Monday, September 28, 2009

Tám Năm Một Thoáng

Tám Năm

Một Thoáng









Tám năm về trước, sáng sớm 18 - 10 - 1994. Sài Gòn còn đang ngái ngủ, gia đình tôi và thân quyến, bằng hữu tiễn đưa chúng tôi đã hòa lẫn vào đám đông trong phi trường. Những ánh mắt quyến luyến, những cái bắt tay, những lời chúc tụng lao xao nhưng tôi không còn nghe rõ tiếng người nói nữa. Trong một thoáng hồn tôi như thoát khỏi cái tù túng bức bối của đám đông để bay lên tận bầu trời vừa hừng đông của quê hương với những câu tự vấn :“ Thua thật rồi sao Sơn? Bỏ cuộc rồi sao Sơn? Không! Không! Thưa mẹ con chưa bao giờ buông xuôi! Nhưng con vẫn phải đi vì con đường còn dài quá, một kiếp nhân sinh không đủ trả nợ đấu tranh. Lạy mẹ! Con đi như thời còn thanh xuân để ươm những mầm hạt mới cho dân tộc trường tồn.”

Tiếng Tùng gọi giật đưa tôi trở về thực tại:“ Anh đưa giấy tờ để vào phòng cách ly đi chứ .Người ta đang đợi.”

Tôi nhìn người vợ hiền lắc đầu :“ Buồn quá! Biết đến bao giờ mới trở lại như nguyện ước.”

Giọng Tùng như gió thoảng :“ Em biết anh còn nhiều việc để làm nhưng hãy nghĩ đến tương lai các con.”

Thủ tục qua cửa phòng cách ly thật nhanh, người đại diện văn phòng dịch vụ lo thủ tục cho gia đình tôi đến trước mặt :“ Chúc anh chị và các cháu lên đường gặp nhiều may mắn!”

Tôi đưa tay ra bắt tay người đối diện: “ Cảm ơn cậu đã rất chu đáo với gia đình tôi !”.

- Bao giờ anh về thăm lại quê hương đừng quên chúng em nhé!

Tôi gật đầu mỉm cười thầm nghĩ - Bao giờ?Chỉ khi nào vận mệnh của dân tộc đổi thay.. Rời tay người đại diện văn phòng dịch vụ, tôi hướng về phía Tùng và các con đang đợi. Ðặt chân lên những bậc thang dẫn lên lầu, tôi quay người trở lại để nhìn ánh mắt của những người thân đứng lẫn trong đám đông đang dán mặt vào những tấm cửa kính của phòng cách ly. Những cánh tay đưa lên vẫy vẫy, lòng tôi đổ máu ngầm.

Hỡi ôi “Lực bất tòng tâm”. Cuộc lưu vong trên quê hương chấm dứt để rồi tiếp nối là một cuộc lưu vong trên xứ người. Tạm chấp nhận đi Sơn! Hãy ra đi để tìm lấy những niềm hy vọng mới! Cuộc chiến của dân tộc với cái thể chế Cộng Sản chó má này chưa tàn đâu. Ðừng để kẻ thù có thêm cơ hội để làm khổ chính mình và những người thân yêu nữa.!

Tôi quay lưng bước nhanh lên hết những bậc thang và quay người trở lại đưa cả hai tay lên miệng gởi nụ hôn gió chia ly cho những người thân yêu và quê hương đau khổ!





Xin hẹn một ngày..

Cờ đỏ sao vàng không còn bay.

Ðó là ngày trở lại...





Chiếc phi cơ của hãng Pacific Cathay nâng cánh rời phi đạo đưa một số du khách ngoại chủng và mấy chục gia đình tỵ nạn trực chỉ Hong Kong. Sài gòn đã trở thành ký ức, quê hương mới đó đã trở thành nỗi nhớ, niềm đau. Sau hơn hai giờ bay, phi cơ đáp xuống Hương Cảng. Số khách ngoại chủng tản đi khắp nơi. Còn mấy chục gia đình quân -cán - chính tỵ nạn Cộng Sản được lưu lại trong phi trường để chờ chuyến bay đi Hoa Kỳ.

Cùng một hoàn cảnh nhưng hầu như chẳng mấy người quen biết nhau trước nên cách cư xử nửa lạ, nửa quen. Chắc hẳn mọi người đều đang băn khoăn trước một tương lai chưa hình dung được. Quê hương đã quá xa sợ vợ con cảm thấy đơn lẻ tôi cũng tránh đi lại tiếp xúc với những người đồng hội, đồng thuyền nhưng mấy đứa bé vẫn hồn nhiên chẳng chút bỡ ngỡ - hình ảnh của chú bé Sơn vô tư di cư vào Nam năm 1954 nay hóa thân qua cậu con trai đang nhởn nhơ đùa với em - Năm 1954 tôi chỉ có một mình, ngày nay cu cậu Khải còn có chị, có em. Lần thứ nhất lánh nạn Cộng Sản có một triệu người bỏ nơi chôn nhau, cắt rốn vào Nam. Lần thứ hai tránh nạn Cộng Sản, ngót nghét ba triệu người bỏ đất tổ mà đi: phần chết giữa biển khơi, phần chết trong rừng thẳm, phần hứng chịu bao khổ nạn may mắn còn sống sót, tan tác đi khắp thế giới.



