệnh gì, còn ông Mão thì lúc mê lúc tỉnh, lúc thì kêu khó chịu trong người, lúc thì kêu đau đầu… Cứ vậy mãi sau ông mới khỏi, nhưng từ đó sức khỏe yếu hẳn đi. Trước đây tôi không tin là thầy Thích Viên Thành chết vì tai họa sông Tô Lịch, nhưng từ khi chứng kiến ông Mão ốm thì tôi tin rằng thầy Thích Viên Thanh chết vì ma tà sông Tô Lịch thật. Nhưng lạ nhất là từ lúc lập đàn tràng lần thứ 2 do ông Mão chủ lễ, công việc có vẻ suông sẽ hơn. Cừ dựng lên không bị phá vỡ nữa, kè đập cũng không bị sụt lỡ, chúng tôi đã làm được gần 150m dài, quá 1/3 đoạn sông tôi nhận. Đến đây thì tôi kiệt sức, vốn liếng vay mượn khắp nơi rồi không thể vay thêm được nữa. Tôi quyết đinh dừng công việc tại đây. Nhưng tai họa thì không dừng lại, vào đúng ngày tôi hết sạch tiền, định cho anh em nghỉ việc thì tự nhiên một anh công nhân lên cơn động kinh ngay tại công trường, miệng sủi bọt mép, mất hoàn toàn ý thức. Lúc tan cơn co giật anh vẫn mê sảng mồm lảm nhảm: ‘Trả tao đây, trả tao đây.’
Ngay hôm sau tôi được tiếp một người quen mới từ Lào về. Đó là anh Tuấn một cán bộ ở Ủy ban dân tộc Trung ương. Năm trước, trong lúc chúng tôi đào trong trận bát quái anh có đến thăm và chọn trong các đồ cổ xúc ở dưới sông lên, xin một cái bát hoa cúc đời Lý Anh mang về bày ở trong nhà. Từng ngày ấy gia đình lục đục, làm ăn thất bại. Vừa rồi anh có đi công tác sang Lào, có một ông thầy cũng vừa nhìn thấy anh đã hốt hoảng: ‘Anh có cầm vật gì của người âm không?’. Anh trả lờ: ‘Không có ạ’. Ông thầy cúng lắc đầu: ‘Anh phải nhớ lại thật kỹ đi, tôi thấy sau lưng anh có rất nhiều người âm đang đòi anh cái gì đấy.Hình như là bát ăn cơm thì phải. Anh lấy của họ ở dưới sông làm họ không có bát ăn cơm. Anh phải trả họ ngay không thì gay go đấy.’
Anh Tuấn nhớ lại chuyện cái bát sợ quá phải bỏ dở chuyến công tác, quay về Hà Nội sắm lễ vật làm lễ tạ tồi và trả cái bát vào lòng sông đúng chỗ tôi đã múc lên. Hôm đó là ngày 24.07.2002
Chuyện còn rất dài, tai họa còn rất nhiều, ba ngày sau đó, bố đẻ tôi đột ngột ra đi và nhiều chuyện nữa đã xảy ra tôi sẽ kể chi tiết sau. […]
Bố đẻ tôi ở quê là một người đàn ông trẻ khỏe hơn tuổi 70 của mình, ông vẫn làm việc và lao động như mọi tráng niên. Sau khi anh Tuấn trả cái bát về lòng sông đúng 3 hôm ngày 27.07.2003, bố tôi đi chơi về đang ngồi uống nước ở nhà đột nhiên đứt mạch máu não và chết ngay sau 6 tiếng đồng hồ cấp cứu.
Đây là mất mát lớn nhất của cuộc đời tôi. Biết là mọi sự nguy hiểm đang rình rập, ngay sau khi đám hiếu bố tôi kết thúc, tôi ra ngay công trình, đào toàn bột tám hài cốt moi từ dưới sông đang chon tạm dọc bờ sông lên, rửa ráy sạch sẽ, xếp vào tiểu đẹp và làm lễ trọng, đưa toàn bộ lên nghĩa trang Bất Bạt an tang, cho mát mẻ vong linh người chết. Trong đau khổ mất cha, trước đàn lễ tôi vừa khóc vừa khấn rất to nhiều người nghe thấy: ‘Tín chủ xin các vong hồn tha thứ cho sự xúc phạm vào nơi yên nghỉ của các vong, nhưng tín chủ cũng chỉ là người làm thuê, thừa lệnh cấp trên mà làm, nay con đã sức cùng, lực kiệt, người thì chết, người thì ốm, tiền thì hết, nếu các vong có bắt tội thì bắt tội ông Nguyễn Quang Hưng giám đốc Công ty VIC và ông Nguyễn Trong Doanh Giám đốc dự án. Xin các vong nhẹ đỡ trừng phạt con”. Tôi cũng nói thêm, trong suốt thời gian xảy ra chuyện ở đoạn sông Tô Lịch này, hai ông Hưng và Doanh lúc nào cũng tỏ vẻ không tin và không hề có sự hỗ trợ giúp đỡ nào, thậm chí còn nhạo báng và gây thêm khó khăn cho công việc thi công của tôi.