Thượng Ðế nào đã an bài cho dân tộc Việt Nam cái định mệnh khốn nạn này?

Thượng Ðế nào phản bội những con người và cả một dân tộc có đủ thiên năng và thiên lương?



Không bao giờ! Không bao giờ có một đấng Thượng Ðế như vậy mà chỉ có Ma Vương và bầy ngạ quỷ đội lốt người đã nhiều lần xuất hiện và mang những cái tên: Niro Hito, Mao Trạch Ðông, Hồ Chí Minh, Lê Ðức Thọ, Phạm Văn Ðồng, Lê Duẩn, Mc Namara, Kissingger , Brezniev. Lũ quỷ đã làm giàu và chia chác máu xương dân tộc Việt Nam.

Thượng Ðế Toàn Chân, Toàn Thiện, Toàn Mỹ và Toàn Năng đã chết chưa sống lại vì thế những dân tộc nhược tiểu trong đó có Việt Nam vẫn còn chìm đắm trong cơn quốc nạn chưa biết bao giờ mới chấm dứt.

Ðang miên man trong dòng suy tưởng, phần nuối tiếc quê hương, phần căm hờn quỷ dữ; bỗng thấy đám đông xôn xao. Có tiếng hỏi : “ Ai biết nói tiếng Anh lên thay mặt nói chuyện với họ đi” .

Tôi nhìn về phía đám đông vây quanh mấy người Hong Kong dáng chừng làm công việc sắp xếp chuyến bay cho người tỵ nạn. Mấy người đứng gần nhìn nhau, một người nhìn tôi rồi nói:“ Lúc nãy trên phi cơ thấy anh nói chuyện với mấy tiếp viên hàng không vậy đứng ra nói giúp bà con chút đi.”

Tôi ngần ngừ quan sát kỹ và nhận biết trong những người cùng đi trong chuyến bay này đa phần từ những vùng kinh tế mới ở tỉnh xa, thân thể họ còn đậm nét cần lao khổ nhục nên mới tiến tới chỗ mấy người Hong Kong đang chờ đợi. Một người trong bọn họ thấy tôi rẽ đám đông bước vào vội hỏi bằng Anh ngữ :

- “ Ông biết nói tiếng Anh?”

- “Vâng ! Các ông cần chúng tôi làm gì?”

- “ Chúng tôi cần kiểm lại số người sẽ đáp chuyến bay sắp tới đi Hoa Kỳ. Ông có thể giúp chúng tôi chứ.”

- Tất nhiên! Chuyện quá dễ.

Tôi quay lại nói với bà con làm thủ tục. Hoàn thành nhiệm vụ nhóm công tác dặn chúng tôi chịu khó chờ vài tiếng không nên đi đâu xa, họ sẽ trở lại đưa chúng tôi lên phi cơ.

Vài tiếng cũng khá dài, cả đoàn người kiếm chỗ nằm ngồi nghiêng ngả giữ sức. Tôi đi lòng vòng một lát rồi quay lại. Ba đứa con yêu và Tùng vẫn quấn quýt bên nhau. Thùy Nhi - con gái lớn - hỏi tôi: “Sắp đến giờ đi chưa bố ?”

-“Chắc cũng sắp sửa rồi, các con cứ nghỉ đi cho khỏe.”

Ðám đông lúc sáng còn lạ nhau nay tụm ba, tụm bảy hút thuốc nói chuyện. Kẻ đi Denver, người đi Des Moines, Sacramento, Houston, Dallas.... v.. v. Cả chuyến bay có mỗi gia đình tôi về Atlanta.

Rồi giờ lên chuyến bay vào Hoa Kỳ cũng tới, cả đoàn người tỵ nạn ngồi đầy khoang giữa chiếc Boeing khổng lồ vượt đại dương của hãng United Airline. Chuyến bay dài quá, thỉnh thoảng nhìn qua ô cửa phi cơ chỉ thấy đại dương xanh thẫm. Lúc bầu trời tắt nắng, phi cơ như bay trong cái hư vô cùng tận của đất trời lòng tôi bỗng chới với khi nghĩ đến khoảng cách nghìn trùng giữa xứ người và Tổ Quốc.

Tôi bỗng đưa tay lau mắt.

Không một giọt lệ nhưng tôi biết lòng tôi đang khóc bởi tôi đã bỏ lại sau lưng tất cả những người anh em đang còn bám trụ đấu tranh giữa quê hương. Ðúng ra tôi không nên đi dù ở lại ngày nào cũng là sống trong bất trắc, bọn Cộng Sản biết sợ những người đã thăng hoa trong cuộc đối đầu với chúng.