Và cũng thật đáng sợ, chỉ 2 ngày, sau khi tôi an táng toàn bộ 8 bộ hài cốt ở nghĩa trang Bất Bạt, trong chuyến công tác ở Quảng Bình, xe ô tô chở ông Nguyễn Quang Hưng cùng một số cán bộ công ty đã bị tai nạn. Chiếc xe Toyota bị phá hủy hoàn toàn. Ông Nguyễn Quang Hưng bị chấn thương nặng, gãy 3 chiếc xương sườn…. [… ]
Còn nhiều chuyện nhỏ nữa cũng đều đáng sợ, nhưng nếu kể nữa e rằng chỉ làm bạn đọc bận tâm. Cũng có thể toàn bộ chuyện này chỉ là ngẫu nhiên mà rơi xuống số phận tôi, hoàn toàn không có yếu tố tâm linh, chỉ biết rằng theo cố GS Trần Quốc Vượng địa điểm mà tôi thi công là điểm giao hòa của 3 con sông cổ: Sông Tô Lịch, sông Thiên Phú và sông Nhuệ. Do vậy cấu tạo địa chất rất phức tạp và hình thành những vực sâu và rồi những vực sâu cũng được bồi lấp bởi mọi thứ đã từng trôi nổi trong 3 dòng chảy của con sông chính vì vậy việc thi công rất khó khăn. Nhưng cũng có thầy địa lý đã nói: đây là điểm giao hòa và là một huyệt phong thủy rất quan trọng. Vì vậy một thế lực nào đó đã lập trận đồ trấn yểm để huyệt này không phát được. Mọi việc tôi không biết rõ, nhưng chuyện của tôi và gia đình thì quá đau khổ.”
* *
Sự thật thế nào thì cần phải xét lại nhưng trấn yểm là việc có thật trong lịch sử.
Ngày xưa người ta đồn Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã xây đài bát quái tại Hồ Con Rùa để trấn yểm thế long mạch và đó chỉ là lời đồn.
Thậm chí ngày nay người Hà Nội vẫn còn truyền khẩu câu chuyện Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng trấn yểm đất Bắc. Theo những lời này thì hai lãnh tụ trên cho sửa đê sông Hồng và đắp đường ngăn Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch cũng không ngoài mục đích trấn yểm đất: họ là người Trung, và nếu không trấn yểm thì họ sẽ không yên với những đồng chí Bắc Hà đang bị họ đè đầu cưỡi cổ. Thực hư chuyện này thì cần phải điều tra thêm.
Nhưng trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên – quyển 5, Kỷ nhà Trần, do Hoàng Văn Lâu dịch, Hà Văn Tấn hiệu đính và Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1998 – có chép lại sự kiện diễn ra năm Đinh Mùi, 1247 (tập II trang 22): “Sai các nhà phong thủy đi xem khắp núi sông cả nước, chỗ nào có vương khí đế vương thì dùng phép thuật để trấn yểm, như các việc đào sông Bà Lễ đục núi Chiêu Bạc ở Thanh Hóa; còn lấp các khe kênh mở đườngngang dọc thì nhiều không kể xiết. Đó là làm theo lời Trần Thủ Độ.”
Trở lại với chính quyền Sài Gòn, sau khi Phó chủ tịch Nguyễn Thị Thu chết bất đắc kỳ tử ở tuồi 53 mà dư luận đồn đãi là “bị “Đức Thánh Trần vật chết” ký lệnh dời lư hương, nay chính quyền này lâm cảnh bi đát hơn bao giờ hết.
Ngày 7.3.2018 báo Tiền Phong đăng bản tin “‘Chưa bao giờ TPHCM thiếu nhân sự lãnh đạo như hiện tại” Bên lề phiên họp diễn ra tại Hà Nội ngày 6/3, Phó Chủ tịch UBND TP. HCM Trần Vĩnh Tuyến chia sẻ những khó khăn của thành phố trong công tác cán bộ hiện nay. Theo ông Tuyến, chưa bao giờ TPHCM rơi vào tình trạng thiếu nhân sự lãnh đạo như hiện nay: “Đây là giai đoạn khó khăn nhất của thành phố về công tác cán bộ với những lý do hết sức khách quan”.