Ba lần tù Cộng Sản chưa làm tôi chết nhưng lần ra đi này tôi đã chết hơn nửa lòng tôi dù đến Hoa Kỳ vẫn còn bao nhiêu việc đợi chờ trước mặt, còn những món nợ danh dự phải đòi....





Sáng 19- 4.

Tôi vào phòng vệ sinh rửa mặt rồi quay ra khoang chính, mấy đứa nhỏ vẫn đang say ngủ. Còn sớm quá, biển dưới kia mới hơi nhạt màu, bầu trời vẫn còn lấm tấm những vì sao.

Tự nhiên tôi lắc đầu





Buồn chông chênh chếch sao Mai.

Sao ơi! Sao hỡi nhớ ai sao mờ.

Buồn trông con nhện giăng tơ.

Nhện ơi! Nhện hỡi! Nhện chờ mối ai?-





Tâm sự của cô gái lỡ thì quá lứa chẳng phải tâm sự của tôi nhưng khi buồn thì con người cứ gán ghép vu vơ , ngộ nghĩnh như vậy. Nhưng cũng có thể tâm sự của một người “bất phùng thời” lỗi hẹn với lịch sử cũng không khác gì tâm sự của cô gái lỡ thì kia...

Trời hừng đông đã khá lâu, hành khách trong khoang hầu như đã thức cả, tiếng nói chuyện rầm rì. Mấy đứa con tôi cũng đã tuần tự theo mẹ chúng vào rửa mặt. Trẻ thơ hồn nhiên quá! Cũng may chưa đứa nào đủ ý thức để thấy rằng chúng đã cùng cha mẹ bị đánh bật gốc khỏi quê hương.

Phải! Hãnh diện gì đâu chuyện được đi Mỹ. Nuốt hận mà đi chẳng qua còn nuôi hy vọng vào một ngày báo phục, còn nghĩ đến cái thế “Nội công - Ngoại kích.” chờ ngày quật khởi để tiêu diệt cái quái thai Cộng Sản du nhập tự trời Âu vào đã phân hóa và đang nô dịch cả một dân tộc...

Dải đất tạm dung đã xuất hiện ở tận cuối chân mây. Tuy thấy vậy nhưng còn xa lắm, tôi và một vài người nữa rủ nhau xuống cuối phi cơ hút thuốc rồi trở về chỗ ngồi với gia đình.

Vợ tôi hỏi :

- “ Chắc gần tới rồi phải không anh? Chuyến bay dài qúa!”

- “ Theo giờ ghi trên vé thì còn khoảng mấy chục phút nữa là phi cơ đáp xuống phi trường San Francisco, rồi từ đó mình đổi phi cơ về thẳng Atlanta.”

- “ Cả mấy chục gia đình chẳng có mấy người về chung chỗ”

- “ Ðến đâu thì cũng có cơ quan tiếp nhận. Trước lạ sau quen không có gì mà em phải lo. Trong lòng kẻ thù lúc nào chúng cũng muốn ăn tươi nuốt sống mình mà vẫn vượt qua thì trên mảnh đất tạm dung này có gì đáng ngại. Người ta sống được tất nhiên mình cũng sống được.

Nhìn Tùng tư lự, tôi biết người vợ hiền đang băn khoăn về những ngày sắp tới...

Phi cơ hạ thấp dần, từ thật xa đã nhìn thấy cây cầu nổi tiếng Golden Gate.

Lòng tôi trống rỗng.

Một trang sổ đời đã lật qua....

Ðoàn người tỵ nạn nối đuôi nhau đến bàn làm thủ tục vào Mỹ rồi tuần tự vơi dần theo thứ tự của các chuyến bay. Ðến khi nhân viên IOM đưa chúng tôi ra phi cơ hầu như chẳng còn gia đình nào sót lại.

Vừa an vị trên phi cơ mấy đứa nhỏ quay ra ngủ vùi.

Gia đình có năm người nhưng ngồi ba nơi nên tôi thỉnh thoảng cứ đi lại xem chừng mấy đứa con. Atlanta! Nơi tôi chọn làm nơi cư trú không còn xa nhưng đến phút này vẫn còn thật lạ. Bởi vì con đường lưu vong chỉ mới bắt đầu. Ở vùng đất này tôi có một số bạn đồng đội đã đến đây trước nhưng chi tiết về chuyến bay của gia đình tôi không được thông báo cho họ để tránh sự phiền phức không cần thiết....

Chúng tôi xuống phi trường Hartsfield đã hơn mười giờ đêm.

Tay xách, nách mang mấy giỏ đồ vừa ra khỏi phi cơ gặp ngay một thanh niên Việt Nam tới hoỉ:

- “ Xin lỗi chú có phải là chú Hà Văn Sơn không?”

- “ Phải! Em là người tiếp nhận gia đình chúng tôi phải không?”

- “ Da! Mấy bác trong hội bận đón mấy gia đình đến trước nên giao cho cháu ra đón gia đình chú đưa về chỗ ở. Ngày mai các bác sẽ gặp chú chở đi làm thủ tục.”

-” Cảm ơn em! Chắc bây giờ mình đi lấy hành lý rồi về phải không ?”

- “ Dạ! Xuống dưới lấy hành lý xong là cháu đưa chú thím về thôi!”

Sau đó trên đường từ phi trường về chỗ ở. Tâm - tên người thanh niên ra đón gia đình tôi - nói chuyện với tôi về những khó khăn có thể gia đình tôi sẽ phải đối phó trong những ngày sắp tới vì con cái còn nhỏ.. v.. v.. v..

Có sao đâu, khi sống trên một xứ sở tạm dung có Tự Do chắc hẳn nợ áo cơm đối với một con người còn lành lặn cũng không đến nỗi phải là gánh nặng.

Xe qua “downtown” . Nước Mỹ tiến nhanh qúa. Ðường xá, cao ốc, xe cộ.

Một đất nước mới lập quốc hơn hai trăm năm mà phát triển quá chừng.

Vềợ đến chỗ ở cũng đã gần nửa đêm. Hai gia đình Việt Nam ở cạnh nhà qua nói chuyện, thăm hỏi chuyện đi đường, chuyện quê nhà tới thật khuya.

Buổi sáng, bác Minh - ông cụ hàng xóm - mời qua chơi, thấy có điện thoại trên bàn, tôi nhờ điện thoại để báo tin cho đồng đội.

Ông cụ ngạc nhiên hỏi:

-” Ủa! Sơn có bạn ở đây sao không báo cho anh em ra đón.”

Tôi mỉm cười quay số, đầu dây bên kia có tiếng :

- “ Alô! Ðã qua tới rồi hả, đang ở đâu vậy. Tại sao đi mà không báo cho anh em biết? Bọn này mới nhận được tin tối hôm qua định sáng nay hỏi thăm các hội xem hội nào bảo trợ để đi đón Sơn đây.”

Sau mấy câu trao đổi , tôi cắt điện thoại và ngồi nói chuyện với bác Minh chủ nhà bỗng thấy cô con gái chạy qua:

-” Bố ơi! Có bạn của bố tìm bố ở nhà mình đó.”

Tôi về nhà gặp ngay Quách Nhung đợi trước cửa:

- “ Bay đường nào lẹ vậy. Mới được Mạc báo cho biết chiều hôm qua. Chẳng ai làm gì kịp. Lúc nào cũng cứ khái tính như vậy người ngoài họ nghĩ anh em mình không có trách nhiệm với nhau.”

Tôi cười:

-” Ðể anh em bất ngờ tí cho vui. Mà anh em có ở gần đây không?”

- “ Nghe tin rồi là anh em đang chạy sang đấy. Chốc nữa là gặp cả.”

Quả thật chẳng được mươi phút, anh em lục tục kéo tới.

Khi anh Vinh của hội IRC tới đón gia đình tôi đi làm thủ tục giấy tờ cũng ngạc nhiên, lên xe anh nói với tôi:

-” Ðồng đội, bạn bè đông thế này mà cứ tỉnh bơ như người đi trọc đầu vậy. Ông này cũng lạ thật.”

Ðường lên hội không xa là bao, tình cảm của những người trong hội như anh Chiêu , anh Vinh thật đáng quý.

Sau khi lên hội về, tôi bắt đầu tính toán cho bước đường sắp tới....

Dù lúc đó mới đặt chân lên nước Mỹ nhưng tận đáy lòng tôi hiểu nếu không kiên quyết với chính bản thân thì chẳng bao lâu nếp sống xã hội công nghiệp Hoa Kỳ sẽ cuốn trôi mình đi với một tốc độ chóng mặt, để rồi có phút nào hồi tưởng lại quá khứ mới ngậm ngùi nhận ra những ước vọng của tuổi thanh xuân, những lý tưởng cao quý đang lùi nhanh, rất nhanh vào quá khứ bởi niềm khao khát trở lại quê hương sạch bóng quân thù của một người lưu vong tỵ nạn Cộng Sản vẫn còn ở xa tít tắp trên con đường trước mặt.

Tôi đến đây là đã đến được bến bờ của Tự Do nhưng xét cho cùng chỉ là thứ Tự Do vay mượn bởi đất nước và dân tộc vẫn chưa được Tự Do.

Tôi đến Hoa Kỳ, nửa mừng nửa tủi. Mừng cho gia đình và bản thân đã thoát được gông xiềng nhưng cũng thật tủi lòng khi phải rứt bỏ cội nguồn....

Tám năm trên nước Mỹ thật ra chỉ là một thoáng nhưng cũng chỉ một thoáng thời gian cũng đã chứng kiến biết bao nhiêu thay đổi.