Khó khăn thật! Sau khi bà Nguyễn Thị Thu đột ngột qua đời, đến phiên phó chủ tịch Huỳnh Cách Mạng lên cơn đau tim, còn phó chủ tịch Lê Văn Khoa thì đã nghỉ việc từ năm 2018 mà chưa có người thay thế, chính quyền mất một lúc ba phó chủ tịch.
Đây có thể chỉ là sự trùng hợp nhưng tình trạng khó khăn ‘Chưa bao… như hiện tại” lại trùng hợp với việc dời lư hương đã có 52 tuổi đời, chắc chắn tin đồn “thánh vật” sẽ còn kéo dài và giới lãnh đạo tại đây sẽ còn bất an khá lâu về mặt tâm lý.
Ngoài miệng nói là không tin nhưng hiện tại các quan chức cộng sản là bọn người mê tín hơn ai hết, tin răm rắp mấy ông thầy phong thủy và nhà quan chức nào cũng thiết lập một gian thờ đồ sộ. Những kẻ làm nhiều điều thất đức, chà đạp lên đầu dân và chà đạp lên nhau để thăng tiến thì luôn có tâm lý bất an, do đó nảy ra trò hối lộ thánh thần và mua chuộc tà ma.
Chắc chắn mấy ngày nay giới quan chức này siêng năng cúng kiếng hơn ai hết, chạy đôn chạy đáo để “tầm sư giải hạn”.
Phạm Hiếu

Hoa Vi : Chiến thuật phản công để thủ của Trung Quốc

Tú Anh
Hoa Vi : Chiến thuật phản công để thủ của Trung Quốc
Chủ tịch luân phiên của Hoa Vi, ông Quách Phi, phát biểu trong một buổi họp báo tại Thâm Quyến, Quảng Đông, Trung Quốc ngày 07/03/2019.AFP Photos/Wang Zhao

Bị Mỹ cáo buộc 23 trọng tội từ đánh cắp công nghệ thông tin, vi phạm lệnh cấm vận Iran cho đến làm gián điệp, Hoa Vi không thụ động chịu đòn.
Chính quyền Bắc Kinh lên tuyến đầu bảo vệ mũi nhọn chiến lược với các biện pháp đe dọa và trả đũa phương Tây trong khi đích thân Hoa Vi phản công lại Mỹ qua tòa án tại Texas, kiện Mỹ vu khống và đòi bồi thường thiệt hại, với dụng ý gì ?
Trước hết, trong chiến dịch tấn công tập đoàn Trung Quốc, Washington tố cáo Hoa Vi, với trang thiết bị của hệ thống di động tối tân 5G, làm gián điệp cho chế độ Trung Quốc. Hoa Kỳ cũng muốn truy tố lãnh đạo số hai của Hoa Vi, bà Mạnh Vãn Châu ra tòa về tội vi phạm lệnh cấm vận Iran. Bị bắt tại Canada vào tháng 12/2018, con gái của nhà sáng lập Hoa Vi, Nhậm Chính Phi, đang chờ tư pháp Canada xem xét có dẫn độ sang Mỹ hay không. Và ngày 08/05 tới đây, bà Mạnh Vãn Châu sẽ được đưa ra trình diện thẩm phán.
Bắc Kinh hù dọa Canada ?
Thái độ do dự của Canada, theo suy đoán của giới chuyên gia, bắt nguồn từ sự kiện Trung Quốc bắt giam hai công dân Canada và kết tội họ vi phạm an ninh quốc gia Trung Quốc. Tuy Bắc Kinh phủ nhận, báo chí và giới phân tích phương Tây xem đây là những biện pháp trả đũa của Bắc Kinh và qua đó có thể khẳng định là Hoa Vi có « liên hệ mật thiết » với chế độ Cộng Sản Trung Quốc.
Ý thức được sơ hở này, đích thân ông Nhậm Chính Phi, nguyên là một cựu sĩ quan sáng lập viên Hoa Vi, phải lên tiếng cải chính : « Tôi không thấy có mối quan hệ nhân quả gì giữa quan điểm chính trị cá nhân và hoạt động của Hoa Vi ». Nhậm Chính Phi còn cam đoan là « Hoa Vi từ chối mọi yêu cầu hợp tác của Bắc Kinh cung cấp thông tin nhạy cảm ».
Vấn đề là theo một đạo luật về an ninh của Trung Quốc ban hành năm 2017, tất cả công dân và doanh nhgiệp Hoa lục đều có bổn phận phải trợ giúp các cơ quan gián điệp Trung Quốc. Nhận định về vụ việc này, ủy viên châu Âu Andrus Anship đặc trách công nghệ số của châu Âu tuyên bố với Bloomberg : chúng ta không thể tiếp tục ngây thơ với Trung Quốc.