Tôi đã bắt rễ trên đất nước Hoa Kỳ. Làm việc và đóng thuế cho nước Mỹ nhưng lòng thì lúc nào cũng canh cánh mong chờ một sự đổi thay.

Sống trên một xứ sở an bình nhưng tâm hồn lúc nào cũng nổi bão. Cuộc chiến chưa tàn trong lòng tôi.

Cuộc chiến đã tàn đối với những kẻ đã quy hàng số phận. Nhưng phần tôi thà chết chứ không chấp nhận buông xuôi.

Phải!

Cuộc chiến đã tàn đối với những kẻ bất trí trong phụng sự, bất nhân với những người đã hy sinh, bất nghĩa với dân tộc, bất trung với tổ quốc và bất tín với liêm sỉ của chính bản thân mình.

Nhưng cuộc chiến không thể tàn phai trong lòng những người chưa đánh mất tâm thức lưu vong, chưa đánh mất căn cước và tư cách của người tỵ nạn.





Kim Âu

19 - 10 - 2002



P.O. BOX 81016 Chamblee, GA 30341.

Tel & Fax: 770 - 615 - 3769.

Cell: 404 - 593 - 4036

CHÍNH NGHĨA LÀ CỦA CHÚNG TA.

KIM ÂU
CHÍNH NGHĨA LÀ CỦA CHÚNG TA.
Lịch sử đã chứng minh không một đám ngoại nhân nào yêu thương đất nước, dân tộc của chúng ta nếu chính chúng ta không biết yêu thương lấy đất nước và dân tộc của mình. Dân tộc Việt Nam phải tự quyết định lấy vận mệnh của mình chứ không thể trở thành quân cờ phục vụ cho lợi ích của ngoại bang và những thế lực quốc tế.
Chính Nghĩa Quốc Gia thực sự là của chúng ta, mãi mãi vẫn là của chúng ta - Những người đã tận hiến cho Tổ Quốc - Dân Tộc.
Hỡi những con người Việt Nam chân chính ! Hãy nhớ rằng dòng máu còn luân lưu trong huyết quản chúng ta vẫn là dòng máu di truyền của tổ tiên từ thời lập quốc và xương thịt lưu lạc này vẫn là máu thịt Việt Nam.


Dân tộc Việt Nam trường tồn gần 5000 năm lịch sử. Từ thuở lập quốc ven bờ Trường Giang, dân tộc Việt Nam đã phải luôn luôn chiến đấu chống lại bọn giặc ngoại xâm từ phương Bắc và từ chính những cuộc chiến đấu trường kỳ, ác liệt đó dân tộc Việt Nam đã viết nên vô vàn những trang lịch sử hào hùng, chói lọi chiến công. Trong cuộc đối đầu truyền kiếp này Hán tộc vốn mạnh đông nên chiếm ưu thế nhưng vì tinh thần bất khuất không chịu để Hán tộc đồng hóa nên tuy phải lui dần về phương Nam nhưng dù trải qua bao hưng phế, thịnh suy của các vương triều Việt tộc duy nhất chỉ có một lần Mạc Ðăng Dung hiến đất cho Trung Hoa vào năm 1540 để phải “lưu xú vạn niên”, ngoài ra chưa bao giờ có trường hợp ô nhục như việc bọn Cộng Sản Việt Nam đã và đang làm hiện nay là dâng đất - có nghĩa là bán nước - cho đám giặc phương Bắc nhiều lần.
Việc dùng lãnh thổ quốc gia hiến cho giặc để tranh đoạt thắng lợi của bọn Qủy Ðỏ ở Bắc Bộ Phủ ngày nay không phải là lần đầu tiên mà đã xảy ra từ năm 1958 qua văn thư ký Ngày 14-9-1958, của Phạm Văn-Ðồng tuân lệnh Hồ Chí-Minh, gửi cho Tổng-lý Quốc-vụ viện Trung-quốc (Thủ-tướng) là Chu Ân-Lai. Văn thư này thực chất là một văn kiện bán nước (nhượng lãnh hải) trắng trợn vì theo bản tuyên cáo Ngày 4-9-1958, của chính phủ Trung-quốc về lãnh hải gồm 12 hải lý kể từ đất liền và tấm bản đồ đính kèm bao gồm toàn bộ các đảo trong vịnh Bắc-Việt, toàn bộ các đảo ở biển Nam-hải như Tây-sa (Hoàng-sa) và Nam-sa (Trường-sa). Như vậy nếu tính theo Công Pháp Quốc Tế lãnh hải dài 12 hải lý, tính từ các đảo này thì:
- lãnh hải Trung-quốc ở Nam-hải, phía Tây sẽ kéo sát tới bờ biển suốt miền Trung, Bắc Việt-Nam.
- Phía Ðông vươn sát tới lục địa Phi-luật-tân, Bruneị
- Phía Nam tiến sát tới Indonésia, Mã-lai.
Công nhận bản tuyên cáo này có nghĩa là đã công nhận những đường biên giới được Trung Cộng vẽ ra.
Năm 1973, dựa trên nền tảng pháp lý của tuyên cáo này và văn thư bán nước của Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã nói ở trên, Trung Cộng tiến đánh Hoàng Sa. Trận hải chiến Hoàng Sa bùng nổ và kết thúc nhanh chóng nhưng đi vào lịch sử, quân sử của dân tộc Việt Nam. Trong trận đánh này, những người đã quyết chiến để bảo vệ giang sơn gấm vóc của tiền nhân không ai khác hơn là những người lính Việt Nam Cộng Hòa mà bộ máy tuyên truyền của bọn Cộng Sản Bắc Việt luôn công kích là “Việt Gian, Bán Nước”. Do điều kiện và hoàn cảnh của chiến trường nên binh chủng hải quân được là đại diện, là lực lượng chủ công. Trận đánh oanh liệt này đã gây cho phía Trung Cộng thiệt hại gấp ba lần VNCH (về nhân mạng, và chiến hạm. Nhưng VNCH lúc đó lại đang phải đương đầu với Việt Cộng nên lực lượng tham chiến quá ít, vũ khí chỉ có đại bác, chiến hạm nhỏ. Phía Trung-quốc có hỏa tiễn địa địa, chiến hạm lớn đông, lực lượng tham chiến đông gấp nhiều lần vì vậy VNCH phải tạm bỏ kế hoạch tái chiếm Hoàng-sa. Vào thời kỳ đó dư luận thế giới đều rất ngạc nhiên vì Hoa-kỳ với VNCH vốn có hiệp ước hỗ tương an ninh và quân đội Hoa Kỳ đang tham chiến tại Việt-Nam; đệ thất hạm đội Hoa Kỳ với lực lượng hết sức hùng hậu thường xuyên tuần hành gần vùng biển hai bên giao chiến nhưng không hề can thiệp, không tiếp sức cho VNCH?
Nguyên nhân bí ẩn ngày đó sau này hoàn toàn sáng tỏ vì trong cuộc mật đàm giữa Kissinger và Mao Trạch Ðông, chính quyền Cộng Sản Trung-quốc đã trao cho ông Kissinger bản tuyên bố về lãnh hải “Ngày 4-9-1958” cùng bản đồ đính kèm. Nhà ngoại giao “đốn mạt nhất mọi thời đại” Kissinger đã công nhận bản tuyên bố đó như là một cách bật đèn xanh cho Trung Cộng chiếm lấy Hoàng Sa làm một món quà lót đường để đổi lấy cuộc rút quân ra khỏi Việt Nam.
Trải bao cuộc chiến tranh vệ quốc khi giặc đang thế mạnh, ta ở thế yếu việc tạm để giặc lấn chiếm một vùng đất của tổ quốc chỉ là chuyện chiến thuật để chuẩn bị cho những cuộc phản công chiến lược.