Nhiều nước châu Âu đã tính đến giải pháp triệt để như Mỹ, Nhật, Úc, New Zealand hoàn toàn tẩy chay Hoa Vi, cấm cửa mạng lưới 5G của tập đoàn Trung Quốc.
Hoa Vi : Không hợp tác 100% với an ninh Trung Quốc ?
Thế nhưng, với lập luận là phải có bằng cớ mới buộc tội được, Hoa Vi phản pháo và kiện ngược lại Hoa Kỳ tại một tòa án ở Texas. Quách Phi, một trong những chủ tịch luân phiên của Hoa Vi lý giải : « Quốc Hội (ủy ban điều tra) không đưa ra được một bằng chứng nào để biện minh cho việc cấm một số sản phẩm của Hoa Vi. Chính phủ Mỹ tìm mọi cách để phỉ báng Hoa Vi. Chúng tôi sẽ đòi bồi thường. »
Trái lại, cố vấn pháp lý của Hoa Vi là luật gia Tống Lưu Bình (Song Liu Ping) nhìn nhận tập đoàn có « đáp ứng » một số yêu cầu của công an tình báo, nhưng để chống « khủng bố và tội ác hình sự ». Cũng theo Tống Lưu Bình, Hoa Vi mà cài đặt « backdoors » để đánh cắp thông tin thì xem như « tự sát thương mại» nếu vụ việc bị bại lộ.
Theo nhận định của nhật báo kinh tế La Tribune, chính quyền Trung Quốc phải « vươn móng » bảo vệ Hoa Vi, vũ khí chiến lược quan trọng cạnh tranh với Hoa Kỳ trong lĩnh vực công nghệ viễn thông tương lai. Nếu Hoa Vi bị suy yếu thì kinh tế Trung Quốc sẽ bị vạ lây.
Kiện Mỹ : Không cần thắng chỉ cần trường kỳ lấn tới
Câu hỏi đặt ra là vụ phản công của Hoa Vi trên lãnh vực tư pháp sẽ đi đến đâu ? Rất khó dự đoán nhưng theo tuần báo Le Point, tổng thống Donald Trump vẫn có thể ra sắc lệnh cấm tập đoàn Trung Quốc vào thị trường Mỹ.
Trong bối cảnh Hoa Kỳ bước vào mùa bầu cử cộng với đe dọa của chính quyền Trung Quốc, chiến thuật của Hoa Vi, đưa vấn đề ra pháp lý, có vẻ thuận lợi theo nghĩa « yên tâm kéo dài thời gian giằng co với Mỹ ».
Từ Houston, Texas, nhà báo Hà Ngọc Cư, chủ tịch Tổ hợp báo Ngày Nay phân tích chuyện phim gay cấn nhiều tập này :
Nhà báo Hà Ngọc Cư, Houston, Texas: 21/03/2019 Nghe
Nhà báo Hà Ngọc Cư : « Chúng ta phải nhìn về khía cạnh rộng lớn hơn. Hoa Kỳ trước hết có ba kẻ thù. Thứ nhất là mối đe dọa nguyên tử của Nga. Thứ hai là rối loạn tại Trung Đông, đó là Iran và thứ ba là đe dọa về thương mại của Trung Quốc. Nhưng vấn đề thương mại chỉ là một khía cạnh của chiến tranh mới, chiến tranh kỹ thuật « Tech war ».
Tập đoàn Hoa Vi và Trung Quốc nói chung tiến tới giai đoạn G5, internet thế hệ thứ 5. Những sản phẩm của Hoa Vi, điện thoại di động có thể được cài đặt chip để giúp cho Trung Quốc có thể đánh cắp những bí mật không phải chỉ có bí mật quốc phòng, quốc gia mà còn cả bí mật thương mại nữa.
Cái vấn đề đem ra tòa án, sẽ rất nhì nhằng kéo dài không biết đến bao giờ và đó là chiến lược của Trung Quốc. Có thể họ không thắng kiện ở tòa án nhưng sẽ kéo dài thời gian đối đầu với nhau để có thời giờ chuẩn bị cho chiến tranh kỹ thuật.
Bây giờ trận chiến giữa ông Trump và Quốc Hội về vấn đề ông tuyên bố tình trạng đất nước khẩn trương để lấy tiền xây bức tường biên giới làm mờ nhạt vụ Hoa Vi. Thứ hai là mùa bầu cử 2020 cho nên vụ Hoa Vi chìm xuống và tôi không biết chính phủ Hoa Kỳ sẽ dùng bao nhiêu nỗ lực để đánh tập đoàn Hoa Vi… »
__._,_.___