Việc tái chiếm và khôi phục lãnh thổ chỉ là vấn đề thời gian và cơ hội sẽ xảy ra khi lực lượng ta đủ sức mạnh đánh đuổi ngoại xâm. Món nợ Hoàng Sa là món nợ mà tất cả mọi người Việt Nam chân chính sẽ phải đòi vì Hoàng Sa chính là xương thịt của Việt Nam.
Nếu không có những âm mưu buôn bán của bọn tư bản cá mập và đệ tam quốc tế cộng sản, cục diện chiến trường tại Việt Nam không đảo ngược có lẽ ngày hôm nay Hoàng Sa đã trở lại với Việt Nam cho dù dân tộc ta phải trả giá bằng hy sinh và xương máu.
Nhưng sau năm 1975, dù được thừa hưởng một thắng lợi tạo thành nhờ canh bạc của quỷ dữ, đảng Cộng Sản Việt Nam đã khom lưng, quỳ gối cam phận chư hầu nghiễm nhiên xóa sổ địa danh Hoàng Sa trong lòng dân tộc.
Hoàng Sa là một quần đảo xa xôi. Vùng đảo san hô đó không hiển hiện trước tầm mắt quốc dân. Việc mất Hoàng Sa lại xảy ra trong thời kỳ chiến tranh và sau năm 1975 thì toàn quốc lại bị Cộng Sản đàn áp, đói khổ, cơ cực; đảng Cộng Sản độc quyền lãnh đạo tất cả từ thông tin, văn hóa, tuyên truyền v.v... nên tất cả những người cầm bút làm công trác truyền thông, văn hóa dưới lá cờ đảng chỉ là bọn bồi bút, người máy làm theo lệnh đảng đua nhau ra sức bưng bít sự thật. Ðảng buôn dân chúng cũng vỗ tay, đảng bán nước chúng cũng tán thưởng, không có ai đánh thức tinh thần ái quốc do đó việc mất Hoàng Sa vào tay Trung Cộng mau chóng tan loãng.
Trong một xã hội đứng đầu là một đảng thú vật. Tự do và sinh mệnh bản thân còn mong manh như ngọn đèn trước gió, mấy kẻ còn được chút tâm huyết mà nghĩ đến chuyện nước non.
Việc mất Hoàng Sa chìm đắm từ sau năm 1975 đến năm 1988 lại bùng lên khi quân Trung Cộng xả súng vào hải quân nhân dân Việt Cộng. Những tưởng cơ hội này là cơ hội “Quyết Tử cho Tổ Quốc Quyết Sinh” nhưng toàn “Ðảng anh hùng và quân đội nhân dân anh hùng” lộ hẳn bộ mặt hèn hạ, cam phận tôi đòi bỏ mặc con em cho giặc tập bắn bia....
Chưa thỏa giấc mộng bá quyền của Chủ Nghĩa Ðại Hán, chính quyền Trung Nam Hải tiếp tục áp lực và thi thố mưu sâu buộc Cộng Sản Việt Nam ký tiếp hai hiệp định (1)
Theo tinh thần bản hiệp định cắt đất ký ngày 30-12-1999, thì Việt-Nam nhường cho Trung-quốc 789 km2 dọc theo biên giới hai tỉnh Cao-bằng, Lạng-sơn. Nghiêm trọng nhất là nhượng cho Trung Cộng vùng đất địa đầu thuộc tỉnh Lạng-sơn nơi có cửa ải Nam-quan lấn sâu vào lãnh thổ quốc gia đến 5 km. Ðây không chỉ là một hành vi “bán nước” mà còn là một tội ác “trời không dung, đất không tha” xúc phạm đến Hồn Thiêng Sông Núi vì đã tiêu hủy biểu tượng hào hùng của dân tộc Việt Nam trong việc bảo vệ đất nước và nền độc lập của dân tộc qua mấy ngàn năm.
Ải Nam Quan vốn chỉ một cửa ải nhỏ bé nằm ngay một vùng đất bằng phẳng nơi địa đầu chịu đựng bao cuộc tấn công của quân xâm lăng nhưng không di dời và vẫn hiên ngang trấn giữ cả một trời Nam.
Hầu hết những sách vở viết về giang sơn cẩm tú của dân tộc Việt Nam đều khởi đi từ mấy chữ chỉ rõ địa đầu biên ải là Nam Quan và điểm tận cùng của đất nước là Cà Mau.
Chính cửa ải này đã bao lần chứng kiến bước chân của đám quân xâm lược phương Bắc ngạo nghễ tràn qua khi khởi chiến, rồi sau đó cũng chính nơi này lại ghi nhận những bước chân hối hả, cuống quýt của bọn tàn binh, bại tướng tháo chạy sau khi bị quân dân ta đánh cho tan tác.
Vùng biên địa thượng du Việt Bắc vốn là vùng đất lịch sử. Vùng đất của những huyền thoại từ thời dựng nước và cũng là vùng đất của những địa danh chói lọi chiến công. Trong thực tế, ải Chi Lăng mới chính là hiểm địa, là mồ chôn bao đạo hùng binh của những vương triều Tống, Nguyên, Minh, là nơi có núi Ðầu Quỷ thường dùng để bêu đầu bọn bại tướng xâm lược.
Khí hùng sông núi tích tụ mạnh đến nỗi những bọn giặc đời sau đều táng đởm, kinh tâm khi đặt chân đến nơi này. [Theo lời mẹ tôi kể lại, nơi đây có hai câu thơ tạc trên vách núi được lưu truyền trong dân gian:
“Quỷ Ðầu Quan, Quỷ Ðầu Quan
Thập nhân xuất khứ, nhất nhân hoàn....”
(tạm dịch: Cửa Ðầu Quỷ! Cửa Ðầu Quỷ!
Mười người đi qua chỉ có một người trở lại.)]
nhưng Ải Nam Quan vẫn là biểu tượng linh thiêng nhất về tinh thần quyết chiến cho nền độc lập và sự vẹn toàn của Tổ Quốc.
Ðau đớn thay, ngày nay Ải Nam Quan lại nằm trong phần lãnh thổ mà bọn Cộng Sản Việt Nam đã dâng cho Trung Cộng.
Trong suốt thời kỳ làm tay sai cho Ðệ Tam Quốc Tế Cộng Sản thực hiện âm mưu nhuộm đỏ toàn cầu, tập đoàn bán nước, buôn dân do tên cáo già Hồ Chí Minh lãnh đạo luôn phỉ báng và phủ nhận Chính Nghĩa của Người Việt Quốc Gia và giương cao ngọn cờ cứu quốc để lòe bịp quốc dân. Chúng tự tô vẽ cho chúng một lớp vỏ chính nghĩa để che đậy bộ mặt Phi Nghĩa, Phi Nhân, Vô Tổ Quốc của chúng.
Vào hùa theo chúng là một số tên triết gia ngu xuẩn và bọn bồi bút phương Tây tiếp tay bôi nhọ và bóp méo lịch sử để xóa bỏ mọi chiến tích hào hùng của một đội quân bảo quốc an dân truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Qua hai mươi bảy năm thống trị toàn cõi Việt Nam, Tập Ðoàn Cộng Sản không có một kế hoạch “kinh bang tế thế, trị quốc, an dân; làm cho dân giàu nước mạnh” nào, chỉ độc quyền bóc lột, buôn dân, bán nước.
Sự tồn tại của chúng cho đến ngày hôm nay hầu hết chỉ nhờ vào đồng tiền mồ hôi, nước mắt của hơn ba triệu người Việt Quốc Gia Tị Nạn Cộng Sản gởi về cho gia tộc.
Bè lũ Cộng Sản Việt Nam thực chất chỉ là một bọn thừa hưởng lợi ích về việc điều chỉnh chiến lược giữa bọn Cộng Sản Quốc Tế và đám tư bản cá mập bán rao Dân Chủ, Tự Do, Công Lý vào thời “chiến tranh lạnh”.
Kết quả trong canh bạc của bọn Quỷ Ðỏ và đám tư bản cá mập đã khiến chúng trở thành kẻ chiến thắng và Người Việt Quốc Gia chúng ta là những nạn nhân.
Chính Nghĩa không phải lúc nào cũng chiến thắng nếu không đủ mạnh.
Trong cuộc chiến tranh giữa Chính Nghĩa và Phi Nghĩa ở Việt Nam “bọn xấu đã thắng”- như John Mc Cain đã phát biểu trong chuyến đi Việt Nam.
Lớp sơn chính nghĩa hào nhoáng, giả dối đã tróc. Mặt nạ yêu nước, thương nòi đã rơi xuống. Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã lộ nguyên hình là một bọn buôn dân, bán nước; táng tận lương tâm không sá kể gì đến quyền lợi, an ninh, tài sản, danh dự của quốc gia dân tộc. Chúng trắng trợn bán đứng công lao xương máu của tổ tiên, xúc phạm anh linh của tiền nhân, xem thường cả Hồn Thiêng Sông Núi.
Hành động của chúng lần này là một bằng chứng khách quan không thể chối cãi cho thấy Chính Nghĩa Quốc Gia vẫn mãi mãi là của chúng ta và thực sự là của chúng ta.
Tội Bán Nước là đại tội với dân tộc. Tập Ðoàn Cộng Sản Việt Nam là một bè, một lũ “thiên cổ tội nhân” mặc dù chúng hiện đang là kẻ thống trị nhưng dân tộc Việt Nam là một dân tộc có óc quật cường, biết nhục quốc sỉ là điều cần phải rửa nên không một vương triều hay thể chế phản dân, hại nước nào có thể trường tồn.
Sở dĩ Tập Ðoàn Cộng Sản Cộng Sản đắc thế là do vận nước trôi vào thời quốc mạt. Ngày nay trước những sự kiện ô nhục này Tập Ðoàn Cộng Sản ở Bắc Bộ Phủ chắc chắn sẽ phải tiêu vong. Toàn thể dân tộc Việt Nam sẽ thức tỉnh và đứng lên tiêu diệt chúng. Quốc dân Việt Nam tại quốc nội cũng như hải ngoại không cần bàn tới những vở kịch sửa đổi Hiến Pháp hay hủy bỏ điều 4 nào cả mà chỉ có một việc cần phải suy nghĩ, phải bàn tới là hủy bỏ cả cái đảng Cộng Sản Việt Nam buôn dân, bán nước giành lại quyền vệ quốc và kiến quốc cho dân tộc.
Lịch sử đã chứng minh không một đám ngoại nhân nào yêu thương đất nước, dân tộc của chúng ta nếu chính chúng ta không biết yêu thương lấy đất nước và dân tộc của mình. Dân tộc Việt Nam phải tự quyết định lấy vận mệnh của mình chứ không thể trở thành quân cờ phục vụ cho lợi ích của ngoại bang và những thế lực quốc tế.
Chính Nghĩa Quốc Gia thực sự là của chúng ta, mãi mãi vẫn là của chúng ta - Những người đã tận hiến cho Tổ Quốc - Dân Tộc.
Hỡi những con người Việt Nam chân chính ! Hãy nhớ rằng dòng máu còn luân lưu trong huyết quản chúng ta vẫn là dòng máu di truyền của tổ tiên từ thời lập quốc và xương thịt lưu lạc này vẫn là máu thịt Việt Nam.

KIM ÂU

Ghi chú (1)

* Hiệp định về biên giới trên đất liền Việt-Nam, Trung-quốc ngày 30-12-1999.
* Hiệp định phân định lãnh hải Việt-Nam, Trung-quốc ngày 25-12-2000.